#ana

Nổi bật


Bản đồ địa hình Việt Nam. Được tạo với GMT từ dữ liệu GLOBE được phát hành công khai Topographic map of Vietnam. Created with GMT from publicly released GLOBE data.

File:VietnamInTheWorld.svg

Việt Nam Tổ Quốc Tôi : DẠY VÀ HỌC Việt Nam học; Việt Nam xã hội học (越南社会学; Vietnamese Sociology) Ngữ văn Việt Trung đối chiếu 学越中文 Tổng quan về Xã hội Kinh tế Văn hóa Việt Nam 越南社会经济和文化概述, Cây Lương thực Việt Nam #cltvn; #ana; #cnm365 Tình yêu cuộc sống https://hoangkimvn.wordpress.com; Hoàng Kim Long Hoàng Gia

Việt Nam Hồ Chí Minh
Bài thơ: Nước ta (Hồ Chí Minh – 胡志明)

“Nước ta ở về xứ nóng, khí hậu tốt Rừng vàng biển bạc, đất phì nhiêu Nhân dân dũng cảm và cần kiệm Các nước anh em giúp đỡ nhiều.” là của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được Người phát biểu tại Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khóa 3 ngày 16/4/1962. Lời dặn này nhấn mạnh tiềm năng to lớn của thiên nhiên Việt Nam, đặc biệt là tài nguyên rừng và biển, đồng thời là lời kêu gọi bảo vệ, phát triển tài sản quốc gia quý giá này.

Nguồn gốc: Lời nói của Bác Hồ trong một bài phát biểu quan trọng.
Ý nghĩa:

  • “Xứ nóng, khí hậu tốt”: Chỉ vị trí địa lý thuận lợi, khí hậu nhiệt đới gió mùa có lợi cho nông nghiệp và sinh trưởng.
  • “Rừng vàng biển bạc”: Ca ngợi sự giàu có, phong phú của tài nguyên rừng (vàng) và tài nguyên biển (bạc), là biểu tượng cho sự trù phú của đất nước.
  • “Đất phì nhiêu”: Khẳng định đất đai màu mỡ, tiềm năng nông nghiệp lớn.

Bối cảnh: Câu nói không chỉ là lời khẳng định vẻ đẹp thiên nhiên mà còn là lời nhắc nhở về trách nhiệm của toàn dân trong việc giữ gìn, phát triển tài nguyên, gắn liền với mục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh. 

“Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em.”. Đây là Thư gửi các học sinh do Chủ tịch Hồ Chí Minh viết nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (tháng 9 năm 1945)..

Việt Nam Đất Và Người
Bình sinh Hồ Chí Minh

https://thoibaonganhang.vn/ban-do-34-tinh-thanh-moi-cua-viet-nam-vua-duoc-quoc-hoi-thong-qua-165676.html

BÀI THƠ “LỊCH SỬ NƯỚC TA “
HỒ CHÍ MINH 1942

Dân ta phải biết sử ta,
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.
Kể năm hơn bốn ngàn năm,
Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hoà.
Hồng Bàng là tổ nước ta.
Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang.
Thiếu niên ta rất vẻ vang,
Trẻ con Phù Đổng tiếng vang muôn đời.
Tuổi tuy chưa đến chín mười,
Ra tay cứu nước dẹp loài vô lương.
An Dương Vương thế Hùng Vương,
Quốc danh Âu Lạc cầm quyền trị dân.
Triệu Đà là vị hiền quân,
Quốc danh Nam Việt trị dân năm đời.
Nước Tàu cậy thế đông người,
Kéo quân áp bức giống nòi Việt Nam.
Quân Tàu nhiều kẻ tham lam,
Dân ta há dễ chịu làm tôi ngươi?
Hai Bà Trưng có đại tài,
Phất cờ khởi nghĩa giết người tà gian,
Ra tay khôi phục giang san,
Tiếng thơm dài tạc đá vàng nước ta.
Tỉnh Thanh Hoá có một bà,
Tên là Triệu Ẩu tuổi vừa đôi mươi,
Tài năng dũng cảm hơn người,
Khởi binh cứu nước muôn đời lưu phương.
Phụ nữ ta chẳng tầm thường,
Đánh Đông, dẹp Bắc làm gương để đời,
Kể gần sáu trăm năm giời,
Ta không đoàn kết bị người tính thôn.
Anh hùng thay ông Lý Bôn,
Tài kiêm văn võ, sức hơn muôn người,
Đánh Tàu đuổi sạch ra ngoài.
Lập nên Triều Lý sáu mươi năm liền.
Vì Lý Phật Tử ngu hèn,
Để cho Tàu lại xâm quyền nước ta.
Thương dân cực khổ xót xa,
Ông Mai Hắc Đế đứng ra đánh Tàu,
Vì dân đoàn kết chưa sâu,
Cho nên thất bại trước sau mấy lần.
Ngô Quyền quê ở Đường Lâm,
Cứu dân ra khỏi cát lầm ngàn năm.
Đến hồi Thập nhị sứ quân,
Bốn phương loạn lạc, muôn dân cơ hàn.
Động Hoa Lư có Tiên Hoàng,
Nổi lên gây dựng triều đàng họ Đinh.
Ra tài kiến thiết kinh dinh,
Đến vua Phế Đế chỉ kinh hai đời.
Lê Đại Hành nối lên ngôi.
Đánh tan quân Tống, đuổi lui Xiêm Thành.
Vì con bạo ngược hoành hành,
Ra đời thì đã tan tành nghiệp vương.
Công Uẩn là kẻ phi thường,
Dựng lên nhà Lý cầm quyền nước ta.
Mở mang văn hoá nước nhà,
Đắp đê để giữ ruộng nhà cho dân.
Lý Thường Kiệt là hiền thần,
Đuổi quân nhà Tống, phá quân Xiêm Thành.
Tuổi già phỉ chí công danh,
Mà lòng yêu nước trung thành không phai.
Họ Lý truyền được chín đời,
Hai trăm mười sáu năm giời thì tan.
Nhà Trần thống trị giang san,
Trị yên trong nước, đánh tan địch ngoài,
Quân Nguyên binh giỏi tướng tài:
Đánh đâu được đấy, dông dài Á, Âu,
Tung hoành chiếm nửa Âu châu,
Chiếm Cao Ly, lấy nước Tàu bao la,
Lăm le muốn chiếm nước ta,
Năm mươi vạn lính vượt qua biên thuỳ,
Hải quân theo bể kéo đi,
Hai đường vây kín Bắc Kỳ như nen.
Dân ta nào có chịu hèn,
Đồng tâm, hợp lực mấy phen đuổi Tàu.
Ông Trần Hưng Đạo cầm đầu,
Dùng mưu du kích đánh Tàu tan hoang,
Mênh mông một giải Bạch Đằng,
Nghìn thu soi rạng giống dòng quang vinh,
Hai lần đại phá Nguyên binh,
Làm cho Tàu phải thất kinh rụng rời.
Quốc Toản là trẻ có tài,
Mới mười sáu tuổi ra oai trận tiền,
Mấy lần đánh thắng quân Nguyên,
Được phong làm tướng cầm quyền binh nhung.
Thật là một đấng anh hùng,
Trẻ con Nam Việt nên cùng noi theo.
Đời Trần văn giỏi võ nhiều,
Ngoài dân thịnh vượng, trong triều hiền minh.
Mười hai đời được hiển vinh,
Đến Trần Phế Đế nước mình suy vi.
Cha con nhà Hồ Quý Ly,
Giết vua tiếm vị một kỳ bảy niên.
Tình hình trong nước không yên,
Tàu qua xâm chiếm giữ quyền mấy lâu,
Bao nhiêu của cải trân châu,
Chúng vơ vét chở về Tàu sạch trơn.
Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn,
Mặc dầu tướng ít binh đơn không nàn.
Mấy phen sông Nhị núi Lam,
Thanh gươm yên ngựa Bắc, Nam ngang tàng.
Kìa Tuý Động nọ Chi Lăng,
Đánh hai mươi vạn quân Minh tan tành.
Mười năm sự nghiệp hoàn thành,
Nước ta thoát khỏi cái vành nguy nan.
Vì dân hăng hái kết đoàn,
Nên khôi phục chóng giang san Lạc Hồng.
Vua hiền có Lê Thánh Tông,
Mở mang bờ cõi đã khôn lại lành.
Trăm năm truyền đến cung hoàng,
Mạc Đăng Dung đã hoành hành chiếm ngôi.
Bấy giờ trong nước lôi thôi,
Lê nam, Mạc bắc rạch đôi san hà,
Bảy mươi năm nạn can qua.
Cuối đời mười sáu Mạc đà suy vi.
Từ đời mười sáu trở đi,
Vua Lê, Chúa Trịnh chia vì khá lâu.
Nguyễn Nam, Trịnh Bắc đánh nhau,
Thấy dân cực khổ mà đau đớn lòng.
Dân gian có kẻ anh hùng,
Anh em Nguyễn Nhạc nổi vùng Tây Sơn,

Đóng đô ở đất Quy Nhơn,
Đánh tan Trịnh, Nguyễn, cứu dân đảo huyền.

Nhà Lê cũng bị mất quyền,
Ba trăm sáu chục năm truyền vị vương.
Nguyễn Huệ là kẻ phi thường,
Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu,
Ông đà chí cả mưu cao,
Dân ta lại biết cùng nhau một lòng.
Cho nên Tàu dẫu làm hung,
Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà.
Tướng Tây Sơn có một bà,
Bùi là nguyên họ, tên là Thị Xuân,
Tay bà thống đốc ba quân,
Đánh hơn mấy trận, địch nhân liệt là.
Gia Long lại dấy can qua,
Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài.
Tự mình đã chẳng có tài,
Nhờ Tây qua cứu, tính bài giải vây.

Nay ta mất nước thế này,
Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà,
Khác gì cõng rắn cắn gà,
Rước voi dầy mả, thiệt là ngu si.

Từ năm Tân Hợi trở đi,
Tây đà gây chuyện thị phi với mình.
Vậy mà vua chúa triều đình,
Khư khư cứ tưởng là mình khôn ngoan.
Nay ta nước mất nhà tan
Cũng vì những lũ vua quan ngu hèn.

Năm Tự Đức thập nhất niên,
Nam Kỳ đã lọt dưới quyền giặc Tây

Hăm lăm năm sau trận này
Trung Kỳ cũng mất, Bắc Kỳ cũng tan,

Ngàn năm gấm vóc giang san,
Bị vua họ Nguyễn đem hàng cho Tây!

Tội kia càng đắp càng đầy,
Sự tình càng nghĩ càng cay đắng lòng.

Nước ta nhiều kẻ tôi trung,
Tấm lòng tiết nghĩa rạng cùng tuyết sương.
Hoàng Diệu với Nguyễn Tri Phương,
Cùng thành còn mất làm gương để đời.
Nước ta bị Pháp cướp rồi,
Ngọn cờ khởi nghĩa nhiều nơi lẫy lừng;
Trung Kỳ đảng Phan Đình Phùng

Ra tay đánh Pháp, vẫy vùng một phương.
Mấy năm ra sức Cần Vương,
Bọn ông Tán Thuật nổi đường Hưng Yên,
Giang san độc lập một miền,
Ông Hoàng Hoa Thám đất Yên tung hoành.
Anh em khố đỏ, khố xanh,
Mưu khởi nghĩa tại Hà thành năm xưa,

Tỉnh Thái Nguyên với Sầm Nưa,
Kế nhau khởi nghĩa rủi chưa được toàn.
Kìa Yên Bái, nọ Nghệ An
Hai lần khởi nghĩa tiếng vang hoàn cầu.
Nam Kỳ im lặng đã lâu,

Năm kia khởi nghĩa đương đầu với Tây.
Bắc Sơn đó, Đô Lương đây!
Kéo cờ khởi nghĩa, đánh Tây bạo tàn.
Xét trong lịch sử Việt Nam,

Dân ta vốn cũng vẻ vang anh hùng.
Nhiều phen đánh bắc dẹp đông,
Oanh oanh liệt liệt con Rồng cháu Tiên.

Ngày nay đến nỗi nghèo hèn,
Vì ta chỉ biết lo yên một mình.
Để người đè nén, xem khinh,
Để người bóc lột ra tình tôi ngươi!
Bây giờ Pháp mất nước rồi,
Không đủ sức, không đủ người trị ta.
Giặc Nhật Bản thì mới qua,

Cái nền thống trị chưa ra mối mành.
Lại cùng Tàu, Mỹ, Hà, Anh,
Khắp nơi có cuộc chiến tranh rầy rà.
Ấy là nhịp tốt cho ta,
Nổi lên khôi phục nước nhà tổ tông.
Người chúng ít, người mình đông
Dân ta chỉ cốt đồng lòng là nên.

Hỡi ai con cháu Rồng Tiên!
Mau mau đoàn kết vững bền cùng nhau.
Bất kỳ nam nữ, nghèo giàu,
Bất kỳ già trẻ cùng nhau kết đoàn.
Người giúp sức, kẻ giúp tiền,
Cùng nhau giành lấy chủ quyền của ta.
Trên vì nước, dưới vì nhà,
Ấy là sự nghiệp, ấy là công danh.
Chúng ta có hội Việt Minh
Đủ tài lãnh đạo chúng mình đấu tranh
Mai sau sự nghiệp hoàn thành
Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng
Dân ta xin nhớ chữ đồng:
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh!


(Nguồn trích dẫn VIỆT NAM  ·Văn Tí Võ  ·Chuyên gia trong nhóm  · tsreSpdonomm944tc11m 33t2 3t7l0 g0ff07n72550447fch551gt,743á·

Cổng Thông tin điện tử xã Xuân Cẩm trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Thưa các đồng chí lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương, các địa phương, các tổ chức đảng trong toàn hệ thống chính trị,

Thưa toàn thể các đồng chí cán bộ, đảng viên và đồng bào cả nước.

Hôm nay, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện các Nghị quyết, Kết luận, Quy định của Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

Qua các chuyên đề, chúng ta đã làm rõ nội dung cốt lõi, điểm mới và những yêu cầu triển khai thực hiện. Tôi đánh giá cao tinh thần nghiêm túc, trách nhiệm của các đồng chí.

Hội nghị Trung ương 3 đã thống nhất cao nhiều nội dung, quyết định nhiều chủ trương lớn về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, phát triển và bảo vệ đất nước. Đây là bước cụ thể hóa quan trọng Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, gắn nhiệm vụ năm 2026 với mục tiêu cả nhiệm kỳ, đến năm 2030, năm 2045.

Các quyết sách cùng hướng tới nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, khả năng quản trị, phát triển, bảo vệ đất nước; làm cho bộ máy của hệ thống chính trị vận hành hiệu quả hơn, nguồn lực được khơi thông, đời sống Nhân dân được nâng cao, đất nước phát triển.

Chúng ta đã thống nhất nhận thức: triển khai phải rõ việc, rõ người, rõ thời hạn, rõ hiệu quả, rõ trách nhiệm. Chất lượng thực thi là thước đo năng lực lãnh đạo, cầm quyền và hiệu quả vận hành của hệ thống; phải chuyển nhận thức thành hành động, quyết tâm thành kết quả.

Trên tinh thần đó, tôi đề nghị toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị tập trung quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện tốt 5 vấn đề.

Thứ nhất, thống nhất nhận thức, nắm vững tư tưởng chỉ đạo, những điểm mới và mối quan hệ hữu cơ giữa các quyết sách, bước chuyển chiến lược của Trung ương; hiểu đúng để hành động thống nhất.

Điều cần nhận thức sâu sắc là các quyết sách của Trung ương là một hệ thống liên thông, gắn kết cùng hướng tới đổi mới đồng bộ phương thức lãnh đạo, quản trị, phát triển và bảo vệ đất nước.

Công tác xây dựng Đảng, tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ phải giúp nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và chất lượng vận hành; không gian phát triển, nguồn lực quốc gia phải được quản trị thống nhất, sử dụng hiệu quả; mô hình phát triển phải dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo và con người, phải bám sát thực tiễn Việt Nam; quốc phòng, an ninh, đối ngoại, môi trường phải chủ động phòng ngừa, nâng cao sức chống chịu, khả năng thích ứng và bảo vệ vững chắc đất nước. Các nhiệm vụ đó là một thực thể hữu cơ; khâu nào chậm, yếu đều ảnh hưởng đến kết quả chung.

Trong xây dựng Đảng, phải kết hợp giữa “xây” và “chống,” giữa kỷ luật nghiêm minh và khuyến khích đổi mới. Thi hành Điều lệ Đảng phải tuyệt đối chấp hành Điều lệ, đúng thẩm quyền; vấn đề mới cần thí điểm phải rõ phạm vi, thời hạn, trách nhiệm và được tổng kết.

Quy định về những điều đảng viên không được làm giúp nhận diện, ngăn chặn vi phạm, để cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa; đồng thời bảo vệ tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Trong quản trị không gian và nguồn lực phát triển, phải vượt qua sự chia cắt theo địa giới, ngành, lĩnh vực, nhiệm kỳ; đặt mỗi địa phương, mỗi nguồn lực trong tổng thể liên kết vùng và lợi ích quốc gia.

Hoàn thiện pháp luật đất đai phải giữ vững nguyên tắc sở hữu toàn dân, đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, là không gian sinh tồn và phát triển. Quản lý và sử dụng đất phải đảm bảo lợi ích chung của toàn dân, góp phần nâng cao đời sống Nhân dân, tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Nhà nước không xem xét lại quyền sử dụng đất hợp pháp theo chính sách, pháp luật đất đai qua các thời kỳ. Nhà nước bảo đảm cải thiện chỗ ở, sinh kế của người có đất thu hồi.

Phát triển kinh tế biển phải gắn bảo vệ hệ sinh thái, nâng cao đời sống Nhân dân, giữ vững chủ quyền và phát triển đất nước. Kinh tế Biển chỉ là một thành tố trong mục tiêu xây dựng Quốc gia biển mạnh.

Chúng ta phải tích cực chuẩn bị các điều kiện để đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia giàu từ biển, phát triển bền vững từ biển, có nền quản trị biển hiện đại, có công nghệ biển tiên tiến.

Đổi mới mô hình phát triển không chỉ là điều chỉnh tăng trưởng, mà là đổi mới cách tạo ra, phân bổ và thụ hưởng thành quả phát triển; lấy Nhân dân và con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực.

Khoa học, công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao phải trở thành động lực chủ yếu. Tăng trưởng phải được tạo ra từ từng ngành, địa bàn, doanh nghiệp, hộ kinh doanh, người lao động; để mọi chủ thể có thêm cơ hội đóng góp và thụ hưởng.

Trong bảo vệ đất nước và phát triển bền vững, phải quán triệt quan hệ thống nhất giữa an ninh và phát triển. Phát triển phải tạo thêm tiềm lực, sức chống chịu; bảo đảm an ninh phải giữ vững môi trường ổn định cho phát triển.

Phải chuyển từ trạng thái tập trung ứng phó, khắc phục hậu quả sang chủ động nhận diện, dự báo, phòng ngừa, thích ứng; bảo vệ vững chắc Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời bảo đảm an ninh con người, dữ liệu, năng lượng, nguồn nước, hạ tầng trọng yếu. Không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng trước mắt.

Thứ hai, khẩn trương cụ thể hóa đồng bộ các quyết sách thành chương trình, kế hoạch hành động sát thực tiễn, có trọng tâm, trọng điểm, rõ thứ tự ưu tiên và liên thông giữa các nhiệm vụ.

Nghị quyết phải đi cùng chương trình hành động. Chương trình hành động phải mang hơi thở, nhịp sống, đặc thù của từng Bộ, Ngành, Địa phương, cơ sở để có thể thực thi hiệu quả.

Mỗi chương trình phải rõ mục tiêu, nhiệm vụ, cơ quan chủ trì, phối hợp, thẩm quyền, nguồn lực, tiến độ, sản phẩm, dữ liệu đánh giá và người chịu trách nhiệm. Không hành chính hóa việc thực hiện; không lấy số lượng kế hoạch, hội nghị thay cho kết quả.

Ngay sau Hội nghị hôm nay, các cấp ủy, cơ quan, địa phương phải rà soát chương trình thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các Nghị quyết của Đảng và Văn kiện Hội nghị Trung ương 3.

Nhiệm vụ cùng mục tiêu, đối tượng, địa bàn phải được tích hợp; nội dung chồng chéo phải được xử lý; nguồn lực phải điều phối theo mục tiêu chung. Không để nhiều đầu mối cùng làm nhưng không có cơ quan chịu trách nhiệm đến cùng.

Cần phân loại rõ công việc. Việc đã rõ chủ trương, đủ căn cứ và điều kiện phải thực hiện ngay. Việc cần thể chế hóa phải xác định cơ quan, thời hạn, sản phẩm cụ thể. Việc mới, khó, chưa có tiền lệ phải làm rõ nguyên tắc, thẩm quyền, phạm vi thí điểm, nguồn lực, cơ chế kiểm soát. Không lấy lý do chưa có tiền lệ để trì hoãn; cũng không nóng vội, duy ý chí.

Thể chế hóa phải kịp thời, đồng bộ, chuyển chủ trương của Đảng thành quy định rõ ràng, khả thi. Cấp nào có thẩm quyền phải chủ động giải quyết; vấn đề vượt thẩm quyền phải báo cáo ngay, đồng thời đề xuất phương án xử lý. Không chỉ chuyển văn bản lên cấp trên rồi chờ đợi; không để khoảng trống pháp lý, hướng dẫn thiếu thống nhất làm chậm công việc, phát sinh thêm thủ tục, chi phí cho người dân, doanh nghiệp.

Về hệ thống chính quyền địa phương 2 cấp, Trung ương không đặt vấn đề sắp xếp, điều chỉnh lại địa giới hành chính cấp xã, vì cơ bản cả hệ thống đang hoạt động ổn định, hiệu quả.

Tỉnh, thành phố nào thấy thật sự cần thiết phải điều chỉnh, căn cứ chủ trương của Đảng, Pháp luật của Nhà nước, quy hoạch, thực tiễn quản trị và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân thì đề xuất cấp có thẩm quyền quyết định. Phương án đề xuất điều chỉnh địa giới hành chính phải khoa học, thận trọng, khả thi, tạo đồng thuận, phải phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương và phục vụ Nhân dân tốt hơn. Kiên quyết loại bỏ tư tưởng “thuận cán bộ, khổ Nhân dân.” Ban thường vụ, Ban chấp hành Tỉnh, thành ủy phải chịu trách nhiệm về đề xuất đó.

Tiến độ triển khai Nghị quyết phải được thiết kế trong từng nhiệm vụ. Trong 6 tháng cuối năm 2026, phải bảo đảm bộ máy vận hành thông suốt, xử lý điểm nghẽn cấp bách, phấn đấu hoàn thành cao nhất các mục tiêu kinh tế-xã hội.

Trong nhiệm kỳ khóa XIV, phải cơ bản thể chế hóa các quyết sách, hoàn thiện phân cấp, phân quyền, tạo nền tảng cho mô hình phát triển mới. Hướng tới năm 2030, năm 2045, phải nâng cao năng lực tự chủ, sức cạnh tranh, khả năng thích ứng và sức chống chịu của đất nước.

Thứ ba, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, bảo đảm đầy đủ các điều kiện thi hành để hệ thống chính trị vận hành thông suốt, tương tác hiệu quả.

Sau một năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 2 cấp, bộ máy hoạt động ổn định, thông suốt, hiệu quả nhưng chất lượng chưa đồng đều, nhất là ở cơ sở.

Mục tiêu hiện nay là tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, quản trị, phục vụ Nhân dân. Phải tiếp tục hoàn thiện chức năng, thẩm quyền, năng lực thực thi. Phải chuyển mạnh hơn nữa, nhanh hơn nữa từ quản lý sang phục vụ, kiến tạo; từ xử lý phân tán sang quản trị tổng hợp dữ liệu; từ chờ hướng dẫn sang chủ động giải quyết, chịu trách nhiệm.

Tổ chức thực hiện phải đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, phát huy đúng chức năng, thẩm quyền của từng cơ quan. Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra; Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp thể chế hóa, quyết định, giám sát; Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương bố trí nguồn lực, tổ chức thực hiện; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tuyên truyền, vận động, giám sát, phản biện xã hội. Phải bảo đảm sự liên thông giữa lãnh đạo, thể chế hóa, thực hiện và giám sát; không làm thay chức năng của nhau.

Trung ương tập trung chiến lược, thể chế, nền tảng dùng chung, nguồn lực lớn và kiểm tra. Cấp tỉnh cụ thể hóa chủ trương, tổ chức không gian phát triển, điều phối nguồn lực, bảo đảm điều kiện cho cấp xã hoạt động thông suốt.

Cấp xã là tuyến đầu của quản trị công, trực tiếp giải quyết mọi nhu cầu, công việc của người dân, doanh nghiệp; phải đủ năng lực quản trị sự phát triển. Phải tự trưởng thành qua tổ chức triển khai công việc.

Trung ương phân quyền cho địa phương. Cấp tỉnh phân cấp những nhiệm vụ cấp xã có thể làm. Cấp xã phải nỗ lực đảm đương những nhiệm vụ được giao, không đẩy lên trên việc thuộc trách nhiệm của mình.

Khi cấp xã thiếu điều kiện thực thi, cấp tỉnh phải chủ động tháo gỡ, nếu nội dung công việc vượt qua thẩm quyền thì báo cáo Trung ương xem xét. Mỗi nhiệm vụ phải có một đầu mối chịu trách nhiệm chính, có cơ chế phối hợp rõ ràng, có nguồn dữ liệu dùng chung và kết quả phải đo, đếm được.

Phân cấp, phân quyền phải đồng bộ với nhân lực, tài chính, dữ liệu, công nghệ và kiểm soát quyền lực. Dữ liệu phải đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, được chia sẻ theo thẩm quyền; chấm dứt việc người dân phải cung cấp lại thông tin Nhà nước đã có trong hệ thống. Hệ thống thông tin phải phục vụ điều hành, cảnh báo, giám sát, quy trách nhiệm; không tạo thêm thủ tục, phần mềm, báo cáo hình thức.

Thứ tư, tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đề cao trách nhiệm nêu gương và vai trò quyết định của người đứng đầu.

Cán bộ là nhân tố quyết định chất lượng tổ chức thực hiện. Nghị quyết đúng, nguồn lực đủ nhưng cán bộ thiếu năng lực, thiếu trách nhiệm, không dám làm thì công việc vẫn trì trệ.

Đánh giá cán bộ phải dân chủ, công khai, công tâm, khách quan; gắn với vị trí việc làm, sản phẩm, tiến độ, hiệu quả, uy tín trong Đảng, tín nhiệm trong Nhân dân; lấy kết quả thực hiện nghị quyết làm căn cứ.

Các cấp ủy, địa phương phải bố trí cán bộ đúng năng lực, chuyên môn, nhất là ở cấp xã và vị trí trực tiếp thực thi quyết sách; đào tạo theo vị trí việc làm. Kịp thời thay thế, cho từ chức cán bộ yếu kém, né tránh, đùn đẩy; trọng dụng, bảo vệ cán bộ liêm chính, sáng tạo, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Phải phân biệt rõ cán bộ dám đổi mới với hành vi lợi dụng thí điểm, chính sách đặc thù hoặc cơ chế bảo vệ cán bộ để vụ lợi, hợp thức hóa, bao che sai phạm.

Người đứng đầu phải trực tiếp chỉ đạo việc lớn, việc khó, điểm nghẽn kéo dài; kiểm tra tiến độ, lắng nghe cơ sở, doanh nghiệp, Nhân dân; quyết định theo thẩm quyền, chịu trách nhiệm đến cùng. Không chỉ giao việc rồi chờ báo cáo; không nhận thành tích nhưng đẩy trách nhiệm khi chậm trễ. Người lãnh đạo phải sâu sát thực tiễn, hiểu địa bàn, lĩnh vực phụ trách, kịp thời nhận diện và giải quyết vấn đề.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thường xuyên tự soi, tự sửa, nêu gương bằng kết quả cụ thể. Kỷ luật nghiêm minh không phải để cán bộ sợ trách nhiệm, mà để mỗi người biết rõ giới hạn, đúng vai, đúng thẩm quyền, yên tâm đổi mới, cống hiến.

Thứ năm, thiết lập kỷ luật thực thi nghiêm minh; tăng cường kiểm tra, giám sát, thông tin, tuyên truyền và đánh giá bằng dữ liệu, sản phẩm, kết quả thực tế; lấy lợi ích và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo cuối cùng.

Kiểm tra, giám sát phải tiến hành từ đầu, trong suốt quá trình thực hiện, tập trung vào nơi có nguy cơ chậm tiến độ, khâu dễ phát sinh lợi ích nhóm, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và vấn đề Nhân dân quan tâm. Phải theo dõi, cảnh báo sớm, tháo gỡ kịp thời; không chờ đến khi nhiệm vụ chậm, nguồn lực bị lãng phí hoặc hậu quả phát sinh mới kiểm tra, xử lý.

Phải làm rõ chủ trương đã được thể chế hóa đến đâu, bộ máy vận hành tốt hơn thế nào? điểm nghẽn nào được tháo gỡ? nguồn lực nào được khơi thông? người dân, doanh nghiệp được hưởng lợi gì? Một nhiệm vụ chỉ hoàn thành khi có sản phẩm vận hành, dữ liệu kiểm chứng và hiệu quả thực tế. Kết quả phải là căn cứ đánh giá cán bộ; biểu dương nơi làm tốt, bảo vệ người dám đổi mới; xử lý nghiêm biểu hiện né tránh, đùn đẩy, hình thức, trục lợi.

Phải thường xuyên lắng nghe Nhân dân, doanh nghiệp, trí thức, chuyên gia, cán bộ cơ sở; coi phản hồi thực tiễn là kênh kiểm chứng chính sách. Khi vướng mắc phát sinh trên diện rộng, phải xem xét đồng thời trách nhiệm thực hiện và bất cập của cơ chế; không quy mọi hạn chế cho cơ sở, cũng không lấy chính sách để bao biện cho yếu kém. Qua kiểm tra phải tháo gỡ khó khăn, điều chỉnh cách làm, tổng kết thực tiễn, hoàn thiện thể chế.

Công tác thông tin, tuyên truyền phải được xác định trong từng chương trình hành động; bảo đảm kịp thời, chính xác, dễ hiểu, thuyết phục; làm rõ mục tiêu, lợi ích, lộ trình, trách nhiệm để Nhân dân hiểu đúng, tin tưởng, đồng hành. Phải chủ động đấu tranh với thông tin sai trái, xuyên tạc; đồng thời lắng nghe phản biện có cơ sở. Đồng thuận xã hội trước hết được tạo ra bằng chính sách đúng, thực hiện công bằng, công khai và kết quả người dân cảm nhận được.

Trong mọi chương trình hành động, phải đặt con người ở vị trí trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực. Hiệu quả kinh tế phải thống nhất với hiệu quả xã hội; tăng trưởng đi đôi với tiến bộ, công bằng, văn hóa, môi trường, quốc phòng, an ninh.

Không đánh đổi lợi ích lâu dài lấy thành tích trước mắt; không để người yếu thế gánh chi phí bất hợp lý. Giá trị của nghị quyết phải thể hiện ở chất lượng sống, cơ hội phát triển, sự an toàn, niềm tin và hạnh phúc của Nhân dân.

Thưa các đồng chí,

Hội nghị hôm nay mở ra giai đoạn tổ chức thực hiện với yêu cầu cao hơn về trách nhiệm, kỷ luật và hiệu quả. Những vấn đề Trung ương đã quyết định phải được chuyển ngay thành chương trình, nhiệm vụ, sản phẩm, kết quả cụ thể.

Vì vậy Tôi đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, địa phương và người đứng đầu bắt tay ngay vào công việc; xác định đúng trọng tâm, rõ đầu mối, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, bảo đảm đầy đủ điều kiện thực hiện. Kết quả công việc phải được kiểm chứng bằng chuyển biến thực tế, hiệu quả phục vụ, sự hài lòng của Nhân dân.

Mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi cán bộ, đảng viên phải biến nhận thức thành hành động, quyết tâm thành sản phẩm. Với sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, hành động đồng bộ của cả hệ thống chính trị và sự đồng lòng của Nhân dân, chúng ta nhất định đưa các văn kiện Hội nghị Trung ương 3 vào cuộc sống, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí.

Ban biên tập
& Hò khoan Lệ Thủy I Truyền Hình Nhân Dân
https://youtu.be/rBVs1Rg9o84?si=5GjeLVDsU7gdyk5e
Hoàng Kim CNM365 Tình yêu cuộc sống bảo tốn và phát triển)

TRÀ SỚM VỚI LÃO NÔNG

Ai còn trong đục dòng Lô,
Mình quên bát cạy lánh vô cõi Thiền
Ta về an trú non Tiên
Bồ Đề gốc cũ Tùy Duyên thiện lành

Nhớ về thầy bạn tinh anh
Hồ Gươm Thê Húc Đồng Xuân Tây Hồ

Đường trần Nam Tiến chia xa
Nữa đời nhìn lại tóc đà điểm sương

#Thungdung CHIẾT TỰ làm thơ
#An nhiên đèn sách nhởn nhơ làm lời
Ta đi cuối đất cùng đời
Ngộ ra hạnh phúc thảnh thơi làm Người


Hoàng Kim trò chuyện vi bạn cũ
THƠ VIỆT MỚI #cnm365 #ana

EARLY MORNING TEA WITH AN OLD FARMER
Who is still in the muddy waters of the Lo River? I forget my bowl and escape to the realm of Zen. I return to dwell in the Immortal Mountain, The Bodhi Tree, its original root, following the path of good fortune. Remembering my brilliant teachers and friends, Ho Guom, The Huc, Dong Xuan, Tay Ho. The earthly journey south, we parted ways. Looking back on half a lifetime, my hair is already tinged with gray. #Leisurely deconstructing poetry, #Peacefully reading and writing. I walk to the ends of the earth with life, Realizing happiness and tranquility in being a human being. Hoang Kim chatting with an old friend

THƠ VIỆT CỔ :
Tạp ngâm kỳ 1 雜吟其一
Thơ » Việt Nam » Nguyễn » Nguyễn Du 阮攸»
Thanh Hiên thi tập » Dưới chân núi Hồng (1796-1802)

THƠ VIỆT CỔ :
Tạp ngâm kỳ 1 雜吟其一
Thơ » Việt Nam » Nguyễn » Nguyễn Du 阮攸»
Thanh Hiên thi tập » Dưới chân núi Hồng (1796-1802)

☆☆☆☆☆

秋聲一夜渡藍河,
Thu thanh nhất dạ độ Lam hà,
無影無形入我家。
Vô ảnh vô hình nhập ngã gia.
萬里西風來白髮,
Vạn lý tây phong lai bạch phát,
一窗秋色在黃花。
Nhất song thu sắc tại hoàng hoa.
百年哀樂何時了?
Bách niên ai lạc hà thời liễu?
四壁圖書不厭多。
Tứ bích đồ thư bất yếm đa.
庭植孤松高百尺,
Đình thực cô tùng cao bách xích,
不知青帝奈人何。
Bất tri Thanh đế nại nhân hà?

DỊCH NGHĨA :

Tiếng thu trong một đêm đi qua sông Lam,
Không hình không ảnh lẻn vào nhà ta.
Gió tây từ muôn dặm thổi đến mái tóc bạc,
Sắc thu bên cửa sổ đọng lại trên nhành hoa cúc vàng.
Cuộc đời trăm năm biết bao giờ mới hết nỗi buồn vui?
Sách vở vây quanh bốn bức tường, đọc bao nhiêu cũng chẳng thấy đủ.
Trước sân trồng một cây thông cô độc cao trăm thước,
Chẳng biết Chúa Xuân (vị thần mùa xuân) liệu có làm gì nổi ta không.


*Một bài thơ thật sự sâu lắng của Đại thi hào Nguyễn Du. Đây là bài đầu tiên trong chùm thơ Tạp ngâm, thể hiện nỗi lòng trăn trở, cô tịch của ông trước sự xoay vần của thời gian và thế sự.

DỊCH THƠ :

Tạp ngâm kỳ 1 雜吟其一
Thơ Chữ Hán Nguyễn Du Thời Hồng Sơn Liệp Hộ (1796-1802)

1. Bản dịch của Trương Việt Linh.

Tiếng thu một tối vượt Lam Hà
Không ảnh không hình bạn với ta
Muôn dặm gió tây xua trắng tóc
Đầy song sắc cúc đượm vàng hoa
Trăm năm vui khổ bao giờ dứt
Bốn vách đồ thư cũng goi là
Trăm thước tùng cao trồng trước cửa
Chúa xuân nào đã thấy chưa a?

2.Bản dịch của Đồng Thành.

Tiếng thu tối vượt Lam hà,
Không hình, không bóng tới nhà với ta.
Gió tây muôn dặm tóc phai.
Hoa vàng đầy cửa báo ngày thu sang.
Trắm năm sướng khổ sớm tàn?,
Đầy phòng sách vở thấy càng tốt thôi,
Tùng cao trồng trước cửa vào,
Chúa Xuân không biết thế nào với ta.

3. Bản dịch của Hoàng Kim

Tiếng thu một tối lọt Lam Hà
Vô ảnh vô hình đột nhà ta
Gió tây muôn dặm phơ bạc tóc
Cúc vàng đầy ngõ trổ vàng hoa
Trăm năm động loạn bao giờ dứt?
Bốn vách văn thơ chất đầy nhà
Sân trước cô tùng cao trăm thước
‘Thanh đế’* chưa hề biết lão a?


*
Bài thơ Tạp ngâm kỳ 1 雜吟其一 trong nhóm bài thơ Dưới chân núi Hồng (1796-1802) Trang thơ Nguyễn Du , Thi Viện (Đào Trung Kiên) và Nguyễn Du niên biểu luận (Hoàng Kim).

TẬP TÔ VẼ GÀ TRỐNG

Sao đỏ đỉnh đầu may mắn đấy
Thân sạch băng thanh sống thảnh thơi.
Bình sinh Nông Lão khinh ngôn ngữ,
Một tiếng #ana tỉnh thức đời.

Phỏng dịch thơ tiếng Việt
Bản dịch của Kim Hoàng

Nguyên tác:
HỌA KÊ
Đường Dần, đời nhà Minh

頭上紅冠不用裁
Đầu thượng hồng quan bất dụng tài,
滿身雪白走將來。
Mãn thân tuyết bạch tẩu tương lai.
平生不敢輕言語,
Bình sinh bất cảm khinh ngôn ngữ,
一叫千門萬户開。Nhất khiếu thiên môn vạn hộ khai.

Nguồn: Hoàng Kim (Kim Hoàng) Học với chữ Hán Nôm.

Linh giang dạ độ
_ Nguyễn Tư Giản_ Nguyễn

新月潮猶小,
微風水自平.
魚燈不知處,
煙際棹歌聲。

Phiên âm:

Tân nguyệt triều do tiểu,
Vi phong thuỷ tự bình.
Ngư đăng bất tri xứ,
Yên tế trạo ca thanh.

Dịch nghĩa:
Trăng vừa mọc, thủy triều còn thấp
Gió nhẹ nhàng thổi mặt sông phẳng lặng.
Đèn của thuyền chài không biết ở nơi nào,
Chỉ nghe trong đám khói mịt mờ có tiếng hát chèo thuyền.

Bản dịch cuả Thơ cổ

Trăng non triều hãy chưa lên,
Vi vu gió thổi, êm đềm mặt sông.
Đèn chài đâu thấy mà trông,
Tiếng ca vang vọng mênh mông sương mờ.

Bản dịch của Hoàng Kim

LINH GIANG ĐÊM QUA SÔNG
Linh giang dạ độ, Nguyễn Tư Giản, Nguyễn

Trăng non triều còn thấp,
Gió nhẹ nước êm đềm.
Đèn chài thấy chưa tỏ,
Tiếng hát nghe mênh mang.

Bài thơ Đêm trăng qua Linh Giang của
Nguyễn Tư Giản nhà Nguyễn. Ông là quan ở tòa Kinh Diên trãi bảy đời vua Nguyễn, gồm: Thiệu Trị, Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh.

Hoang Kim@hoangkimvn
Ghi chép và trao đổi

Bác Bùi Hải Đăng nói
THIÊN ĐỊA ĐỒNG NHẤT THỂ
CON NƯỚC VĂN HÓA VIỆT
Trong văn hóa Việt Nam
Ngày con nước tâm linh

Khi thủy triều lên do tác động của mặt trăng.Thiên địa đồng nhất thể .Con người trọng lượng hơn 90% là nước cho nên ngày con nước con người cũng chịu tác đng của mặt trăng.

Xét về tâm linh người phương tây không thấu lý như người Việt

Ngày con nước là một khái niệm quan trọng trong văn hóa Việt Nam, liên quan đến hiện tượng thủy triều lên xuống do lực hấp dẫn của Mặt Trăng và Mặt Trời lên Trái Đất. Khoa học hiện đại giải thích rằng, ngày con nước xảy ra khi Mặt Trăng và Mặt Trời thẳng hàng với Trái Đất, tạo ra lực hấp dẫn mạnh mẽ, khiến mực nước biển dâng cao hoặc hạ thấp ¹ ².

Về quan niệm của phương Tây, họ cũng có khái niệm tương tự, gọi là “spring tide” (thủy triều lớn) và “neap tide” (thủy triều nhỏ). Tuy nhiên, không có bằng chứng cho thấy họ có một hệ thống lịch con nước cụ thể như ở Việt Nam.

*Cách tính ngày con nước:*

– Ngày con nước thường rơi vào mùng 1, 15 và 30 âm lịch.
– Có 26 ngày con nước trong một năm, tính theo lịch âm.
– Các tháng âm lịch có ngày con nước khác nhau, ví dụ:
– Tháng Giêng và Tháng Bảy: mùng 5, 19
– Tháng Hai và Tháng Tám: mùng 3, 17, 29 – …

*Ý nghĩa của ngày con nước:*
– Ngày con nước quan trọng trong nông nghiệp, ngư nghiệp và phong thủy.
– Giúp người dân dự báo thời tiết và thiên tai.
Ảnh hưởng đến các hoạt động hàng ngày như di chuyển, |
sinh hoạt và công việc liên quan đến biển ¹ ².

Tóm lại, ngày con nước là một khái niệm quan trọng trong văn hóa Việt Nam, liên quan đến hiện tượng thủy triều và có ý nghĩa quan trọng trong nhiều lĩnh vực.
Bùi Hải Đăng

Dự kiến lộ trình Đồng Nai tiến lên thành phố toàn cầu,
chất lượng sống cao trên thế giới

Hoàng Anh https://vietnamnet.vn/lo-trinh-dong-nai-tien-len-thanh-pho-toan-cau-chat-luong-song-cao-tren-the-gioi-2501508.html

#cnm365NgayTiengTrung244dl&83al

Thơ dâng tặng cho đời
CHỈ TÌNH YÊU Ở LẠI

Cát bụi chuyện trăm năm
Nhớ Mẹ mùa Vu Lan
Đến với bài thơ hay
Chỉ tình yêu ở lại


Vui đi dưới mặt trời
Nhà tôi chim làm tổ
Bài ca nhịp thời gian
An nhiên vui mỗi ngày


Giấc mơ lành yêu thương
Đường xuân theo chân Bác
Đường xuân đời quên tuổi
Thơ dâng tặng cho đời


Trần Nhân Tông Việt Nam
Chuyện đọc lúc ban mai (*)
Hoàng Ngọc Dộ khát vọng, Hoàng Trung Trực đời lính,
#hoangkimlong #cnm365 Tình yêu cuộc sống #nhasachhoanggia
An Viên Phước Hoàng Gia #cltvn #cayluongthuc #TranNhanTongVietNam

Thung dung chào ngày mới
Hoàng Gia Ngọc Phương Nam
Chốn vườn thiêng cổ tích
A Na Bình Minh An
https://youtu.be/pG-A1XD32-M?si=jIjiFyrVazzw-0Hn

Nghiên Cứu Lịch SửĐọc trên blog hoặc Liên kết

Chiết tự chữ Hán (tiếp theo)

Kỳ Thanh

Định nghĩa:

Chiết tự (折字) là phương pháp phân tách một chữ Hán thành nhiều phần nhỏ (như các bộ thủ hoặc các chữ đơn giản hơn) để giải thích ý nghĩa hoặc để ghi nhớ chữ đó một cách dễ dàng. 

Về mặt ngữ nghĩa, “Chiết” (折) có nghĩa là bẻ gãy, tách ra; “Tự” (字) là chữ. Đây không chỉ là một thủ pháp ghi nhớ mà còn được coi là một nghệ thuật “giải mã” những thông điệp văn hóa, tư duy của người xưa ẩn chứa trong từng nét chữ. 

Dưới đây là các đặc điểm và ví dụ tiêu biểu về chiết tự:

  1. Nguyên lý hoạt động

Chiết tự dựa trên cấu trúc biểu ý của chữ Hán. Một chữ Hán phức tạp thường được tạo thành từ việc ghép các bộ phận mang nghĩa lại với nhau. Người ta chia chữ ra, giải nghĩa từng phần rồi tổng hợp lại thành nghĩa chung của toàn bộ chữ đó. 

  1. Ví dụ minh họa
  • Chữ An ( – Yên ổn, an lành): Gồm bộ Miên () là mái nhà và bộ Nữ () là người phụ nữ. Chiết tự giải thích rằng: Trong nhà có người phụ nữ quán xuyến thì gia đình mới được yên ổn, an vui.
  • Chữ Hảo ( – Tốt đẹp, hay): Gồm bộ Nữ () và bộ Tử () là con trai. Quan niệm xưa cho rằng người phụ nữ sinh được con trai là điều tốt đẹp.
  • Chữ Tư ( – Suy nghĩ, tương tư): Gồm bộ Điền () là ruộng ở trên và bộ Tâm () là trái tim ở dưới. Hình ảnh ví von như “ruộng kia ai cất lên cao”, thể hiện tâm tư luôn canh cánh, lo toan. 
  1. Ý nghĩa và ứng dụng
  • Ghi nhớ từ vựng: Thay vì học vẹt từng nét, người học có thể nhớ thông qua các câu chuyện hoặc hình ảnh trực quan từ các bộ phận cấu thành.
  • Sáng tạo nghệ thuật: Trong văn chương Việt Nam xưa, các cụ thường dùng chiết tự để làm thơ, đố chữ hoặc chơi chữ rất thú vị.
  • Tìm hiểu văn hóa: Giúp hiểu được thế giới quan và nhân sinh quan của người Trung Quốc cũng như các thế hệ cha ông ta khi sử dụng chữ Nho. 

Phương pháp chiết tự:

Để tạo ra phương pháp chiết tự đặc thù giúp dễ học và dễ nhớ chữ Hán, cha ông ta đã dựa trên ba nền tảng cốt lõi sau:

  1. Đặc điểm tượng hình và biểu ý của chữ Hán

Cha ông ta đã thấu hiểu sâu sắc bản chất của chữ Hán là loại chữ tượng hìnhbiểu ý. Thay vì học thuộc lòng từng nét rời rạc, các cụ đã: 

  • Phân tách chữ thành các bộ phận: Chia một chữ phức tạp ra các thành phần nhỏ (bộ thủ) mà mỗi phần đều mang ý nghĩa riêng.
  • Kết nối ý nghĩa: Tổng hợp ý nghĩa của các phần đó lại để giải thích cho nghĩa toàn phần của chữ, dựa theo sự cảm nhận và quan sát thực tế cuộc sống. 
  1. Sự liên hệ mật thiết với đời sống hằng ngày

Phương pháp chiết tự của người Việt không chỉ là kiến thức hàn lâm mà còn tiềm ẩn nội dung về tư duy và sinh hoạt thường nhật. 

  • Cha ông ta đã dùng những hình ảnh gần gũi như cái mái nhà (bộ Miên), người phụ nữ (bộ Nữ), hay cành tre, con chim… để minh họa cho cấu trúc chữ.
  • Việc gán cho mỗi chữ một câu chuyện nội hàm giúp người học cảm thấy chữ Hán không còn xa lạ mà trở nên sinh động và dễ hình dung hơn. 
  1. Nghệ thuật ngôn từ và thể thơ dân tộc

Đây là điểm sáng tạo độc đáo nhất của người Việt để biến việc học “khổ cực” thành niềm vui. 

  • Vần điệu hóa: Cha ông ta đã chuyển hóa các quy tắc viết chữ khô khan thành những bài thơ lục bát, câu đố hoặc văn vần.
  • Ví dụ điển hình: Chữ Đức () được ghi nhớ qua câu thơ dân gian nổi tiếng:

“Chim chích mà đậu cành tre,
Thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm.”

Nhờ sự kết hợp giữa logic cấu trúc chữ và âm hưởng thơ ca dân tộc, phương pháp này đã giúp nhiều thế hệ người Việt tiếp cận chữ Hán theo hướng “học mà chơi, chơi mà học”. 

Sự khác nhau về chiết tự của người Việt với người Trung Quốc

Thuyết văn giải tự ( 説文解字 ) và Chiết tự không hoàn toàn là một. Có một sự khác biệt rõ rệt giữa “tính khoa học hệ thống” của người Trung Hoa và “tính dân gian, nghệ thuật” trong cách học của Ông Cha ta:

  1. Thuyết văn giải tự (Cách của người Trung Hoa)

Đây là tên một bộ từ điển chữ Hán đầu tiên do Hứa Thận soạn thảo thời Đông Hán.

  • Tính chất: Là một công trình khoa học, ngôn ngữ học nghiêm ngặt.
  • Phương pháp: Dựa trên Lục thư (6 cách cấu tạo chữ Hán: Tượng hình, Chỉ sự, Hội ý, Hình thanh, Chuyển chú, Giả tá).
  • Mục đích: Giải thích nguồn gốc hình thành của chữ dựa trên các bộ thủ nguyên bản (Tiểu triện). Nó mang tính chất tra cứu và định nghĩa chuẩn mực.
  1. Chiết tự (Cách đặc thù của Ông Cha ta)

Dù dựa trên nền tảng chữ Hán, nhưng Chiết tự tại Việt Nam mang tính “biến hóa” và gần gũi hơn.

  • Tính chất: Là một phương pháp ghi nhớ (mẹo học)chơi chữ mang tính văn học, dân gian.
  • Phương pháp: Không nhất thiết tuân thủ nghiêm ngặt Lục thư. Ông Cha ta sẵn sàng “tách” chữ theo cách nhìn hình ảnh hoặc âm đọc sao cho dễ thuộc nhất.
  • Sáng tạo riêng: Ông Cha ta sử dụng thơ lục bát, câu đố để “mã hóa” các bộ phận của chữ. Ví dụ, chữ Đức (德) trong Thuyết văn giải tự được giải thích là “thăng” (lên), nhưng Ông Cha ta lại dạy bằng thơ: “Chim chích mà đậu cành tre…” – một cách hình tượng hóa “cực kỳ” Việt Nam (phong cách Việt).

Sự khác biệt cốt lõi:

Đặc điểmThuyết văn giải tựChiết tự (Việt Nam)
Bản chấtNgôn ngữ học, từ điển học.Nghệ thuật ghi nhớ, đố chữ.
Độ chính xácTuyệt đối theo quy tắc cấu tạo chữ.Linh hoạt, có thể suy diễn theo cảm xúc.
Hình thứcVăn bản giải nghĩa khô khan.Thơ ca, vè, câu đố có vần điệu.
Đối tượngHọc giả, nhà nghiên cứu.Sĩ tử, người bình dân dễ tiếp cận.

Tóm lại, Thuyết văn giải tự là “giáo trình gốc”, còn Chiết tự là “phương pháp học sáng tạo” mà cha ông ta đã Việt hóa để biến những ký tự xa lạ trở nên sống động và dễ đi vào lòng người.

Ngày nay, phương pháp chiết tự có “lạc hậu”?

Không hề lạc hậu hay bị đào thải, phương pháp chiết tự ngày nay vẫn đóng vai trò là “linh hồn” giúp việc học chữ Hán bớt khô khan. Dù hệ thống 214 bộ thủ và phiên âm (Pinyin) là nền tảng kỹ thuật, chiết tự lại là công cụ tư duy bổ trợ đắc lực vì những lý do sau:

  1. Cầu nối giữa ghi nhớ và giải trí: Việc học 214 bộ thủ một cách máy móc rất dễ nản. Chiết tự biến các bộ thủ đó thành những câu chuyện. Thay vì nhớ “chữ Hưu (休) gồm bộ Nhân và bộ Mộc”, người ta nhớ: “Người (人) tựa vào gốc cây (木) để nghỉ ngơi“.
  2. Ứng dụng trong “Mnemonics” (Mẹo ghi nhớ): Các phương pháp học ngoại ngữ hiện đại trên thế giới đều khuyến khích dùng hình ảnh và câu chuyện để ghi nhớ (storytelling). Chiết tự chính là hình thức sơ khai và hiệu quả nhất của phương pháp này đối với chữ tượng hình.
  3. Duy trì giá trị văn hóa: Chiết tự không chỉ để học chữ, mà còn để hiểu triết lý. Chẳng hạn, nhìn chữ Vũ ( – võ thuật) gồm chữ Chỉ (dừng lại) và chữ Qua (vũ khí), ta thấy tư duy của người xưa: Đỉnh cao của võ thuật là để “dừng binh đao”, chứ không phải để gây chiến.
  4. Tính tùy biến cao: Ngày nay, người học không chỉ dùng thơ lục bát như cha ông, mà còn sáng tạo ra các “meme”, hình ảnh đồ họa (infographic) dựa trên chiết tự để chia sẻ trên mạng xã hội, giúp chữ Hán tiếp cận giới trẻ cực kỳ nhanh chóng.

Kết luận: Nếu 214 bộ thủ và Lục thư là “khung xương” thì chiết tự chính là “da thịt”, giúp chữ Hán trở nên sống động. Hai hệ thống này không loại trừ mà bổ trợ cho nhau: Một bên cho bạn sự chính xác, một bên cho bạn sự hứng thú.

Nói một cách chính xác: 214 bộ thủ là “nguyên liệu”, Lục thư là “quy luật”, còn Chiết tự là “cách chế biến”.

Nếu bạn không nắm vững bộ thủ và Lục thư, việc chiết tự vẫn có thể thực hiện được nhưng sẽ gặp 3 hạn chế lớn sau:

  1. Dễ bị “râu ông nọ chắp cằm bà kia”

Chữ Hán có nhiều nét rất giống nhau. Nếu không thuộc bộ thủ, bạn dễ nhìn nhầm bộ này sang bộ khác.

  • Ví dụ: Bộ Thị (– thần linh) và bộ Y (– quần áo) chỉ khác nhau một dấu chấm. Nếu chiết tự sai bộ, ý nghĩa câu chuyện bạn dựng lên sẽ đi chệch hướng hoàn toàn.
  1. Chiết tự kiểu “đoán mò” (Dân gian quá đà)

Lục thư (đặc biệt là chữ Hình thanh) chiếm khoảng 80% chữ Hán. Loại chữ này gồm một phần chỉ ý và một phần chỉ âm.

  • Nếu không biết Lục thư, bạn sẽ cố giải thích phần “chỉ âm” bằng một ý nghĩa hình ảnh nào đó. Kết quả là câu chuyện chiết tự trở nên khiên cưỡng, rắc rối và khó nhớ hơn cả việc học vẹt.
  1. Không thấy được sự logic của hệ thống

Học 214 bộ thủ giúp bạn có một “bản đồ” trong đầu. Khi gặp một chữ mới, não bộ tự động tách các mảnh ghép. Nếu thiếu nền tảng này, mỗi chữ Hán với bạn sẽ là một mê cung riêng biệt, bạn phải sáng tạo ra hàng ngàn câu chuyện rời rạc thay vì nhìn thấy một hệ thống logic.

20 bộ thủ thông dụng:

Thực tế, chỉ có khoảng 50-80 bộ thủ là xuất hiện thường xuyên nhất (chiếm 80% tần suất sử dụng).

Lời khuyên: Hãy học các bộ thủ phổ biến trước (như: Tâm, Nhân, Thủy, Hỏa, Mộc, Thạch…). Khi đã có “vốn liếng” này, việc chiết tự của bạn sẽ vừa thú vị (như cha ông ta), vừa chính xác (như Thuyết văn giải tự).

Nắm vững 20 bộ thủ này giống như bạn sở hữu 20 “chìa khóa vạn năng” để mở cánh cửa chiết tự của hàng ngàn chữ Hán thông dụng nhất.

Dưới đây là danh sách được phân nhóm để bạn dễ liên tưởng:

Nhóm về Con người & Bộ phận cơ thể

  1. Nhân (/ ) – Người: Xuất hiện trong hầu hết các chữ chỉ hoạt động, tính cách con người (Ví dụ: Hưu 休 – người tựa gốc cây).
  2. Tâm (/ ) – Tim, tâm hồn: Các chữ về tình cảm, tư duy (Ví dụ: 思 – nỗi lòng lo toan).
  3. Khẩu () – Miệng: Các chữ liên quan đến ăn uống, nói năng, gọi hỏi (Ví dụ: Vấn 問 – đứng cửa hỏi thăm).
  4. Nữ () – Phụ nữ: Các chữ về phái đẹp, gia đình, sự yêu kiều (Ví dụ: An 安 – phụ nữ dưới mái nhà là yên ổn).
  5. Mục () – Mắt: Các chữ về nhìn ngắm, thị lực (Ví dụ: Khán 看 – tay che mắt để nhìn).

Nhóm về Thiên nhiên & Ngũ hành

  1. Thủy (/ ) – Nước: Các chữ về sông ngòi, chất lỏng, tẩy rửa (Ví dụ: Hải 海 – biển).
  2. Hỏa (/ ) – Lửa: Các chữ về nhiệt độ, nấu nướng, ánh sáng (Ví dụ: Nhiệt 熱 – nóng).
  3. Mộc () – Cây cối: Các chữ về thực vật, gỗ, xây dựng (Ví dụ: Lâm 林 – rừng).
  4. Kim () – Kim loại: Các chữ về tiền bạc, sắt thép, quý giá (Ví dụ: Ngân 銀 – bạc).
  5. Thổ () – Đất: Các chữ về đất đai, xây đắp, địa điểm (Ví dụ: Địa 地 – đất).
  6. Nhật () – Mặt trời, ngày: Các chữ về thời gian, ánh sáng (Ví dụ: Minh 明 – sáng sủa).
  7. Nguyệt () – Mặt trăng, tháng: Cũng dùng để chỉ cơ thể thịt da (Ví dụ: Hữu 有 – có).

Nhóm về Hành động & Công cụ

  1. Thủ (/ ) – Tay: Các chữ chỉ hành động cầm, nắm, đánh, đỡ (Ví dụ: Đả 打 – đánh).
  2. Túc () – Chân: Các chữ liên quan đến đi lại, chạy nhảy (Ví dụ: Lộ 路 – con đường).
  3. Ngôn (/ ) – Lời nói: Các chữ về ngôn ngữ, bàn bạc, hứa hẹn (Ví dụ: Ngữ 語 – lời nói).
  4. Mịch (/ ) – Sợi tơ: Các chữ về tơ lụa, kết nối, thắt nút (Ví dụ: Kết 結 – kết thúc/kết nối).
  5. Đao (/) – Con dao: Các chữ về cắt xẻ, phân chia, sắc bén (Ví dụ: Phân 分 – chia ra).

Nhóm về Trú ngụ & Di chuyển

  1. Miên () – Mái nhà: Các chữ về nơi ở, sự che chở (Ví dụ: Gia 家 – nhà).
  2. Sước () – Bước chân đi: Các chữ liên quan đến khoảng cách, di chuyển (Ví dụ: Tiến 進 – tiến lên).
  3. Môn () – Cánh cửa: Các chữ về lối vào, sự ngăn cách (Ví dụ: Khai 開 – mở cửa).

Mẹo nhỏ cho bạn:
Khi nhìn vào một chữ Hán, hãy thử tìm xem trong đó có “mảnh ghép” nào thuộc 20 bộ này không. Nếu có, bạn đã nắm được gần 50% ý nghĩa của chữ đó rồi đấy!

Ví dụ 1

  1. Chữ ĐẮC (得 – Đạt được, có được)
  • Chiết tự: Gồm bộ Xích () (bước chân trái), bộ Nhật () (mặt trời), và bộ Thốn () (đo lường/tấc).
  • Giải mã: Muốn Đắc (đạt được thành quả), con người phải biết đi ra ngoài () hành động từ lúc mặt trời mọc (), và làm việc một cách tỉ mỉ, có chừng mực ().
  • Mẹo nhớ: “Bước chân đi dưới ánh mặt trời, đo lường kỹ lưỡng thì sẽ có được thành công.”
  1. Chữ THUẬN (順 – Thuận lợi, nghe theo)
  • Chiết tự: Gồm bộ Xuyên () (dòng sông) và bộ Hiệt () (cái đầu/trang giấy).
  • Giải mã: Hình ảnh dòng sông () chảy xuôi dòng. Một người biết dùng cái đầu () để suy nghĩ và hành động thuận theo quy luật tự nhiên (như dòng nước chảy) thì mọi việc sẽ Thuận.
  • Mẹo nhớ: “Cái đầu suy nghĩ xuôi như dòng nước chảy thì vạn sự hanh thông.”
  1. Chữ TIÊN (仙 – Tiên nhân, thoát tục)
  • Chiết tự: Gồm bộ Nhân () (người) và bộ Sơn () (núi).
  • Giải mã: Đây là chữ hội ý cực kỳ dễ nhớ. Người () mà bỏ đời sống xô bồ để lên núi () tu hành, hòa mình vào thiên nhiên thì chính là Tiên.
  • Mẹo nhớ: “Người ở trên núi là Tiên.”

Những khó khăn gặp phải

Vấn đề: giữa Chữ Giản thể (dùng ở Trung Quốc) đã lược bỏ hoặc thay thế nhiều bộ phận của chữ Phồn thể (truyền thống), khiến việc chiết tự đôi khi bị “mất gốc” hoặc khó giải nghĩa theo cách truyền thống.

Dưới đây là các cách để bạn khắc phục và làm chủ cả hai hệ thống này:

  1. Hiểu nguyên tắc “Vay mượn” và “Lược bỏ”

Chữ Giản thể thường dùng những chữ có cùng âm đọc nhưng ít nét hơn để thay thế, hoặc giữ lại một phần của chữ gốc.

  • Ví dụ chữ Thân (Thân thể):
    • Phồn thể là (gồm bộ Cốt 骨 – xương và chữ Lễ 豊). Chiết tự rất hay: Thân thể là sự kết hợp của xương cốt và lễ nghĩa.
    • Giản thể là (gồm bộ Nhân 亻 và chữ Bản 本). Chiết tự mới: Thân thể là cái “gốc vốn có” của con người.
  • Cách khắc phục: Đừng coi Giản thể là “sai”, hãy coi đó là một câu chuyện mới. Khi học một chữ Giản thể, hãy dành 30 giây tra cứu chữ Phồn thể của nó để nắm được nghĩa gốc (Etymology).
  1. Sử dụng quy tắc “Bộ thủ tương ứng”

Nhiều bộ thủ trong chữ Giản thể được viết gọn lại nhưng vẫn mang ý nghĩa tương đương. Bạn chỉ cần nhớ cặp tương ứng là có thể chiết tự được ngay:

  • Bộ Ngôn: (Phồn),   (Giản).
  • Bộ Thủy: (Phồn),   (Giản).
  • Bộ Mịch: (Phồn),   (Giản).

Cách khắc phục: Học thuộc khoảng 30 cặp bộ thủ biến thể này. Khi nhìn thấy bộ Ngôn viết gọn (), não bạn tự động “dịch” về ý nghĩa lời nói.

  1. Ưu tiên chiết tự theo chữ Phồn thể khi muốn hiểu sâu

Nếu mục đích của bạn là tìm hiểu triết lý, văn hóa hoặc học theo cách của cha ông, hãy luôn chiết tự trên chữ Phồn thể.

  • Chữ Phồn thể chứa đựng toàn bộ logic hình ảnh. Sau khi đã hiểu nghĩa từ chữ Phồn thể, việc nhớ chữ Giản thể (vốn ít nét hơn) sẽ cực kỳ nhanh.
  • Phương châm: “Học Phồn để hiểu nghĩa – Dùng Giản để viết nhanh”.
  1. Sử dụng công cụ hỗ trợ (từ điển chiết tự)

Ngày nay có các ứng dụng như Hanping, Pleco hoặc trang web zdic.net giúp bạn xem song song cả hai dạng chữ và giải thích cấu tạo của chúng.

Cách khắc phục: Khi gặp một chữ Giản thể mà chiết tự thấy “vô lý”, hãy tra ngay phần “Glyph Origin” (Nguồn gốc chữ) để thấy hình thái ban đầu của nó.

Tóm lại: Chữ Giản thể giúp bạn tiết kiệm thời gian viết, nhưng chữ Phồn thể mới là “kho báu” để chiết tự. Việc nắm vững cả hai sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện và sâu sắc nhất.

30 cặp bộ thủ biến thể giữa Phồn và Giản thể:

Dưới đây là danh sách 30 cặp bộ thủ biến thể quan trọng nhất giữa Phồn thể và Giản thể. Nắm vững bảng này, bạn sẽ “nhìn thấu” được cấu trúc của hầu hết các chữ Hán hiện đại và chiết tự một cách chính xác.

Chia làm 3 nhóm để bạn dễ theo dõi:

  1. Nhóm bộ thủ đứng bên trái (Biến đổi hình thức)

Đây là những bộ thường xuất hiện nhất, được đơn giản hóa nét viết nhưng ý nghĩa chiết tự giữ nguyên.

STTPhồn thểGiản thểTên bộ thủÝ nghĩa
1NgônLời nói, ngôn ngữ
2ThựcĂn uống, thực phẩm
3MịchSợi tơ, kết nố

BÌNH MINH AN NGÀY MỚI

Một gia đình yêu thương
Trường học hướng ban mai
Sống #Annhiên #Thungdung
Bồ Đề Nôi Hạnh Phúc
Đường xuân đời quên tuổi
Tỉnh thức cùng tháng năm

https://www.facebook.com/watch/?v=1566363074694004&rdid=oogvXujrdaBgSS6I

BÌNH MINH AN NGÀY MỚI

#TỉnhThức Trò Chuyện Với Lão Tử
#Annhiên An Viên Phước Hoàng Gia
#banmai Thung dung đời quên tuổi
Vợ chồng con cháu … lộc ông bà

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/an-vien-phuoc-hoang-gia/ &

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ong-ho-sau-dong-nai/

Cô đơn đọc sách thánh hiền Mới hay hậu vận bạc tiền từ tâm. Thường Người như thể thương thân Qua phong trần hiểu phong trần yêu thương Lắng nghe bao chuyên vô thường Tâm Bồ Đề đọng an nhiên phước lành. Trà sớm với Lão Nông

ÂN TÌNH ĐẤT PHƯƠNG NAM

Cho ta về lại ngày xưa
Thấm năm tháng con thơ và việc chính*
Phượng đỏ nhớ nhọc nhằn gạo đỏ

Thăm thẳm trời sông Thương

Thương câu thơ lưu lạc
“Hoành Linh vô gia huynh đệ tán”
Tổ Quốc Gia Đình bước qua thời lửa đạn
Ân tình đất phương Nam
Một gia đình yêu thương

thayoi

LỜI THẦY DẶN THUNG DUNG

Mục đích sau cùng của DẠY VÀ HỌC là thấu suốt bản chất sự vật,
có lời giải đúng và LÀM được việc. Lời Thầy dặn thung dung.

Việc chính đời người chỉ ít thôi.
Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi.
Phúc hậu suốt đời làm việc thiện.
Di sản muôn năm mãi sáng ngời

Biết đủ thời nhàn sống thảnh thơi
Con, em và cháu vững tay rồi
Đời sống an nhiên lòng thanh thản
Minh triết mỗi ngày dạy học vui.

Thung dung đời thoải mái
ban mai của riêng mình
giọt thời gian điểm ngọc
thanh nhàn khát khao xanh.

Đường xuân đời quên tuổi
Học không bao giờ muộn
Chín điều lành hạnh phúc
Giấc mơ lành yêu thương

Hoàng Kim
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/loi-thay-dan-thung-dung &
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/an-tinh-dat-phuong-nam/
xem tiếp bài viết sau ngày 19 tháng 4:

Hình ảnh này không có thuộc tính văn bản thay thế; tên tập tin là 2017-10-13_con-theo-nguoi-nguyen-lam-hoa-lua.jpg

Hoa Đất Thương Lời Hiền

Việt Nam con đường xanh
Đường xuân theo chân Bác
Thầy nghề nông chiến sĩ
Đường Sống Đạo Làm Người
#vietnamhoc #phậtdượcsư #ĐáVàng #cnm365 #cltvn

Hoàng Kim Nguyễn Thi Thủy
Trà Sớm Với Lão Nông: “Hãy canh gác cánh cửa TÂM TRÍ. Chúng ta trở thành thế nào chủ yếu được quyết định bởi những người chúng ta gặp, những sự kiện chúng ta tham gia, những cuốn sách chúng ta đọc, và lối sống mà chúng ta lựa chọn”.
Đọc lại và suy ngẫm ĐÁ VÀNG VỚI BAN MAI; CNM365 Tình yêu cuộc sống;
Chính Trung Hiếu Thiện Lành; Lời biết ơn chân thành; Vĩnh Thanh Vân Rạch Giá; Hoàng Long Ngọc Quan Âm; Đêm giao thời huyền diệu; DẠY VÀ HỌC MỖI NGÀY

#phậtdượcsư
PHẬT DƯỢC SƯ

Nhớ Mẹ Cha Ông Bà Cậu Mợ
Thương Đức Độ Người Lành
Hiểu Thân Tâm An LẠC
Thấm Địa Tạng Dược Sư

Tâm Bồ Đề Tu Tập
An Trú Nội Tâm Mình

Khi có sự phỉ báng, nói xấu, sỉ nhục .. mà chúng ta nghe được, tuyệt đối không trách móc người. Lập tức phải phản tỉnh lại bản thân là mình có đúng như lời người ta nói hay không? Nếu như thực sự đúng như lời họ nói thì phải cải đổi, họ nhắc nhở ta, họ giáo huấn ta ở chỗ này, ta lập tức sửa sai lầm.

Ta phải cảm ơn họ, nhờ có họ ta mới nhìn lại lỗi ở bản thân. Biết được lỗi lầm của chính mình là giác ngộ, sửa được lỗi lầm của chính mình là tu hành.

Nếu như lời họ nói là vu oan cho ta, bản thân ta không có lỗi gì ta cũng phải cám ơn họ, vì họ đến tiêu Nghiệp chướng thay cho ta. Người mà vô duyên vô cớ bị người ta mắng, bị huy báng, bị sỉ nhục…về sau thường thường có đại Phước báo.

Nhẫn nhục là nền tảng của tâm thanh tịnh, giác ngộ rồi thì không có tham sân si, khi mê thì vẫn còn tham sân si.

Nếu như chúng ta khởi tâm oán hận thì Phước báo đó không còn. Sau này làm gì có Phước báo, điều này được ghi chép rất nhiều trong lịch sử, là thật không phải giả.

Cho dù chính bản thân mình không có thịnh vượng, thì con cháu sẽ thịnh vượng. Cho nên chúng ta phải tu nhẫn, chấp nhận bị vu oan, chấp nhận bị hiểu lầm, tuy không dễ với người phàm nhưng với người tu muốn đạt cảnh giới trên cao thì phải tu nhẫn nhục trước tiên.

Sau này Phước đó rất là lớn. Nhưng quan trọng tâm của chúng ta không được oán hận, dù là một chút mảy may thôi cũng không được khởi lên. Nếu khởi lên sân hận thì ngay lập tức công đức và phước đức đều bị tiêu tan do cái tâm sân hận mà ra. Vì sao nói có cả công đức trong đó, vì trong hoàn cảnh nghịch cảnh đó, bạn tu dưỡng được Nhẫn nhục ba la mật, mà không khởi tâm sân hận thì công đức của bạn liền có.

Nam Mô A Di Đà Phật

Đường đời duyên phận gặp nhau
Lối chung cõi phúc gắng câu thiện lành
Bình sinh may được gặp mình
Đoàn viên vận mệnh kết tình thiên thu

Tam sinh tam thế an hòa
Lắng kinh bát nhã thấm thơ tâm hồn

Hoàng Kim
tích hợp #ĐẹpvàHay #Annhiên #Tỉnhthức Pháp Thiện Yêu Thương Con Bằng Trí Tuệ odnstroeSp7ma311cg https://www.facebook.com/ Yeuthuongconbangtritue/ videos/811042370968437 với Việt Nam con đường xanh https://hoangkimlong.wordpress.com/category/viet-nam-con-duong-xanh/

Chính Trung Hiếu Thiện Lành
Một Gia Đình Yêu Thương

Vui Đi Dưới Mặt Trời
#cnm365 #TìnhYêuCuộcSống

#ĐáVàng Với #BanMai

Hoàng Kim

#Nhàtôi

Thủy khờ yêu gã Kim mơ
đức độ cần kiệm, thẩn thơ lụy tài
mặc ai ham hố chuyện trời
#Nhàtôi yêu thích trọn đời sắn khoai

lúa ngô mê mãi tháng ngày
#Thungdung đèn sách số dày #annhiên

Chính Trung Hiếu Thiện Lành
Một Gia Đình Yêu Thương

Vui Đi Dưới Mặt Trời
#cnm365 #TìnhYêuCuộcSống

#ĐáVàng Với #BanMai

Hoàng Kim

Chính Trung Hiếu Thiện Lành
Một Gia Đình Yêu Thương

Vui Đi Dưới Mặt Trời
#cnm365 #TìnhYêuCuộcSống

#ĐáVàng Với #BanMai

Biết Ơn Lời Thầm Lặng
Bài Học Đầu Đời Con

https://cnm365.wordpress.com & https://youtu.be/2cS7AQdf_To & Tâm Inamori Kawano Sách Quý https://youtu.be/ryRBFmn6b0c?si=m8w5lWnr9RRN_23T

#ana Na, Harry và chị Sóc học ngoại ngữ
https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana

TRÀ SỚM VỚI LÃO NÔNG

Dưỡng Sinh Thở Viết Tốt
Sắc Diện Trí An Tâm
Cụ Hoàng Vui Sống Khỏe
Soi sáng lại chính mình

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tra-som-voi-lao-nong/

THƯỢNG ĐỨC THƯƠNG NHÌN LẠI

Ta trở lại chân quê tình đất đỏ
Nhớ thương thầm gạo đỏ chốn rừng xanh
Lời trung hiếu trăm năm còn muốn kể (*)
Hoàng Thành ơi thăm thẳm đợi quay về

Kim Hoàng @nêu bật

Di Sản Thế Giới Tại Việt Nam
Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/di-san-the-gioi-tai-viet-nam/
Nông nghiệp sinh thái Việt, điểm đến yêu thích của bạn

Di sản thế giới tại Việt Nam 1 Hoàng Thành Thăng Long, ảnh Hoàng Thành Thăng Long xưa và nay  nguồn BQLDT Hà Nội, (trích dẫn bởi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim 2018)

DI SẢN THẾ GIỚI TẠI VIỆT NAM
Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim

Tiếng Việt văn hóa kinh tế 学中越文 Tổng quan văn hoá và kinh tế xã hội Việt Nam 越南社会经济和文化概述 là tập tài liệu giảng dạy nghiên cứu Việt Nam Học Người Việt, Tiếng Việt, Nông nghiệp Việt Nam, văn hóa, kinh tế xã hội, du lịch sinh thái. Mục đích nhằm hổ trợ hệ thống hóa kiến thức nền Việt Nam Học, giúp bạn trẻ ham học hỏi, và người nước ngoài, cập nhật các hiểu biết khái quát về đất nước con người Việt Nam với phẩm chất văn hóa thân thiện, tốt đẹp “vốn xưng nền văn hiến đã lâu; núi sông bờ cõi đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác” (Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi, năm 1428). Nông nghiệp sinh thái Việt; Di sản thế giới tại Việt Nam; Du lịch sinh thái Việt; Vườn Quốc gia Việt Nam; Nông nghiệp công nghệ cao; Nông nghiệp Việt trăm năm; Ngôn ngữ văn hóa Việt; Dạo chơi non nước Việt; … rút trong tập tài liệu này là một số chủ đề giao lưu nông nghiệp sinh thái, ngôn ngữ, văn hóa,… xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/di-san-the-gioi-tai-viet-nam/.

Di sản thế giớilà danh hiệu cao quý và lâu đời nhất trong các danh hiệu của UNESCO. Di sản thế giới gồm ba loại hình di sản văn hóa thế giới, di sản thiên nhiên thế giới và di sản hỗn hợp văn hóa và thiên nhiên thế giới. Việt Nam hiện có 8 di sản được UNESCO công nhận di sản thế giới gồm 5 di sản văn hóa thế giới là Hoàng Thành Thăng Long,  cố đô Huế, Vịnh Hạ Long, Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, Quần thể danh thắng Tràng An, Thánh địa Mỹ Sơn, phố cổ Hội An, Thành Nhà Hồ. Ngoài 8 di sản thế giới ở Việt Nam được UNESCO công nhận còn có 1 di sản thế giới Cao nguyên đá Đồng Văn công viên địa chất toàn cầu thuộc Vườn Quốc Gia ở Việt Nam với 11 di sản văn hóa thế giới phi vật thể và 6 di sản tư liệu.

Tổng cộng có 26 di sản thế giới tại Việt Nam.

Hoàng Thành Thăng Long di sản thế giới tại Việt Nam di tích Đoan Môn.  Ngày 10 tháng 12 năm 1427 nhằm ngày 22 tháng 11 năm Đinh Mùi tại Đoan Môn Hoàng Thành Thăng Long thủ đô Hà Nội ngày nay, Hội thề Đông Quan được tổ chức giữa thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn Lê Lợi và chủ tướng quân Minh là Vương Thông,  Đại Việt giành lại độc lập hoàn thành cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Vua Minh sai La Nhữ Kính mang thư sang phong Trần Cảo làm An Nam Quốc Vương, bãi bỏ quân nam chinh, ra lệnh cho Vương Thông trở về Bắc, trả lại đất cho An Nam, cho sứ thần đi lại, việc triều cống thực hiện theo lệ cũ năm Hồng Vũ.  Quân Minh tổng cộng 10 vạn người đã được hồi hương an toàn. Bình Ngô đại cáo do Nguyễn Trãi viết theo ý chỉ của Lê Lợi đã khẳng định: Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng Thần Vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc, Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run. Họ đã tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực lòng Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức. Chẳng những mưu kế kì diệu Cũng là chưa thấy xưa nay

I. HOÀNG THÀNH THĂNG LONG
Hoàng thành Thăng Long Hà Nội khu di tích Trung tâm được Ủy ban di sản thế giới (thuộc UNESCO) chính thức công nhận là di sản văn hóa thế giới ngày 31-07-2010 tại Hội nghị lần thứ 34, tổ chức tại thủ đô Brasilia của Braxin. Khu di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long- Hà Nội nằm trong khu vực thuộc quận Ba Đình – Hà Nội với tổng diện tích là 18,395 ha. Trong đó bao gồm khu khảo cổ học được khai quật (ở số 18 đường Hoàng Diệu) và các di tích còn lưu giữ được trong khu di tích Thành cổ Hà Nội như: cột cờ Hà Nội, Đoan Môn, Điện Kính thiên, Hậu Lâu, Bắc Môn cùng phần tường bao và 8 cổng hành cung được xây dựng thời Nguyễn. Khu di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội được hình thành từ thời nhà Lý, từ sau những năm 1011 cùng với kinh thành Thăng Long. Kinh thành Thăng long được xây dựng theo mô hình “Tam Trùng Thành Quách”, bao gồm có 3 vòng thành: La thành hay còn gọi là Kinh thành bao quanh kinh đô men theo 3 con sông: sông Hồng, Tô Lịch và sông Kim Ngưu. Tiếp đến là Hoàng thành (vòng thành thứ 2) và trong cùng là Tử Cấm thành (vòng thành thứ 3). Trải qua hơn 10 thế kỷ với nhiều triều đại phong kiến cũng như bao biến cố thăng trầm trong lịch sử Việt Nam, Hoàng thành Thăng Long đã có nhiều sự thay đổi, song riêng khu vực Tử Cấm thành hầu như không thay đổi, chỉ có các kiến trúc bên trong là có sự tu sửa, xây dựng thêm. Vì vậy các di tích ở đây đã có mối liên hệ liên kết khá chặt chẽ tạo nên một tổng thể liên hoàn rất phức tạp nhưng rất phong phú và có sức hấp dẫn đặc biệt trong việc nghiên cứu về vấn đề quy hoạch đô thị và không gian kiến trúc tiếp nối giữa các triều đại trong lịch sử Việt Nam. Đây cũng chính là giá trị độc đáo nhất của khu di tích.

Di sản thế giới tại Việt Nam 2 Cố đô Huế, ảnh tư liệu nguồn BQLDT Cố đô Huế, (trích dẫn bởi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim 2018) Cố Đô Huế trong tôi / không chỉ là vùng thiêng di sản/ Nơi ấy/ Đất trời thăm thẳm/ Núi Ngự Sông Hương/ Thầy bạn, cháu con … (thơ Hoàng Kim)

2. CỐ ĐÔ HUẾ

Quần thể di tích cố đô Huế được  tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới ngày 03/7/1993 tại hội nghị tổ chức ở Colombia. Đây là di sản văn hóa đầu tiên của Việt Nam được vinh danh là Di sản văn hóa thế giới. Quần thể di tích cố đô Huế được phân bố dọc theo tả ngạn và hữu ngạn sông Hương, thuộc thành phố Huế và một vài vùng ngoại ô thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi đây là kinh đô của Việt Nam thời  Phong kiến – Triều đại nhà Nguyễn từ năm 1802 đến 1945.  Trải qua 143 năm dưới sự trị vì của 13 đời vua, kinh đô Huế đã hình thành một hệ thống kiến trúc biểu thị cho quyền uy của chế độ quân chủ trung ương tập quyền Nhà Nguyễn ở Việt Nam thời bấy giờ. Đó là một hệ thống thành quách mẫu mực, những công trình kiến trúc, lịch sử văn hóa vừa mang đậm dấu ấn của nghệ thuật kiến trúc phương Đông vừa có sự giao thoa với nghệ thuật kiến trúc phương Tây. Tất cả được sắp đặt ở những vị thế đặc biệt lồng trong khung cảnh thiên nhiên thơ mộng toát  lên một vẻ đẹp cổ kính, uy nghiêm nhưng vẫn rất trữ tình. Một vẻ  đẹp độc đáo của kinh đô “rất Việt Nam” với những công trình tiêu biểu như: Hoàng Thành, Tử Cấm Thành, Nghinh Lương Đình, Phu Văn Lâu, Kỳ Đài, Ngọ Môn và các ngôi điện Thái Hòa, Cần Chánh, Kiến Trung,..Ngoài ra còn có 7 cụm lăng tẩm của 9 vị vua, Đàn Nam Giao, Hổ quyền, cùng nhiều kiến trúc đình, điện, chùa phật giáo cổ kính và nhiều địa danh thiên nhiên kỳ thú, thơ mộng như chùa Thiên Mụ, điện Hòn Chén, Lăng Cô, núi Ngự, sông Hương,…đã góp phần tô điểm thêm vẻ đẹp rất đặc trưng của cố đô Huế.

Di sản thế giới tại Việt Nam 3 Vịnh Hạ Long, ảnh tư liệu nguồn BQLDT Vịnh Hạ Long, (trích dẫn bởi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim 2018)

3. VỊNH HẠ LONG

Di sản thiên nhiên Thế giới Vịnh Hạ Long  Việt Nam được tổ chức UNESCO 2 lần công nhận là Di sản thiên nhiên Thế giới. Lần 1 vào ngày 17/12/1994, lần 2 vào ngày 02/12/2000 với giá trị ngoại hạng về thẩm mỹ và giá trị địa chất, địa mạo. Vịnh Hạ Long là một phần của Vịnh Bắc bộ, nằm ở vùng Đông Bắc Việt Nam. Vịnh có diện tích 1.553 km2 với 1969 đảo lớn, nhỏ. Trong đó vùng di sản được công nhận bao gồm 775 hòn đảo có diện tích là 434km2. Đây là di sản độc đáo được đánh gía độc nhất vô nhị trên thế giới. Nó không những chứa đựng nhiều dấu tích quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của trái đất, là cái nôi cư trú của người Việt cổ mà còn là một tuyệt tác nghệ thuật của thiên nhiên với hàng trăm, nghìn đảo đá “muôn hình vạn trạng”, cùng nhiều hang động kỳ bí tuyệt đẹp có tuổi kiến tạo địa chất cách đây từ 250-28 triệu năm. Vịnh Hạ Long không những là kỳ quan thiên nhiên của thế giới mà còn là một bảo tàng địa chất quý giá được gìn giữ ngoài trời đến 300 triệu năm. Bên cạnh đó Vịnh còn là nơi tập trung đa dạng sinh học với các hệ sinh thái của vùng biển nhiệt đới rất phong phú, đa dạng trong đó có nhiều loài động thực vật quý hiếm nằm trong Sách đỏ Việt Nam và Thế giới. Vịnh Hạ Long còn là vùng đất được coi là cái nôi của loài người với nền văn hóa Hạ Long qua những di chỉ khảo cổ nổi tiếng như Đồng Mang, Xích Thổ, Thoi Giếng cùng nhiều địa danh gắn với lịch sử đấu tranh oanh liệt, hào hùng của dân tộc như thương cảng Ba Đồn, núi Bài Thơ, sông Bạch Đằng.

Di sản thế giới tại Việt Nam 4 Vườn Quốc Gia Phong Nha Kẻ Bàng, Động Phong Nha Quảng Bình, ảnh tư liệu nguồn BQLDT VQGPNKB, (trích dẫn bởi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim 2018)

4. VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA KẺ BÀNG

Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng nằm trên địa bàn các huyện Bố Trạch, Quảng Ninh, Minh Hóa của tỉnh Quảng Bình, có tổng diện tích 343.300 ha. Nơi đây được ví như một bảo tàng địa chất khổng lồ bởi cấu trúc địa hình, địa mạo rất phức tạp trải qua quá trình kiến tạo địa chất từ 4 triệu năm trước của trái đất với những cảnh quan thiên nhiên kỳ bí cùng hơn 300 hang động lớn nhỏ đẹp nổi tiếng như Phong Nha, Tiên Sơn, Thiên Đường. Đặc biệt là hang Sơn Đoòng được đánh giá là hang động lớn và dài nhất thể giới (hang cao 250m, rộng 200m, dài 8,5km). Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng còn là nơi có hệ động thực vật phong phú, đa dạng và độc đáo với 2400 loài thực vật bậc cao, 140 loài thú, 356 loài chim và hàng trăm loài lưỡng thể cá côn trùng trong đó có nhiều loài quý hiếm được ghi trong Sách đỏ Việt Nam và IUCN của thế giới như: sao la, mang lớn, mang Trường Sơn, Voọc Hà Tĩnh … Có thể nói, Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng vừa là một bảo tàng địa chất và cũng là một bảo tàng sinh học khổng lồ ở Việt Nam. Nó có nhiều giá trị to lớn không những đối với Việt Nam mà còn mang ý nghĩa toàn cầu. Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng cũng từng được UNESCO công nhận 2 lần là  Di sản thiên nhiên Thế giới (Lần 1 vào ngày 3/7/2003 tại Hội nghị Pari – Pháp; lần 2 vào tháng 7/2015 tại Hội nghị họp tại Bon- Đức).

Di sản thế giới tại Việt Nam 5 Quần thể danh thắng Tràng An, ảnh HK (trích dẫn bởi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim 2018)

5. QUẦN THỂ DANH THẮNG TRÀNG AN

Quần thể danh thắng Tràng An Bái Đính là di sản thế giới hỗn hợp đầu tiên của Việt Nam được UNESCO chính thức công nhận vào ngày 23/6/2014 dựa trên 3 tiêu chí về văn hóa, thẩm mỹ và các giá trị địa chất, địa mạo. thuộc địa bàn các huyện Hoa Lư, Gia Viễn, Nho Quan và Thành phố Ninh Bình, với tổng diện tích khoảng 10.000 ha trong đó vùng lõi của di sản gồm: khu sinh thái Tràng An, cố đô Hoa Lư, Tam Cốc – Bích Động, ở đây có khoảng 100 hang động vừa là động khô, vừa là động nước. Các hang động xuyên thủy thông giữa các thung được thiên nhiên tạo tác muôn hình muôn vẻ, xung quanh được bao bọc bởi những ngọn núi đá vôi dựng đứng với những hình thù ký thú. Mỗi địa danh hang động nơi đây đều mang ý nghĩa gắn với những câu chuyện, sự kiện lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông từ triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần. Xen lẫn giữa các tuyệt tác thiên nhiên còn có cả những công trình kiến trúc cổ kính do bàn tay con người tạo nên, chúng hòa quyện với nhau trong một không gian huyền ảo, thơ mộng tạo nên vẻ đẹp linh thiêng, huyền bí cho Tràng An. Với sự đa dạng về địa chất địa mạo, về hệ thống cảnh quan hang động được kiến tạo trong thời gian kéo dài hàng triệu năm, Tràng An cũng là khu vực có hệ sinh thái phong phú, đa dạng, vừa trên cạn, vừa dưới nước. ở đây có hàng trăm đến hàng nghìn loài động thực vật khách nhau tropng đó có nhiều loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam và Thế giới. Không những chỉ có môi trường thiên nhiên đa dạng, cảnh quan kỳ bí, thơ mộng, Tràng An còn mang trong mình nhiều giá trị lịch sử văn hóa vô giá với những di tích lịch sử thời nguyên thủy đến các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần. Tràng An đã từng là nơi cu trú của người tiền sử, là mảnh đất vua Đinh chọn xây dựng kinh đô đầu tiên của nhà nước Việt Nam phong kiến độc lập: Đại Cồ Việt. Nơi đây cũng từng là thủ đô kháng chiến của vua tôi nhà Trần trong 2 lần chống quân Nguyên xâm lược.  Qua đó có thể nói thật hiếm thấy một di sản văn hóa nào hội đủ các giá trị lịch sử, khoa học, thẩm mỹ, sinh thái và môi truờng như Quần thể danh thắng Tràng An của Việt Nam. 

Di sản thế giới tại Việt Nam 6 Thánh địa Mỹ Sơn, ảnh VietHa (trích dẫn bởi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim 2018)

6. THÁNH ĐỊA MỸ SƠN

Khu đền tháp Mỹ Sơn được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới ngày 01-12-1999.  Khu đền tháp Mỹ Sơn được phân bố tập trung trong một thung lũng được bao bọc xung quanh là đồi núi có đường kính khoảng 2km, từ Đông Trường Sơn đến kinh đô Trà Kiệu (nay thuộc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam). Đây chính là khu thánh địa Ấn Độ giáo của vương quốc Chăm Pa được xây dựng và tồn tại từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIII. Đền tháp ở Mỹ Sơn được xây theo từng cụm. Mỗi cụm thường có một đền thờ chính và bao quanh có nhiều tháp nhỏ hoặc một số công trình phụ. Đền tháp được xây bằng gạch, có ghép những mảng trang trí bằng sa thạch. Với kỹ thuật xây tường rất độc đáo (kỹ thuật mài chập xếp khít). Sau khi xây xong tường mới điêu khắc chạm trổ hình hoa lá, người, thú linh lên tháp. Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu thì Mỹ Sơn là nơi nghệ thuật kiến trúc Chăm Pa hội tụ một cách đầy đủ nhất. Các phong cách được phát triển liên tục mà chủ yếu nhất là từ thế kỷ VII – XIII. Mỹ Sơn tập trung đến 70 đền tháp, 32 bia ký tồn tại ở nhiều dạng khác nhau.  Mặc dù trải qua bao thăng trầm của lịch sử và tác động của mưa nắng, thời gian chúng không còn được hoàn toàn nguyên vẹn nhưng đây vẫn là những cứ liệu tốt và rất quan trọng để nghiên cứu tìm hiểu về nghệ thuật Chăm. Đặc biệt là nghệ thuật điêu khắc Chăm, một nền nghệ thuật độc đáo chịu ảnh hưởng sâu sắc của Ấn Độ giáo có vẻ đẹp mang đậm nét văn hóa dân tộc hấp dẫn đến lạ kỳ.

Di sản thế giới tại Việt Nam 7 Phố cổ Hội An, ảnh tư liệu nguồn BQLDT Hội An, (trích dẫn bởi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim 2018)

7. PHỐ CỔ HỘI AN

Đô thị cổ Hội An được Ủy ban di sản thế giới (thuộc UNESCO) chính thức công nhận là Di sản văn hóa thế giới ngày 04-12-1999 tại Hội nghị thứ 23 tổ chức ở Maroc. Đô thị cổ Hội An nằm ở vùng hạ lưu ngã ba sông Thu Bồn, cách thành phố Đà Nằng 30km về phía Nam, thuộc địa phận tỉnh Quảng Nam. Đây là một cảng thị truyền thống Đông Nam Á duy nhất ở Việt Nam và hiếm có trên thế giới. Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu thì “các kiến trúc cổ của đô thị cổ Hội An hầu hết được làm mới từ thế kỷ XIX mặc dù năm khởi dựng xưa hơn nhiều”. Ở đây còn lưu giữ và bảo tồn gần như nguyên vẹn được trên 1000 di tích kiến trúc cổ bao gồm: các khu phố, nhà cửa, các hội quán, nhà thờ họ tộc, đình chùa, miếu mạo, giếng cổ,… Các kiến trúc cổ ở đây hầu hết được xây bằng vật liệu truyền thống như gạch, gỗ, phong cách kiến trúc vừa mang yếu tố nghệ thuật Việt Nam vừa có sự tiếp thu tinh hoa kiến trúc của các nước phương Đông( như Nhật Bản, Trung Hoa) và phương Tây. Điều đặc biệt của Hội An là mặc dù đã trải qua bao thế kỷ nhưng những phong tục tập quán, sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng lễ hội, những món ăn truyền thống, nghề thủ công truyền thống vẫn được người dân gìn giữ, bảo tồn và lưu truyền qua nhiều thế hệ cho đến ngày nay. Hội An từng là một thương cảng, nơi có điều kiện giao lưu với nhiều nền văn hóa khác nhau nên người Hội An ngoài những giá trị văn hóa truyền thống đã tiếp thu tinh hoa của các nền văn hóa các dân tộc khác hình thành nên một bản sắc văn hóa phong phú, đa dạng rất riêng và độc đáo. Người Hội An hồn hậu, dễ gần và rất mến khách. Đây cũng là một trong những yếu tố tạo nên sự hấp dẫn đối với du khách khi tới khám phá khu đô thị cổ Hội An.

Di sản thế giới tại Việt Nam 8: Thành nhà Hồ, cổng Nam ảnh Geoff Steven, nguồn BQLDT, Bảo tàng Thanh Hóa (trích dẫn bởi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim 2018)

8. THÀNH NHÀ HỒ

Thành nhà Hồ được Ủy ban di sản thế giới (thuộc UNESCO) chính thức công nhận là di sản văn hóa thế giới ngày 27-06-2011 tại hội nghị lần thứ 35 tổ chức tại Paris (Pháp). Phạm vi phân bố của Thành nhà Hồ gồm các xã Vĩnh Tiến, Vĩnh Long, Vĩnh Quang, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc, Vĩnh Ninh, Vĩnh Khang, vĩnh Thành và thị trấn Vĩnh Lộc thuộc huyện Vĩnh lộc, tỉnh Thanh Hóa. Thành nhà Hồ là kinh đô của Việt Nam giai đoạn từ 1398 đến 1407. Thành được Hồ Quý Ly xây dựng năm 1397. Trong lịch sử Thành còn có nhiều tên gọi khác như: Thành An Tôn, Tây Đô, Tây Kinh, Tây Nhai, Tây Giai. Khu di tích Thành nhà Hồ bao gồm: khu Thành nội, Hào thành, La thành và Đàn tế Nam Giao. Trong đó Thành nội được xây dựng hình vuông, tất cả phần tường thành và 4 cổng chính được xây dựng bằng đá phiến xanh với kỹ thuật xây dựng và điêu khắc rất tinh xảo. Hào thành được đào đắp bao quanh khu Thành nội có 4 cửa đá bắc vào 4 cửa của Thành nội. La thành của Thành nhà Hồ dài khoảng 10km là vòng thành ngoài được xây dựng để che chắn, bảo vệ cho thành nội được dựa theo địa hình sông núi tự nhiên và chủ yếu là đắp bằng đất, tường tre gai bao vệ. Đàn tế Nam Giao được xây dựng năm 1402, đây là một kiến trúc cung đình quan trọng – nơi các vua tế lễ tạ ơn trời đất, cầu quốc thái dân an. Đàn Nam Giao có diện tích khoảng 43.000m2, có 5 nền đất với 5 bậc cấp. Từ nền Đàn cao nhất đến nền thấp nhất có độ chênh lệch nhau tới 7,80m. Thành nhà Hồ được đánh giá là “một công trình kỳ vĩ bởi  kỹ thuật và nghệ thuật xây dựng đá lớn và sự kết hợp các truyền thống xây dựng độc đáo có một không hai ở Việt Nam, khu vực Đông Á và Đông Nam Á trong thời kỳ cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV”.

9. CAO NGUYÊN ĐÁ ĐỒNG VĂN

Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn là công viên địa chất đầu tiên của Việt Nam và thứ 2 ở khu vực Đông Nam Á được Hội đồng tư vấn mạng lưới công viên địa chất toàn cầu  (GGN) công nhận là công viên địa chất toàn cầu ngày 3/ 10/ 2010,  nằm ở độ cao trung bình từ 1000-1600m so với mực nước biển, có diện tích gần 2356km2 thuộc địa bàn 4 huyện: Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quảng Bạ của tỉnh Hà Giang, Cao nguyên đá Đồng Văn mang trong mình nhiều di sản về địa chất, địa tầng, kiến trúc phong phú, đa dạng: điển hình như các vườn đá, rừng đá Khâu Vai, Lũng Pù (Mèo Vạc). Cao nguyên đá Đồng Văn được đánh giá là một trong những vùng có hệ địa sinh thái núi đá đẹp, độc đáo và đa dạng nhất trên thế giới. Đặc biệt nơi đây còn phát hiện được 4 di chỉ khảo cổ thời tiền sử thuộc thời kỳ đồ đá cách đây hàng vạn năm. Đây cũng là nơi sinh sống lâu đời của 17 dân tộc thiểu số vùng cao Bắc Việt Nam có nhiều nét văn hóa độc đáo mang đậm bản sắc văn hóa vùng miền.

10. TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG HÙNG VƯƠNG

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương  ở Phú Thọ là di sản văn hóa phi vật thể đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại ngày 6/12/2012. Phạm  vi công nhận của di sản này được xác định gồm: 109 làng có đình, đền thờ vua Hùng thuộc địa phận Tp.Việt Trì, thị xã Phú Thọ và các huyện Cẩm Khê, Đoan Hùng, Hạ Hòa, Lâm Thao, Phú Ninh, Tam Nông, Thanh Sơn, Thanh Ba, Thanh Thủy, Yên Lộc của tỉnh Phú Thọ. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được khởi nguồn từ thời đại các vua Hùng sau đó đã được phát triển mạnh và rất được chú trọng ở các triều đại phong kiến Việt Nam trước đây, đặc biệt thời Hậu Lê, Tây Sơn, nhà Nguyễn đã liên tục sắc phong cho các đền thờ tại Phú Thọ, pháp điển hóa nghi thức thờ cúng, cấp ruộng đất để thu hoa lợi phục vụ cho việc thờ cúng, coi sóc. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được gắn với truyền thuyết Lạc Long Quân – Âu Cơ “bọc trăm trứng”, cả dân tộc cùng chung giống nòi, nguồn cội. đồng thời thể hiện đạo lý “uống nuớc nhớ nguồn”, sự gắn kết cộng đồngcũng như tinh thần đoàn kết dân tộc của người Việt Nam. Hàng năm lễ Giỗ tổ Hùng Vương được tổ chức ở các đền thờ vua Hùng trên khắp cả nước trong đó nghi lễ lớn nhất diễn ra tại khu di tích lịch sử đền Hùng tại Phú Thọ. Trong thời gian diễn ra lễ hội còn có nhiều trò chơi dân gian truyền thống như bịt mắt, bát dê, Kéo co, bắt vịt, bắt chạch thi bơi… Ngày nay Đảng và nhà nước ta cũng rất quan tâm đến công tác bảo tồn các di sản văn hóa đặc biệt là tín ngưỡng thờ Quốc tổ Hùng vương và đã đưa vào Quốc lễ. hằng năm cứ vào ngày 10/3 âm lịch nhân dân cả nước đều được nghỉ lễ để tham gia các hoạt động giỗ tổ được tổ chức trọng thể tại các đình, đền thờ vua Hùng ở các địa phương và nô nức hành hương về đất tổ Phú Thọ để tham dự nghi lễ tại khu di tích lịch sử đền Hùng.

Di sản thế giới tại Việt Nam 11: Nhã nhãc âm nhạc cung đình Việt Nam, ảnh Nhã nhạc,  Ban Đại nhac cung đình Huế đang trình tấu tại sân Thế Tổ Miếu, nguồn Bảo tàng cổ vật Huế (trích dẫn bởi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim 2018)

11. NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ

Nhã nhạc – âm nhạc cung đình Việt Nam là di sản văn hóa phi vật thể đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận là kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại tại một phiên họp được tổ chức tại Paris nước Pháp ngày 07-11-2003. Nhã nhạc – âm nhạc cung đình Huế bao gồm nhiều thể loại khác nhau: Nhạc lễ nghi sử dụng riêng cho việc cúng tế và triều chính, các ngày quốc lễ và Yến nhạc dùng cho sinh hoạt vui chơi giải trí trong cung của vua chúa và hoàng tộc. Trong đó có cả thể loại ca nhạc đi kèm với múa và kịch hát (múa cung đình, tuồng cung đình). Nhạc cung đình Huế xưa có nhiều thể loại: Giao nhạc, Miếu nhạc, Ngũ Tự nhạc dùng trong các dịp cúng tế trời đất; tổ tông; Đại triều nhạc dùng trong dịp lễ lớn, nghênh tiếp sứ thần; Triều nhạc và Yến nhạc phục vụ nội cung.  Múa cung đình Huế tiêu biểu có: Bát Dật, Lục Cung, Tam Tinh, Đấu Chiến Thắng Phật, Tứ Linh, Trình Tường,Tập Khách, Lục Triệt Hoa Mã Đăng… được phân định và sử dụng phù hợp vào các dịp, mục đích khác nhau. Các dàn nhạc và các bản nhạc cung đình triều Nguyễn cũng rất phong phú được biên soạn khá công phu bao gồm nhiều loại có biên chế khác nhau nhằm phục vụ các Nghi lễ và nhu cầu giải trí trong cung như: Nhã Nhạc, Huyền Nhạc, Ti Trúc Tế Nhạc, Tiểu nhạc, Đại nhạc, Nhạc Thiểu, Cổ Xúy Đại Nhạc, … Có thể nói “Nhã nhạc Huế là di sản văn hóa âm nhạc cổ điển bác học Việt Nam” được hình thành trên cơ sờ kế thừa thành tựu của dòng nhạc cung đình, các triều đại quân chủ trước đó ở Việt Nam và có sự sáng tạo phát triển lên một đỉnh cao mới, đây cũng chính là những giá trị vô giá và trường tồn của dân tộc Việt Nam . 

12. KHÔNG GIAN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN

Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên được UNESCO chính thức công nhận là di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại vào ngày 25- 11- 2005. Đây là một di sản văn hóa độc đáo của đồng bào các dân tộc Vùng Tây Nguyên Việt Nam. Phạm vị phân bố của “ Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên bao gồm 5 tỉnh: Từ KonTum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng. Chủ nhân của di sản văn hóa độc đáo này là 12 dân tộc tụ cư lâu đời nơi đây: Bana, Ê đê, Xê Đăng, Mơ Nông, Rơ Măm, Mạ, Cơho, Gia Rai…  Cồng Chiêng Tây Nguyên là một loại nhạc cụ độc đáo được chế tác chủ yếu bằng đồng có pha thêm một số kim loại khác như vàng, bạc, đồng đen.  Các tộc người Tây Nguyên sử dụng cồng chiêng làm nhạc cụ nhưng không tự đúc được Cồng Chiêng mà phải mua của các dân tộc láng giềng. Nhưng sau khi mua về với bàn tay khéo léo, óc sáng tạo, đôi tai thính các nghệ nhân đã biết chỉnh âm lại phù hợp theo hàng âm của tộc người. Chiêng sau khi đã được chỉnh âm sẽ được tổ chức một lễ hiến sinh mời thần Chiêng về trú ngụ trong Chiêng và từ đó “Chiêng mới thật sự là của cải vật chất và tinh thần của con người”,vì vậy Cồng Chiêng mang đậm bản sắc văn hóa tộc người. Đối với người Tây Nguyên, cồng chiêng là cầu nối giao tiếp giữa con người với thần linh. Vì vậy nó được sử dụng nhiều trong các nghi lễ và lệ hội. Thường mỗi tộc người Tây Nguyên đều có một biên chế dàn Chiêng riêng, bản nhạc riêng tùy theo tính chất đặc trưng của từng nghi Lễ mà có nhưng dàn chiêng và bài chiêng phù hợp. Dàn Chiêng và bài Chiêng dùng trong các nghi thức cúng thần khác với dàn Chiêng và bài Chiêng dùng trong nghi thức cầu màu, cầu sức khỏe… Đối với các tộc người Tây Nguyên cồng chiêng là biểu tượng cho sự quyền lực và sự giàu có. Người sở hữu nhiều cồng chiêng không chỉ là người giàu có của cải mà hơn thế còn là người có sức mạnh linh thiêng lớn hơn người khác. Bởi có thần chiêng làm bạn.Chiêng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao.  Tự lâu đời, cồng Chiêng có sự gắn bó mật thiết và không thể thiếu trong đời sống tinh thần  của người Tây Nguyên. Cồng Chiêng và không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là tài sản vô giá về văn hóa lẫn âm nhạc, là di sản văn hóa độc đáo của nhân loại.

Di sản thế giới tại Việt Nam 13: Ca trù Việt Nam, ảnh Ca trù, nguồn BQLDT Hà Nội (trích dẫn bởi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim 2018)

13. CA TRÙ

Ca trù là di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam được tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại cần được bảo vệ khẩn cấp vào ngày 01-10-2009. Đây là một di sản văn hóa phi vật thể có phạm vi ảnh hưởng lớn nhất, nó có mặt ở 15 tỉnh thành trong cả nước nhưng nhiều nhất ở phía Bắc Việt Nam. Tiêu biểu như ở Hà Nội, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hưng Yên, Nam Định, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Tp. Hồ Chí Minh. Được khởi nguồn từ trong dân ca dân vũ dân nhạc Việt Nam, Ca trù là “một bộ môn nghệ thuật tổng hợp với nét độc đáo là sự phối hợp đa dạng tinh tế, nhuần nhuyễn giữa thi ca và âm nhạc, đôi khi có cả múa”. Nó được ra đời từ thế kỉ XI và được phát triển rộng rãi từ thế kỉ XV nhưng mãi đến cuối thể kỷ XX mới được thế giới biết đến và được các nhà Nhạc gia, nhạc sĩ nước ngoài tìm hiểu, nghiên cứu giới thiệu tại nhiều trường đại học nổi tiếng trên thế giới. Ca trù còn được gọi là hát Ả đào, hát Cô Đầu, hát Cửa Đình, hát Nhà Trò, … hát Ca trù thường có 5 không gian trình diễn chính, mỗi không gian đều có lối hát và cách thức trình diễn riêng. Để biểu diễn ca trù ít nhất phải có 3 người: một “Đào nương” hay còn gọi là “Ca Nương” vừa hát vừa gõ phách, một “Kép” (Nam nhạc Công) đệm đàn đáy cho người hát và một “Quan Viên” là người điểm trống chầu. Trong đó ca nương là người được đánh giá cao nhất nhưng cũng là người phải khổ luyện và trải qua nhiều thử thách mới được công nhận. Ca trù xưa được tổ chức khá chặc chẽ và có những quy định cụ thể về sự truyền nghề, học đàn, hát, chọn đào nương đi thi hát…  Ca trù là một bộ môn nghệ thuật độc đáo uyên bác. Ca Trù phong phú về lối hát, tinh tế, công phu trong kĩ thuật hát. Ca trù là một trong những kết tinh, nghệ thuật văn hóa tinh tế của tâm hồn người Việt Nam qua bao thế kỷ. Nó mãi là niềm tự hào và xứng đáng là Di sản Văn hóa Phi vật thể và Truyền Khẩu của Việt Nam và nhân loại.

Di sản thế giới tại Việt Nam 13: Quan họ Bắc Ninh, ảnh Quan họ Bắc Ninh nguồn Sở VHTT& DL Bắc Ninh (trích dẫn bởi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim 2018)

14. QUAN HỌ BẮC NINH

Quan họ Bắc Ninh được tổ chức UNESCO công nhận là: Di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại vào ngày 30-9-2009. Phạm vi được công nhận chính thức gồm có 49 làng quan họ ở hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang, nhưng tập trung nhiều nhất là ở Bắc Ninh (có 44 làng quan họ). Quan họ Bắc Ninh là những làn điệu dân ca mượt mà, trữ tình của người dân vùng đồng bằng Bắc bộ, với lối hát giao duyên dân dã mộc mạc nhưng mang đậm nghĩa tình của trai gái thông qua những “Liền Anh” “Liền Chị” hát quan họ. Quan Họ Bắc Ninh cũng là môn nghệ thuật được hợp thành từ những yếu tố như: âm nhạc, lời ca, trang phục và lễ hội. Đây cũng là một trong những thể loại dân ca phong phú nhất về mặt giai điệu trong dân ca Việt Nam. Hát quan họ là hình thức hát đối đáp nam nữ giữa làng này với làng kia mà người ta còn gọi là “Bọn nam” “ Bọn nữ”. Một làng quan họ thường có nhiều “Bọn nam” và “Bọn nữ”. Khi hát có sự phân công hát dẫn, hát cặp để tạo được sự tương hợp về giọng ca. Việc truyền dạy dân ca quan họ cũng rất khác biệt so với các loại dân ca khác đó là tục “ngủ bọn”. Thường thiếu niên nam nữ trong làng từ 9-17 tuổi thường rủ nhau buổi tối tập trung tại nhà ông trùm để học cách nói năng, ứng đối và luyện giọng ghép đôi giữa “Liền anh” và “Liền chị” cho hợp giọng để đi hát. Trang phục và ẩm thực trong Quan họ Bắc Ninh cũng đặc biệt ấn tượng: vừa đẹp và trang trọng, thể hiện tình cảm thắm thiết của chủ nhà đối với khách cũng như tập quán của mỗi làng quê. Đó là trầu têm cánh phượng cánh quế, chè Thái, mâm son, thịt gà, giò lụa. Trang phục liền chị nổi bật với nón ba tầm, quai thao, khăn mỏ quạ, yếm váy… Liền anh áo the khăn xếp, ô lục soạn, áo the dài nâu thâm đi với quần, dép. Quan họ Bắc Ninh là nét văn hóa tiêu biểu của người dân vùng Kinh Bắc và là một trong những thể loại dân ca có làn điệu phong phú nhất trong kho tàng dân ca Việt Nam.

Di sản thế giới tại Việt Nam 15: Hội Gióng, ảnh Hội Gióng nguồn BQL di tích Hà Nội (trích dẫn bởi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim 2018)

15. HỘI GIÓNG

Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại được UNESCO công nhận chính thức vào ngày 16-11-2010 tại Hội nghị lần thứ V của Uỷ Ban Liên Chính Phủ theo Công ước năm 2003 tổ chức tại thành phố Nairobi – thủ đô của Kenya. Hội Gióng hằng năm được tổ chức ở đền Sóc (xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội) từ ngày 6-8 tháng Giêng âm lịch và ở đền Phù Đổng (xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội) từ ngày 6-12 tháng tư âm lịch. Đây là hai địa danh theo truyền thuyết là nơi sinh ra người anh hùng Thánh Gióng và là nơi dừng chân cuối cùng sau khi dẹp tan giặc Ân ông bay về trời. Đây là lễ hội truyền thống để ca ngợi chiến công và tưởng nhớ công ơn của người anh hùng Thánh Gióng. Trong lễ hội có sự tái hiện lại một cách sinh động cảnh các trận đấu giao tranh quyết liệt giữa Thánh Gióng và nhân dân Văn Lang với giặc Ân theo hình thức chiến tranh giữa các bộ lạc cổ xưa. Lễ hội nhằm giáo dục lòng yêu nước và truyền thống đoàn kết cộng đồng và tinh thần thượng võ, ý chí đấu tranh kiên cường đồng thời cũng thể hiện khát vọng độc lập tự do của dân tộc.

Di sản thế giới tại Việt Nam 16: Hát xoan ở Phú Thọ, ảnh Đào kép các phường Xoan biểu diễn hát đúm tại đình Lâu Thượng nguồn Bảo tàng Phú Thọ (trích dẫn bởi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim 2018)

16. HÁT XOAN Ở PHÚ THỌ

Hát Xoan ở Phú Thọ Việt Nam được UNESCO chính thức công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại vào ngày 24-11-/2011. Hát Xoan còn được gọi là khúc môn đình (hát cửa đình) được xuất hiện từ thời đại Hùng Vương cách ngày nay khoảng hơn 2000 năm. Đây là lối hát thờ thần xưa thường được tổ chức hát vào mùa Xuân. Hát Xoan có 3 hình thức: hát thờ cúng các vua Hùng, thành Hoàng làng, hát cầu mùa, cầu sức khỏe, hát lễ hội (giao duyên nam nữ). Phạm vi phân bố của Hát Xoan tập trung chủ yếu từ những làng cổ thuộc địa bàn trung tâm Văn Lang xưa thời vua Hùng ở Phú Thọ, tiêu điểm như An Thái, Phù Đức, Kim Đới  ở hai xã Kim Đức và Phương Lâu (Phú Thọ) và sau được lan tỏa ra một số làng quê dọc theo hai bên bờ sông Lô, sông Hồng và tỉnh Vĩnh Phúc. Trong Hát Xoan khi biểu diễn thể hiện nhiều dạng thức như: hát nói, hát ngâm, ngâm thơ và ca khúc, đồng ca nữ, đồng ca nam, tốp ca, đối ca, hát đối đáp, hát xen, hát đuổi, hát có lĩnh xướng…Về sắc thái âm nhạc cũng rất phong phú đa dạng. Múa và hát luôn đi cùng và kết hợp với nhau. Nội dung lời ca có phần khấn nguyện, chúc tụng và mô tả sản xuất, sinh hoạt, ca ngợi cảnh vật thiên nhiên, kể nói về truyện xưa. Hát Xoan là một di sản văn hóa phi vật thể chưa đựng nhiều giá trị lịch sử văn hóa nghệ thuật độc đáo của dân tộc Việt Nam. Nó có một sức sống mãnh liệt được lưu truyền gìn giữ qua bao thế hệ và sẽ mãi trường tồn, đồng hành cùng cộng đồng dân tộc Việt Nam trong thời hiện đại.

Di sản thế giới tại Việt Nam 17: Đờn ca tài tử Nam Bộ, ảnh Cảnh sinh hoạt đờn ca tài tử Bảo tàng Bạc liêu cung cấp (trích dẫn bởi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim 2018)

17. ĐỜN CA TÀI TỬ NAM BỘ

Nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ  còn được gọi là: “Đờn ca tài tử” đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại ngày 5-12-2013. Đây là một loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của người dân vùng Nam bộ Việt Nam, được hình thành và phát triển vào cuối Thế kỷ XIX. Đờn ca tài tử Nam bộ được người dân Nam bộ sáng tác để hát chơi sau những buổi lao động mệt nhọc. Các bản nhạc thường được sáng tạo dựa trên cơ sở của nhạc lễ, nhạc cung đình, nhạc dân gian miền Trung. Các bản nhạc của Đờn ca tài tử được cải biên liên tục từ bản nhạc cổ trong đó đặc biệt là từ 20 bài gốc. Nhạc cụ sử dụng trong Đờn ca tài tử thường là các loại  đàn kìm, đàn tranh, đàn cò, đàn tỳ Bà, đàn độc huyền, sáo, tiêu…Về sau có sử dụng thêm một số đàn hiện đại như Guitar phím lõm, Violon… Đờn ca tài tử được thực hành theo nhóm, câu lạc bộ và gia đình. Nhạc công thường là song tấu, tam tấu, hòa tấu. Khi biểu diễn dàn nhạc thường cùng ngồi trên chiếu hoặc trên bộ ván với phong cách rất ung dung, thảnh thơi. Người nghe cũng có thể tham gia thực hành và bình luận. Đờn ca tài tử là một sinh hoạt văn hóa tinh thần không thể thiếu trong các dịp lễ hội, tết, cưới, sinh nhật, họp mặt giao lưu bạn bè… Đờn ca tài tử phản ánh tâm tư tình cảm mang tính cộng đồng cao và rất phù hợp với lối sống phóng khoáng, cởi mở, chân thật nhưng rất  kiên cường của người dân vùng Nam bộ. Đây cũng là nét đẹp văn hóa truyền thống đang được bảo tồn và phát huy.

18. DÂN CA VÍ DẶM NGHỆ TĨNH

Dân ca Ví dặm Nghệ Tĩnh được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại ngày 27-11-2014. Đây là một loại hình nghệ thuật trình diễn dân ca khá phổ biến và chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân thuộc hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Nó mang đậm bản sắc, tâm hồn cũng như cốt cách của người dân Nghệ Tĩnh. Dân ca Ví dặm được người dân nơi đây hát trong mọi hoạt động của đời sống như khi  ru con, dệt vải, gặt lúa, chèo thuyền… Nội dung lời ca của dân ca Ví dặm ca ngợi những giá trị nhân văn sâu sắc như tinh thần yêu nước, tôn sư trọng đạo, hiếu kính với cha mẹ, lòng chung thủy, cách ứng xử, sống có nghĩa có tình…kêu gọi gắn kết cộng đồng chống áp bức bất công trong xã hội. Hát ví thường là hát tự do, ngẫu hứng theo lối hát ví von để đối đáp hai bên nam nữ. Có nhiều loại ví khác nhau như: ví phường cấy, phường gặt, phường nón, phường vải, ví đò đưa…  Hát dặm là thể hát nói bằng thơ ngụ ngôn thường có tiết tấu rõ ràng. Dặm mang tính tự sự, tự tình, khuyên răng, giải bày. Nhiều khi lại dí dỏm khôi hài, châm biếm trào lộng. Hát dặm Nghệ Tĩnh cũng có rất nhiều loại khác nhau: dặm nói, dặm kể, dặm vè, dặm ru, dặm nam nữ, dặm cửa quyền, dặm xẩm… Dân ca ví dặm có lối hát rất gần gũi, mộc mạc đặc biệt sử dụng nhiều từ ngữ và ngữ điệu phương ngữ Nghệ Tĩnh có khả nặng biểu đạt tư tưởng tình cảm của người dân xứ Nghệ Tĩnh đồng thời góp phần giáo dục những giá trị đạo đức truyền thống, lòng yêu nước, gắn kết cộng đồng. Nó có một sức sống mãnh liệt và là nguồn cảm hứng âm hưởng dân ca cho các nghệ sĩ kế thừa và phát huy trong các tác phẩm đương đại, góp phần làm giàu thêm di sản văn hóa tinh thần và sự phát triển bền vững của xã hội thời hiện đại.

 19. KÉO CO

Nghi lễ và trò chơi kéo co  là di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận vào ngày 02-12-2015 cùng với nghi lễ và trò chơi kéo co ở Campuchia và Hàn Quốc, là một tập quán phổ biến trong văn hóa của những cư dân  trồng lúa nước ở vùng Đông Á và Đông Nam Á. Nó phản ánh nhân sinh quan, thế giới quan của con người đặc biệt là niềm tin vào lực lượng siêu nhiên. Ở Việt Nam, Nghi lễ và trò chơi kéo co tập trung chủ yếu ở vùng Trung du, đồng bằng Sông Hồng và Bắc Trung bộ. Tiêu biểu như ở các tỉnh Vĩnh Phúc, thành phố Hà Nội và cả…. ở vùng núi phía bắc trong cộng đồng người Tày, người Thái và người Giáy ở Lào Cai. Đây là những cư dân lúa nước sớm nhất trong lịch sử và là cái nôi của nền văn minh lúa nước. Kéo co không chỉ là một trò chơi dân gian mà còn là một sinh hoạt văn hóa gắn với quan niệm tâm linh của các dân tộc. Kéo co được tổ chức như một lễ nghi trong các lễ hội là để cầu mùa( mưa thuận, gió hòa, mùa màng tươi tốt), cầu sức khỏe, cầu an… Kéo co được biểu hiện ở hai hình thức: có dây hoặc không dây. Việc chuẩn bị người thi đấu và  dây kéo cũng được chuẩn bị kỹ lưỡng vì theo quan niệm tâm linh của cư dân nông nghiệp điều này rất quan trọng liên quan đến sự bình an, may mắn trong làm ăn cho cả làng và cộng đồng.

20. TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TAM PHỦ

Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ của người Việt được tổ chức UNESCO chính thức công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại ngày 01-12-2016. Đây là một tín ngưỡng dân gian thờ các thần linh thiên nhiên có từ lâu đời của người Việt được xuất hiện từ thời tiền sử với khái niệm Thánh Mẫu, sau dần phát triển thành tín ngưỡng Tam Phủ (Thiên phủ, Địa phủ, Thoại phủ). Đến thế kỷ XVI cùng với sự xuất hiện của Thánh mẫu Liễu Hạnh một tín ngưỡng bản địa mới được hình thành đó là đạo Mẫu. Tín ngưỡng thờ Mẫu còn gắn liền với nghệ thuật hát chầu văn (hát hầu đồng) – một loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo của người Việt. Nghi lễ hầu đồng là nghi thức tín ngưỡng tiêu biểu của đạo Mẫu. Đây là nghi thức giao tiếp với thần linh, các vị thánh thông qua các ông đồng, bà đồng. Thường các vị thánh sẽ hóa thân vào nhân vật dùng nhạc thơ, lời kể lại chuyện. Đồng thời thể hiện quyền lực như trừ ma, phán bệnh, ban phúc lộc… Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ là một phong tục tập quán thờ cúng nữ thần và những nhân vật anh hùng có trong lịch sử, những người có công với đất nước là một nét văn hóa đặc sắc trong văn hóa tâm linh của người Việt và một số dân tộc khác như Mường, Dao, Nùng…Đây là loại hình nghệ thuật dân tộc độc đáo có lối trình diễn kết hợp nhiều yếu tố như: âm nhạc, trang phục, múa và diễn xướng. 

21. MỘC BẢN TRIỀU NGUYỄN

Mộc bản triều Nguyễn là di sản tư liệu của Việt Nam được Uỷ ban tư vấn quốc tế (IAC) thuộc UNESCO công nhận là di sản tư liệu thế giới vào ngày 31/7/2009. Đây là một loại hình tài liệu đặc biệt quý hiếm không chỉ ở Việt Nam mà còn hiếm có trên toàn thế giới. Mộc bản triều Nguyễn là những văn bản chữ Hán – Nôm được khắc trên gỗ để in các loại sách lưu hành tại Việt Nam vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Mộc bản triều Nguyễn hiện còn lưu giữ được 34.619 tấm trong đó bao gồm cả những ván khắc in thu được ở Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội đua vào Huế lưu trữ. Tài liệu được khắc trên mộc bản rất tinh xảo và sắc nét với nội dung ghi lại các sự kiện lịch sử, các cuộc tiểu trừ giặc giã, công danh sự nghiệp của các bậc quân vương. Đồng thời nhân bản các bộ luật, các quy định về chuẩn mực xã hội để phổ biến bắt buộc mọi thần dân phải tuân thủ. Tất cả các bản thảo nói trên đều phải qua sự ngự lãm và phê duyệt bằng bút tích của Hoàng đế trước khi chuyển giao cho những nghệ nhân tài hoa trong ngự xưởng của cung đình khắc lên các loại gỗ quý như gỗ thị, nha đồng… Tài liệu Mộc bản triều Nguyễn là những bản khắc in các tác phẩm chính văn, chính sử được hình thành trong quá trình hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước và cuộc đời, hoạt động của những nhân vật lịch sử có ảnh hưởng lớn tới những biến cố xã hội cũng như tiến trình lịch sử của một dân tộc, của một đất nước. Hiện nay những tài liệu này rất hiếm có trên thế giới. Nó đặc biệt có giá trị trong việc nghiên cứu lịch sử văn hóa Việt Nam nói riêng và thể giới nói chung.

22. BIA TIẾN SĨ Ở VĂN MIẾU

Bia đá các khoa tiến sĩ triều Lê – Mạc (1442 – 1779) Bia đá các khoa tiến sĩ triều Lê – Mạc (gồm 82  tám bia tiến sĩ) được Uỷ ban ký ức thế giới khu vực châu Á Thái Bình Dương công nhận là di sản tư liệu thế giới thuộc Chương trình Ký ức thế giới của UNÉSCO vào ngày 09/3/2010. Bia tiến sĩ tại Văn miếu Quốc Tử Giám Hà Nội là di sản tư liệu độc đáo duy nhất trên thế giới “không chỉ lưu danh các tiến sĩ đỗ đạt trong các kỳ thi suốt gần 300 năm (1442 – 1779) mà còn ghi lại lịch sử các khoa thi và triết lý của triều đại về nền giáo dục và đào tạo, sử dụng nhân tài”. Trên các bia còn ghi rõ người viết văn bia, người dựng bia, ngày tháng dựng bia. Những điều này đã có tác động tích cực đối với xã hội đương thời và hậu thế cũng như khẳng định về tính xác thực, nguyên gốc và duy nhất của tư liệu. Nội dung văn bia đều do các nhà trí thức, danh nhân văn hóa biên soạn. Chữ viết và hoa văn trang trí trên các tấm bia sắc sảo, cầu kỳ mang tính nghệ thuật cao. Có thể nói mỗi tấm bia vừa là một tác phẩm thư pháp vừa là một tác phẩm thuật điêu khắc tinh tế và độc đáo với phong cách trang trí mang đậm dấu ấn của nghệ thuật đương thời. Với những giá trị lịch sử, văn hóa. nghệ thuật cũng như tính duy nhất, hiếm có của 82 tấm bia tiến sĩ, bia đá các khoa tiến sĩ triều Lê – Mạc tại Văn miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội) là di sản tư liệu vô giá, là niềm tự hào của nhân dân Việt Nam và nhân loại trên toàn thế giới.

23. MỘC BẢN KINH PHẬT

Mộc bản Kinh Phật Thiền phái Trúc Lâm chùa Vĩnh Nghiêm được Ủy ban UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới thuộc Chương trình Ký ức thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ngày 16-05-2012. Đây là bộ Mộc bản gốc, duy nhất của Phật phái Trúc Lâm còn lưu giữ được đến ngày nay tại chùa Vĩnh Nghiêm thuộc xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Ở đây còn lưu giữ được 3.050 bản khắc với hơn 10 đầu sách kinh phật. Trong đó chủ yếu là kinh sách, luật giới nhà Phật, trước tác của Tam Thế Tổ: Điếu Ngư Giác Hoàng Trần Nhân Tông, Thiền Sư Pháp Loa Đồng Kiên Cương, Thiền Sư Huyền Quang Lý Đạo Tái và một số bản in sớ điệp của Phật phái Trúc Lâm, mộc thư ghi chép lại cách chữa bệnh bằng châm cứu, bằng các loại thảo dược (thuốc nam). Các mộc bản này được san khắc vào giai đoạn vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi chùa Vĩnh Nghiêm là một trong những trung tâm đào tạo và ấn hành xuất bản lớn nhất của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. Đồng thời cũng là nơi lưu giữ hồ sơ các tăng ni trên toàn quốc. Mộc bản Kinh Phật Thiền phái Trúc Lâm chùa Vĩnh Nghiêm đều được làm bằng gỗ thị, chữ được khắc ngược trên cả hai mặt. Kỹ thuật khắc và trang trí thực hiện đúng theo quy chuẩn in của Việt Nam. Chữ khắc chủ yếu là chữ Hán cổ, chữ Nôm và một số ít có khắc xen cài thêm chữ Phạn. Mộc bản Kinh Phật Thiền phái Trúc Lâm chùa Vĩnh Nghiêm là một di sản văn hóa phi vật thể vô giá của Việt Nam và của nhân loại bởi nó không những hàm chứa những giá trị tư tưởng, giáo lý của Phật phái Trúc Lâm mà còn có tính độc bản, nguyên gốc mang tính nghệ thuật cao. Đồng thời đây cũng là nguồn cung cấp thông tin phong phú và đáng tin cậy khi người xem có nhu cầu tìm hiểu nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực như: tôn giáo, ngôn ngữ, văn hóa, y học, mỹ thuật. 

24. CHÂU BẢN NHÀ NGUYỄN

Châu bản triều Nguyễn được công nhận là Di sản tư liệu thế giới thuộc Chương trình Ký ức thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ngày 14-05-2014 tại Hội nghị lần thứ 6 của Uỷ Ban Chương trình Ký ức thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (MOW CAP). Đây là những văn bản triều chính mà trong quá trình điều hành được các vua triều Nguyễn tự phê bằng mực son đỏ (từ 1802-1945). Toàn bộ khối Châu bản triều Nguyễn có 773 tập với khoảng 85.000 văn bản của 11 triều vua thời Nguyễn từ Gia Long đến Bảo Đại (không có của một vài vị vua không tại vị lâu). Các châu bản hầu hết được viết tay trên giấy dó và có nội dung khá phong phú về loại hình: chiếu, dụ, chỉ, sớ, tấu, khải, phúc, phiếu trình, phiếu nghỉ…Trong đó quy định rất rõ và chặt chẽ về chức năng và thẩm quyền. Nội dung phản ánh các vấn đề trong đời sống xã hội, các biến động về lịch sử, chính sách đối nội, đối ngoại của Việt Nam giai đoạn từ thế kỷ XIX đến nữa đầu thế kỷ XX. Các sự kiện ghi chép trong Châu bản có tính xác thực cao bởi đó là những thông tin được tiếp nhận và xử lý của các vua triều Nguyễn trong công tác quản lý xã hội. Đây cũng là nguồn sử liệu quan trọng để biên soạn các bộ sách sử và các sách điển lệ chính thống như: Đại Nam thực lục chính biên, Đại Nam nhất thống chí, Quốc Triều chính biên…Châu bản triều Nguyễn còn là tư liệu lịch sử có giá trị đặc biệt quan trọng trong việc minh chứng chủ quyền của Việt Nam về hai quần đào Trường Sa và Hoàng Sa. Ngoài ra các bút tích phê duyệt của các vua triều Nguyễn và hệ thống chữ viết trên Châu bản (sử dụng bốn loại chữ viết: chữ Hán, chữ Nôm, chữ Pháp, chữ Quốc ngữ) đã phản ánh sự biến động của hệ tư tưởng xã hội và sự tác động du nhập của văn hóa phương Tây cũng như hoạt động giao thương của Việt Nam đối với các nước trong khu vực và trên thế giới. Hiện nay toàn bộ số Châu bản này đang được gìn giữ bảo quản tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I (tại tòa nhà số 16 đường Vũ Phạm Hàm, phường Yên Hòa, Cầu Giấy – Hà Nội). 

Di sản thế giới tại Việt Nam 25: Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế, ảnh Thơ văn trên kiến trúc Huế nguồn Bảo tàng cổ vậ , Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế (trích dẫn bởi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim 2018)

25. THƠ VĂN TRÊN KIẾN TRÚC CUNG ĐÌNH HUẾ

Thơ văn trên kiến trúc Cung đình Huế được Ủy ban chương trình ký ức thế giới khu vực Châu Á  Thái Bình Dương (MOW CAP- thuộc UNESCO) chính thức công nhận là di sản tư liệu thế giới vào ngày 19-05-2016. Thơ văn trên kiến trúc Cung đình Huế bao gồm toàn bộ hệ thống văn tự chữ Hán chủ yếu là các bài văn, thơ được khắc chạm rất công phu và sắc sảo trên gỗ các kiến trúc thuộc quần thể kiến trúc cố đô Huế trong giai đoạn 1802-1945. Theo sự đánh giá của các chuyên gia và các nhà nghiên cứu thì Thơ văn trên kiến trúc Cung đình Huế là “di sản tư liệu độc đáo, là những bản gốc duy nhất hiện chỉ có ở Việt Nam và có giá trị nổi bật toàn cầu”.

26. MỘC BẢN TRƯỜNG HỌC PHÚC GIANG HÀ TĨNH

Mộc bản trường học Phúc Giang (Hà Tĩnh) đã chính thức được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thuộc chương trình ký ức thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ngày  19-05-2016 cùng với thơ văn trên kiến trúc Cung đình Huế. Mộc bản trường học Phúc Giang (Hà Tĩnh) là những bản khắc gỗ chữ Hán ngược dùng đề in sách do dòng họ Nguyễn Huy, làng Trường Lưu, xã Lai Thạch, huyện Thiên Lộc (nay là xã Trường Lộc, huyện Can Lộc), tỉnh Hà Tĩnh biên soạn và khắc in để phục vụ việc dạy và học. Mộc bản trường học Phúc Giang (Hà Tĩnh), được hình thành trong quá trình hoạt động giáo dục văn hóa từ giữ thế ký XIIX đến đầu thế kỷ XX. Mộc bản trường học Phúc Giang (Hà Tĩnh) là di sản tư liệu hiện có 383 bản được làm bằng gỗ những cây thị “đực”, nét chữ khắc tinh xảo với nhiều dạng chữ khác nhau như: Lệ thư, Thảo thư, Giản tự, Cô tự, … Mộc bản trường học Phúc Giang (Hà Tĩnh) là khối mộc bản cổ nhất và duy nhất về văn hóa giáo dục của một dòng họ còn được lưu giữ ở Việt Nam. Với những giá trị đặc biệt về hình thức, nội dung cũng như tính xác thực, độc đáo di sản tư liệu này đã có tầm ảnh hưởng tới cả khu vực và quốc tế. Hiện nay khối Mộc bản này đang được bảo quản tại tư gia dòng họ Nguyễn Huy và Bảo tàng Hà Tĩnh.

xem thêm: Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim: Di sản Thế giới tại Việt Nam
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/di-san-the-gioi-tai-viet-nam/

Nông nghiệp sinh thái Việt, điểm đến yêu thích của bạn

ĐÁ VÀNG VỚI BAN MAI; CNM365 Tình yêu cuộc sống; Chính Trung Hiếu Thiện Lành; Trà sớm với Lão Nông; Núi Chứa Chan Xuân Lộc;Vườn Quốc Gia Cát Tiên; Một gia đình yêu thương; Nhớ vầng trăng ngọn lửa ; Hoàng Thành Trúc Lâm Sáng; Đến với Tây Nguyên mới; Bài ca nhịp thời gian; Đường xuân đời quên tuổi; Chính Ngọ đoán Kinh Dịch; Nông lịch tiết Lập Đông 24 tiết khí nông lịch xem vieo Than Tran @ nêu bật Hien NguyenminhhienNgười Quảng Sơn Kết nối yêu thương .

Học Việt Hóa Thơ Đường*
Hoa Đất Thương Lời Hiền
HOÀNG KIM THƠ ĐỒNG TÂM

Đồng tâm hiệp lực sắt nên kim *
Cam khổ bền lòng, động vẫn im
Thống Nhất đường xuân bền thế n­ước
Việt Nam đất Mẹ mãi trong tim
Chính Trung Hiếu Thiện Lành thời nổi
#annhiên #Thungdung biến chẳng chìm
Đá vàng với ban mai nắng mới
Mưa lành Lã Vọng biết đâu tìm

QUẢ TỐT BỜI NHÂN LÀNH

Trời xanh tỉnh lặng với thu không
Nhân quả ghi ơn quý vun trồng
Hạnh phúc đủ đầy nhờ tích đức
Hiếu trung trọn vẹn bởi tâm công
Nhìn ai dân mến vì chí thiện
Ngắm kẻ người chê bởi khác lòng
Ban mai ngày mới mừng biết đủ
Tình yêu cuộc sống rạng vừng đông.


Tựa Cây Để Nghỉ Ngơi

Nhàn hưởng lộc Trời dưới bóng tre
Chuối già đủ chín chốn chân quê
Mèo Chăm sưởi nắng thành nơi đến
Ngựa Quý phong sương thạo lối về
Quảng Trị Nam Gianh Người Minh Lệ
Đồng Nai Hưng Thịnh Đất Bồ Đề
#ĐáVàng Lùm Trần Thương #TreTrúcLâm
Khi mệt tựa cây để nghỉ ngơi.


HOÀNG KIM VUI BẠN HIỀN
Nghe Cổ Vật Nói Chuyện

Loạn Động Cơ Trời Triệt Nói Nhăng
An Tĩnh Thời Đất Mạch Thanh Long
Vợ Thôi Lo Lắng Chăm Ăn Ngủ
Con Bớt Phân Tâm Sóc Nhẹ Lòng
Thầy Vững Thân Tâm Bền Sử Ký
Bạn Quý #annhiên
#Thungdung
#cnm365 #tìnhyêucuộcsống
Ta với AI vui bớt luận bàn

CỤ TÔ TÔI NGHE LẠI
Trà Sớm Với Lão Nông
**

Cụ Tô Tôi Nghe Lại *****
Thật Tâm Đắc Hài Lòng
Đáo Trường Thành Hảo Hán
Ngũ Lão Sáng Tâm Công
*

Dựng Trường Thành Quyết Sách
Thấu Thủy Hoàng Tây An
Nối Hòn Khoai Cuống Rốn
Dưỡng Phú Quốc Biển Nam

Thế Lớn Tan Rồi Hơp
Đồng Hải Thế Ao Nhà
Gia Đình An Tổ Quốc ****
Đền Trần Thương Bồ Đề


Bạch Ngọc Hoàng Kim cẩn đề ***

Cụ Tô Tôi Nghe Lại *****;Toàn văn bài phát biểu đanh thép của Ngoại trưởng Nga về thách thức và trật tự toàn cầu; Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; Đại tướng Phan Văn Giang truyền đạt “Tư duy, nhận thức mới về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc”; Đại tướng Lương Tam Quang truyền đạt “Tư duy, nhận thức mới về an ninh quốc gia của Đại hội XIV; Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại HNTQ nghiên cứu, triển khai thực hiện NQ Đại hội XIV; Đồng chí Trần Sỹ Thanh truyền đạt chuyên đề về “Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát”; ĐÁ VÀNG VỚI BAN MAI; CNM365 Tình yêu cuộc sống;

Kim Notes lắng ghi chú:
Nhà Trần trong sử Việt, một bài học sâu sắc. Posted on
Hoàng Kim tổng hợp biên soạn (2006-2026) hiệu đính và bổ sung

NHÀ TRẦN TRONG SỬ VIỆT
Hoàng Kim

Nhà Trần khởi đầu từ vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) lên ngôi Hoàng Đế vào ngày 31 tháng 12 năm 1225 nhằm ngày Mậu Dần  mồng 1 tháng 12 năm Ất Dậu, Lý Chiêu Hoàng là vị Nữ Hoàng cuối cùng của nhà Lý xuống chiếu nhường ngôi cho chồng. Tiếp nối vua Trần Thái Tông là vua Trần Thánh Tông (Trần Hoảng), vua Trần Nhân Tông (Trần Khâm. Ba vua là thời nhà Trần thịnh thế ngời sử Việt dựng nên nghiệp lớn, chống quân Nguyên Mông, thống nhất Phật Giáo Việt Nam và đạt đến cực thịnh. Ba vua Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Trần Hiến Tông là thời kế nghiệp. Từ vua Trần Dụ Tông (sau khi thượng hoàng Trần Minh Tông mất) đến Hôn Đức Công, Trần Nghệ Tông, Trần Duệ Tông, cho tới Trần Phế Đế, Trần Thuận Tông, Giản Định Đế, Trần Quý Khoáng là thời suy tàn. Trần triều chấm dứt lúc Trần Phế Đế bị Thượng hoàng Trần Nghệ Tông ép thắt cổ chết thay thế bằng Trần Thuận Tông là con của Trần Nghệ Tông, khi thế lực Hồ Quý Ly đã vững không thể đổi. Vua Trần Thuận Tông trị vì từ năm 1388 cho đến năm 1400 thì bị ép nhường ngôi cho Hồ Quý Lý, lập ra triều đại nhà Hồ. Giặc Minh mượn danh nghĩa “phục Trần diệt Hồ” nhân cơ hội ấy vào cướp nước ta. Giản Định Đế, Trần Quý Khoáng chống nhà Minh nhưng không thành. Nhà Trần trong sử Việt kéo dài 175 năm với 13 đời hoàng đế. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nha-tran-trong-su-viet/ & #ana

Thái Tông và Hưng Đạo
Ngày mới đầy yêu thương
Nhà Trần trong sử Việt
Lồng lộng như trăng rằm

Ba đỉnh cao Yên Tử
Danh thắng quê hương Trần
‘Thái bình tu nổ lực
Vạn cổ thử giang san’ (*)

Nhà Trần trong sử Việt
Trước đèn bảy trăm năm,
Trúc Lâm Trần Nhân Tông
Thăm thẳm tầm nhìn lớn.

Từ một hai hai năm (1225),
Đến thế kỷ mười bốn (1400)
Chuyện cũ chưa hề cũ
Thoáng chốc tròn tháng năm.


An nhiên chào ngày mới
Vui bạn hiền người thân
Nhà Trần trong sử Việt.
Tinh hoa chọn đôi vần.


Xưa mình, nay bớt tiếng ve
Quanh nhà
#ana an hưởng tiếng tre rì rào
Cụ Trần Hoàng ổ cạnh ao
Giấc mưa rôm rã ồn ào ếch kêu.

(*) Trích thơ Tụng giá hoàn kinh sư của
Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải

I.THÁI TÔNG VÀ HƯNG ĐẠO

Minh quân hiền tài vua tôi đồng lòng toàn dân gắng sức. Trần Thái Tông, Trần Hưng Đạo, Trần Thánh Tông là ba đỉnh cao vọi của trí tuệ thời Trần. Vua Trần Nhân Tông khi lên đỉnh Yên Tử có hỏi về ba đỉnh cao của dãy núi kia là gì thì được trả lời đó là dãy Yên Phụ của vòng cung Đông Triều trấn Bắc. Đức vua Phật Trần Nhân Tông đã lạy Yên Phụ và chọn Yên Tử làm nơi Cư trần lạc đạo chốn an nghĩ của mình. Trần Thái Tông và Trần Quốc Tuấn là câu chuyện minh quân thiên tài thật lạ lùng và sâu sắc lưu dấu nơi đất Việt. Bài học lịch sử Trần Thánh Tông, Trần Hưng Đạo, Trần Thánh Tông, Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư … là suối nguồn tươi trẻ của một câu chuyện tuyệt vời được nối tiếp sâu hơn trong các chuyên luận khác.

Vua Trần Thái Tông (1218-1277) người sáng nghiệp nhà Trần có câu nói nổi tiếng trong lịch sử: “Nếu chỉ để lời nói suông cho đời sau, sao bằng đem thân mình đảm nhận trọng trách cho thiên hạ trước đã”. Vua Trần Thái Tông là bậc minh quân tài trí được so sánh với Đường Thái Tông Lý Thế Dân là vị vua giỏi Trung Hoa thời trước đó. “Sáng nghiệp Việt, Đường hai Thái Tông/ Đường xưng: Trinh Quán, Việt: Nguyên Phong/ Kiến Thành bị giết, An Sinh sống/ Miếu hiệu tuy đồng, đức chẳng đồng”.

Đường Thái Tông Lý Thế Dân ngày 4 tháng 9 năm 626 đã lên ngôi hoàng đế nhà Đường sau sự biến Huyền Vũ môn. Đường Thái Tông thiết lập nên sự cường thịnh của nhà Đường phát triển về kinh tế và hùng mạnh về quân sự nhất thế giới thời ấy, nhưng so đức độ với vua Việt Trần Thái Tông thì vua Việt được người đời ca ngợi hơn. 

An Sinh Vương Trần Liễu là người chống lại Thái Tông và hận thù giữa họ sâu đến nỗi Trần Liễu còn di nguyện cho Trần Quốc Tuấn sau này nhất thiết phải đoạt lại ngôi vua. Vua Trần Thái Tông không chỉ tha cho An Sinh Vương Trần Liễu mà còn tha cho Trần Quốc Tuấn là người đã gây ra chuyện tầy đình.

Tình yêu thương của Trần Quốc Tuấn và Thiên Thành công chúa là một câu chuyện thật quái và phi thường ! Tình yêu đó thật lớn lao nhưng sự việc quá liều lĩnh, khí phách và đặc biệt nguy hiểm. Trần Quốc Tuấn ngay trong đêm tân hôn của Thiên Thành công chúa với Nhân Đạo Vương đã dám lẻn vào cung của Nhân Đạo Vương ngủ với người mình yêu mà không sợ cái chết trong lúc Trung Thành Vương con trai của Nhân Đạo Vương đang bận đãi khách chưa kịp động phòng. Công chúa Thiên Thành con gái của vua Trần Thái Tông thì đã dám chọn cái chết để trao thân cho Trần Quốc Tuấn là người mình yêu, bất chấp đám cưới với Trung Thành Vương là con trai của Nhân Đạo Vương vị quan đầu triều Trần.

Vua Trần Thái Tông đã không làm ngơ để Quốc Tuấn bị giết. Vua chủ động kết nối lương duyên ngay cho Thiên Thành Quốc Tuấn bất chấp lẽ thường. Câu chuyện vua Trần Thái Tông không những không giết Trần Quốc Tuấn, con của Trần Liễu kẻ tử thù đang rất hận mình và đang “cố tình phạm tội ngông cuồng” trái nhân tình mà còn chủ động tác thành cho Thiên Thành Quốc Tuấn nên vợ chồng, hóa giải mọi điều, thu phục được tấm lòng của bậc anh hùng và giữ lại được cho non sông Việt một bậc kỳ tài muôn thuở

Chuyện lạ và hay, thật hiếm có !

Tượng Trần Quốc Tuấn ở chùa cổ Thắng Nghiêm, ảnh Hoàng Kim

II. LỜI DẶN CỦA THÁNH TRẦN

Chùa cổ Thắng Nghiêm là nơi Đức Thánh Trần thuở nhỏ đã theo công chúa Thụy Bà về đây để tìm minh sư học phép Chọn người, Đạo làm tướng, viết kiệt tác Binh thư Yếu lược. Mẹ tôi họ Trần. Tôi về dâng hương Đức Thánh Trần tại đền Tổ. Lắng đọng trong tôi Lời thề trên sông Hóa; Lời dặn của Thánh Trần.


Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là nhà quân sự kiệt xuất nhất trong lịch sử Việt Nam nhà chính trị, ngoại giao, tư lệnh tối cao của Việt Nam thời nhà Trần, đã ba lần đánh thắng đội quân Nguyên Mông đế quốc hùng mạnh nhất thế giới thời đó. Người là một trong mười vị tướng tài của Thế Giới

Trần Hưng Đạo sinh năm 1232, mất ngày 20 tháng 8 âm lịch năm 1300, ông là con thứ ba của An Sinh Vương Trần Liễu, gọi Trần Thái Tông bằng chú ruột, mẹ ông là Thiện Đạo quốc mẫu, một người trong tôn thất họ Trần. Ông sinh ra ở kinh đô Thăng Long, quê quán ở thôn Tức Mặc, phường Lộc Vượng, TP Nam Định ngày nay. Ông khi lên 5 tuổi năm 1237 làm con nuôi cô ruột là Thụy Bà công chúa, vì cha ông là Trần Liễu chống lại triều đình (Trần Thủ Độ). Đại Việt sử ký toàn thư mô tả ông là người có dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người, nhờ được những người tài giỏi đến giảng dạy nên ông sớm trở thành kỳ tài xuất chúng văn võ song toàn, thông hiểu sâu sắc huyền cơ tạo hóa, phép biến dịch và cách dùng binh.

Vua Trần Thái Tông tên thật là Trần Cảnh, sinh ngày 16 tháng 6 năm 1218 mất ngày 1 tháng 4 năm 1277, là vị hoàng đế đầu tiên của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam, lên ngôi ngày 5 tháng 5 năm 1225 mở đầu nhà Trần trong sử Việt. Ông ở ngôi hơn 32 năm (1225 – 1258), làm Thái thượng hoàng trong 19 năm. Trần Cảnh sinh ra dưới thời kỳ nhà Lý còn tại vị, ông cùng tuổi với vị Nữ hoàng nhà Lý lúc bấy giờ là Lý Chiêu Hoàng. Ông được Chiêu Hoàng yêu mến, hay gọi vào vui đùa, Trần Cảnh khi ấy không nói năng gì nhưng khi về đều nói lại với chú họ là Trung Vũ Vương Trần Thủ Độ. Nhà Lý loạn cung đình thuở ấy đã tới đỉnh điểm. Vua Lý tuy có hai con gái thông minh, hiền hậu và rất giỏi nhưng không có con trai nối dõi, trong khi hoàng tộc nhà Lý lắm kẻ mưu mô kém đức dòm ngó ngôi báu. Nước Đại Việt thuở đó bên ngoài thì họa ngoại xâm từ đế quốc Nguyên Mông đang rình rập rất gần, bên trong thì biến loạn bùng nổ liên tục nhiều sự kiện rất nguy hiểm. Trần Thủ Độ nắm thực quyền chốn cung đình, nhận thấy Trần Cảnh cháu mình cực kỳ thông minh đỉnh ngộ, thiên tư tuyệt vời xứng là một minh quân, lại được Lý Chiêu Hoàng yêu mến nên đã sắp đặt hôn nhân giữa Trần Cảnh và Lý Chiêu Hoàng đám đặt cược việc làm vua với họa diệt tộc Trần nếu chọn lầm người. Sự kiện đó xảy ra vào ngày 31 tháng 12 năm 1225, đã chấm dứt triều đại nhà Lý đã tồn tại hơn 200 năm và khai sáng nhà Trần.

Lý Chiêu Hoàng tức Lý hoàng hậu vợ Trần Thái Tông trớ trêu thay sinh con nhưng con bị chết yểu ngay sau khi sinh, cho nên Trần Thái Tông không có người kế vị chính danh phận, trong lúc sự chống đối và chỉ trích cay độc của tôn thất nhà Lý do Hoàng Thái hậu cầm đầu lại đẩy lên cao trào rất nặng nề. Nhiều kẻ tôn thất mượn tiếng có con trai nối dõi dòm ngó cướp ngôi. Thuận Thiên công chúa là vợ của Trần Liễu khi ấy đang mang thai được 3 tháng. Năm 1237, Thái sư Trần Thủ Độ nắm thực quyền phụ chính đã ép cha của Trần Quốc Tuấn là Trần Liễu phải nhường vợ là Thuận Thiên công chúa (chị của Lý Chiêu Hoàng) thay làm Chính cung Hoàng hậu cho Trần Thái Tông, đồng thời giáng Lý hoàng hậu xuống làm công chúa. Việc này khiến Trần Thái Tông bỏ lên tu ở núi Yên Tử.

Người sau này đã chứng ngộ vận nước lâm nguy cường địch bên ngoài câu kết nội gián bên trong không thể không xử thời biến đặt vận mệnh “non sông đất nước Việt trên hết”. Người đã chấp nhận quay trở về “Nếu chỉ để lời nói suông cho đời sau, sao bằng đem thân mình đảm nhận trọng trách cho thiên hạ trước đã”. Trần Thái Tông đã chấp nhận sự sắp xếp của Triều đình.

Sau này, ông truyền ngôi cho Thái tử Trần Hoảng là con thứ, vào ngày 24 tháng 2 năm 1258 để lui về làm Thái thượng hoàng,(con trưởng Trần Quốc Khang vốn là con Trần Liễu, anh em cùng cha khác mẹ với Trần Quốc Tuấn). Trần Thái Tông được tôn làm Hiển Nghiêu Thánh Thọ Thái Thượng Hoàng Đế. Trần Hoảng lên ngôi tức Trần Thánh Tông. Tước vị và thông lệ Thái thượng hoàng của nhà Trần từ đấy đã trở thành truyền thống, vừa rèn luyện cho vị Hoàng đế mới cai trị đất nước càng sớm càng tốt vừa tránh được việc tranh giành ngôi báu giữa các con do chính danh sớm được định đoạt.

Trần Liễu gửi con là Trần Quốc Tuấn cho Thụy Bà công chúa mai danh ẩn tích tại chùa Thắng Nghiêm tìm minh sư luyện rèn văn võ. Sau đó ông dấy binh làm loạn ở sông Cái, cuối cùng bị thất thế, phải xin đầu hàng. Trần Thủ Độ toan chém nhưng Trần Thái Tông liều chết đưa thân mình ra ngăn cản buộc lòng Thủ Độ phải tự mình ném bảo kiếm xuống sông. Trần Liễu được tha tội nhưng quân lính theo ông làm phản đều bị giết hết và vua Thái Tông đổi ông làm An Sinh vương ở vùng đất Yên Phụ, Yên Tử thuộc tỉnh Quảng Ninh ngày nay.

Trần Quốc Tuấn từ 5 tuổi đã được minh sư rèn luyện tỏ ra và một vị nhân tướng lỗi lạc phi phàm lúc trở về sớm được Trần Thái Tông quý trọng đức độ tài năng trong số con cháu vương thất. Qua sự biến Trần Quốc Tuấn yêu thương công chúa Thiên Thành, là con gái của vua Trần Thái Tông, nhân lễ hội trăng rằm nửa đêm đã lẻn vào chỗ ở của công chúa và thông dâm với nàng. Thời nhà Trần đã có quy định, để tránh ngôi vua truyền ra ngoài, chỉ có người trong tộc mới được lấy nhau nên kết hôn cùng huyết thống là điều không lạ và chuyện “quái” ấy cũng ‘quái” như việc Trần Thái Tông lấy vợ Trần Liễu.

Lại oái oăm thay, người Trần Quốc Tuấn yêu say đắm là công chúa Thiên Thành, mà vua Trần Thái Tông năm 1251 đã đính ước gả cô cho Trung Thành Vương là con trai của Nhân Đạo Vương. Vua đã nhận sính lễ, thông báo với quần thần và đang tiệc cưới. Trần Quốc Tuấn nửa đêm trăng rằm đột nhập vào phòng riêng công chúa ở phủ Trung Thành Vương và đôi trai gái trẻ đồng lòng đến với nhau. Quốc Tuấn nói với công chúa Thiên Thành sai thị nữ đi gặp Công chúa Thụy Bà cấp báo với vua ngay trong đêm đó. Vua hỏi có việc gì, Thụy Bà trả lời:“Không ngờ Quốc Tuấn ngông cuồng càn rỡ, đang đêm lẻn vào chỗ Thiên Thành, Nhân Đạo đã bắt giữ hắn rồi, e sẽ bị hại, xin bệ hạ rủ lòng thương, sai người đến cứu”. Trần Thái Tông vội sai người đến dinh Nhân Đạo vương, vào chỗ Thiên Thành, thì thấy Trần Quốc Tuấn đã ở đấy. Hôm sau, Thụy Bà công chúa dâng 10 mâm vàng sống đến chỗ Trần Thái Tông xin làm lễ cưới Thiên Thành công chúa cho Trần Quốc Tuấn. Thái Tông bắt đắc dĩ phải gả công chúa cho ông và lấy 2000 khoảnh ruộng ở phủ Ứng Thiên để hoàn lại sính vật cho Trung Thành vương. Tháng 4 năm đó, Trần Liễu ốm nặng. Lúc sắp mất, Trần Liễu cầm tay Trần Quốc Tuấn, trăng trối rằng: “Con không vì cha lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được”. Trần Quốc Tuấn ghi để trong lòng, nhưng không cho là phải.

Câu chuyện Trần Quốc Tuấn yêu thương công chúa Thiên Thành và đã làm liều dám lấy tính mạng của mình làm như thể “cố tình phạm tội ngông cuồng trái nhân tình”, nhưng mấy ai thấu hiểu đó là sự lưa chọn sinh tử, phép thử tối cao cuối cùng của vị nhân tướng trước khi trao sinh mệnh đời mình cho Người tin yêu mình trong thực tiễn. Đó là phép biến Dịch của “Đạo làm tướng” “Chọn người”.

Trần Thái Tông và Trần Quốc Tuấn câu chuyện đêm trăng rằm để hiểu sâu hơn chiến công nhà Trần ba lần đánh thắng quân Nguyên. Trần Thái Tông, Trần Quốc Tuấn, Trần Thánh Tông với thực tiễn hiển hách ba lần đánh thắng quân Nguyên và “Vạn Kiếp tông bí truyền thư”, “Binh thư yếu lược” là kiệt tác muôn đời, ba đỉnh cao vọi của trí tuệ Việt Nam và nhân loại.

III. TRẦN THÁNH TÔNG MINH QUÂN

Trần Thánh Tông sinh ngày 12 tháng 10 năm 1240, mất ngày 3 tháng 7 năm 1290 là  vị Hoàng đế thứ hai của nhà Trần, ở ngôi từ năm 1258 đến 1278 và làm Thái thượng hoàng từ năm 1278 đến năm 1290 lúc qua đời (hình Lăng Trần Thánh Tông ở Long Hưng, Thái Bình). Trần Thánh Tông là vua thánh nhà Trần: Vua nổi tiếng có lòng thương dân và đặc biệt thân thiết với anh em trong Hoàng tộc, điều hiếm thấy từ trước đến nay; Trần Thánh Tôngcó công rất lớn lúc làm Thái thượng hoàng đã cùng với con trai là vua Trần Nhân Tông lãnh đạo quân dân Đại Việt giành chiến thắng trong hai cuộc chiến cuối cùng chống lại quân đội nhà Nguyên sang thôn tính nước ta lần thứ hai năm1285 và lần thứ ba năm 1287; Nước Đại Việt suốt thời Trần Thánh Tônglàm vua và làm Thái Thượng hoàng là rất hưng thịnh, hùng mạnh, phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, văn hóa, giáo dục  không để cho nhà Nguyên thôn tính.

Trần Thánh Tông cuộc đời và di sản hiếm thấy. Vua Trần Thánh Tông tên thật Trần Hoảng là con trai thứ hai của vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh), mẹ là Hiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu Lý thị, công chúa nhà Lý, con gái của Lý Huệ Tông và Linh Từ Quốc mẫu. Anh trai lớn của ông, Tĩnh Quốc đại vương Trần Quốc Khang tuy danh nghĩa là con lớn nhất, nhưng thực tế là con của Khâm Minh đại vương Trần Liễu. Như vậy, ông là Hoàng đích trưởng tử (con trai lớn nhất và do chính thất sinh ra) của Trần Thái Tông hoàng đế.

Vua Trần Thánh Tông sinh ngày 25 tháng 9 âm lịch, năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 9 (1240), và ngay lập tức được lập làm Hoàng thái tử, ngự ở Đông cung. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, trước khi Hiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu mang thai ông, Thái Tông hoàng đế nằm mơ thấy Thượng Đế trao tặng bà một thanh gươm báu.

Vua Trần Thánh Tông có vợ là  Nguyên Thánh hoàng hậu Trần Thiều (?– 1287), con gái An Sinh Vương Trần Liễu, mới đầu phong làm Thiên Cảm phu nhân, sau phong lên làm Hoàng hậu. Năm 1278, Trần Nhân Tông tôn làm Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái hậu.

Vua Trần Thánh Tông có bốn con: 1) đích trưởng tử là Trần Khâm, tức Nhân Tông Duệ Hiếu hoàng đế, mẹ là Nguyên Thánh hoàng hậu; 2) Tá Thiên đại vương Trần Đức Việp (1265 – 1306), mẹ là Nguyên Thánh hoàng hậu. 3) Thiên Thuỵ công chúa, chị gái Nhân Tông, mất cùng ngày với Nhân Tông (3 tháng 11 âm lịch, 1308), lấy Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn, con trai Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, mẹ là Nguyên Thánh hoàng hậu;4)  Bảo Châu công chúa, lấy con trai thứ của Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải, mẹ là Nguyên Thánh hoàng hậu.

Nhà Trần đánh bại quân Nguyên Mông lần thứ nhất năm 1257, vào ngày 24 tháng 12 năm Nguyên Phong thứ 7 (1257), Thái tử Trần Hoảng đã cùng với vua Trần Thái Tông ngự lâu thuyền mà kéo quân đến Đông Bộ Đầu, đập tan tác quân Nguyên Mông trong Trận Đông Bộ Đầu, buộc họ phải rút chạy và chấm dứt cuộc xâm lược Đại Việt.

Vua Trần Thái Tông nhường ngôi cho Thái tử Trần Hoảng ngày 24 tháng 2, năm 1258 (Nguyên Phong thứ 8). Vua Trần Thánh Tông đổi niên hiệu là Thiệu Long, xưng làm Nhân Hoàng, tôn vua chalàm Thái thượng hoàng, tôn hiệu là Hiển Nghiêu Thánh Thọ Thái Thượng Hoàng Đế .

Vua Trần Thánh Tông ở ngôi 21 năm, đất nước được yên trị . Vua nổi tiếng là vị hoàng đế nhân hậu, hòa ái đối với mọi người từ trong ra ngoài. Ông thường nói rằng: “Thiên hạ là của ông cha để lại, nên để anh em cùng hưởng phú quý chung”.Do vậy, các hoàng thân trong nội điện thường ăn chung cỗ và ngủ chơi chung nhà rất đầm ấm, chỉ khi có việc công, hay buổi chầu, thì mới phân thứ tự theo phép nước .

Tĩnh Quốc đại vương Trần Quốc Khang, trên danh nghĩa là con trưởng của vua Trần Thái Tông, nhưng thực ra là con trai của An Sinh đại vương Trần Liễu cùng Hiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu. Trần Quốc Khang tuy là con trưởng  của vua Trần Thái Tông, nhưng  xuất thân đặc biệt nên chịu mọi sự suy xét trong hoàng tộc. Sử cũ kể lại, có lần Trần Thánh Tông cùng với người anh cả là Trần Quốc Khang chơi đùa trước mặt Thái thượng hoàng. Thượng hoàng mặc áo bông trắng, Trần Quốc Khang múa kiểu người Hồ, Thượng hoàng bèn cởi áo ban cho. Vua Trần Thánh Tông thấy vậy cũng múa kiểu người Hồ để đòi thưởng áo bông. Quốc Khang bèn nói:Quý nhất là ngôi vua, tôi đã không tranh với chú hai rồi. Nay đức chí tôn cho tôi thứ nhỏ mọn này mà chú hai cũng muốn cướp sao?

Thượng hoàng Thái Tông cười nói với Quốc Khang:

Vậy ra con coi ngôi vua cũng chỉ như cái áo choàng này thôi à?

Thượng hoàng Thái Tông khen Quốc Khang, rồi ban áo cho ông. Trong Hoàng gia, cha con, anh em hòa thuận không xảy ra xích mích.] Vào tháng 9 năm 1269, Vua Trần Thánh Tông phong cho Trần Quốc Khang làm Vọng Giang phiêu kỵ Đô thượng tướng quân. Một lần khác, vào mùa xuân năm 1270, Trần Quốc Khang xây vương phủ hoành tráng tại Diễn Châu, vua Trần Thánh Tông bèn cho người đến xem. Hoảng sợ, Quốc Khang đành phải dựng tượng Phật tại nơi này – sau trở thành chùa Thông.

Vua Trần Thánh Tông rất quan tâm giáo dục, Trần Ích Tắc, em trai Trần Thánh Tông nổi tiếng là một người hay chữ trong nước được cử mở trường dạy học để các văn sĩ học tập. Danh nho Mạc Đĩnh Chi, người đỗ trạng nguyên đời Trần Anh Tông sau này cũng học ở trường ấy.

Thời vua Trần Thánh Tông nhân sự cũng được thay đổi. Ông xuống chiếu kén chọn văn học sĩ sung vào quan ở Quán và Các. Trước đó, theo quy chế cũ: “không phải người trong họ vua thì không được làm chức Hành khiển“. Nhưng bắt đầu từ đấy, nho sĩ văn học được giữ quyền bính làm hành khiển, như Đặng Kế làm Hàn lâm viện học sĩ, Đỗ Quốc Tá làm Trung thư sảnh trung thư lệnh, đều là nho sĩ văn học.  Vua Trần Thánh Tông cho phép các vương hầu, phò mã họp các dân nghèo để khẩn hoang]. Vương hầu có điền trang bắt đầu từ đấy.

Năm 1262, vua Trần Thánh Tông xuống lệnh cho quan quân chế tạo vũ khí và đúc thuyền. Tại chín bãi phù sa ở sông Bạch Hạc, Lục quân và Thủy quân nhà Trần đã tổ chức tập trận. Vào tháng 9 (âm lịch) năm ấy, ông truyền lệnh cho rà soát ngục tù, và thẳng tay xử lý những kẻ đã đầu hàng quân xâm lược Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ nhất thời Nguyên Phong.

Vua Trần Thánh Tông còn cho Lê Văn Hưu tiếp tục biên soạn sách Đại Việt sử ký. Lê Văn Hưu đã làm được bộ sử sách gồm 30 quyển, chép từ đời Triệu Vũ Vương đến Lý Chiêu Hoàng. Việc biên tập bộ sử này được khởi đầu từ đời vua Trần Thái Tông, đến năm 1271 đời Thánh Tông mới hoàn thành.

Năm 1258, sau khi Nhà Trần đánh bại quân Nguyên Mông lần thứ nhất, Trần Thánh Tông sai sứ sang Nam Tống báo việc lên ngôi và được phong làm An Nam quốc vương. Mặc dù Nam Tống đã suy yếu trước sự uy hiếp của Mông Cổ, ông vẫn giữ quan hệ bang giao với Nam Tống ngoài ý nghĩa giao hảo nước lớn còn nhằm mục đích nắm tình hình phương bắc. Khi Thánh Tông sai sứ mang đồ cống sang, vua Tống cũng tặng lại các sản vật của Trung Quốc như chè, đồ sứ, tơ lụa; không những gửi cho Thánh Tông mà còn tặng cả sứ giả.  Sau này khi Nam Tống bị nhà Nguyên đánh bại, phải rút vào nơi hiểm yếu, mới không còn qua lại với Đại Việt. Nhiều quan lại và binh sĩ Tống không thần phục người Mông đã sang xin nương nhờ Đại Việt. Trần Thánh Tông tiếp nhận họ, ban cho chức tước và cử người quản lý.

Năm 1260, hoàng đế nhà Nguyên sai Mạnh Giáp, Lý Văn Tuấn mang chiếu chỉ sang Đại Việt tuyên dụ, với yêu cầu hệ thống chính quyền Đại Việt phải theo lối hoạt động của Thiên triều, không được dấy binh xâm lấn bờ cõi. Vào năm Tân Dậu 1261, niên hiệu Thiệu Long thứ 4, vua Trần Thánh Tông được vua Mông Cổ phong làm An Nam Quốc Vương, lại được trao cho 3 tấm gấm tây cùng với 6 tấm gấm kim thục. Trần Thánh Tông duy trì lệ cống nhà Nguyên 3 năm 1 lần, mỗi lần đều phải cống nho sĩ, thầy thuốc, thầy bói và thợ thuyền mỗi hạng ba người, cùng với các sản vật như là sừng tê, ngà voi, đồi mồi, châu báu…

Vua nhà Nguyên lại đặt chức quan Darughachi tại Đại Việt để đi lại giám trị các châu quận Đại Việt; ý muốn can thiệp chính trị, tìm hiểu nhân vật, tài sản Đại Việt để liệu đường mà đánh chiếm. Thánh Tông bề ngoài tuy vẫn chịu thần phục, nhưng ông biết ý đồ của vua Mông, nên tiếp tục luyện binh dụng võ để chuẩn bị chiến tranh. Ông cho tuyển đinh tráng các lộ làm lính, phân làm quân và đô, bắt phải luyện tập luôn.

Năm 1271, Hốt Tất Liệt đặt quốc hiệu là Nguyên, bình định nốt miền nam Trung Quốc và dụ vua Đại Việt sang hàng, để khỏi cần động binh. Nhà Nguyên cứ vài năm lại cho sứ sang sách nhiễu và dụ vua Đại Việt sang chầu, nhưng vua Trần lấy cớ thoái thác.

Năm 1272, hoàng đế nhà Nguyên cho sứ sang lấy cớ tìm cột đồng trụ của Mã Viện trồng ngày trước, nhưng vua Thánh Tông sai quan sang nói rằng: cột ấy lâu ngày mất đi rồi, không biết đâu mà tìm nữa. Vua Nguyên bèn thôi không hỏi nữa.

Năm 1275, hoàng đế nhà Nguyên ra chiếu dụ đòi vua Đại Việt nộp sổ sách dân số, thu thuế khóa, trợ binh lực cho Thiên triều thông qua sự thống trị của quan Darughachi và đòi nhà vua phải đích thân tới chầu. Vua Thánh Tông sai sứ sang nói với hoàng đế nhà Nguyên rằng: Nước Nam không phải là nước Mường mán mà đặt quan giám trị, xin đổi quan Đại-lỗ-hoa-xích làm quan Dẫn tiến sứ.

Vua nhà Nguyên không cho, lại bắt vua Trần sang chầu. Thánh Tông cũng không chịu. Từ đấy vua nhà Nguyên thấy dùng ngoại giao để khuất phục nhà Trần không được, quyết ý cử binh sang đánh Đại Việt. Nguyên Thế Tổ cho quan ở biên giới do thám địa thế Đại Việt, Trần Thánh Tông cũng đặt quan quân phòng bị.

Theo sách “Các triều đại Việt Nam” của Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng, “Nhìn chung, vua Trần Thánh Tông thực hiện chính sách ngoại giao mềm dẻo nhưng rất kiên quyết, chằm bảo vệ danh dự của Tổ quốc, ngăn chặn từ xa mọi sự dòm ngó, tạo sự xâm lược của nhà Nguyên.“ Tuy nhiên, sau khi nhà Nguyên diệt Nam Tống (1279), Đại Việt càng đứng trước nguy cơ bị xâm lăng từ đế quốc khổng lồ này.

Mùa đông, ngày 22 tháng 10 năm 1278, sau một năm Thái Tông Thượng hoàng đế băng hà, Thánh Tông hoàng đế nhường ngôi cho con trai là Thái tử Trần Khâm, tức Trần Nhân Tông. Thánh Tông lên làm Thái thượng hoàng, với tôn hiệu là Quang Nghiêu Từ Hiếu Thái Thượng Hoàng Đế. Trên danh nghĩa là Thái thượng hoàng, nhưng Trần Thánh Tông vẫn tham gia việc triều chính.

Quan hệ hai bên giữa Đại Việt và Đại Nguyên căng thẳng và đến cuối năm 1284 thì chiến tranh bùng nổ. Thượng hoàng Thánh Tông cùng Nhân Tông tín nhiệm thân vương là Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, phong làm Quốc công Tiết chế chỉ huy quân đội trong nước để chống Nguyên Mông. Trong hai lần Chiến tranh với Nguyên Mông lần 2 và lần 3, thắng lợi có vai trò đóng góp của Thượng hoàng Thánh Tông.

Năm 1289, sau khi chiến tranh kết thúc, Thượng hoàng lui về phủ Thiên Trường làm thơ. Các bài thơ thường được truyền lại là: “Hành cung Thiên Trường”, “Cung viên nhật hoài cực”.

Ngày 25 tháng 5, năm Trùng Hưng thứ 6 (1290), Thượng hoàng băng hà tại Nhân Thọ cung, hưởng thọ 51 tuổi. Miếu hiệu là Thánh Tông (聖宗), thụy hiệu là Hiến Thiên Thế Đạọ Huyền Công Thịnh Đức Nhân Minh Va7n Vũ Tuyên Hiếu hoàng đế . Ông được táng ở Dụ Lăng, phủ Long Hưng (Tiến Đức, Hưng Hà, Thái Bình ngày nay).

Ngày nay ở trung tâm thành phố Hà Nội có phố mang tên Trần Thánh Tông.

Vua Trần Thánh Tông  sùng đạo Phật, rất giỏi thơ văn, thường sáng tác thơ văn về thiền. Tác phẩm của Trần Thánh Tông có: Di hậu lục (Chép để lại cho đời sau), Cơ cầu lục (Chép việc nối dõi nghiệp nhà); Thiền tông liễu ngộ (Bài ca giác ngộ Thiền tông), Phóng ngưu (Thả trâu), Trần Thánh Tông thi tập (Tập thơ Trần Thánh Tông), Chỉ giá minh (Bài minh về sự cung kính)…Và một số thư từ ngoại giao, nhưng tất cả đều đã thất lạc, chỉ còn lại 6 bài thơ được chép trong Việt âm thi tập (5 bài) và Đại Việt sử ký toàn thư (1 bài) mà chúng tôi sẽ chép bổ sung vào cuối bài này.

Thơ Trần Thánh Tông  giàu chất trữ tình, kết hợp nhuần nhị giữa tinh thần tự hào về đất nước của người chiến thắng, với tình yêu cuộc sống yên vui, thanh bình, và phong độ ung dung, phóng khoáng của một người biết tự tin, lạc quan. Trong thơ, ông đã xen nhịp ba của thơ dân tộc với nhịp bốn quen thuộc của thơ Đường, tạo nên một nét mới về nhịp điệu thơ và về thơ miêu tả thiên nhiên.

Trong sách Thơ văn Lý Trần, NXB Khoa học xã hội, 1977, có bài thơ Chân tâm chi dụng của Trần Thánh Tông:

Dụng của chân tâm
Trần Thánh Tông

Dụng của chân tâm,
Thông minh tịnh mịch.
Không đến không đi,
Không tổn không ích.
Vào nhỏ vào to,
Mặc thuận cùng nghịch.
Động như hạc mây,
Tĩnh như tường vách.
Nhẹ tựa mảy lông,
Nặng như bàn thạch.
Trần trần trụi trụi,
Làu làu trong sạch.
Chẳng thể đo lường,
Tuyệt vô tung tích.
Nay ta vì ngươi,
Tỏ bày rành mạch.

Đại Việt Sử ký Toàn thư của nhà Hậu Lê ca ngợi Trần Thánh Tông “trung hiếu nhân thứ, tôn hiền trọng đạo, cha khai sáng trước, con kế thừa sau, cơ nghiệp nhà Trần được bền vững”, tuy nhiên trên quan điểm Nho giáo lại phê phán ông sùng đạo Phật “thì không phải phép trị nước hay của đế vương”. Sử gia Ngô Sĩ Liên ca ngợi công lao của ông: “Thánh Tông nối nghiệp Thái Tông, giữa chừng gặp giặc cướp biến loạn, ủy nhiệm cho tướng thần cùng với Nhân Tông giúp sức làm nên việc, khiến thiên hạ đã tan lại hợp, xã tắc nguy lại an. Suốt đời Trần không có việc giặc Hồ nữa, công to lắm.”  Giáo sư Trần Văn Giàu luận về “Nhân cách Trần Nhân Tông” nhưng nói đầy đủ là hai vua Trần vì Thái Thượng hoàng Trần Thánh Tông là người tham gia và lãnh đạo xuyên suốt cả ba lần quân dân Đại Việt đánh thắng quân Nguyên năm 1258, 1285 và 1287: …”Tại nước Tàu lúc bấy giờ Triều đình nhà Tống rất hùng mạnh nhưng quân Nguyên Mông đã tràn xuống đánh thắn thần tốc, đến nỗi vua quan nhà Tống phải chạy ra biển và nhảy xuống biển tự vẫn. Tại Tây Á, Trung Á và một phần châu Âu cũng thua thảm hại , đến nỗi Giáo hoàng La Mã cũng lên tiếng sợ hãi. Trong lúc ấy Việt Nam so với phương Bắc thì quá nhỏ bé và quá nghèo yếu, thế mà Người dám không cho Nguyên Mông mượn đường xâm lược Chiêm Thành. Lại còn đánh bại ba lần Nguyên Mông xâm lược. Sau khi thắng giặc, Người lại lên núi sống. Người dám nghĩ, dám làm những việc không ai dám nghĩ chứ đừng nói đến làm !” 

Trần Thánh Tông vua giỏi nhà Trần

xem tiếp: Trần Thánh Tông vua giỏi nhà Trần
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tran-thanh-tong-vua-gioi-nha-tran/

IV. TRÚC LÂM TRẦN NHÂN TÔNG

Trần Nhân Tông (1258-1308)  là một trong những vị vua anh minh nhất của lịch sử Việt Nam. Người tên thật là Trần Khâm, vua Trần thứ ba (sau vua cha Trần Thánh Tông và trước vua Trần Anh Tông). Với 50 năm cuộc đời, vua Phật Trần Nhân Tông đã kịp làm được ít nhất năm việc lớn hiếm thấy và khó ai bì kịp ở mọi dân tộc và mọi thời đại: 1) Minh quân lỗi lạc, làm vua 15 năm (1278 – 1293) trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến hai lần đánh thắng quân Nguyên Mông là đội quân xâm lược hùng mạnh nhất thời đó; 2) Tổ sư thiền phái Trúc Lâm và Thái Thượng Hoàng 15 năm (1294-1306) là vua Phật Việt Nam. 3) Nhà văn hóa và nhà thơ kiệt xuất với kiệt tác thơ Thiền Trần Nhân Tông và thắng tích Trúc Lâm Yên Tử; 4) Người thầy chiến lược vĩ đại muôn đời của kế sách một chữ “đồng” “vua tôi đồng lòng, toàn dân đồng sức”, nhược thắng cường, yếu thắng mạnh, nước nhỏ thắng nước lớn, sự nghiệp mở nước và thống nhất non sông Việt bằng vương đạo, thuận thời, thuận người . 5) Nhà trị loạn kỳ tài đã hưng thịnh nhà Trần và cứu nguy cho nước Việt ở thời khắc quyết định, biến nguy thành an, biến những điều không thể thành có thể.

Kiệt tác thơ thiền đức Nhân Tông là đỉnh cao thơ Thiền thời Trần:

Cư trần lạc đạo phú
Đại Lãm Thần Quang tự
Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca
Đăng Bảo Đài sơn
Đề Cổ Châu hương thôn tự
Đề Phổ Minh tự thủy tạ
Động Thiên hồ thượng
Họa Kiều Nguyên Lãng vận
Hữu cú vô cú
Khuê oán
Lạng Châu vãn cảnh
Mai
Nguyệt
Nhị nguyệt thập nhất nhật dạ
Quỹ Trương Hiển Khanh xuân bính
Sơn phòng mạn hứng
I
II
Sư đệ vấn đáp
Tán Tuệ Trung thượng sĩ
Tảo mai
I
II
Tặng Bắc sứ Lý Tư Diễn
Tây chinh đạo trung (tái chinh Ai Lao)
Thiên Trường phủ
Thiên Trường vãn vọng
Tống Bắc sứ Lý Trọng Tân, Tiêu Phương Nhai
Tống Bắc sứ Ma Hợp, Kiều Nguyên Lãng
Trúc nô minh
Tức sự
I
II
Vũ Lâm thu vãn
Xuân cảnh
Xuân hiểu
Xuân nhật yết Chiêu Lăng
Xuân vãn

Lên non thiêng Yên Tử, khảo sát điền dã những chứng tích lịch sử văn hóa lưu dấu mãi với thời gian. “Soi sáng lại chính mình là phận sự gốc, chẳng từ nơi khác mà được.” (Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc.). Đức Nhân Tông viết về sự đạt ngộ với người thầy là Tuệ Trung Thượng Sĩ . “Nghe xong, tôi thông suốt được đường vào, bèn vén áo thờ Ngài làm thầy”. “Soi sáng lại chính mình” chứ không tìm kho báu ở đâu khác là trí tuệ siêu việt của vua Phật Trúc Lâm Yên Tử Trần Nhân Tông.

V. CHA CON HIẾN TỪ THÁI HẬU

Vua Trần Anh Tông (Trần Thuyên) có người em ruột  là Trần Quốc Chẩn danh tướng Nhập nội Quốc Phụ Thượng Tể, cha ruột của Huy Thánh công chúa là Hiến Từ Thái Hậu. Cha và Con Hiến Từ Thái Hậu soi tỏ giai đoạn hai của nhà Trần sau thịnh thế đã kế tục và suy vi như thế nào.

Trần Quốc Chẩn (1281-1328) là một trong những danh tướng kiệt xuất của nhà Trần, tài đức vẹn toàn, hết lòng vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Trần Quốc Chẩn sinh ngày 29 tháng 1 năm Thiệu Bảo thứ 3 (tức 19 tháng 2 năm 1281). Ông là con trai thứ của vua Trần Nhân Tông, em ruột của Thái tử Trần Thuyên, sau là vua Trần Anh Tông. Sau khi Trần Nhân Tông nhường ngôi cho Thái tử Trần Thuyên, tức vua Trần Anh Tông, ông được phong là Huệ Vũ Đại vương khi mới 13 tuổi. Mặc dù tuổi còn nhỏ, nhưng ông rất được vua cha và vua anh yêu mến. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Thượng hoàng có lần ngự cung Trùng Quang, vua đến chầu, quốc công Quốc Tuấn đi theo. Thượng hoàng nói:”Nhà ta vốn là người hạ lưu (thủy tổ người Hiền Khánh), đời đời chuộng dũng cảm, thường xăm hình rồng vào đùi. Nếp nhà theo nghề võ, nên xăm rồng vào đùi để tỏ là không quên gốc”. Bấy giờ thợ xăm đã đợi mệnh ở ngoài cửa cung. Vua rình lúc Thượng hoàng quay nhìn chỗ khác, về ngay cung Trùng Hoa. Một lúc lâu, Thượng hoàng hỏi Quan gia đâu rồi, các quan tả hữu thưa là đã về cung Trùng Hoa. Thượng hoàng bảo: “Quan gia đã trốn rồi chăng? thì xăm cho Huệ Vũ Quốc Chẩn vậy”. Quốc phụ có xăm hình rồng ở đùi, mà về sau nối ngôi không xăm ở đùi nữa là bắt đầu từ Anh Tông. Năm Hưng Long thứ 10 (1302), ông được phong chức Nhập nội Bình chương, tương đương Tể tướng. Năm Hưng Long thứ 20 (1312), Chiêm Thành lấn chiếm biên giới phía nam Đại Việt. Anh Tông ngự giá thân chinh, đến phủ Lâm Bình, chia quân làm ba đường, sai Trần Quốc Chẩn theo đường núi, Trần Khánh Dư theo đường biển, đích thân vua tự dẫn sáu quân theo đường bộ; thủy bộ, cùng tiến đánh. Một lần quân Chiêm định tập kích ngự doanh, quân Trần Quốc Chẩn kịp thời cứu viện, phối hợp với Đoàn Nhữ Hài bao vây, bức hàng quân Chiêm Thành thắng lợi, quân Trần không tốn một mũi tên. Năm Đại Khánh thứ 5 (1318), vua Trần Minh Tông sai ông cùng tướng quân Phạm Ngũ Lão tiếp tục đi đánh dẹp quân Chiêm Thành thu được thắng lợi lớn, giữ yên bờ cõi quốc gia. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Trước đây, Anh Tông không khỏe, vua ngày đêm ở luôn ngoài cửa phòng ngủ của Thượng hoàng, mỗi khi vào thăm thì cùng đi với Quốc Chẩn. Vì Anh Tông tin cậy Quốc Chẩn hơn cả, định đem vua gửi gắm Quốc Chẩn, cho nên không cho vào thăm một mình, mà phải cùng đi với Quốc Chẩn, cốt để cho tình nghĩa vua tôi được khăng khít và không còn nghi ngại gì nữa“. Do có nhiều công lao với triều đình, năm Khai Thái thứ nhất (1324), Trần Quốc Chẩn được vua Trần phong chức: Nhập nội Quốc phụ Thượng tể – chức quan đầu triều coi giữ lục bộ Thượng Thư. Sử cũ còn ghi nhận Trần Quốc Chẩn không chỉ là người có tài trong việc cầm quân xung trận mà ông còn là người nổi tiếng đức độ, được các quan trong triều hết lòng nể phục. Ông là người được vua Trần Anh tông rất quý. Về sau vua Minh Tông lại lấy con gái của Quốc Chẩn phong làm Lê Thánh hoàng hậu, ông càng được tin dùng. Minh Tông giữ ngôi được 15 năm (từ năm 1314 đến năm 1329) tuổi đã cao mà chưa lập được Thái Tử. Quốc Chẩn có ý đợi Lê Thánh hoàng hậu sinh con trai thì mới lập. Lúc bấy giờ Cương Đông Văn Hiến Hầu (không rõ tên) là con của Tá thánh Trần Nhật Duật muốn đánh đổ Hoàng Hậu để lập Thái tử Vượng (sau là Trần Hiến Tông) mới đem của đút cho gia thần của Quốc Chẩn là Trần Nhạc 100 lạng vàng bảo Trần Nhạc vu cáo cho Quốc Chẩn có âm mưu làm phản. Vua cả tin cho là thật liền ra lệnh bắt giam ngay Quốc Chẩn vào chùa Tư Phúc ở kinh sư rồi đem việc ấy hỏi Thiếu bảo Trần Khắc Chung. Khắc Chung cùng cánh với Văn Hiến Hầu, lại cùng với mẹ thái tử Vượng Anh Tư nguyên phi Lê thị, đều là người Giáp Sơn (Kinh Môn) và đã từng làm thầy dạy thái tử Vượng, liền trả lời: “Bắt hổ thì dễ, thả hổ thì khó”. Minh Tông truyền bắt Quốc Chẩn phải tuyệt thực. Lê Thánh hoàng hậu khi vào thăm cha đã lấy áo nhúng nước mặc vào người rồi vắt ra cho cha uống. Trong khi đó, Anh Tư phu nhân muốn cho Huệ Vũ vương chết sớm để con mình được lập làm Thái tử, liền cho người mang nước tẩm độc cho Huệ Vũ vương uống, uống xong thì chết. Sau Quốc Chẩn chết, hưởng dương 47 tuổi. Cuối năm đó, Minh Tông lập Hoàng tử Trần Vượng làm Thái tử. Vài năm sau, vợ lẽ của Trần Nhạc ghen với vợ cả, tố cáo sự thật, đem việc Văn Hiến Hầu đút vàng tâu lên vua. Việc giao xuống ngục quan xét, Lê Duy là người cương trực đem xét hỏi ngay ngày hôm ấy. Trần Phẫu phải tội lăng trì (tức xẻo thịt từng miếng cho đến chết), nhưng chưa kịp hành hình thì gia nô của Thiệu Vũ (con Quốc Chẩn) đã xẻo thịt Trần Phẫu ăn sống gần hết. Văn Hiến Hầu tuy được tha tội chết, nhưng giáng làm thứ nhân, tước bỏ tên họ trong hoàng tộc. Trần Minh Tông lúc nào cũng bị ám ảnh bởi vụ án oan của cha vợ. Để sửa sai, nhà vua đã cho khôi phục chức tước, sai lập đền thờ Trần Quốc Đền Quốc phụ thờ ông nằm bên tả ngạn sông Kinh Thầy là một trong tám di tích thuộc “Chí Linh bát cổ” nổi tiếng được nhiều sử sách ghi nhận. Trước kia đền thuộc xã Kiệt Đặc, huyện Chí Linh nay thuộc thôn Nẻo, phường Chí Minh, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Đến năm Giáp Thân (1341), thời Trần Dụ Tông, vụ án Trần Quốc Chẩn được minh oan hoàn toàn. Thượng hoàng Minh Tông phục chức: Nhập nội Quốc Phụ Thượng Tể cho ông. Giết oan nhạc phụ, vua Trần Minh Tông làm bài thơ ân hận: Dạ vũ. Thu khí hòa đăng thất thự minh/ Bích tiêu song ngoại đệ tàn canh/ Tự tri tam thập niên tiền thác/ Khẳng bả nhàn sầu đối vũ thanh.  Dịch nghĩa: Hơi thu và ánh đèn mờ đi trước ánh ban mai, Tàu chuối xanh ngoài cửa sổ tiễn canh tàn. Tự biết sai lầm của ta ba mươi năm trước, Đành ôm sầu ngồi nghe mưa rơi. Vũ Minh Am dịch thơ: Mưa đêm

Hừng sáng, đèn nhòa, nhạt khí thu,
Ngoài song tàu chuối tiễn đêm mờ.
Ba mươi năm trước ta lầm lỗi,
Ôm nỗi hận sầu lắng tiếng mưa.

Hiến Từ thái hậu là con gái của Huệ Vũ đại vương Trần Quốc Chẩn. Bà được thụ phong là Huy Thánh công chúa từ nhỏ. Huệ Vũ vương Trần Quốc Chẩn là con trai thứ của Trần Nhân Tông. Hiến Từ thái hậu gọi Trần Nhân Tông hoàng đế là ông nội, Trần Anh Tông là bác, Trần Minh Tông là anh họ, sau này là chồng (theo tục lệ vua chúa thời Trần cận giao để ngôi vua không truyền ra ngoài). Hiến Từ thái hậu là hoàng hậu của hoàng đế Trần Minh Tông, mẹ ruột của hoàng đế Trần Dụ Tông, Cung Túc vương Trần Nguyên Dục và Thiên Ninh công chúa Ngọc Tha. Bà được các hoàng đế Trần Hiến Tông, Trần Nghệ Tông, Trần Duệ Tông xem là mẹ đích và kính trọng. Bà có thân thế hiển hách bậc nhất trong các Hoàng hậu nhà Trần, cũng như trong các triều đại về sau, khi có họ hàng gần huyết thống với dòng chính thống Hoàng đế nhất.

Chuyện Hiến Từ thái hậu: Năm 1301, Anh Tông đã gả em gái mình là Thiên Trân công chúa cho Uy Túc công Trần Văn Bích. Năm 1309, công chúa mất, Uy Túc công lại lấy Huy Thánh công chúa về làm phu nhân. Sau đó, bà lại trở về nhà cha là Huệ Vũ vương, được sắp đặt chọn làm Hoàng hậu cho Minh Tông, không rõ bà ly hôn hoặc bị buộc phải bỏ Uy Túc công. Năm 1323, Minh Tông hoàng đế lúc này đã 23 tuổi, Huy Thánh công chúa được Minh Tông lấy làm Hoàng hậu, phong làm Lệ Thánh hoàng hậu. Năm 1328, Lệ Thánh hoàng hậu kết hôn với Minh Tông đã lâu mà vẫn chưa sinh hạ Hoàng tử kế thừa đại thống. Minh Tông muốn lập Hoàng tử Trần Vượng, con của Anh Tư phu nhân đang đắc sủng làm Thái tử, nhưng Huệ Vũ vương can ngăn. Từ trước đến nay, các Hoàng đế nhà Trần đều sinh ra từ các Hoàng hậu có dòng máu trong nội tộc. Tuy Minh Tông không phải con ruột của Bảo Từ hoàng thái hậu, mẹ sinh là Chiêu Từ hoàng thái hậu là con của một người ngoại tộc là Trần Bình Trọng, nhưng mẹ của Chiêu Từ là Thụy Bảo công chúa, con gái của Trần Thái Tông nên huyết thống vẫn còn. Anh Tư phu nhân vốn là con gái quan viên cấp thấp họ Lê, người Giáp Sơn, Thanh Hóa, dòng máu hoàn toàn khác xa hoàng tộc nên không thể lấy con của phu nhân làm Thái tử, dù đó là con trưởng của Minh Tông. Huệ Vũ vương can ngăn quyết liệt, Minh Tông cũng đành để yên chuyện mà thôi ý định nhưng trong lòng đã sớm buồn bực Huệ Vũ vương.

Lễ rước nước tại Thái Miếu Nhà Trần
và hồ Trại Lốc ở Đông Triều 2019

(ảnh: http://nhatranodongtrieu.vn)

Khu di tích quốc gia đặc biệt nhà Trần tại Đông Triều gồm 18 điểm di tích chính: Thái miếu, đền An Sinh, chùa thượng Ngọa Vân, chùa trung Ngọa Vân, chùa Hồ Thiên, chùa Quỳnh Lâm, chùa Ngọc Thanh, lăng Tư Phúc, lăng Đồng Thái, Nguyên lăng, di tích Đá Chồng, am Mộc Cảo, nhà ga Cáp treo… Thái miếu nhà Trần là một trong những di tích quan trọng nằm trong quần thể Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt nhà Trần tại Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Thái miếu là chốn linh thiêng nhất, là nơi thờ cúng tổ tiên của nhà Trần và 14 vị vua Trần. Chính vì thế, nơi đặt Thái miếu (thường là ở quê gốc của đức Thái tổ) vẫn được coi là kinh đô thứ hai của triều Trần ; xem video HNP Đền An Sinh làng An Sinh huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh https://www.facebook.com/watch?v=789499666178005

… Sau nỗi oan ngất trời Huệ Vũ Vương Trần Quốc Chẩn bị Anh Tư phu nhân mẹ của thái tử Trần Vượng đầu độc chết, năm 1329, Minh Tông nhường ngôi cho Hoàng thái tử Trần Vượng, sử gọi là Trần Hiến Tông. Lệ Thánh hoàng hậu được tôn là Lệ Thánh Thái thượng hoàng hậu. Trần Hiển Tông làm Hoàng đế được 13 năm thì qua đời, không có con cái. Lúc này, Lệ Thánh hoàng hậu đã sinh Cung Túc vương Trần Nguyên Dục, Thiên Ninh công chúa Trần Ngọc Tha và Hoàng tử Trần Hạo. Trong số đó, Trần Hạo thông minh, nhanh nhẹn hơn cả nên được Trần Minh Tông chọn làm Hoàng đế kế vị, tức Trần Dụ Tông. Minh Tông vẫn giữ quyền điều hành đất nước. 

Năm 1258, Thượng hoàng Minh Tông qua đời, Lệ Thánh hoàng hậu được tôn làm Tuyên Thánh hoàng thái hậu. Khi Minh Tông mất, bà muốn đi tu, nhưng nghe theo lời dặn cuối của Minh Tông, nên bà đã không thụ giới nhà Phật mà ở ngôi Thái hậu để  kiềm chế những sai lầm của vua Dụ Tông, như việc Dụ Tông chút nữa là sát hại Thái úy Cung Tĩnh Đại vương Trần Nguyên Trác. Thái hậu đã ngăn cản vua giết Nguyên Trác vì tội “Nguyên Trác yểm bùa hại vua. Đại Việt Sử ký toàn thư có chép một giai thoại về bà: Thái hậu vốn người nhân hậu, có nhiều công lao giúp rập.

Trước kia, khi Minh Tông còn ngự ở Bắc Cung, có tên gác cổng bắt được con cá bống trong giếng Nghiêm Quang, trong mồm có ngậm vật gì, moi ra thì thấy có chữ, đó là bùa yểm, có ghi các tên Dục Tông, Cung Túc, Thiên Ninh (đều là các con đẻ của Hiến Từ). Tên gác cổng cầm lá bùa tâu lên vua. Minh Tông sợ lắm, truyền bắt hết các cung nhân, bà mụ, thị tỳ trong cung để tra hỏi.Thái hậu thưa: “Khoan đã, sợ trong đó có kẻ bị oan, thiếp xin tự mình bí mật xét hỏi đã”. Minh Tông nghe theo. Thái hậu sai người hỏi tên gác cổng rằng: “Gần đây, phòng nào trong cung mua cá bống?”. Tên gác cổng trả lời là thứ phi Triều Môn. Thái hậu nói cho Minh Tông biết. Minh Tông lập tức ra lệnh tra xét cho ra. Thái hậu tâu:“Đây là việc trong cung, không nên để hở ra ngoài. Thứ phi Triều Môn là con gái của Cung Tĩnh Vương, nếu để hở ra thì Quan gia sẽ sinh hiềm khích với Thái úy. Thiếp xin ỉm việc này đi không xét hỏi nữa!”. Minh Tông khen bà là người hiền. Đến khi Minh Tông băng, tướng quân Trần Tông Hoắc muốn tỏ ra trung thành với Dụ Tông, thêu dệt việc đó ra, làm Thiếu úy suýt nữa bị hại, nhờ Thái hoàng cố sức cứu đỡ mới thoát. Người bấy giờ ca ngợi bà là đã trọn đạo làm mẹ, tuy là phận con đích, con thứ không giống nhau, mà lòng nhân từ thì đối với con nào cũng thế, làm cho ân nghĩa vua tôi, anh em, cha con không một chút thiếu sót, từ xưa đến nay chưa có ai được như vậy. Người xưa có nói “Nghiêu Thuấn trong nữ giới”, Thái hậu được liệt vào hàng ấy. Bà từng hối tiếc về việc lập Nhật Lễ. Nhật Lễ ngấm ngầm đánh thuốc độc giết bà.”

Dương Nhật Lễ tên khác Trần Nhật Kiên là một vị vua  nhà Trần không có miếu hiệu,  còn gọi Hôn Đức công kế vị Trần Dụ Tông. Ông ở ngôi từ ngày 15 tháng 6 năm Kỷ Dậu (tức 18 tháng 7 năm 1369) đến ngày 13 tháng 11 năm Canh Tuất (tức 1 tháng 12 năm 1370). Ông chỉ đặt một niên hiệu Đại Định và ở ngôi hơn 1 năm thì bị Cung Định vương Trần Phủ truất ngôi. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, không rõ Dương Nhật Lễ sinh năm nào, ông vốn là con của kép hát Dương Khương. Mẹ ông là vợ Dương Khương, là một người múa hay lại có nhan sắc, do hay diễn Tây Vương Mẫu trong vở Vương Mẫu hiến bàn đào, bà được gọi thông dụng là Vương mẫu. Khi Vương Mẫu đã có mang ông nhưng đã bị Cung Túc vương Trần Nguyên Dục, anh cùng mẹ của Trần Dụ Tông lấy làm vợ. Khi ông sinh ra, Cung Túc vương Dục nhận làm con mình. Ngày 25 tháng 5 năm Kỷ Dậu (tức 29 tháng 6 năm 1369), Trần Dụ Tông băng hà. Trước khi mất, ông đã ban chiếu truyền ngôi cho Dương Nhật Lễ (trên danh nghĩa là con của người anh ruột của vua). Hiến Từ Thái hậu đồng ý di chiếu cho đón ông lên ngôi, đặt niên hiệu Đại Định và truy tặng Cung Túc vương là Hoàng thái bá. Cùng lúc này, sứ đoàn nhà Minh sang sắc phong cho Trần Dụ Tông tới Việt Nam. Nhật Lễ (tên ngoại giao với nhà Minh là Trần Nhật Kiên) xin được thụ phong nhưng sứ nhà Minh là Trương Dĩ Ninh không đồng ý. Nhật Lễ phải cử sứ là Đỗ Thuấn Khâm sang nhà Minh báo tang và cầu phong. Theo Đại Việt sử ký toàn thư ghi nhận, Đại Định Đế lên ngôi nhưng bỏ bễ công việc, ham chơi, rượu chè, cho đón cha ruột Dương Khương vào triều, giữ chức Lệnh thư gia, có ý đổi sang họ Dương khiến các quan trong triều bất bình. Hiến Từ Thái hậu, mẹ Dụ Tông tỏ ý hối hận việc lập Nhật Lễ. Nhật Lễ bèn ngầm đánh thuốc độc giết chết bà vào ngày 14 tháng 12 năm Kỷ Dậu (tức 12 tháng 1 năm 1370). Đêm ngày 20 tháng 9 năm Canh Tuất (tức 9 tháng 10 năm 1370), cha con quan Thái tể Cung Tĩnh vương Trần Nguyên Trác, Trần Nguyên Tiết và hai người con của Thiên Ninh công chúa, chị gái Dụ Tông đem người tôn thất vào thành định giết Đại Định. Đại Định Đế trèo qua tường, nấp dưới cầu mới. Mọi người lùng không thấy, giải tán ra về. Khi trời sắp sáng, Đại Định Đế vào cung, chia người đi bắt Nguyên Trác cùng 17 người chủ mưu và giết hết.

Anh khác mẹ của Trần Dụ Tông là Cung Định vương Trần Phủ (tức vua Trần Nghệ Tông),  vì có con gái làm Hoàng hậu của Nhật Lễ, sợ vạ lây đến mình nên tránh ra trấn Đà Giang (tức Gia Hưng), ngầm hẹn với các em là Cung Tuyên vương Trần Kính, Chương Túc thượng hầu Trần Nguyên Đán, Thiên Ninh công chúa Ngọc Tha hội ở sông Đại Lại, phủ Thanh Hóa để dấy quân. Trần Kính giúp ông đảm nhận việc sắm sửa mọi vũ khí, trang bị quân đội. Khi ấy, Đại Định Đế Dương Nhật Lễ chuyên dùng thiếu úy Trần Ngô Lang mà không biết Ngô Lang đồng mưu với Trần Phủ. Mỗi khi sai quân tướng đi đánh bắt, Ngô Lang đều bí mật bảo họ theo Trần Phủ đừng về nữa. Rất nhiều lần sai các quân Nam, Bắc đi đánh, đều không một ai trở về. Do đó quân của Trần Phủ, Trần Kính mạnh thêm. Ngày 13 tháng 11 năm Canh Tuất (tức 1 tháng 12 năm 1370), Trần Phủ đến phủ Kiến Hưng, truất Nhật Lễ làm Hôn Đức công.


Ngày 15, Phủ lên ngôi, tức Trần Nghệ Tông. Ngày 21 tháng ấy, Trần Phủ cùng Trần Kính và Thiên Ninh công chúa dẫn quân về kinh, sai giam Nhật Lễ ở phường Giang Khẩu. Dương Nhật Lễ tới lúc đó mới biết mình bị Trần Ngô Lang phản bội. Trong khi bị giam giữ, ông lừa gọi Trần Ngô Lang đến gần rồi bóp cổ giết chết Trần Ngô Lang. Trần Nghệ Tông bèn lập tức hạ lệnh giết chết Dương Nhật Lễ và con ông là Liễu, rồi sai đem chôn ở núi Đại Mông. Nhật Lễ ở ngôi được hơn một năm, không rõ thọ bao nhiêu tuổi. Sai lầm lớn nhất của Nhật Lễ là định đổi sang họ Dương khiến tôn thất nhà Trần nắm quyền bính khắp trong nước xúm lại tìm cách lật đổ. Tần Thủy Hoàng trước đây cũng phải đối mặt với tiếng tăm về thân thế và cũng có những việc làm thô bạo, thất đức nhưng đã khôn khéo suốt đời không đổi sang họ Lã, giết luôn Lã Bất Vi người bị dị nghị là cha mình, và tìm cách đàn áp thẳng tay những ai có ý định khơi chuyện này để chống đối. Bởi thế Tần Thủy Hoàng giữ được ngôi vị trọn vẹn. Nhật Lễ mắc hàng loạt sai lầm nên nhanh chóng bị lật đổ.

VI. TRẦN DUỆ TÔNG HẬU TRẦN

Vua Trần Duệ Tông là vua thứ 9 của nhà Trần, tên húy là Trần Kính, là con thứ 11 của vua Trần Minh Tông, là em của ba vị vua: Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông và Trần Nghệ Tông. Ông sinh ngày 2 tháng 6 năm Đinh Sửu (1337); năm 1372 được vua anh là Trần Nghệ Tông nhường ngôi, ở ngôi 6 năm, ngày 24 tháng 1 năm Đinh Tỵ (1377) tử trận tại thành Đồ Bàn (Vijaya), thọ 41 tuổi. Vua Trần Duệ Tông là người có cá tính mạnh mẽ, mang hoài bão chấn hưng quốc gia. Khi Trần Nghệ Tông tránh loạn của Dương Nhật Lễ, mọi vũ khí, quân đội đều do Trần Kính đảm nhận, do vậy, vua Nghệ Tông đã truyền ngôi cho em. Năm 1372, sau khi được vua anh Trần Nghệ Tông nhường ngôi, ông để tâm lo toan việc trị nước, kén tướng luyện quân, đặt khoa thi, lấy người tài, đồng thời chú trọng đề cao ý thức dân tộc, bảo vệ thuần phong mỹ tục, biểu hiện ý thức tự lập, tự cường. Để làm được điều đó, ông lệnh cho quân dân không được mặc áo kiểu người phương Bắc, không bắt chước tiếng nói của các nước Chiêm (Chăm-pa), quy định về mẫu mã các loại thuyền, xe, kiệu, tán, nghi, trượng và y phục.  Vào cuối thời Trần, lợi dụng tình hình Đại Việt suy  yếu,  quân  Chăm-pa  thường  xuyên  đem  quân quấy phá vùng biên giới, thậm chí nhiều lần đánh chiếm Thăng Long. Vì quá nôn nóng trong việc tiêu diệt họa xâm lấn của Chăm-pa, Trần Duệ Tông đã thân chinh đi đánh Chăm-pa. Tháng Giêng năm 1377 khi cầm quân tiến vào thành Đồ Bàn (Vijaya) ông bị mắc kế phục binh của Chế Bồng Nga mà tử nạn tại thành Đồ Bàn (Bình Định). Cái chết của Duệ Tông là bước ngoặt lớn đối với nhà Trần thời hậu kỳ, Thượng hoàng Nghệ Tông nhu nhược, vốn hoàn toàn dựa vào ông nên khi ông mất đã hoàn toàn dựa vào Hồ Quý Ly, thế nước Đại Việt suy kém, quân Chăm-pa tự do hoành hành, tàn phá kinh đô Thăng Long. Cơ nghiệp nhà Trần từ đây suy sụp.

VII. HẬU TRẦN QUA THƠ ĐẶNG DUNG

Hồ Quý Ly cướp ngôi vua nhà Trần Triều đình nhà Minh bên Trung Quốc nắm lấy cơ hội dương lên ngọn cờ “hưng Trần, diệt Hồ” vin cớ đem 20 vạn quân sang đánh chiếm nước ta. Trần Ngỗi con thứ của vua Trần Nghệ Tông dấy binh nổi lên chống lại quân Minh để khôi phục nhà Trần, tháng 10 năm 1407 lên ngôi vua xưng là Giản Định Đế. Bấy giờ có quan Đại tri châu là Đặng Tất kéo quân đến hợp lực được phong làm Quốc Công. Tháng 6 năm 1408 Đặng Tất phá được tri phủ ngụy là Đặng Thế Căng ở của biển Nhật Lệ và núi An Đại Lệ Thủy. Tháng 12 lại đại phá quân Minh ở Bồ Cô, nhưng vua tin lời gièm của bọn hoạn quan nên đã giết Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Con của Đặng Tất là Đặng Dung và con của Nguyễn Cảnh Chân là Nguyễn Cảnh Dị căm phẩn vì cha không có tội mà bị giết nhưng không vì thù nhà mà bỏ việc nước . Hai người tìm minh chủ khác là Trần Quý Khoáng đón lên làm vua và tiếp tục chống quân Minh. Đặng Dung có  kiệt tác “Cảm hoài” nói về thế sự buổi ấy và tâm sự của ông:

CẢM HOÀI
Đặng Dung

Việc đời bối rối tuổi già vay,
Trời đất vô cùng một cuộc say.
Bần tiện gặp thời lên cũng dễ,
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay.
Vai khiêng trái đất mong phò chúa,
Giáp gột sông trời khó vạch mây.
Thù trả chưa xong đầu đã bạc,
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.

Bản dịch Phan Kế Bính . Sách Văn đàn bảo giám (NXB Văn học, 2004) ghi người dịch là Trần Trọng Kim.
Nguồn:
1. Phan Kế Bính, “Đại Nam nhất thống chí”, Đông Dương tạp chí, số 116
2. Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, NXB Tân Việt, 1951
3. Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, Trung tâm học liệu xuất bản, 1968

Nguyên tác:

悠悠






Cảm hoài [Thuật hoài]

Thế sự du du nại lão hà,
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời lai đồ điếu thành công dị,
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí chúa hữu hoài phù địa trục,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.

Nhà Trần trong sử Việt, một bài học sâu sắc.

VIII. TRẦN QUANG KHẢI THƠ THẦN

Bài thơ “ Tụng giá hoàn kinh sư “ nổi tiếng do Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải (1241-1294) sáng tác
ngày 6 tháng 6 năm 1285: “Chương Dương cướp giáo giặc, Hàm Tử bắt quân thù. Thái bình nên gắng sức, Non nước ấy ngàn thu.Tụng giá hoàn kinh sư nguyên văn chữ Hán 從 駕 還 京 奪 槊 章 陽 渡 擒 胡 鹹 子 關 太 平 宜 努 力 萬 古 此 江 山 phiên âm Hán Việt Đoạt sáo Chương Dương độ Cầm Hồ Hàm Tử quan Thái bình tu trí lực Vạn cổ thử giang san đươc thượng tướng thái sư Trần Quang Khải viết sau khi quân dân nhà Trần chiến thắng quân Nguyên lần thứ hai năm 1285. Bài thơ‎ nói về cảm xúc một vị tướng trên đường theo xa giá vua Trần Nhân Tông và Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông trở về kinh đô, đồng thời ca ngợi đội quân nhà Trần trong việc bảo vệ non sông đất nước. Hiện có ba bản dịch, bản trên là của Trần Trọng Kim, bản khác của Ngô Tất Tố. và Trinh Đường] Bài thơ được đưa vào chương trình sách giáo khoa lớp 7, tập một. Trần Quang Khải thơ thần là sử thi tổng kết bài học Nhà Trần trong sử Việt có giá trị to lớn đặc biệt sâu sắc.

Trang thơ Trần Quang Khải trên Thi Viện của chủ bút Đào Trung Kiên đã đúc kết và có những bài sau: https://www.thivien.net/Tr%E1%BA%A7n-Quang-Kh%E1%BA%A3i/author-X3Oume1_mYQvTGcgMAhydQ. “Dưới triều Trần Thánh Tông (1258-1278), ông làm Tướng quốc thái uý, tước Đại vương; đến triều Nhân Tông (1279-1293) lại được thăng chức Thượng tướng thái sư. Cùng với Trần Quốc Tuấn, ông cũng là một nhân vật trọng yếu của vương triều, đã đóng góp nhiều công sức vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước đương thời. Trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông (1284-1285, 1287-1288), Quang Khải là một trong những người đóng vai trò chủ chốt. Ông có mặt ở nhiều chiến trường quan trọng và đã tham gia trận phản công lớn, đánh tan quân giặc ở Hàm Tử, Chương Cương giải phóng kinh thành Thăng Long.Trần Quang Khải học rộng biết nhiều, chẳng những là một tướng cầm quân giỏi mà còn là một nhà ngoại giao có tài, một nhà thơ với những vần thơ “sâu xa lý thú”. Ông là một trong những tác gia tiêu biểu của văn học thời thịnh Trần. Trong thơ văn ông có thể tìm thấy một tinh thần yêu nước kiên cường, một tấm lòng gắn bó với con người và tạo vật, một khí phách anh hùng tiêu biểu cho dân tộc. Khi ông đi chiến trận, Trần Thánh Tông đã tặng lá cờ với hai câu thơ: Nhất đại công danh thiên hạ hữu, Lưỡng triều trung hiếu thế gian vô. (Công danh trọn một đời, thiên hạ còn có người như ông, Tấm lòng trung hiếu đối với hai triều vua thì thế gian không ai có.) Tác phẩm có tập thơ Lạc đạo, nhưng đã mất, hiện chỉ còn lại 11 bài.

  1. Đề Bạch Mã từ4
  2. Đề dã thự11
  3. Lưu Gia độ9
  4. Phúc Hưng viên6
  5. Tặng bắc sứ Sài Trang Khanh, Lý Chấn Văn đẳng4
  6. Tống bắc sứ Sài Trang Khanh3
  7. Tụng giá hoàn kinh sư10
  8. Xuân nhật hữu cảm kỳ 16
  9. Xuân nhật hữu cảm kỳ 25

Tuyển tập chung 10

Thơ văn Lý Trần tập II (1988)

  1. Đề Bạch Mã từ4
  2. Đề dã thự11
  3. Lưu Gia độ9
  4. Phúc Hưng viên6
  5. Tặng bắc sứ Sài Trang Khanh, Lý Chấn Văn đẳng4
  6. Tống bắc sứ Sài Trang Khanh3
  7. Tụng giá hoàn kinh sư10
  8. Xuân nhật hữu cảm kỳ 16
  9. Xuân nhật hữu cảm kỳ 25

Việt Nam bách gia thi (2005) – 越南百家詩

Tụng giá hoàn kinh sư10

Hoàng Kim (Đại Học Nông Lâm)22/12/2025 10:36 đã bình luận nhanh:

Kim Hoàng xin lạm thẩm bình: Tác giả thật sự: Bài thơ “Thượng Phụ Cựu Cư” (Chữ Hán: 上符舊居) là của Trần Quang Khải. Ông là một danh tướng nhà Trần, có nhiều đóng góp lớn cho đất nước. Nội dung bài thơ: Bài thơ mô tả lại cảnh phủ đệ cũ của Trần Thủ Độ, người có công lớn xây dựng nên nhà Trần, và là một vị Thượng Phụ. Sự nhầm lẫn: Có thể có sự nhầm lẫn giữa hai nhân vật cùng thời hoặc do tên gọi tương tự, dẫn đến việc gán nhầm bài thơ này cho Nguyễn Sưởng. Nguyễn Sưởng là một danh thần thời Trần, có sự nghiệp và thơ ca của riêng mình, nhưng không phải tác giả của bài thơ này. Vì vậy, khẳng định Nguyễn Sưởng là tác giả bài “Thượng Phụ Cựu Cư” là không chính xác.

Nguyên tác
尚父舊居
庭檜凌霜老欲鱗,
廢興幾閱世間人。
魚溝水急菰蒲暗,
馬捋堤平草木春。
四海安危存掌握,
兩朝揖遜繫經輪。
英雄如在箕裘絕,
麟閣丹青萬古新。

Thượng Phụ cựu cư
(Trần Quang Khải / hay ? Nguyễn Sưởng?)

Đình cối lăng sương lão dục lân,
Phế hưng kỷ duyệt thế gian nhân.
Ngư câu thuỷ cấp cô bồ ám,
Mã loát đê bình thảo mộc xuân.
Tứ hải an nguy tồn chưởng ác,
Lưỡng triều ấp tốn hệ kinh luân.
Anh hùng như tại cơ cầu tuyệt,
Lân các đan thanh vạn cổ tân.

Đọc Hiểu “Thượng Phụ cựu cư”
Nơi ở cũ của Vị Cha Già Kính Yêu

Vẹn kiếp càn khôn nổi vẩy lân,
Phế hưng trong cõi bậc danh nhân.
Cá câu nước lặng bình yên hạ,
Ngựa xích bờ đê cỏ mướt xuân.
Bốn biển an nguy còn cố chấp,
Hai triều bia đá tỏ kinh luân.
Anh hùng tuyệt đỉnh cầu đối thủ,
Tuần hoàn đổi mới vạn cổ tân.

Hoàng Kim xem thêm bài cuối trang https://hoangkimlong.wordpress.com/2025/12/22/hay-de-toi-doc-lai/. Hoàng Kim trong bài viết này, đã thẩm bình trên chứng cứ và chứng lý văn bản. Hoàng Kim cho rằng Tác giả thật sự: Bài thơ “Thượng Phụ Cựu Cư” (Chữ Hán: 上符舊居) là của Trần Quang Khải. Ông là một danh tướng nhà Trần, có nhiều đóng góp lớn cho đất nước. Nội dung bài thơ: Bài thơ mô tả lại cảnh phủ đệ cũ của Trần Thủ Độ, người có công lớn xây dựng nên nhà Trần, và là một vị Thượng Phụ. Sự nhầm lẫn Thượng Phụ Cựu Cư Trần Thủ Độ với Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn là có thật. Nên có thể có sự nhầm lẫn giữa hai nhân vật cùng thời hoặc do tên gọi tương tự, dẫn đến việc gán nhầm bài thơ này cho Nguyễn Sưởng. Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh văn bản và chất liệu sáng tác thì Nguyễn Sưởng là một danh thần thời Trần, có sự nghiệp và thơ ca của riêng mình, nhưng không phải tác giả của bài thơ này. Vì vậy, khẳng định Nguyễn Sưởng là tác giả bài “Thượng Phụ Cựu Cư” là không chính xác. Vậy nên xếp bài thơ trên vào cụm tác phẩm của Trang thơ Trần Quang Khải thì hợp lý hơn. Hoàng Kim đồng tình với cụ Vũ Bình Lục khi nhận định về đền thờ Trần Thủ Độ và các luận giải liên quan ở Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh cũng như nhiều tài liệu đã giải mã rõ ràng về nguồn gốc và quan hệ nghĩa tử của Thống sư Trần Thủ Độ với Nhà Trần, đã giải mã mối quan hệ ‘thanh mai trúc mã’ (青梅竹馬)của Thượng Phụ cùng Quốc Mẫu Trần Thị Dung là ‘thấy quái mà không quái” (lược sử Nhà Trần trong sử Việt, Hoàng Kim https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nha-tran-trong-su-viet/)

Nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục nói: “Ở núi Hồng Vân, huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh có ngôi chùa lớn. Bên cạnh chùa có ngôi đền cổ. Ban thờ giữa ngôi đền có treo bức hoành phi bốn chữ lớn (đại tự): TRẦN TRIỀU THƯỢNG PHỤ (Bậc Thượng Phụ của triều Trần). Lại còn có đôi câu đối: “Công đáo vu kim, bất đãn Trần gia nhị bách tải / Luận định thiên cổ kỳ tại, Nam thiên đệ nhất lưu”. Nghĩa là: “Công đức (của Ngài) để lại đến nay, không chỉ bó hẹp trong hai trăm năm của triều đại nhà Trần / Sau ngàn đời công luận đã định, Ngài xứng đáng được liệt vào bậc nhất dưới trời Nam”.Ấy vậy mà dân địa phương từ bao năm nay và ngay như cả vị sư trụ trì ngôi chùa vẫn bảo rằng đây là đền thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Họ không biết rằng, ngay ở đời vua Trần Minh Tông trị vì, nhà thơ, cựu quan chức triều đình là ông Nguyễn Sưởng đã có bài thơ chữ Hán THƯỢNG PHỤ CỰU CƯ, viết về quan Thượng Phụ Trần Thủ Độ rồi. Nguyễn Sưởng là thành viên của Thi Xã Bích Động ở Đông Triều, do Văn Huệ Vương Trần Quang Triều sáng lập. Đây chính là Thi đàn đầu tiên, rực rỡ nhất của nước Đại Việt ta. Thái sư Phụ chính Trần Thủ Độ sáng lập triều Trần. Ngài được suy tôn là Thượng Phụ. Thơ của Nguyễn Sưởng đã “Kể” rất rõ rồi đó, cớ sao vẫn nhầm lẫn đến thế? Đôi câu đối cầng nói rõ thêm. Với Hưng Đạo Đại Vương, công tích đã rõ ràng, làm gì còn phải đến “Sau ngàn đời công luận đã định” nữa? Người anh hùng được liệt vào bậc nhất dưới trời Nam ấy, chính là Thượng Phụ trần triều, Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ.”

MỘT SỰ NHẦM LẪN ĐÁNG YÊU ! Vũ Bình Lục Thưa quý bạn! Sự nhầm lẫn lịch sử cũng là sự thường tình. Có cái thông cảm được. Tuy nhiên, ở một số địa chỉ văn hoá, nhất là văn hoá tâm linh, chúng ta vẫn còn có nhiều sai sót không thể thông cảm được. Nó nằm ở đâu? Xin thưa rằng, nó nằm ở chỗ trách nhiệm của các cơ quan quản lý văn hoá, cụ thể hơn là các cơ quan quản lý các di sản văn hoá, từ trung ương đến địa phương. Tôi nói điều này, tất có nhiều vị quan chức không hài lòng, nhưng không thể không nói. Người xưa từng nói VĂN, SỬ TRIẾT BẤT PHÂN. Nghĩa là trong Văn có sử, có triết học và ngược lại.Các nhà nghiên cứu sử học nước ta ngày nay có cả bồ chữ, cả kho tư liệu lịch sử từ sách vở. Nhưng các bạn ấy không biết đến Văn chương. Vậy nên mới dẫn đến những hệ luỵ đáng phiền lòng. Nói thế đủ biết sử học không có văn chương, nó tai hại đến mức nào! Thế nên, nhà bác học Lê Quý Đôn mới phải viết sách QUẦN THƯ KHẢO BIỆN, tức khảo sát trong rừng sách, để biện giải, phản biện lịch sử, nhàm vén lên những khuất tất, những sai sót trong những khoảng mờ, khoảng tối của lịch sử. Tác phẩm của Lê Quý Đôn khiến các nhà sử học Trung Quốc, Triều Tiên phải ngả mũ kính chào. Lê Quý Đôn (gốc họ Lý nước Đại Việt) đã làm vẻ vang cho trí tuệ Đại Việt ta vậy!Tôi nói có gì chưa chuẩn, xin được lượng thứ! Đa tạ! Vũ Bình Lục Ảnh tư liệu Vũ Bình Lục: Đền thờ Trần Thủ Độ ở Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Nguồn trích dẫn : https://www.facebook.com/vu.binh.luc.2025/posts/pfbid02n71FtmratRGw8MWrkcsfi2JyDXwTsgpfXWSu3pjSiYzYvLxVicVf1G5tXdkLBZxG

LƯU GIA ĐỘ
Trần Quang Khải

Lưu Gia độ khẩu thụ tham thiên,
Hỗ tụng đông hành tích bạc thuyền.
Cựu tháp giang đình thu thuỷ thượng,
Hoang từ cổ trủng thạch lân tiền.
Thái bình đồ chí kỷ thiên lý
Lý đại quan hà kỷ bách niên.
Thi khách trùng lai đầu phát bạch
Mai hoa như tuyết chiếu tình xuyên.

Dịch nghĩa:

BẾN ĐÒ LƯU GIA

Bến đò Lưu Gia, cây cao ngất trời
Xưa phò giá sang đông, ta từng đỗ thuyền nơi đây.
Tháp cũ đình xưa ngất ngưởng bên dòng sông thu
Đền hoang mộ cổ thờ ơ trước con lân đá.
Bản đồ Thái Bình rộng mấy ngàn dặm,
Non sông nhà Lý trải hai trăm năm.
Khách thơ trở lại đầu đã bạc,
Hoa mai như tuyết chiếu xuống lòng sông thu buổi trời nắng.

Dịch thơ:

Lưu Gia cây cao ngất trời,
Bến xưa ta hộ giá Người sang Đông.
Tháp đình ngất ngưởng bên sông,
Đền hoang mộ cổ lân không đoái hoài.
Mênh mông phủ Thái rộng dài,
Non sông nhà Lý trải vài trăm năm.
Bạc đầu nay lại về thăm,
Hoa mai như tuyết sáng lòng sông thu.

(VŨ BÌNH LỤC dịch thơ, chú giải và lưu ảnh)

Tôi (Hoàng Kim) xin phép tác giả VBL được lưu ảnh và cẩn chép bài này để nhận được các nguồn chỉ giáo. Xin trân trọng cám ơn! Kim Hoàng (Hoàng Kim).

IX. PHO TƯỢNG NGỌC QUAN ÂM
Nhân Huệ Vương vẹn kiếp

Tỉnh thức càn khôn chốn đại ngàn
Ngọc lành vàng đá giữa lầm than
Hoàng Thành trọn vẹn tinh hoa tốt
Trúc Lâm gìn giữ lửa hương tàn
Vận chuyển thời cơ lưu vẹn kiếp
Mệnh nung tâm huyết chí bền gan
Nhờ ai lem luốc tròn duyên nghiệp
Đất cảm trời thương thấu kẻ hàn.


CỬA ÔNG

Cửa Ông Cẩm Thịnh Cẩm Phú Sơn
Lối cũ đường xưa nhớ tháng năm
Đền Cửa Ông nhớ Trần Quốc Tảng
Lùm Trần Thương hiểu Đức Quốc Công
Con làm viên đá bền Vạn Kiếp
Mẹ thức trời xanh vững Chính Trung
Kê Già ấp ủ nuôi khôn lớn
Mới thấm Vân Đồn một Cửa Ông.

Hoàng Kim Cây Lương Thực thơ cũ đọc lại

VĂN CHƯƠNG NGỌC CHO ĐỜI

Trần Khánh Dư hiệu là Nhân Huệ Vương, là một chính khách, nhà quân sự Đại Việt dưới thời đại nhà Trần. Trần Khánh Dư là con trưởng của thượng tướng Nhân Thành Hầu Trần Phó Duyệt.với Trần Thái Anh. Em trai của Trần Khánh Dư là Trần Lộng, người quan hệ rất mật thiết với Trần Kiện và Trần Ích Tắc với Tỉnh Quốc Công Trần Quốc Khang, mà Nhà Trần trong sử Việt không nhắc đến thì không thể biết rõ Trần Khánh Dư là cháu đích tôn của Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ, người mà khi còn sống, nắm thực quyền và là linh hồn của vương triều Trần. Nhiều uẩn khúc lịch sử thời Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ tới thời cha mẹ và chính bản thân Trần Khánh Dư là “Nghĩa Tử Nam” của vua Trần Thánh Tông, Trần Khánh Dư nghề võ là danh tướng kỳ tài, nghiệp Văn chương ngọc cho đời của ông lưu lại duy nhất một đoản văn lời Tựa và một bài thơ ‘Bán than’ tuyệt bút.

BÁN THAN
Trần Khánh Dư

Một gánh kiền khôn quẩy tếch ngàn
Hỏi chi bán đó, dạ rằng than
Ít nhiều miễn được đồng tiền tốt,
Hơn thiệt nài bao gốc củi tàn
Ở với lửa hương cho vẹn kiếp
Thử xem sắt đá có bền gan
Nghĩ mình lem luốc toan nghề khác
Nhưng sợ trời kia lắm kẻ hàn.

Tôi biết pho tượng Ngọc Quan Âm và định kể câu chuyện này theo trình tự bố cục chặt của lối viết khoa học, cô lập tách biệt chuyện nhỏ gọn gàng dễ hiểu, để có một món quà quê nhân mùa Rằm Đản Sinh gửi tới quý thầy bạn. Nhưng thật lạ lùng, không hiểu sao, có một nghiệp lực vô hình mạnh mẽ cuốn hút, khai mở mách bảo và khuyên tôi rằng hãy vừa noi theo lối cũ vừa cần có lối tiếp hợp mới.

Gỗ TẾCH rất tốt cho bán than, Chính trung sau dinh Thống Nhất có một cây gỗ Tếch,

Pho tượng Ngọc Quan Âm

Sáng mãi ngọc lưu ly
Bài đồng dao huyền thoại
Đường xuân đời quên tuổi
Ngày mới Ngọc cho đời

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là mua.jpg

Hoàng Kim có bài thơ cảm khái Pho tượng Ngọc Quan Âm , Nhân Huệ Vương vẹn kiếp Cửa Ông Trần Quốc Tảng, nương vận bài thơ cổ Trần Khánh Dư bán than TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM #htn, #hoangkimlong, #banmai #vietnamxahoihoc, #htn365, #ana, #dayvahoc, #vietnamhoc, #cnm365#cltvn, #vietcassava, #annhiên, #đẹpvàhay, https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-19-thang-4

Hoàng Kim tổng hợp biên soạn
(2006-2026) hiệu đính và bổ sung

HÃY ĐỂ TÔI ĐỌC LẠI
LÊN THÁI SƠN HƯỚNG PHẬT

CHIẾU ĐẤT Ở THÁI AN
Hoàng Long
Hoàng Kim***

Chiếu đất ở Thái An
Thế giới trong mắt ai
Trung Quốc một suy ngẫm
Thành tâm với chính mình

Gió thổi Mạnh
khắp bốn phương
Mây cuộn bay…
****

Ta đến Núi Thái Sơn
Cùng Hoàng Long
Chiếu đất ở Thái An
Nhớ Ba Bài Học Lớn

Khoai Hoàng Long
Lúa Siêu Xanh GSR
Lên Thái Sơn Hướng Phật

Lên Thái Sơn Hướng Phật

Xưa Leo Vạn Lý Trường Thành
Viếng Lăng Đức Khổng Tử
Thăm Quê Hán Cao Tổ
Ngẫm Bài Học Tần Vương

Lên Đỉnh Thiên Cổ Sơn
Lên Trúc Lâm Yên Tử
Lên Việt Bắc điểm hẹn
Lên đỉnh Thiên Môn Sơn

Nay #Annhiên#Thungdung
Một gia đình yêu thương
Du lịch màn ảnh nhỏ
Chính Ngọ đoán Kinh Dịch

CHIẾU ĐẤT Ở THÁI AN
Hoàng Long
Hoàng Kim

Tỉnh thức lên Thái Sơn
Thung dung ngủ cội tùng
Chiếu đất ở Thái An
Đêm thiêng chào ngày mới


Ai uống rượu Hàm Hanh
Lòng tưởng nhớ Lỗ Tấn
Ta mang rượu Thái Sơn
Ngon xách về chẳng dễ

“Núi cao ta trồng
Đường rộng ta đi
Tuy đích chưa đến
Nhưng lòng hướng về”

Lên Thái Sơn hướng Phật
Về ngủ bên cội tùng
Trãi một cơn gió bụi
Thoáng chốc ba mươi năm
(1996-2026)

(*) Luận Kinh Dịch Cụ Nguyễn
Hoàng Kim @hoangkimvn

Đắc Chính, Đắc Trung, Hiếu, Thiện, Lành
Vô Cầu, Vô Vọng, Lợi, Công, Danh
Đường Trần Thấu Tỏ Lời Thượng Cửu:
“Cứ làm điều phải mà không mong” *

* “Cứ làm điều phải mà không mong” Nguyễn Hiến Lê sao sáng đâ địch Quẻ Thiên Lôi trang 290 lấy ý của Tư MãThiên tâm đắc, Cụ Tư Mã Thiên là Thái Sử Công Thời Hán Vũ Đế. * Trang 290 Nguyễn Hiến Lê 1992 Kinh Dịch Đạo Của Người Quân Tử .

Kinh Dịch Dạy Thời Biến / Dạy và học ngày mới / Dạy Và Học Làm Người/ Dạy học nghề làm vườn/ Dạo chơi non nước Việt / Du lịch sinh thái Việt / Em Dặn Với Lời Thương/ Em ơi can đảm lên / Gõ ban mai vào phím

THÁI AN NÚI THÁI SƠN

Thái An là nơi trung tâm quần thể du lịch Thái Sơn. Tôi xách rượu Thái Sơn và khoai lang Hoàng Long (hình) định mang về Trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh để làm quà cho thầy bạn quý. Trong ảnh phía sau lưng tôi là gốc tùng nơi Hoàng Long và tôi đã nằm ngủ suốt đêm qua ngoài trời vì không thể thuê được nhà trọ. Trung Quốc luật lệ hiện thời yêu cầu khách ngoại quốc phải ngủ ở những khách sạn được phép tiếp nhận người nước ngoài nên người lái xe taxi tuy đã cố gắng chạy lòng vòng tìm kiếm suốt hơn 90 phút nhưng vẫn không thể giúp được. Tôi sau khi lên ga Thái An của đường sắt cao tốc Sơn Đông Bắc Kinh về cửa khẩu sân bay thì món đặc sản quý giá rượu Thái Sơn lại không được mang về. Mặc dầu chúng tôi có đầy đủ phiếu hàng giấy tờ cần thiết nhất để minh chứng rượu được mang đi chứ không phạm lỗi ‘mang chất lỏng lên máy bay’. Tôi đã cố gắng hết sức giải thích tôi là thầy giáo nông học Việt Nam từng tới Sơn Đông từ thuở xưa ba mươi năm trước và nay thăm lại chốn cũ, nhưng vẫn không thể mang rượu về. Tôi đã tặng lại số quà này cho các bạn hải quan ở cửa khẩu bên đó.

Kinh Dịch Dạy Thời Biến / Dĩ bất biến ứng vạn biến (“Dĩ bất biến ứng vạn biến” là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho cụ Huỳnh Thúc Kháng trước khi cụ sang Pháp dự hội nghị Fontainebleau vào ngày 31/5/1946. Ý nghĩa là lấy cái “bất biến” (nguyên tắc, mục tiêu cốt lõi không thay đổi) để ứng phó với cái “vạn biến” (thay đổi của tình hình), giữ vững độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ nhưng linh hoạt trong sách lược và phương pháp thực hiện. “Dĩ bất biến” (lấy cái không thay đổi): Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là các nguyên tắc và mục tiêu tối thượng như độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ, sự lãnh đạo của Đảng.

“Ứng vạn biến” (ứng phó với cái vạn biến): Là sự linh hoạt, mềm dẻo trong cách thức, sách lược, tùy theo thời cơ và điều kiện cụ thể, nhưng không bao giờ thay đổi mục tiêu cốt lõi đã đề ra. Bối cảnh: Bác Hồ đã nói với cụ Huỳnh Thúc Kháng câu này để ủy thác cụ cùng gánh vác công việc ở hậu phương khi mình đi xa, với mong muốn cụ giữ vững lập trường, nguyên tắc của Đảng và Nhà nước, nhưng cũng phải linh hoạt xử lý mọi vấn đề trong hoàn cảnh luôn biến động. 

Lên Thái Sơn hướng Phật / “Đi đường biết mấy gian lao Núi cao rồi lại núi cao trập trùng Núi cao lên đến tận cùng Thu vào tầm mắt muôn trùng giang sơn”, Bài thơ “Đi đường” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt in trong tập thơ “Nhật ký trong tù”

https://www.youtube.com/embed/_ipLKCAM2xg?feature=oembed&version=3&rel=1&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&fs=1&hl=vi&autohide=2&wmode=transparent

TRƯƠNG LƯƠNG VÀ HÀN TÍN

Hiểu Binh Tiên Hàn Tín
Xem phim ngắn Hoài Âm
#An nhiên và #Thungdung
Thấm #Đá Vàng Trương Lương

Biết Bao Quát Tiêu Hà
Lường Mưu Kế Trần Bình
Dung Hoạt Đầu Lã Trĩ
Khoan Thứ Chung Ly Muội

Khảo chiến trận Hào Quang
Bữa tiệc yến Hồng Môn
Chiếu đất ở Thái An
Đêm lạnh nhớ Đào Công

Gốc Bồ Đề An Tĩnh
Xem phim ngắn Hoài Âm
Chính Trung Hiếu Thiện Lành
Giấc Nhàn Trời Chuyển Đông

ĐÁ VÀNG VỚI BAN MAI; CNM365 Tình yêu cuộc sống; Chính Trung Hiếu Thiện Lành; Lời biết ơn chân thành; Vĩnh Thanh Vân Rạch Giá (hình) Hoàng Long Ngọc Quan Âm; Đêm giao thời huyền diệu;#hoangkimlong, #vietnamxahoihoc,  #cltvn, #dayvahoc, #ana, #BanMai, #htn365,#vietnamhoc, #Vietcassava; #htn, #cnm365; Em dăn và lời thương;Việt Nam con đường xanh; Nông nghiệp Việt trăm năm; Lúa siêu xanh Việt Nam; Cây Lương thực Việt Nam; Bài đồng dao huyền thoại; Thành tâm với chính mình; Thung dung vườn cổ tích; https://youtu.be/YlsthMwlxzA Cảm Ơn Đời Có Phước Thành Tâm Với Chính Mình https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana; https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-26-thang-2/&https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-26-thang-2;

Kim Notes lắng ghi chú:

Thầy bạn là lộc xuân Thầy Quyền thâm canh lúa : Người con đất Việt GSTS Mai Văn Quyền một nhà khoa học giản dị https://youtu.be/04FTsXu0B7Y?si=l5xrLMcroICxe6Ii &https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-quyen-tham-canh-lua/

Hình ảnh này không có thuộc tính văn bản thay thế; tên tập tin là anh-goc-trangbiaclt.jpg

Cây lương thực (Food Crops) các loại cây trồng cung cấp lương thực thực phẩm chính, nguồn năng lượng và chất bột đường cacbohydrat chủ yếu cho con người trong khẩu phần ăn, bao gồm ngũ cốc (lúa, ngô, lúa mì), cây lấy củ (khoai tây, sắn, khoai lang), các loại đậu và hạt, trái cây, rau củ, đóng vai trò sống còn trong an ninh lương thực toàn cầu. Chúng được trồng để thu hoạch sản phẩm làm thức ăn trực tiếp, khác với cây công nghiệp hay cây thức ăn chăn nuôi, và thường có chu kỳ sống ngắn, phát triển mạnh mẽ. Lúa, bắp, sắn, khoai lang là bốn loại cây lương thực chính của Việt Nam. Cây lương thực – Wikipedia tiếng Việt

Dạy học nghề làm vườn (làm vườn/cảnh quan) là đào tạo kiến thức, kỹ năng thực hành trồng trọt, chăm sóc cây, thiết kế sân vườn, công viên, hướng tới chuyên gia nông nghiệp, nhà nghiên cứu, thiết kế cảnh quan, hay đơn giản là kỹ năng làm vườn bền vững cho cá nhân, gia đình, với nhiều cấp độ từ trường phổ thông đến đại học và các học viện chuyên biệt, tập trung vào thực tiễn và công nghệ mới

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là 2-nhatoi.jpg

THƠ VUI NHỮNG NGÀY NHÀN
Hoàng Kim

“Chia tay lại giao ước
Nhớ phải gặp lần sau
Rồi nắm chặt tay nhau
Thân ái chào tạm biệt !”

Thơ Nguyen Que hay thiệt
Tài nhả ngọc phun châu
Bạn cũ xa đã lâu
Vẫn thấy gần ấm áp

Phạm Xuân Liêm Nam Mỹ
Mang chuông đánh nước người
Hinh Lâm Quang tốt tươi
Mặt lúc nào cũng sáng

Nguyễn Văn Toàn cụ lớn
Viện Đất khỏe muôn năm
Mai Quốc Hùng trẻ trung
Đà Nẵng răng còn cứng

Đinh Đức phong độ lắm
Dáng thẳng mặt ngời ngời
Nguyen Que trẻ mãi thôi
Nhờ thơ hay mà khỏe.

Thủ Đô mình đẹp thế
Nguyễn Khải nhớ mà thương
Láng chút nước Tràng An
Mới thành người Hà Nội

Vumanh Hai chưa tới
Ngắm ảnh nhớ bạn hiền
Thơ vui những ngày nhàn
Thầy bạn là lộc xuân

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-la-loc-xuan/https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tho-vui-nhung-ngay-nhan/

ĐỪNG BAO GIỜ NGỪNG CỐ GẮNG
Thầy bạn là lộc xuân


Bảo tồn và phát triển tinh hoa di sản cho chính mình, gia đình, người thân, thầy bạn, quê hương và #vietnamhoc là niềm vui SOI SÁNG LẠI CHÍNH MÌNH lời dặn lại của đức Trúc Lâm Trần Nhân Tông, chứ không tìm ở đâu khác “Ở đời vui đạo , thả tùy duyên. Đói cứ ăn đi mệt ngủ liền. Kho báu trong nhà thôi tìm kiếm. Vô tâm, đối cảnh, hỏi chi THIỀN” (Cư trần lạc đao của Trần Nhân Tông, trích dẫn bởi Hoàng Kim, xem tiếp Thầy bạn là lộc xuân https://khatkhaoxanh.wordpress.com/2023/03/05/thay-ban-la-loc-xuan/

HÃY ĐỂ TÔI ĐỌC LẠI
Chào ngày mới tốt lành

Hoa Đất Thương Lời Hiền

ĐÁ VÀNG VỚI BAN MAI; CNM365 Tình yêu cuộc sống; Chính Trung Hiếu Thiện Lành; Trà sớm với Lão Nông: 10 dấu hiệu Ngôi nhà bạn ở Đang có Thần Phật hiện diện, càng ở càng giàu, phúc đức https://youtu.be/RYZsZ7GCDY0?si=u3gUN9X2KhtRLT_g

Núi Chứa Chan Xuân Lộc;Vườn Quốc Gia Cát Tiên; Một gia đình yêu thương; Mồng 3 Tết Nguyên Đán. Ngày Con Cháu nhớ Mẹ, Nhớ vầng trăng ngọn lửa ; Hoàng Thành Trúc Lâm Sáng; Đến với Tây Nguyên mới; Bài ca nhịp thời gian; Đường xuân đời quên tuổi; Chính Ngọ đoán Kinh Dịch; Chùa Một Cột Hà Nội; Việt Bắc Nhớ Bác Hồ; Lên Trúc Lâm Yên Tử; An vui cụ Trạng Trình; https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-31-thang-1/ & https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-31-thang-1; #hoangkimlong, #vietnamxahoihoc,  #cltvn, #dayvahoc, #ana, #BanMai, #htn365,#vietnamhoc, #Vietcassava; #htn, #cnm365; Vườn Quốc gia Việt Nam; Du lịch sinh thái Việt; Tìm về đức Nhân Tông; Trúc Lâm Trần Nhân Tông; Lời Biết Ơn Hạnh Phúc; Nhớ Mãi Câu Chuyện Ảnh; Hãy lắng nghe chính mình; An vui cụ Trạng Trình;Nguyễn Du trăng huyền thoại, Thơ tặng mùa yêu thương; Bà Đen và Chứa Chan; Ai chợp mắt Tam Đảo; Hồ Long Vân Nhớ Người ; Hoàng Trung Trực đời lính; Núi Thần Đinh Quảng Bình; Đào Duy Từ Còn Mãi; #Nhàtôi; Chuyện sao Kim kỳ thú;Vận khí và vận mệnh; Thành tâm với chính mình; Những câu thơ lưu lạc; Phú Yên nôi lúa sắn; Lên Trúc Lâm Yên Tử; Trà sớm với Lão Nông; Thăm quê ngày chuyển năm; Quả tốt bởi nhân lành;Hà Nội mãi trong tim; Chùa Một Cột Hà Nội; Việt Bắc Nhớ Bác Hồ; Chợt gặp mai đầu suối & Bài ca nhịp thời gian https://youtu.be/_Bs4XcVufqY & Luyện Hòa Khí Điềm Tĩnh & #Thungdung & CNM365 Tình yêu cuộc sống ; Lắng nghe và suy ngẫm012345678910; Việt Nam chuyện phiếm đàm lắng đọng; 15 Dấu Hiệu Rất Quýhttps://youtu.be/RH2nww8wuRI?si=QmT0rKZiM1Qnr8aXDạy Học Hải Đăng Tri Thức; Về phố thương cháo nấm; Một vùng trời nhân văn; Đến Neva nhớ Pie Đại Đế; Truyện Pie Đại đế; Mark Zuckerberg và FB; Thầy Vũ trong lòng tôi; Dạy và học để làm;

Bài chọn lọc ngày 31 tháng 1: Chuyện ngày sinh của Thủy; #cnm365 #cltvn An nhiên; Ban mai chào ngày mới; May mắn bánh và hoa; Minh triết của đức Phật; Trường tôi nôi yêu thương; Thơ viết bên thác Iguazu; Ngọc phương Nam; Ngọc lục bảo Paulo Coelho; Kiệt tác của tâm hồn; 500 năm nông nghiệp Brazil; Biển Hồ Chùa Bửu Minh; Huyền Trang tháp Đại Nhạn Thông tin tại https://hoangkimvn.wordpress.com/http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-31-thang-1/https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-31-thang-1/

Mồng Ba Tết Nhớ Mẹ Cha

Mẹ đi về cõi vĩnh hằng
Mồng Ba Tết sáu mốt năm qua rối
Thuở con thơ bé Mẹ ơi

Anh con giữa trận ngút trời đạn bom

Cha làm gà trống nuôi con
Sớm hôm tần tảo hoa thơm mộ Người

Bom thù xé nát tim côi
Thiện lương chẳng thể sống thời can qua
.

Anh Hai thầy giáo nuôi nhà
Dắt hai em với mười ba lương còm

Tình thầy nghĩa bạn yêu thương
Năm năm “một bữa” biết ơn hòa đồng.


Đêm Vu Lan nhớ bài thơ đi học
Thấm nhọc nhằn củ sắn củ khoai
Nhớ tay Chị gối đầu khi Mẹ mất
Thương lời Cha căn dặn học làm Người


Qua danh lợi hiểu vinh hiểu nhục
Trãi đói nghèo biết nghĩa biết ân”


Nhà mình gần ngã ba sông
Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình
Linh Giang sông núi hữu tình
Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con

“Chèo thuyền cho khuất bến Son
Để con khỏi chộ nước non thêm buồn”

Câu thơ quặn thắt lòng con
Mẹ Cha mất sớm, con còn trẻ thơ


Ra đi từ bấy đến chừ
Lặn trong sương khói bến đò sông quê
Ngày xuân giữ vẹn lời thề
Non sông mở cõi, tụ về trời Nam.


Ngày Xuân tôn kính dâng hương
Cháu con tề tựu con đường thiện nhân:
Không vì danh lợi đua chen
Công Cha nghĩa Mẹ quyết rén bản thân


Con cháu Hoàng Gia thành kính dâng hương Mẹ Cha Nội Ngoại

Các đại biểu chia sẻ về góc độ có thể tham gia vào Đề án 1 triệu ha tại tọa đàm. Ảnh: Tùng Đinh.
Các đại biểu chia sẻ về góc độ có thể tham gia vào Đề án 1 triệu ha tại tọa đàm. Ảnh: Tùng Đinh.

Tin nổi bật trong ngày Bản tin thời sự tiếng Việt VTV4

Đề án 1 triệu ha lúa: Đến lúc chuyển từ cam kết sang hành động

#cnm365 tích hợp thông tin từ nguồn Báo Nông nghiệp Việt Nam 30/01/2024: Theo Bộ trưởng Lê Minh Hoan, đã đến lúc phải chuyển đổi từ cam kết sang hành động để triển khai hiệu quả Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp.

Mỗi năm đào tạo 500.000 nông dân tham gia đề án 1 triệu ha lúa
Máy nông nghiệp Italia muốn đồng hành 1 triệu ha lúa chất lượng cao
Lập dữ liệu vùng trồng Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao
Những nhiệm vụ đầu tiên trong hành trình xây dựng 1 triệu ha lúa chất lượng cao

Chiều 30/1, Bộ NN-PTNT tổ chức buổi tọa đàm “Đối tác công – tư thúc đẩy đổi mới sáng tạo, triển khai Đề án 1 triệu ha lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp” dưới sự chủ trì của Bộ trưởng Lê Minh Hoan cùng sự tham dự của Đại sứ Singapore tại Việt Nam Jaya Ratnam, ông Paavo Eliste đại diện Ngân hàng Thế giới và bà Bevverley Postma, Giám đốc Điều hành Grow Asia.

Mục tiêu của Tọa đàm Đối tác công – tư thúc đẩy đổi mới sáng tạo, triển khai Đề án 1 triệu ha lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp là xác định cơ chế hữu hiệu để huy động sự tham gia của các bên chung tay xây dựng Mạng lưới Đổi mới sáng tạo lương thực, thực phẩm tại Việt Nam (FIHV) và thực hiện đề án 1 triệu ha lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp một cách hiệu quả.

Ngoài ra, tọa đàm cũng thảo luận về vai trò của các bên có liên quan và các tác nhân trong chuỗi lúa gạo và ghi nhận các ý kiến cũng như thống nhất kế hoạch hoạt động triển khai đề án 1 triệu ha lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long, cuối cùng là nêu ra các hành động ưu tiên trong ngắn hạn và dài hạn.

Tham dự chương trình tọa đàm có đại diện đồng trưởng Nhóm khối công và khối tư các nhóm ngành hàng PPP; CEO các tập đoàn, công ty đa quốc gia, doanh nghiệp nông nghiệp trong nước đang hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu lúa gạo…

Bộ trưởng Lê Minh Hoan chia sẻ, bên cạnh các nỗ lực từ phía các cơ quan Chính phủ để phát triển các chính sách mở, tạo ra môi trường thuận lợi để phát triển nông nghiệp xanh và bền vững, Việt Nam coi trọng vai trò tham gia và đồng hành của khu vực tư nhân, hỗ trợ của các đối tác quốc tế, các tổ chức quốc tế và khu vực, các tổ chức phi chính phủ, các cơ quan nghiên cứu và các chuyên gia trong nước và quốc tế.

“Hợp tác công – tư hiệu quả; và sự hỗ trợ từ quý vị sẽ là chìa khóa thành công cho Đề án”, người đứng đầu ngành nông nghiệp nhấn mạnh và khẳng định, đã đến lúc chuyển từ cam kết sang hành động.

Trao đổi tại tọa đàm, ông Lê Thanh Tùng, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ NN-PTNT) cho rằng, các địa phương đã có những nguồn lực tài chính và phi tài chính, điều cần làm hiện nay là tranh thủ nguồn lực đó, cùng với sự ủng hộ tại cơ sở để tăng cường tính liên kết của các HTX, đóng góp vào quá trình triển khai Đề án.

Trong khi đó, bà Cherie Tan, đại diện Bayer cho rằng, có 3 yếu tố quan trọng cần quan tâm là công nghệ, thị trường và chính sách để có được những thay đổi hiệu quả đối với các nông hộ nhỏ trong chuyển đổi ngành hàng lúa gạo.

Các đại biểu chia sẻ về góc độ có thể tham gia vào Đề án 1 triệu ha tại tọa đàm. Ảnh: Tùng Đinh.
Các đại biểu chia sẻ về góc độ có thể tham gia vào Đề án 1 triệu ha tại tọa đàm. Ảnh: Tùng Đinh.

Nhất trí cao với ý kiến của Bộ trưởng Lê Minh Hoan về việc chuyển từ cam kết sang hành động, ông Huỳnh Văn Thòn, Chủ tịch HĐQT CTCP Tập đoàn Lộc Trời nói các hành động này cần mạnh mẽ hơn, cụ thể hơn, sát với thực tế hơn để đem lại hiệu quả tốt hơn.

“Lộc Trời sẽ đem tất cả những gì đã làm và đang làm về canh tác giảm phát thải để đóng góp vào sự thành công của Đề án, vì mục tiêu xuyên suốt của chúng tôi là “Cùng nông dân phát triển bền vững”, ông Thòn nhấn mạnh và cho rằng Đề án là một cơ hội lớn cho ngành hàng lúa gạo khi tất cả đi cùng một hướng.

Bên cạnh tọa đàm, sự kiện chiều 30/1 cũng cung cấp thông tin về “Mạng lưới Kết nối đổi mới sáng tạo lương thực, thực phẩm” để hỗ trợ Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao và giảm phát thải (Đề án).

Trước bối cảnh ngành lúa gạo Việt Nam đang đứng trước rất nhiều thách thức, khó khăn và yêu cầu phải chuyển mình, Bộ trưởng Lê Minh Hoan nhấn mạnh: “Chúng tôi cần huy động các nguồn lực và tiến bộ kỹ thuật, một trong các công cụ quan trọng là Mạng lưới Đổi mới sáng tạo lương thực, thực phẩm tại Việt Nam (FIHV) được thành lập theo sáng kiến của Diễn đàn kinh tế Thế giới (WEF)”.

Mục tiêu của FIHV là liên kết các mạng lưới đổi mới trong nước và quốc tế nhằm thúc đẩy việc sử dụng công nghệ số để phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp thông minh. Bộ trưởng bày tỏ kỳ vọng, FIHV sẽ giúp mở rộng quy mô và đẩy nhanh quá trình chuyển đổi của ngành nông nghiệp Việt Nam nói riêng và nền kinh tế nói chung để trở thành một cường quốc nông sản thực phẩm “xanh”, bền vững và ít phát thải.

Hiện nay, vị thế của ngành lúa gạo Việt Nam đang được củng cố và nâng cao hơn bao giờ hết, không chỉ từ những con số ấn tượng về sản lượng và giá trị xuất khẩu mà còn thể hiện ở những phản hồi tích cực của người tiêu dùng thế giới về gạo Việt.

Lúa gạo là một trong những ngành có kinh ngạch xuất khẩu lớn, năm 2023 xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt hơn 8,1 triệu tấn, với kim ngạch gần 4,7 tỷ USD.

Theo Bộ trưởng Lê Minh Hoan, với yêu cầu của thị trường ngày càng cao, quy định của các nước nhập khẩu ngày càng nghiêm ngặt, chất lượng gạo phải được nâng cao, phải đảm bảo vệ sinh ATTP, phải tuân thủ trách nhiệm cộng đồng trong bảo vệ môi trường thông qua việc giảm thiểu sử dụng đầu vào sản xuất có nguồn gốc hóa học, sản xuất giảm phát thải.

Mạng lưới Đổi mới sáng tạo lương thực, thực phẩm tại Việt Nam (FIHV) được thành lập ngày 19/12/2023, với mục tiêu phát triển ngành lương thực, thực phẩm của Việt Nam theo hướng hiện đại có năng suất, chất lượng, hiệu quả, bền vững và sức cạnh tranh cao trên cơ sở tăng cường mối liên kết, hợp tác, chia sẻ các sáng kiến đổi mới sáng tạo và công nghệ hiện đại.

Trong sơ đồ phát triển, năm 2024 FIHV sẽ hoàn thiện mô hình tổ chức, năm 2025 tập trung vào Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp, sang năm 2026 sẽ mở rộng ra các đối tượng mới như cà phê, rau quả. Đến năm 2027 sẽ xây dựng được các mạng lưới FIHV cấp vùng và 2028 sẽ kết nối với các mạng lưới hiện có trên toàn cầu, như tại Châu Âu, Kenya, Ấn Độ, kết nối với mạng lưới của WEF (FAA, First Movers…).

Bạn đang đọc bài viết Đề án 1 triệu ha lúa: Đến lúc chuyển từ cam kết sang hành động tại chuyên mục Thời sự của Báo Nông Nghiệp Việt Nam. Mọi thông tin góp ý và chia sẻ với Báo Nông nghiệp Việt Nam xin vui lòng gửi về hòm thư baonongnghiepdientu@gmail.com hoặc số điện thoại, zalo: 0369024447.

NẮNG MỚI

Đường trần chí thiện vui chơi
An nhiên năm tháng cuộc đời thung dung
Cha con nối bước thanh nhàn
Thảnh thơi đồng rộng mái trường mến yêu …

*

Hạnh phúc đơn sơ sao đẹp thế
Ngắm hoa nhớ buổi nắng đông về
Yêu sao ngày mới chờ xuân tới
Ngày mới ta còn mãi miết đi.

Đạo đức niềm tin và lối sống
Nhớ lời Hưng Đạo dặn dò Vua
Đường xuân vui bạn quên ngày tháng
Nắng hửng ban mai gió mới về .

Hoàng Kim

Mục đích sau cùng của DẠY VÀ HỌC là năm vững bản chất sự vật, có lời giải đúng, và LÀM được việc

VỀ TRƯỜNG ĐỂ NHỚ THƯƠNG

Đại học Nông Lâm thật thích
Bạn thầy vui thật là vui
Sân Trường giảng đường ấm áp
Đường xuân phơi phới tuyệt vời

Hình như mọi người trẻ lại
Hình như người ấy đẹp hơn
Hình như tre già măng mọc
Nắng mai soi giữa tâm hồn.

Thầy bạn trong ngoài thiện nguyện
Về Trường chia sẻ động viên
Trang sách trang đời lắng đọng
Yêu thương bao cuộc đời hiền

Thầy bạn ngày vui hẹn gặp
Lời thương mong ước bình an
Tình khúc Nông Lâm ngày mới
Sức xuân Tự nguyện Lên đàng

Hoàng Kim
Gặp Mặt Thầy Cô Viên Chức Hưu Trí Khoa Nông Học Năm 2024 xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ve-truong-de-nho-thuong/

Kính chào thầy Phan Liêu / sư huynh Phạm Quang Khánh/ chung sức Viên Ngọc Nam/ người của rừng ngập mặn/ Lời thương vui họp mặt/ Thong thả ngày cuối năm.

Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh ngày 19 11 là ngày truyền thống thành lập của hai khoa song sinh Nông Lâm là Khoa Nông học & Khoa Lâm Nghiệp (tiền thân là Khoa Thủy Lâm, trước ngày Việt Nam thống nhất) xem tiếp Vườn Quốc gia Việt Nam https://hoangkimlong.wordpress.com/category/vuon-quoc-gia-viet-nam

Xuân Mới Sức Sống Mới

Trà sớm nhớ bạn hiền
Xuân mới sức sống mới
Hẹn uống rượu ngắm trăng
Vui đi dưới mât trời

Hoàng Kim @ Gửi Lâm Cúc

(Cảm tác thơ đề ảnh)

Hoa Mai Và Mùa Xuân

Nông Lâm chung mái ấm
Viên Ngọc Nam Hoàng Kim
Trường tôi nôi yêu thương
Vườn Quốc Gia Việt Nam.

Hoàng Kim @ Viên Ngọc Nam (ảnh hoa mai & chân dung) 

Lời biết ơn chân thành

Hình ảnh này không có thuộc tính văn bản thay thế; tên tập tin là 1-mot-niem-tin-thap-lua-1a.jpg

MỘT NIỀM TIN THẮP LỬA

Bất ngờ tôi nhận được bài thơ của Thầy Cô trong Khoa Nông Học quý mến gửi tặng. Tôi thật sự xúc động chỉ biết nói lời cảm ơn và tự hứa lòng mình là cố gắng hơn. Lòng tin của nhân dân và thầy bạn là tín danh đời người để gắng công cần kiệm liêm chính. Giữ gìn thành quả lao động tốt của đội ngũ quan trọng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Xin phép cô Ngọc được chép bài về Một niềm tin thắp lửa. https://hoangkimlong.eordpress.com/category/mot-niem-tin-thap-lua

Nhìn đàn em ngời niềm vui rạng rỡ.
Chợt thấy lòng rưng rưng.
Công việc nghề nông cực mà hạnh phúc.
Cố lên em nổ lực không ngừng !

Hột mồ hôi lắng vào hạt gạo
Câu ca ông bà theo suốt tháng năm
Thêm bữa cơm ngon cho người lao động
Nâng chén cơm thơm, qúy trọng người trồng.

Em ơi hãy học làm ruộng giỏi
Nghề nông thời nào cũng quý kỹ năng
Người dân khá hơn là niềm ao ước
Công việc này giao lại cho em.

Có một mùa xuân hạnh phúc
Ơn mẹ cha lam lũ sớm hôm
Thương con vạc gọi sao mai dậy sớm
Một niềm tin thắp lửa giữa tâm hồn.

Bước tiếp bước giữa trường đời gian khó
Học làm người lao động siêng năng
Rèn nhân cách vượt lên bao cám dỗ
Đức và Tài tử tế giữa Nhân Dân.

Lời tri ân Viện Trường quý thầy cô người thân bà con nông dân và bạn hữu nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam: “Bao năm Trường Viện là nhà. Lúa ngô khoai sắn đều là thịt xương. Một đời người một rừng cây. Thầy ươm giống tốt để mai thành rừng”

Hình ảnh này không có thuộc tính văn bản thay thế; tên tập tin là 1-mot-niem-tin-thap-lua-5a.jpg

NẮNG BAN MAI NGÀY MỚI
Hoàng Kim

Sớm xuân cuối đêm lạnh
Tỉnh thức Hoa Bình Minh
Nắng Ban Mai ghé cửa
Cười nụ nhớ An Nhiên.

Thích chia cùng thiền sư
Giọt sương mai đầu nụ
bạch ngọc thích tánh tuệ
Trăng rằm thương mẹ hiền

Nắng Được Thì Cứ Nắng*
Giấc Mơ Lành Yêu Thương
Nắng Ban Mai Ngày Mới
Giác Tâm Bình Minh An.

Nắng ban mai ngày mới
Biển tỉnh lặng #annhiên
Mùa theo thời đi mãi
Xuân sớm lắng bình yên.…

TỪ HIẾU VỚI NGƯỜI HIỀN

Cảm ơn Thầy ngọn lửa
Cười lành vui dấn thân
Cầu Hiểu tới cầu Thương
Thơ từng ôm và Mặt trời từng hạt


Về quê lần trước ghé thăm đây
Cầu Hiểu cầu Thương níu bạn thầy
Thơ thiền Nhất Hạnh tìm gốc cũ
Mặt trời từng hạt chính nơi này.


Hoàng Kim “nhân sinh bách hạnh hiếu vi tiên” (cổ ngữ) Nhớ lần trước ra Huế đến thắp hương Nam Giao và chùa Từ Hiếu, cội nguồn của hiếu sinh. Lần khác có viếng thăm chúa Nguyễn Hoàng ở lăng Trường Cơ, tọa lạc tại xã La Khê, huyện Hương Trà, nay là làng La Khê, xã Hương Thọ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, và viếng thăm Thiên Thụ Sơn, vùng cây trên 2000 ha mà triều Nguyễn dày công mang kỳ hoa dị thảo cả nước về trồng ở chốn kinh kỳ để lưu dấu những hoài niệm. Nhớ lần sau cùng được hạnh ngộ Thầy

Bạch Ngọc Hoàng Kim đọc lại và suy ngẫm Thơ thiền Thích Nhất Hạnh; Trà Tì bánh và hoa; Từ Hiếu với người hiền; https://hoangkimvn.wordpress.com/2022/01/22/tu-hieu-voi-nguoi-hien/ Sự nhẫn nhục tuyệt đối https://youtu.be/jyaZuR3vj2o; Chùa Bửu Minh: một số hình ảnh của Lễ nhập kim quan của Trưởng lão Hòa thượng Thích Nhất Hạnh tại Tổ đình Từ Hiếu, Huế https://www.youtube.com/watch?v=t04xsspfQlM Bài phỏng vấn Thiền sư Thích Nhất HạnhThiền sư Thích Nhất Hạnh đã dặn dò …

Thật may mắn của những lần được uống trà ban mai tĩnh lặng tại Từ Hiếu, được lắng nghe những lời dạy thân thiết và những trang văn uyên áo của người Thầy, được tĩnh lặng chứng ngộ pháp môn “cười” và pháp môn “phật giáo dấn thân”. Đời trãi ngộ lắm, thấm thía lắm, sâu sắc lắm mới có được những bài thi kệ thật hiếm có, trân quý như ngọc cho đời “Sinh Tử, cầu Hiểu cầu Thương, Thơ từng ôm và Mặt trời từng hạt” “Đường xưa mây trắng” “Việt Nam Phật Giáo sử luận” “Thả một bè lau”

Đời người hiếm có những dịp may được cùng những người thân chọn về đây, nói chuyện về các điều tâm đắc và lắng nghe trang đời, trang sách, cổ vật trò chuyện Từ Hiếu với Người Hiền xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tu-hieu-voi-nguoi-hien/

Đêm thiêng tưởng nhớ Thầy.
#cnm365 #cltvn An nhiên

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim

“Thung dung cùng với cỏ hoa. Thỏa thuê đèn sách, nhẫn nha dọn vườn”. Cám ơn Trung Trung đã sửa lại câu thơ trên hay hơn và sâu sắc hơn “Thỏa thuê cùng với cỏ hoa.Thung dung đèn sách nhẫn nha dọn vườn”, mình đã sửa lại. Đó là triết lý nhân sinh “Ta về sống giữa thiên nhiên” của một đội ngũ các nhà khoa học xanh người thầy chiến sĩ đã chấp nhận trọn đời sống với ruộng đồng và chén cơm ngon của người dân. Tình yêu cuộc sống thể hiện trong ý tứ ‘thung dung’ đứng đầu câu thơ, lựa chọn cỏ hoa, thiên nhiên, chân quê làm khởi nghiệp. Sự nghiệp ấy gắn liền với cả một đời, một nghề, để sau này nhìn lại. “Xuân đi trăm hoa rụng, Xuân đến trăm hoa cười” ẩn chứa triết lý sâu sắc hơn là “Xuân đến trăm hoa cười, xuân đi trăm hoa rụng”. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491- 1585) “Thanh nhàn vô sự là tiên” trong bài thơ nôm “Chín mươi” có câu: “Chín mươi thì kể xuân đà muộn Xuân ấy qua thì xuân khác còn”. Tăng Quốc Phiên chống quân Thái Bình Thiên Quốc “càng đánh càng thua” nhưng trong bản tấu chương gửi vua thì ông đã quyết ý đổi lại là “càng thua càng đánh”. Việc “đánh thua” thì vẫn vậy nhưng ý tứ của câu sau mạnh hơn hẵn câu trước. Cám ơn bạn về ý THUNG DUNG, mình đưa ý này lên đầu dòng https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

(*) Hình ảnh và chuyện vui chép trong ghi chú: Nhớ kỷ niệm một thời là hôm trước Viện trưởng Trần Thế Thông đưa Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Trìu lên thăm Hưng Lộc thì. ngay hôm sau đó, Pham Sy Tan và Đặng Kim Sơn lại cùng thầy Quyen Mai Van và ông Carangal lên Trung tâm Hưng Lộc trao đổi và bàn chuyện hợp tác phát triển Chương trình Hệ thống Canh tác Việt Nam. (Hình trên là GSTS V. R. Carangal IRRI, người áo đỏ, bìa trái, đang trao đổi trên đồng ruộng với GSTS Mai Văn Quyền IAS, thứ hai phải qua,, TS. Đặng Kim Sơn CLRRI & IPSARD, TS. Phạm Sĩ Tân, CLRRI và TS Hoàng Kim cùng bàn về sự hợp tác IRRI và Việt Nam trong chương trình liên kết nghiên cứu phát triển hệ thống canh tác). Tôi khi đó đã kể lại câu chuyện về ‘xếp’ Thông và cụ Trìu vừa lên thăm hôm qua, và trả lời Sơn, kể chuyện “Ấn tượng Borlaug và Hemingway” với sự đồng cảm thật sâu sắc. “Norman Borlaug nhà khoa học xanh”, “Lời Thầy dặn” thật thấm thía “Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”. Nhớ kỷ niệm một thời không thể nào quên. Đặng Kim Sơn hỏi : Cậu ấn tượng nhất chuyên gì trong chuyến đi học CIMMYT mới đây? Tôi cười nói :”Ấn tượng Borlaug và Hemingway” “Năm tháng ở CIMMYT” . Chuyện “Norman Borlaug nhà khoa học xanh” thầy tới thăm tôi ở nhà riêng là không thể quên. Tôi đọc bốn câu thơ cho thầy Quyen Mai Van, với các bạn Đặng Kim Sơn, Pham Sy Tan cùng nghe và, bất ngờ giáo sư V R Carangal rút bút ra ghi và nói lời đồng cảm.

Ngày 14 &15 tháng 7 là ngày đặc biệt. Hồi tưởng lại còn có hai câu chuyện khác. Đó là ngày Nhớ cụ Nguyễn Ngọc TrìuThầy bạn trong đời tôi của thời điểm này tại năm 1987.

Cụ Nguyễn Ngọc Trìu là một danh nhân (Cụ mất ngày 9/7/2016, đưa tang ngày 14/7/2016) Cụ Nguyễn Ngọc Trìu là một nhân cách lớn như nhà văn Nguyễn Tuân nhận xét: “Trìu làm lãnh đạo nhưng trước hết là một Con Người”. Hình trên là Bộ Trưởng Nguyễn Ngọc Trìu đến Trung tâm Hưng Lộc năm 1987 thăm thành tựu tiến bộ kỹ thuật “trồng ngô lai xen đậu ở vùng Đông Nam Bộ” và mô hình “nghiên cứu phát triển đậu rồng ở các tỉnh phía Nam”. Hai công trình này do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam giới thiệu, đã được Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn công nhận là tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp và được phát triển rộng rãi trong sản xuất, vang bóng một thời..

Cụ Nguyễn Ngọc Trìu là một chính khách lớn, có cuộc đời và sự nghiệp dường như là cụ Nguyễn Công Trứ của thời đại Hồ Chí Minh. Mọi người khi nhắc đến Cụ đều nhớ ngay đến vị Chủ tịch tỉnh Thái Bình sinh ở Tây Giang, Tiền Hải đã làm rạng ngời “quê hương 5 tấn”, nhớ ông Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp trí tuệ, xông xáo và rất biết lắng nghe, sau này làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phụ trách mảng Nông Lâm Ngư nghiệp và Đặc phái viên của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đối với vùng Nam Bộ. Cụ Trìu cũng là Chủ tịch Hội những người làm vườn Việt Nam, nơi tâm nguyện của ông được bạn thơ Thợ Rèn mến tặng’ “Danh vọng hão huyền như mây khói . Làm vườn cây trái để ngàn năm” .Cụ Nguyễn Ngọc Trìu là một nhân cách lớn như nhà văn Nguyễn Tuân nhận xét: “Trìu làm lãnh đạo nhưng trước hết là một Con Người”.

(

Cụ Nguyễn Ngọc Trìu cũng có đến thăm bạn học của tôi là Đinh Thế Lữ (Hoàng Kim với Pham Sy Tan học chung một lớp Trồng trọt 4, chung giường tầng giường dưới giường trên. Tôi học chung lớp Đinh Thế Lữ lớp Trồng trọt 10 sau khi bộ đội sáu năm và cùng chung lớp tiến sĩ với Đặng Kim Sơn, Mai Thành Phụng….Hình ảnh 3 từ trái qua phải: ô Nguyễn Quốc Tuấn PCT nguyên Viên trưởng Cây lương thực. Ô Ngô Thế Dân CT nguyên Thứ trưởng TT Bộ NN & PTNT, Bà Thanh, Ô Nguyễn Ngọc Trìu nguyên Bộ trưởng NN. PCT Hội đồng Bộ Trưởng (Phó Thủ Tướng CP). Ô Lữ. O Bùi Sỹ Tiếu PCT TT nguyên Bí thư TƯ Thái Bình Phó Trưởng Ban TW Đảng) Cụ Nguyễn Ngọc Trìu trước là Chủ tịch Hội Làm Vườn, sau mới đến GS Ngô Thế Dân. Nguồn: https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-cu-nguyen-ngoc-triu/

TA VỀ VỚI ĐỒNG XUÂN
Hoàng Kim

Người khôn về chốn đông người
Cái nhìn thì mỏng, cái cười thì nông
Ta vui ở lại ruộng đồng
Để gieo tục ngữ để trồng dân ca.

Thung dung cùng với cỏ hoa
Thỏa thuê đèn sách, nhẩn nha dọn vườn
Mặc ai tính thiệt so hơn
Bát cơm gạo mới vẫn thơm láng giềng

Thiên nhiên là thú thần tiên
Chân quê là chốn bình yên đời mình
Bạn hiền bia miệng anh linh
Thảnh thơi hưởng trọn ân tình thế gian

Nước trong ngập ánh trăng vàng
Ta ra cởi bỏ nhọc nhằn âu lo
Lợi danh một thực mười hư
Trăm điều ước vọng chỉ phù du thôi

Ung dung thanh thản cuộc đời
Tình quê bồi đắp về nơi sâu đằm
Ta về sống giữa thiên nhiên
Chọn tìm giống tốt đêm nằm chiêm bao.

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

Bài viết này liên quan tới thời điểm của các hình ảnh (1987-1991) Nhớ cụ Nguyễn Ngọc Trìu https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-cu-nguyen-ngoc-triu/ ; Nhớ kỷ niệm một thời xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

Noi tinh yeu bat dau

Nơi tình yêu bắt đầu (ảnh Phan Chí Quyết, bài Hoàng Kim)

ÔNG HỒ SÁU ĐỒNG NAI
(Trò chuyện với Lão Kiếm)

Lão yếu mình gầy may trí ổn
Cụ Nông Hồ Sáu đón xin từ
Thủy Nguyên Long Ngọc An vui khỏe
Thơ cổ Bình Minh #ana chơi.

* Trích Thơ Cụ Phan Khôi
** Nhật Lệ vàng rơi, ảnh Ruc Hung.

ĐẾN CHỐN THUNG DUNG
Hoàng Kim

Người rất muốn đi về trong tịch lặng
Quẳng lại sau lưng nhân thế muộn phiền
Ta đến chốn thung dung tìm hoa lúa
Rong chơi đường trần sống giữa thiên nhiên.

Tâm thanh thản buồn vui cùng nhân thế
Đời Đạo thịnh suy sương sớm đầu cành
Lòng hiền dịu và trái tim nhẹ nhõm
Kho báu chính mình phúc hậu an nhiên.

Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt (*)
Trăng rằm xuân lồng lộng bóng tri âm
Người tri kỷ cùng ta và năm tháng.
Giác Tâm con về còn trọn niềm tin.

VUI BƯỚC TỚI THẢNH THƠI
Hoàng Kim

Thăm người ngọc nơi xa, vùng tỉnh lặng,
Chốn ấy đồng xanh, người đã chào đời.
Nơi sỏi đá, giữa miền thiêng hoa cỏ,
Thiên nhiên an lành, bước tới thảnh thơi.

Sống giữa đời vui, giấc mơ hạnh phúc,
Cổ tích đời thường đằm thắm yêu thương.
Con cái quây quần thung dung tự tại,
Minh triết cuộc đời phúc hậu an nhiên.

Xuân Hạ Thu Đông, bốn mùa luân chuyển
Say chân quê ngày xuân đọc Trạng Trình
Ngày ra ruộng, đêm thì đọc sách.
Ngọc cho đời, giữ trọn niềm tin.

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

TA VỀ VỚi ĐỒNG XUÂN
Hoàng Kim

Người khôn về chốn đông người
Cái nhìn thì mỏng, cái cười thì nông
Ta vui về với ruộng đồng
Để gieo tục ngữ để trồng dân ca.

Thỏa thuê cùng với cỏ hoa
Thung dung đèn sách, nhẫn nha dọn vườn
Mặc ai tính thiệt so hơn
Bát cơm gạo mới vẫn thơm láng giềng

Thiên nhiên là thú thần tiên
Chân quê là chốn bình yên đời mình
Bạn hiền bia miệng anh linh
Thảnh thơi hưởng trọn ân tình thế gian

Nước trong ngập ánh trăng vàng
Ta ra cởi bỏ nhọc nhằn âu lo
Lợi danh một thực mười hư
Trăm điều ước vọng chỉ phù du thôi

Thung dung thanh thản cuộc đời
Tình quê bồi đắp về nơi sâu đằm
Ta vui hạnh phúc trăm năm
Chọn tìm giống tốt đêm nằm chiêm bao.

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là phu-yen-hoi-nghi-tong-ket-khcn-2026-2020-dinh-huong-2021-2025.jpg

PHÚ YÊN NÔI LÚA SẮN
Hoàng Kim


Thông tin Sở Khoa học và Công nghệ Phú Yên, Hội nghị tổng kết hoạt động khoa học và công nghệ Phú Yên giai đoạn 2016-2020; Định hướng phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2021-2025. Sáng ngày 31/12/2021, tại TP Tuy Hòa, UBND tỉnh Phú Yên đã phối hợp với Sở KH&CN tổ chức hội nghị tổng kết hoạt động khoa học và công nghệ Phú Yên giai đoạn 2016-2020; Định hướng phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2021-2025. Hội nghị được tổ chức trực tiếp tại TP Tuy Hòa và kết nối trực tuyến đến các thị xã, huyện trong địa phương cùng đại diện Bộ KH&CN. Chủ trì Hội nghị là đồng chí Đào Mỹ, Phó Chủ Tịch UBND tỉnh Phú Yên và đồng chí Dương Bình Phú, Giám đốc Sở KH&CN, tham dự Hội nghị còn có ông Thân Ngọc Hoàng, Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển Khoa học và Công nghệ địa phương và đại diện lãnh đạo các Sở, Ban, Ngành, đơn vị, doanh nghiệp trong tỉnh; xem tiếp https://khcnpy.gov.vn/hoi-nghi-tong-ket-hoat-dong-khoa-hoc-va-cong-nghe-phu-yen-giai-doan-2016-2020-dinh-huong-phat-trien-ung-dung-khoa-hoc-cong-nghe-va-doi-moi-sang-tao-giai-doan-2021-2025/

Phú Yên nôi lúa sắn https://youtu.be/CKdEr4aS2NA là lời biết ơn chân thành bởi Hoàng Kim và đs. 2021. Hoàng Kim tham dự hội nghị theo giấy mời của Chủ tịch UBND Tỉnh Phú Yên. Chúng tôi lưu trích đoạn lúa sắn thuộc lĩnh vực kỹ thuật công nghệ trong phim của Đài Phát thanh và Truyền hình Phú Yên với Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp thực hiện tháng 12 năm 2021. Phim chiếu tại Hội nghị tổng kết hoạt động khoa học công nghệ giai đoạn 2016-2020, định hướng phát triển ứng dụng KHCN & ĐMST giai đoạn 2021-2025. https://www.youtube.com/embed/CKdEr4aS2NA?version=3&rel=1&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&fs=1&hl=vi&autohide=2&wmode=transparent Phú Yên nôi lúa sắn https://youtu.be/CKdEr4aS2NA

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là nang-moi-1-e1589670316958.jpg

NẮNG MỚI
Hoàng Kim

Mưa ướt đất lành nắng mới lên
Đêm thương sương rụng nhắc ngoài hiên
Núi trùm mây khói trời chất ngất
Ngày tháng thung dung nhớ bạn hiền

Ban mai tỉnh thức chim kêu cửa
Hoa rắc bên song đẫm nước non
Ô hay gió mát hương trời biển
An giấc đêm ngon chí vẫn nồng …

THUNG DUNG CHÀO NGÀY MỚI
Hoàng Kim


Hoàng Gia Ngọc Phương Nam
Chốn vườn thiêng cổ tích
Thung dung chào ngày mới
Thanh nhàn cùng tháng năm

KHÁT KHAO XANH
Kim Hoàng

KHÔNG chuông nhỏ reo ngân
Hạc vàng khô chén ngọc
Không một vì sao đêm
Tim soi đường tiến bước

KHÔNG một trời khát vọng
Nước mắt chảy vào trong
Tận tâm chăm mầm sống
Thao thức mong tiếng lòng.

KHÔNG một cơn mưa nhỏ
Mồ hôi làm cơn mưa
Đời buông tay chẳng dễ
Trời xanh không phụ lòng

KHÁT khao xanh ước mơ
Đất cảm người thương mến
#Thungdung tròn giấc ngủ
Hoàng Thành rừng Trúc Lâm

ĐỢI MƯA

Khát khao ngóng sớm chờ trưa
Sắn trồng nửa tháng đợi mưa cháy lòng
Mía xơ xác khắp cánh đồng
Đất rang rẫy nóng, trời nồng nực oi.

Lúa non ruộng nứt nẻ rồi
Suối khô, hồ cạn, người người ngóng trông
Tiếng ve ngằn ngặt trưa nồng
Mấy khi tháng bảy lại mong mưa rào?

Thương mình, thương kẻ khát khao
Mưa ơi, ngóng đợi lặn vào giấc mơ.

*
Đời gừng cay muối mặn
Cha chăm tưới mỗi ngày
Mẹ siêng từng mầm sống
Con một đời rưng rưng

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hanh-phuc-khat-khao-xanh/

MỘT GIA ĐÌNH YÊU THƯƠNG

Bảo tồn và phát triển
Một gia đình yêu thương
Việt Nam tổ quốc tôi
Bài học lớn muôn đời

Hoàng Gia Ngọc Phương Nam
Hậu duệ của mặt trời
Đất Mẹ vùng di sản
Hà Nội mãi trong tim


An Viên Ngọc Quan Âm

Đi Dưới Trời Minh Triết

#Annhiên
HOÀNG THẠCH CHÂN QUÂN TRUYỆN


Đá vàng thương củ sắn khoai
Nhớ bông hoa súng thắp hoài ao sen

Văn chương nết đất, thơ hiền
Lão Nông dạy học vững bền #Thungdung

*

Thầy Trao Gương Bạch Ngọc
Trăng Xuân Soi Đường Trần
Thiên Mệnh Sáng Sử Ký
Hoàng Gia Ngọc Phương Nam

Viên Minh Đêm Sương Giáng
Hạc Vàng Đón Người Thân
Vượt Trăm Năm Viên Mãn
Rằm Trọn Thời Thanh Minh

Thầy Cây Lương Thực Việt
Nghề Giáo Dưỡng Nhân Tâm
Nghiệp Vinh Danh Khoai Sắn
Lúa Ngô Thành Trúc Lâm

Thiền Sư Lão Nông Tăng
Khuyên giờ lành tỉnh thức
Noi theo dấu chân Bụt
#Thungdung#annhiên

Hoàng Kim
Vietnam my homeland
Văn chương nết đất. Trà sớm với Lão Nông

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/một gia đình yeu-thuong.

Ngày giỗ Tổ Bà Hoàng Thị Thớc ngày 17 tháng Chạp nhằm ngày Tảo Mai (lặt là mai sáu ngày trước ngày Táo Quân lên Tết Trời) Ngày giỗ Tổ Ông Hoàng Nhụy ngày 20 tháng 7 âm lịch. Ngày giỗ Tổ Ông Trần Tươu ngày Tết Đoan Ngọ 5 tháng 5 âm lịch, Ngày giỗ Tổ Bà Mạc Thị Quynh ngày 10 tháng 2 âm lịch, xem Một gia đình yêu thương

Hoàng Mạnh Tường giỗ Mạ 12 5 Giáp Thìn
Hôm nay con cháu đủ đàn /Vẫn chưa trọn hiếu một lần Mạ vui
(Văn Nghệ Quảng Minh tập 19 trang 66)


Ngày Giỗ Mạ
Hoàng Mạnh Tường


Con đi viếng Mạ Mạ ơi
Dĩa trầu cau cánh hoa tươi kính Người
Mấy chục năm Mạ đi rồi
Cây nhang nắm đất lệ rơi nhạt nhòa


Âm dương cách trở sơn hà
Nhìn lên di ảnh xót xa cõi lòng
Căn nhà ở lại quê hương
Mạ đi để nỗi nhớ thương đêm ngày


Nhìn từng ngọn cỏ gốc cây
Bóng hình của Mạ nơi này chốn kia
Tấm thân còm cõi nắng mưa
Khăn đen một chiếc sớm trưa đội đầu


Cả ngày bỏm bẻm nhai trầu
Bữa cơm con cá cọng rau đủ rồi
Một đời khó nhọc Mạ ơi
Một đời góa bụa không lời thở than


Hôm nay con cháu đủ đàn
Vẫn chưa trọn HIẾU một lần Mạ vui
Nhớ Mạ nước mắt tuôn rơi
Nhìn quanh một nẽo đất trời quạnh hiu.


Giỗ Mạ 12/5 Giáp Thìn
Thăm Mạ 22 tháng Chạp Giáp Thìn (nhằm ngày 21/1/2025)


Nhớ Ông Bà Cậu Mợ
Hoàng Kim

Minh Lễ thái hòa (*) Minh Lệ đây
Lời vàng bóng hạc lắng thơ hay
“Tổ tiên công đức muôn đời thịnh
Con cháu thảo hiền vạn kiếp vinh”
“Mạc Tộc dựng xây thiên kỷ tạc.
Hoàng Gia bồi đắp vạn đời ghi”

Chân thiện mỹ đức dày tâm sáng
Phước lộc thọ trí huệ anh minh.


(*) Một Gia Đình Yêu Thương Đá Vàng Với Ban Mai

BAN MAI CHÀO NGÀY MỚI
Tình yêu cuộc sống https://hoangkimlong.wordpress.com; Điểm nhấn cập nhật nổi bật #cnm365 https://cnm365.wordpress.com Minh Nga thăm Đồng Nai 20-21.3. 2023

HOÀNG GIA NGỌC PHƯƠNG NAM
Bạch Ngọc Hoàng Kim (kể chuyện ảnh, chương 1)

Gia đình chúng tôi Hoàng gia Ngọc phương Nam có bốn tộc Hoàng, Trần, Lê, Nguyễn. Bố tôi với bác tôi và người em gái bố đều rất nghèo. Bác tôi là thầy đồ nho dạy học chữ Tàu thuở tiếng Tây lên ngôi nên nhà sa sút. Cô tôi đi ở và lấy chồng Phong Nha Kẻ Bàng. Bố tôi lấy mẹ tôi cũng là người đi ở cho địa chủ và nghề của bố là chuyên chèo đò khuya chợ Mới chợ Troóc từ ngã ba nguồn Son tới Phong Nha và kịp về làm nông để nhận công điểm hợp tác xã. Bố chết bom năm 1968. Trần là họ mẹ, gốc gác họ Trần có từ thời vua Trần Dụ Tông chết trận khi đánh Chiêm Thành thì vợ vua không về Bắc nữa mà ở lại thành tộc Trần. Năm gia tộc ở Làng Minh Lệ là Trần, Hoàng, Trương, Nguyễn và Hoàng chi Mạc tộc, hậu duệ của mặt trời, viễn tỗ Mạc Đỉnh Chi và Thái tổ Mạc Đăng Dung . Cũng có thêm chi tiết của Mạc Cảnh Huống và Mạc Thị Gái nhưng sự kiểm chứng nguồn gốc Trần, Hoàng còn cần thêm thời gian. Lê là họ chị dâu cả Lê Thị Muôn của gia đình tôi là dân xứ biển ngoại hải Quảng Thuận gần Ba Đồn, cũng là họ chị dâu cả Lê Thị Nga của nhánh bà Trần em Làng Minh Lệ ở Hà Nội, tộc #nguyengia. . Nguyễn là họ vợ tôi và họ của chồng chị gái Hoàng Thị Huyền. “Chúng tôi sinh thành ở Quảng Bình… Nhà mình ở ngã ba sông.Rào Nan chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình. Nay thì đoàn tụ đất phương Nam. Gia đình chúng tôi đi như một dòng sông, gìn giữ nếp nhà chân chính nhân hậu; 

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/mot-gia-dinh-yeu-thuong-2 & https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoanggia & https://youtu.be/UwspPNJwge8

MỘT GIA ĐÌNH YÊU THƯƠNG
Bạch Ngọc Hoàng Kim
(kể chuyện ảnh, chương 2)

Hoàng Ngọc Dộ khát vọng .Hoàng Ngọc Dộ (1937-1994) là nhà giáo. Ông quê ở xã Quảng Minh, huyện Quảng Trạch (nay là thị xã Ba Đồn), tỉnh Quảng Bình. Mẹ mất sớm. Nhà nghèo. Cha bị bom Mỹ giết hại. Ông đã nổ lực nuôi dạy các em vượt qua gian khổ, nghèo đói và chiến tranh để vươn lên trở thành những gia đình thành đạt và hạnh phúc. Gương nghị lực vượt khó hiếm thấy, ăn ngày một bữa suốt năm năm, nuôi hai em vào đại học với sự cưu mang của thầy bạn và xã hội đã một thời lay động sâu xa tình cảm thầy trò Trường Cấp Ba Bắc Quảng Trạch (Quảng Bình). Ông mất sớm, hiện còn lưu lại gần 100 bài thơ. Lời thơ trong sáng, xúc động, ám ảnh, có giá trị khuyến khích những em học sinh nhà nghèo, hiếu học. Anh Hai Hoàng Ngọc Dộ cũng là người Thầy dạy học đầu tiên cho Hoàng Kim: “Dặn con cháu khiêm nhu cần kiệm”; “Cảnh mãi đeo người được đâu em Hết khổ, hết cay, hết vận hèn Nghiệp sáng đèn giời đà chỉ rõ Rồi đây cay đắng chẳng buồn chen”;”Không vì danh lợi đua chen. Thù nhà nợ nước quyết rèn bản thân”; “Soi mặt mình trong gương không bằng soi mặt mình trong lòng người”; “Có những di sản tỉnh thức cùng lương tâm, không thể để mất vì không thể tìm lại“. Hoàng Ngọc Dộ Khát vọng https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoang-ngoc-do-khat-vong

KHÁT VỌNG
Hoàng Ngọc Dộ

Cảnh mãi theo người được đâu em
Hết khổ hết cay hết vận hèn
Nghiệp sáng đèn giời đà chỉ rõ
Rồi đây cay đắng chẳng buồn chen.

ÁNH SAO
Hoàng Ngọc Dộ


Bóng đêm trùm kín cả không trung
Lấp lánh phương Đông sáng một vừng
Mây bủa, mây giăng còn chẳng ngại
Hướng nhìn trần thế bạn văn chương.

LỜI NGUYỀN
Hoàng Ngọc Dộ

Không vì danh lợi đua chen
Thù nhà, nợ nước, quyết rèn bản thân!

Ước hẹn anh em một lời nguyền
Thù nhà đâu sá kể truân chiên
Bao giờ đền được ơn trung hiếu
Suối vàng nhắm mắt mới nằm yên.

CHÙM THƠ VỀ MẠ
Hoàng Ngọc Dộ

Chẵn tháng

Đã chẵn tháng rồi, ôi Mạ ôi!
Tuần trăng tròn khuyết đã hết rồi
Mà con không thấy đâu bóng Mạ
Thấy trăng vắng Mạ dạ bùi ngùi.

Năm mươi ngày

Năm mươi ngày chẵn thấm thoắt trôi
Mạ về cỏi hạc để con côi
Vầng trăng tròn trặn vừa hai lượt
Vắng Mạ, lòng con luống ngậm ngùi.

Đọc sách

Con đọc sách khuya không nghe tiếng Mạ
Nỗi tâm tư con nghĩ miên man
Lúc Mạ còn, con bận việc riêng con
Không đọc được để Mạ nghe cho thỏa dạ.

Nay con đọc, vắng nghe tiếng Mạ
Nỗi bùi ngùi lòng dạ con đau
Sách mua về đọc Mạ chẵng nghe đâu
Xót ruôt trẻ lòng sầu như cắt.

Mạ ơi Mạ, xin Mạ hãy nghe lời con đọc.

Buồn

Buồn khi rão bước đồng quê
Buồn khi chợp mắt Mạ về đâu đâu
Buồn khi vắng Mạ dạ sầu
Buồn khi mưa nắng giải dầu thân Cha
Buồn khi sớm tối vào ra
Ngó không thấy Mạ, xót xa lòng buồn.

CHIA TAY BẠN QÚY
Hoàng Ngọc Dộ

Đêm ngày chẳng quản đói no
Thức khuya dậy sớm lo cho hai người
Chăm lo văn sách dùi mài
Thông kim bác cổ, giúp đời cứu dân

Ngày đêm chẵng quản nhọc nhằn
Tối khuyên, khuya dục, dạy răn hai người
Mặc ai quyền quý đua bơi
Nghèo hèn vẫn giữ trọn đời thủy chung

Vận nghèo giúp kẻ anh hùng
Vận cùng giúp kẻ lạnh lùng vô danh
Mặc ai biết đến ta đành
Dăm câu ca ngợi tạc thành lời thơ

Hôm nay xa vắng đồng hồ
Bởi chưng hết gạo, tớ cho thay mày
Mày tuy gặp chủ tốt thay
Nhớ chăng hôm sớm có người tri ân.

THỨC EM DẬY
Hoàng Ngọc Dộ

Đã bốn giờ sáng
Ta phải dậy rồi
Sao mai chơi vơi
Khoe hào quang sáng

Ta kêu Kim dậy
Nó đã cựa mình
Vớ vẫn van xin
Cho thêm chút nữa.

Thức, lôi, kéo, đỡ
Nó vẫn nằm ỳ
Giấc ngủ say lỳ
Biết đâu trời đất

Tiếc giấc ngủ mật
Chẳng chịu học hành
Tuổi trẻ không chăm
Làm sao nên được

Đêm ni, đêm trước
Biết bao là đêm
Lấy hết chăn mền
Nó say sưa ngủ

Ta không nhắc nhủ
Nó ra sao đây
Khuyên em đã dày
Nó nghe chẳng lọt

Giờ đây ta quyết
Thực hiện nếp này
Kêu phải dậy ngay
Lay phải trở dậy

Quyết tâm ta phải
Cố gắng dạy răn
Để nó cố chăm
Ngày đêm đèn sách

Ta không chê trách
Vì nó tuổi thơ
Ta không giận ngờ
Vì nó tham ngủ

Quyết tâm nhắc nhủ
Nhắc nhủ, nhắc nhủ …

NẤU ĂN
Hoàng Ngọc Dộ

Ngày một bữa đỏ lửa
Ngày một bữa luốc lem
Ngày một bữa thổi nhen
Ngày một bữa lường gạo
Ngày một bữa tần tảo
Ngày một bữa nấu ăn.

(*) 5 năm cơm ngày một bữa

Trích: Khát vọng I Thi Viện
http://www.thivien.net/…/Kh%C3…/topic-jvbfrjspi2Y6S8b3jeqzpA

GỐC MAI VÀNG TRƯỚC NGÕ
Hoàng Kim

“Anh trồng gốc mai này cho em!” Anh cả của tôi trước khi mất đã trồng tặng cho tôi một gốc mai trước ngõ vào hôm sinh nhật con tôi. Cháu sinh đêm trước Noel còn anh thì mất lúc gần nửa đêm trăng rằm tháng giêng, trùng sinh nhật của tôi. Anh trò chuyện với anh Cao Xuân Tài bạn tôi trong khi tôi cùng vài anh em đào huyệt và xây kim tỉnh cho anh. Nhìn anh bình thản chơi với các cháu, tôi nao lòng rưng rưng. Chưa bao giờ và chưa khi nào tôi thấm thía những bài thơ về hoa mai cuối mùa đông tàn bằng lúc đó. Anh đi rằm xuân1994 do căn bệnh ung thư hiểm nghèo khi các con anh còn thơ dại.

Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết

Bài kệ “Cáo tật thị chúng” (Cáo bệnh với đệ tử) của thiền sư Mãn Giác (1052 – 1096) trong Thiền Uyển Tập Anh và lời bình của anh về nhân cách người hiền, cốt cách hoa mai đã đi thẳng vào lòng tôi:

Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai.
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười
Trước mặt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai.

(Bản dịch của Ngô Tất Tố)
Khi Lâm Cúc và anh Đình Quang trao đổi về chủ đề hoa mai, mạch ngầm tâm thức trong tôi đã được khơi dậy như suối nguồn tuôn chảy.

Đêm qua sân trước một cành mai

Thiền sư Mãn Giác viết bài kệ “Cáo tật thị chúng” khi Người 45 tuổi, sau đó Người đã an nhiên kiết già thị tịch. Bài thơ kiệt tác vỏn vẹn chỉ có sáu câu, ba mươi tư chữ, bền vững trãi nghìn năm. Đối diện với cái chết, thiền sư ung dung, tự tại, thấu suốt lẽ sinh tử: Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết / Đêm qua sân trước một cành mai.

Lời thơ thanh thoát, giản dị một cách lạ lùng! Thực tế cuộc sống đã được hiểu đầy đủ và rõ ràng. Bản tính cuộc sống là hạnh phúc và đau khổ, vui vẻ và phiền muộn, sự thiếu hoàn thiện và luôn vô thường. Xuân đi trăm hoa rụng/ xuân đến trăm hoa cười/ trước mặt việc đi mãi/ trên đầu già đến rồi. Đó là qui luật muôn đời, hoa có tàn có nở, người có diệt có sinh. Hạnh phúc cuộc sống là phong thái luôn vui vẻ và sung sướng, thanh thản và thung dung, không lo âu, không phiền muộn. Sống với một tinh thần dịu hiền và một trái tim nhẹ nhõm.

Tình yêu cuộc sống thể hiện trong ý xuân và trật tự các câu thơ.“Xuân đi trăm hoa rụng/ xuân đến trăm hoa cười” ẩn chứa triết lý sâu sắc hơn là “Xuân đến trăm hoa cười, xuân đi trăm hoa rụng/”. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585) trong bài thơ nôm “Chín mươi” có câu: “Chín mươi thì kể xuân đà muộn/ Xuân ấy qua thì xuân khác còn”. Tăng Quốc Phiên chống quân Thái Bình Thiên Quốc “càng đánh càng thua” nhưng trong bản tấu chương gửi vua thì ông đã quyết ý đổi lại là “càng thua càng đánh”. Việc “đánh thua” thì vẫn vậy nhưng ý tứ của câu sau mạnh hơn hẵn câu trước.

Hoa mai là biểu tượng của mùa xuân, của sự may mắn, vui tươi và trường thọ. Cành mai ẩn tàng thông điệp của mùa xuân. Hoa mai vừa có cốt cách, vừa đẹp thanh nhã, vừa có hương thơm và nở sớm nhất trong các loại hoa xuân. Vì vậy, hoa mai đã được chọn để biểu hiện cho cốt cách thanh cao của người hiền. Hoa mai, hoa đào, hoa lê, hoa mận có nhiều loài với vùng phân bố rộng lớn ở nhiều nước châu Á nhưng chỉ riêng mai vàng là đặc sản của Việt Nam, trong khi mai trắng và hoa đào là phổ biến tại Trung Quốc, Nhật Bản, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc và các nước Trung Á.

Mai vàng hoa xuân của Tết Việt

Mai vàng là đặc sản Việt Nam. Hoa mai, hoa đào, bánh chưng là hình ảnh Tết cổ truyền của dân tộc Việt. Hoa mai là một trong bốn loài hoa kiểng quý nhất (mai, lan, cúc, trúc) của Việt Nam đặc trưng cho bốn mùa. Hoa mai gắn liền với văn hóa, đời sống, tâm linh, triết lý sống, nghệ thuật ứng xử, thơ văn, nhạc họa. Hiếm có loài hoa nào được quan tâm sâu sắc như vậy

“Nghìn dặm tìm anh chẳng gặp anh. Đường về vó ngựa dẫm mây xanh. Qua đèo chợt gặp mai đầu suối . Đóa đóa vàng tươi xuân thắm cành” (Hồ Chí Minh 1890-1969); “Đêm qua sân trước một nhành mai” (Mãn Giác 1052-1096) “Lâm râm mưa bụi gội cành mai” (Trần Quang Khải 1241-1294); Ngự sử mai hai hàng chầu chắp/ Trượng phu tùng mấy rặng phò quanh” (Huyền Quang 1254-1334); Quét trúc bước qua lòng suối/ Thưởng mai về đạp bóng trăng” (Nguyễn Trãi 1380-1442); “Cốt cách mai rừng nguyên chẳng tục”( Nguyễn Trung Ngạn 1289-1370); “Mai cốt cách, tuyết tinh thần” (Nguyễn Du 1765-1820) “Nhờ chúa xuân ưu ái/ Xếp đứng đầu trăm hoa/ Chỉ vì lòng khiêm tốn/ Nên hẵng nở tà tà” (Phan Bội Châu 1867-1940); “Mộng mai đình” (Trịnh Hoài Đức 1725-1825) ; “Non mai rồi gửi xương mai nhé/ Ước mộng hồn ta hóa đóa mai” (Đào Tấn 1845-1907); “Một đời chỉ biết cúi đầu vái trước hoa mai” (Cao Bá Quát 1809-1855) “Hững hờ mai thoảng gió đưa hương” (Hàn Mặc Tử 1912-1940) “Tìm em tôi tìm/ Mình hạc xương mai”(Trịnh Công Sơn 1939-2001),…

Gốc mai vàng trước ngõ. Rằm xuân lại nhớ anh. Cành mai rung rinh quả. Xuân sang lộc biếc cành. … Vườn nhà buổi sáng xuân nay. Nước xao tăm cá, mai đầy nắng xuân. Mẹ gà quấn quýt đàn con. Đất lành chim đậu, lộc xuân ân tình.

MẸ ĐI THANH THẢN CHÚNG CON NHỚ NGƯỜI
Hoàng Trung Trực kính nhớ Mẹ

Mẹ đi về chốn vĩnh hằng
Quên đi bao nỗi nhọc nhằn Mẹ ơi
Thế là Mẹ đã xa rồi
Vành khăn tang thấm nghĩa đời chúng con

Tháng ngày lời Mẹ chẳng còn
Mẹ đi thanh thản, chúng con nhớ người
Gần trăm năm sống với đời
Biết bao gian khổ cuộc đời Mẹ lo

Có ngày cơm chẳng đủ no
Vầng trăng trí tuệ Mẹ lo chu toàn
Cho con khôn lớn bình an
Vượt lên số mệnh, hiên ngang với đời

Kiến thức khoa học sáng ngời
Hiền tài giúp nước, giúp đời Mẹ ơi!

VIẾNG MỘ CHA MẸ
Thơ anh Hoàng Trung Trực

Dưới lớp đất này là mẹ là cha
Là khởi phát đời con từ bé bỏng
Là lời mẹ ru dịu dàng cánh võng
Là gươm đao cha một thuở đau đời

Hành trang cho con đi bốn phương trời
Là nghĩa khí của cha, là nhân từ của mẹ
Vẫn bầu sữa tinh thần không ngừng không nghỉ
Để hành trang cho con đi tiếp cuộc đời

Cuộc đời con bươn chãi bốn phương trời
Nay về lại nơi cội nguồn sinh trưởng
Dâng nén hương mà lòng hồi tưởng
Thuở thiếu thời dưới lồng cánh mẹ cha

“Ước hẹn anh em một lời nguyền
Thù nhà đâu sá kể truân chiên
Bao giờ đền được ơn trung hiếu
Suối vàng nhắm mắt mới nằm yên”.

xem tiếp Hoàng Trung Trực đời lính https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoang-trung-truc-doi-linh/

LỜI DÂNG NHỚ CỤ MẠ

Tổ tiên công đức muôn đời thịnh
Con cháu thảo hiền vạn kiếp vinh
Bắc Trung Nam Hải hai bầu sữa
Hoàng Trần Lê Nguyễn một con đường
Cụ Mạ chở che tròn Nam Bắc
Anh Em thân thiết suốt tháng năm
Làng Minh Lệ Quê Tôi Hoa Đất
Quảng Bình Đất Mẹ Ơn Người

HAI BÀ TRẦN LÀNG MINH LỆ

Quê hương Làng Minh Lệ, xã Quảng Minh, thị trấn Ba Đồn tỉnh Quảng Bình có hai bà Trần chị em ruột con ông cố Giản ((cậu em út Trần Qua mất sớm) Hai bà Trần sinh thành tổng cộng chín người con nay đều thành đạt hạnh phúc. Một gia đình yêu thương lưu truyện trong gia đình quyến thuộc nếp nhà chân chính cho con cháu bồi đắp điều lành lánh dữ để bảo tồn và phát triển bền vững. Bà Trần chị là Trần Thị Giản (1917-1964) lấy chồng là Hoàng Hữu Chư (1913-1968) chính chủ #hoànggia đã sinh thành chín người con, nhưng do nghèo đói và chiến tranh mà bốn người con không qua khỏi từ thuở nhỏ, chỉ dưỡng dục được năm người con, an cư lập nghiệp tại Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh. Tên gọi của năm người con của bà Trần chị gọi theo thứ bậc Nam Bộ không cần lưu danh là anh Hai, chị Ba, anh Tư, chị Năm và anh Sáu. Bà Trần em sinh thành bốn người con trai, đang an cư lập nghiệp tại thủ đô Hà Nội, gọi theo thứ bậc Việt Nam không lưu danh là anh Bảy, anh Tám, anh Chín, anh Mười,

MỪNG ĐÓN CẬU MẸ
Thơ em Nguyễn Hữu Khánh


Lòng Cậu Mẹ mênh mông như trời rộng
Phủ ấm cháu con suốt cả một đời
Và ngay cả khi Cậu Mẹ đã về Trời 🙏

Tròn 10 năm Cậu vân du * cùng Mẹ
Trong tâm tưởng con Cậu Mẹ vẫn về đây
Về với cháu con trong những dịp sum vầy
Như hôm nay, ngày gia đình họp mặt.

Trong vấn vít khói hương trầm thơm ngát
Con thấy Cậu vui, mắt miệng cùng cười
Bỏm bẻm nhai trầu như thường thấy trong đời
Mẹ ngồi đó nhìn cháu con trìu mến.

Con lại thấy ký ức xưa hiện đến
Chủ nhật cả nhà bên nồi canh chua đầu cá thật “to”
“Đặc sản” nhà mình thường là đầu, thủ, chân giò
Những thực phẩm ít gia đình muốn lấy
Nhưng nhà mình đông con, biết sao, đành vậy
Lấy loại nhiều xương khối lượng được nhân đôi
Nhọc nhằn nuôi 4 con khôn lớn thành người.

Khó khăn vượt qua rồi
Mong Cậu Mẹ giờ chỉ còn thanh thản tiếng cười
Nhà mình vững vàng hơn
Luôn mừng đón Cậu Mẹ về thăm
Các cháu con gắng học giỏi, làm chăm
Để thêm nhiều niềm vui dâng Cậu Mẹ.

Làn khói trầm vẫn vờn bay nhè nhẹ
Tỏa hương thơm ngan ngát trong nhà./.

* Vân du tiên cảnh cõi VĨNH HẰNG
Giỗ Cậu lần 10 – 10/10/2020 AL
Giỗ Mẹ Liên 4 -7 AL (nhằm ngày 11/8/2021)
Giỗ Mẹ Giản (chị ruột mẹ Liên) ngày 3 -1 Tết AL (Canh Thìn 1963)
Giỗ Cụ (chồng mẹ Giản) bị bom Mỹ giết hại ngày 29 -8 Mậu Thân AL (1968)

Bác Giáp & Ba của Honghoa Le cùng với Nga LêTra Le & Ban lãnh đạo Đoàn chuyên gia QS 959 & CP 38 -TW bàn KH tác chiến … Tại chiến trường Lào… (Thông tin tích hợp tại Nga Lê, Một gia đình yêu thương & #cnm365 #cltvn 5 tháng 11

Một gia đình yêu thương. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/mot-gia-dinh-yeu-thuong/ Ngày nhớ Mẹ kính yêu, Nam Nguyen đang cảm thấy biết ơn cùng Nguyen Chien Thang và 10 người khác.

Mẹ tôi …. Nếu trên thế gian này có những người Phụ nữ sinh ra là để hy sinh tất cả cho Chồng, cho Con – thì một trong số đó là Mẹ tôi. Sự hy sinh vô bờ bến và không đòi hỏi, không điều kiện gì cả với Chồng, với các con. Chúng tôi lớn lên dưới sự chở che của Mẹ, không bị thúc ép về học hành, không bị yêu cầu phải là con ngoan, trò giỏi. Trong sự bao dung không lời của Mẹ, chúng tôi đọc được, hiểu được mình phải lớn lên, phải trưởng thành như những người có ích là việc đương nhiên. Mẹ dạy chúng tôi tính nhẫn nại, sự quan tâm đến người khác, tinh thần trách nhiệm với công việc, với mọi người xung quanh …. Tôi nhớ mãi thời những năm 70-80 thế kỷ trước, mặc dù để lo cho 4 cậu con trai tuổi ăn, tuổi ngủ là vô cùng vất vả. Nhưng Mẹ vẫn vui vẻ đón tiếp các cháu họ hàng từ quê hương ra học tập / công tác ở Hà Nội (Quê tôi ở Quảng Bình). Giữa Hà Nội (Hồ Đống Đa), mà cả nhà phải trồng rau muống & chăm lợn để có thêm thực phẩm cho GIa đình, nhưng Mẹ chưa bao giờ phàn nàn khi đón tiếp các cháu, con ở xa về. Nhà tôi luôn là trạm đón tiếp nhiệt tình & trung tâm của Họ hàng tại Hà Nội. Không ngần ngại khi chia sẽ cân gạo, gói quà cho hàng xóm, láng giềng xung quanh. Chúng tôi tự hào khi Bà con chòm xóm trường Nguyễn Ai Quốc X đều thể hiện sự yêu quý mỗi khi nói về Bà. Các cháu họ hàng thì luôn yêu quý, kính trọng Bà. Có thể chính vì vậy, mà cuộc sống của 4 AE tôi cũng được hanh thông hơn. Cổ nhân có câu “Phúc Đức tại Mẫu”, chắc là vậy.Mẹ tôi có mong ước lớn là có được 1 cô con gái, nhưng may mắn thay 😀, đứa em sau tôi lại là … con trai. Chú Thắng, để sau này tôi còn có thằng em để huấn luyện đánh nhau. Vì oánh lại các ông Anh là không lại được. Mẹ luôn để AE tôi tự xử, tự sắp đặt trật tự quyền lực trong 4 AE. Và chúng tôi đã sống vui, sống khỏe trong hòa bình mà không cần sự can thiệp của Bố Mẹ. Chúng tôi rất ân hận vì không được là con gái để chăm sóc Mẹ chu đáo hơn. Đặc biệt, mỗi khi Mẹ ốm là 4 ông con lộc ngộc cứ đi vòng quanh hỏi han, chứ không chải tóc, bóp chân bóp tay cho Mẹ như con gái được. Để bù đắp cho Mẹ, mấy AE tôi quyết định chỉ cần Bác cả đẻ con trai (nối dõi tông đường), còn 3 AE mỗi thằng 2 cô con gái cho Mẹ vui lòng 😘 Chúng tôi biết rằng dù lớn đến đâu, ở cương vị nào trong xã hội, thì đối với Mẹ chúng tôi vẫn luôn bé nhỏ như ngày nào….Với các con dâu, Mẹ tôi đối xử bình đẳng và luôn bênh các con dâu so với con trai. Có thể Văn hoá ứng xử mỗi nhà mỗi khác, nhưng Mẹ tôi luôn lấy sự ấm cúng làm trọng, nên Bà không bao giờ bắt bẻ con dâu. Cái gì bỏ qua được là bỏ qua. Lấy cái lớn làm trọng. Mặt khác, có lẽ Mẹ tôi đã thấy trước là khi Mẹ nằm xuống thì với bản tính hiền lành, bao dung AE chúng tôi cũng nhường quyền quản lý gia đình cho Vợ…. 😀Mẹ tôi khi thanh niên là 53 kg. Mà sau khi sinh, chăm sóc 4 đứa con trưởng thành và về già thì còn có 36 kg. Hình ảnh Bà lúc gần 80 tuổi, bỏm bẻm nhai trầu. quan sát chỉ đạo chị giúp việc chăm sóc Chồng cứ đọng mãi trong tôi. Thỉnh thoảng Bà còn ra ngồi quán Bia hơi ở Chợ Thái Hà nhâm nhi cốc Bia. Bà chỉ uống 1 cốc thôi. Hỏi thì Bà nói để xem XH có gì thay đổi, mới không. Có lẽ tôi hay đi nhậu với bạn bè cũng là do….. di truyền Xin được kính cẩn thắp nén nhang nhớ về Mẹ nhân ngày Giỗ thứ 17 giữa mùa Covid !(4/7/2004-4/7/2021)

hoangkimhonoi
nguyenhuuminh1

TIỄN EM VÀO TRẬN ĐÁNH
Hoàng Kim gửi Chiến Thắng

Tiễn em vào trận đánh
Tím một trời yêu thương
Chợt gặp mai đầu suối
Đêm mai là trăng rằm

Ngày mới lời yêu thương
Người vịn trời chấp sói
Ngôi sao mai chân trời
Giấc mơ lành yêu thương

Tiễn em vào trận đánh

Ngày giỗ của Tổ Bà ngày 17 tháng Chạp hôm nay nhằm ngày Tảo Mai (lặt là mai sáu ngày trước ngày Táo Quân lên Tết Trời) https://cnm365.wordpress.com/2024/01/27/cnm365-cltvn-27-thang-1/ xem thêm Một gia đình yêu thương

BAN MAI CHÀO NGÀY MỚI
Tình yêu cuộc sống https://hoangkimlong.wordpress.com; Điểm nhấn cập nhật nổi bật #cnm365 https://cnm365.wordpress.com Minh Nga thăm Đồng Nai 20-21.3. 2023

Minh Nga về Hà Nội “Không phụ lòng người lá và cây trải qua chặng đường toàn 34-35 độ C Về đến Hà Nội vẫn xanh tươi . Cám ơn quà xứ Nam. Quyết định đi vội không mang đủ quà Hà Nội cho mọi người. Nhưng Hà Nội có quà gì nhỉ ngoài không khí ô nhiễm và trái cây toàn có tẩm thuốc bảo quản hu hu. Hy vọng trồng được cây, sợ khó đây !!”

“Hôm qua đến thăm gia đình bác Trực lúc 4:30 chiều, tiếp đó thì đến nhà bác Huyền. Được gặp đầy đủ các anh chị và các cháu. Em Minh và Nga kết thúc một chuyến đi rất thành công cho dù thời gian còn chật hẹp! Thật xúc động khi được gặp lại các anh chị em và các cháu ở đất phương Nam sau nhiều năm! Được thấy các anh chị em và các cháu mọi việc đều ổn, Các anh chị tuy tuổi đã cao, sức khỏe có yếu đi, nhưng tinh thần vẫn lạc quan, vui vẻ, em thực sự rất mừng. Một lần nữa cám ơn hai bác Kim+Thủy và toàn bộ các anh chị em và các cháu ở Đồng Nai đã chu đáo giúp chúng em thực hiện được chuyến thăm đầy ý nghĩa này! Mong chúc cho đại gia đình ta sức khỏe dồi dào, làm ăn ngày càng tấn tới và cuộc sống hạnh phúc! Mong sớm gặp lại toàn thể các anh chị em và các cháu!”

AN VIÊN NGỌC QUAN ÂM
Bạch Ngọc Hoàng Kim
(kể chuyện ảnh, chương 3)

Ngày mồng Ba Tết Tân Sửu 2021 là ngày giỗ Mẹ của gia đình chúng tôi trùng ngày Tình Yêu 14 tháng 2. Gia đình của các cháu Mai Xuân Trường & Hoàng Thị Hòa. Mai Hoàng Quỳnh, Mai Hoàng Sơn, Mai Hoàng Ánh giao cho chúng tôi một pho tượng lớn đức Mẹ Ngọc Quan Âm chạm khắc tuyệt đẹp trên gỗ quý gõ đỏ (hình), kết nối gia đình dòng họ tốt hơn Hoàng Gia Ngọc Phương Nam nơi hợp lưu sáu dòng họ Hoàng, Trần, Lê, Nguyễn, Mai Kuma (là dòng họ lớn ở Srilanka /Tích Lan nơi cháu Hoàng Thị Thảo về làm dâu như chuyện kể dưới đây.

Sri Lanka dấu chân Phật (hòn đá khiêm nhường) Cô dâu Việt Hoàng Thảo
Sri Lanka Buddha’s footprint (humble stone) Hoang Thao Vietnamese bride
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/kuma-dcj-va-hoang-thao/

Kuma DCj & Hoàng Thảo
Congratulations to Kuma DCj & Hoang Thao Sri Lanka and Vietnam

“Núi không cần cao, có tiên phật người lành là linh điạ. Nước không cần sâu,có suối nguồn thắng tích hẳn an nhiên”. xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/kuma-dcj-va-hoang-thao/

KUMA DCJ VÀ HOÀNG THẢO
Hoàng Gia
mừng Hạnh Phúc

Nhớ tháng bảy mưa ngâu; Nhớ vầng trăng ngọn lửa; Hoàng Ngọc Dộ khát vọng; Kuma D Cj và Hoàng Thảo; Bài ca nhịp thời gian: Hạnh phúc https://youtu.be/_Bs4XcVufqY Remembering ‘mưa ngâu’ rainy July/ Miss the moon, the fire / Hoang Ngoc Do aspiration / Kuma D Cj and Hoang Thao/ Song of Time: Happiness

Kuma D Cj and Hoang Thao Kuma DCj là người Sri Lanka (đất nước Tích Lan),cha mẹ là giáo viên, nhà gần dấu chân Phật (hòn đá khiêm nhường), Kuma có hai chị gái, Kuma D Cj and Hoang Thao thương nhau và kết hôn ở Nhật khi Kuma học IT và Hoàng Thảo xuất khẩu lao động Việt Nam làm điều dưỡng viên tại Nhật từ nhiều năm trước.Chuyện đời là cảm động, xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/kuma-dcj-va-hoang-thao/

NHỚ THÁNG BẢY MƯA NGÂU
Hoàng Kim

Tháng Bảy mưa Ngâu
Trời thương chúng mình
Mưa giăng
Ướt đầm vạt áo
Bảy sắc cầu vồng
Lung linh huyền ảo
Mẹ thương con
Đưa em về cùng anh.

Chuyến xe tốc hành
Chạy giữa trăm năm
Chở đầy kỷ niệm
Chở đầy ắp tình em
Từ nơi chân trời
Góc biển

Chàng Ngưu hóa mình vào dân ca
Con ngựa, con trâu
Suốt đời siêng năng làm lụng.
Thương con gà luôn dậy sớm
Biết ơn con chó thức đêm trường.

Em ơi !
Những câu thơ ông bà gửi lại
Đã theo chúng mình đi suốt thời gian.

Tháng Bảy mưa Ngâu
Đầy trời mưa giăng giăng
Thương nàng Chức Nữ
Em là tiên đời thường
Đầy đặn yêu thương.

DSC02002

Remembering ‘mưa ngâu’ rainy July
Hoang Kim

Rainy July
God loves us
Rain falls
Wet dress shirt
Seven colors of the rainbow
Shimmering
Mother loves her child
Take me home with you.

Express ride
Running for a hundred years
Filled with memories
Filled with love
From the horizon
Sea corner

The Taurus man transforms himself into folk songs
Horse, buffalo
Hard work all his life.
Love the chicken that always gets up early
Grateful for the dog that stayed up all night.


Hey ’em ơi’ ‘anh ơi’ !
Poems sent by grandparents
Followed us the whole time.

“Mưa Ngâu” Rainy July
It’s full of rain “Ban Mai”

#cnm365 #cltvn July 7
I love you, Chuc Nu
I’m a normal fairy
Full of love.


see more …
Nhớ tháng bảy mưa ngâu;
Nhớ vầng trăng ngọn lửa;
Hoàng Ngọc Dộ khát vọng;
Kuma D Cj và Hoàng Thảo;
Bài ca nhịp thời gian: Hạnh phúc
https://youtu.be/_Bs4XcVufqY

Remembering ‘mưa ngâu’ rainy July/
Miss the moon, the fire /
Hoang Ngoc Do aspiration /
Kuma D Cj and Hoang Thao/
Song of Time: Happiness

DSC02003

Tháng Bảy mưa Ngâu
Nhớ thương ai góc biển chân trời
Những cuộc chia ly
Đong đầy nỗi nhớ …

Chiêm bao mơ về chuyện cũ
Khói sương mờ ký ức thời gian
Chốn nào chúng mình hò hẹn
Nơi em cùng anh xao xuyến yêu thương

Ngắm mưa Ngâu tháng Bảy
Mưa, mưa hoài, mưa mãi
Mưa trong lòng người
Nên mưa rất lâu…

Mưa rơi như dòng lệ trắng
Đất trời thương nối một nhịp cầu.

Em ơi
Lời tình tự của nghìn năm dân tộc.
Như sắc cầu vồng
Nối hai miền xa cách
Để xa nên gần
Vời vợi nhớ thương.

“Nhớ tháng Bảy mưa Ngâu” là bài thơ tình của Hoàng Kim viết tặng cho những đôi lứa yêu thương cách xa nhau và khát khao ngày gặp mặt. Bài thơ là chuyện tình cảm động Ngưu Lang Chức Nữ có trong dân gian Việt Nam. Truyện về nàng tiên Chức Nữ xinh đẹp, phúc hậu, nết na yêu thương chàng trai Ngưu Lang khôi ngô, hiền lành, chăm chỉ. Họ yêu nhau say đắm, bất chấp sự xa xôi nghìn trùng của cõi Trời và cõi Người. Cảm động trước tình yêu son sắt thủy chung của hai người, mỗi năm Trời Phật đã nối duyên cho họ găp nhau một lần vào tiết tháng Bảy mưa ngâu trước rằm Trung Thu tháng Tám. Đó là dịp Trời gom góp của nhà Trời và sự cần mẫn suốt năm của Ngưu Lang Chức Nữ để làm thành chiếc cầu vồng bảy màu nối liền đôi bờ thăm thẳm cho họ được gặp nhau. Muôn vạn con quạ, con cò, con vạc, bồ nông, ngỗng trời đã hợp lực ken kín cầu Ô Thước để giúp Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau. Những giọt nước mắt mừng tủi của hai người và sự cảm động của trời đất, chim muông đã hóa thành mưa ngâu.

HOÀNG GIA DÒNG HỌ THỨ SÁU

Nhớ tháng bảy mưa ngâu
Chuyện hiền vui trăm năm
Một gia đình yêu thương
Chim Phượng về làm tổ

Hoàng Kim kể chuyện Hoàng Gia mạch nguồn hợp lưu thứ sáu: (*) Kuma DCj và Hoàng Thảo tại ngày Lễ Thất tịch năm 2022 hợp ngày 4/8 Dương lịch. Kuma DCj là người Sri Lanka (đất nước Tích Lan), cha mẹ là giáo viên, nhà gần dấu chân Phật (hòn đá khiêm nhường), Kuma có hai chị gái, Kuma D Cj and Hoang Thao thương nhau và kết hôn ở Nhật khi Kuma học IT và Hoàng Thảo xuất khẩu lao động Việt Nam làm điều dưỡng viên tại Nhật từ nhiều năm trước. Chuyện đời là cảm động. Sri Lanka dấu chân Phật, hòn đá khiêm nhường (ảnh), một trong tám dấu tích di sản thế giới ở đất nước Tích Lan Sri Lanka, nơi một hậu duệ Hoàng Gia Mạc tộc chọn về làm dâu ngày nay. “Núi không cần cao, có tiên phật người lành là linh điạ. Nước không cần sâu,có suối nguồn thắng tích hẳn an nhiên”. xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/kuma-dcj-va-hoang-thao/

HẬU DUỆ CỦA MẶT TRỜI
Bạch Ngọc Hoàng Kim (kể chuyện ảnh, chương 4)

Cụ Hoàng Thúc Cảnh 102 tuổi năm 2023, tại ‘đôi lời giới thiêu’ tập di cảo “Hợp tuyển thơ Minh Sơn Hoàng Bá Chuân” 326 trang, lưu truyền trong gia đình & quyến thuộc đã viết : (trích …)

ĐỀN NGỌC SƠN HỒ GƯƠM
Minh Sơn Hoàng Bá Chuân

Tô điểm Hà Thành một hạt châu
Ấy hồ Lục Thủy tiếng từ lâu
Trăng vờn cổ thụ mây lồng nước
Tháp hướng trời xanh gió lộng cầu
Kiếm bạc hưng bang rùa vẫn ngậm
Bút son kiến quốc hạc đương chầu
Trùng trùng lá biếc hoa phơi gấm
Kìa tượng Vua Lê chót vót cao

1966
(Đã in trong tuyển tập Ngàn năm thương nhớ
NXB Hội Nhà Văn xuất bản năm 2004 nhân kỷ
niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội)

HÀ NỘI MÃI TRONG TIM

Đền Ngọc Sơn Hồ Gươm
Hoàng Thành ngọc cho đời
Tháp Bút viết trời xanh
Trăng rằm sen Tây Hồ

TỰ VỊNH VƯỢT BÁT TUẦN
Minh Sơn Hoàng Bá Chuân

Bát tuần đã trãi việc đời nhiều
Chân chính bao nhiêu phúc bấy nhiêu
Nhân hậu thói nhà in một nếp
Trung kiên việc nước đủ trăm chiều
Lòng son phơi phới vầng trăng dọi
Tóc bạc phơ phơ ngọn gió phiêu
Hôm sớm sân Lai (*) thêm sắc mới
Sum vầy con cháu tiếng vui reo !


Tưởng nhớ ngày của Ông 24 4 âm lịch; Hồn chính khí bốc lên ánh sáng, sáng choang ngoc đá giữa hoang tàn. Tâm nhân văn lắng đọng tinh hoa, hoa Đất hoa Người trong cõi Bụt. xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-ong-ba-cau-mo/

DÂNG CẢ TẤM LÒNG
Hoàng Thúc Cảnh

Năm mới cháu chắt tụ lại đây
Để nhớ công ơn của Tổ Bầy
Cùng với tổ tiên bao thế hệ
Xây nên Hoàng Mạc vững đời đời

Xiết bao cảm xúc trước từ đường
Kính dâng cậu mạ một nén hương
Đội ơn cậu mạ nơi tiên cảnh
Che chở chúng con ở hậu phương

Năm mới xin chúc cả mọi người
Bình an hạnh phúc vẹn mười mươi
Nhớ mãi lời khuyên ông để lại
Sống càng chân chính phúc càng dày.

TỰ HÀO
Hoàng Thúc Cảnh

Tự hào biết mấy phúc nhà ta
Một cây đại thụ tuổi trăm già
Hai cây chín chục hai cây tám
Năm cây chụm lại đẹp như hoa

CẢM HỨNG
Hoàng Thúc Cảnh

Một trăm linh một hạnh phúc thay
Lại may gặp hổ buổi xuân này
Quyết cùng hổ vượt Nam sơn ấy
Được rồng chào đón thật là hay

TỰ TÌNH
Hoàng Thúc Cảnh

Trần thế đến nay đoạn cuối cùng
Nghĩ lại thời qua cũng chạnh lòng
Công cha báo đáp còn chưa thỏa
Nợ nước đền ơn chỉ một lần

Xót tình chung thủy vì đứt mối
Cám cảnh ba sinh chẳng vẹn lòng
Dù đã tóc sương lưng còm cõi
Vẫn là chiếc bách giữa trời giang

VĂN NGHỆ QUẢNG MINH TẬP 18
Kính thưa quý vị và các bạn!

VĂN NGHỆ QUẢNG MINH TẬP 18, tiếp nối Văn Nghệ Quảng Minh tập 17, đang biên tập bài vở từ khắp nơi gửi về. Đối với các vị lão thành cách mạng lớn tuổi, những anh chị em không có điều kiện gửi bằng Email thì tôi sẽ đánh máy lại. Sau đây xin giới thiệu bài viết của cụ Hoàng Thúc Cảnh 102 tuổi, người đã có một thời ở an toàn khu Việt Bắc, và người từng ở Phủ Thủ Tướng, Phủ Chủ Tịch Hà Nội, tất cả là 38 năm. Chúng tôi xin giới thiệu 1 bài thơ và trích hồi ký của cụ để quý vị cùng các bạn tham khảo và chia sẻ.

HOÀNG THÚC CẢNH
MẤY LỜI DẶN LẠI CÁC EM

Rồi đây anh phải đi xa
Vài lời dặn lại gọi là tình thân


Hỡi các em bảy người như một
Cậu mẹ sinh nuôi dạy trưởng thành
Vào sinh ra tử bao phen
Rồi cùng tái ngộ thần tiên trên đời

Cảnh hàn vi bao giờ quên được
Nhớ mẹ cha bao buổi chia tay
Mấy lần nước mắt tuôn rơi
Nay anh về trước cho vui lòng già

Các em nhớ là gà một mẹ
Gắn bó nhau đến phút cuối cùng
Thuận hòa nhân nghĩa hiếu trung
Rộng lòng độ lượng Cậu cùng nêu cao

Hãy quên đi những lời chẳng đẹp
Những việc làm chẳng hợp lòng ta
Mới là vui vẻ tuổi già
Một mai thoát khỏi thật là nhẹ tênh

Mấy lời trước lúc chia tay

ĐƯỜNG TÔI ĐI
(Trích hồi ký cụ Hoàng Thúc Cảnh)

Tôi sinh ngày rằm tháng 8 âm lịch năm Nhâm Tuất (1922). Từ năm 1950, sau khi lên công tác tại An toàn khu Việt Bắc, để bảo mật nên lấy mật danh là Lê Phong và được dùng chính thức trong công văn giấy tờ, trong mối quan hệ với các cơ quan trong suốt thời gian công tác.

Từ năm 7 tuổi đến 13 tuổi, tôi học ở trường tiểu học Thọ Linh (chương trình 6 năm). Năm 1936 lúc 13 tuổi tôi học xong tiểu học. Muốn học lên cao đẳng tiểu học thì phải vào Huế. Đi học xa không có tiền nên phải ở nhà giúp bố mẹ làm ruộng, vào rừng chặt củi để về đun thổi, hoặc lượm hạt dẻ, hái sim về bán lấy tiền giúp gia đình. Những ngày nông nhàn và mùa nghỉ hè thì dạy thêm cho con em trong làng, trong họ, cùng thu nhập thêm. Đời sống lam lũ, chân lấm tay bùn, khép kín trong bốn bức tường nên rất tủi thân. Nhất là khi thấy mấy người trong xóm đi học xa về, quần áo bảnh bao, càng thêm tủi phận, nhiều lần vào chỗ khuất sau bàn thờ ngồi khóc. Vì vậy trong lòng nuôi ý chí là phải tìm cách đi học.

Với ý chí và quyết tâm học tập, tôi đã tìm cách thoát ly ra ngoài. May có người mách là có thầy giáo cũ tên là Trần Ngọc Mai dạy lớp 3 cho tới nay đang dạy trường An Cựu Huế. Tôi viết thư xin thầy làm gia sư và được thầy chấp nhận cho. Như vậy là tôi phải bỏ học ở nhà mất hai năm.

Tháng 9 năm 1938, tôi vào Huế vừa làm gia sư vừa học cao đẳng tiểu học. Năm 1942 thì tôi tốt nghiệp cao đẳng tiểu học. Làm gia sư có chỗ ăn học nhưng cũng rất vất vả vì nhà xa trường Thuận Hóa đến 4,5 cây số lại phải cuốc bộ. Thầy lại có 3 đứa con, đứa lên 7 đứa lên 9 và 11 tuổi nên chăm sóc cho 3 đứa hết cả thời giờ. Điện chưa có, dầu hỏa cũng hiếm phải dùng dầu lạc nên việc học hành rất vất vả.

Trường Thuận Hóa là một trường tư thục, do cụ Tôn Quang Phiệt (Sau này là Tổng thư ký Ủy ban Thường vụ Quốc hội), một tri thức tham gia cách mạng (Tân Việt và Cộng sản) bị bắt tù đày tha về, hợp tác cùng một số trí thức khác. Họ là những người tham gia cách mạng như Giáo sư Đào Duy Anh, Giáo sư Trần Đình Đàn, Giáo sư nhà văn Hoài Thanh, nhà giáo Trần Hữu Duẩn, thành lập ra không phải để mục đích kinh doanh mà chủ yếu để đào tạo, giáo dục thanh niên lòng yêu nước. Trong bốn năm học tập, các thầy giáo qua các bài giảng của mình, chủ yếu qua các bài học văn, học sử, học địa lý…khêu gợi lòng yêu nước của nhân dân ta, nêu gương các anh hùng dân tộc, các trận thắng to, đồng thời sự khổ nhục của các dân tộc khi bị nước ngoài xâm lược, đô hộ. Trong những năm đó, tôi còn được đọc một số bài thơ Cách mạng của đồng chí Tố Hữu. Vì vậy tôi cũng có phần được giác ngộ.

Như trên đã nói, được làm gia sư, yên ổn chỗ ăn ở để đi học, nhưng vì nhà xa trường lại mất nhiều thời giờ dạy các em, nên để việc học có kết quả, có điều kiện xin học bổng, tôi phải cố gắng rất nhiều. Nhất là trước những ngày thi học kỳ, có những lúc cả tháng trời, trưa nào cũng phải ở lại trường để ôn tập, có lúc ăn vài xu khoai sắn, có lúc nhịn đói. Vì vậy sau 3 năm dạy con thầy giáo cũ, đến năm thứ ta là năm phải thi tốt nghiệp tôi phải chuyển chỗ dạy và may mắn được dạy cho con cụ Nguyễn Học Sỹ, tức thi sỹ Nam Trân. Sự cố gắng đó đã đem lại cho tôi kết quả, cuối năm thứ tư đậu cao đẳng tiểu học. Thời bấy giờ đậu được bằng này rất khó vì phải thi bằng tiếng Pháp. Nhưng khi đã có bằng thì có thể làm giáo viên và các công sở, v.v…

Sau khi tốt nghiệp cao đẳng tiểu học, tôi nghỉ để có tiền nuôi các em ăn học. Cuối năm 1942 tôi thi đậu công chức. Đầu năm 1943, tôi được bổ nhiệm làm việc tại Phủ Thọ Xuân, nay là huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa. Thời bấy giờ phong trào Việt Minh ở Thanh Hóa rất sôi nổi. Thọ Xuân cũng là nơi phong trào Cách mạng sôi động. Nhiều cuộc biểu tình, rải truyền đơn, phá kho thóc của địa chủ xảy ra. Thực dân Pháp tổ chức nhiều cuộc vây ráp, bắt bớ, tra tấn cán bộ cách mạng rất dã man. Tôi rất khâm phục các chiến sỹ cách mạng và vô cùng căm thù bọn thực dân và lũ tay sai bán nước. Tôi bí mật liên hệ với các chiến sỹ cộng sản và được tham gia cách mạng cho đến ngày cướp chính quyền.

(Kỳ sau, chặng đường làm cách mạng ở chiến khu Việt Bắc, công tác ở Văn phòng Phủ Chủ tịch và Văn phòng Phủ Thủ tướng cho đến ngày nghỉ hưu)

HOÀNG THÚC CẢNH THƠ TRĂM TUỔI
cảm xúc sau buổi liên hoan
mừng thọ 100 tuổi


Hôm nay mười một tháng tư
Biết bao kỷ niệm được ghi trong lòng
Các em khắp cả Tây Đông
Cháu chắt Nam Bắc quây quần bên nhau
Chúc cho còn được sống lâu
Nhiều lần gặp nữa biết đâu mà lường
Nghe lời chúc cũng động lòng
Thương người còn sống , nhớ người đã xa
Cuộc đời nghĩ thật bao la
Nhờ ơn Tiên Tổ cao xa đỡ đầu
Mỗi lời ước hẹn ghi sâu…

Hoàng Thúc Cảnh

vonguyengiapansochinhtrung

Sáu anh em ruột gia đình đến thăm đại tướng Võ Nguyên Giáp (1996). Từ trái sang: Hoàng Gia Cương, Hoàng Thúc Cảnh, bà Đặng Bích Hà, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cô Võ Hồng Anh, Hoàng Thúc Cẩn, Hoàng Thúc Tấn, Hoàng Thúc Tuệ, Hoàng Quý Thân.

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là hoangthuccanh-29-6-1987.jpg

Cậu Hoàng Thúc Cảnh 102 tuổi (2022), là Lão thành cách mạng, nguyên Cố vắn Văn phòng Chính phủ, huy hiệu 75 năm tuổi Đảng. Cậu Hoàng Gia Cương kính tặng anh ruột
Một trăm năm hiếu nghĩa vẹn toàn
Mười thập kỷ chính trung kiên định

MINH LỄ HAY MINH LỆ
Cụ Hoàng Thúc Cảnh


VĂN NGHỆ QUẢNG MINH số 16. Hoàng Minh Đức (chủ biên). Mở đầu xin giới thiệu bài viết đầu tiên của cụ Hoàng Thúc Cảnh, một cán bộ lão thành cách mạng, nguyên thư ký riêng của Chủ tịch Liên khu 4 HỒ TÙNG MẬU trong những năm chống Pháp. Cụ đã từng có 38 năm công tác ở Phủ Chủ tịch, người đã từng ở chiến khu Việt Bắc với Bác Hồ. Nhân dịp mừng thọ 100 tuổi và 75 năm tuổi Đảng cụ gửi về một chùm thơ và bài viết về tên làng của cụ. Sau đây xin giới thiệu cùng bạn đọc:Trao đổi ý kiến về tên thôn Minh Lễ hay Minh Lệ?

Tôi nhớ trong tập Văn nghệ Quảng Minh số 15 có nêu lại vấn đề tên làng Minh Lệ hay Minh Lễ?. Hai ý kiến đối lập nhau. Phần tôi nhận thấy cả 2 tên đều là chính thống nhưng sử dụng theo hoàn cảnh lịch sử (chữ viết) và tập quán nhân dân (tiếng nói).

Theo hoàn cảnh lịch sử: Phải công nhận tên thôn mới có từ thời Lê Hồng Đức – Lê Thánh Tôn lên làm vua và chỉnh đốn việc cai trị trong nước. Dưới đơn vị xã là thôn thuộc xã (đã có từ trước). Năm 1470, Trà Toàn, vua Chiêm Thành, cầu viện quân Tàu định sang đánh nước ta. Vua Lê Thánh Tôn biết vậy, huy động đại quân đánh Chiêm Thành, mở mang bờ cõi đến tận Bình Định, Khánh Hòa ngày nay. Chắc rằng trong lúc huy động quân, vua Lê Thánh Tôn huy động cả tướng quân Trương Hy Trọng tham gia và sau khi hồi kinh, trên đường về, Ngài đã cử tướng quân Trương Hy Trọng ở lại quản miền Bắc Bố chính. Thời bấy giờ chắc vùng Bắc quê ta còn hoang vu, nhân dân còn thưa thớt và quân Chiêm Thành thường xuyên quấy nhiễu. Do vậy lúc về nhiệm sở, tướng quân phải huy động nhân dân ở Hoan Châu (Nghệ An – Hà Tĩnh ngày nay) và cả ở quê Hải Dương đến khai khẩn lập nên làng xóm. Và khi đã khẩn được một vùng thì phải quy hoạch vùng đó thành từng thôn xã để thuận tiện cho việc cai trị và từ đó mỗi đơn vị đều có tên riêng. Công lao đánh giặc, xây dựng làng xã của tướng quân được ghi trên mộ Ngài “Bình Lồi Thiết xã”. Tôi tin rằng tên thôn ta là do Ngài đặt. Trong thời kỳ phong kiến cho đến thời Pháp đô hộ tất cả công văn giấy tờ của nhà nước và của nhân dân đều dùng chữ Hán.

Tên Minh Lễ: Tôi chắc rằng Tướng quân khi đặt tên cho thôn ta theo chữ Hán là 明 禮. Và 2 chữ đó được dùng mãi cho đến thời kỳ có chữ Quốc ngữ mới thôi.

Cha tôi trong thời kỳ làm việc cho chính quyền thôn, mỗi lần làm công văn giấy tờ gửi lên trên hoặc giúp cho nhân dân làm giấy tờ mua bán nhà đất, lúc viết tên thôn thì cha tôi viết 明 禮. Tôi đã nhờ tra cứu trong từ điển Hán Việt thì hai chữ này phiên âm là Minh Lễ. Vì vậy, đây là tên chính thức trong văn bản giấy tờ của thôn ta. (Trước đây tôi cũng có học chữ Hán nên hai chữ trên tôi không quên được).

Tên Minh Lệ: Ai cũng biết mỗi vùng có một giọng nói hoặc phát âm khác nhau. Cùng một ý nhưng nơi này phát âm thế này, nơi kia phát âm thế khác. Thí dụ: Ở miền Bắc gọi bố mẹ còn ở miền Nam ba má, ở miền Bắc gọi anh còn miền Nam gọi ảnh, yêng hoặc eng, ở miền Bắc gọi cảnh còn ở miền Nam gọi kiểng v.v… và v.v…..

Ở vùng ta cũng vậy nhưng phiên âm theo chữ quốc ngữ có dấu ngã thì khi đọc khi nói thường thành dấu nặng. Thí dụ: Tỉnh Hà Tĩnh đọc thành Hà Tịnh. Lễ nghĩa đọc thành lệ nghịa. Con muỗi đọc thành con mọi. Văn võ đọc thành văn vọ. v.v… và v.v….

Theo đó nguyên văn chữ Hán “Minh Lễ”, nhân dân ta đọc thành “Minh Lệ” (hơn nữa phát âm Minh Lệ nhẹ nhàng hơn Minh Lễ). Nó thông dụng từ đời này qua đời khác, đã trải qua hàng trăm năm nên đã trở thành một tên quen thuộc sử dụng trong đời sống hàng ngày của nhân dân. Như vậy danh từ Minh Lệ do nhân dân ta đặt ra, đã thành danh từ chính thức khi viết chữ quốc ngữ từ thời Pháp thuộc. Các văn bản viết bằng chữ quốc ngữ đều viết là Minh Lệ: ga Minh Lệ, cầu Minh Lệ, …và đến ngày nay thành chính thức trong văn bản của Đảng và chính quyền là Minh Lệ.

Chúng ta tự hào thôn ta có 2 tên, một tên là lịch sử và một tên là nhân dân. Ý nghĩa của hai danh từ trên tạp chí đã nói rõ. Mong nhân dân và con cháu chúng ta phát huy ý nghĩa tốt đẹp của hai danh từ đó, xứng đáng là con cháu của Đức Thành hoàng.

Hoàng Thúc Cảnh
xem tiếp https://www.facebook.com/minhduc.hoang.7315/posts/3246817635598758

NHỚ ÔNG BÀ CẬU MỢ
Hoàng Gia chi Phương Nam
kính mừng Ông Bà Cậu Mợ

Minh Lễ thái hòa (*) Minh Lệ đây
Lời vàng bóng hạc lắng thơ hay
“Tổ tiên công đức muôn đời thịnh
Con cháu thảo hiền vạn kiếp vinh”
“Mạc Tộc dựng xây thiên kỷ tạc.
Hoàng Gia bồi đắp vạn đời ghi”

Chân thiện mỹ đức dày tâm sáng
Phước lộc thọ trí huệ anh minh.

(*) Kim Notes lắng ghi chú Một gia đình yêu thương: Hoàng chi Mạc tộc có cụ Minh Sơn Hoàng Bá Chuân và cụ Nguyễn Thị Như Đồng sinh được bảy người con trai nay có các cụ lão thành Hoàng Thúc Cảnh, Hoàng Thúc Cẩn, Hoàng Thúc Tấn, Hoàng Quý Thận, Hoàng Gia Cương hẵn có biết thông tin liên quan. Chuyện về vua Hàm Nghi rất cần một chuyên khảo để thấu hiểu sâu sắc Việt Nam vận mệnh đất nước ở thời khắc lịch sử ấy. “Bông sen vàng” tiểu thuyết lịch sử của nhà văn Sơn Tùng, Nhà Xuất bản Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh V23/VN99/ 25/1241-99, từ trang 35 đến trang 99 đã lưu dấu những ẩn ngữ sự thật lịch sử quý giá ấy nhưng tiếc là chưa được giải mã đầy đủ. Làng Minh Lệ quê tôi Đất Mẹ vùng di sản có nhiều trầm tích lịch sử văn hóa về Nam /Bắc Bố Chánh của xứ Nghệ và xứ Thuận Hóa, Cao Biền trong sử Việt; Đá Đứng chốn sông thiêng, Nguồn Son nối Phong Nha; Bến Lội Đền Bốn Miếu, huyền tích Mạc Cảnh Huống, huyền thoại làng Trần thời hoàng hậu ở lại khi vua Trần Dụ Tông chết trận,.và bao chuyện khác của Quảng Bình đất và người; Bao nhân chứng và chứng tích lịch sử thời vua Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân để hiểu sâu sắc thêm bài thơ “Tưởng niệm” của Nguyễn Duy:”Mặt trời vẫn mọc đằng đông/ lăng minh quân vẫn dựng trong lòng người /bao triều vua phế đi rồi /người yêu nước chẳng mất ngôi bao giờ…Lớp hậu sinh thật lòng muốn được nghe chuyện kể … Chuyện về vua Hàm Nghi https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chuyen-ve-vua-ham-nghi

NẾP NHÀ ĐẸP VĂN HÓA
Bạch Ngọc Hoàng Kim
kề chuyện ảnh chương Năm

“Nhân hậu thói nhà in một nếp / Chân chính bao nhiêu phúc bấy nhiêu”/ Một gia đình yêu thương/ Nếp nhà đẹp văn hóa/ Hoa Đất thương lời hiền / Nhà Trần trong sử Việt / Mạc triều trong sử Việt/ Nhớ Ông Bà Cậu Mợ / Trăng rằm sen Tây Hồ/ Trăng rằm vui chơi giăng. Nếp nhà là thói quen của một gia đình. Nguyễn Trãi có câu “Nên thợ, nên thầy nhờ có học/ No ăn, no mặc bởi hay làm”. Làm và Học là hoạt động sống cơ bản của con người để đáp ứng nhu cầu tối thiểu ăn mặc, yêu đương, nhà ở, đi lại, chăm sóc sức khỏe và chất lượng cuộc sống. Nếp nhà xét cho cùng là sự bảo tồn phát triển tự do của mỗi cá nhân gia đình và dòng họ. Soi thấu gia tộc là soi vào văn hóa lịch sử của sự kế thừa, phát triển và biến đổi.

Lời dặn của Thánh Trần

Tâm cơ của nếp nhà. Vạn Kiếp tông bí truyền thư của Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương, tác phẩm này còn gọi là Vạn Kiếp binh thư đã thất truyền.Bài tựa của Trần Khánh Dư trong cuốn sách này giải thích bí truyền đại sư là người thế nào: “Phàm người khéo cầm quân thì không cần bày trận, khéo bày trận thì không cần giao chiến, khéo giao chiến thì không thể thất bại, khéo thất bại thì không thương vong. Xưa kia, Cao Dao làm chức sĩ sư mà mọi người không dám trái mệnh, Văn Vương và Vũ Vương nhà Chu là bậc thầy về văn và về võ, ngấm ngầm sửa đức để khuynh loát quyền bính của nhà Thương mà lấy nghiệp vương. Đó đều có thể gọi là những người giỏi cầm quân, không cần bày trận vậy. Vua Thuấn múa lá mộc và lông trĩ mà họ Hữu Miêu tự mình tìm đến, Tôn Vũ nước Ngô đem mỹ nhân trong cung thử tập trận mà phía tây phá nước Sở hùng cường, phía Bắc ra uy với nước Tần nước Tấn, nổi tiếng khắp chư hầu. Đó đều có thể gọi là những người giỏi bày trận, không cần giao chiến vậy. Cho đến Mã Ngập nước Tấn dựa vào bát trận đồ chuyển đánh nghìn dặm, phá được Thụ Cơ Năng mà lấy lại Lương Châu. Thế gọi là người giỏi giao chiến không bao giờ thất bại vậy.Cho nên, trận nghĩa là bày ra, là khéo léo. Ngày xưa, vua Hiên Viên lập ra phép “tỉnh điền” để đặt binh chế, Gia Cát Lượng xếp đá bên sông để làm bát trận, Vệ công sửa lại làm trận Lục Hoa, Hoàn Ôn định ra trận Xà Thế, trước sau đều có trận đồ nổi tiếng, trình bày tuần tự, thành phép tắc rõ ràng. Nhưng người đương thời ít ai thông hiểu, muôn vàn đầu mối nhìn vào dường như rối loạn, chưa từng nắm được lẽ biến dịch bên trong. Ví như những phép tắc và suy luận của Lý Thuyên, người sau không ai hiểu nghĩa là gì. Vì thế, Quốc công ta bèn so sánh, kê cứu trận đồ và binh pháp của các nhà, tổng hợp lại thành một bộ sách. Tuy chép cả những điều chi tiết, nhưng người sử dụng thì nên bỏ bớt những chỗ rườm, tóm lấy thực chất. Rồi lấy năm hành ứng với nhau, chín cung câu với nhau, phối hợp cương và nhu, xoay vần chẵn và lẽ, không làm hỗn loạn âm dương và thần sát, phương lợi và sao tốt, hung thần và ác tướng, ba cát và năm hung, việc nào việc ấy thực phân minh rõ rệt. Quốc công lại còn thêm bớt với chiến thuật của thời Tam đại, nhờ đó trăm trận trăm thắng. Cho nên đương thời phía bắc làm cho Hung Nô phải sợ, phía tây làm cho Lâm Ấp phải kinh. Rồi ông đem sách này dạy bảo con em làm gia truyền, không tiết lộ cho người ngoài biết. Lại có lời dặn rằng: “Sau này con cháu và bề tôi phò tá của ta có học được bí thuật này thì nên lấy đầu óc sáng suốt, linh hoạt mà thực hành và sắp đặt nó, chứ không nên lấy đầu óc cứng nhắc, tối tăm mà cất giữ và lưu truyền. Nếu trái điều đó thì sẽ mang vạ vào thân, lại hại lây đến cả con cháu. Đó gọi là tiết lậu cơ trời vậy.” Bài tựa của Trần Khánh Dư cho Vạn Kiếp tông bí truyền thư, còn như sách Binh thư yếu lược mà người đời ngờ rằng bản thật đã bị cướp và thất lạc, đời sau chỉ có chân truyền lời này. Chùa Thắng Nghiêm (Hà Nội) nơi Trần Hưng Đạo lúc nhỏ tu học, là nơi Người hiển thánh. Ôi, đọc lại “Binh Thư Yếu lược” “Hịch Tướng Sĩ Văn” và Vạn Kiếp tông bí truyền thư, soi gương kim cổ, lắng nghe cuộc sống, đọc lại lời răn dạy nếp nhà là để biết sửa lỗi mình; Lời dặn của Thánh Trần

Ngày xuân đọc Trạng Trình

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nói về phép xử thế của bậc hiền minh thuở thời thế nhiễu loạn, vàng lầm trong cát: ”Đạo trời đất là Trung Tân, vẹn toàn điều Thiện là Trung, không vẹn toàn điều Thiện thì không phải là Trung. Tân là cái bến, biết chỗ dừng lại là bến chính, không biết chỗ dừng lại là bến mê. Nghĩa chữ Trung chính là ở chỗ Chí Thiện.Trung Tân quán bi ký, 1543). Đạo ở mình ta lấy đạo trung/ Chớ cho đục, chớ cho trong (Thơ chữ Nôm, Bài số 104) Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ/ Người khôn, người đến chốn lao xao (Thơ chữ Nôm, Bài số 79). Làm việc thiện không phải vì công tích mà ở tấm lòng. Nay vừa sau cơn loạn lạc thì chẳng những thân người ta bị chìm đắm, mà tâm người ta càng thêm chìm đắm. Các bậc sĩ đệ nên khuyến khích nhau bằng điều thiện, để làm cho mọi người dấy nên lòng thiện mà tạo nên miền đất tốt lành. (Diên Thọ kiều bi ký, 1568) An nhàn, vô sự là tiên (Sấm ký)”. Người đời sau luận chuyện Lão Tử ‘dạy’ Khổng Tử: “Ngươi cứ nhìn vào trời đất mà hiểu Đạo của ta. Kìa, có trời thì có đất, có núi thì có sông, có cao thì có thấp, có dài thì có ngắn, có cương thì có nhu, có rỗng thì có đặc, có sáng thì có tối, có thẳng thì có cong… Mọi thứ đang dịch chuyển trong sự biến hóa vô cùng. Tự nhiên tự do nhưng có trật tự và cái lí của nó. Cao thì xa, thấp thì gần, dài thì yếu, ngắn thì mạnh, cương thì gãy, nhu thì dẻo, rỗng thì âm to, đặc thì câm. Mọi thứ trong trời đất gắn kết được nhờ khác biệt, không có chuyện giống nhau mà hợp lại được với nhau“. xem tiếp Ngày xuân đọc Trạng Trình

Nếp nhà đẹp văn hóa

Minh triết của đời người hạnh phúc là biết sống thung dung, phúc hậu, thanh thản, an nhiên tự tại, nhận ra kho báu vô giá của chính mình, không lo âu, không phiền muộn, sống với tinh thần dịu hiền và trái tim nhẹ nhõm. Hoàng Kim đúc kết tóm tắt về nếp nhà đẹp văn hóa xây dựng gia đình hạnh phúc, cần có phúc ấm gia đình với trí tuệ phúc hậu, minh triết, tận tâm, làm việc tự ý cẩn thận, lời nói là năng lực, im lặng là trí tuệ.  Cụ Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm (trong sách Hoàng Niêm đất Hương Sơn, Nhà Xuất bản Thuận Hoá, năm 2007) là cha ruột của những người con danh tiếng GS Nguyễn Khắc Dương, GS Nhà văn hoá Nguyễn Khắc Viện, GS Nguyễn Khắc Phi, Nhà văn Nguyễn Khắc Phê, nhà giáo Nguyễn Thị Dư Khánh, qua bài viết “Cụ Hoàng Giáp dạy con” của Vu Gia đã chúng ta thấy nét đẹp văn hóa của một gia đình hạnh phúc. GS. Hoàng Ngọc Hiến có bài bình giảng rất hay về nếp nhà Nên thợ, nên thầy” “No ăn, no mặc”. Ông Lê Quang Nhung ở Bến Tre có bài “Giữ lại nếp nhà” đã trao đổi thật thấm thía “Nếp nhà là cái ở sâu trong trái tim ta, là gốc rễ của con người nhưng do mải mê với cuộc sống, nhiều khi ta quên mất. Rất đồng tình với ai đó: Xã hội là nơi cho cá nhân phát triển, còn gia đình là nơi cá nhân hình thành tính cách, tâm hồn, tư duy, tài năng, đạo đức của con người. Vì vậy, xây dựng môi trường văn hóa từ gia đình phải là một mắc xích quan trọng trong quá trình giáo dục tính cách, tình cảm, tâm hồn, đạo đức, đặc biệt là cho giới trẻ. Tu được thân mới “tề gia”, rồi đến “trị quốc”, sau cùng là “bình thiên hạ”. Sắp xếp theo trình tự như vậy cũng có cái lý của người xưa.” Nhà văn Nguyễn Khải có bài viết “Nếp nhà” nói rõ quan niệm gia đình hạnh phúc qua lời kể của một bà cụ phúc hậu “Theo bà cụ, thời bây giờ có được vài trăm cây vàng không phải là khó, cũng không phải là lâu, nhưng có được một gia đình hạnh phúc phải mất vài đời người, phải được giáo dục vài đời. Hạnh phúc không bao giờ là món quà tặng bất ngờ, không thể đi tìm, mà cũng không nên cầu xin”. Bài này là suy nghiệm cá nhân về nếp nhà đẹp văn hóa

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là hoang-thuccanh-2.jpg

Hoàng Kim kính mừng thọ cậu Hoàng Thúc Cảnh vượt một trăm tuổi, cháu xin kể một mẫu chuyện nhỏ ân tình đã tạo nên sự đoàn tụ của Hoàng Gia như ngày nay : Năm 1977, cậu Hoàng Thúc Cảnh đã lên Đồn Lương, Việt Yên, Hà Bắc của Trường Đại học Nông nghiệp II Hà Bắc gặp thầy Hoàng Sỹ Oánh là Hiệu trưởng đầu tiên của Trường và nói: “Xin quý Thầy cho cháu Kim được chuyển trường vào Đại học Nông nghiệp 4 thành phố Hồ Chí Minh. Cháu Kim mồ côi cha mẹ từ nhỏ, cha bị bom Mỹ giết hại. Anh Trực của cháu trận mạc từ rất sớm và Kim đã xung phong nhập ngũ năm 1971 từ Trường Thầy. Cháu học giỏi lại trãi chiến đấu, nay được quý thầy quy hoạch học tập đào tạo ở Trường là thật mừng, nhưng mong quý Thầy chiếu cố hoàn cảnh của cháu thật thương tâm, trước đây cơm ngày một bữa suốt năm năm, nay anh em lưu tán. Gia đình ao ước lớn nhất là được tụ họp sau chiến tranh. Anh biết rõ tánh tôi ở gần gũi Bác Hồ và cụ Đồng, trọng tánh của các cụ mà chưa hề phiền lụy ai, nhưng riêng việc này nhờ anh chiếu cố cho cháu xin chuyển trường“. Thầy Đỗ Ánh Phó Hiệu trưởng và thầy Võ Hùng Trưởng Khoa Nông học đều cảm động và đồng tình. Hoàng Kim được chuyển trường khiến sau này cả gia đình chúng tôi có được cơ hội đoàn tụ đất phương Nam đó là nhờ đức nhân hậu, lòng yêu thương và tầm nhìn sáng suốt.

NHỚ ÔNG BÀ CẬU MỢ

Mai trắng tóc người cũng trắng trong
Đường trần lên thấu đỉnh cao phong
Hoàng gia Mạc tộc ngời tâm đức
Nhân hậu an nhiên chẳng thẹn lòng

Hoàng Kim
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-ong-bà-cau-mo/ — cùng với Hoàng Thúc Tấn, Hoàng Quý ThânHoàng Gia Cương

Cương Hoàng Gia https://www.facebook.com/cuong.hoanggia.1/posts/1769392796566471
Hoàng Lan Phương cùng với Hoang Phuong Dung, Hoàng Gia Cương, Hoàng Tường.

Hoàng Thúc Tấn viết: Cậu xem bài viết về Cao Biền của cháu thật sự là điều mới lạ đối với cậu. Nếu thực sự Cao Biền như cháu đã khảo cứu thì lịch sử nước ta hoàn toàn khác. Có đoạn nói mộ Cao Biền ở Tuy Hoà thì thời nhà Đường nước ta mới chỉ vẻn vẹn một phần của Bắc bộ. Cậu xem một số bài khảo cứu của cháu qua Faebook và rất vui và lý thú khi đọc. Cậu Tấn”

Kim Hoàng trả lời: cháu nhớ cậu cùng các cậu mợ kính yêu và người thân của các cháu. Cháu thật xúc động khi hình dung người cậu trên 85 tuổi đã viết cho cháu những lời chân tình này. Cháu về quê thắp hương cho người thân ‘Hoàng gia Mạc tộc’ và thấu hiểu sâu sắc ‘Cao cát Mạc sơn’ nhưng cháu chưa thể viết rõ hơn. Cháu xin lưu tại đây đường dẫn ‘Cao Biền trong sử Việt https://hoangkimlong.wordpress.com/category/cao-bien-trong-su-viet/

1, Cháu trích chép kính cậu một ghi chú trong bài trên (5) Vạn Kiếp tông bí truyền thư (萬劫宗秘傳書) của Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương, tác phẩm này còn gọi là Vạn Kiếp binh thư đã thất truyền. Bài tựa của Trần Khánh Dư trong cuốn sách này giải thích bí truyền đại sư là người thế nào:

“Phàm người khéo cầm quân thì không cần bày trận, khéo bày trận thì không cần giao chiến, khéo giao chiến thì không thể thất bại, khéo thất bại thì không thương vong. Xưa kia, Cao Dao làm chức sĩ sư mà mọi người không dám trái mệnh, Văn Vương và Vũ Vương nhà Chu là bậc thầy về văn và về võ, ngấm ngầm sửa đức để khuynh loát quyền bính của nhà Thương mà lấy nghiệp vương. Đó đều có thể gọi là những người giỏi cầm quân, không cần bày trận vậy. Vua Thuấn múa lá mộc và lông trĩ mà họ Hữu Miêu tự mình tìm đến, Tôn Vũ nước Ngô đem mỹ nhân trong cung thử tập trận mà phía tây phá nước Sở hùng cường, phía Bắc ra uy với nước Tần nước Tấn, nổi tiếng khắp chư hầu. Đó đều có thể gọi là những người giỏi bày trận, không cần giao chiến vậy. Cho đến Mã Ngập nước Tấn dựa vào bát trận đồ chuyển đánh nghìn dặm, phá được Thụ Cơ Năng mà lấy lại Lương Châu. Thế gọi là người giỏi giao chiến không bao giờ thất bại vậy.Cho nên, trận nghĩa là bày ra, là khéo léo. Ngày xưa, vua Hiên Viên lập ra phép “tỉnh điền” để đặt binh chế, Gia Cát Lượng xếp đá bên sông để làm bát trận, Vệ công sửa lại làm trận Lục Hoa, Hoàn Ôn định ra trận Xà Thế, trước sau đều có trận đồ nổi tiếng, trình bày tuần tự, thành phép tắc rõ ràng. Nhưng người đương thời ít ai thông hiểu, muôn vàn đầu mối nhìn vào dường như rối loạn, chưa từng nắm được lẽ biến dịch bên trong. Ví như những phép tắc và suy luận của Lý Thuyên, người sau không ai hiểu nghĩa là gì. Vì thế, Quốc công ta bèn so sánh, kê cứu trận đồ và binh pháp của các nhà, tổng hợp lại thành một bộ sách. Tuy chép cả những điều chi tiết, nhưng người sử dụng thì nên bỏ bớt những chỗ rườm, tóm lấy thực chất. Rồi lấy năm hành ứng với nhau, chín cung câu với nhau, phối hợp cương và nhu, xoay vần chẵn và lẽ, không làm hỗn loạn âm dương và thần sát, phương lợi và sao tốt, hung thần và ác tướng, ba cát và năm hung, việc nào việc ấy thực phân minh rõ rệt. Quốc công lại còn thêm bớt với chiến thuật của thời Tam đại, nhờ đó trăm trận trăm thắng. Cho nên đương thời phía bắc làm cho Hung Nô phải sợ, phía tây làm cho Lâm Ấp phải kinh. Rồi ông đem sách này dạy bảo con em làm gia truyền, không tiết lộ cho người ngoài biết. Lại có lời dặn rằng: “Sau này con cháu và bề tôi phò tá của ta có học được bí thuật này thì nên lấy đầu óc sáng suốt, linh hoạt mà thực hành và sắp đặt nó, chứ không nên lấy đầu óc cứng nhắc, tối tăm mà cất giữ và lưu truyền. Nếu trái điều đó thì sẽ mang vạ vào thân, lại hại lây đến cả con cháu. Đó gọi là tiết lậu cơ trời vậy.”
Bài tựa của Trần Khánh Dư cho Vạn Kiếp tông bí truyền thư, còn như sách Binh thư yếu lược mà người đời ngờ rằng bản thật đã bị cướp và thất lạc. đời sau chỉ có chân truyền lời này.

2. Mạc triều trong sử Việt. Hoàng chi Mạc tộc và Cao Bằng . Tỉnh Cao Bằng có làng Đà Quận ở xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, từ thời Mạc đến nay hàng năm đều có Lễ hội chùa Đà Quận từ ngày 9 âm lịch đến rằm Nguyên tiêu tháng Giêng hàng năm để tảo mộ tổ tiên và dâng hương tưởng nhớ. Cao Bằng là đất sau cùng của nhà Mạc tiếp tục tồn tại hơn 100 năm sau khi nhà Mạc không còn triển vọng phục quốc mới nhập vào đất nhà Hậu Lê. Làng Đà Quận là làng dân Mạc theo hương linh Đà Quận Công Mạc Ngọc Liễn. Nhà Mạc tuân theo di nguyện của Mạc Ngọc Liễn danh tướng thái phó vua Mạc là không bao giờ vì dòng họ mình mà nồi da xáo thịt đưa ngoại viện vào giày xéo non sông. Mạc tộc lúc kế cùng lực kiệt đã đổi họ Mạc thành họ khác và lưu tán khắp mọi nơi trong cả nước, trong đó có Hoàng chi Mạc tộc Làng Minh Lệ và cho đến nay có Hoàng chi Mạc tộc đất phương Nam cũng là những người con xa xứ. Những ngày đầu xuân nay (2020) sau 428 năm (tính từ năm 1592 Cao Bằng thất thủ vì sự công phá của nhà Lê Trịnh), Việt sử ghi nhớ di nguyện tổ tiên, ‘Lời dặn sau cùng của Mạc Ngọc Liễn’ tại quốc sử Việt đối chiếu qua các thời viết về Mạc triều trong sử Việt: “Nay khí vận nhà Mạc đã hết, họ Lê lại trung hưng, đó là số trời. Dân ta là người vô tội mà khiến để phải mắc nạn binh đao, ai nỡ lòng nào! Chúng ta nên lánh ra ở nước khác, nuôi dưỡng uy lực, chịu khuất đợi thời, chờ khi nào mệnh trời trở lại mới làm được, chứ không thể lấy lực chọi với lực. Khi hai con hổ tranh nhau, tất phải có một con bị thương, không có ích gì cho công việc. Nếu thấy quân họ đến đây thì chúng ta nên tránh đi, chớ có đánh nhau với họ, cốt phòng thủ cẩn thận là chính; lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng”. Tác giả Trần Gia Phụng trong bài viết: “Những cuộc đổi họ lớn trong lịch sử” có đoạn bình luận về lời trăng trối của ông: “Đây không phải lời nói suông trong cảnh trà dư tửu hậu, nhưng đây là tâm huyết của một con người sắp nằm xuống trong cơn hoạn nạn cùng cực vì mất nước. Suốt trong lịch sử Việt Nam, chúng ta thường được nghe những lời nói của Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Đặng Dung, hào hùng như vó ngựa tổ tiên, nhưng ít khi được đọc những dặn dò như Mạc Ngọc Liễn – nhân bản, đầy tình tự dân tộc không khác gì lời ru êm ái trong những câu ca dao mộc mạc”.

3. Chuyện cổ tích người lớn “Người trồng cây hạnh người chơi, Ta trồng cây đức để đời về sau” Trong 8 đời chúa Nguyễn, không thấy ông nào làm điều gì thất đức. Ông nào cũng lo làm cho dân giàu nước mạnh. Lịch sử cuộc nam tiến đi từ Phú Yên đến Cà Mau-Châu Đốc chứng minh điều đó. Hậu thế đã được thừa hưởng biết bao phúc lợi từ sự nghiệp nam tiến đó! Có 3 ông chúa mang danh hiệu khác người: Chúa Sãi, chúa Hiền, chúa Ngãi. Nghe nôm na và thân tình biết mấy. Nếu cai trị mà không được dân thương mến và biết ơn  thì làm chi có những cách gọi kém vương giả nhưng giàu tình cảm như thế? Có đến 4 ông chúa, ngoài tên và vương hiệu, lại tự xưng là đạo nhân, như Thiên Túng đạo nhân (chúa Minh Nguyễn Phúc Chu), Vân Tuyền đạo nhân (chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ) hay Từ Tế đạo nhân (Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát), Khánh Phủ đạo nhân (Định Vương Nguyễn Phúc Thuần). Đó cũng là một nét đặc biệt. Nhiều ông chúa xây chùa (chúa Tiên lập chùa Thiên Mụ, Long Hưng, Bảo Châu, Kính Thiên; chúa Hiền lập chùa Túy Vân) hay  trùng tu chùa, đúc chuông, thỉnh sư giảng Pháp (chúa Minh).  Có lẽ nhờ biết tu nhân tích đức mà Đức năng thắng số, Số bất cập đức nên  tai qua nạn khỏi, như câu tục ngữ mà ông bà xưa thường nói để dạy khôn cho con cháu: Trời hại mới lo, người hại như phấn nhồi. Đó là nói nôm na, cho có vẻ chính xác và minh triết hơn thì đấy chính là nhân quả nghiệp báo”. Điều lạ lùng hơn cả trong Nam tiến của người Việt là liên minh Nguyễn Hoàng Mạc Cảnh Huống, Nguyễn Phúc Nguyên Mạc Thị là những uẩn khúc lịch sử chưa thể viết rõ.

xem tiếp Nhớ Ông Bà Cậu Mợ;https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-ong-bà-cau-mo/

Bát tuần tự vịnh
Minh Sơn Hoàng Bá Chuân

Bát tuần đã trãi việc đời nhiều
Chân chính bao nhiêu phúc bấy nhiêu
Nhân hậu thói nhà in một nếp
Trung kiên việc nước đủ trăm chiều
Lòng son phơi phới vầng trăng dọi
Tóc bạc phơ phơ ngọn gió phiêu
Hôm sớm sân Lai (*) thêm sắc mới
Sum vầy con cháu tiếng vui reo !

MẠC TRIỀU TRONG SỬ VIỆT .
Bạch Ngọc Hoàng Kim

Năm 1592 Cao Bằng thất thủ vì sự công phá của nhà Lê Trịnh. Hậu duệ nhà Mạc ngày nay sau 429 năm ghi nhớ lời dặn trăng trối sau cùng của Mạc Ngọc Liễn’ tại quốc sử Việt “Nay khí vận nhà Mạc đã hết, họ Lê lại trung hưng, đó là số trời. Dân ta là người vô tội mà khiến để phải mắc nạn binh đao, ai nỡ lòng nào! Chúng ta nên lánh ra ở nước khác, nuôi dưỡng uy lực, chịu khuất đợi thời, chờ khi nào mệnh trời trở lại mới làm được, chứ không thể lấy lực chọi với lực. Khi hai con hổ tranh nhau, tất phải có một con bị thương, không có ích gì cho công việc. Nếu thấy quân họ đến đây thì chúng ta nên tránh đi, chớ có đánh nhau với họ, cốt phòng thủ cẩn thận là chính; lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng”. Tác giả Trần Gia Phụng trong bài viết: “Những cuộc đổi họ lớn trong lịch sử” nhận xét “Đây không phải lời nói suông trong cảnh trà dư tửu hậu, nhưng đây là tâm huyết của một con người sắp nằm xuống trong cơn hoạn nạn cùng cực vì mất nước. Suốt trong lịch sử Việt Nam, chúng ta thường được nghe những lời nói của Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Đặng Dung, hào hùng như vó ngựa tổ tiên, nhưng ít khi được đọc những dặn dò như Mạc Ngọc Liễn – nhân bản, đầy tình tự dân tộc không khác gì lời ru êm ái trong những câu ca dao mộc mạc”. Tỉnh Cao Bằng ngày nay có làng Đà Quận ở xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, từ thời Mạc đến nay hàng năm đều có Lễ hội chùa Đà Quận từ ngày 9 âm lịch đến rằm Nguyên tiêu tháng Giêng hàng năm để tảo mộ tổ tiên và dâng hương tưởng nhớ. Cao Bằng là đất sau cùng của nhà Mạc tiếp tục tồn tại hơn 100 năm sau khi nhà Mạc không còn triển vọng phục quốc mới nhập vào đất nhà Hậu Lê. Làng Đà Quận là làng dân Mạc theo hương linh Đà Quận Công Mạc Ngọc Liễn. Nhà Mạc tuân theo di nguyện của Mạc Ngọc Liễn danh tướng thái phó vua Mạc là không bao giờ vì dòng họ mình mà nồi da xáo thịt đưa ngoại viện vào giày xéo non sông. Mạc tộc lúc kế cùng lực kiệt đã đổi họ Mạc thành họ khác và lưu tán khắp mọi nơi trong cả nước, trong đó có Hoàng chi Mạc tộc Làng Minh Lệ và cho đến nay có Hoàng chi Mạc tộc đất phương Nam cũng là những người con xa xứ.

CHUYỆN CỔ TÍCH NGƯỜI LỚN
Bạch Ngọc Hoàng Kim

Nam tiến của người Việt có sự liên minh giữa chúa Nguyễn Hoàng với Mạc Cảnh Huống, giữa chúa Nguyễn Phúc Nguyên và hoàng hậu Mạc Thị là những uẩn khúc lịch sử chưa thể viết rõ. “Người trồng cây hạnh người chơi, Ta trồng cây đức để đời về sau” Trong 8 đời chúa Nguyễn, không thấy ông nào làm điều gì thất đức. Ông nào cũng lo làm cho dân giàu nước mạnh. Lịch sử cuộc Nam tiến đi từ Phú Yên đến Cà Mau-Châu Đốc chứng minh điều đó. Hậu thế đã được thừa hưởng biết bao phúc lợi từ sự nghiệp Nam tiến đó..Có 3 ông chúa mang danh hiệu khác người: Chúa Sãi, chúa Hiền, chúa Ngãi. Nghe nôm na và thân tình biết mấy. Nếu cai trị mà không được dân thương mến và biết ơn  thì làm chi có những cách gọi kém vương giả nhưng giàu tình cảm như thế? Có đến 4 ông chúa, ngoài tên và vương hiệu, lại tự xưng là đạo nhân, như Thiên Túng đạo nhân (chúa Minh Nguyễn Phúc Chu), Vân Tuyền đạo nhân (chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ) hay Từ Tế đạo nhân (Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát), Khánh Phủ đạo nhân (Định Vương Nguyễn Phúc Thuần). Đó cũng là một nét đặc biệt. Nhiều ông chúa xây chùa (chúa Tiên lập chùa Thiên Mụ, Long Hưng, Bảo Châu, Kính Thiên; chúa Hiền lập chùa Túy Vân) hay  trùng tu chùa, đúc chuông, thỉnh sư giảng Pháp (chúa Minh).  Có lẽ nhờ biết tu nhân tích đức mà Đức năng thắng số, Số bất cập đức nên  tai qua nạn khỏi, như câu tục ngữ mà ông bà xưa thường nói để dạy khôn cho con cháu: Trời hại mới lo, người hại như phấn nhồi. Đó là nói nôm na, cho có vẻ chính xác và minh triết hơn thì đấy chính là nhân quả nghiệp báo”.

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là 1b-cac-cau-cua-bakim.jpg

HOÀNG CHI MẠC TỘC LÀNG MINH LỆ
Bạch Ngọc Hoàng Kim

Cụ Hoàng Bá Chuân, bố của bảy người con trai ở câu chuyện “Cuộc đoàn tụ bất ngờ của 5 anh em ngày giải phóng thủ đô“ là em ruột của bà ngoại tôi .Cậu ruột mẹ tôi, cụ Hoàng Bá Chuân, là dòng chính Hoàng chi Mạc tộc trong câu chuyện nêu trên. Cụ thường giáo huấn con cháu về nếp nhà phúc hậu văn hóa, và đã trao lại di thư: “Nhà tôi sinh được bảy người con/ Quyết chí chung tình với nước non/ Kháng chiến năm con đi khắp nước/ Lớn lên trai bé sẽ xung phong…” Cậu Cương ngọc trai bé của ông tôi, sau này cũng vào bộ đội Trung đoàn Thủ Đô (E102) Sư đoàn Quân Tiên phong (F308). Cậu Cương dần dà theo trọn đời nghề làm kỹ thuật vô tuyến điện nhưng cái nghiệp lắng đọng lại là thơ, theo dòng thời gian thao thức một tầm nhìn nhân văn sâu sắc, tài hoa, với một gia đình hạnh phúc, nếp nhà phúc hậu và văn chương đích thực. Hoàng chi Mạc tộc Làng Minh Lệ có một thuở đã lạc vào tai ách “Phố cụt”. Thật may mắn trước “Phố cụt” đã có “Phố khuya” để kịp bình tâm suy ngẫm, và sau “Phố cụt” “cùng tắc biến” là “Phố nối” hóa giải “Phố cụt”, tiếp “Phố cong Tam Đảo” và xuống đến đời thường “Đi trên phố nhỏ” bình yên của một vòng tròn nhân quả. Tôi đã tâm đắc để viết nên bài thơ “Thời gian lắng đọng người hiền.” trong sáng cà phê với CNM365

ĐI TÌM LỊCH SỬ BỊ QUÊN LÃNG
Bạch Ngọc Hoàng Kim kể chuyện chương sáu

Nam tiến của người Việt có sự liên minh giữa chúa Nguyễn Hoàng với viên phúc tướng Mạc Cảnh Huống, giữa chúa Nguyễn Phúc Nguyên và hoàng hậu Mạc Thị Gái là những uẩn khúc lịch sử nay chưa thể viết rõ. Lại.nhớ đến Vua Hàm Nghi và ông Nguyễn Thạc và chuyện Bà Đen Bài ca thời gian. Lịch sử Việt do sự chi phối của những yếu tố tất nhiên và ngẫu nhiên mà tạo nên bước ngoặt quyết định, đó âu là duyên nghiệp số phận của dân tộc liên quan cá nhân. Vua Hàm Nghi  tên thật là  Nguyễn Phúc Ưng Lịch hay là Nguyễn Phúc Minh, sinh ngày  3 tháng 8 năm 1871 mất ngày  4 tháng 1 năm 1943, niên hiêu là Hàm Nghi từ khi làm vua  ngày  2 tháng 8 năm 1884 cho đến khi bị đày sang xứ Algérie ở Bắc Phi  ngày 25 tháng 11 năm 1888. Vua là vị Hoàng đế thứ 8 của nhà Nguyễn. Việt Nam ngày nay xem ba vị vua Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân là các vua yêu nước chống Pháp  trong thời kỳ Pháp thuộc. ông Trương Thạc là người Việt Nam duy nhất cuối cùng bên linh cữu vua Hàm Nghi. Ông Trương Thạc là chồng của mệ Phong họ Trần, chị gái đầu của bà ngoại tôi. Các cậu tôi trong Hoàng chi Mạc tộc làng Minh Lệ có quan hệ thế nào với Võ Nguyên Giáp ẩn số Chính Trung là chuyện dài nếp nhà đẹp văn hóa.Thời gian lắng đọng người hiền.

HOÀNG GIA CƯƠNG THƠ HIỀN
Bạch Ngọc Hoàng Kim

Hoàng Gia Cương là tác giả của chùm thơ (chữ tin đậm mà Hoàng Kim trích dẫn trên đây). Cụ có các tác phẩm chính: Thơ 1) Lặng lẽ thời gian, Nxb Thanh Niên 1997, 2) Lắng đọng Nxb Hội nhà văn, 2001, 3) Trong cõi vô biên Nxb Hội nhà văn 2005, 4) Trãi nghiệm với thời gian Nxb Hội nhà văn 2010, 5) Theo dòng thời gian Nxb Văn Học 2013; Truyện ký 6) Cổ tích cho mai sau Nxb QĐND 2006. Tác phẩm thơ văn của Hoàng Gia Cương có mặt trên 30 tuyển tập, tập thơ văn in chung. Anh Bu Lu Khin Nguyễn Quốc Toàn viết: “Trong số thơ của Hoàng Gia Cương bu tui thích nhất bài “Phố Cụt”. Cái cụt của con đường là biểu trưng cho cái bê tắc, cái cụt lủn của khát vọng của con người. Người ta bám vào ba cái phao cứu sinh là Phật, Chúa, và Tư bản luận của Mác nhưng tất cả cũng chỉ là cơn gió bay qua “Gió nồm rồi gió heo may. Lạc vào phố cụt Bụi bay mù trời!”. Gia đình Hoàng gia Mạc tộc “thập tam thế hậu” nhờ phúc ấm tổ tông và nếp nhà nét đẹp văn hóa mà có được sự hanh thông hạnh phúc tiếp nối.

Danghuong

LỜI DẶN CỦA THÁNH TRẦN
Bạch Ngọc Hoàng Kim

Vạn Kiếp tông bí truyền thư Tâm cơ của nếp nhà, của Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương. Tác phẩm này còn gọi là Vạn Kiếp binh thư đã thất truyền. Bài tựa của Trần Khánh Dư trong cuốn sách này giải thích bí truyền đại sư là người thế nào: “Phàm người khéo cầm quân thì không cần bày trận, khéo bày trận thì không cần giao chiến, khéo giao chiến thì không thể thất bại, khéo thất bại thì không thương vong. Xưa kia, Cao Dao làm chức sĩ sư mà mọi người không dám trái mệnh, Văn Vương và Vũ Vương nhà Chu là bậc thầy về văn và về võ, ngấm ngầm sửa đức để khuynh loát quyền bính của nhà Thương mà lấy nghiệp vương. Đó đều có thể gọi là những người giỏi cầm quân, không cần bày trận vậy. Vua Thuấn múa lá mộc và lông trĩ mà họ Hữu Miêu tự mình tìm đến, Tôn Vũ nước Ngô đem mỹ nhân trong cung thử tập trận mà phía tây phá nước Sở hùng cường, phía Bắc ra uy với nước Tần nước Tấn, nổi tiếng khắp chư hầu. Đó đều có thể gọi là những người giỏi bày trận, không cần giao chiến vậy. Cho đến Mã Ngập nước Tấn dựa vào bát trận đồ chuyển đánh nghìn dặm, phá được Thụ Cơ Năng mà lấy lại Lương Châu. Thế gọi là người giỏi giao chiến không bao giờ thất bại vậy.Cho nên, trận nghĩa là bày ra, là khéo léo. Ngày xưa, vua Hiên Viên lập ra phép “tỉnh điền” để đặt binh chế, Gia Cát Lượng xếp đá bên sông để làm bát trận, Vệ công sửa lại làm trận Lục Hoa, Hoàn Ôn định ra trận Xà Thế, trước sau đều có trận đồ nổi tiếng, trình bày tuần tự, thành phép tắc rõ ràng. Nhưng người đương thời ít ai thông hiểu, muôn vàn đầu mối nhìn vào dường như rối loạn, chưa từng nắm được lẽ biến dịch bên trong. Ví như những phép tắc và suy luận của Lý Thuyên, người sau không ai hiểu nghĩa là gì. Vì thế, Quốc công ta bèn so sánh, kê cứu trận đồ và binh pháp của các nhà, tổng hợp lại thành một bộ sách. Tuy chép cả những điều chi tiết, nhưng người sử dụng thì nên bỏ bớt những chỗ rườm, tóm lấy thực chất. Rồi lấy năm hành ứng với nhau, chín cung câu với nhau, phối hợp cương và nhu, xoay vần chẵn và lẽ, không làm hỗn loạn âm dương và thần sát, phương lợi và sao tốt, hung thần và ác tướng, ba cát và năm hung, việc nào việc ấy thực phân minh rõ rệt. Quốc công lại còn thêm bớt với chiến thuật của thời Tam đại, nhờ đó trăm trận trăm thắng. Cho nên đương thời phía bắc làm cho Hung Nô phải sợ, phía tây làm cho Lâm Ấp phải kinh. Rồi ông đem sách này dạy bảo con em làm gia truyền, không tiết lộ cho người ngoài biết. Lại có lời dặn rằng: “Sau này con cháu và bề tôi phò tá của ta có học được bí thuật này thì nên lấy đầu óc sáng suốt, linh hoạt mà thực hành và sắp đặt nó, chứ không nên lấy đầu óc cứng nhắc, tối tăm mà cất giữ và lưu truyền. Nếu trái điều đó thì sẽ mang vạ vào thân, lại hại lây đến cả con cháu. Đó gọi là tiết lậu cơ trời vậy.” Bài tựa của Trần Khánh Dư cho Vạn Kiếp tông bí truyền thư, còn như sách Binh thư yếu lược mà người đời ngờ rằng bản thật đã bị cướp và thất lạc, đời sau chỉ có chân truyền lời này. Chùa Thắng Nghiêm (Hà Nội) nơi Trần Hưng Đạo lúc nhỏ tu học, là nơi Người hiển thánh. Ôi, đọc lại “Binh Thư Yếu lược” “Hịch Tướng Sĩ Văn” và Vạn Kiếp tông bí truyền thư, soi gương kim cổ, lắng nghe cuộc sống, đọc lại lời răn dạy nếp nhà là để biết sửa lỗi mình; Lời dặn của Thánh Trần

NGÀY XUÂN ĐỌC TRẠNG TRÌNH
Bạch Ngọc Hoàng Kim

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nói về phép xử thế của bậc hiền minh thuở thời thế nhiễu loạn, vàng lầm trong cát: ”Đạo trời đất là Trung Tân, vẹn toàn điều Thiện là Trung, không vẹn toàn điều Thiện thì không phải là Trung. Tân là cái bến, biết chỗ dừng lại là bến chính, không biết chỗ dừng lại là bến mê. Nghĩa chữ Trung chính là ở chỗ Chí Thiện.Trung Tân quán bi ký, 1543). Đạo ở mình ta lấy đạo trung/ Chớ cho đục, chớ cho trong (Thơ chữ Nôm, Bài số 104) Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ/ Người khôn, người đến chốn lao xao (Thơ chữ Nôm, Bài số 79). Làm việc thiện không phải vì công tích mà ở tấm lòng. Nay vừa sau cơn loạn lạc thì chẳng những thân người ta bị chìm đắm, mà tâm người ta càng thêm chìm đắm. Các bậc sĩ đệ nên khuyến khích nhau bằng điều thiện, để làm cho mọi người dấy nên lòng thiện mà tạo nên miền đất tốt lành. (Diên Thọ kiều bi ký, 1568) An nhàn, vô sự là tiên (Sấm ký)”. Người đời sau luận chuyện Lão Tử ‘dạy’ Khổng Tử: “Ngươi cứ nhìn vào trời đất mà hiểu Đạo của ta. Kìa, có trời thì có đất, có núi thì có sông, có cao thì có thấp, có dài thì có ngắn, có cương thì có nhu, có rỗng thì có đặc, có sáng thì có tối, có thẳng thì có cong… Mọi thứ đang dịch chuyển trong sự biến hóa vô cùng. Tự nhiên tự do nhưng có trật tự và cái lí của nó. Cao thì xa, thấp thì gần, dài thì yếu, ngắn thì mạnh, cương thì gãy, nhu thì dẻo, rỗng thì âm to, đặc thì câm. Mọi thứ trong trời đất gắn kết được nhờ khác biệt, không có chuyện giống nhau mà hợp lại được với nhau“. xem tiếp Ngày xuân đọc Trạng Trình; Hoàng Ngọc Dộ khát vọng (bài Ánh sao đêm) Hoàng Trung Trực đời lính (bài Trạng Trình) An vui cụ Trạng Trình

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là mung-em-lam-nguoi-thay-nhc3a2n-van.jpg

THỜI GIAN LẮNG ĐỌNG NGƯỜI HIỀN
Bạch Ngọc Hoàng Kim

Bình minh Yên Tử  đầu tiên
Ánh Trăng khuya rọi khắp miền thế gian
Hoàng Gia thi tứ nồng nàn
Tình yêu cuộc sống muôn vàn yêu thương.

Câu thơ lắng đọng đời thường,
Mạ ơi xúc động lời thương dặn dò,
Cha tôi là một nhà Nho,
Tìm về nguồn cội, Chớm thu … tuyệt vời !

Cội nguồn Lũng Động, Cổ Trai,
Khí thiêng cõi Bắc nhớ nơi sinh thành,
Vua Thái tổ Mạc Đăng Dung,
Hoàng chi dòng đích lưu cùng nước non.

Phố Cụt, Phố nối, Phố cong,
Đi trong phố nhỏ một vòng nhân gian
Rùa ơi tôn bậc trí nhân
Để nền Văn hiến ngàn năm không nhòa.

Sáu mươi năm Mạ đi xa,
Mạ ơi tiếng vọng không là niềm riêng.

Thời gian lắng đọng người hiền.
Đông tàn xuân tới, bình minh rạng ngời.

NẾP NHÀ ĐẸP VĂN HÓA
Hoàng Kim


“Nhân hậu thói nhà in một nếp / Chân chính bao nhiêu phúc bấy nhiêu”/ Một gia đình yêu thương/ Nếp nhà đẹp văn hóa/ Hoa Đất thương lời hiền / Nhà Trần trong sử Việt / Mạc triều trong sử Việt/ Nhớ Ông Bà Cậu Mợ / Trăng rằm sen Tây Hồ/ Trăng rằm vui chơi giăng. Nếp nhà là thói quen của một gia đình. Nguyễn Trãi có câu “Nên thợ, nên thầy nhờ có học/ No ăn, no mặc bởi hay làm”. Làm và Học là hoạt động sống cơ bản của con người để đáp ứng nhu cầu tối thiểu ăn mặc, yêu đương, nhà ở, đi lại, chăm sóc sức khỏe và chất lượng cuộc sống. Nếp nhà xét cho cùng là sự bảo tồn phát triển tự do của mỗi cá nhân gia đình và dòng họ. Soi thấu gia tộc là soi vào văn hóa lịch sử của sự kế thừa, phát triển và biến đổi.

Phúc hậu thói nhà in một nếp

Minh triết của đời người hạnh phúc là biết sống thung dung, phúc hậu, thanh thản, an nhiên tự tại, nhận ra kho báu vô giá của chính mình, không lo âu, không phiền muộn, sống với tinh thần dịu hiền và trái tim nhẹ nhõm. Hoàng Kim đúc kết tóm tắt về nếp nhà đẹp văn hóa xây dựng gia đình hạnh phúc, cần có phúc ấm gia đình với trí tuệ phúc hậu, minh triết, tận tâm, làm việc tự ý cẩn thận, lời nói là năng lực, im lặng là trí tuệ.  Cụ Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm (trong sách Hoàng Niêm đất Hương Sơn, Nhà Xuất bản Thuận Hoá, năm 2007) là cha ruột của những người con danh tiếng GS Nguyễn Khắc Dương, GS Nhà văn hoá Nguyễn Khắc Viện, GS Nguyễn Khắc Phi, Nhà văn Nguyễn Khắc Phê, nhà giáo Nguyễn Thị Dư Khánh, qua bài viết “Cụ Hoàng Giáp dạy con” của Vu Gia đã chúng ta thấy nét đẹp văn hóa của một gia đình hạnh phúc. GS. Hoàng Ngọc Hiến có bài bình giảng rất hay về nếp nhà Nên thợ, nên thầy” “No ăn, no mặc”. Ông Lê Quang Nhung ở Bến Tre có bài “Giữ lại nếp nhà” đã trao đổi thật thấm thía “Nếp nhà là cái ở sâu trong trái tim ta, là gốc rễ của con người nhưng do mải mê với cuộc sống, nhiều khi ta quên mất. Rất đồng tình với ai đó: Xã hội là nơi cho cá nhân phát triển, còn gia đình là nơi cá nhân hình thành tính cách, tâm hồn, tư duy, tài năng, đạo đức của con người. Vì vậy, xây dựng môi trường văn hóa từ gia đình phải là một mắc xích quan trọng trong quá trình giáo dục tính cách, tình cảm, tâm hồn, đạo đức, đặc biệt là cho giới trẻ. Tu được thân mới “tề gia”, rồi đến “trị quốc”, sau cùng là “bình thiên hạ”. Sắp xếp theo trình tự như vậy cũng có cái lý của người xưa.” Nhà văn Nguyễn Khải có bài viết “Nếp nhà” nói rõ quan niệm gia đình hạnh phúc qua lời kể của một bà cụ phúc hậu “Theo bà cụ, thời bây giờ có được vài trăm cây vàng không phải là khó, cũng không phải là lâu, nhưng có được một gia đình hạnh phúc phải mất vài đời người, phải được giáo dục vài đời. Hạnh phúc không bao giờ là món quà tặng bất ngờ, không thể đi tìm, mà cũng không nên cầu xin”. Bài này là suy nghiệm cá nhân về nếp nhà đẹp văn hóa

Hoàng Kim kính mừng thọ cậu Hoàng Thúc Cảnh vượt một trăm tuổi, cháu xin kể một mẫu chuyện nhỏ ân tình đã tạo nên sự đoàn tụ của Hoàng Gia như ngày nay : Năm 1977, cậu Hoàng Thúc Cảnh đã lên Đồn Lương, Việt Yên, Hà Bắc của Trường Đại học Nông nghiệp II Hà Bắc gặp thầy Hoàng Sỹ Oánh là Hiệu trưởng đầu tiên của Trường và nói: “Xin quý Thầy cho cháu Kim được chuyển trường vào Đại học Nông nghiệp 4 thành phố Hồ Chí Minh. Cháu Kim mồ côi cha mẹ từ nhỏ, cha bị bom Mỹ giết hại. Anh Trực của cháu trận mạc từ rất sớm và Kim đã xung phong nhập ngũ năm 1971 từ Trường Thầy. Cháu học giỏi lại trãi chiến đấu, nay được quý thầy quy hoạch học tập đào tạo ở Trường là thật mừng, nhưng mong quý Thầy chiếu cố hoàn cảnh của cháu thật thương tâm, trước đây cơm ngày một bữa suốt năm năm, nay anh em lưu tán. Gia đình ao ước lớn nhất là được tụ họp sau chiến tranh. Anh biết rõ tánh tôi ở gần gũi Bác Hồ và cụ Đồng, trọng tánh của các cụ mà chưa hề phiền lụy ai, nhưng riêng việc này nhờ anh chiếu cố cho cháu xin chuyển trường“. Thầy Đỗ Ánh Phó Hiệu trưởng và thầy Võ Hùng Trưởng Khoa Nông học đều cảm động và đồng tình. Hoàng Kim được chuyển trường khiến sau này cả gia đình chúng tôi có được cơ hội đoàn tụ đất phương Nam đó là nhờ đức nhân hậu, lòng yêu thương và tầm nhìn sáng suốt.

HAI BÀ TRẦN LÀNG MINH LỆ
Bạch Ngọc Hoàng Kim

Họ Trần làng Minh Lệ gia đình chúng tôi, ông ngoại họ Trần lấy bà ngoại họ Hoàng của gia tộc nêu trên sinh được ba người con. Mẹ tôi là gái đầu đi ở cho nhà địa chủ từ nhỏ. Mẹ tôi sinh ba trai và hai gái. Cậu ‘Trần Qua’ là con trai thứ nhưng mất từ rất nhỏ. Dì tôi là gái út thoát li làm cách mạng từ rất sớm. Dì sinh bốn người con trai. Mẹ tôi mất sớm đúng ngày mồng Ba Tết Nguyên Đán năm 1964. Cha nói trong nước mắt: ‘Các con gọi chồng dì bằng cậu, bởi hiếm có ai chăm sóc chị dâu tận tụy như dượng của các con’. Cha bị bom Mỹ giết hại ngày 29 tháng 8 âm lịch năm 1968. Chúng con lớn lên dưới lồng cánh cưu mang của Dì Cậu và đại gia đình Trần Hoàng Lê Nguyễn..Trong vận mệnh của Tổ Quốc và Gia Đình, cha và cậu đã từng cầm súng, bảy con trai của mẹ và dì có năm đứa đã từng cầm súng

Tết ấm áp tình thân
Hoàng Kim


1

Tết ấm áp tình thân
Tình yêu Ngày của Mẹ
Ngọc Quan Âm Mai Hoàng
Chuyên nhiều năm còn kể (*)

2

Ta chung nhau một ban mai
Vui bên cha mẹ một trời nắng xuân
Ta chung nhau một trong ngần
Yêu thương sống giữa người thân ân tình.

3

Tết ấm áp tình thân chào ngày mới
Ai cũng vui thân thiết những câu chào
Sống phúc hậu tận tâm khỏe khoắn
Thế giới người hiền minh triết khát khao.

Kim Hoàng53 phút @ Tuan Hoang HOÀNG ANH TUẤN LỘC XUÂN Chúc sinh nhật vui khỏe Xuân ấm áp tình thân Một niềm tin thắp lửa Lớp học Lương Thế Vinh
Hoàng Mạnh Tường giỗ Mạ 12 5 Giáp Thìn
Hôm nay con cháu đủ đàn /Vẫn chưa trọn hiếu một lần Mạ vui
(Văn Nghệ Quảng Minh tập 19 trang 66)

Ngày Giỗ Mạ
Hoàng Mạnh Tường


Con đi viếng Mạ Mạ ơi
Dĩa trầu cau cánh hoa tươi kính Người
Mấy chục năm Mạ đi rồi
Cây nhang nắm đất lệ rơi nhạt nhòa


Âm dương cách trở sơn hà
Nhìn lên di ảnh xót xa cõi lòng
Căn nhà ở lại quê hương
Mạ đi để nỗi nhớ thương đêm ngày


Nhìn từng ngọn cỏ gốc cây
Bóng hình của Mạ nôi này chốn kia
Tấm thân còm cõi nắng mưa
Khăn đen một chiếc sớm trưa đội đầu


Cả ngày bỏm bẻm nhai trầu
Bữa côm con cá cọng rau đủ rồi
Một đời khó nhọc Mạ ơi
Một đời góa bụa không lời thở than


Hôm nay con cháu đủ đàn
Vẫn chưa trọn HIẾU một lần Mạ vui
Nhớ Mạ nước mắt tuôn rơi
Nhìn quanh một nẽo đất trời quạnh hiu.


Giỗ Mạ 12/5 Giáp Thìn
Thăm Mạ 22 tháng Chạp Giáp Thìn (nhằm ngày 21/1/2025)


Nhớ Ông Bà Cậu Mợ
Hoàng Kim

VƯỜN NHÀ SỚM MAI NAY

Mưa ướt đất lành nắng mới lên
Nhớ thương bạn tới thật bình yên
Tình thân ấm áp vui trò chuyện
Đời sống #annhiên giữa chốn hiền.


#Nhàtôi cá vàng tung tăng nước
Vườn mình súng tím gió hương trời
Bụt mọc ngọc hồng tươi hướng biển
Phật đài vi diệu mới thủy nguyên


Hoàng Kim
Vườn nhà sớm mai nay – YouTube & https://hoangkimlongwordpress.com/category/vuon-nha-som-mai-nay

LÃO NÔNG NGÀY ĐƯỢC MÙA

Minh triết sống phúc hậu
Một gia đình yêu thương
Mạc triều trong sử Việt
Nếp nhà đẹp văn hóa

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chinh-ngo-doan-kinh-dich/

#phậtdượcsư #tretrúclâm
PHẬT DƯỢC SƯ

Nhớ Mẹ Cha Ông Bà Cậu Mợ
Thương Đức Độ Người Lành
Hiểu Thân Tâm An LẠC
Thấm Địa Tạng Dược Sư

Nhạc thiền tịnh tâm cho buổi sáng an lành & 9 phút mỗi sáng nạp tràn đầy năng lượng & Yêu thích sự bình an & Bí quyết sống thanh thản & 5 kiểu người càng sống càng có phước & 5 cách giao tiếp kỳ diệu với vũ trụ & 7 Dấu Hiệu Cho Thấy Bạn Không Phải Là NGƯỜI THƯỜNG & 8 KIẾP NẠN Bạn Đã VƯỢT QUA Mà Không Biết Dấu Hiệu Phước Báo Sắp Đến & 8 dấu hiệu tâm linh mạnh mẽ & 5 Dấu Hiệu Bạn Là Hậu Duệ Của Bồ Tát | Mang Căn Tu Từ Kiếp Trước Mà Không Biết & 9 DẤU HIỆU Bạn Có TRÍ TUỆ PHẬT ĐÀ Mà Không Nhận Ra | Thông Minh Khác Biệt Theo Lời Phật Dạy; Con xứng đáng với sự bình yên trong tâm mình . Tâm An

TÂM BỒ ĐỀ TU TÂP

#phậtdượcsư #tretrúclâm
Thấm Nhân Tình Thế Thái
Tâm Bồ Đề Tu Tập
An Trú Nội Tâm Mình

Khi có sự phỉ báng, nói xấu, sỉ nhục .. mà chúng ta nghe được, tuyệt đối không trách móc người. Lập tức phải phản tỉnh lại bản thân là mình có đúng như lời người ta nói hay không? Nếu như thực sự đúng như lời họ nói thì phải cải đổi, họ nhắc nhở ta, họ giáo huấn ta ở chỗ này, ta lập tức sửa sai lầm.

Ta phải cảm ơn họ, nhờ có họ ta mới nhìn lại lỗi ở bản thân. Biết được lỗi lầm của chính mình là giác ngộ, sửa được lỗi lầm của chính mình là tu hành.

Nếu như lời họ nói là vu oan cho ta, bản thân ta không có lỗi gì ta cũng phải cám ơn họ, vì họ đến tiêu Nghiệp chướng thay cho ta. Người mà vô duyên vô cớ bị người ta mắng, bị huy báng, bị sỉ nhục…về sau thường thường có đại Phước báo.

Nhẫn nhục là nền tảng của tâm thanh tịnh, giác ngộ rồi thì không có tham sân si, khi mê thì vẫn còn tham sân si.

Nếu như chúng ta khởi tâm oán hận thì Phước báo đó không còn. Sau này làm gì có Phước báo, điều này được ghi chép rất nhiều trong lịch sử, là thật không phải giả.

Cho dù chính bản thân mình không có thịnh vượng, thì con cháu sẽ thịnh vượng. Cho nên chúng ta phải tu nhẫn, chấp nhận bị vu oan, chấp nhận bị hiểu lầm, tuy không dễ với người phàm nhưng với người tu muốn đạt cảnh giới trên cao thì phải tu nhẫn nhục trước tiên.

Sau này Phước đó rất là lớn. Nhưng quan trọng tâm của chúng ta không được oán hận, dù là một chút mảy may thôi cũng không được khởi lên. Nếu khởi lên sân hận thì ngay lập tức công đức và phước đức đều bị tiêu tan do cái tâm sân hận mà ra. Vì sao nói có cả công đức trong đó, vì trong hoàn cảnh nghịch cảnh đó, bạn tu dưỡng được Nhẫn nhục ba la mật, mà không khởi tâm sân hận thì công đức của bạn liền có.

Nam Mô A Di Đà Phật

Đường đời duyên phận gặp nhau
Lối chung cõi phúc gắng câu thiện lành
Bình sinh may được gặp mình
Đoàn viên vận mệnh kết tình thiên thu

Tam sinh tam thế an hòa
Lắng kinh bát nhã thấm thơ tâm hồn

Hoàng Kim
tích hợp #ĐẹpvàHay #Annhiên #Tỉnhthức Pháp Thiện Yêu Thương Con Bằng Trí Tuệ odnstroeSp7ma311cg https://www.facebook.com/ Yeuthuongconbangtritue/ videos/811042370968437 với Việt Nam con đường xanh https://hoangkimlong.wordpress.com/category/viet-nam-con-duong-xanh/

#Nhàtôi

Thủy khờ yêu gã Kim mơ
đức độ cần kiệm, thẩn thơ lụy tài
mặc ai ham hố chuyện trời
#Nhàtôi yêu thích trọn đời sắn khoai

lúa ngô mê mãi tháng ngày
#Thungdung đèn sách số dày #annhiên

Vu Lan Giáp Thìn 2024

Chính Trung Hiếu Thiện Lành
Một Gia Đình Yêu Thương

Vui Đi Dưới Mặt Trời
#cnm365 #TìnhYêuCuộcSống

#ĐáVàng Với #BanMai

Hoàng Kim

Chính Trung Hiếu Thiện Lành
Một Gia Đình Yêu Thương

Vui Đi Dưới Mặt Trời
#cnm365 #TìnhYêuCuộcSống

#ĐáVàng Với #BanMai

Biết Ơn Lời Thầm Lặng
Bài Học Đầu Đời Con

https://cnm365.wordpress.com & https://youtu.be/2cS7AQdf_To & Tâm Inamori Kawano Sách Quý https://youtu.be/ryRBFmn6b0c?si=m8w5lWnr9RRN_23T

#ana Na, Harry và chị Sóc học ngoại ngữ
https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana

TRÀ SỚM VỚI LÃO NÔNG

Dưỡng Sinh Thở Viết Tốt
Sắc Diện Trí An Tâm
Cụ Hoàng Vui Sống Khỏe
Soi sáng lại chính mình

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tra-som-voi-lao-nong/

THƯỢNG ĐỨC THƯƠNG NHÌN LẠI

Ta trở lại chân quê tình đất đỏ
Nhớ thương thầm gạo đỏ chốn rừng xanh
Lời trung hiếu trăm năm còn muốn kể (*)
Hoàng Thành ơi thăm thẳm đợi quay về

Kim Hoàng @nêu bật

LINH GIANG SÔNG QUÊ HƯƠNG

Nhà mình gần ngã ba sông
Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình
Linh Giang sông núi hữu tình
Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con


Chèo thuyền cho khuất bến Son
Để con khỏi chộ nước non thêm buồn “

Câu ru quặn thắt đời con
Mẹ cha mất sớm, con còn trẻ thơ


Ra đi từ bấy đến chừ
Lặn trong sương khói bến đò sông quê
Ngày xuân giữ vẹn lời thề
Non sông mở cõi, tụ về trời Nam.


Hoàng Kim

HOME RIVER

Learning the attitude of water that goes like the river

My house is near a confluence
Rao Nan, Cho Moi, Nguon Son, Quang Binh
Linh River charming Mountain River
The place where I was born.


“Rowing far away the SON wharf
Not to see our village that makes me sadder “
Lullaby makes me heart- rending
My parents died early when I was a baby.


Leaving our village since then
Diving in smog from the wharf of our river
Keeping full oath in Spring days
When the country unify, we’ll live together in the South


English translation
by NgocphuongNam



LINH RIVER

Hoang Kim
Learning the attitude of water that goes like the river

By confluence sited is my home
Rao Nam, Cho Moi, Nguon Son, Quang Binh
Linh river of charming
That is place releasing a person


Rowing out of the Son
Let is the upset not involved in my mind
Such a sad lunlaby
Parents is dead left five child barren


Leaving home since then
Smog of wharf is driven my life
When Vietnam unified
The South chosen the homeland to live.


English translation
by Vu Manh Hai

😍https://hoangkimlong.wordpress.com/category/linh-giang-song-que-huong Linh Giang sông quê hương “Chèo thuyền cho khuất bến Son Để con khỏi chộ nước non thêm buồnCảm ơn anh Bu Nguyễn Quốc Toàn và anh Ruc Hung để thấm thía đọc lại Tỉnh thức cùng tháng năm Gia Cát Mã Tiền Khóa Thành tâm với chính mình https://youtu.be/t-el5mFWkjU để thấu hiểu vì sao Lưu Bị nhói trong tim thụp lạy tôn hiền tài nặng lòng Son đến vậy!

Đồng Nai Nôi Bồ Đề
ĐI NHƯ MỘT DÒNG SÔNG
Hoàng Kim

1
Linh Giang sông quê hương
Lời thề trên sông Hóa
Đá Đứng chốn sông thiêng
Đại Lãnh nhạn quay về.

2
Lời dặn của Thánh Trần
Minh triết Hồ Chí Minh
Thầy nghề nông chiến sĩ
Đồng xuân lưu dấu hiền

3
Chuyện đời tôi Hoàng Kim
Chín điều lành hạnh phúc
Chim Phượng về làm tổ
Chung sức trên đường xuân

4
Nguyễn Trãi Dục Thúy Sơn
Nguyễn Du trăng huyền thoại
Tô Đông Pha Tây Hồ
Nguyễn Hiến Lê sao sáng

5
Việt Nam con đường xanh
Cây Lương thực Việt Nam
Ngày xuân đọc Trạng Trình
Sóc Trăng Lương Định Của.

6
Dạo chơi non nước Việt
Về Nghĩa Lĩnh Đền Hùng
Lên Trúc Lâm Yên Tử
An Viên Ngọc Quan Âm

7
Trường tôi nôi yêu thương
Dấu xưa thầy bạn quý
Thầy bạn là lộc xuân
Thầy bạn trong đời tôi

8
Giấc mơ thiêng cùng Goethe
Châu Mỹ chuyện không quên
Ấn Độ địa chỉ xanh
Trung Quốc một suy ngẫm

9
Giấc mơ lành yêu thương
Cuối dòng sông là biển
Sự chậm rãi minh triết
Cây đời mãi tươi xanh

Hình ảnh này không có thuộc tính văn bản thay thế; tên tập tin là 2017-10-13_con-theo-nguoi-nguyen-lam-hoa-lua.jpg

Hoa Đất Thương Lời Hiền

Việt Nam con đường xanh
Đường xuân theo chân Bác
Thầy nghề nông chiến sĩ
Đường Sống Đạo Làm Người
#vietnamhoc #phậtdượcsư #ĐáVàng #cnm365 #cltvn

TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM
Tổ Quốc Lùm Trần Thương *

Chính Trung Hiếu Thiện Lành
Một Gia Đình Yêu Thương
An Nhiên Vùng Thủy Kính
cnm365 Tình Yêu Cuộc Sống

HoangKim, Cây Lương Thực

LÙM TRẦN THƯƠNG TỔ ƠI

Tổ Ơi
Tổ Mai Danh Ẩn Tích
Lùm Trần*****

Chịu bao nhiêu
Khó nhọc
Để đền ơn
Tổ Quốc


Sự nghiệp
Minh Đức

Bao nhiêu
Xương máu
Ông cha

Bến Lội
Lệ Sơn
Rào Nan
Rú Cấm
Ma Ca

Đồng Hải

Nước mắt
Bậc anh hùng

Hậu Sinh
Đưa Cháu Con về
Thăm thẳm
Phương trời
Tưởng vọng

(*) Linh Giang sông quê hương
HỌC ĐI MÀ NHỚ MÃI
Hoàng Kim


Trên bục giảng mùa xuân
Chuyện nước phân cần giống
Nghề nhà nông hạt gạo
Chuyện đời không thể quên

Hồng Quang nhẹ bước đường CẬU HOÀNG CỦA CHÚNG TÔI Nhớ Ông Bà Cậu Mợ / Một Gia Đình Yêu Thương/ Nhân Hậu Nếp Nhà Quý/ Đức Độ Sáng Đời Thường/ Bình Sinh Ban Mai Hững/#Annhiên với #Thungdung/ Người nhàn vui thiện nghiệp/ https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-15-thang-3

Học đi em
Học đi mà nhớ mãi

Có một thời để nhớ
Có một thời để thương …


Linh Thủy làng Kim Linh
Thọ Linh đập Rào Nan
Đá Đứng chốn sông thiêng
Tích xưa và chuyện mới


Nghe nhạc Trịnh Công Sơn
Mẹ ở làng Thọ Linh
Chuyện cụ Nguyễn Tư Thoan
Khát vọng đập Rào Nan


Linh Giang sông quê hương
Quảng Bình với Trường Sơn
Quảng Bình đất và người
Đọc mà nước mắt chảy …


Thành Kính Tiễn Biệt Cụ /An Nhiên Chốn Thiện Lành/ Linh Giang Sông Quê Hương/ Lời Thương Làng Minh Lệ/ Địa Linh Sinh Nhân Kiệt/ Nhân Hậu Sống Bình An/ Tâm Sáng Bền Phúc Khí/ Cụ Lên Đường #ThungDung https://www.facebook.com/dung.hoangthi.5095 & https://hoangkimlong.wordpress.com/2025/03/19/linh-giang-song-que-huong/

xem tiếp: Hoa Đất của quê hương
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoa-dat-cua-que-huong/

Hoàng Kim Nguyễn Thị Thủy

Chuyên mục

#cnm365 #cltvn Nắng mới
https://cnm365.wordpress.com
Run away with me

Chuyên mục

NẮNG MỚI
Hoàng Kim

Mưa ướt đất lành nắng mới lên
Đêm thương sương rụng nhắc ngoài hiên
Núi trùm mây khói trời chất ngất
Ngày tháng thung dung nhớ bạn hiền

Ban mai tỉnh thức chim kêu cửa
Hoa rắc bên song đẫm nước non
Ô hay gió mát hương trời biển
An giấc đêm ngon chí vẫn nồng …

Vui chợp mắt dưới trời Tam Đảo

CHUYỆN NGÀY SINH CỦA THỦY
Hoàng Kim

Âm lịch giao hòa dương lịch đây.
Đêm ba mươi Tết ấm men say.
Sao Kim sao Thủy hôm mai mọc
Trăng mẹ hiền soi nước biển đầy

— với Nguyễn Thị Thủy.

Nguyễn Thị Thủy: “Khi xưa, lúc còn nhỏ, mẹ thường kể ngày này là ngày sinh”

#CNM365 Tình yêu cuộc sống
Hoàng Kim chúc vui Thiện Lạc


Ta vui hòa nhịp thời gian
Thung dung nhàn giữa gian nan đời thường

THƠ VIẾT BÊN THÁC IGUAZU
Hoàng Kim

Thương em
Nước vùn vụt dội xuống
Sóng thình thịch cuộn lên
‘Thương tiến tửu’ Lý Bạch (2)
Ta thì thương nhớ em.

‘Tỉnh dạ tư’ thơ tiên
Người hiền trong suối bạc
Chiếu đất ở Thái An (3)
Vàng ròng lầm trong cát.

“Trên giường ánh trăng rọi,
Dưới đất như mờ sương.
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,
Cúi đầu nhớ cố hương.”
(2)

Thấy chăng ai
nước sông Hoàng trời tuôn 

Trút băng ra
chẳng quay về được nữa.

Lại chẳng thấy
lầu cao gương trong thương đầu bạc

Sớm tựa tơ xanh, chiều nhuốm tuyết
Đời người thoải mái cứ thung dung
Chớ để chén vàng trơ trước nguyệt” (2)

Ta với chim quấn quýt
Giữa đất trời bình yên
Nhớ quê nhà thác nước
Bản Giốc và Ka Long

Bài học lớn lòng ta
Thương emĐiểm hẹn
Kiệt tác của tâm hồn
500 năm nông nghiệp.

Thác nước Iguazu (1)
Brazil Nam Mỹ
Di sản thiên nhiên đẹp
Thăm thẳm rừng nguyên sinh

Nước vùn vụt dội xuống
Sóng thình thịch cuộn lên
‘Thương tiến tửu’ Lý Bạch
Ta thì thương nhớ em.

CHIẾU ĐẤT Ở THÁI AN
Hoàng Kim

Tỉnh thức lên Thái Sơn
Thung dung ngủ cội tùng
Chiếu đất ở Thái An
Đêm thiêng chào ngày mới

Ai uống rượu Hàm Hanh
Lòng tưởng nhớ Lỗ Tấn
Ta mang rượu Thái Sơn
Ngon xách về chẳng dễ

Núi cao ta trông
Đường rộng ta đi
Tuy đích chưa đến
Nhưng lòng hướng về

Lên Thái Sơn hướng Phật
Về ngủ bên cội tùng
Trải một cơn gió bụi
Thoáng chốc ba mươi năm

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bai-ca-nhip-thoi-gian/

NGỌC PHƯƠNG NAM
Hoàng Kim

‘Quên tên cây
làm thuyền
Tận cùng nỗi cô đơn
– độc mộc!

Khoét hết ruột
Chỉ để một lần ngược thác
bất chấp đời
lênh đênh…‘ (4)

hứng mật đời
thành thơ
việc nghìn năm hữu lý
trạng Trình

đến trúc lâm
đạt năm việc lớn hoàng thành
đất trời xanh
Yên Tử (5)…

(1) Iguazu di sản thiên nhiên thế giới tuyệt đẹp giữa Brasil và Argentina tại rừng lớn nhất Nam Mỹ https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-ky-niem-mot-thoi (2) Lý Bạch nhà thơ Trung Quốc (3) Thái An điểm nhấn du lịch văn hóa bậc nhất Trung Quốc (4) thơ Trịnh Tuyên (5) Hoàng Kim họa đối; **) Hoàng Thành với 30 Hoàng Diệu Võ Miếu Việt Nam

EMBRAPA Brazil Bạn tôi ở nơi ấy

Science that transforms your life – Embrapa’s Institutional Video

Thác Iguazu

The World’s Most Beautiful Waterfalls

NHỚ NGƯỜI
Hoàng Kim nhớ Đào Công


Đời trãi năm trăm năm Thương người hiền một thuở Hậu sinh về chốn cũ Thăm vườn thiêng thiên thu. Ngược gió đi không nản Rừng thông tuyết phủ dày Ngọa Long cương đâu nhỉ? Đầy trời hoa tuyết bay ! Lồng lộng vầng trăng rằm Một vườn thiêng cổ tích Người là ngọc cho đời Tháng năm còn nhớ mãi.

Hoàng Kim đã về dâng hương tưởng nhớ Đào Duy Từ ở đất Tùng Châu xưa. Tôi lần tìm theo những trang ghi chép cũ để thấu hiểu sự nhọc nhằn khởi nghiệp của bậc anh hùng và để thấy dấu ấn cùng với những ảnh hưởng lớn lao của Đào Duy Từ đối với mảnh đất này. Tôi may mắn thăm Đình Lạc Giao, Lũy Thầy và các nơi ở Quảng Bình, Thanh Hóa để chứng ngộ công đức của Người và cảm nhận.

Cám ơn gia tộc Đào Duy, phó giáo sư Đào Thế Anh, giáo sư Mai Văn Quyền, giáo sư Lê Văn Tố, phó giáo sư sử học Trương Minh Dục, thầy Dương Duy Đồng, thầy Nguyễn Minh Hiếu, em Nguyễn Thị Trúc Mai, em Phạm Văn Ngọc, một số người đã trực tiếp chứng kiến các khảo sát điền dã nông nghiệp lịch sử của tôi đã gợi ý cho tôi tiếp tục hoàn thiện bài viết này.

Đào Duy Từ (1572–1634) là quân sư danh tiếng của chúa Nguyễn Phúc Nguyên, bậc kỳ tài chính trị quân sự lỗi lạc, danh nhân văn hóa kiệt xuất, khai quốc công thần số một được thờ ở Thái Miếu của nhà Nguyễn. Hàng năm vào ngày 17 tháng 10 âm lịch (nhằm ngày 13 đến 23 tháng 11 dương lịch tùy theo từng năm) là ngày giỗ Đào Duy Từ. Ông bắt đầu thi thố tài năng từ năm 53 tuổi đến năm 62 tuổi thì mất. Đào Duy Từ chỉ trong 9 năm ngắn ngủi (1625-1634) đã kịp làm nên năm kỳ tích phi thường với nhiều hiền tài và di sản còn mãi với non sông. Mộ của cụ Đào Duy Từ nằm khiêm nhường giữa vườn sắn KM94 xanh tốt tại thôn Phụng Du, xã Hoài Hảo, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định . Đầu mộ của cụ là hai trụ đá lớn, đỉnh tạo dáng búp sen. Cuối mộ của cụ có một gốc cây cổ thụ, tán lẫn với rặng dừa. Thông tin tại Nhớ Người. Đào Duy Từ còn mãi với non sông https://hoangkimlong.wordpress.com/category/dao-duy-tu-con-mai-voi-non-song/; bảo tồn và phát triển chuyên mục tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-23-thang-11/.

ĐÀO DUY TỪ THỜI THẾ VÀ SỰ NGHIỆP

Đào Duy Từ sinh năm 1572 ở làng Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ Tỉnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Thời ấy, Nguyễn Hoàng, chúa khởi nghiệp nhà Nguyễn, có quê tại huyện Tống Sơn (nay là huyện Hà Trung). Nhà thờ họ Nguyễn hiện ở đình Gia Miêu, xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Ông Nguyễn Hoàng là con thứ hai của ông Nguyễn Kim (tức Hữu vệ Điện tiền Tướng quân An Thanh hầu Nguyễn Hoằng Kim) cháu của ông Nguyễn Hoằng Dụ, chắt của ông Nguyễn Văn Lang, đều là các trọng thần của nhà Lê. Nguyên khi xưa ông Nguyễn Kim khởi nghĩa giúp nhà Lê đánh nhà Mạc đã lấy được đất Thanh Nghệ nhưng khi thừa thắng đem quân ra đánh Sơn Nam thì bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đánh thuốc độc chết, binh quyền giao lại cho con rể Trịnh Kiểm. Người anh của Nguyễn Hoàng là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm kiếm chuyện giết đi vì sợ đức độ và tài năng của hai anh em nhà vợ đoạt mất quyền mình. Nguyễn Hoàng sợ Trịnh Kiểm ám hại nên đã hỏi kế của Nguyễn Bỉnh Khiêm và được Trạng Trình bảo rằng “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”. Ông đã xin vào trấn thủ Thuận Hóa từ năm 1558.

Năm Đào Duy Từ ra đời thì Trịnh Kiểm vừa mới mất (1570) trao quyền lại cho Trịnh Cối để lo việc đánh dẹp. Trịnh Cối say đắm tửu sắc, tướng sĩ nhiều người không phục. Trịnh Tùng, con thứ của Trịnh Kiểm, đã rước vua Lê về đồn Vạn Lại và công khai chống lại anh ruột, Nhân lúc anh em họ Trịnh đánh nhau, Mạc Kính Điển cùng với các danh tướng Nguyễn Quyện, Mạc Ngọc Liễn đem 10 vạn quân vào đánh Thanh Hóa. Trịnh Cối liệu thế không địch nổi đã đầu hàng Mạc. Trình Tùng đưa vua về Đông Sơn, phòng ngự chắc chắn, liều chết cố thủ. Mâc Kính Điển đánh mãi không được, lâu ngày hết lương, phải rút quân về. Trình Tùng oai quyền vượt vua, Anh Tông lo ngại tìm cách giết Trịnh Tùng. Mưu việc không thành, vua sợ chạy vào Nghệ An, bị Trịnh Tùng lập vua mới Thế Tông Lê Duy Đàm bảy tuổi lên làm vua và cho người truy sát giết chết vua cũ. Suốt 10 năm 1573-1583 Trịnh Tùng cố thủ vững chắc Thanh Hóa. Sau khi Mạc Kính Điển mất (1579) thế lực hai bên thay đổi. Năm 1591, Trịnh Tùng cử đại binh đánh ra Thăng Long, bắt được Nguyễn Quyện, phá hào lũy và rút về Thanh Hóa. Vua Mạc Mậu Hợp say đắm vợ người, bạc đãi tướng sĩ, làm nát cơ nghiệp nhà Mạc. Tướng nhà Mạc là Văn Khuê về hàng nhà Lê. Trịnh Tùng đem đại binh trở lại Thăng Long, đánh tan quân Mạc, giết Mạc Mậu Hợp. Nhà Mạc mất ngôi. Con cháu nhà Mạc giữ đất Cao Bằng được ba đời nữa. Vua Lê chỉ còn trên danh nghĩa được cấp bổng lộc thượng tiến, thu thuế 1000 xã và 5000 lính túc vệ và chỉ thiết triều tiếp sứ. Mọi việc lớn nhỏ đều do chúa Trịnh điều hành. Họ Trịnh tôn Lê vì sợ nhà Minh sinh sự lôi thôi và sợ những kẻ chống đối lấy cớ phù Lê, hơn nữa họ Nguyễn có thế lực mạnh và họ Mạc còn đang giữ đất Cao Bằng.

Năm 1572, nhân lúc anh em Trịnh Cối, Trịnh Tùng đánh nhau, nhà Mạc đem quân đánh Thanh Hóa và cho một cánh thủy quân do tướng Lập Bạo chỉ huy đánh Thuận Hóa. Nguyễn Hoàng đã cho gái đẹp Ngô thị giả cách đưa vàng bạc đến cầu hòa, dụ Lập Bạo ra ái ân trên bãi biển vắng. Lập Bạo không đề phòng nên bị quân Nguyễn trong cát nổi lên giết chết. Quân Mạc bị đánh tan. Nguyễn Hoàng từ năm 1592 đến năm 1600, đã kéo quân ra Bắc giúp Trịnh diệt Mạc và lập được nhiều công to nhưng Trịnh Tùng luôn để ý đề phòng và Nguyễn Hoàng đã không thể có cớ gì để trở lại đất cũ. Năm 1600 nhân dịp đi đánh giặc, Nguyễn Hoàng đã theo đường biển về lại Thuận Hóa. Sợ họ Trịnh nghi ngờ, ông đã gả con gái Ngọc Tú cho Trịnh Tráng là con trai thứ của Trịnh Tùng. Năm 1613, Nguyễn Hoàng sắp mất, gọi người con thứ 6 là Nguyễn Phúc Nguyên vào dặn rằng: “Đất Thuận, Quảng này, bên bắc thì có núi Hoành Sơn, sông Linh Giang, bên nam có Hải Vân và núi Bì Sơn, thật là một nơi trời để cho người anh hùng dụng võ. Vậy ta phải thương yêu nhân dân, luyện tập quân sĩ để mà gây dựng cơ nghiệp về muôn đời”/ Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên nối nghiệp cha giữ đất phương Nam, theo đúng lời di huấn của cha “thương yêu nhân dân, luyện tập quân sĩ”, bên ngoài kính cẩn nhận chức do vua Lê phong cho, giữ hòa hiếu với anh rể Trịnh Tráng, nhưng bên trong đã ngầm súc tích nội lực, tỉnh táo đối phó với mưu mô giảo hoạt tìm mọi cách thôn tính, khống chế của họ Trịnh.

Đào Duy Từ với tầm nhìn xa rộng và nhãn quan chính trị sâu sắc đã nhận ra tình cảnh trớ trêu trên. Hình thái Lê Trịnh, Mạc, Nguyễn thời ấy thật giống như “Tam Quốc”: Họ Trịnh noi cách Tào Tháo mượn uy thiên tử để sai khiến chư hầu. Họ Mạc tuy sức cùng lực kiệt nhưng được nhà Minh hậu thuẫn Nhà Minh luôn rình đợi thời cơ để can thiệp vào nước ta như cách “giúp Trần, cầm Hồ” của triều trước. Họ Nguyễn giữ đất phương Nam chân chúa lô rõ, hiền tài theo về. Đào Duy Từ như Ngọa Long ở Long Trung ẩn nhẫn đợi thời. Ông chỉ quyết định vào Nam khi đã định rõ minh quân, danh tướng, chiến lược, sách lược các đối sách trước mắt và lâu dài của bàn cờ lớn.

Lịch sử ghi nhận rằng Đào Duy Từ có bố là Đào Tá Hán, trước làm lính cấm vệ trong triều Lê Trịnh, bị phạm húy khi làm thơ đã dám nói tên của chúa Trịnh Kiểm nên bị phạt đánh đòn và đuổi về nhà làm dân thường. Bố của ông sau trở thành kép hát nổi tiếng khắp vùng và kết duyên với bà Vũ Thị Kim Chi ở làng Ngọc Lâm. Đào Duy Từ được sinh ra ở làng Hoa Trai, khi ông lên 5 tuổi thì bố bị bệnh mất, người mẹ ở góa, tần tảo nuôi con ăn học. Theo luật lệ của triều đình bấy giờ thì con cái những người làm nghề ca xướng đều không được quyền thi cử. Bà Kim Chi tiếc cho tài học của con nên đã nhờ viên xã trưởng đổi họ Đào của con theo cha thành họ Vũ theo mẹ. Năm 1593 lúc Đào Duy Từ 21 tuổi, vào đời vua Lê Thế Tông (l567-1584) đã đỗ á nguyên tại kỳ thi Hương. Ông dự thi Hội thì bị viên xã trưởng mật báo và tố giác vì mẹ ông đã không chịu gian díu với hắn. Ông bị cấm thi vì trọng tội “gian lận trong thi cử”, bị giam giữ xét hỏi, trong khi mẹ ông ở nhà đã phẫn uất tự tử. Đào Duy Từ lấy vợ họ Cao ở Tống Sơn nên có quen biết chúa Nguyễn Hoàng từ trước. Đào Duy Từ đã rời quê hương vào Đàng Trong lập nghiệp khoảng năm 1622 đến 1625 khi ông đã 50- 53 tuổi. Đào Duy Từ vào Nam sau ba mươi năm trầm tĩnh đợi thời. Ứng xử của ông giống như Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nhẫn nại đợi thời cơ sau hai mươi năm mới ra lựa chọn triều Mạc và ra dự thi lập tức đoạt Trạng nguyên. Đào Duy Từ cũng chọn hướng vào Nam rất sâu sắc, có tính toán và đúng thời cơ. Đây không phải là một sự uất ức tầm thường mà là sự nhẫn nại của bậc trí giả, thời thế nhiễu loạn, vàng lầm trong cát mà thôi. Đào Duy Từ được Chúa Nguyễn trọng dụng, đã hết lòng giúp chúa Nguyễn đạt được năm kỳ tích lạ lùng và nổi bật ngời sáng trong lịch sử Việt Nam:

1) Giữ vững cơ nghiệp của chúa Nguyễn ở Đàng Trong chống cự thành công với họ Trịnh ở phía Bắc. Ông đã cùng các danh tướng Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến bày mưu định kế, luyện tập quân sĩ, xây đồn đắp lũy, tổ chức tuyến phòng ngự chiều sâu từ phía nam sông Linh Giang đến Lũy Trường Dục (ở huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình) và Lũy Thầy (từ cửa sông Nhật Lệ đến núi Đâu Mâu, Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình). Suốt thời Trịnh Nguyễn phân tranh kéo dài suốt 45 năm (1627-1672) đánh nhau cả thảy bảy lần, họ Trịnh thường mạnh hơn nhưng quân Nam tướng sĩ hết lòng, đồn lũy chắc chắn nên đã chống cự rất hiệu quả với quân Trịnh.

2) Mở đất phương Nam làm cho Nam Việt thời ấy trở nên phồn thịnh, nước lớn lên, người nhiều ra. Đào Duy Từ có duyên kỳ ngộ với tiên chúa Nguyễn Hoàng và chân chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Ông hết lòng phò vua giúp nước “cúc cung tận tụy đến chết mới thôi” như Ngọa Long Gia Cát Lượng Khổng Minh. Đào Duy Từ mang tâm nguyện và chí hướng lớn lao như vua Trần Thái Tông “Nếu chỉ để lời nói suông cho đời sau, sao bằng đem thân mình đảm nhận trọng trách cho thiên hạ trước đã”. Di sản của ông không chỉ là trước tác mà còn là triều đại.

3) Đào Duy Từ là bậc kỳ tài muôn thuở với những di sản còn mãi với non sông. Ông là nhà thực tiễn sáng suốt có tầm nhìn sâu rộng lạ thường. Ông đã đặt nền móng vững chắc cho triều Nguyễn, sửa sang chính trị, quan chế, thi cử, võ bị, thuế khóa, nội trị, ngoại giao gắn với hệ thống chính trị tiến bộ hợp lòng dân. Với tài năng tổ chức kiệt xuất của Đào Duy Từ, chỉ trong thời gian ngắn ngủi chín năm (1625-1634), ông đã kịp xây dựng được một định chế chính quyền rất được lòng dân. Triều Nguyễn sau khi Đào Duy Từ mất (1634) còn truyền được 8 đời (131 năm), cho đến năm 1735, khi Vũ Vương mất, thế tử chết, Trương Phúc Loan chuyên quyền, lòng người li tán, nhà Tây Sơn nổi lên chiếm đất Quy Nhơn, họ Trịnh lấy đất Phú Xuân, thì cơ nghiệp chúa Nguyễn mới bị xiêu đổ.

4) Tác phẩm “Hổ trướng khu cơ”; Nhã nhạc cung đình Huế, vũ khúc tuồng Sơn Hậu, thơ Ngọa Long cương vãn, Tư Dung vãn đều là những kiệt tác và di sản văn hóa vô giá cùng với giai thoại, ca dao, thơ văn truyền đời trong tâm thức dân tộc. Binh thư “Hổ trướng khu cơ” sâu sắc, thực tiễn, mưu lược yếu đánh mạnh, ít địch nhiều, là một trong hai bộ sách quân sự cổ quý nhất của Việt Nam (bộ kia là Binh thư yếu lược của Trần Hưng Đạo) ; Nhã nhạc cung đình Huế, vũ khúc, tuồng cổ Sơn Hậu gắn với di sản văn hóa Huế thành di sản văn hóa thế giới; Những giai thoại, ca dao truyền đời trong tâm thức dân tộc của lòng dân mến người có nhân. Ngay trong trước tác của ông cũng rất trọng gắn lý luận với thực tiễn. Binh thư “Hổ trướng khu cơ” gắn với những danh tướng cầm quân lỗi lạc một thời như Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến. Vũ khúc cung đình, tuồng cổ Sơn Hậu, thơ Ngọa Long cương vãn, Tư Dung vãn đều thể hiện tầm cao văn hóa.

5) Đào Duy Từ là người Thầy đức độ, tài năng, bậc kỳ tài muôn thuở của dân tộc Việt, người khai sinh một dòng họ lớn với nhiều hiền tài và di sản. Đào Duy Từ lúc đương thời đã gả con gái mình cho Nguyễn Hữu Tiến sau này là một đại tướng của nhà Nguyễn. Đào Duy Từ đã đem tài trí của mình cống hiến cho xã hội về nhiều lĩnh vực. Ông là một nhà quân sự tài ba, kiến trúc sư xây dựng lũy Trường Dục ở Phong Lộc và lũy Nhật Lệ ở Đồng Hới, thuộc tỉnh Quảng Bình, để chống lại các cuộc tấn công của quân Trịnh. Lũy Nhật Lệ còn gọi là lũy Thầy (vì chúa Nguyễn và nhân dân Đàng Trong tôn kính gọi Đào Duy Từ là Thầy). Lũy này được hoàn thành năm 1631, có chiều dài hơn 3000 trượng (khoảng hơn 12 km), cao 1 trượng 5 thước (khoảng 6 m), mặt lũy rất rộng (voi có thể đi lại được) cứ cách một quãng lại xây pháo đài để đặt súng thần công. Chiến lũy này có vị trí gần khe, dựa vào thế núi, chạy dài suốt cửa biển Nhật Lệ, trông giống hình cầu vồng, có tác dụng chặn được bước tiến của quân Trịnh trong hàng trăm cuộc giao tranh. Đương thời có các câu ca dao: Khôn ngoan qua cửa sông La/ Dù ai có cánh chớ qua lũy Thầy “Hữu trí dũng hề, khả quá Thanh Hà / Túng hữu dực hề, Trường lũy bất khả khoa”. Mạnh thì qua được Thanh Hà/ Dẫu rằng có cánh khôn qua lũy Thầy. Đường vô xứ Huế quanh quanh / Non xanh nước như tranh họa đồ/ Yêu anh em cũng muốn vô / Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang. Phá Tam Giang bây giờ đã cạn/ Truông nhà Hồ, Nội tán cấm nghiêm. Chùm thơ và giai thoại trên và dưới đây đã tồn tại lâu dài trong bia miệng người đời. Lời thơ đẹp, hợp logic tình tự dân tộc, mọi việc đều khớp đúng với sự kiện lịch

NHỚ NGƯỜI
Đêm muộn bâng khuâng về với Bác
Rưng rưng sen trắng nắng mai vàng
Trời xanh bảng lảng Người khuất nẻo
Hồ vơi đồng vắng tím niềm thương

NHỚ NGƯỜI
Hoàng Kim

Ngược gió đi không nản
Rừng thông tuyết phủ dày
Ngọa Long cương đâu nhỉ
Đầy trời hoa tuyết bay.

NGÀY MỚI NGỌC PHƯƠNG NAM
Hoàng Kim

Thương đồng hồ sinh học
Mọi ngày như một ngày
Nhắc thức dậy với con
Thung dung trên đường sáng

Nhớ ngôi sao thăm thẳm
Người xưa thanh thận cần
Ngày xuân đọc Trạng Trình
Đêm lạnh nhớ Đào Công

Đêm thiêng không nỡ ngủ
Bút hoa ý chảy nhanh
Lục Ngôn Mã Tiền Khóa
Xuất thần cùng Khổng Minh

Chúc đời nhàn thêm tuổi mới
Mừng ngày sống trọn tin yêu
Năm tháng đủ đầy tình nghĩa
Mới thương êm ấm lâu dài
Vui yêu xuân thêm tuổi thọ
Khoẻ người nhàn thích an nhiên.

BẠCH MAI SẮN TÂY NGUYÊN
Hoàng Kim

Bạch Mai sắn Tây Nguyên https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bach-mai-san-tay-nguyen/. Hoàng Kim chúc mừng BM Nguyễn sắn Tây Nguyên bảo tồn và phát triển bền vững. Một điển hình nghiên cứu (key study)

Thác Iguazu

World’s Most Beautiful Waterfalls
EMBRAPA Brazil bạn tôi ở nơi ấy
Science that transforms your life ,Embrapa’s Institutional Video
Thơ viết ở thác Iguazu di sản thế giới thiên nhiên tuyệt đẹp giữa Brasil và Argentina.

MINH TRIẾT SỐNG PHÚC HẬU
Hoàng Kim

Bản chất cuộc sống là hạnh phúc và đau khổ, vui vẻ và phiền muộn, sự thiếu hoàn thiện và vô thường. Minh triết của đời người hạnh phúc là biết sống thung dung, phúc hậu, thanh thản, an nhiên tự tại, nhận ra kho báu vô giá của chính mình, không lo âu, không phiền muộn, sống với tinh thần dịu hiền và trái tim nhẹ nhõm.(xem tiếp Minh triết sống phúc hậu)

LỜI THẦY DẶN THUNG DUNG

Việc chính đời người chỉ ít thôi.
Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi.
Phúc hậu suốt đời làm việc thiện.
Di sản muôn năm mãi sáng ngời

Biết đủ sống thảnh thơi
Con em và cháu vững tay rồi
Đời an nhiên lòng thanh thản
Minh triết mỗi ngày dạy học vui.


Thung dung đời thoải mái
ban mai của riêng mình
giọt thời gian điểm ngọc
thanh nhàn khát khao xanh.


Hoàng Kim #cnm365 #Thungdung

TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM
#htn, #hoangkimlong, #banmai #vietnamxahoihoc, #htn365,#ana, #dayvahoc, #vietnamhoc, #cnm365#cltvn, #vietcassava, #annhiên

CNM365 Tình yêu cuộc sống; Từ Hiếu với người hiền; Xuân Mới Sức Sống Mới (ảnh Lâm Cúc, thơ Hoàng Kim); Trường tôi nôi yêu thương; Về Trường để nhớ thương; Ban mai chào ngày mới; Thiên nhiên và bạn quý; Thung dung vườn cổ tích; Hoa Mai trong Tết Việt; Borlaug và Hemingway; Thế giới trong mắt ai; Chính Ngọ đoán Kinh Dịch; Thời biến nhớ người xưa; Trò chuyện với Yến Thanh; Núi Chứa Chan Xuân Lộc;Vườn Quốc Gia Cát Tiên; Một gia đình yêu thương; Nhớ vầng trăng ngọn lửa ; Hoàng Thành Trúc Lâm Sáng; Hoàng Ngọc Dộ Khát Vọng; Biển Hồ Chùa Bửu Minh; Đêm lạnh nhớ Đào Công; Đào Duy Từ còn mãi; Nông lịch tiết Đại Hàn; Dạo chơi non nước Việt; Đảo Hòn Khô Quy Nhơn; Đào Duy Từ còn mãi; Nắng ban mai ngày mới; Cuộc đời thành trang văn; Đêm Vu Lan; Hồ Long Vân Nhớ Người; Hoàng Trung Trực đời lính; Trần Công Khanh ngày mới; Biển Hồ Chùa Bửu Minh; Dạo chơi Chùa Thần Đinh; Làng Minh Lệ Quê Tôi; Núi Thần Đinh Quảng Bình; Thăm quê ngày chuyển  năm; Hà Nội mãi trong tim; Chùa Một Cột Hà Nội; Việt Bắc Nhớ Bác Hồ; Lên Trúc Lâm Yên Tử; An vui cụ Trạng Trình; Hải Như thơ về Người; Vườn Quốc gia Việt Nam; Du lịch sinh thái Việt; Tìm về đức Nhân Tông; Trúc Lâm Trần Nhân Tông; Chớm Đông trên đồng rộng; Thơ dâng theo dấu Tagore; Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung; Hoàng Long cây lương thực; Bạch Mai sắn Tây Nguyên; Thơ viết bên thác Iguazu; Nhớ kỷ niệm một thời; Giấc mơ thiêng cùng Goethe; Giấc mơ lành yêu thương, Nguyễn Du trăng huyền thoại; Hồ Quang Cua gạo ST; Thầy bạn là lộc xuân; Thầy bạn trong đời tôi; Tô Đông Pha Tây Hồ; Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay; Lên Việt Bắc điểm hẹn; Ban mai chào ngày mới; Việt Nam con đường xanh; Nông lịch tiết Lập Đông; Lê Hùng Lân Hoa Tiên; Đời đừng thiếu mùa Đông; Sớm Đông; Nhớ cây thông mùa Đông; Đêm lạnh nhớ Đào Công; Thành tâm với chính mình; Gia Cát Mã Tiền  Khóa; Việt Nam tâm thế mới; Việt Nam con đường xanh; Ban mai chợt tỉnh thức; Ngày mới Ngọc cho đời; Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung; Hoàng Long cây lương thực; Cây Lương Thực Food Crops; Vào Tràng An Bái Đính; Thăm Hoa Lư Cúc Phương; Thăm thẳm trời sông Thương; Nguyên Ngọc về Tây Nguyên; Nguồn Son nối Phong Nha; Ban Mai Ngọc Biển Vàng, Đi dưới trời minh triết; Bình sinh Hồ Chí Minh; Điểm hẹn chốn đồng tâm; Việt Nam tổ quốc tôi; Du lịch sinh thái Việt; Lớp 10A TT ĐHNN2 Hà Bắc; Lên Trúc Lâm Yên Tử; Đêm Yên Tử; Văn chương ngọc cho đời; Ai bảo chăn trâu là khổ? Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung; Hoàng Long cây lương thực; Ban mai chào ngày mới; Tỉnh thức cùng tháng năm; Sự chậm rãi minh triết; Lên Trúc Lâm Yên Tử; Trúc Lâm Trần Nhân Tông; Tìm về đức Nhân Tông; Chọn giống sắn Việt Nam; Câu chuyện ảnh tháng 12; Có một ngày như thế; Mười thói quen mỗi ngày; Chuyện thầy Lê Văn Tố; Giấc mơ lành yêu thương; 500 năm nông nghiệp Brazil; Vui bước tới thảnh thơi; Minh triết sống phúc hậu; Sự chậm rãi minh triết; Trúc Lâm Trần Nhân Tông; Tìm về đức Nhân Tông; Đi bộ trong đêm thiêng; Tỉnh thức; Thầy Quyền thâm canh lúa; Thầy Luật lúa OMCS OM; Hoàng Ngọc Dộ khát vọng; A Na tìm được Ngọc; TTC Group Sen vào hè; ĐHNN2 Hà Bắc nay và xưa; Lớp 10A TT ĐHNN2 Hà Bắc; Lên Trúc Lâm Yên Tử; Đêm Yên Tử; Văn chương ngọc cho đời; Ai bảo chăn trâu là khổ? Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung; Hoàng Long cây lương thực; Ban mai chào ngày mới; Tỉnh thức cùng tháng năm; Sự chậm rãi minh triết; Trúc Lâm Trần Nhân Tông; Tìm về đức Nhân Tông; Con nguyện làm Hoa Lúa; Chọn giống sắn Việt Nam; Hoàng Kim thơ cho con; Nếp nhà đẹp văn hóa; Thung dung chào ngày mới; Em ơi can đảm lên;Lời Thầy luôn theo em; Dạy và học ngày mới; Dạy và học để làm; Ngày mới trên quê hương; Nếp nhà đẹp văn hóa;Champasak ngã ba biên giới; Vạn Xuân nơi An Hải; Cao Biền trong sử Việt; Lúa Việt tới Châu Mỹ Hoàng Kim thơ cho con; Nếp nhà đẹp văn hóa; Vietnamese cassava today; Ngày mới lời yêu thương; Quảng Bình đất Mẹ ơn NgườiĐồng xuân lưu dấu hiềnQuảng Tây nay và xưa; Người vịn trời chấp sói; Nguyễn Hàm Ninh Thầy Vua; Hoàng Thành Di sản thế giới tại Việt Nam, Trăng rằm vui chơi giăng; Giống khoai lang Việt Nam; Phú Yên nôi lúa sắn; Lời biết ơn chân thành; Bảo tồn và phát triển sắn; Nhà Trần trong sử Việt; Lời dặn của Thánh Trần; Lời thề trên sông Hóa; Ngày mới lời yêu thương; Ngày xuân đọc Trạng Trình; Ngày mới bình minh an; Lúa siêu xanh Việt Nam; Xuân ấm áp tình thân; Xanh một trời hi vọng; Vận khí và vận mệnhGiấc mơ lành yêu thương; 24 tiết khí lịch nhà nông; Vui đi dưới mặt trời; Thầy bạn là lộc xuân; Sớm xuân đi tảo mộ; Ban mai trên sông Son; Quảng Bình đất Mẹ ơn Người; Hoàng Thành đến Trúc Lâm; Nguyễn Du trăng huyền thoại; Hoa Lúa; Nguyễn Du trăng huyền thoại; Lev Tonstoy năm kiệt tác, Học không bao giờ muộn; Xanh một trời hi vọng; Xuân ấm áp tình thân; Biển Hồ Chùa Bửu MinhGiấc mơ lành yêu thương; 24 tiết khí nông lịch; Vui đi dưới mặt trời; Thầy bạn là lộc xuân; Hoàng Thành đến Trúc Lâm; Vận khí và vận mệnh; Xanh một trời hi vọng; Xuân ấm áp tình thân; Biển Hồ Chùa Bửu MinhGiấc mơ lành yêu thương; #cltvn định hướng và giải pháp; Trầm tích ngọc cho đời; Vườn Quốc gia Việt Nam; Chị em với mái nhà xưa; Nhà Trần trong sử Việt; Đến với Tây Nguyên mới; Xuân ấm áp tình thân; Tảo mai nhớ đức Nhân Tông; Nhớ bạn hiền xóm núi; Hình như; Nhớ Viên Minh Hoa Lúa; Minh triết Hồ Chí Minh; Làng Minh Lệ quê tôi; Thượng Đức thương nhìn lại; Trường tôi nôi yêu thương; Lev Tonstoy năm kiệt tác; Viện Lúa Sao Thần Nông; Về miền Tây yêu thương; Thầy Luật lúa OMCS OM; Trầm tích ngọc cho đời; Vườn Quốc gia Việt Nam; Chị em với mái nhà xưa; Nhà Trần trong sử Việt; Xuân ấm áp tình thân; Tảo mai nhớ đức Nhân Tông; Nhớ bạn hiền xóm núi; Trung Quốc một suy ngẫm; Giống lúa siêu xanh Việt Nam; Giống lúa siêu xanh GSR90; Ta về với Linh Giang; Nếp nhà đẹp văn hóa; Nguyễn Du trăng huyền thoại, Giống lúa siêu xanh GSR65; Chung sức trên đường xuân; Thầy Ngoạn Hồ Núi Cốc; Gạo Việt và thương hiệu; Nguyễn Du trăng huyền thoại; Ta về với Linh Giang; Nếp nhà đẹp văn hóa; Câu chuyện ảnh tháng Một; Giấc mơ lành yêu thương; Linh Giang Đình Minh Lệ; Nguồn Son nối Phong Nha; Làng Minh Lệ quê tôi; Sông Thương. Giống lúa siêu xanh Việt Nam; Thế giới trong mắt ai; Biển Hồ Chùa Bửu Minh; Châu Mỹ chuyện không quên; Chuyện đời không thể quên; Sơn Tùng chuyện Bác Hồ; Hoa và Ong Hoa Người; Lúa siêu xanh Hòa Bình; Bài giảng Viên Long Bình; Nông lịch tiết Đại Hàn; 24 tiết khí nông lịch; Châu Văn Tiếp Phú Yên; Châu Mỹ chuyện không quên; Hoàng Thành đến Trúc Lâm; Tỉnh lặng với chính mình; Giác ngộ là tỉnh thức; Xuân sớm Ngọc Phương Nam; Việt Nam con đường xanh; Nếp nhà đẹp văn hóa; Giấc mơ lành yêu thương; Sớm xuân ngắm mai nở; Giống lúa siêu xanh Việt Nam; Bài giảng Viên Long Bình; Chiếu đất ở Thái An; Lev Tonstoy năm kiệt tác; Phục sinh giữa tối sáng; Martin Fregene xa mà gần; Cây táo bài ca thời gian; Học đi mà nhớ mãi; Tỉnh thức cùng tháng năm; Chọn giống sắn kháng CMD; Đại tuyết trên Hoàng Hà; Kim Dung trong ngày mới; Câu chuyện ảnh tháng Một; Ngày xuân đọc Trạng Trình; Về Trường để nhớ thương; Một vùng trời nhân văn; Nhớ thầy Phan Hoàng Đồng; Chiếu đất ở Thái An; Phục sinh giữa tối sáng; Nông lịch tiết Đại Hàn; Châu Mỹ chuyện không quên; Trời mưa qua Cồn Dưa; Từ Hiếu với người hiền; Gõ ban mai vào phím; Thơ xuân ngày giáp Tết; Kim Dung trong ngày mới; Đại tuyết trên Hoàng Hà; Đặng Thái Sơn đọc và ngẫm; Một vùng trời nhân văn; Trường tôi nôi yêu thương; Lời khuyên thói quen tốt; Về phố thương cháo nấm; #cnm365 #cltvn An nhiên; Thơ xuân ngày giáp Tết; Thầy Quyền thâm canh lúa; Thầy Vũ trong lòng tôi; Thầy Luật lúa OMCS OM; Đến Neva nhớ Pie Đại Đế; May mắn bánh và hoa; IAS đường tới trăm năm; Người lính cây sắn tuổi thơ; An lành xuân chạm nhớ; Đất trời mùa đoàn viên; Lời khuyên thói quen tốt; Bài đồng dao huyền thoại; Truyện Pie Đại đế; Cuối dòng sông là biển; Thơ xuân ngày giáp Tết; Về Trường để nhớ thương; Trường tôi nôi yêu thương; Sông Kỳ Lộ Phú Yên; Sớm Xuân; Hình như; Lev Tonstoy năm kiệt tác; Thơ thiền Thích Nhất Hạnh; Từ Hiếu với người hiền; Nhớ thầy Nguyễn Văn Hiệu; Một vùng trời nhân văn; Ngày xuân đọc Trạng Trình; Hoàng Thành đến Trúc Lâm; Walter Disney người bạn lớn; Trà Tì bánh và hoa; Nguyễn Du Hồ Xuân Hương; Mừng Văn nghệ Quảng Minh; Một vùng trời nhân văn; Minh triết của đức Phật; Môhamet và đạo Hồi; Vua Solomon sách khôn ngoan; Minh triết sống phúc hậu, Lời Thầy dặn thung dung. Nắng mới; Chuyện ngày sinh của Thủy; #An nhiên; May mắn bánh và hoa; Minh triết của đức Phật; Trường tôi nôi yêu thương; Thơ viết bên thác Iguazu; Ngọc phương Nam; Ngọc lục bảo Paulo Coelho; Kiệt tác của tâm hồn; 500 năm nông nghiệp Brazil; Biển Hồ Chùa Bửu Minh; Huyền Trang tháp Đại Nhạn.

Bài viết mới trên CNM365 Tình yêu cuộc sống
DẠY VÀ HỌC https://hoangkimvn.wordpress.com
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
Thái Tuế tâm che chở, https://youtu.be/lzSaEmOCLxc; Vận La Hầu Kế Đô, Hạn Thiên Tinh rất nặng, Cẩn trọng và chăm lo Nhân sinh do tiền định, Bách hạnh hiếu vi tiên, Đường xuân đời quên tuổi, Việc chính thanh thận cần https://youtu.be/dXApBvgUNBQSecret Garden – Poéme

Vuonxuan

Chopin – Spring Waltz 
Secret Garden – Bí mật vườn thiêng

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Chia sẻ:

Tùy chỉnh nút

Đang tải…

#cnm365 #cltvn 10 tháng 210.02.2025Trong “#cnm365 #cltvn 10 tháng 2”

Chào ngày mới 30 tháng 130.01.2024Trong “Chào ngày mới 30 tháng 1”

Chào ngày mới 9 tháng 209.02.2025Trong “#cnm365” This entry was posted in #cnm365 #cltvn 31 tháng 1 and tagged #cnm365 #cltvn 31 tháng 1 by HoangKim, NgocphuongNam. Bookmark the permalink. Sửa

Bình luận về bài viết này

Tạo một blog miễn phí với WordPress.com.

Nâng cấp gói của bạn để xoá banner và mở khoá thêm nhiều

#cnm365 #cltvn 19 tháng 1
TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM
Ngày 19 tháng 1 năm 2026 Việt Nam Đại Hội 14 họp phiên trù bị. Giáo sư Viện sỹ Đào Thế Tuấn mất ngày 19 tháng 1 năm 2011 tại Hà Nội. Giáo sư Viện sĩ Đào Thế Tuấn là chuyên gia khoa học nông nghiệp hàng đầu Việt Nam  trong lĩnh vực kinh tế phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, là người Thầy của đông đảo cán bộ lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu, giảng dạy và học sinh, sinh viên nông học, kinh tế nông nghiệp, phát triển nông thôn Việt Nam, người bạn thân thiết của nhà nông. Ngày 19 tháng 1 năm 1974, Hải quân Trung Quốc giành chiến thắng trong Hải chiến Hoàng Sa trước Hải quân Việt Nam Cộng hòa, và bắt đầu sự chiếm đóng hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa. Ngày 19 tháng 1 năm 1990, ngày mất Osho, thiền sư và bậc thầy tâm linh nổi tiếng người Ấn Độ (sinh năm 1931). Ngày 19 tháng 1 năm 1929, ngày mất Lương Khải Siêu, (1873 – 1929),  nhà tư tưởng, giáo sư, chính khách, chủ báo và là nhà hoạt động chính trị lỗi lạc Trung Quốc thời cận đại;

HOÀNG TỐ NGUYÊN TIẾNG TRUNG
黄素源 (越南) Hoàng Tố Nguyên Việt Nam
Dạy và học tiếng Trung trực tuyến
#htn Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung https://hoangkimvn.wordpress.com/category/hoang-to-nguyen-tieng-trung/https://hoangkimlong.wordpress.com/tag/hoang-to-nguyen-tieng-trung. Tôn vinh giá trị Việt Bài học mới mỗi ngày

Điểm Nóng Thế Giới 19/01: 24H Kinh Hoàng, 1200 lính Ukraine xóa sổ – Nga chính thức ra đòn kết liễu; Vấn đề hôm nay 19/1: Vừa họp xong, châu Âu mở màn “phát súng” đầu tiên đáp trả Mỹ ở Greenland QUỐC TẾ NÓNG 19/1: Quân đội Đức cấp tốc “cuốn gói” khỏi Greenland, “bỏ mặc” Đan Mạch trước sức ép Mỹ;Thế Giới 360: Đức – Pháp “cãi nhau” nảy lửa vì Ukraine, nội bộ châu Âu sắp tan rã? Tin tức thời sự quốc tế mới nhất ngày:18/1/2026|Tin Nóng Thế Giới 24h Qua |Podcast Việt Nam bản tin; Toàn cảnh quốc tế 18/1:Tên lửa “quái vật” từ Iran ồ ạt cập bến Nga; Ông Putin khiến cả NATO chấn động; Điểm nóng quốc tế 18/1: Đan Mạch ra đòn choáng váng với Ukraine, quyết kháng Mỹ đến cùng

VIỆT NAM TIN NỔI BẬT Ngày 19 tháng 1 năm 2026 Việt Nam Đại Hội 14 họp phiên trù bị. Hà Tiên làm được điều này giữa biển thế giới phải ngước nhìn Việt Nam Khởi Công Nhà Máy Chip Thủ tướng: Tiếp tục tinh gọn bộ máy Trung ương và địa phương; Quy mô GDP tăng 5 bậc, Việt Nam vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao; Những chính sách giáo dục mới chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2026;Tổng Bí thư: Phát huy trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới.

duongxuan2a

Việt Bắc Nhớ Bác Hồ (bài 1)
CHỢT GẶP MAI ĐẦU SUỐI

“Nghìn dặm tìm anh chẳng gặp anh/ Đường về vó ngựa dẫm mây xanh/ Qua đèo chợt gặp mai đầu suối/ Đóa đóa vàng tươi xuân thắm cành”. Tôi biết bài thơ “Qua đèo chợt gặp mai đầu suối” của Bác Hồ đăng trên báo khoảng năm 1970 do một chuyện ngẫu nhiên tình cờ nên nhớ mãi. Bài thơ kỳ lạ vì ẩn chứa nhiều triết lý sâu sắc không dễ thấy, vì nó là thơ của Bác Hồ mà ít thấy sách báo nào nhắc đến cho đến xuân 2013 đã trãi hơn sáu mươi ba năm.

Thuở ấy, tôi mới mười bảy tuổi, đã cùng người anh trai ra thăm đèo Ngang. Chúng tôi vừa đi xe đạp vừa đi bộ từ chân núi lên đến đỉnh đèo. Gần cột mốc địa giới hai tỉnh trên đỉnh đường xuyên sơn, cạnh khe suối ven đỉnh dốc sườn đèo có cây mai rừng rất đẹp. Chúng tôi đang thưởng ngoạn thì chợt gặp xe của bộ trưởng Xuân Thủy và xe của ông Nguyễn Tư Thoan bí thư tỉnh ủy Quảng Bình vừa tới. Họ đã xuống xe ngắm nhìn trời, biển, hoa, núi và bộ trưởng Xuân Thuỷ bình bài thơ trên.

Bộ trưởng Xuân Thủy là nhà ngoại giao có kiến thức rộng, bạn thơ của Hồ Chí Minh, giỏi dịch thơ chữ Hán. Ông cũng là người đã dịch bài thơ “Nguyên tiêu” nổi tiếng, nên khi tôi tình cờ được nghe lời bình phẩm trực tiếp của ông về bài thơ trên thì tôi đã nhớ rất lâu. Tôi cũng hiểu nghĩa rõ ràng cụm từ “Trung Nam Hải” từ dịp ấy.

Ba mươi năm sau, khi anh Gia Dũng sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu bài thơ “Tìm bạn không gặp” trong tập thơ “Ngàn năm thương nhớ” tuyển thơ một nghìn năm Thăng Long, Hà Nội. Bài thơ “Tầm hữu vị ngộ” của Bác do nhà Hán học nổi tiếng Phan Văn Các diễn nghĩa và dịch thơ. Nội dung tuy vẫn thế nhưng bản dịch mới, lời dịch sát nghĩa chữ Hán hơn so với bản tự dịch thoáng ý của chính Bác lại có khác MỘT chữ so với bài mà tôi được đọc và nghe bình trước đây. Đó là từ “nghìn dặm” được thay bằng từ “trăm dặm” (“bách lý tầm quân vị ngộ quân” thay vì “thiên lý tầm quân vị ngộ quân”). Bản dịch mới có lời ghi chú, nghe nói là của Bác. Bài thơ viết năm 1950 nhưng xuất xứ và cảm xúc thực sự của Người khi thăng hoa bài thơ nổi tiếng này thì nay vẫn còn để ngỏ.

Bác ra nước ngoài từ đầu năm 1950 đến đầu tháng Tư mới về nước theo hồi ức “Chiến đấu trong vòng vây” của đại tướng Võ Nguyên Giáp. Bác lúc đó đã sáu mươi tuổi, bí mật đi đến Bắc Kinh gặp chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc Mao Trạch Đông rồi đi luôn sang Matxcơva gặp đồng chí Stalin. Bác cũng đi tìm gặp đại tướng Trần Canh khi chuẩn bị chiến dịch Biên giới. Trong cơn lốc của các sự kiện, Bác khẳng định: “Tổng phản công của ta sẽ là một giai đoạn lâu dài. Rồi đây, có sự chi viện của Liên Xô và Trung Quốc về vật chất, vũ khí, trang bị, ta sẽ đỡ khó khăn hơn, nhưng giành được thắng lợi là phải do sức nỗ lực của chính bản thân ta quyết định”.

“Nghìn dặm” hay “trăm dặm”? “gặp bạn” hay “không gặp”? hoặc “gặp nhưng không gặp về cách làm”? Ngữ nghĩa của câu thơ “Bách lý tầm quân vị ngộ quân” khác hẳn với “thiên lý tầm quân vị ngộ quân”, đó là sự gặp gỡ một minh quân, một minh chủ, một chủ thuyết chứ không đơn giản là “Tìm bạn không gặp”. Dường như Bác đang đề cập một vấn đề rất lớn của định hướng chiến lược đối ngoại “phải biết tranh thủ thời cơ, tận dụng sự ủng hộ và chi viện quốc tế nhưng giành được thắng lợi là phải dựa vào sức mình là chính” . Nhiều sự kiện lịch sử hiện tại đã được giải mã nhưng còn nhiều ẩn ý sâu sắc trong thơ Bác cần được tiếp tục tìm hiểu, khám phá thêm. Những năm tháng khó khăn của cách mạng Việt Nam “chiến đấu trong vòng vây”; Những tổn thất và sai lầm trong cải cách ruộng đất do sự thúc ép từ phía Liên Xô và sự vận dụng không phù hợp kinh nghiệm của Trung Quốc; Quan hệ của nước nhỏ đối với các nước lớn. Nhiều điều tinh tế ẩn chứa trong thơ Bác.

Ý tứ trong bài thơ của Bác rất gần với với một bài thơ cổ của Trung Quốc thời nhà Tống: “Tận nhật tầm xuân bất kiến xuân/Mang hài đạp phá lãnh đầu vân/ Quy lai khước phá mai hoa hạ/ Xuân tại chi đầu vị thập phân”. Bài thơ tả một ni cô mang hài trèo đèo vượt núi cực khổ tìm xuân suốt ngày mà vẫn chẳng gặp xuân. Đến khi trở về mới thấy xuân đang hiện trên những cành mai trong vườn nhà.

Bác Hồ cũng vượt vòng vây phong tỏa, chịu nhiều gian khổ suốt bốn tháng ròng để tìm sự ủng hộ quốc tế cho cách mạng Việt Nam đang “chiến đấu trong vòng vây”. Trên đường về, qua đèo, Bác chợt gặp cây mai đầu suối và Bác đã ngộ ra được những vấn đề sâu sắc của phương pháp cách mạng. Đối diện với mặt trời đỏ “đông phương hồng, mặt trời lên” là mặt TRĂNG hiền hoà (rằm xuân lồng lộng trăng soi) và gốc MAI vàng cổ thụ bên SUỐI nguồn tươi mát (bên suối một nhành mai). Trăng, suối, hoa mai là những cụm từ quan trọng trong thơ Bác. Nó là triết lý ứng xử tuyệt vời của một nước nhỏ đối với các nước lớn trong quan hệ quốc tế phức tạp. Trời càng sáng, trăng càng trong, nước càng mát, mai càng nở rộ.

Ngày xuân, hiểu sâu thêm một bài thơ hay của Bác và góp thêm một tản văn về trăng, suối nguồn, hoa mai. Học minh triết trong quan điểm chiến lược của Bác “dựa vào sức mình là chính đồng thời tranh thủ thời cơ và sự ủng hộ quốc tế”. Trăng, suối nguồn, hoa mai là biểu tượng và đối sách quốc gia mà Bác nhắn gửi. Đó là phong thái thung dung, điềm tĩnh, bản lĩnh gan góc bất khuất, dám giành độc lập, giữ độc lập tự do để mưu cầu hạnh phúc cho dân, đám đánh và biết đánh thắng.

Hoàng Kim
Việt Bắc nhớ Bác Hồ (bài 1)

Việt Bắc nhớ Bác Hồ (bài 2)
QUA SÔNG THƯƠNG BẾN NHỚ

Tôi về Việt Bắc nhiều lần. Lần đầu là đợt tuyển quân ở Cao Bằng, Lạng Sơn năm 1972. Đơn vị chúng tôi là trung đoàn 568 đóng tại Lục Ngạn, Hà Bắc chuyên đào tạo quân tăng cường của sư đoàn 325 B đóng ở Tiên Yên, Quảng Ninh. Trước đó, tôi gia nhập quân đội tháng 9 năm 1971 ở Trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc cấp tốc huấn luyện ba tháng và hành quân ngay vào Nam qua sông Thương gửi về bến nhớ tham gia chiến dịch Quảng Trị:“Ta lại hành quân qua sông Thương/ Một đêm vào trận tuyến/ Nghe Tổ Quốc gọi lên đường! Mà lòng ta xao xuyến / …” xem tiếp

Anh Phạm Hồng năm 2013 là 85 tuổi, nguyên chính ủy trung đoàn 568 sau làm chính ủy sư đoàn 325B đã nhớ lại trong THƯ CỦA ANH PHẠM HỒNG 80 TUỔI NĂM 2008:

… “Xa em, càng nhớ những ngày này 35 năm trước, theo lệnh tổng động viên của Chủ tịch Nước, hàng chục vạn sinh viên của các trường đại học, cao đẳng trong cả nước đã xếp bút nghiên lên đường cùng cả nước “đánh cho Mỹ cút” như lời Bác Hồ dặn. Anh cùng đơn vị được đón em từ Trường Đại học Nông nghiệp cùng hàng ngàn anh em về huấn luyện chi viện chiến trường.

Biết em là con út, mới lớn lên đã sớm mồ côi cha mẹ, ngày chỉ được ăn một bữa, áo chỉ mặc một manh … mà đã có chí học hành thành sinh viên đại học, tình nguyện vào chiến trường đánh Mỹ! Anh và đồng đội để em cùng đơn vị vào miền Nam đánh vài trận rồi gọi ra ngay để có kinh nghiệm về đội huấn luyện, góp sức đào tạo hàng vạn tiểu đội trưởng “khuôn vàng thước ngọc” của phân đội nhỏ nhất trong quân đội ta. Hàng vạn tiểu đội trưởng từ đoàn 568 anh hùng đã phụ trách hàng vạn tiểu đội với hơn mười vạn quân đi khắp chiến trường chống Mỹ xâm lược…

Cùng lúc ấy, trong giai đoạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước năm 1972, đã có nhiều bạn sinh viên của em trong 81 đại đội vượt sông Thạch Hãn vào đánh giặc ở thành cổ Quảng Trị 81 ngày đêm… Sau này, cả nước và thế giới đều biết những người con “tiền trí thức” yêu quý của dân tộc và quân đội ta từ trường đại học hiên ngang đi thẳng ra chiến trường đánh Mỹ, trở thành những anh hùng bất tử với dòng Thạch Hãn:“Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ / Đáy sông còn đó bạn tôi nằm / Có tuổi thanh xuân thành sóng nước /Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm”.

Em cùng với những bạn trí thức ngày ấy đã xứng đáng với lòng tin yêu và truyền thống của đoàn 568 làm tốt nhiệm vụ đào tạo tiểu đội trưởng cho chiến trường, rồi học tiếp đại học, lấy bằng tiến sĩ, về làm giám đốc trung tâm nghiên cứu khoa học nông nghiệp, ngày đêm gắn bó với Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và duyên hải miền Trung. Nay em lại làm giảng viên đại học, góp phần đào tạo những kỹ sư, thạc sỹ, tiến sỹ của hơn 45 triệu nông dân đã đang nuôi sống cả xã hội và đi lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.

Nhân năm mới, mừng hai em không ngừng tiến bộ và thành đạt trên con đường khoa học của mình, mừng hai cháu Nguyên Long nối tiếp truyền thống gia đình, luôn tiến bộ trưởng thành. Mong được đón các em và các cháu. Gửi các em những dòng tâm tình của anh trong trang thơ kèm đây nhân 80 mùa xuân”.

MỪNG TUỔI TÁM MƯƠI

Thấm thoát thoi đưa vừa ngoảnh lại
Xuân nay mình đã tám mươi tròn
Bốn tư năm lẻ đi đánh giặc
Hưu về tóc bạc vẫn lòng son

Nhớ buổi đầu vào Vệ quốc quân
Dối nhà đi họp đã hơn tuần
Kiểm tra sức khoẻ năm phòng huyện
Suýt bị trả về: chưa đủ cân!

Trận đầu bố trí ở Cầu Bây
Giáo búp đa sắc lẹm trong tay
Đợi địch tràn sang là xốc tới
“Đánh giáp lá cà” với giặc Tây.

Trận hai chặn Pháp ở cầu Ghềnh
Quê hương Bãi Sậy giáp Như Quỳnh
Với khẩu súng trường, viên đạn thép
Quần với thằng Tây cao lênh khênh

Trận ba được nhận khẩu tiểu liên
Với mười viên đạn một băng liền
Chặn giặc từ đầu đường “ba chín”
Thôn nghèo Yên Lịch dạ trung kiên!

Vừa đánh Tây vừa cõng thương binh
Vượt sông giá lạnh lúc bình minh
Máu đồng đội thấm đầy quân phục
Vẫn chẳng rời nhau nghĩa tử sinh!

Thế rồi hơn bốn chục mùa xuân
Chiến trường giục giã chẳng dừng chân
Theo anh Văn, ngọn cờ Quyết thắng
Bác Hồ cùng chúng cháu hành quân!

Cả đời mãi miết cuộc trường chinh
Ơn vợ, quê hương vẹn nghĩa tình
Tần tảo nuôi con, chăm cha mẹ
Vượt ngàn gian khó, giỏi mưu sinh!

Pháp Mỹ chạy rồi, nước chửa yên
Hai đầu biên giới lửa triền miên
Năm cha con lại cùng thắng giặc
Trên biên phía Bắc bảy năm liền.

Trở về đội ngũ cựu chiến binh
Cháu con đều tiến bộ, trưởng thành
Cùng anh em tiếp vun truyền thống
Chung tay làm rạng rỡ quê mình…

Sức mạnh nhân dân và đồng đội
Dựng làng văn hoá thật kiên trung
Vượt bao thử thách hai thời đại
Quê hương Tán Thuật xã anh hùng.

Tám chục tuổi đời vẫn thanh xuân
Sáu hai tuổi Đảng vẫn kiệm, cần
Liêm chính làm theo lời Bác day
Vinh nào bằng “công bộc nhân dân”

Mười tám năm qua hưu chẳng nghỉ
Đồng đội luôn về sum họp vui
Mọi việc làm đều cùng suy nghĩ
Đơm hoa, kết trái đẹp cho đời

Vui thay mình đang tới tám hai
Phía trước đường xuân vẫn rộng dài
Nước mạnh, dân giàu, nhà hạnh phúc
Ngẩng đầu thẳng bước tới tương lai.

Phạm Hồng
CCB nhà 8/17 Bạch Đằng Thành phố Hải Dương
Nguồn: Thư anh Phạm Hồng 80 tuổi năm 2008 http://yume.vn/hoangkimvietnam/article/thu-cua-anh-pham-hong-80-tuoi.35AD9DA7.html

Trần Quốc Vượng 2004. Lời tựa trong sách Trương Đình Tưởng chủ biên 2004. Địa chí văn hóa dân gian Ninh Bình. Nhà Xuất bản Thế Giới trang 7-10

Hồ Chí Minh 1969. Di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh Bản “Tuyệt đối bí mật” – Di chúc Bác sửa chữa năm 1968 Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Lời cám ơn

Khi viết tản văn này, tôi được chính ủy Phạm Hồng, sư trưởng Hoàng Trung Trực, đại tá nhà văn Bùi Văn Bồng bổ sung tư liệu, hình ảnh và thẩm định, trao đổi, đóng góp nhiều ý kiến sâu sắc.Nhà thơ Gia Dũng gửi bài thơ Việt Bắc của Trần Dần với những câu chuyện lịch sử không quên;, Chính ủy Phạm Hồng có bức thư và bài thơ xúc động lưu dấu ký ức E568, F325, F356, dưới đây. Đại tá Bùi Văn Bồng đã đăng bài trên trang do anh chủ bút, Ngày nay anh Phạm Hồng, Gia Dũng, Bùi Văn Bồng đã khuất. Bài viết này lưu dấu ghi ơn.

Hoàng Kim
Việt Bắc nhớ Bác Hồ (bài 2)

Việt Bắc nhớ Bác Hồ (bài 3)
MĂNG ĐEN VÀ ĐẮC TÔ
Hoàng Kim

Lớp 10ATT ĐHNN2 Hà Bắc năm 2022 vừa có chuyến Du lịch sinh thái Việt lên thăm bạn Tây Nguyên. Tỉnh thức trong tôi Măng Đen, Nhớ Đăk Tô Tân Cảnh. Thầy bạn trong đời tôiTrận chiến hôm qua bạn góp máu hồng. Lớp học hôm nay bạn không trở lại. Trách nhiệm trong mình nhân lên gấp bội. Đồng đội ơi, tôi học cả phần anh”.


MĂNG ĐEN

Măng Đen
Ơi Măng Đen
Sương sớm
Rừng khuya
Thật khó quên
Chốn xưa
thăm thẳm
thời gian khó
Tỉnh thức
mà sao
ngấn lệ nhoèn …

NHỚ TÂN CÃNH ĐĂK TÔ

Ngựa già quanh máng cỏ
Nhớ hoài bao tháng năm
Người lính khoai sắn lúa
Đường xuân nuôi chí bền.


Hoàng Kim

Việt Bắc nhớ Bác Hồ (Bài 4)
NGƯỜI VỊN TRỜI CHẤP SÓI

Việt Bắc nhớ Bác Hồ (Bài 5)
BẢN GIỐC VÀ KA LONG

Việt Bắc nhớ Bác Hồ (Bài 6)
HỒ BA BỂ BẮC KẠN

Việt Bắc nhớ Bác Hồ (Bài 7)
LÊN VIỆT BẮC ĐIỂM HẸN

Việt Bắc nhớ Bác Hồ (Bài 8)
ĐỀN BÀ CHÚA THƯỢNG NGÀN

Việt Bắc nhớ Bác Hồ (Bài 9)
YÊN LÃNG HỒ CHÍ MINH

HoNuiCoc06

YÊN LÃNG HỒ CHÍ MINH

Nôi đất Việt yêu thương
Mỏ than Hồng giữ lửa
Thơ tình Hồ Núi Cốc
Yên Lãng Hồ Chí Minh

HoNuiCoc05

Đền Bà Chúa Thượng Ngàn
Chợt gặp mai đầu suối
Thanh trà Thủy Biều Huế
Mai Hạc vầng trăng soi

Cánh cò bay trong mơ
Một niềm tin thắp lửa
Giấc mơ lành yêu thương
Đồng xuân lưu dấu hiền

Hoàng Kim

HoNuiCoc01

THƠ TÌNH HỒ NÚI CỐC

Anh đến tìm em ở Bến Mơ
Một trời thu đẹp lắng vào thơ
Mênh mang mường Mán mình mong mỏi
Lấp loáng luồng Lưu lượn lững lờ
Núi Cốc chùa Vàng xao xuyến đợi
Sông Công đảo Cái ước mong chờ
Nham Biền, Yên Lãng uy nghi quá
Tam Đảo, Trường Yên dạ ngẫn ngơ.


Hoàng Kim

Hồ Núi Cốc là quần thể du lịch sinh thái thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên cách trung tâm thành phố 15 km về hướng Tây Nam theo lộ Đán -Tân Cương – núi Cốc. Nơi đây có núi Cốc, sông Công, hồ núi Cốc – vịnh Hạ Long, hồ trên núi – với diện tích mặt hồ khoảng 25 km2. Đền Hồ Chí Minh trên rừng Yên Lãng, đỉnh đèo De dưới là mỏ than núi Hồng giữ ngọn lửa thiêng, vùng huyền thoại chuyện tình yêu thương. Đảo Cái lưu dấu những cổ vật đặc biệt quý hiếm. Chùa Vàng và đền bà chúa Thượng Ngàn nổi tiếng. Đây là vùng đất địa linh của tam giác châu giữa lòng của vòng cung Đông Triều với dãy Tam Đảo có 99 ngọn Nham Biền chạy xuống Yên Tử , trường thành chắn Bắc (hướng kia là dãy Tản Viên 99 ngọn chạy dọc sông Đáy tới Thần Phù, Nga Sơn nối Trường Sơn tạo thế trường tồn và mở mang cho dân tộc Việt. Đây là vùng thiên nhiên trong lành, suối nguồn tươi trẻ, lưu dấu tích anh hùng, mỹ nhân trong vầng trăng, bóng nước giữa rừng …Nôi đất Việt yêu thương/ Mỏ than Hồng giữ lửa/ Thơ tình Hồ Núi Cốc / Yên Lãng Hồ Chí Minh/ Đền Bà Chúa Thượng Ngàn / Chợt gặp mai đầu suối/ Thanh trà Thủy Biều Huế/ Mai Hạc vầng trăng soi/ Cánh cò bay trong mơ/ Một niềm tin thắp lửa/ Giấc mơ lành yêu thương / Đồng xuân lưu dấu hiền

Những tác phẩm âm nhạc vượt thời gian Huyền thoại Hồ Núi Cốc, nhạc và lời Phó Đức Phương, trình bày Vũ Phong Vũ (bản khác NSƯT Thanh Hoà), Thanh Lam Tùng Dương ; Hồ trên núi, nhạc và lời Phó Đức Phương, trình bày Hồ Quỳnh Hương (bản khác NSƯT Anh Thơ); Thơ giao lưu Hồ Núi Cốc giữa những người bạn Mùa Thu Vàng, Hà Duy Tự, Trúc Nhã, LamCa07, Hoàng Kim… được giao hòa trong khung cảnh thiên nhiên lộng lẫy, kỳ thú này.

Chương trình Sắn Việt Nam cùng Chương trình Sắn Châu Á nhiều lần họp tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng đi khảo sát các vùng sắn ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái,  … và đã có hai lần thăm Hồ Núi Cốc.

Lưu lại những ấn tượng khó quên về một vùng đất thiêng liêng của Tổ Quốc Việt Nam.

HoNuiCoc02
HoNuiCoc03
HoNuiCoc04

BÌNH SINH HỒ CHÍ MINH

Bình Sinh Đầu Ngẩng Tới Trời Xanh
Khuất núi hồn THƠM quyện đất lành
Anh hùng HỒ dễ nên nghiệp ấy
Tâm hồn bình dị CHÍ anh MINH

Hoàng Kim cuối tháng ba năm 2008, có nhận được của anh Phan Chí Thắng một lá thư, nguyên văn: “Gửi Hoàng Kim. Cách đây mấy ngày, trong một cuộc tiếp xúc nhiều người, tôi vô tình được nói chuyện với anh H., cháu nội người đỗ đầu khoa Hội cùng năm với cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Dì ruột của anh H. lấy anh cả của ông LĐT. Anh H. kể là được nghe trực tiếp từ ông LĐT về bài tứ tuyệt được thêu trên trướng do 5 nhà cách mạng lão thành Nga gửi đến tang lễ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chỉ nghe một lần mà anh H. thuộc lòng cho đến bây giờ, thật xứng danh cháu nội cụ Hội Nguyên. Tôi xin chép lại vào đây để Hoàng Kim tham khảo “Bình sinh đầu ngẩng tới trời xanh / Khuất núi hồn THƠM quyện đất lành / Anh hùng HỒ dễ nên nghiệp ấy / Tâm hồn bình dị CHÍ anh MINH ” Có vài điểm thắc mắc: 1. Làm sao mà các nhà cách mạng Nga lại làm được thơ tứ tuyệt? Hay là họ nhờ ai đó làm giúp theo ý họ?  2. Các chữ viết hoa trong bài tứ tuyệt được thêu chữ hoa, nghĩa là có dụng ý. Ba chữ là lấy từ trong “Hồ Chí Minh”. Còn chữ “Thơm” có phải đó cũng là tên hoạt động của Bác Hồ trong thời gian công tác cùng với 5 nhà cách mạng Nga kia? Hay là một tên gọi khác của Bác mà rất ít người biết? Sơ bộ như thế đã, các nhà nghiên cứu sẽ tìm câu trả lời.

Hoàng Kim đã trả lời: 1. Cám ơn thư của Anh. Em trao đổi sớm (2008) vì biết rằng đây là một vấn đề không dễ “giải mã” trong ít ngày nên cần chép ngay để lưu lại một điểm nhấn nghiên cứu. Nhiều sự thật lịch sử sẽ còn phải chờ đợi thêm một thời gian nữa mới có đủ thông tin. Cần đúng người, đúng việc, đúng liều lượng và đúng thời điểm. Với ước mong đi sâu tìm hiểu về một số nhân vật và địa danh lịch sử của dãi đất miền Trung, em đã tập hợp tư liệu tại chuyên trang “Chợt gặp mai đầu suối.

2. Chữ “Thơm” và chữ “Hồ” trong câu thơ trên hình như có quan hệ đến Nguyễn Huệ (Hồ Thơm) và Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh). Cụ Hồ Sĩ Tạo (như là ông nội ruột của Hồ Chí Minh) với cụ Hồ Phi Phúc (cha của Nguyễn Huệ) hình như có quan hệ thân tộc. Có giả thuyết cho rằng tổ tiên nhà Tây Sơn vốn họ Hồ ở làng Hương Cái, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Họ theo chân chúa Nguyễn vào lập nghiệp miền Nam khi chúa Nguyễn vượt Lũy Thầy đánh ra đất Lê – Trịnh tới Nghệ An (năm 1655). Ông cố của Nguyễn Huệ tên là Hồ Phi Long (vào giúp việc cho nhà họ Đinh ở thôn Bằng Chân, huyện Tuy Viễn, tức An Nhơn) cưới vợ họ Đinh và sinh được một trai tên là Hồ Phi Tiễn. Hồ Phi Tiễn không theo việc nông mà bỏ đi buôn trầu ở ấp Tây Sơn, cưới vợ và định cư tại đó. Vợ của Hồ Phi Tiễn là Nguyễn Thị Đồng, con gái duy nhất của một phú thương đất Phú Lạc, do đó họ đổi họ của con cái mình từ họ Hồ sang họ Nguyễn của mẹ. Người con là Nguyễn Phi Phúc cũng chuyên nghề buôn trầu và làm ăn phát đạt. Nguyễn Phi Phúc có 8 người con, trong đó có ba người con trai: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ. Nguyễn Huệ sinh năm 1753 còn có tên là Hồ Thơm hay Quang Bình, Văn Huệ. Cụ Hồ rất trọng lịch sử nên giả thuyết cho rằng chữ “Thơm” có thể cũng là tên hoạt động của Bác Hồ trong thời gian công tác cùng với 5 nhà cách mạng Nga kia? Hay là một tên gọi khác của Bác mà rất ít người biết đều là có thể.

3. Câu thơ “Tâm hồn bình dị CHÍ anh MINH” em nhớ đến Bác và nhớ đến một người Thầy khác, đó là Norman Borlaug. (Mời đọc Borlaug và Hemingway Lời Thầy dặn thung dung). Cuộc đời Thầy cũng trong như ánh sáng. Thời gian và sự khen chê không làm xoá nhoà được dấu ấn nổi bật của Người. Norman Ernest Borlaug , sinh ngày 25 tháng 3 năm 1914, từ trần ngày 12 tháng 9 năm 2009 tại Texas,  là nhà nông học Mỹ, nhà nhân đạo, người đoạt giải Nobel và ông được gọi là cha đẻ của Cuộc cách mạng Xanh. Ông là người đã nhận được đồng thời ba giải thưởng lớn Nobel Peace Prize, Presidential Medal of Freedom, Congressional Gold Medal vì những cống hiến đặc biệt cao quý cho nhân loại.

Ba năm trôi qua (2008-2011), nhiều tư liệu mới đã làm phong phú thêm nguồn nhận thức của chúng ta và đã có thêm tìm tòi mới về Bác. Hồ Chí  Minh có thơ viết ở đền Trần và Bác đã dùng cụm từ  “kẻ phi thường” để nói về Nguyễn Huệ và Công Uẩn trong hai câu “Nguyễn Huệ là kẻ phi thường” và “Công Uẩn là kẻ phi thường”. Điều chắc chắc là Bác biết rất rõ cụm từ  “bậc phi thường” vì Bác là bậc Thầy về chữ nghĩa và rất cẩn trọng ngôn ngữ. Tại sao vậy? Đánh giá về Hồ  Chí Minh hiếm  câu nào hay hơn “Bình sinh đầu ngẩng tới trời xanh” và “Tâm hồn bình dị CHÍ anh MINH” nhưng kiến giải rõ hơn thì hình như vẫn cần thêm một thời gian nữa.

*

Bình sinh đầu ngẩng tới trời xanh! Báo cáo của Việt Nam gửi Quốc tế Cộng sản ngày 12 tháng 7 năm 1940 do Hồ Chí Minh soạn thảo là cẩm nang đón trước thời cơ “nghìn năm có một” của Tổng khởi nghĩa tháng 8 và Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945. Tài liệu tổng hợp, phân tích, đánh giá đầy đủ, toàn diện tình hình, sâu sắc hiếm thấy nhưng cực kỳ súc tích chỉ vắn tắt 12 trang. Đó là một trong số những thí dụ rõ nhất về thiên tài kiệt xuất của Hồ Chí Minh dám chớp thời cơ giành chính quyền và biết thắng. Hãy nghe Hồ Chí Minh phân tích tình thế: “Tóm lại, những điều kiện khách quan cho phép chúng tôi có hi vọng thành công. Song, lực lượng chủ quan- lực lượng của Đảng còn quá yếu. Như trên đã nói, một đảng mới mười tuổi lại trãi qua hai lần khủng bố lớn, số cán bộ có kinh nghiệm đấu tranh hiện còn đang rên xiết trong tù ngục, khiến đảng viên và quần chúng như “rắn mất đầu” không thể tận dụng cơ hội tốt “nghìn năm có một”. Chúng tôi liệu có khả năng làm thay đổi hoàn cảnh đó, khắc phục khó khăn đó, giúp Đảng hoàn thành sứ mạng lịch sử của nó hay không? Có. Chúng tôi nhất định không thể từ trong đánh ra. Chúng tôi chỉ có cách từ ngoài đánh vào. Nếu chúng tôi có được: 1) Tự do hành động ở biên giới; 2) Một ít súng đạn; 3) Một chút kinh phí; 4) Vài vị cố vấn thì chúng tôi nhất định có thể lập ra và phát triển một căn cứ địa chống Pháp, chống Nhật – đó là hi vọng thấp nhất. Nếu chúng tôi có thể mở rộng Mặt trận thống nhất các dân tộc bị áp bức, có thể lợi dụng mâu thuận giữa các nước đế quốc thì tiền đồ tươi sáng là có thể nhìn thấy được. Tôi rất hi vọng các đồng chí giúp tôi nhanh chóng giải quyết vấn đề này. 12.7.40.” (Hồ Chí Minh Toàn tập t. 3 tr. 162-174). Hơn nữa thế kỷ qua, HK đọc lại và suy ngẫm, càng đọc càng thấm thía thêm nhiều điều sâu sắc.

Theo chân người dẫn dường, tôi lưu lại dưới đây năm mẫu chuyện nhỏ, sự thật không là huyền thoại, về Chủ tịch Hồ Chí Minh

1

Nhà sàn của Bác Hồ

“Ngôi nhà sàn đơn sơ
Giữa thủ đô Hà Nội
Ngày lại ngày tiếp nối
Bác thênh thản xuống lên
Làm việc và chăm vườn
Cho cá ăn từng buổi
Di chúc 4 năm cuối
Bác đã viết tại đây
(*)

2

Bác nghỉ chân Việt Bắc

Bác nghỉ chân sau mấy dặm ra đi
Rừng Việt Bắc chở che giây phút nghỉ
Chốn đất thiêng1 lưu lại thời trân quý
Bình Sinh Hồ Chí Minh Việt Nam

3

HoNuiCoc06

Yên Lãng Hồ Chí Minh

Bác đã hóa thân vào đất nước, quê hương
Tự chủ, tự tôn là máu thịt của chính mình

4

Đi dưới trời minh triết

Biển nhớ nơi nao Người lắng sóng
Bờ thương chốn cũ Bác trông thuyền
Bảo như trường kiếm xô sông dạt
Ninh Hải Thung Nham níu núi thiền *

5

Minh triết Hồ Chí Minh

Ngủ thì ai cũng như lương thiện,
Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền;
Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn,
Phần nhiều do giáo dục mà nên”

(Nửa đêm, bản dịch của Nam Trân)

ảnh Bác Hồ với học sinh trường trung học Trưng Vương (Hà Nội) nǎm 1956 Ngành nghề ở Việt Nam lao động và việc làm, tác động rất sâu sắc đến đời sống văn hóa và xã hội. Minh triết Hồ Chí Minh trích dẫn lời dạy thấm thía của Bác trên Báo Thái Bình Từ triết lý giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh nghĩ về công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/minh-triet-ho-chi-minh

Việt Bắc nhớ Bác Hồ (Bài 10)
ĐÁ VÀNG VỚI BAN MAI

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là trang-ram-2.jpg

SOI SÁNG LẠI CHÍNH MÌNH
Đừng bao giờ ngừng cố gắng

Bảo tồn và phát triển tinh hoa di sản cho chính mình, gia đình, người thân, thầy bạn, quê hương và #vietnamhoc là niềm vui SOI SÁNG LẠI CHÍNH MÌNH lời dặn lại của đức Trúc Lâm Trần Nhân Tông, chứ không tìm ở đâu khác “Ở đời vui đạo , thả tùy duyên. Đói cứ ăn đi mệt ngủ liền. Kho báu trong nhà thôi tìm kiếm. Vô tâm, đối cảnh, hỏi chi THIỀN” (Cư trần lạc đao của Trần Nhân Tông, trích dẫn bởi Hoàng Kim, xem tiếp Thầy bạn là lộc xuân; xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/soi-sang-lai-chinh-minhhttps://hoangkimlong.wordpress.com/category/trang-ram-ngoc-quan-am


ĐÁ VÀNG VỚI BAN MAI

TRĂNG RẰM NGỌC QUAN ÂM

Chẳng thể nào ngủ được đêm nay
Đêm Vu Lan mờ tỏ
Trăng rằm khuya lồng lộng giữa trời
Thăm thẳm một lời Người nói …

Mẹ cũ như ngôi nhà cũ
Chiếc áo mẹ mang bạc phếch tháng năm
Cha cũ như con thuyền cũ
Dòng sông quê hương thao thiết đời con


Anh chị cũ tình vẹn nghĩa
Trọn đời thương nhau lồng lộng trăng rằm
Em tôi hồn quê dáng cũ
Con cháu niềm vui thương thảo tháng năm.


Thầy bạn lộc xuân đầy đặn
Bài ca thời gian ngời ngợi trăng rằm.


Thắp đèn lên đi em
Đêm Vu Lan gặp bạn
Thương nhớ bài thơ cũ
Chuyện đời không nỡ quên …

Ngày mới và đêm Vu Lan
Vầng trăng Sao Hôm Sao Kim thân thiết.
Loanh quanh tìm tòi cái mới
Đêm Vu Lan thức về lại chính mình.

Trăng sáng lung linh, trăng sáng quá!
Đất trời lồng lộng một màu trăng
Dẫu đêm khuya vắng Người quên ngắm
Trăng vẫn là trăng, trăng vẫn rằm.

#cnm365 Tình Yêu Cuộc Sống
#Annhiên Và #Thungdung
Chính Trung Hiếu Thiện Lành
Đồng Nai Đất Và Người


Sông Sài Gòn Bến Nghé
Cây Lương Thực (Food Crops)
Nguyễn Du trăng huyền thoại
Việt Bắc nhớ Bác Hồ

Cây dược liệu vườn nhà

Đậu rồng Cây dược liệu vườn nhà, dễ trồng và thích nghi rộng ở Việt Nam. Giống đậu rồng Bình Minh phổ biến hiện nay (2026), dễ thu hái, bảo quản, và có nhiểu công dụng thưc tế xem thêm Đậu rồng nguồn Wikipedia Tiếng Việt và Thầy Tuấn trong lòng tôi https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-tuan-trong-long-toi/ Phần trích dẫn Đậu rồng có liên quan (1) Kim H.; Buresova, M, 1986. Growing winged bean on natural supports under the conditions of South Vietnam. In: Agricultura Tropica et Subtropica, Universitas Agriculturae Praga, No. 19; p. 225 – 236 En. Sum. En. 14 Ref. In CIAT 1990 National Bibliographies Cassava in Asia East and Southeast Asia, p. 416 ;  2)  Buresova, M.; Kim, H.; Quyen, T.N.,1987. The economics og winged bean on manioc as natural supports under the conditions of South Vietnam. In: Agricultura Tropica et Subtropica, Universitas Agriculturae Praga, No. 20; p. 101 – 114 En. Sum. En.; Sk., Ru.,8 Ref. In: CIAT 1990 National Bibliographies Cassava in Asia East and Southeast Asia, p. 416; 3) Hoang Kim, M. Buresova, Tran Ngoc Quyen and Nguyen Van Chuong, 1988 Economic of Winged bean on Maize as natural support in South Vietnam. In: Agricultura Tropica et Subtropica, Universitas Agriculturae Praga, No. 21; p. 45 – 59 En. Sum. En.; Sk., Ru.,9 Ref.)

Đu Đủ, Cây dược liệu vườn nhà, dễ trồng và thích nghi rộng ở Việt Nam, là cây quen thuộc, vị thuồc quanh ta, trong đời sống hàng ngày. Cây Đu Đủ những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam Đõ Tát Lợi https://vnras.com/cay-du-du-nhung-cay-thuoc-va-vi-thuoc-viet-nam-do-tat-loi/, Cây đu đủ (Carica papaya L.) là vị thuốc quý trong Y học cổ truyền Việt Nam, sử dụng nhiều bộ phận như quả (xanh/chín), lá, hoa đực, nhựa và hạt để chữa bệnh đường ruột (giun sán), ho, tiêu hóa (khó tiêu, loét dạ dày), sốt xuất huyết, tim mạch, làm đẹp da, tăng tiết sữa mẹ và hỗ trợ điều trị nhiều chứng bệnh khác nhờ enzyme papain, carpain và nhiều vitamin, khoáng chất có lợi. Tuy nhiên, phụ nữ có thai cần cẩn trọng với đu đủ xanh, theo Cục An toàn thực phẩm và báo Sức khỏe & Đời sống. Tác dụng chữa bệnh của cây đu đủ |Vị thuốc quanh ta.

Hoàng Kim *

(*) Hoàng Kim Cây lương thực (Food Crops)
Cây Lương thực Việt Nam Chọn giống Cây Lương thực Dạy học nghề làm vườn Thầy Quyền thâm canh lúa

Tham khảo

Bài thuốc từ cây đu đủ , lương y Nguyễn Công Đức I Long An TV là kinh nghiệm quý https://youtu.be/IyiTuosro50?si=cRlSRFZDzywgeEZw,

Cây Đu Đủ có tác dụng gì | Vị thuốc quanh ta 24-6-2025 | Điện Biên TV https://youtu.be/_D8Ljzb0-H0?si=Q3gQeKb79RNFbYDz

Trồng đu đủ lùn thu 100 triệu/năm | VTC16

Tác dụng chữa bệnh của cây đu đủ |Vị thuốc quanh ta. ghi chú

1 Vote

#cnm365 #cltvn 31 tháng 1
TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM

Thác nước thiên nhiên tuyệt đẹp Iguazu di sản thế giới tại khu vực bảo tồn rừng lớn nhất Nam Mỹ giữa Brasil và Argentina (ảnh: Thơ viết bên thác Iguazu ). Ngày 31 tháng 1 năm 1542, Thác nước Iguazu được Alvar Núñez Cabeza de Vaca là chinh tướng người châu Âu lần đầu tiên khám phá. Thác nước Iguazu được UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm 1984 phía ranh giới vườn quốc gia Brazil và năm 1986 phía ranh giời vườn quốc gia Argentina. Ngày 31 tháng 1 năm 1856, Robert E. Lee danh tướng Hoa Kỳ trở thành đại tướng tư lệnh của Liên minh Miền Nam trong Nội chiến Hoa Kỳ; Ngày 31 tháng 1 năm 1958, Vành đai bức xạ Van Allen bí ẩn trên vùng biển Nam Đại Tây Dương, nơi thường xuyên xảy ra những sự biến đổi không gian và thời gian bí hiểm huyền thoại, khu vực này được phát hiện bởi nhà khoa học không gian người Mỹ James Van Allen

Thác nước Iguazu, di sản thế giới UNESCO (1984, 1986), là hệ thống thác nước lớn nhất thế giới với 275 thác, trải dài 2,7 km trên sông Iguazu giữa Argentina và Brazil. Nằm trong khu bảo tồn rừng mưa cận nhiệt đới lớn nhất Nam Mỹ, thác cao 60-80m, nổi bật với “Họng Quỷ” (Garganta del Diablo) và là 1 trong 7 kỳ quan thiên nhiên thế giới xem Laura nhà thám hiểm Thơ viết bên thác Iguazu

Lịch vạn niên LVN365 Lịch Am Duong nam 1789 https://baonghean.vn/am-duong-lich-nam-1789.htmll là công cụ tra cứu ngày âm/dương, giờ hoàng đạo và các ngày tốt (hoàng đạo, dựa trên âm dương ngũ hành. Ngày tốt thường được chọn để cưới hỏi, khai trương, động thổ nhằm mang lại sự suôn sẻ, hanh thông. Xem ngày tốt giúp tránh ngày xấu hắc đạo để công việc diễn ra thuận lợi. Các thông tin chính thường được cung cấp bao gồm:Ngày Hoàng Đạo: Ngày tốt lành, được các vị thần thiện hỗ trợ, thích hợp cho các việc quan trọng.Chi tiết ngày âm/dương: Tra cứu ngày, tháng, năm âm lịch và tương ứng với dương lịch, ví dụ ngày 16/7/2025 là ngày Thanh Long Hoàng Đạo. Giờ Hoàng Đạo: Khung giờ tốt trong ngày để tiến hành các công việc. Thông tin chi tiết khác: Bao gồm can chi, mệnh ngày, trực, sao, và các ngày kỵ cần tránh. Người dùng thường sử dụng lịch vạn niên này để kiểm tra các ngày tốt theo quan niệm dân gian,

Việt Nam Đất Và Người
Bình sinh Hồ Chí Minh

https://thoibaonganhang.vn/ban-do-34-tinh-thanh-moi-cua-viet-nam-vua-duoc-quoc-hoi-thong-qua-165676.html

ĐIỂM NHẤN MỚI CẬP NHẬT

Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì lễ công bố quyết định nhân sự cấp cao của Bộ Chính trị https://youtu.be/MGHlxq-0S7Q?si=rqwwaD-FrFXKSqU3Bản tin 30/1: Danh sách 13 đồng chí tham gia Ban Bí thư khoá XIV: Tin tức thời sự quốc tế mới nhất ngày: 30/1/2026 Trực Tiếp | Bản Tin Trưa 30/01: Phát Triển Tiềm Lực Khoa Học, Công Nghệ Quân Sự | QPVN Digital TRỰC TIẾP: CHIẾN SỰ NGA – UKRAINE Mới Nhất 30/1 | TOÀN CẢNH QUỐC TẾ Tổng Hợp | Điểm Nóng Thế giới Điểm nóng thế giới 30/1 Bản tin trưa 28/1: Tổng Bí thư Tô Lâm làm việc với Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cao Bằng VTV Bản Tin sáng HTV NewZ; Tâm điểm quốc tế 27/1 Việt Nam Bản tin thời sự tối 26/1: Toàn cảnh lễ đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào thăm chính thức Việt Nam; Không Ngờ NT Nga Lavrov Lại Nói Về Việt Nam Và Châu Âu Như Này | Kiến Thức Chuyên Sâu; Chấn động “cú quay xe” của ông Trump, cục diện ở châu Âu đảo chiều chao đảo Phong cách đối ngoại khó lường của Tổng thống Mỹ Donald Trump đang khiến các đồng minh thân cận nhất của Washington rơi vào trạng thái bất an; Mới nhất Hà Tiên tăng cường sà lan đá khổng lồ người người kéo dây, giới trẻ đi xem; Bất Ngờ Cầu Vượt Biển Hòn Khoai Dái 18 Km xuyên biển chưa từng có ở Việt Nam i Hồng Định Vlog; Vì Sao Việt Nam Tăng Tốc Hiện Đại Hóa Tây Nguyên? Góc Nhìn Chiến Lược Khu Vựci Luận Bàn Quân Sự; Yếu tố bí ẩn khiến Mỹ thua cuộc chiến tranh tại Việt Nam | Cuộc đọ sức của ý chí (tập 1/2) | VTV4 https://youtu.be/dMToE60KU0Q?si=UKfwZusVUKgx2KU3; Nguyễn Ái Quốc – Ẩn số từ nước Pháp – VTV Đặc biệt (English subtitles) https://youtu.be/eONB3Lx8iqk?si=p_TtTg6wyKE_OEkf ;

BÌNH SINH HỒ CHÍ MINH

Bình Sinh Đầu Ngẩng Tới Trời Xanh
Khuất núi hồn THƠM quyện đất lành
Anh hùng HỒ dễ nên nghiệp ấy
Tâm hồn bình dị CHÍ anh MINH

Sáng nay lúc 10:00 giờ ngày 30/1/2026 Chi Hội Phụ nữ kết hợp với Ban ct MTTQ KP1.
Thực hiện phát quà chăm lo tết cho 34 hộ khó khăn. Mỗi phần 500k ( quà 300k + lixì 200k ) tổng chi 17.000.000đ do mạnh thường quân ủng hộ.

ĐÁ VÀNG VỚI BAN MAI; CNM365 Tình yêu cuộc sống; Chính Trung Hiếu Thiện Lành; Trà sớm với Lão Nông; Núi Chứa Chan Xuân Lộc;Vườn Quốc Gia Cát Tiên; Một gia đình yêu thương; Nhớ vầng trăng ngọn lửa ; Hoàng Thành Trúc Lâm Sáng; Đến với Tây Nguyên mới; Bài ca nhịp thời gian; Đường xuân đời quên tuổi; Chính Ngọ đoán Kinh Dịch; Nông lịch tiết Lập Đông 24 tiết khí nông lịch xem vieo Than Tran @ nêu bật Hien NguyenminhhienNgười Quảng Sơn Kết nối yêu thương .

Học Việt Hóa Thơ Đường*
Hoa Đất Thương Lời Hiền
HOÀNG KIM THƠ ĐỒNG TÂM

Đồng tâm hiệp lực sắt nên kim *
Cam khổ bền lòng, động vẫn im
Thống Nhất đường xuân bền thế n­ước
Việt Nam đất Mẹ mãi trong tim
Chính Trung Hiếu Thiện Lành thời nổi
#annhiên #Thungdung biến chẳng chìm
Đá vàng với ban mai nắng mới
Mưa lành Lã Vọng biết đâu tìm

QUẢ TỐT BỜI NHÂN LÀNH

Trời xanh tỉnh lặng với thu không
Nhân quả ghi ơn quý vun trồng
Hạnh phúc đủ đầy nhờ tích đức
Hiếu trung trọn vẹn bởi tâm công
Nhìn ai dân mến vì chí thiện
Ngắm kẻ người chê bởi khác lòng
Ban mai ngày mới mừng biết đủ
Tình yêu cuộc sống rạng vừng đông.


Tựa Cây Để Nghỉ Ngơi

Nhàn hưởng lộc Trời dưới bóng tre
Chuối già đủ chín chốn chân quê
Mèo Chăm sưởi nắng thành nơi đến
Ngựa Quý phong sương thạo lối về
Quảng Trị Nam Gianh Người Minh Lệ
Đồng Nai Hưng Thịnh Đất Bồ Đề
#ĐáVàng Lùm Trần Thương #TreTrúcLâm
Khi mệt tựa cây để nghỉ ngơi.


HOÀNG KIM VUI BẠN HIỀN
Nghe Cổ Vật Nói Chuyện

Loạn Động Cơ Trời Triệt Nói Nhăng
An Tĩnh Thời Đất Mạch Thanh Long
Vợ Thôi Lo Lắng Chăm Ăn Ngủ
Con Bớt Phân Tâm Sóc Nhẹ Lòng
Thầy Vững Thân Tâm Bền Sử Ký
Bạn Quý #annhiên
#Thungdung
#cnm365 #tìnhyêucuộcsống
Ta với AI vui bớt luận bàn

CỤ NGUYỄN KHÔI NGƯỜI HIỀN

Tiếng Trung 21 Ngày
drnoSpeotsi012fu61f9l4tl521ờacc68422ggtifc07h 54m0021lm48641·
CHỮ CHỒNG CHỮ TẠO MỚI

(金) – Kim là kim loại, vàng. (金) – Kim, ba chữ kim tạo thành chữ Hâm (鑫)
Khi chồng ba chữ Kim lên nhau, ra được chữ Hâm (鑫) – giàu có, thịnh vượng.

Ba đống vàng mà không giàu mới là sự lạ.

(木) – Mộc là cây, cây cối.
Khi chồng ba chữ Mộc lên nhau, ra được chữ Sâm (森) – sum suê, rậm rạp.
Chữ Sâm đẹp cả về tượng hình và ý nghĩa. Nhiều người thích chữ này đến mức còn dùng sâm sâm 森森 để sum suê lại càng sum suê.
Lắt léo chữ nghĩa: Từ lâm đến sâm
https://thanhnien.vn/lat-leo-chu-nghia-tu-lam-den-sam-185913093.htm

(水) – Thủy là nước, (水) – Thủy, ba chữ thủy tạo thành chữ Diểu (淼)

(火) – Hỏa là lửa.
Khi chồng ba chữ Hỏa lên nhau, ra được chữ Diễm (焱) – Tóe ra lửa.
Một Hỏa đã đủ nguy hiểm, ba Hỏa thì phải tóe ra lửa là đúng rồi. Có lẽ chỉ Bà La Sát ở Hỏa Diệm Sơn trong Tây Du Ký mới thích chữ Diễm (焱) – Tóe ra lửa.

(土) – Thổ là đất.
Khi chồng ba chữ Thổ lên nhau, ra được chữ Nghiêu (垚) – đống đất cao.
Đúng là hiền như đất, chồng ba đất lên nhau cũng chỉ tạo thành đống đất, không làm hại ai cả.


(祿) – Lộc là phúc lộc, tài lộc, bổng lộc và sự thịnh vượng, may mắn trong cuộc sống, là “Phúc-Lộc-Thọ” (福禄寿) trong văn hóa phương Đông, ước vọng một cuộc sống sung túc và đầy đủ. (祿) – Lộc chiết thư Hán Việt là 礻 彑 水 (Kỳ Kế Thủy) – ông thần đất, đầu heo, nước. Muốn có nhiều Lộc phải được ông thần đất phù hộ, sản vật nuôi trồng, và nhất là phải gần nơi có nhiều nước. Nguồn : https://macvuong.com/2102-2/

(原) – Nguyên, tiếng Việt nghĩa là cái gốc, cái ban đầu, lúc ban đầu
khi chống ba chữ Nguyên lên nhau, tạo thành chữ Nguyên (厵)
Danh từ  cái gốc, cái ban đầu, lúc ban đầu ông giám đốc nguyên là bộ đội xuất ngũ nơi này nguyên là bãi đất hoang Đồng nghĩa: vốn Tính từ  được giữ hoàn toàn như thế, không có gì khác đi, không có gì thay đổi cơm canh còn nóng nguyên số tiền vẫn nguyên Phụ từ  (Khẩu ngữ) chỉ có như thế, không có gì thêm hoặc không có gì khác chỉ nguyên việc đó thôi cũng đủ rắc rối. yếu tố ghép trước để cấu tạo danh từ chỉ chức vụ, có nghĩa vốn là, trước đây không lâu đã từng làm, như: nguyên thủ tướng, nguyên bộ trưởng, v.v.. Đồng nghĩa: cựu

(龍) – Long là rồng,
khi chồng ba chữ Long sẽ có chữ Đạp (龘) – rồng bay nhanh.
“Long” trong tiếng Việt có nhiều nghĩa tùy ngữ cảnh: Danh từ
chữ Hán (龍) nghĩa là rồng (tượng trưng vua chúa, sức mạnh) hoặc dùng trong tên gọi như “Long mạch” (phong thủy), (Danh từ tên riêng phổ biến Giống Khoai lang Hoàng Long, khi là Động từ nghĩa là Tôn sùng “long sư” tôn kính thầy. Làm cho cao thêm. ◎Như: “long tị” sửa mũi cho cao lên. ◇Chiến quốc sách : “Tuy long Tiết chi thành đáo ư thiên, do chi vô ích dã” , (Tề sách nhất ) Tuy có nâng cao thành Tiết tới đụng trời, cũng vô ích. Tính từ (từ tiếng Anh) nghĩa là dài, lâu, xa; Đầy, nhiều, dày. ◎Như: “long trọng” trọng thể, “đức long vọng trọng” đức dày giá trọng.
Tính từ Hưng thịnh, hưng khởi. ◎Như: “hưng long” , “long thịnh” .
9 Tính từ Sâu, thắm thiết. ◎Như: “long tình hậu nghị” tình nghĩa thắm thiết.
10 (Tính) Cao, gồ lên. ◎Như: “long khởi” nhô lên, “long chuẩn” sống mũi cao.

Từ điển trích dẫn

1. (Danh) Họ “Long”.
2. (Danh) Phong thủy Long mạch
3. (Danh) Giống Khoai lang Hoàng Long
4. (Động) Tôn sùng. ◎Như: “long sư” tôn kính thầy.
5. (Động) Làm cho cao thêm. ◎Như: “long tị” sửa mũi cho cao lên. ◇Chiến quốc sách : “Tuy long Tiết chi thành đáo ư thiên, do chi vô ích dã” , (Tề sách nhất ) Tuy có nâng cao thành Tiết tới đụng trời, cũng vô ích.
6. Tính từ (từ tiếng Anh) nghĩa là dài, lâu, xa;
7. (Tính) Đầy, nhiều, dày. ◎Như: “long trọng” trọng thể, “đức long vọng trọng” đức dày giá trọng.
8. (Tính) Hưng thịnh, hưng khởi. ◎Như: “hưng long” , “long thịnh” .
9 (Tính) Sâu, thắm thiết. ◎Như: “long tình hậu nghị” tình nghĩa thắm thiết.
10 (Tính) Cao, gồ lên. ◎Như: “long khởi” nhô lên, “long chuẩn” sống mũi cao.

Từ điển Thiều Chửu

① Ðầy ùn, đầy tù ụ, đầy đặn lại lớn lao. Vì thế nên cái gì lồi lên trội lên gọi là long khởi .
② Thịnh, dày. Như đức long vọng trọng đức thịnh giá trọng.
③ Hậu. Như chí nghị long tình nghĩa thiết tình hậu.
④ Long long ù ù, tiếng sấm động.
⑤ Tôn quý, cao nhất.
⑥ Lớn.

Từ điển Trần Văn Chánh

① Trọng thể, trọng hậu: Long trọng;
② Hưng thịnh: Hưng thịnh; Thịnh vượng;
③ Sâu, hậu, thắm thiết: Tình nghĩa thắm thiết, nghĩa thiết tình hậu;
④ Gồ lên, lồi lên, u lên: Trán anh ấy va u lên một cục to;
⑤ (văn) Cao quý, tôn quý, nổi tiếng, vẻ vang;
⑥ (văn) Lớn;
long long [lóng lóng] (thanh) Ầm ầm: Sấm sét ầm ầm;
⑧[Lóng] (Họ) Long.

Từ điển Nguyễn Quốc Hùng

Tốt đẹp. Hưng thịnh — Phong phú, đầy đặn — To lớn — Ngọn núi nhỏ cao lên.

Tự hình 3 Dị thể 15 Chữ gần giống 1 Từ ghép 11 Một số bài thơ có sử dụng

(人) – Nhân là người.
Khi chồng ba chữ Nhân lên nhau, ra được chữ Chúng (众) – đông người.
Có lý và thú vị.


(手) – Thủ là tay.
Khi chồng ba chữ Thủ lên nhau, ra được chữ Vát (掱) – kẻ trộm, kẻ cắp.
Người bình thường chỉ có hai tay, cho nên ba tay đích thị là ăn trộm, ăn cắp rồi.

(日) – Nhật là ngày, mặt trời.
Khi chồng ba chữ Nhật lên nhau, ra được chữ Tinh (晶) – óng ánh, trong suốt.
Đúng quá, một Nhật đã là sáng rõ, thì ba Nhật phải ở cấp độ óng ánh.

(車) – Xa là xe.
Khi chồng ba chữ Xa lên nhau, ra được chữ Oanh (轟) – Ầm, oành, sầm sầm, xình xịch, tiếng một đoàn xe chạy.
Một Xa là xe thì ba Xa là đoàn xe, đoàn xe chạy tất nhiên phải ồn ào rồi. Chuẩn không cần chỉnh.

(力) – Lực là sức lực.
Khi chồng ba chữ Lực lên nhau, ra được chữ Hiệp
(劦) – Hợp sức của nhiều người lại để cùng làm việc gì đó.

Như vậy khi dùng “hiệp lực” trong tiếng Việt, có vẻ thừa chữ “lực” ?. Vì bản thân chữ “hiệp” là đã đủ nghĩa.

(言) – Ngôn là nói,
khi chồng ba chữ Ngôn lên nhau, sẽ có chữ Đạp (譶) – nói nhanh như bắn súng liên thanh.
Chữ Đạp của ba chữ Ngôn (譶) đồng âm, nhưng khác nghĩa với chữ Đạp (龘) tạo bởi ba chữ Long (龍).

(女) – Nữ, là giới tính cái, phụ nữ, đàn bà, người con gái
khi chồng ba chữ nữ tạo thành chữ Gian (姦)

(人) – Nhân, là Người
khi chống ba chữ Nhân (人) tạo thành chữ Chúng (众)

Các nghĩa phổ biến của “Nhân”: con người: Người, nhân loại, nhân tài, nhân viên, nhân dân, nhân sinh, nhân vật. Lòng nhân ái/Đạo đức: Lòng thương người, đạo đức làm người (nhân đạo, nhân nghĩa, nhân từ, nhân phẩm). Hạt: Phần lõi bên trong quả (đào nhân, nhân trần). Phép tính/Toán học: Phép nhân (số nhân, số bị nhân). Nguyên nhân/Lý do: (Nguyên nhân, nhân quả, tác nhân). Nhân tiện/Dịp: Chỉ sự thuận tiện, có liên quan (nhân dịp năm mới, nhân khi lửa tắt). Tính cách/Phẩm chất: (Đọc văn biết người).  Nguồn gốc và ý nghĩa sâu xa: Chữ “Nhân” (仁) ghép từ bộ “Người” (人) và bộ “Hai” (二), thể hiện mối quan hệ và sự tương tác giữa người với người, nhấn mạnh sự hòa hợp và tình thương

(口) – Khẩu, ba chữ khẩu tạo thành chữ Phẩm (品)

(手) – Thủ, ba chữ thủ tạo thành chữ Vát (掱)

(日) – Nhật, ba chữ nhật tạo thành chữ Tinh (晶)

(木) – Mộc, ba chữ mộc tạo thành chữ Sâm (森)

(火) – Hỏa, ba chữ hỏa tạo thành chữ Diễm (焱)

(土) – Thổ, ba chữ thổ tạo thành chữ Nghiêu (垚)

(車) – Xa, ba chữ xa tạo thành chữ Oanh (轟)

(力) – Lực, ba chữ lực tạo thành chữ Hiệp (劦)

(又) – Hựu, ba chữ hựu tạo thành chữ Nhược (叒)

(吉) – Cát, ba chữ cát tạo thành chữ Triết (嚞)

(子) – Tử, ba chữ tử tạo thành chữ Chuyển (孨)

(心) – Tâm, ba chữ tâm tạo thành chữ Tỏa (惢)

(毛) – Mao, ba chữ mao tạo thành chữ Thúy (毳)

(泉) – Tuyền, ba chữ tuyền tạo thành chữ Tuyền (灥)

(馬) – Mã, ba chữ mã tạo thành chữ Bưu (驫)

(牛) – Ngưu, ba chữ ngưu tạo thành chữ Bôn (犇)

(犬) – Khuyển, ba chữ khuyển tạo thành chữ Tiêu (猋)

(羊) – Dương, ba chữ dương tạo thành chữ Chiên (羴)

(魚) – Ngư, ba chữ ngư tạo thành chữ Tiên (鱻)

(田) – Điền, ba chữ điền tạo thành chữ Lũy (畾)

(白) – Bạch, ba chữ bạch tạo thành chữ Hiểu (皛)

(直) – Trực, ba chữ trực tạo thành chữ Súc (矗)

(石) – Thạch, ba chữ thạch tạo thành chữ Lỗi (磊)

(耳) – Nhĩ, ba chữ nhĩ tạo thành chữ Chiệp (聶)

(屮) – Triệt, ba chữ triệt tạo thành chữ Hủy (芔)

(虫) – Trùng, ba chữ trùng tạo thành chữ Trùng (蟲)

(言) – Ngôn, ba chữ ngôn tạo thành chữ Đạp (譶)

(貝) – Bối, ba chữ bối tạo thành chữ Bí (贔)

(隹) – Chuy, ba chữ chuy tạo thành chữ Tập (雥)

(風) – Phong, ba chữ phong tạo thành chữ Hu (飍)


Đọc thơ bên cây báng
Kinh Nhật Tụng Nguyễn Khôi
Càng đọc càng thấm thía
Hoa Đất thương lời hiền


Người Đình Bảng Nguyễn Khôi

KINH NHẬT TỤNG
Nguyễn Khôi
85 Xuân
Tặng Nguyễn Đức Thìn

Càng ít người biết đến
Tính an toàn càng cao
Muốn yên thân thanh thản
Tránh xa chốn ồn ào .


Không câm nhưng chẳng nói
Không điếc mà chẳng nghe
Không đi vẫn lãng tử
Hoài trông cõi mịt mù
.

Trong túi không bạc vàng
Thả hồn thơ lãng đãng
Cơm muối vừng, khoai lang
Thấy trong người khỏe khoắn.

Được nhiều thì mất lắm
Danh cao bộn thị phi
Ôm nhiều vai trĩu nặng
Xuôi tay chẳng còn gì .

Biển đời đang cuồn cuộn
Hòn cuội đáy biển sâu
Ngắm thỏa muôn trùng sóng
Lung linh đủ sắc màu “.

Cụ Khôi Trai Đình Bảng
Sức viết trãi vạn trang
Nhớ “SỐNG CHỤ SON SAO”
Đỉnh cao văn học Thái

Áng thơ hay tuyệt diệu
Lời dặn thật chân tình

“Đọc thơ bên cây báng”
Vui trọn mùa thanh minh.

Đọc Thơ Bên Cây Báng
Tiếng Trung Hâm Mốt Ngày
Trai Đình Bảng Cổ Pháp
Thái “Sống Chụ Son Sao”
Đại Thọ Kính Cụ Khỏe
#Annhiên và #Thungdung

Kim Hoàng (bố con) Hoang To Nguyen
https://hoangkimlong.wordpress.com/2026/01/17/cu-nguyen-khoi-nguoi-hien/

HOÀNG TỐ NGUYÊN TIẾNG TRUNG
黄素源 (越南) Hoàng Tố Nguyên Việt Nam
Dạy và học tiếng Trung trực tuyến
#htn Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung https://hoangkimvn.wordpress.com/category/hoang-to-nguyen-tieng-trung/https://hoangkimlong.wordpress.com/tag/hoang-to-nguyen-tieng-trung. Tôn vinh giá trị Việt Bài học mới mỗi ngày

Xây dựng học liệu mở #htn #vietnamxahoihoc #cnm365 #dayvahoc #vietnamhoc, #cltvn Việt Nam xã hội học (越南社会学; Vietnamese Sociology) Ngữ văn Việt Trung đối chiếu là môn học bảy bài Xã hội Việt Nam ngày nay; Nông nghiệp sinh thái Việt; Ngành nghề ở Việt Nam; Vùng sinh thái Việt Nam; Du lịch sinh thái Việt; Nước Việt Nam ngày nay; Việt Nam con đường xanh với 36 tiểu mục, là sách học Việt Trung.

Bài 1 Xã hội Việt Nam ngày nay có 5 tiểu mục:1.1 Việt Nam một khái quát; 1.2 Việt Nam con đường xanh; 1.3 Việt Nam tâm thế mới;1.4 Việt Nam sáng tạo KHCN; 1.5 Việt Nam dư địa chí Việt Nam xã hội học bách khoa mở 越南社会学开放百科全书 Vietnam Sociology Open Encyclopedia tích hợp thông tin mới trên cấu trúc Việt Nam xưa và nay để bổ sung Ngữ văn Việt Trung đối chiếu phục vụ học tập giảng dạy nghiên cứu
https://hoangkimlong.wordpress.com/ & https://cnm365.wordpress.com/ & https://exotrails.com/press

Hoàng Gia Minh Tiếng Trung #hgm365 Y2B5 https://youtu.be/-NHQBTSxie8
Hoàng Gia Minh Tiếng Trung #hgm365 Y2B6P1 https://youtu.be/0__1J87UJdE
Hoàng Gia Minh Tiếng Trung #hgm365 Y2B6P2 https://youtu.be/D8dygFvyOHM
Hoàng Gia Minh Tiếng Trung #hgm365 Y2LC7P1 https://youtu.be/UDgVkYwuxgE
Hoàng Gia Minh Tiếng Trung #hgm365 Y2LC7P2 https://youtu.be/XldVIISVbYM
Hoàng Gia Minh Tiếng Trung #hgm365 Y2LC8 https://youtu.be/6wt-WhZUXis
Hoàng Gia Minh Tiếng Trung #hgm365 Y2LC9 https://youtu.be/4FQm7MwAKd4
Hoàng Gia Minh Tiếng Trung #hgm365 Y2LC10 https://youtu.be/PfqycTl8kgc

Hoàng Gia Minh Tiếng Anh 119 #hgm365 https://youtu.be/-ptXByndF3I

H

Hình ảnh này không có thuộc tính văn bản thay thế; tên tập tin là mot-niem-tin-thap-lua.jpg

HOÀNG TỐ NGUYÊN TIẾNG TRUNG
LAN TỎA GIÁ TRỊ VIỆT Bình Minh An ngày mới (ảnh dưới) ; Chuyện thầy Lê Văn Tố; #htn365 Hội thảo Tiếng Trung https://youtu.be/2NvBbXrtsWI ; Thành tâm với chính mình Gia Cát Mã Tiền Khóa; Nhà Trần trong sử Việt “Hãy canh gác cánh cửa tâm trí. Việc chúng ta trở thành thế nào chủ yếu được quyết định bởi những người chúng ta gặp, những sự kiện chúng ta tham gia, những cuốn sách chúng ta đọc, và lối sống mà chúng ta lựa chọn.” #cnm365 Tình Yêu Cuộc Sống

BÌNH MINH AN NGÀY MỚI

Cháu chơi gần gũi vườn nhà
Mẹ còn bận dạy, bố xa chưa về
Bồ Đề lối chính chân quê

#Thungdung hoa cỏ, lắng nghe lời lành

Suối Tiên vui Thảo Cầm Viên
Xuân Hòa phường mới *, Nam Gianh quê mình
Bình Minh An gắng học hành
Hưng Thịnh ngày mới #annhiên chốn hiền **

https://www.facebook.com/watch/?v=1566363074694004&rdid=oogvXujrdaBgSS6I


Học với chữ Hán Nôm
TIẾNG VIỆT LUNG LINH SÁNG
#cnm365 cập nhật mỗi ngày
Hoàng Kim

Tiếng Việt lung linh sáng
Muốn sang thì bắc cầu kiều
Chuyện đồng dao cho em
Bài đồng dao huyền thoại

Ca dao Việt “Cày đồng”
Mãn Giác thơ “Hoa Mai”
Tiếng Việt lung linh sáng
Thơ Việt ngoài ngàn năm


Trần Khánh Dư “Bán than”
Phạm Ngũ Lão Thuật Hoài
Nguyễn Trãi Dục Thúy Sơn
Đặng Dung thơ Cảm hoài.

Dân ca truyền di sản
Ca dao lọc tinh hoa
Đầu tiên tới cuối cùng
Học ăn và học nói


Kim Notes lắng ghi chú *
THƠ CỔ VÀ ĐI ĐƯỜNG

Núi cao ta trông
Đường rộng ta đi
Dẫu chưa tới đích
Nhưng lòng hướng về

(Thơ cồ: Kinh Thi)

Việt Bắc Nhớ Bác Hồ bài 1 đến bài 10
CHỢT GẶP MAI ĐẦU SUỐI

“Nghìn dặm tìm anh chẳng gặp anh/ Đườn

#cnm365 Tình Yêu Cuộc Sống
#Annhiên Và #Thungdung
Chính Trung Hiếu Thiện Lành
Đồng Nai Đất Và Người


Sông Sài Gòn Bến Nghé
Cây Lương Thực (Food Crops)
Nguyễn Du trăng huyền thoại
Việt Bắc nhớ Bác Hồ


Lớp 10ATT ĐHNN2 Hà Bắc năm 2022 vừa có chuyến Du lịch sinh thái Việt điểm đến Việt Bắc nhớ Bác Hồ, Một số bạn lên thăm bạn Tây Nguyên, Phú Yên và một số ảnh tuyển chọn khác. Tỉnh thức trong tôi bài Măng Đen và Nhớ Đăk Tô Tân Cảnh

(*) Câu chuyện ngày hôm nay là tiếp nối chuyện cũ

nangsom_danghongky

Nắng sớm, ảnh Đặng Hồng Kỳ

Cây dược liệu vườn nhà

Đậu rồng Cây dược liệu vườn nhà, dễ trồng và thích nghi rộng ở Việt Nam. Giống đậu rồng Bình Minh phổ biến hiện nay (2026), dễ thu hái, bảo quản, và có nhiểu công dụng thưc tế xem thêm Đậu rồng nguồn Wikipedia Tiếng Việt và Thầy Tuấn trong lòng tôi https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-tuan-trong-long-toi/ Phần trích dẫn Đậu rồng có liên quan (1) Kim H.; Buresova, M, 1986. Growing winged bean on natural supports under the conditions of South Vietnam. In: Agricultura Tropica et Subtropica, Universitas Agriculturae Praga, No. 19; p. 225 – 236 En. Sum. En. 14 Ref. In CIAT 1990 National Bibliographies Cassava in Asia East and Southeast Asia, p. 416 ;  2)  Buresova, M.; Kim, H.; Quyen, T.N.,1987. The economics og winged bean on manioc as natural supports under the conditions of South Vietnam. In: Agricultura Tropica et Subtropica, Universitas Agriculturae Praga, No. 20; p. 101 – 114 En. Sum. En.; Sk., Ru.,8 Ref. In: CIAT 1990 National Bibliographies Cassava in Asia East and Southeast Asia, p. 416; 3) Hoang Kim, M. Buresova, Tran Ngoc Quyen and Nguyen Van Chuong, 1988 Economic of Winged bean on Maize as natural support in South Vietnam. In: Agricultura Tropica et Subtropica, Universitas Agriculturae Praga, No. 21; p. 45 – 59 En. Sum. En.; Sk., Ru.,9 Ref.)

Đu Đủ, Cây dược liệu vườn nhà, dễ trồng và thích nghi rộng ở Việt Nam, là cây quen thuộc, vị thuồc quanh ta, trong đời sống hàng ngày. Cây Đu Đủ những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam Đõ Tát Lợi https://vnras.com/cay-du-du-nhung-cay-thuoc-va-vi-thuoc-viet-nam-do-tat-loi/, Cây đu đủ (Carica papaya L.) là vị thuốc quý trong Y học cổ truyền Việt Nam, sử dụng nhiều bộ phận như quả (xanh/chín), lá, hoa đực, nhựa và hạt để chữa bệnh đường ruột (giun sán), ho, tiêu hóa (khó tiêu, loét dạ dày), sốt xuất huyết, tim mạch, làm đẹp da, tăng tiết sữa mẹ và hỗ trợ điều trị nhiều chứng bệnh khác nhờ enzyme papain, carpain và nhiều vitamin, khoáng chất có lợi. Tuy nhiên, phụ nữ có thai cần cẩn trọng với đu đủ xanh, theo Cục An toàn thực phẩm và báo Sức khỏe & Đời sống. Tác dụng chữa bệnh của cây đu đủ |Vị thuốc quanh ta.

Hoàng Kim *

(*) Hoàng Kim Cây lương thực (Food Crops)
Cây Lương thực Việt Nam Chọn giống Cây Lương thực Dạy học nghề làm vườn Thầy Quyền thâm canh lúa

Tham khảo

Bài thuốc từ cây đu đủ , lương y Nguyễn Công Đức I Long An TV là kinh nghiệm quý https://youtu.be/IyiTuosro50?si=cRlSRFZDzywgeEZw,

Cây Đu Đủ có tác dụng gì | Vị thuốc quanh ta 24-6-2025 | Điện Biên TV https://youtu.be/_D8Ljzb0-H0?si=Q3gQeKb79RNFbYDz

Trồng đu đủ lùn thu 100 triệu/năm | VTC16

Tác dụng chữa bệnh của cây đu đủ |Vị thuốc quanh ta.

“Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong”  của nhà thơ Trần Kim Dung sẽ được Nhóm Bạn văn & Miền chữ tổ chức ra mắt vào sáng 18/1/2026.

Qúy Thơ Ca Điểm Hẹn

‘Bầu trời dưới đáy sông’
Trọng ‘muôn nỗi gần xa’
Hiền ‘những dấu chân thơ’
Cô Giáo Trần Kim Dung4
Sông Sài Gòn Bến Nghé5
Sử Thi Đất Thành Đồng6


Hoàng Kim
#cnm365 Tình Yêu Cuộc Sống
chúc mừng chị Trần Kim Dung, Cảm ơn Nguyên Hùng bạn xứ Nghệ và Hội Thơ Nghệ Tĩnh Tại Thành Phố Hồ Chí Minh

Việt Bắc nhớ Bác Hồ (Bài 4)
NGƯỜI VỊN TRỜI CHẤP SÓI

Việt Bắc nhớ Bác Hồ (Bài 5)
BẢN GIỐC VÀ KA LONG

Việt Bắc nhớ Bác Hồ (Bài 6)
HỒ BA BỂ BẮC KẠN

Việt Bắc nhớ Bác Hồ (Bài 7)
LÊN VIỆT BẮC ĐIỂM HẸN

Việt Bắc nhớ Bác Hồ (Bài 8)
ĐỀN BÀ CHÚA THƯỢNG NGÀN

Việt Bắc nhớ Bác Hồ (Bài 9)
YÊN LÃNG HỒ CHÍ MINH

HoNuiCoc06

YÊN LÃNG HỒ CHÍ MINH

Nôi đất Việt yêu thương
Mỏ than Hồng giữ lửa
Thơ tình Hồ Núi Cốc
Yên Lãng Hồ Chí Minh

HoNuiCoc05

Đền Bà Chúa Thượng Ngàn
Chợt gặp mai đầu suối
Thanh trà Thủy Biều Huế
Mai Hạc vầng trăng soi

Cánh cò bay trong mơ
Một niềm tin thắp lửa
Giấc mơ lành yêu thương
Đồng xuân lưu dấu hiền

Hoàng Kim

HoNuiCoc01

THƠ TÌNH HỒ NÚI CỐC

Anh đến tìm em ở Bến Mơ
Một trời thu đẹp lắng vào thơ
Mênh mang mường Mán mình mong mỏi
Lấp loáng luồng Lưu lượn lững lờ
Núi Cốc chùa Vàng xao xuyến đợi
Sông Công đảo Cái ước mong chờ
Nham Biền, Yên Lãng uy nghi quá
Tam Đảo, Trường Yên dạ ngẫn ngơ.


Hoàng Kim

Hồ Núi Cốc là quần thể du lịch sinh thái thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên cách trung tâm thành phố 15 km về hướng Tây Nam theo lộ Đán -Tân Cương – núi Cốc. Nơi đây có núi Cốc, sông Công, hồ núi Cốc – vịnh Hạ Long, hồ trên núi – với diện tích mặt hồ khoảng 25 km2. Đền Hồ Chí Minh trên rừng Yên Lãng, đỉnh đèo De dưới là mỏ than núi Hồng giữ ngọn lửa thiêng, vùng huyền thoại chuyện tình yêu thương. Đảo Cái lưu dấu những cổ vật đặc biệt quý hiếm. Chùa Vàng và đền bà chúa Thượng Ngàn nổi tiếng. Đây là vùng đất địa linh của tam giác châu giữa lòng của vòng cung Đông Triều với dãy Tam Đảo có 99 ngọn Nham Biền chạy xuống Yên Tử , trường thành chắn Bắc (hướng kia là dãy Tản Viên 99 ngọn chạy dọc sông Đáy tới Thần Phù, Nga Sơn nối Trường Sơn tạo thế trường tồn và mở mang cho dân tộc Việt. Đây là vùng thiên nhiên trong lành, suối nguồn tươi trẻ, lưu dấu tích anh hùng, mỹ nhân trong vầng trăng, bóng nước giữa rừng …Nôi đất Việt yêu thương/ Mỏ than Hồng giữ lửa/ Thơ tình Hồ Núi Cốc / Yên Lãng Hồ Chí Minh/ Đền Bà Chúa Thượng Ngàn / Chợt gặp mai đầu suối/ Thanh trà Thủy Biều Huế/ Mai Hạc vầng trăng soi/ Cánh cò bay trong mơ/ Một niềm tin thắp lửa/ Giấc mơ lành yêu thương / Đồng xuân lưu dấu hiền

Những tác phẩm âm nhạc vượt thời gian Huyền thoại Hồ Núi Cốc, nhạc và lời Phó Đức Phương, trình bày Vũ Phong Vũ (bản khác NSƯT Thanh Hoà), Thanh Lam Tùng Dương ; Hồ trên núi, nhạc và lời Phó Đức Phương, trình bày Hồ Quỳnh Hương (bản khác NSƯT Anh Thơ); Thơ giao lưu Hồ Núi Cốc giữa những người bạn Mùa Thu Vàng, Hà Duy Tự, Trúc Nhã, LamCa07, Hoàng Kim… được giao hòa trong khung cảnh thiên nhiên lộng lẫy, kỳ thú này.

Chương trình Sắn Việt Nam cùng Chương trình Sắn Châu Á nhiều lần họp tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng đi khảo sát các vùng sắn ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái,  … và đã có hai lần thăm Hồ Núi Cốc.

Lưu lại những ấn tượng khó quên về một vùng đất thiêng liêng của Tổ Quốc Việt Nam.

HoNuiCoc02
HoNuiCoc03
HoNuiCoc04

BÌNH SINH HỒ CHÍ MINH

Bình Sinh Đầu Ngẩng Tới Trời Xanh
Khuất núi hồn THƠM quyện đất lành
Anh hùng HỒ dễ nên nghiệp ấy
Tâm hồn bình dị CHÍ anh MINH

Hoàng Kim cuối tháng ba năm 2008, có nhận được của anh Phan Chí Thắng một lá thư, nguyên văn: “Gửi Hoàng Kim. Cách đây mấy ngày, trong một cuộc tiếp xúc nhiều người, tôi vô tình được nói chuyện với anh H., cháu nội người đỗ đầu khoa Hội cùng năm với cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Dì ruột của anh H. lấy anh cả của ông LĐT. Anh H. kể là được nghe trực tiếp từ ông LĐT về bài tứ tuyệt được thêu trên trướng do 5 nhà cách mạng lão thành Nga gửi đến tang lễ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chỉ nghe một lần mà anh H. thuộc lòng cho đến bây giờ, thật xứng danh cháu nội cụ Hội Nguyên. Tôi xin chép lại vào đây để Hoàng Kim tham khảo “Bình sinh đầu ngẩng tới trời xanh / Khuất núi hồn THƠM quyện đất lành / Anh hùng HỒ dễ nên nghiệp ấy / Tâm hồn bình dị CHÍ anh MINH ” Có vài điểm thắc mắc: 1. Làm sao mà các nhà cách mạng Nga lại làm được thơ tứ tuyệt? Hay là họ nhờ ai đó làm giúp theo ý họ?  2. Các chữ viết hoa trong bài tứ tuyệt được thêu chữ hoa, nghĩa là có dụng ý. Ba chữ là lấy từ trong “Hồ Chí Minh”. Còn chữ “Thơm” có phải đó cũng là tên hoạt động của Bác Hồ trong thời gian công tác cùng với 5 nhà cách mạng Nga kia? Hay là một tên gọi khác của Bác mà rất ít người biết? Sơ bộ như thế đã, các nhà nghiên cứu sẽ tìm câu trả lời.

Hoàng Kim đã trả lời: 1. Cám ơn thư của Anh. Em trao đổi sớm (2008) vì biết rằng đây là một vấn đề không dễ “giải mã” trong ít ngày nên cần chép ngay để lưu lại một điểm nhấn nghiên cứu. Nhiều sự thật lịch sử sẽ còn phải chờ đợi thêm một thời gian nữa mới có đủ thông tin. Cần đúng người, đúng việc, đúng liều lượng và đúng thời điểm. Với ước mong đi sâu tìm hiểu về một số nhân vật và địa danh lịch sử của dãi đất miền Trung, em đã tập hợp tư liệu tại chuyên trang “Chợt gặp mai đầu suối.

2. Chữ “Thơm” và chữ “Hồ” trong câu thơ trên hình như có quan hệ đến Nguyễn Huệ (Hồ Thơm) và Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh). Cụ Hồ Sĩ Tạo (như là ông nội ruột của Hồ Chí Minh) với cụ Hồ Phi Phúc (cha của Nguyễn Huệ) hình như có quan hệ thân tộc. Có giả thuyết cho rằng tổ tiên nhà Tây Sơn vốn họ Hồ ở làng Hương Cái, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Họ theo chân chúa Nguyễn vào lập nghiệp miền Nam khi chúa Nguyễn vượt Lũy Thầy đánh ra đất Lê – Trịnh tới Nghệ An (năm 1655). Ông cố của Nguyễn Huệ tên là Hồ Phi Long (vào giúp việc cho nhà họ Đinh ở thôn Bằng Chân, huyện Tuy Viễn, tức An Nhơn) cưới vợ họ Đinh và sinh được một trai tên là Hồ Phi Tiễn. Hồ Phi Tiễn không theo việc nông mà bỏ đi buôn trầu ở ấp Tây Sơn, cưới vợ và định cư tại đó. Vợ của Hồ Phi Tiễn là Nguyễn Thị Đồng, con gái duy nhất của một phú thương đất Phú Lạc, do đó họ đổi họ của con cái mình từ họ Hồ sang họ Nguyễn của mẹ. Người con là Nguyễn Phi Phúc cũng chuyên nghề buôn trầu và làm ăn phát đạt. Nguyễn Phi Phúc có 8 người con, trong đó có ba người con trai: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ. Nguyễn Huệ sinh năm 1753 còn có tên là Hồ Thơm hay Quang Bình, Văn Huệ. Cụ Hồ rất trọng lịch sử nên giả thuyết cho rằng chữ “Thơm” có thể cũng là tên hoạt động của Bác Hồ trong thời gian công tác cùng với 5 nhà cách mạng Nga kia? Hay là một tên gọi khác của Bác mà rất ít người biết đều là có thể.

3. Câu thơ “Tâm hồn bình dị CHÍ anh MINH” em nhớ đến Bác và nhớ đến một người Thầy khác, đó là Norman Borlaug. (Mời đọc Borlaug và Hemingway Lời Thầy dặn thung dung). Cuộc đời Thầy cũng trong như ánh sáng. Thời gian và sự khen chê không làm xoá nhoà được dấu ấn nổi bật của Người. Norman Ernest Borlaug , sinh ngày 25 tháng 3 năm 1914, từ trần ngày 12 tháng 9 năm 2009 tại Texas,  là nhà nông học Mỹ, nhà nhân đạo, người đoạt giải Nobel và ông được gọi là cha đẻ của Cuộc cách mạng Xanh. Ông là người đã nhận được đồng thời ba giải thưởng lớn Nobel Peace Prize, Presidential Medal of Freedom, Congressional Gold Medal vì những cống hiến đặc biệt cao quý cho nhân loại.

Ba năm trôi qua (2008-2011), nhiều tư liệu mới đã làm phong phú thêm nguồn nhận thức của chúng ta và đã có thêm tìm tòi mới về Bác. Hồ Chí  Minh có thơ viết ở đền Trần và Bác đã dùng cụm từ  “kẻ phi thường” để nói về Nguyễn Huệ và Công Uẩn trong hai câu “Nguyễn Huệ là kẻ phi thường” và “Công Uẩn là kẻ phi thường”. Điều chắc chắc là Bác biết rất rõ cụm từ  “bậc phi thường” vì Bác là bậc Thầy về chữ nghĩa và rất cẩn trọng ngôn ngữ. Tại sao vậy? Đánh giá về Hồ  Chí Minh hiếm  câu nào hay hơn “Bình sinh đầu ngẩng tới trời xanh” và “Tâm hồn bình dị CHÍ anh MINH” nhưng kiến giải rõ hơn thì hình như vẫn cần thêm một thời gian nữa.

*

Bình sinh đầu ngẩng tới trời xanh! Báo cáo của Việt Nam gửi Quốc tế Cộng sản ngày 12 tháng 7 năm 1940 do Hồ Chí Minh soạn thảo là cẩm nang đón trước thời cơ “nghìn năm có một” của Tổng khởi nghĩa tháng 8 và Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945. Tài liệu tổng hợp, phân tích, đánh giá đầy đủ, toàn diện tình hình, sâu sắc hiếm thấy nhưng cực kỳ súc tích chỉ vắn tắt 12 trang. Đó là một trong số những thí dụ rõ nhất về thiên tài kiệt xuất của Hồ Chí Minh dám chớp thời cơ giành chính quyền và biết thắng. Hãy nghe Hồ Chí Minh phân tích tình thế: “Tóm lại, những điều kiện khách quan cho phép chúng tôi có hi vọng thành công. Song, lực lượng chủ quan- lực lượng của Đảng còn quá yếu. Như trên đã nói, một đảng mới mười tuổi lại trãi qua hai lần khủng bố lớn, số cán bộ có kinh nghiệm đấu tranh hiện còn đang rên xiết trong tù ngục, khiến đảng viên và quần chúng như “rắn mất đầu” không thể tận dụng cơ hội tốt “nghìn năm có một”. Chúng tôi liệu có khả năng làm thay đổi hoàn cảnh đó, khắc phục khó khăn đó, giúp Đảng hoàn thành sứ mạng lịch sử của nó hay không? Có. Chúng tôi nhất định không thể từ trong đánh ra. Chúng tôi chỉ có cách từ ngoài đánh vào. Nếu chúng tôi có được: 1) Tự do hành động ở biên giới; 2) Một ít súng đạn; 3) Một chút kinh phí; 4) Vài vị cố vấn thì chúng tôi nhất định có thể lập ra và phát triển một căn cứ địa chống Pháp, chống Nhật – đó là hi vọng thấp nhất. Nếu chúng tôi có thể mở rộng Mặt trận thống nhất các dân tộc bị áp bức, có thể lợi dụng mâu thuận giữa các nước đế quốc thì tiền đồ tươi sáng là có thể nhìn thấy được. Tôi rất hi vọng các đồng chí giúp tôi nhanh chóng giải quyết vấn đề này. 12.7.40.” (Hồ Chí Minh Toàn tập t. 3 tr. 162-174). Hơn nữa thế kỷ qua, HK đọc lại và suy ngẫm, càng đọc càng thấm thía thêm nhiều điều sâu sắc.

Theo chân người dẫn dường, tôi lưu lại dưới đây năm mẫu chuyện nhỏ, sự thật không là huyền thoại, về Chủ tịch Hồ Chí Minh

1

Nhà sàn của Bác Hồ

“Ngôi nhà sàn đơn sơ
Giữa thủ đô Hà Nội
Ngày lại ngày tiếp nối
Bác thênh thản xuống lên
Làm việc và chăm vườn
Cho cá ăn từng buổi
Di chúc 4 năm cuối
Bác đã viết tại đây
(*)

2

Bác nghỉ chân Việt Bắc

Bác nghỉ chân sau mấy dặm ra đi
Rừng Việt Bắc chở che giây phút nghỉ
Chốn đất thiêng1 lưu lại thời trân quý
Bình Sinh Hồ Chí Minh Việt Nam

3

HoNuiCoc06

Yên Lãng Hồ Chí Minh

Bác đã hóa thân vào đất nước, quê hương
Tự chủ, tự tôn là máu thịt của chính mình

4

Đi dưới trời minh triết

Biển nhớ nơi nao Người lắng sóng
Bờ thương chốn cũ Bác trông thuyền
Bảo như trường kiếm xô sông dạt
Ninh Hải Thung Nham níu núi thiền *

5

Minh triết Hồ Chí Minh

Ngủ thì ai cũng như lương thiện,
Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền;
Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn,
Phần nhiều do giáo dục mà nên”

(Nửa đêm, bản dịch của Nam Trân)

ảnh Bác Hồ với học sinh trường trung học Trưng Vương (Hà Nội) nǎm 1956 Ngành nghề ở Việt Nam lao động và việc làm, tác động rất sâu sắc đến đời sống văn hóa và xã hội. Minh triết Hồ Chí Minh trích dẫn lời dạy thấm thía của Bác trên Báo Thái Bình Từ triết lý giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh nghĩ về công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/minh-triet-ho-chi-minh

Việt Bắc nhớ Bác Hồ (Bài 10)
ĐÁ VÀNG VỚI BAN MAI

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là trang-ram-2.jpg

SOI SÁNG LẠI CHÍNH MÌNH
Đừng bao giờ ngừng cố gắng

Bảo tồn và phát triển tinh hoa di sản cho chính mình, gia đình, người thân, thầy bạn, quê hương và #vietnamhoc là niềm vui SOI SÁNG LẠI CHÍNH MÌNH lời dặn lại của đức Trúc Lâm Trần Nhân Tông, chứ không tìm ở đâu khác “Ở đời vui đạo , thả tùy duyên. Đói cứ ăn đi mệt ngủ liền. Kho báu trong nhà thôi tìm kiếm. Vô tâm, đối cảnh, hỏi chi THIỀN” (Cư trần lạc đao của Trần Nhân Tông, trích dẫn bởi Hoàng Kim, xem tiếp Thầy bạn là lộc xuân; xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/soi-sang-lai-chinh-minhhttps://hoangkimlong.wordpress.com/category/trang-ram-ngoc-quan-am


ĐÁ VÀNG VỚI BAN MAI

TRĂNG RẰM NGỌC QUAN ÂM

Chẳng thể nào ngủ được đêm nay
Đêm Vu Lan mờ tỏ
Trăng rằm khuya lồng lộng giữa trời
Thăm thẳm một lời Người nói …

Mẹ cũ như ngôi nhà cũ
Chiếc áo mẹ mang bạc phếch tháng năm
Cha cũ như con thuyền cũ
Dòng sông quê hương thao thiết đời con


Anh chị cũ tình vẹn nghĩa
Trọn đời thương nhau lồng lộng trăng rằm
Em tôi hồn quê dáng cũ
Con cháu niềm vui thương thảo tháng năm.


Thầy bạn lộc xuân đầy đặn
Bài ca thời gian ngời ngợi trăng rằm.


Thắp đèn lên đi em
Đêm Vu Lan gặp bạn
Thương nhớ bài thơ cũ
Chuyện đời không nỡ quên …

Ngày mới và đêm Vu Lan
Vầng trăng Sao Hôm Sao Kim thân thiết.
Loanh quanh tìm tòi cái mới
Đêm Vu Lan thức về lại chính mình.

Trăng sáng lung linh, trăng sáng quá!
Đất trời lồng lộng một màu trăng
Dẫu đêm khuya vắng Người quên ngắm
Trăng vẫn là trăng, trăng vẫn rằm.

ĐI ĐƯỜNG
Hồ Chí Minh
“Đi đường mới biết gian lao,
Núi cao rồi lại núi cao trập trùng;
Núi cao lên đến tận cùng,
Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non”
.

xem tiếp Học với chữ Hán Nôm các mẫu chuyện văn hóa tại chuyên mục Tiếng Việt lung linh sáng https://hoangkimlong.wordpress.com/2022/02/20/tieng-viet-lung-linh-sang/ tích hơp Hán Nôm Hội Quán

Trần Thanh Liêm Người đóng góp nổi bật  · dpnotsSero14ah9g9ch6ahhf atail2mt154pc08ft142l5imú989a760m0u  ·

SƯU TẦM BÀI VIẾT HAY :

高山仰止
景行行止
(詩經)

CAO SƠN NGƯỠNG CHỈ
CẢNH HÀNH HÀNH CHỈ

(Thi kinh)

DỊCH NGHĨA :

​Núi cao để ngưỡng trông, đường lớn để bước đi.
GIẢI NGHĨA :

Đức hạnh cao thượng như núi cao, khiến người đời phải ngước nhìn và kính trọng
​Hành vi trong sáng, chính trực như con đường lớn thênh thang, là khuôn mẫu để người khác noi theo mà bước đi.
​Câu này được dùng để tán dương và biểu lộ lòng ngưỡng mộ đối với các bậc thánh hiền, anh hùng, hoặc những người có công đức lớn, phẩm chất đáng kính.
(Câu này được viết tại cổng đền thờ các vị Vua Hùng tại Phú Thọ)

#htn365 BÌNH MINH AN TRUNG ANH
#hga365 @hoangkimvn https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana

#htn365 ChineseRd YCT1B7 Ôn Luyện Viết Bài 7 https://youtu.be/0bsJf9zOpSo
#htn365 ChineseRd YCT1B6 Ôn Luyện Viết Bài 6 ​​https://youtu.be/9upRnNMH-NY
#htn365 ChineseRd YCT1B5 Ôn Luyện Viết Bài 5 ​​https://youtu.be/6tY9-lrkwj8
#htn365 ChineseRd YCT1B4 Ôn Luyện Viết Bài 4 https://youtu.be/V815Fn3eLRg
#htn365 ChineseRd YCT1B3 Ôn Luyện Viết Bài 3 https://youtu.be/tLqgc2tm15M
#htn365 ChineseRd YCT1B2 Ôn Luyện Viết Bài 2 https://youtu.be/oz0eI3MibcE
#htn365 ChineseRd YCT1B1 Ôn Luyện Viết Bài 1 https://youtu.be/92fHc_bCmIY

TÔ ĐÔNG PHA TÂY HỒ

Tô Nguyễn đêm vui thú bạn hiền
Lúa sắn ngày chăm lo lớp trẻ
Thầy chiến sĩ trầm tích sử ký
Bạn nhà nông đúc kết tinh hoa.


TẬP DỊCH THƠ HÁN CỔ : TÔ ĐÔNG PHA TÂY HỒ Nuôi con ai chẳng muốn thông minh Ai ngỡ thông minh mãi hại mình Chi muốn con ta vô tư mãi #Thungdung làm người tốt #annhiên Hoàng Kim @hoangkimvn https://hoangkimvn.wordpress.com/

Chào ngày mới 13 tháng 7
CẢM ƠN ĐỜI CÓ PHƯỚC
Người có phước không phải ai cũng biết và biết trân trọng
. Nam Mô A Di Đà Phật Cảm nhận Lời Vàng. https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-13-thang-7/https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-13-thang-7/;

#cnm365 #cltvn 13 tháng 7 Mừng ngày đức Quán Thế Âm Bồ Tát thành đạo 29 6 âm lịch https://thanhnien.vn/ngay-via-bo-tat-quan-the-am-thanh-dao-196-am-lich-tu-bi-hy-xa-la-gi-185250713075414839.htm & https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-12-thang-7/ & https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-12-thang-7/ #ana I DẠY VÀ HỌC

TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM
#htn, #hoangkimlong, #BanMai #vietnamxahoihoc, #htn365,#ana, #dayvahoc, #vietnamhoc, #cnm365#cltvn #Vietcassava

“Quá cảnh trần gian mượn áo Người
Mặc vào ngộ nhận áo là Tôi” …

THUNG DUNG ĐỜI QUÊN TUỔI

Sống giữa thiên nhiên vẹn kiếp Người
Đời tâm thành ý thánh an Tôi
Chính trung hiếu thiện lành phước hậu
Giấc mơ hiền bước tới thảnh thơi

AN VIÊN NGỌC PHƯƠNG NAM

Tỉnh thức càn khôn chốn đại ngàn
Ngọc lành vàng đá giữa lầm than
Hoàng Thành trọn vẹn tinh hoa tốt
Trúc Lâm gìn giữ lửa hương tàn
Vận chuyển thời cơ lưu vẹn kiếp
Mệnh nung tâm huyết chí bền gan
Nhờ ai lem luốc tròn duyên nghiệp
Đất cảm trời thương thấu kẻ hàn.

Hoàng Kim

tích hợp đối họa Bán than Trần Khánh Dư & Pháp Thiện Duyên Lành Phật Pháp tại #cnm365#cltvn 12 tháng 7 Chào ngày mới 12 tháng 7

BÁN THAN
Trần Khánh Dư

Một gánh kiền khôn quẩy tếch ngàn
Hỏi chi bán đó, dạ rằng than
Ít nhiều miễn được đồng tiền tốt,
Hơn thiệt nài bao gốc củi tàn
Ở với lửa hương cho vẹn kiếp
Thử xem sắt đá có bền gan
Nghĩ mình lem luốc toan nghề khác
Nhưng sợ trời kia lắm kẻ hàn.

Pháp Thiện cùng với Duyên Lành Phật Pháp.

Spnoedtosr41m906183m1c6u4a2tcm0 1a500la083 c6:84 fôllH7ql6ú2 ·

🙏

Chánh Kinh;

🌿 Tại Sàvatthi.

✓ Rồi Thiên tử Màgha, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Màgha nói với Thế Tôn bài kệ:

Sát vật gì được lạc?
Sát vật gì không sầu?
Có một pháp loại gì,
Ngài tán đồng sát hại,
Tôn giả Gotama?

(Đức Thế Tôn)

Sát phẫn nộ được lạc,
Sát phẫn nộ không sầu,
Phẫn nộ với độc căn,
Với vị ngọt tối thượng.
Pháp ấy bậc Thánh Hiền,
Tán đồng sự sát hại.
Sát pháp ấy không sầu,
Này Hiền giả Thiên nhân.

III. Màgha (S.i,47) (Tạp 49.16 Ma-khứu, Ðại 2,360c) (Biệt Tạp 15.11, Ðại 2,478c)
Trích Tương Ưng Bộ Kinh
Samyutta Nikaya
HT. Minh Châu dịch Việt
Tập I – Thiên Có Kệ
[02] Chương II
Tương Ưng Thiên Tử
-ooOoo-

Source;
https://www.budsas.org/uni/u-kinh-tuongungbo/tu1-02.htm
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật nguồn Duyên Lành Phật Pháp

#ana

#hgb 110 Hoàng Gia Bình Tiếng Anh 110 https://youtu.be/Bi2Bb4hBK3M

BÌNH MINH AN NGÀY MỚI

Một gia đình yêu thương
Trường học hướng ban mai
Sống #Annhiên #Thungdung
Bồ Đề Nôi Hạnh Phúc

Đường xuân đời quên tuổi
Tỉnh thức cùng tháng năm.

Ngọc Long ChineseRd cnm365

Ngọc Long ChineseRd cnm365 14 Chuẩn YCT 1 https://youtu.be/HlaCJgEHKK8
Ngọc Long ChineseRd cnm365 13 ÔN TẬP HSK https://youtu.be/AljzKWvchtg
Ngọc Long ChineseRd cnm365 12 HSK1 B11- 20 https://youtu.be/HCTs9GsriQU
Ngọc Long ChineseRd cnm365 11
HSK1 B 1 10 https://youtu.be/wXcqCQtLIU4

BÌNH MINH AN TRUNG ANH

Chào ngày mới 19 tháng 5

Ngày 19 tháng 5 năm 1890 là ngày sinh của Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (mất năm 1969); Ngày 19 tháng 5 năm 1941 Một hội nghị của Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh, theo đề xuất của Hồ Chí Minh; Ngày 19 tháng 5 năm 1959 Thành lập đơn vị vận tải quân sự chiến lược trên tuyến Đường mòn Hồ Chí Minh.

Bài chọn lọc ngày 19 tháng 5: Minh triết Hồ Chí Minh; Thầy dẫn đường của tôi; Con đường xanh yêu thương; Ngọc Phương Nam ngày mới; Một nếp nhà văn hóa, Một gia đình yêu thương; Một niềm vui ngày mới; Suy ngẫm từ núi Xanh; A Na bà chúa Ngọc; Tím một trời yêu thương; Thế sự bàn cờ vây; Học không bao giờ muộn; Pho tượng Ngọc Quan Âm; Trời mưa trong mắt ai; Chuyện ngậm ngãi tìm trầm; Nơi một trời thương nhớ; Ngọc Phương Nam ngày mới; Giống khoai lang Việt Nam; Giống khoai lang HL518; Giống khoai lang HL491; Giống khoai Hoàng Long;Thông tin tại https://hoangkimvn.wordpress.com/http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-19-thang-5/;

MinhtrietHoChiMinh

MINH TRIẾT HỒ CHÍ MINH
Hoàng Kim

Tôi viết minh triết Hồ Chí Minh theo chính kiến và nhận thức của riêng mình. 19 tháng 5 là ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng là ngày thành lập Việt Minh, ngày khai sinh đường Hồ Chí Minh trong lịch sử. Chuỗi ba sự kiện lớn này đóng mốc son ngày 19 tháng 5 vào lịch sử Việt Nam và Thế giới đối với nền độc lập của nước Việt Nam ngày nay và sự nghiệp thống nhất Tổ quốc Việt Nam. Bác Hồ trọn đời minh triết. Bài viết này chỉ đề cập ba ý: Việt Nam Hồ Chí Minh là biểu tượng Việt; Bác Hồ nói đi đôi với làm, có lý có tình, mẫu mực đạo đức; Bác Hồ thực tiễn, quyền biến, năng động, rất ít trích dẫn. Tôi bổ sung hai sử liệu chọn lọc: Thư gửi Nguyễn Ái Quốc của Phan Châu Trình (bàn về phương pháp “ngọa ngoại chiêu hiền, đãi thời đột nội” (ngồi ở nước ngoài kêu gọi người tài giỏi, đợi thời để xông vào trong nước) với thông tin nhiều năm chiêm nghiệm Bước ngoặt lịch sử chiến tranh Đông Dương, sự thấu hiểu vì sao không có được giải pháp hợp tác khác hơn sự thật lịch sử đã xảy ra giữa Hồ Chí Minh với Bảo Đại, Trần Trọng Kim, Ngô Đình Diêm, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Trường Tam khi hình thành nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của nước Việt Nam mới

1. Việt Nam Hồ Chí Minh là biểu tượng Việt 

Bác Hồ là biểu tượng của thế giới người hiền, là tinh hoa văn hóa Việt gốc và văn hóa tương lai. 

Giáo sư Trần Văn Giàu trong bài viết Nhân cách lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luận về bảy phẩm chất nhân cách mà cũng là minh triết của Bác Hồ được con dân nước Việt và thế giới ngợi ca. Đó là : Ưu tiên đạo đức, Tận tụy quên mình, Kiên trì bất khuất, Khiêm tốn giản dị, Hài hòa kết hợp, Thương, quý người, nâng đỡ con người, thấu tình đạt lý, Yêu thiên nhiên, hòa hợp với thiên nhiên. Giáo sư Trần Văn Giàu kết luận: “Xin mượn ý của một nhà báo ở châu Đại Dương để tạm kết chủ đề luận về nhân cách Hồ Chủ tịch: Người ta không thể trở thành một Cụ Hồ Chí Minh, nhưng ở Cụ Hồ, mỗi người có thể học một số điều làm cho mình trở thành tốt hơn”. 

Bác sĩ Vũ Đình Tụng đã kể câu chuyện Bức thư huyết lệ trong hàng vạn chuyện đời thường về Bác Hồ, xin được trích nguyên văn. 

” 8 giờ đêm – một đêm tháng Chạp năm 1946 – bác sĩ Vũ Đình Tụng phải mổ một trường hợp chiến thương quá đặc biệt và rất đau lòng: một chiến sĩ “sao vuông” rất trẻ, tuy vết thương nặng, đạn xé tung cả một khúc ruột mà miệng vẫn mỉm cười, cái nụ cười quá quen thuộc và thân thương đối với bác sĩ. Anh tự vệ Thủ đô ấy, người chiến sĩ gan góc ấy lại chính là Vũ Văn Thành, con trai út của bác sĩ. 

Suốt ngày hôm ấy, tôi đã phải mổ cưa gắp đạn và khâu vết thương cho hàng chục chiến sĩ nhưng đến trường hợp con tôi, thần kinh tôi căng lên một cách kinh khủng. Mấy người giúp việc khuyên tôi nên nghỉ tay, nhưng tôi vẫn cố kìm mình để giữ bình tĩnh gắp mảnh đạn cuối cùng trong thân thể người con. Xong việc, tôi loạng choạng rời khỏi bàn mổ. 

Các bác sĩ và những người giúp việc đã cố gắng nhiều, nhưng vết thương do quân thù gây ra quá nặng đã cướp đi mất Thành, con trai của tôi, anh của Thành là Vũ Đình Tín, tự vệ chiến đấu cũng vừa bị mất sau ngày Tổng khởi nghĩa, tôi đau đớn đến bàng hoàng. 

Một buổi chiều trời rét lắm, sau đêm Nôen cuối cùng ở bệnh viện Bạch Mai, bị bom đạn tàn phá, vào lúc tôi mổ xong một ca thương binh nhẹ thì bác sĩ Trần Duy Hưng, lúc bấy giờ giữ chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ trân trọng trao cho tôi một bức thiếp của Hồ Chủ tịch. Tôi cảm động quá. Mới đầu tôi cứ ngỡ là một mệnh lệnh mới của Người. Nhưng thật không ngờ, đó lại là một bức thư riêng đầy tình cảm lớn lao của Bác chia đau thương với gia đình tôi. Khi đó, Bác gọi tôi là “Ngài”. 

“Thưa Ngài,
Tôi được báo cáo rằng: con giai Ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc. 

Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột. 

Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước – Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi, tinh thần họ luôn luôn sống với non sông Việt Nam. 

Họ là con thảo của Đức Chúa, họ đã thực hiện cái khẩu hiệu: Thượng đế và Tổ quốc. Những thanh niên đó là anh hùng dân tộc. Đồng bào và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên ơn họ. 

Ngài đã đem món quà quý báu nhất là con của mình, sẵn sàng hiến cho Tổ quốc. Từ đây, chắc Ngài sẽ thêm ra sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà thì linh hồn cháu ở trên trời cũng bằng lòng và sung sướng. 

Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn Ngài, và gửi Ngài lời chào thân ái và quyết thắng.
Tháng 1-1947
Hồ Chí Minh” 

Đọc xong bức thư, tôi thấy bàng hoàng. Bác bận trăm công nghìn việc, thế mà Bác vẫn nghĩ đến tôi, một gia đình đang có cái tang đau lòng như hàng vạn gia đình khác. 

Tôi thấy nỗi đau thương và sự hy sinh của gia đình mình trở thành nhỏ bé trong cái tình thương mênh mông và sự hy sinh cao cả của Bác đối với cả dân tộc. Tôi nhủ mình sẽ phải làm tốt công việc để xứng đáng với sự hy sinh của các con và khỏi phụ lòng Bác. 

Sau đó, tôi theo Bác lên Việt Bắc – căn cứ thần thánh của cách mạng Việt Nam. Từ một người thầy thuốc của xã hội cũ, một giáo dân ngoan đạo, tôi đã trở thành một người thầy thuốc tốt, một Bộ trưởng Bộ Thương binh xã hội của nước Việt Nam mới. 

Vũ Đình Tụng kể, Lê Thân ghi, theo báo Nghệ An, tháng 9-1994 

Tổ chức UNESCO tại kỳ họp Đại hội đồng lần thứ 24 ở Paris năm 1987 đã tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa“ do các đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Người trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, nghệ thuật, và Người đã dành cả cuộc đời mình cho sự giải phóng nhân dân Việt Nam, đóng góp cho cuộc đấu tranh chung vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của các dân tộc. 

19 tháng 5 là ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là ngày thành lập Việt Minh và khai sinh đường Hồ Chí Minh trong lịch sử. Hành trình đến tự do hạnh phúc của dân tộc Việt đã trãi qua giành độc lập dân tộc và đấu tranh thống nhất Tổ quốc trong cuộc trường chinh thế kỷ . Minh triết của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp đấu trang giải phóng dân tộc và thống nhất Tổ quốc quy non sông vào một mối. Những việc khác Bác có Di chúc để lại cho đời sau. Công lao và những biến đổi phần sau không thể và không nên quy hết về Người. Có một số uẩn khúc đời người cần có đủ tư liệu mới đánh giá đầy đủ. 

Bác Hồ có bài thơ “Chơi chữ” rất lạ vào những ngày đầu khởi lập nước Việt Nam mới.Đó t là một kỳ thư, kinh Dịch độc đáo, một luận giải sứ mệnh và tự đánh giá của Bác:

Chơi chữ 
Hồ Chí Minh 
(Bản dịch của Nam Trân): 

Người thoát khỏi tù ra dựng nước,
Qua cơn hoạn nạn, rõ lòng ngay;
Người biết lo âu, ưu điểm lớn,
Nhà lao mở cửa, ắt rồng bay! 

Nguyên tác:
Tù nhân xuất khứ hoặc vi quốc,
Hoạn quá đầu thì thuỷ kiến trung;
Nhân hữu ưu sầu ưu điểm đại,
Lung khai trúc sản, xuất chân long. 

折字
Chiết tự
Chơi chữ
囚人出去或為國
患過頭時始見 忠
人有憂愁優點大
籠開竹閂出真龍 

Chiết tự là một hình thức phân tích chữ Hán ra từng bộ phận để thành những chữ mới, có ý nghĩa khác với ý nghĩa ban đầu. Theo lối chiết tự, bài thơ này còn có nghĩa đen như sau: chữ tù (囚) bỏ chữ nhân (人), cho chữ hoặc (或) vào, thành chữ quốc (國). Chữ hoạn (患) bớt phần trên đi thành chữ trung (忠). Thêm bộ nhân (人) đứng vào chữ ưu (憂) trong “ưu sầu” thành chữ ưu (優) trong “ưu điểm”. Chữ lung (籠) bỏ bộ trúc đầu (竹) thành chữ long (龍). 

2. Bác Hồ nói đi đôi với làm, có lý có tình, mẫu mực đạo đức 

Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng chuyên nghiệp, mẫu mực về đạo đức cách mạng, là tấm gương sáng về tự học suốt đời. Người nói: “Học ở đâu? Học ở trường, học trong sách vở, học lẫn nhau và học ở dân“. Người luôn nói và làm đi đôi., học không biết mỏi, dạy không biết chán. 

Bác viết: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo của Jêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Jêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có ưu điểm chung đó sao? Họ đều mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu hạnh phúc cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, tôi tin rằng họ nhất định sống chung với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm một người học trò nhỏ của các vị ấy..” Trích “Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo và tín ngưỡng”, NXB Khoa học xã hội, H.1996, trang 152. (Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng). 

Nói và làm của Hồ Chí Minh điều gì cũng minh triết và thiết thực. Từ bài “Tâm địa thực dân” viết ở Pháp năm 1919 đến “Tuyên ngôn độc lập” năm 1945. Từ “Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” năm 1945 đến “Lời kêu gọi sau khi hội nghị Giơnevơ thành công” năm 1954. Từ “Lời phát biểu trong buổi đón tiếp Ủy ban Quốc tế” năm 1954 sau cuộc chiến tranh Đông Dương tàn khốc và dai dẳng 8,9 năm đến “Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh” công bố năm 1969 lúc cuộc chiến tranh Việt Nam đang ở giai đoạn dữ dội và ác liệt nhất. Việc làm nào, lời nói nào của Bác Hồ đều là nói đi đôi với làm, là khuôn vàng thước ngọc của đạo đức cách mạng “cần, liêm, chính, chí công vô tư“. Trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất Tổ Quốc, tự do và hạnh phúc của dân. Người viết: “Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng nếu nước được độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” Tư tưởng xuyên suốt của Người là “Việc gì lợi cho dân , ta phải hết sức làm. Việc gì hại cho dân ta phải hết sức tránh” “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi” “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công” 

Hồ Chí Minh có nhiều bài chuyên bàn về đạo đức và đạo đức cách mạng. Đó là các bài “Đạo đức công dân” (1-1955), Đạo đức cách mạng (6-1955; 12-1958), “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (2-1969). Người chủ trương phát triển văn hóa gắn liền với đời sống mới, kêu gọi thực hành đời sống mới trong mọi lĩnh vực, mọi tầng lớp và trong từng con người. Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: ” Đời sống mới không phải là cái gì cũ cũng bỏ hết không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ. Cái gì cũ mà không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý…; Cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm …; Cái gì mới mà hay thì ta phải làm” 

3. Bác Hồ thực tiễn, quyền biến, năng động, rất ít trích dẫn  

Ông Trường Chinh nói với ông Hà Đăng khi chiêm nghiệm về phong cách văn chương của chủ tịch Hồ Chí Minh: Bác Hồ rất ít trích dẫn. Lúc đầu tôi cũng cho là ngẫu nhiên. Về sau, hỏi trực tiếp, Bác nói: Mác, Ang ghen, Lê Nin nói rất đúng. Nhưng hoàn cảnh Mác, Ang ghen, Lê Nin hoàn toàn khác hoàn cảnh của chúng ta. Vậy nên muốn nói gì, trước hết phải hiểu cho thật rõ điều mà các vị ấy muốn nói, nói cho phù hợp với hoàn cảnh của mình, cho dân mình dễ hiểu. Do đó, Bác viết bằng sự suy nghĩ của mình. Bác rất ít trích dẫn”. (Hà Đăng 2002. Trường Chinh, người anh cả trong làng báo. Trong sách: Trường Chinh, một nhân cách lớn, một nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam. Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, trang 320). Ông Trường Chinh là một trong những người làm việc lâu nhất, thường xuyên nhất với Bác. Những chắt lọc và nhận xét trên đây chắc chắn là điều cần cho chúng ta suy ngẫm. 

“Bác viết bằng sự suy nghĩ của mình. Bác rất ít trích dẫn” đó là phong cách văn chương của Hồ Chí Minh. Những người thông hiểu lịch sử, văn hóa, hiểu sâu các điển cố văn chương, chuyện hay tích cổ sẽ có thể chỉ ra vô số những điều trùng khớp của những lời hay ý đẹp từ xa xưa đã được Bác vận dụng một cách hợp lý hợp tình trong thời đại mới. Bác là người chú trọng ngôn ngữ giản dị, ngắn gọn, dễ hiểu, có tính thuyết phục cao, có nhịp điệu. Một thí dụ nhỏ như câu: “Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào/ Học tập tốt, lao động tốt/ Đoàn kết tốt, kỹ luật tốt/ Giữ gìn vệ sinh thật tốt/ Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm” là câu sáu chữ có nhịp điệu như câu thơ cổ.   

Bác Hồ nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Suốt đời Bác làm hai việc chính là kiến tạo Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) thành một mặt trận rộng rãi “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công thành công, đại thành công” thực hiện “kế sách một chữ đồng” giành độc lập dân tộc và mở đường thống nhất Việt Nam. 

Bác Hồ thật đúng là: “Bình sinh đầu ngẩng tới trời xanh. Khuất núi hồn THƠM quyện đất lành. Anh hùng HỒ dễ nên nghiệp ấy. Tâm hồn bình dị CHÍ anh MINH”.

Một số vĩ nhân còn lầm lẫn và khuyết điểm vào một thời điểm nào đó trong đời, riêng Bác Hồ thì chưa tìm thấy. Tôi cố gắng làm một người học trò nhỏ của Bác, học sự minh triết “dĩ công vi thượng”, tâm đức, quyền biến, năng động. Học làm người phúc hậu, thực việc, nói đi đôi với làm, chắt lọc tinh hoa lý luận và thực tiễn để vận dụng linh hoạt, sáng tạo, và thích hợp vào đời sống của mình.

Hồ Chí Minh trọn đời minh triết.

Hoàng Kim

(*) Bài viết Minh triết Hồ Chí Minh  nhân kỷ niệm 132 năm (1890 – 2022) ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh

NHỮNG NGƯỜI THẦY DẪN ĐƯỜNG

Trường học hướng ban mai
Việt Nam con đường xanh
Giấc mơ lành yêu thương
Kiến tạo bản sắc NLU *

Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Lời Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong “Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, ngày 15-9-1945.

Bản đồ địa hình Việt Nam. Được tạo với GMT từ dữ liệu GLOBE được phát hành công khai Topographic map of Vietnam. Created with GMT from publicly released GLOBE data


VIỆT NAM TỔ QUỐC TÔI

Việt Nam
một điểm sáng
trên bản đồ thế giới
Người Việt
Tiếng Việt
Nông nghiệp Việt
Văn hiến Việt
Hồn Việt
Việt Nam tổ quốc tôi

ĐƯỜNG XUÂN THEO CHÂN BÁC

Con nguyện làm Hoa Lúa
Thầy nghề nông chiến sĩ
Đường xuân theo chân Bác
Giấc mơ lành yêu thương

Nông nghiệp Việt trăm năm
Hành trình Nông nghiệp Việt
Kỷ Nguyên Giải Phóng 1945 1975
Kỷ Nguyên Đổi Mới 1975 2025 **

Chính Trung Hiếu Thiện Lành
Tỉnh thức cùng tháng năm
Một gia đình yêu thương
Soi sáng lại chính mình

#cnm365 Tình Yêu Cuộc Sống
DẠY VÀ HỌC #cltvn #Vietnamhọc
Thầy bạn là lộc xuân
Bảo tồn và phát triển

Bồ Đề Nôi Hạnh Phúc
#Annhiên #Thungdung
Bảy bài học cuộc sống
Bài học lớn muôn đời

MINH TRIẾT SỐNG PHÚC HẬU

Phúc hậu thói nhà in một nếp
Chân chính bao nhiêu phúc bấy nhiêu
*


Thành tâm với chính mình
Lời vàng giữ sức khỏe
Biết mình và biết người

Đường xuân đời quên tuổi

Minh triết Hồ Chí Minh
Việt Nam con đường xanh
Nguyễn Du trăng huyền thoại
An vui cụ Trạng Trình

Thái Tông và Hưng Đạo
Trần Thánh Tông minh quân

Trúc Lâm Trần Nhân Tông
Trần Quang Khải thơ thần


Bác học Phan Huy Chú
Lê Quý Đôn tinh hoa
Kim Dung trong ngày mới
Miên Thẩm thầy thơ Việt

Tô Đông Pha Tây Hồ
Nhân Huệ Vương vẹn kiếp
Đặng Dung thơ Cảm hoài

Thơ dâng theo dấu Tagore
Thơ Pushkin bình minh Nga
Lý Bạch thơ trăng sáng
Đỗ Phủ thơ mưa lành

Hữu Ngọc văn hóa Việt
Hoàng Gia Cương thơ hiền
Cụ Đỗ rộng đường xuân
Hồ Long Vân Nhớ Người

TRƯỜNG TÔI NÔI YÊU THƯƠNG

Thầy bạn là lộc xuân
Em ơi can đảm lên
Hoàng Ngọc Dộ khát vọng
Lời Thầy luôn theo em

Nhớ thầy Tôn Thất Trình
Sóc Trăng Lương Định Của
Thầy Quyền thâm canh lúa

Thầy Vũ trong lòng tôi

Thầy Tuấn kinh tế hộ
Thầy Norman Borlaug
Thiền Sư Lão Nông Tăng
Thầy lúa Bùi Bá Bổng


Thầy nghề nông chiến sĩ
Lúa siêu xanh Việt Nam
Ngô Việt Nam ngày nay
Tiến bộ giống sắn Việt Nam
Giống khoai lang Việt Nam


Nông nghiệp Việt trăm năm
Chương mục tiêu quốc gia
Nông nghiệp sinh thái Việt
Nông nghiệp công nghệ cao


Việt Nam sáng tạo KHCN
Phát triển nông thôn mới
Vườn Quốc gia Việt Nam

Trường tôi nay và xưa

TRƯỜNG HỌC HƯỚNG BAN MAI

Theo chân người dẫn đường
Chuyển đổi số nông nghiệp
Thiên nhiên với con người

Soi sáng lại chính mình

Thầy Hiếu Đêm Giáng Sinh
Thầy Dương Thanh Liêm
Thầy Xuân canh tác lúa
Phạm Văn Bên Cỏ May

Thầy bạn là lộc xuân
Một niềm tin thắp lửa
Đi dưới trời minh triết

Xanh một trời hi vọng

Vui đi dưới mặt trời

(*) NÔNG NGHIỆP VIỆT TRĂM NĂM Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, thầy Trần Đình Lý đề nghị tôi viết bài ” Những người dẫn đường”. Ngày Quốc Tế Lao Động, Hoàng Kim xin phép thầy Lý giới hạn ‘có lý có tình’ cho riêng mình “Những người Thầy dẫn đường” bằng thơ vui yêu thích, với mỗi câu là một đường dẫn tỉnh thức, cảm nhận tâm đắc cá nhân. Hình ảnh và bài viết là tâm trạng người đã hưu trí vui Trà sớm với Lão Nông, xin vui lòng lượng thứ. Thầy bạn có hứng thú xin mời đọc thêm ghi chú tại các đường dẫn. Hoàng Kim @ nêu bật (Nguyên Thủy Kim Long Ngọc) https://youtu.be/SK61QIncOkk & https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nhung-nguoi-thay-dan-duong

(**) Việt Nam Kỷ Nguyên Mới Hành trình nông nghiệp Việt từ 8/5/1946 đến nay được chia thành ba phân kỳ: 1) Kỷ nguyên Giải Phóng 1945- 1975, 2) Kỷ Nguyên Đổi Mới 1975-2025; 3) Việt Nam Kỹ Nguyên Mới (2025 – ngày mới) theo TS Lê Hưng Quốc Báo Nông nghiệp Việt Nam, tương thích Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm trong Lễ kỷ niệm 50 năm đất nước thống nhất https://youtu.be/SK61QIncOkk

(***) Bài viết Những người Thầy dẫn đường nhân kỷ niệm 135 năm (1890 – 2025) ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. TRƯỜNG HỌC HƯỚNG BAN MAI Nông Nghiệp Việt Trăm Năm (1925-2025). Hành trình nông nghiệp Việt trải ba phân kỳ : 1)Từ ngày thành lập Viện Khảo Cứu Đông Dương/ Viện Khảo Cứu Sài Gòn 1925 đến năm 1975 (Kỹ Nguyên Khai Phóng, có Kỷ Nguyên Giải Phóng 1945-1975, khi Chủ Tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945, khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, đến ngày 8/5/1946 ký sắc lệnh số 62 thành lập Nha Nông Chính trực thuôc Bộ Canh Nông ở miền Bắc, là tiền thân của các ngành chủ lực Nông Lâm … ngày nay; Ở miền Nam Việt Nam Bô Cải Cách Điền Địa Việt Nam Cộng Hòa thành lập Trường, Khoa Canh Nông ngày 19/5/1955, là tiền thân của Trường Đại Học Nông Lâm TP HCM); 2) Từ 30/4/1975 đến 30/4/ 2025 là Kỷ Nguyên Đổi Mới; 3) Từ 1/5/2025 đến nay là Việt Nam Kỷ Nguyên Mới Nông Nghiệp Gắn Kết Tài Nguyên Môi Trường thành chuỗi giá trị sản phẩm OCOP các ngành hàng kinh tế văn hóa xã hôi ngôn ngữ du lịch Việt . KIẾN TẠO BẢN SẮC NÔNG LÂM vừa là mục tiêu vừa là đông lực chủ đạo để bảo tồn và phát triển thích hợp bền vững. Chúc Mừng Trường NLU Thật Tuyệt Vời truyền thống rất vẻ vang, thành tựu đáng tự hào, giải pháp thật nền tảng. Trường Học Hướng Ban Mai

Việt Nam 34 tỉnh thành 2025 I TTXVN

Hoàng Gia An Ngày Mới
ANA TÌM ĐƯỢC NGỌC

Mẹ Cùng Con Ngày Lễ
Chơi Dạy Học Với Na
Kiến Tha Lâu Đầy Tổ
Hạt Gạo Ngọc Nhà Ta

https://youtu.be/IEqSQVloF10

TÂM AN NGAY LÚC NÀY
Bài pháp an tâm rất quan trọng https://youtu.be/msFiVuO_O-Y #tâmbồđề Tâm Từ Bi Chánh Niệm Dạy Và Học Mỗi Ngày https//hoangkimvn.wordpress.com/category/ana

HOÀNG GIA AN TIẾNG ANH

#hga 208 Hoàng Gia An Tiếng Anh 208 https://youtu.be/zQIuXq4i-bY

TÂM AN NGAY LÚC NÀY
Bài pháp an tâm rất quan trọng https://youtu.be/msFiVuO_O-Y #tâmbồđề Tâm Từ Bi Chánh Niệm Dạy Và Học Mỗi Ngày https//hoangkimvn.wordpress.com/category/ana

#phậtdượcsư #tretrúclâm

Nhạc thiền tịnh tâm cho buổi sáng an lành & 9 phút mỗi sáng nạp tràn đầy năng lượng & Yêu thích sự bình an & Bí quyết sống thanh thản & 5 kiểu người càng sống càng có phước & 5 cách giao tiếp kỳ diệu với vũ trụ & 7 Dấu Hiệu Cho Thấy Bạn Không Phải Là NGƯỜI THƯỜNG & 8 KIẾP NẠN Bạn Đã VƯỢT QUA Mà Không Biết 🙏 Dấu Hiệu Phước Báo Sắp Đến & 8 dấu hiệu tâm linh mạnh mẽ & 5 Dấu Hiệu Bạn Là Hậu Duệ Của Bồ Tát | Mang Căn Tu Từ Kiếp Trước Mà Không Biết & 9 DẤU HIỆU Bạn Có TRÍ TUỆ PHẬT ĐÀ Mà Không Nhận Ra | Thông Minh Khác Biệt Theo Lời Phật Dạy; Con xứng đáng với sự bình yên trong tâm mình . Tâm An Chia sẻ https://youtu.be/klxG-FEBk5c

TÂM BỒ ĐỀ TU TÂP

#phậtdượcsư #tretrúclâm
Thấm Nhân Tình Thế Thái
Tâm Bồ Đề Tu Tập
An Trú Nội Tâm Mình

Khi có sự phỉ báng, nói xấu, sỉ nhục .. mà chúng ta nghe được, tuyệt đối không trách móc người. Lập tức phải phản tỉnh lại bản thân là mình có đúng như lời người ta nói hay không? Nếu như thực sự đúng như lời họ nói thì phải cải đổi, họ nhắc nhở ta, họ giáo huấn ta ở chỗ này, ta lập tức sửa sai lầm.

Ta phải cảm ơn họ, nhờ có họ ta mới nhìn lại lỗi ở bản thân. Biết được lỗi lầm của chính mình là giác ngộ, sửa được lỗi lầm của chính mình là tu hành.

Nếu như lời họ nói là vu oan cho ta, bản thân ta không có lỗi gì ta cũng phải cám ơn họ, vì họ đến tiêu Nghiệp chướng thay cho ta. Người mà vô duyên vô cớ bị người ta mắng, bị huy báng, bị sỉ nhục…về sau thường thường có đại Phước báo.

Nhẫn nhục là nền tảng của tâm thanh tịnh, giác ngộ rồi thì không có tham sân si, khi mê thì vẫn còn tham sân si.

Nếu như chúng ta khởi tâm oán hận thì Phước báo đó không còn. Sau này làm gì có Phước báo, điều này được ghi chép rất nhiều trong lịch sử, là thật không phải giả.

Cho dù chính bản thân mình không có thịnh vượng, thì con cháu sẽ thịnh vượng. Cho nên chúng ta phải tu nhẫn, chấp nhận bị vu oan, chấp nhận bị hiểu lầm, tuy không dễ với người phàm nhưng với người tu muốn đạt cảnh giới trên cao thì phải tu nhẫn nhục trước tiên.

Sau này Phước đó rất là lớn. Nhưng quan trọng tâm của chúng ta không được oán hận, dù là một chút mảy may thôi cũng không được khởi lên. Nếu khởi lên sân hận thì ngay lập tức công đức và phước đức đều bị tiêu tan do cái tâm sân hận mà ra. Vì sao nói có cả công đức trong đó, vì trong hoàn cảnh nghịch cảnh đó, bạn tu dưỡng được Nhẫn nhục ba la mật, mà không khởi tâm sân hận thì công đức của bạn liền có.

Nam Mô A Di Đà Phật

https://youtu.be/n70FAAvsAM4 Trà sớm với Lão Nông Chào ngày mới 2 tháng 5 https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-2-thang-5/ & #cnm365 https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana

THỦY KIM LỜI GHI NHỚ https://youtu.be/BLCX3-bgGMI #cnm365 #cltvn 10 tháng 4 (năm Nhâm Dần 2022 là ngày 10 tháng 4 dương lịch. DI HUẤN LƯU GIA PHẢ #hoanggia #ngocphuongnam #phậtdượcsư, #hgb; hgb365; Hoàng Gia Bình ngày mới, #hgm Hoàng Gia Minh Tiếng Anh; Hoàng Gia An ngày Mới, #hga; #ana https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana #htn #ngoclong lưu ngày 10 tháng 4 năm 2022 mỗi năm đọc lại, bổ sung (năm nhuận Quý Mẹo 2023 ngày 10 tháng 3 âm lịch trùng ngày 29 tháng 4; năm Tân Tỵ 2025 ngày 13 tháng 3 ăm lịch là ngày 10 tháng 4);

AN VUI CỤ TRẠNG TRÌNH

Thảnh thơi chơi cùng cụ Trạng
Thanh nhàn cùng với tháng năm
Bà và cháu vui chuyện bé
Thầy thì thong thả nấu cơm …

Ngày mới trông thời đoán tiết
Xuân vui trước ngõ chưa tàn
Phải đợi Hạ về Thu tới
Mới hòng Đông đến Xuân sang

Mùa xuân lộc vừng thay lá
Cây đời mầm mới thêm xanh
Nắng sớm ấm dấn trước ngõ
Tiếng chim ríu rít đầy vườn

Ban mai vui cùng cụ Trạng
An nhàn vô sự là tiên (*) .

https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana/

@hoangkimvn nhắn Xuân Liêm đọc Xuân Ba trên Dân Việt và Làng Việt xưa và nay: Cụ Ông Lê Huy Ngọ” Rừng cũng nhiều, biển cũng nhiều, làm sớm chiều mà dân vẫn đói “GS Hà Huy Tấn” Nghĩ cho khá, hiểu cho khá, dẹp đấu đá Thanh Hóa sẽ giầu ”

AN VUI CỤ TRẠNG TRÌNH

Thảnh thơi chơi cùng cụ Trạng
Thanh nhàn cùng với tháng năm
Bà và cháu vui chuyện bé
Thầy thì thong thả nấu cơm …

Ngày mới trông thời đoán tiết
Xuân vui trước ngõ chưa tàn
Phải đợi Hạ về Thu tới
Mới hòng Đông đến Xuân sang

Mùa xuân lộc vừng thay lá
Cây đời mầm mới thêm xanh
Nắng sớm ấm dấn trước ngõ
Tiếng chim ríu rít đầy vườn

Ban mai vui cùng cụ Trạng
An nhàn vô sự là tiên (*) .


https://youtu.be/_SbQfvZP_Q0 An vui cụ Trạng Trình THANH MINH TIẾT THÁNG BA https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana

AN VUI CỤ TRẠNG TRÌNH

Ngày mai chẳng đợi ra sao nữa.
Dù có ra sao cũng chẳng sao.
Ký Tế xong rồi còn Vị Tế
Vàng đá bình minh cứ dãi dầu


@hoangkimvn trả lời bạn vừa ghé thăm “phước tại tâm điền,…”
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-15-thang-1/

SƯƠNG TAN THỜI NẮNG XUÂN

Em đừng e sương giá
Nắng lên là sương tan
Hãy làm cây thông đứng
#Thungdung trên đỉnh ngàn

Xưa chuyển mùa dậy sớm
Đêm lạnh nhớ Đào Công
Rằm Vu Lan thăm thẳm
Trăng Đông soi giữa lòng

Nay Bích Tỵ Hoàng Kim
Ngư Dương thời Ký Tế
Tiều Phu thương Tô Nguyễn
An vui cụ Trạng Trình

Trà Sớm Với Lão Nông
Đường xuân đời quên tuổi


https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-15-thang-1/
@nêu bật
Kim Hoàng & Nguyen Thanh Binh


Thungdung nhàn cõi phước
#Annhiên hưởng lộc trời
Lão Trang vui phong thủy
Bồ Đề dạo non tiên

Sớm mai ngắm mai nở
Ngày mới Ngọc cho đời
Chín điều lành hạnh phúc
An vui cụ Trạng Trình


Nhớ Cụ chín mươi thôi nấn ná
‘Bó củi, cần câu, trốn nước non’
Thương Bác tám hai đành bớt việc
Thế giới mắt ai thấm thía lòng


Hoàng Kim @ Thăm Suy niệm mỗi ngày tích hợp tại https://hoangkimlong.wordpress.com/category/an-vui-cu-trang-trinh &


(*) “Liên Mậu Kỷ Canh Tân
Can qua sinh sát biến”

“Bốc đắc Càn thuần quái
Sơ cửu thoái tiềm long
Ngã bát thế chi hậu
Can qua khởi trùng
trùng

BAN MAI CHÀO NGÀY MỚI

An vui cụ Trạng Trình
Những trang văn đọc lại
Qua sông tới Cát Tiên
Khi đàn sếu bay qua

Suy Niệm Mỗi Ngày

oestoSdprn01i4l7f g0fờia1053ihu2020i69i23i6315fg961gcutg2405  ·

CẢNH GIỚI CAO NHẤT

Cảnh giới cao nhất của đời người là: Dù bận rộn cũng không nói nhầm lời, trong cục diện hỗn loạn không nhìn lầm người, gặp tình huống phức tạp không đi nhầm đường.

Cảnh giới cao nhất của cuộc sống là: Thường hay qua lại với người hơn mình, lúc rảnh rỗi thì hội ngộ người tao nhã, mỗi ngày đều có thời gian dành cho người thân thương.

Cảnh giới cao nhất của sự nghiệp là: Hết lòng yêu thích công việc mình đang làm; nuôi dưỡng gia đình mạnh khỏe và vui vẻ; bản thân luôn lạc quan, không làm điều gì để phải hối hận.

Cảnh giới cao nhất của kỷ luật là: Không công lao thì không nhận bỗng lộc, không giúp đỡ thì không viện lý lẽ, không năng lực thì không đòi chức tước.

Cảnh giới cao nhất của vinh dự là: Dù bạn đã rời xa, mọi người vẫn không thôi nhắc về những “truyền thuyết” có mặt bạn.

Cảnh giới cao nhất trong tình bạn là: Dù lâu ngày không liên lạc, trong lòng vẫn có nhau. Lúc gặp lại không có cảm giác cách xa vì đôi bên vẫn giữ quan niệm chung về các giá trị vật chất và tinh thần.

Cảnh giới cao nhất trong tình yêu là: Tuy tóc đã bạc phơ, vẫn nắm chặt tay nhau như ngày đầu lưu luyến. Trải qua bao sóng gió, càng trân trọng và gắn bó nhau hơn.

Cảnh giới cao nhất của linh hồn là: Cất tiếng khóc chào đời khi sinh ra và có thể mỉm cười vĩnh biệt lúc rời xa…

Trích Làm Mới Vườn Tâm

Suối Thông sưu tầm và biên dịch

#vietnamhoc #cltvn #cnm365 #Thungdung 598 An Vui Cụ Trạng Trình. Bạch Ngọc Kim Hoàng nhân đọc lại #Thungdung, càng thấy tâm đắc lời dặn của cụ Trang Trình: “Làm việc thiện không phải vì công tích mà ở tấm lòng. Nay vừa sau cơn loạn lạc thì chẳng những thân người ta bị chìm đắm, mà tâm người ta càng thêm chìm đắm. Các bậc sĩ đệ nên khuyến khích nhau bằng điều thiện, để làm cho mọi người dấy nên lòng thiện mà tạo nên miền đất tốt lành. (Diên Thọ kiều bi ký, 1568). Vẹn toàn điều Thiện là Trung, không vẹn toàn điều Thiện thì không phải là Trung. Tân là cái bến, biết chỗ dừng lại là bến chính, không biết chỗ dừng lại là bến mê… Nghĩa chữ Trung Chính là ở chỗ Chí Thiện. (Trung Tân quán bi ký, 1543). 

Tôi nhớ lời nói chuyện của đại tướng ở Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam. Cụ nói: “Quảng Bình quê tôi người dân gọi khoai lang là sâm người nghèo. Quê tôi trước có giống khoai lang ăn rất ngon nhưng dài ngày. Nay thứ đặc sản ấy đã dần khó kiếm vì nhiều năm dân cần khoai cao sản ngắn ngày“. Chúng tôi vì nhờ có câu nói cảnh tỉnh chân tình ấy mà suốt đời làm nghề chọn giống sắn khoai năng suất cao, vẫn thiết tha bảo tồn và phát triển giống khoai ngon, sắn ngon. Chúng tôi cũng thấu hiểu rằng mình đừng nên cố chấp với những cái mới còn sai sót mà phải cố gắng bảo tồn tích hợp nhiều cái quý, cái tốt. Chính Trung và Trung Tân là biết tích hợp, biết sai thì phải sửa sai cho bằng được cái lỗi ấy nhưng phải tích hợp được cái mới cái tốt để luôn vươn tới mãi” (Hoàng Kim lời tâm đắc) 

Lành thay! ‘GIỮ GIỚI”

Hôm nọ, trò chuyện với bạn thân về hành giả Thích Minh Tuệ, tôi nói rằng, miệt mài theo dõi những thông tin về Ngài nay đã xấp xỉ hai tháng, mình nhận ra rằng đạo Phật theo cách của Ngài chỉ gói gọn trong hai chữ : “GIỮ GIỚI.”.

Giới trong đạo như Luật trong đời. Giới và Luật song hành xã hội thật sự văn minh và hạnh phúc nhiều hơn.

Luật tất nhiên phải giữ nghiêm minh.

Giới tùy theo khả năng, có 5 giới cho đại chúng. Có 8 giới, 10, giới đến 250 giới cho tất cả. Tùy sức, tùy hoàn cảnh, tùy công việc, tùy nhân duyên mà giữ. Giữ được 1 giới cũng là hạnh phúc nhiều lắm rồi. “Giữ được một giới thì Phật trong tâm đã xuất hiện rồi.”

Hôm nay, đọc trên mạng thấy lời tâm sự của anh Long, người có 20 tiệm ăn 0 đồng khắp đất nước và cả bên Ấn độ, dành cho người nghèo, hôm qua, anh Long đến Gia Lai đảnh lễ lần thứ 2 với Thầy và Thầy Thích Minh Tuệ nói với anh Long rằng :”TỪ THIỆN CÓ LỚN CỠ NÀO CŨNG KHÔNG BẰNG TỪ THIỆN CHO CHÍNH MÌNH GIỚI”.

Tôi tạm cắt nghĩa câu của Thầy là : PHẢI LUÔN LUÔN NHẮC NHỞ BẢN THÂN GIỮ GIỚI”.

Lành thay! GIỮ GIỚI, trò chuyện với một người bạn quý, tôi càng tâm đắc thêm ! Thế giới trong mắt ai. An vui cũ Trạng Trình. Những trang văn đọc lại; xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/an-vui-cu-trang-trinh/ 

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585) là nhà giáo, nhà tiên tri, nhà thơ triết lý, nhà văn hoá lớn của thời Lê -Mạc, bậc kỳ tài yêu nước thương dân, xuất xử hợp lý, hợp thời, sáng suốt. Bài tựa về Trạng Trình của tiến sĩ Vũ Khâm Lân có vị trí trọng yếu để tìm hiểu thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tác phẩm được viết năm 1743 cho tập gia phả dòng họ Trạng Trình sau khi cụ Trạng đã mất khoảng 158 năm. Áng văn xuất sắc này là viên ngọc rất quý của người xưa để hiểu và đánh giá đúng về thân thế và sự nghiệp của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Hoàng Kim duyên may sưu tầm được một số sách và tư liệu quý về Người, đã tuyển chọn và biên soạn thư mục CNM365 “Ngày xuân đọc Trạng Trình” để hàng năm bổ sung hoàn thiện, hổ trợ dạy và học gồm: 1) Nguyễn Bỉnh Khiêm tìm trong gia phả; 2) Nguyễn Bỉnh Khiêm trên bách khoa thư; 3) Sấm Trạng Trình bản A 262 câu ; 4) Biển Đông vạn dặm giang tay giữ; 5) Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm; 6) Thầy bạn Nguyễn Bỉnh Khiêm; 7) Hậu duệ và học trò Trạng Trình; 8) Giai thoại về Trạng Trình; 9) Nguyễn Bỉnh Khiêm trí tuệ bậc Thầy.

Vũ Khâm Lân còn có tên là Vũ Khâm Thận, sinh năm 1702 tại làng Ngọc Lặc, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Ông đỗ tiến sĩ năm 1727 làm quan đến chức Tham tụng, Ngự Sử đài, tước Ôn Quận công. Bài tựa này được chép trong quyển “Công Dư Tiệp Ký” (Những chuyện ghi nhanh trong lúc rãnh việc quan) của Vũ Phương Đề, cuốn 3, tờ 166- 175. Quyển “Công Dư Tiệp Ký” là của Vũ Phương Đề do vậy có người nghi vấn tác giả bài tựa này là Vũ Phương Đề, sinh năm 1697, người làng Mộ Trạch, huyện Đường An, nay là Bình Giang, Hải Dương, đỗ tiến sĩ năm 1736. Căn cứ trên văn bản thì tác giả “Bài tựa” này là của Vũ Khâm Lân mà Vũ Phương Đề là người chép lại. “Bài tựa” này tuyển chọn từ trích dẫn của nhà nghiên cứu Phạm Đan Quế năm 2000. Bản dịch tại quyển “Bạch Vân Quốc ngữ Thi tập” của Nguyễn Quân, nhà xuất bản Sống Mới – Sài Gòn năm 1974. Đây là một văn bản quý đã trải qua sự sàng lọc của thời gian 277 năm (1743- 2020). Nguồn tư liệu chuẩn mực, tin cậy với những dẫn liệu chọn lọc và xác thực, lời văn chặt chẽ, súc tích, khoáng đạt.

NGUYỄN BỈNH KHIÊM TÌM TRONG GIA PHẢ
Bài tựa Nguyễn Công Văn Đạt phổ ký Tiến sĩ Vũ Khâm Lân viết năm 1743
Trích Gia phả dòng họ Trạng Trình


Nguyễn Văn Đạt) tự Hành Phủ, đạo hiệu là Bạch Vân cư sĩ, người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương. Tiên tổ ngày xưa tu nhân, tích đức nhiều, nay không thể khảo cứu được, chỉ biết từ đời cụ tổ được tập phong Thiếu bảo Tư Quận công, cụ bà được phong Chính phu nhân Phạm Thị Trinh Huệ. Nguyên trước các cụ lập gia cư ở nơi có núi sông bao bọc hợp với kiểu đất của Cao Biền, tay phong thủy trứ danh đời Đường.

Phụ thân cụ Trạng được tặng phong tước Thái bảo Nghiêm Quận công, mỹ tự là Văn Định, đạo hiệu là Cù Xuyên tiên sinh. Cụ Văn Định học rộng, tài cao, có đức tốt và đã có lần sung chức Thái học sinh đời Lê.

Thân mẫu cụ Trạng được phong tặng tước Từ Thục phu nhân. Bà là người làng An Tử Hạ, huyện Tiên Minh cũng thuộc tỉnh Hải Dương, con gáí quan Thượng thư Bộ Hộ Nhữ Văn Lân. Bà thông minh, học rộng, văn hay, lại tinh thông tướng số. Ngay đời Hồng Đức (niên hiệu vua Lê Thánh Tôn), bà đã đoán trước rằng vận mệnh nhà Lê chỉ bốn mươi năm nữa là suy đồi khó gỡ. Bà có chí hướng muốn phò vua giúp nước như một bậc trượng phu nên chỉ chịu kết duyên khi gặp người trai vừa ý. Bà kén chồng đến ngót hai mươi năm, cho đến khi gặp ông Văn Định là người có tướng sinh quý tử, mới thành lập gia thất.

Sau khi lấy ông Văn Định, có lần qua bến đò Hàn thuộc sông Tuyết (sông thuộc làng Cổ Am) gặp một chàng thanh niên khác, bà nhìn người này và ngạc nhiên than rằng “lúc trước không gặp, ngày nay sao đến đây làm gì?”. Bọn theo hầu không hiểu nghĩa gì, cầm roi toan đánh đuổi chàng thanh niên ấy, bà cản lại và hỏi tên họ. khi được biết, bà buồn rầu hối hận đến cả mấy năm trời. Người thanh niên ấy không ai khác hơn là Mạc Đăng Dung, Thái Tổ của nhà Mạc sau này.

Bỉnh Khiêm sinh năm Hồng Đức thứ 21 (tức năm Tân Hợi 1491), lúc nhỏ có vóc dáng kỳ vĩ, chưa đầy một năm đã nói sõi. Một hôm vào buổi sáng sớm, Văn Định được bế cậu trên tay, bỗng thấy cậu nói ngay rằng: “Mặt trời mọc ở phương Đông” ông lấy làm lạ. Xem đó đủ biết con người khác thường, từ lúc thơ ấu đã có vẻ khác thường.

Năm Bỉnh Khiêm được bốn tuổi, thân mẫu dạy cậu học các bài chính nghĩa của Kinh, Truyện (tức các bài chính của các sách Tứ Thư, Ngũ Kinh). Bà dạy bằng cách khi ru, khi hát, nhưng dạy đến đâu cậu thuộc lòng đến đó. Cũng vào khoảng năm ấy, về thi ca, Bỉnh Khiêm đã thuộc vanh vách đến cả mấy chục bài quốc âm (thơ Nôm)…

… Trong tám năm ở triều, tiên sinh dâng sớ hạch tội mười tám kẻ lộng thần, xin đem ra chém để làm gương, bởi vì bản tâm. Tiên sinh chỉ muốn trăm họ được an vui, những người tàn tật mù lòa được hành nghề hát xướng bói toán nhưng rồi thấy người con rể là Phạm Dao ỷ thế lộng hành, tiên sinh sợ liên lụỵ đến mình nên cáo quan về nghỉ. Năm ấy là năm Quảng Hòa thứ hai (1542) đời Hiến Tông nhà Mạc, tiên sinh mới 52 tuổi.

Treo mũ về quê, tiên sinh dựng am Bách Vân ở phía đông làng và vẫn lấy biệt hiệu là Bạch Vân cư sĩ. Tiên sinh bắc hai chiếc cầu là Nghinh Phong và Trường Xuân để hóng mát, đồng thời dựng một cái quán ở bến sông Tuyết gọi là Trung Tân quán, hiện nay quán này còn tấm bia đá làm di tích để lại.

Ngoài ra, tiên sinh còn tu bổ chùa chiền. Tiên sinh thường cùng các lão tăng đàm luận và thường khi thả thuyền dạo chơi Kim hải hay Úc hải để xem người đánh cá. Các chỗ danh lam thắng cảnh như Yên Tử, Ngọa Vân, Kinh Chủ, Đồ Sơn, nơi nào tiên sinh cũng chống gậy trèo lên, thừa hứng ngâm vịnh, có khi quên cả sớm chiều. Mỗi khi ngắm cảnh non cao chót vót, rừng rậm xanh rờn, gió động rì rào, chim ca thánh thót, tiên sinh lại hớn hở tự đắc, phiêu phiêu như một vị lục địa thần tiên (thần tiên ở thế gian).

Thời gian tiên sinh dưỡng lão ở quê hương, tiên sinh không tham dự quốc chính nhưng nhà Mạc vẫn kính như bậc thầy. Mỗi khi có việc trọng đại, vua Mạc thường sai quan về hỏi hoặc mời lên kinh đô nói chuyện. Tiên sinh dâng lên ý kiến được bổ ích rất nhiều. Mỗi lần lên kinh, xong việc, tiên sinh lại xin về, triều đình ân cần lưu lại, thế nào cũng không được. Sau tiên sinh được nhà Mạc xếp vào hạng đệ nhất công thần, phong tước Trình Tuyền hầu, rồi thăng dần tới tước Lại bộ Thượng thư, Thái phó, Trình Quốc công. Ông bà hai đời cũng được truy tặng chức tước, ba người vợ và bảy người con cũng được thứ tự phong hàm.

Năm Cảnh Lịch thứ ba (1555) đời Mạc Tuyên Tôn (Mạc Phúc Nguyên) Thư Quốc công Nguyễn Thiến (người làng Khoa Hoạch, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông) cùng con trai là Quyện và Miễn (cũng đọc Mồi) về hàng quốc triều (nhà Lê), tiên sinh làm bài thơ gửi cho Thiến trong có câu: Cố ngã tồn cô duy nghĩa tại/ Tri quân xử biến khởi cam tâm (Ta giúp con côi vì nghĩa trọng/ Ông khi xử biến khá cam lòng); Lại có câu: “Vận chuyển nhất chu ly phục hợp/ Tràng giang khởi hữu hạn đông nam (Vận chuyển một vòng tan lại hợp/ Trường giang đâu có hạn đông nam). Thiến xem thơ, trong lòng cảm thấy bứt rứt. Quyện là viên tướng có tài, luôn luôn lập được chiến công. Mạc Phúc Nguyên lấy làm lo ngại sai vời tiên sinh lên hỏi kế. Tiên sinh tâu: “Cha Quyện với hạ thần là chỗ bạn chí thân ngày trước, có lúc đã ở tại nhà thần, nay ra trấn thủ Thiên Trường, đang ở vào tình thế bán tín bán nghi nay muốn bắt lại, thật chẳng khó gì, cũng như thò tay vào túi để móc một vật gì ra thôi”. Tiên sinh nói đoạn, xin Mạc Phúc Nguyên giao cho một trăm tráng sĩ, sai đi phục sẵn trên bắc ngạn, rồi tiên sinh gửi thư mời Quyện sang bên thuyền uống rượu để gặp và nói chuyện tâm tình. Quyện nhận lời ngay; thừa lúc quá say, phục binh nổi dậy, bắt cóc đem về nam ngạn. Quyện cảm động quá khóc nức nở. Tiên sinh dẫn Quyện theo lại nhà Mạc và sau đó trở thành một danh tướng lừng lẫy. Nhờ đó nhà Mạc duy trì được mấy chục năm nữa.

Trong thời gian ấy, đức Thế Tổ (tức Trịnh Kiểm) nhà chúa Trịnh đã dấy nghĩa binh, thanh thế vang dội khắp xa gần; trong trận giao tranh ở cửa biển Thần phù, Khiêm Vương Mạc Kính Điển (con thứ của Mạc Đăng Doanh) thua to. Thừa thắng, đức Thế tổ tiến binh theo đường núi phía tây ra tiến đánh Kinh Bắc, trong ngoài nơm nớp lo sợ. Nhà Mạc nhờ tiên sinh hiến kế rất nhiều, mới ổn định được tình thế lúc ấy.

Năm Diên Thành thứ 8 (1585) đời Mạc Mậu Hợp, tiên sinh lâm bệnh. Vua Mạc sai sứ đến thăm và hỏi kế quốc sự. Tiên sinh trả lời: Sau này nước nhà có bề gì thì đất Cao Bằng tuy nhỏ cũng thêm được vài đời (Tha nhật quốc sự hữu cố/Cao Bằng tuy thiểu, khả diên sổ thế). Qủa nhiên, cách bảy năm sau, nhà Mạc mất, các chúa nhà Mạc như Càn Thống, Long Thái, Thuận Đức, Vĩnh Xương rút lên Cao Bằng cũng còn giữ được hơn 70 năm, nghĩa là sau ba, bốn đời mới hoàn toàn bị diệt. Xem đó thấy lời dự đoán của tiên sinh rất nghiệm.

Ngày 28 tháng 11 (âm lịch) năm ấy, tiên sinh tạ thế, hưởng thọ 95 tuổi, học trò tôn hiệu là Tuyết Giang Phu tử. Phần mộ ở trên một mô đất khá cao trong làng…

Năm Thuận Bình thứ tám (1556) vua Lê Trung Tông băng, không hoàng nam nối ngôi, đức Thế Tổ (Trịnh Kiểm) do dự không biết lập ai, hỏi trạng nguyên Phùng Khắc Khoan, cũng không quyết định nổi, mới sai ngầm đem lễ vật ra tận Hải Dương hỏi tiên sinh. Tiên sinh không trả lời, chỉ quay lại bảo các gia nhân rằng: – Vụ này lúa không được mẩy, chỉ tại thóc giống không tốt, vậy hãy đi tìm giống cũ mà gieo mạ. …

Nói xong, tiên sinh xe ra chùa, bảo các chú tiểu quét dọn và thắp nhang, ngoài ra không đã động gì đến chuyện khác, và đó là cái thâm ý tỏ ra cho biết “cứ việc thờ Phật thì sẽ có oản ăn”. Trạng Bùng thấy thế, hiểu ý, xin từ giả. Qua lời kể lại, đức Thế Tổ hiểu ngay, nên đón vua Anh Tôn về lập, tình hình nội bộ mới trở lại bình thường.

Trong thời gian ấy, Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng là con trai thứ Lâm Huân Tĩnh Vương (Nguyễn Kim) đương ở trong tình thế nguy ngập, sợ không thoát khỏi tay Trịnh Kiểm, thân mẫu ông, người làng Phạm Xá, huyện Tứ Kỳ, với tiên sinh là chỗ đồng hương, nên trước cảnh ấy, sai người bí mật về làng nhờ tiên sinh chỉ giúp con trai bà một lối sống. Sứ giả đặt gói bạc nén trước mặt, rồi chắp tay lạy mãi.

Tiên sinh thấy sứ giả cố năn nỉ nhưng vẫn không đáp, rồi đứng phắt dậy, cầm gậy thủng thẳng bước ra sau vườn. Đến chỗ núi non bộ (giả sơn) do mười tảng đá xanh xếp thành một dãy quanh co, tiên sinh thấy trên núi có bầy kiến đang men đá leo lên, đứng ngắm một lúc, mỉm cười đọc:

Hoành Sơn nhất đái, khả dĩ dung thân

Sứ giả hiểu ý trở về thuật lại, Nguyễn Hoàng liền nghĩ ra kế, xin vào trấn thủ Quảng Nam, đến nay con cháu còn hùng cứ một phương.

Trong lúc ngày thường, có lần tiên sinh cùng người học trò là Bùi Thời Cử bói dịch trúng quẻ Càn, thế mà tiên sinh dự đoán “chỉ sau tám đời cuộc can qua nổi dậy”. Sau đúng như thế. Lời đoán của tiên sinh quả thật thần diệu vậy.

Riêng số học trò của tiên sinh thì đông không biết bao nhiêu mà kể. Những người có danh vọng lừng lẫy của bản triều (nhà Lê) như Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Dữ và Trương Thời Cử đều là những người nhờ sự dạy dỗ của tiên sinh.

Nhắc đến Phùng Khắc Khoan khi còn theo học, bỗng một đêm tiên sinh đến thẳng nhà trọ, gõ cửa bảo: “Gà gáy rồi, sao chưa dậy nấu cơm, còn nằm ỳ ngủ vậy?”. Khắc Khoan hiểu ý, vội thu xếp hành lý, tìm đường vào Thanh Hóa, nhưng lại ẩn nơi nhà Nguyễn Dữ, người đã soạn bộ “Truyền kỳ mạn lục”. Bộ này được thành một tác phẩm “thiên cổ kỳ bút” là một phần lớn nhờ sự phủ chính rất nhiều của tiên sinh.

Xem đó thì thấy tiên sinh đối với bản triều (nhà Lê) cũng có góp phần đào tạo một số nhân tài vậy.

Tôi thấy tiên sinh là người lòng dạ khoáng đạt, tư chất cao siêu, sử dụng sự hồn nhiên, không chút cạnh góc, ai hỏi thì nói không thì thôi, đã nói câu gì là câu ấy không xê không dịch. Tiên sinh ở nơi thôn dã, vui với cúc tùng, hơn mười năm trời vẫn không quên nước.

Văn chương của tiên sinh thường bộc lộ cái tấc dạ ưu thời mẫn thế, không cần điêu luyện mà tự nhiên, giản dị mà lưu loát, thanh đạm mà ý vị, câu câu đều có chỗ ngụ ý răn đời. Thơ Quốc âm của tiên sinh có nhiều, trước đã soạn thành một tập gọi là Bạch Vân Quốc ngữ Thi tập, có cả ngàn bài nhưng nay chỉ còn độ hơn trăm. Thơ Hán tự cũng nhiều nhưng cũng thất lạc, tôi xem cũng đều thấy chứa những ý nghĩa thanh cao và siêu thoát. Thí dụ câu tiên sinh tự thuật chí hướng mình:

Cao khiết thùy vi thiên hạ sĩ An nhàn ngã thị địa trung tiên (Cao khiết ai là thiên hạ sĩ An nhàn ta chính địa trung tiên)

Nói về gia đình thì tiên sinh có ba vợ:

Bà vợ cả người họ Dương, hiệu Từ Ý, quê tỉnh Hải Dương, người cùng huyện, là con gái quan Hình Bộ Thị lang Dương Đức Nhan.

Bà thứ hai, người họ Nguyễn, hiệu Như Tĩnh

Bà thứ ba hiệu Vi Tĩnh, cùng người họ Nguyễn

Tiên sinh có tất cả mười hai người con, gồm bảy người trai, năm người gái. Con trưởng lấy hiệu Hàn Giang Cư sĩ, được tập ấm phong hàm Trung Trinh đại phu, sau làm quan đến chức Phó hiến. Con thứ hai là Túy An tiên sinh được phong hàm Triều Liệt đại phu, tước Quảng Nghĩa hầu. Con thứ ba hàm Hiển Cung đại phu, tước Xuyên Nghĩa bá. Con thứ tư hiệu Thuần Phu, hàm Hoằng Nghị đại phu, tước Quảng Đô hầu. Con thư năm là Thuần Đức, tước Bá Thư hầu (không thấy ghi người con thứ bảy). Mấy người này đều có quân công cả.

Sau đó, Hàn Giang sinh ra Thiết Đức, Thiết Đức sinh Đạo Tiến, Đạo Tiến sinh Đạo Thông. Đạo Thông sinh Đăng Doanh. Đăng Doanh sinh Thời Đương. Thời Đương lúc này đã 65 tuổi, sinh được ba người con trai, đều là cháu tám đời của tiên sinh vậy.

Năm Vĩnh Hựu nguyên niên (Ất Mão 1735 đời Lê Ý Tôn) người trong làng vì nhớ thịnh đức của tiên sinh nên đã dựng hai đền thờ này. Người hàng tổng cũng nhớ ơn đức, xuân thu hai kỳ đến tế lễ. Người trong họ của tiên sinh là Nguyễn Hữu Lý sợ sau này gia phả thất lạc có soạn lại một quyển và nhờ tôi viết cho bài tựa.

Tôi đây là người đất Hồng Châu, nghĩa là cùng quê với tiên sinh, nhưng nay đã cách 190 năm rồi, còn biết gì để viết.

Lúc thơ ấu, tôi cũng thường được nghe các bậc phụ huynh nói chuyện tiên sinh, nhưng cũng chỉ biết đại khái là cụ Trạng Trình thôi. Sau nhân những buổi bình luận về tiên hiền với các quan đại phu, tôi có thêm ít nhiều nên ước có dịp thuận tiện sẽ về tận quê quán của tiên sinh để tìm hiểu cho tường. Ước mãi chưa được vì cứ luôn luôn bị việc quan bó buộc.May thay! Năm Tân Dậu niên hiệu Cảnh Hưng (1741 đời Lê Hiển Tôn) tôi vâng mệnh đổi đi Hồng Châu, nhận thấy cùng với nơi nhà cũ tiên sinh chỉ trong gang tấc, tới lui dễ dàng, nhưng lại vì việc quân ngũ quá bề bộn nên mãi đến mùa xuân năm sau, tức năm Nhâm Tuất, trong khi vâng mệnh đi bối đắp đê sông Nhị Hà, mới thực hiện được ý định nói trên.

Đến quê hương của tiên sinh, tôi tìm đến nền quán Trung Tân, coi tấm bia cũ, nhưng nét chữ đã quá mờ, không sao đọc nổi. Tôi vào đền thờ bái yết, nhân tiện hỏi người cháu bảy đời là Nguyễn Thời Đương để xem hành trạng nhưng cũng không thâu thập được gì. Hỏi thăm các bô lão thì sau cơn binh lửa cũng chẳng còn ai biết; duy chỉ có viên hương ấp là Trần Bá Quang biết sơ qua về mấy việc cũ. Ông này ôn lại cho nghe bài phú quốc âm tức bài văn bia quán Trung Tân và đưa cho một bản lục ít bài thơ của tiên sinh. Nhân tiện tôi hỏi đến những di tích của cầu Trường Xuân, cầu Nghinh Phong rồi đi thăm nơi vườn cũ, tới nơi chỉ thấy ba gian nhà lá. Thời Đương và con cháu hơn mười người cũng ở căn nhà đó.

Tôi nhìn quang cảnh đã sinh lòng hoài cảm, lại trông bốn phía càng bồi hồi nữa. Này phía bên tả trước mặt là một cái đầm và bốn năm cái vũng, tất cả độ vài trăm mẫu, bề sâu chỉ độ hơn trượng, chỗ đứt chỗ nối, chỗ thắt chỗ phình, khi thì yên lặng, khi nắng vàng tỏa, phải chăng đây chính là chỗ kiểu đất Nghiễn trì thủy ảnh (mặt hồ nghiên, ánh nước long lanh) có khí thiêng chung đúc để sinh ra một đại nhân vậy?

Do đó tôi ngâm vịnh thẩn thơ, chẳng muốn dời chân. Ôi! Tôi muốn vì tiên sinh viết bài tựa quyển Gia phả, nhưng ngặt vì việc quân khẩn cấp, còn phải gác bút để đeo gươm, thành thử phải đợi ngày khác nữa.

Năm Quý Hợi (1743 đời Lê Hiển Tôn) khoảng mùa Đông, tôi vâng mệnh đi dẹp bọn thuỷ khấu ở vùng Đồ Sơn, nhân lúc đóng quân trên bờ sông Tuyết, lại đến yết kiến đền thờ của tiên sinh. Bọn Thời Đường cho tôi xem quyển Gia phả và nói : Trước đây đã trãi bao phen loạn lạc, chẳng còn quyển nào, sau họ mới sưu tầm được mấy trang rách, trong đó chỉ biên tên họ tiền nhân, ngoài ra chẳng có gì khác cả. Vì thế tôi phải thâu nhặt ý kiến nhiều người, rồi hợp với những điều mắt thấy tai nghe để viết nên bài tựa. Còn việc sưu tầm những bài thơ của tiên sinh, xếp thành thiên, đóng thành tập, để lưu lại cho đời sau thì xin nhường phấn các vị cao minh khác.

Than ôi Phượng Hoàng, Kỳ Lân, đâu phải những vật thường thấy trong vũ trụ xưa nay, mà có thì chúng phải hiện ở những chỗ như vườn nhà Đường (vua Nghiêu) sân nhà Nhu (vua Thuấn) mới là điềm tốt lành. Như tiên sinh đã có sẵn tư chất thông tuệ lại thâm hiểu đạo học thánh hiền, ví phỏng gặp thời để thi thố sở học thì chắc sẽ tạo ra được cảnh trị bình, biến đổi được thói ở trọc phù bạc ra lễ nghĩa văn minh. Khá tiếc thay, một người có tài đức phù tá Vương nghiệp lại sinh giữa thời đại bá giả, khiến cho sở học không áp dụng được gì. Tuy nhiên, dùng thì làm, bỏ thì ẩn, sự đắc dụng hay không, đối với tiên sinh cũng chẳng quan trọng gì. Tôi rất hâm mộ điểm ấy của tiên sinh. Tiên sinh sinh trưởng trên đất nhà Mạc, có lúc thử ra làm quan để thi hành sở học thì cũng là việc bắt chước việc Khổng Phu Tử xưa đi ra mắt Công Sơn Phất Nhiễu; rồi khi thấy không thể giúp được, vội bỏ đi thì lại muốn theo trí sáng của Trương Tử Phòng theo gót Xích Tùng Tử xưa.

Nay tôi đọc những thi văn còn lại của tiên sinh, cũng chẳng khác nào được nghe tiếng reo ngọc khua vàng, sáng sủa như thái dương, rực rỡ như mây màu, thơ thái như cái phong vị tắm nước sông Nghi rồi lên hóng mát ở Vũ vu của Tăng Điểm ngày trước, và cái phong độ yêu sen thích lan của các tiên nho xưa. Đồng thời cũng như thấy tiên sinh và được bái kiến tiên sinh ở chỗ đang ngồi dạy học vậy.

Ngoài ra, tiên sinh lại là người tinh thông Lý học, thấu triệt họa phúc, biết rõ dĩ vãng và tương lai, cả trăm đời sau chưa chắc đã có ai hơn được.

Ôi ! Thiên hạ xưa nay, các bậc quân vương và hiền giả thiếu gì nhưng sống thì phú quý vinh hoa còn khuất, hỏi thời gian sau, đã có mấy ai được người đời nhắc đến. Còn tiên sinh, nay con cháu đã bảy tám đời mà gần thì sĩ phu, dân thứ còn xem như sao Đẩu trên trời, cho cách nghìn năm cũng còn mường tượng như mới buổi sớm nào; xa thì sứ giả Thanh triều là Chu Xán khi nói đến nhân vật Lĩnh Nam cũng có câu “An Nam lý học hữu Trình Tuyền” (về môn lý học nước Nam có ông Trình Tuyền) rồi chép vào sách để truyền lại bên Tàu. Như thế, đủ biết tiên sinh là người rất mực của nước ta về thời đại trước vậy

NGUYỄN BỈNH KHIÊM TRÊN BÁCH KHOA THƯ

Hoàng Kim khởi thảo mục https://vi.wikipedia.org/wiki Nguyễn Bỉnh Khiêm, Wikipedia Tiếng Việt. đã trên chục năm, nay qua nhiều biến đổi nhờ sự hiệu đính bổ sung của nhiều thức giả.

Nguyễn Bỉnh Khiêm, huý là Văn Đạt, tự Hanh Phủ, hiệu Bạch Vân cư sĩ, thường gọi là Trạng Trình Tuyết Giang phu tử, là nhà giáo, nhà tiên tri, nhà thơ triết lý, nhà văn hoá lớn nhất thời Lê -Mạc, bậc kỳ tài yêu nước thương dân, xuất xử hợp thời, hợp lý, sáng suốt, nhân vật lịch sử ảnh hưởng nhất Việt Nam thế kỷ 16. Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm1491 ở Vĩnh Bảo, mất ngày 28 tháng 11 năm 1585, mẹ và bố là Nhữ Thị Thục và Nguyễn Văn Định.

Nguyễn Bỉnh Khiêm có ba người vợ với 12 người con, trong đó có 7 người con trai, con trai trưởng là Nguyễn Văn Chính.; Sau khi ông đậu Trạng nguyên khoa thi Ất Mùi năm 1535 và làm quan dưới triều Mạc được phong tước Trình Tuyền Hầu rồi thăng tới Trình Quốc Công, dân gian quen gọi ông là Trạng Trình. Ông là nhà hiền triết phương Đông, nhà tiên tri số một Việt Nam, được sĩ phu, dân thứ xem như sao Đẩu trên trời, cho cách nghìn năm cũng còn mường tượng như mới buổi sớm nào; xa thì sứ giả Thanh triều là Chu Xán khi nói đến nhân vật Lĩnh Nam cũng có câu “An Nam lý học hữu Trình Tuyền” (về môn lý học nước Nam có ông Trình Tuyền) rồi chép vào sách để truyền lại bên Tàu theo nhận định của tiến sĩ Vũ Khâm Lân trong Bài tựa Nguyễn Công Văn Đạt phổ ký viết năm 1743 trích Gia phả dòng họ Trạng Trình. Ông trao lại kiệt tác kỳ thư Sấm Trạng Trình sau 500 năm đến nay đã giải mã được các dự báo thiên tài chuẩn xác đến lạ lùng. Đạo Cao Đài sau này đã phong thánh cho ông và suy tôn ông là Thanh Sơn đạo sĩ hay Thanh Sơn chân nhân. Nguyễn Bỉnh Khiêm là danh sĩ tinh hoa, hiền tài muôn thuở của người Việt, dân tộc Việt và nhân loại.

SẤM TRẠNG TRÌNH BẢN A 262 CÂU (*)
Đọc Sấm ký Nguyễn Bỉnh Khiêm
Hoàng Kim sưu tầm, tuyển chọn, biên soạn và giới thiệu
trên Danh nhân ngày 1 tháng 2 năm 2008.

Sấm ký Nguyễn Bỉnh Khiêm, hay còn gọi là Sấm Trạng Trình, là những lời tiên tri của Nguyễn Bỉnh Khiêm về các biến cố chính của dân tộc Việt trong khoảng 500 năm, từ năm 1515 đến năm 2015. Đây là các dự báo thiên tài, hợp lý, tùy thời, tự cường, hướng thiện và lạc quan theo lẽ tự nhiên “thuận thời thì an nhàn, trái thời thì vất vả”. “Trạng Trình đã nắm được huyền cơ của tạo hóa” (lời Nguyễn Thiếp – danh sĩ thời Lê mạt). “An Nam lý học hữu Trình Tuyền” (lời Chu Xán sứ giả của triều Thanh). Vua Phật Trần Nhân Tông (1258-1308) là người trước thời Nguyễn Bỉnh Khiêm, rất coi trọng phép biến Dịch. Người đã viết trong “Cư trần lạc đạo”: “Kinh Dịch xem chơi, yêu tính sáng yêu hơn châu báu. Sách Nhàn đọc giấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim”. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm với “Sấm ký”, “Bạch Vân Am thi văn tập”,“Thái Ất thần kinh”, “huyền thoại và di tích lịch sử” đã lưu lại cho dân tộc Việt Nam và nhân loại một tài sản văn hoá vô giá. Sấm ký gắn với những giai thoại và sự thật lịch sử hiện đã được giải mã, chứng minh tính đúng đắn của những quy luật- dự đoán học trong Kinh Dịch và Thái Ất thần kinh”. Đến nay đã có 36 giai thoại và sự thật lịch sử về Sấm Trạng Trình đã được giải mã mà chúng tôi sẽ lần lượt đăng trong các bài nghiên cứu tiếp theo.

Sấm Trạng Trình bản A 262 câu là bản trích từ sách “Thành ngữ, điển tích, danh nhân từ điển” (tập 2) của Trịnh Văn Thanh – Sài Gòn – 1966. Đây là bản phù hợp nhất với bản tiếng Hán Nôm lưu tại Thư viện Khoa học Xã hội ( trước đây là Viện Viễn Đông Bác Cổ) và lưu tại Thư viện Quốc gia Hà Nội.; Sấm Trạng Trình gồm 14 câu “cảm đề” và 248 câu “sấm ký”. Tài liệu liên quan hiện có ít nhất ba dị bản, Trong số 20 văn bản, có 7 bản tiếng Hán Nôm lưu tại Thư viện Khoa học Xã hội và Thư viện Quốc gia Hà Nội và 13 tựa sách quốc ngữ về sấm Trạng Trình xuất bản từ năm 1948 đến nay. Bản Sấm Trạng Trình tiếng quốc ngữ phát hiện sớm nhất có lẽ tại Bạch Vân Am thi văn tập in trong Quốc Học Tùng Thư năm 1930 nhưng hiện nay sách này vẫn chưa tìm được.

CẢM ĐỀ
Nguyễn Bỉnh Khiêm

Thanh nhàn vô sự là tiên
Năm hồ phong nguyệt ruổi thuyền buông chơi
Cơ tạo hoá
Phép đổi dời
Đầu non mây khói tỏa
Mặt nước cánh buồm trôi
Hươu Tần mặc kệ ai xua đuổi
Lầu Hán trăng lên ngẫm mệnh trời
Tuổi già thua kém bạn
Văn chương gửi lại đời
Dở hay nên tự lòng người cả
Nghiên bút soi hoa chép mấy lời
Bí truyền cho con cháu
Dành hậu thế xem chơi.


Nước Nam từ họ Hồng Bàng
Biển dâu cuộc thế, giang sơn đổi dời
Từ Đinh, Lê, Lý, Trần thuở trước
Đã bao lần ngôi nước đổi thay
Núi sông thiên định đặt bày
Đồ thư một quyển xem nay mới rành

Hoà đao mộc lạc,
Thập bát tử thành.
Đông A xuất nhập
Dị mộc tái sinh.

Chấn cung xuất nhật
Đoài cung vẫn tinh.
Phụ nguyên trì thống,
Phế đế vi đinh.

Thập niên dư chiến,
Thiên hạ cửu bình.
Lời thần trước đã ứng linh,
Hậu lai phải đoán cho minh mới tường.

Hoà đao mộc hồi dương sống lại
Bắc Nam thời thế đại nhiễu nhương.
Hà thời biện lại vi vương,
Thử thời Bắc tận Nam trường xuất bôn

Lê tồn, Trịnh tại,
Lê bại, Trịnh vong.
Bao giờ ngựa đá sang sông,
Thì dân Vĩnh Lại quận công cả làng.
Hà thời thạch mã độ giang.
Thử thời Vĩnh Lại nghênh ngang công hầu.

Chim bằng cất cánh về đâu?
Chết tại trên đầu hai chữ quận công.
Bao giờ trúc mọc qua sông,
Mặt trời sẽ lại đỏ hồng non Tây.

Đoài cung một sớm đổi thay,
Chấn cung sao cũng sa ngay chẳng còn.
Đầu cha lộn xuống chân con,
Mười bốn năm tròn hết số thời thôi.

Phụ nguyên chính thống hẳn hoi,
Tin dê lại phải mắc mồi đàn dê.
Dục lòng chim chích u mê,
Thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm.

Để loại quỷ bạch Nam xâm,
Làm cho trăm họ khổ trầm lưu ly
Ngai vàng gặp buổi khuynh nguy
Gia đình một ở ba đi dần dần.
Cho hay những gã công hầu,
Giầu sang biết gửi nơi đâu chuyến này.

Kìa kìa gió thổi lá rung cây
Rung Bắc, rung Nam, Đông tới Tây
Tan tác kiến kiều an đất nước
Xác xơ cổ thụ sạch am mây.

Lâm giang nổi sóng mù thao cát,
Hưng địa tràn dâng hóa nước đầy.
Một ngựa một yên ai sùng bái?
Nhắn con nhà vĩnh bảo cho hay.

Tiền ma bạc quỷ trao tay
Đồ, Môn, Nghệ, Thái dẫy đầy can qua,
Giữa năm hai bẩy mười ba,
Lửa đâu mà đốt tám gà trên mây.

Rồng nằm bể cạn dễ ai hay,
Rắn mới hai đầu khó chịu thay,
Ngựa đã gác yên không người cưỡi
Dê không ăn lộc ngoảnh về Tây.

Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu
Gà kia vỗ cánh chập chùng bay
Chó nọ vẫy đuôi mừng thánh chúa
Ăn no ủn ỉn lợn kêu ngày.

Nói cho hay khảm cung ong dậy,
Chí anh hùng biết đấy mới ngoan
Chữ rằng lục, thất nguyệt gian
Ai mà giữ được mới nên anh tài.

Ra tay điều độ hộ mai
Bấy giờ mới rõ là người an dân
Lọ là phải nhọc kéo quân,
Thấy nhân ai chẳng mến nhân tìm về.

Phá điền than đến đàn dê
Hễ mà chuột rúc thì dê về chuồng
Dê đi dê lại tuồn luồn
Đàn đi nó cũng một môn phù trì

Thương những kẻ nam nhi chí cả
Chớ vội sang tất tả chạy rong
Học cho biết chữ cát hung
Biết phương hướng đứng chớ đừng lầm chi
Hễ trời sinh xuống phải thì
Bất kỳ nhi ngộ tưởng gì đợi mong.

Kìa những kẻ vội lòng phú quý
Xem trong mình một tí đều không
Ví dù có gặp ngư ông
Lưới dăng đâu dễ nên công mà hòng

Khuyên những đấng thời trung quân tử
Lòng trung nghi nên giữ cho mình
Âm dương cơ ngẫu hộ sinh
Thái Nhâm, Thái Ất trong mình cho hay.
Chớ vật vờ quen loài ong kiến
Hư vô bàn miệng tiếng nói không.

Ô hô thế sự tự bình bồng
Nam Bắc hà thời thiết lộ thông
Hồ ẩn sơn trung mao tận bạch
Kình ngư hải ngoại huyết lưu hồng.

Kê minh ngọc thụ thiên khuynh bắc
Ngưu xuất lam điền nhật chính đông
Nhược đãi ưng lai sư tử thượng
Tứ phương thiên hạ thái bình phong

Ngỡ may gặp hội mây rồng
Công danh rạng rỡ chép trong vân đài
Nước Nam thường có thánh tài
Sơn hà đặt vững ai hay tỏ tường?

So mấy lề để tàng kim quỹ
Kể sau này ngu bỉ được coi
Đôi phen đất lở, cát bồi
Đó đây ong kiến, dậy trời quỷ ma

Ba con đổi lấy một cha
Làm cho thiên hạ xót xa vì tiền
Mão Thìn Tí Ngọ bất yên
Đợi tam tứ ngũ lai niên cùng gần.

Hoành Sơn nhất đái
Vạn đại dung thân
Đến thời thiên hạ vô quân
Làm vua chẳng dễ, làm dân chẳng lành.

Gà kêu cho khỉ dậy nhanh
Phụ nguyên số đã rành rành cáo chung
Thiên sinh hữu nhất anh hùng
Cứu dân độ thế trừ hung diệt tà.

Thái Nguyên cận Bắc đường xa
Ai mà tìm thấy mới là thần minh
Uy nghi dung mạo khác hình
Thác cư một góc kim tinh non đoài

Cùng nhau khuya sớm chăn nuôi
Chờ cơ mới sẽ ra đời cứu dân
Binh thư mấy quyển kinh luân
Thiên văn địa lý, nhân dân phép màu

Xem ý trời ngõ hầu khải thánh
Dốc sinh ra điều đỉnh hộ mai
Song thiên nhật nguyệt sáng soI
Thánh nhân chẳng biết thì coi như tường

Thông minh kim cổ khác thường
Thuấn Nghiêu là trí, Cao Quang là tài
Đấng hiên ngang nào ai biết trước
Tài lược thao uyên bác vũ văn
Ai còn khoe trí khoe năng
Cấm kia bắt nọ hung hăng với người.

Chưa từng thấy nay đời sự lạ
Chốc lại mòng gá vạ cho dân
Muốn bình sao chẳng lấy nhân
Muốn yên sao lại bắt dân ghê mình?

Đã ngu dại Hoàn, Linh đời Hán
Lại đua nhau quần thán đồ lê
Chức này quyền nọ say mê
Làm cho thiên hạ khôn bề tựa nương
Kẻ thì phải thuở hung hoang
Kẻ thì bận của bổng toan, khốn mình

Cửu cửu càn khôn dĩ định
Thanh minh thời tiết hoa tàn
Trực đáo dương đầu mã vĩ
Hồ binh bát vạn nhập Tràng An

Nực cười những kẻ bàng quang
Cờ tam lại muốn toan đường chống xe
Lại còn áo mũ xun xoe
Còn ra xe ngựa màu mè khoe khoang.

Ghê thay thau lẫn với vàng
Vàng kia thử lửa càng cao giá vàng
Thánh ra tuyết tán mây tan
Bây giờ mới sáng rõ ràng nơi nơi.

Can qua, việc nước bời bời
Trên thuận ý trời, dưới đẹp lòng dân
Oai phong khấp quỷ kinh thần
Nhân nghĩa xa gần bách tính ngợi ca

Rừng xanh, núi đỏ bao la
Đông tàn, Tây bại sang gà mới yên
Sửu Dần thiên hạ đảo điên
Ngày nay thiên số vận niên rành rành.

Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh
Can qua xứ xứ khổ đao binh
Mã đề dương cước anh hùng tận
Thân dậu niên lai kiến thái bình

Sự đời tính đã phân minh
Thanh nhàn mới kể chyện mình trước sau
Đầu thu gà gáy xôn xao
Mặt trăng xưa sáng tỏ vào Thăng Long.

Chó kêu ầm ỉ mùa đông
Cha con Nguyễn lại bế bồng nhau đi
Lợn kêu tình thế lâm nguy
Quỷ vương chết giữa đường đi trên giời

Chuột sa chỉnh gạo nằm chơi
Trâu cày ngốc lại chào đời bước ra
Hùm gầm khắp nẽo gần xa
Mèo kêu rợn tiếng, quỷ ma tơi bời.

Rồng bay năm vẻ sáng ngời
Rắn qua sửa soạn hết đời sa tăng
Ngựa hồng quỷ mới nhăn răng
Cha con dòng họ thầy tăng hết thời

Chín con rồng lộn khắp nơi
Nhện giăng lưới gạch dại thời mắc mưu
Lời truyền để lại bấy nhiêu
Phương đoài giặc đã đến chiều bại vong
Hậu sinh thuộc lấy làm lòng
Đến khi ngộ biến đường trong giữ mình

Đầu can Võ tướng ra binh
Ắt là trăm họ thái bình âu ca
Thần Kinh Thái Ất suy ra
Để dành con cháu đem ra nghiệm bàn

Ngày thường xem thấy quyển vàng
Của riêng bảo ngọc để tàng xem chơi
Bởi Thái Ất thấy lạ đời
Ấy thuở sấm trời vô giá thập phân

Kể từ đời Lạc Long Quân
Đắp đổi xoay vần đến lục thất gian
Mỗi đời có một tôi ngoan
Giúp chung nhà nước dân an thái bình

Phú quý hồng trần mộng
Bần cùng bạch phát sinh
Hoa thôn đa khuyển phệ
Mục giã giục nhân canh
Bắc hữu Kim thành tráng
Nam hữu Ngọc bích thành
Phân phân tùng bách khởi
Nhiễu nhiễu xuất đông chinh
Bảo giang thiên tử xuất
Bất chiến tự nhiên thành

Rồi ra mới biết thánh minh
Mừng đời được lúc hiển vinh reo hò
Nhị Hà một dải quanh co
Chính thực chốn ấy đế đô hoàng bào
Khắp hoà thiên hạ nao nao
Cá gặp mưa rào có thích cùng chăng?

Nói đến độ thầy tăng mở nước
Đám quỷ kia xuôi ngược đến đâu
Bấy lâu những cậy phép màu
Bây giờ phép ấy để lâu không hào

Cũng có kẻ non trèo biển lội
Lánh mình vào ở nội Ngô Tề
Có thầy Nhân Thập đi về
Tả hữu phù trì, cây cỏ thành binh

Những người phụ giúp thánh minh
Quân tiên xướng nghĩa chẳng tàn hại ai
Phùng thời nay hội thái lai
Can qua chiến trận để người thưởng công

Trẻ già được biết sự lòng
Ghi làm một bản để hòng giở xem
Đời này những thánh cùng tiên
Sinh những người hiền trị nước an dân

Này những lúc thánh nhân chưa lại
Chó còn nằm đầu khải cuối thu
Khuyên ai sớm biết khuông phù
Giúp cho thiên hạ Đường, Ngu ngỏ hầu.

Cơ tạo hoá phép mầu khôn tỏ,
Cuộc tàn rồi mới tỏ thấp cao.
Thấy sấm từ đây chép vào
Một mảy tơ hào chẳng dám sai ngoa.”

BIỂN ĐÔNG VẠN DẶM GIANG TAY GIỮ

Biển Đông vạn dặm giang tay giữ. Đất Việt muôn năm vững thái bình” và thông điệp ngoại giao của cụ Trạng Trình nhắn gửi con cháu về lý lẽ giữ nước: “Muốn bình sao chẳng lấy nhân / Muốn yên sao lại bắt dân ghê mình. Điều lạ trong câu thơ là dịch lý, ẩn ngữ, chiết tự của cách ứng xử hiện thời. Bình là hòa bình nhưng bình cũng là Tập Cận Bình. Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam là sự thật hiển nhiên, khó ai có thể lấy mạnh hiếp yếu, cưỡng tình đoạt lý để mưu toan giành giật, cho dù cuộc đấu thời vận và pháp lý trãi hàng trăm, hàng ngàn năm, là “kê cân – gân gà” mà bậc hiền minh cần sáng suốt. “Cổ lai nhân giả tri vô địch, Hà tất khu khu sự chiến tranh” Từ xưa đến nay, điều nhân là vô địch, Cần gì phải khư khư theo đuổi chiến tranh. “Quân vương như hữu quang minh chúc, ủng chiếu cùng lư bộ ốc dân” Nếu nhà vua có bó đuốc sáng thì nên soi đến dân ở nơi nhà nát xóm nghèo.”Trời sinh ra dân chúng, sự ấm no, ai cũng có lòng mong muốn cả”; “Xưa nay nước phải lấy dân làm gốc, nên biết rằng muốn giữ được nước, cốt phải được lòng dân”. Đạo lý, Dịch lý, Chiết tự và Ẩn ngữ Việt thật sâu sắc thay !

Trung Hoa có câu chuyện phong thủy.  Núi Cảnh Sơn. Jǐngshān, 景山, “Núi Cảnh”, địa chỉ tại 44 Jingshan W St, Xicheng, Beijing là linh địa đế đô. Cảnh Sơn là Núi Xanh, Green Mount, ngọn núi nhân tạo linh ứng đất trời, phong thủy tuyệt đẹp tọa lạc ở quận Tây Thành, chính bắc của Tử Cấm Thành Bắc Kinh, trục trung tâm của Bắc Kinh, thẳng hướng Cố Cung, Thiên An Môn. Trục khác nối Thiên Đàn (天坛; 天壇; Tiāntán, Abkai mukdehun) một quần thể các tòa nhà ở nội thành Đông Nam Bắc Kinh, tại quận Xuanwu. Trục khác nối Di Hòa Viên (颐和园/頤和園; Yíhé Yuán, cung điện mùa hè) – là “vườn nuôi dưỡng sự ôn hòa” một cung điện được xây dựng từ thời nhà Thanh, nằm cách Bắc Kinh 15 km về hướng Tây Bắc. Một hướng khác nối Hải Nam tại thành phố hải đảo Tam Sa, nơi có pho tượng Phật thuộc loại bề thế nhất châu Á. Tam Sa là thành phố có diện tích đất liền nhỏ nhất, tổng diện tích lớn nhất và có dân số ít nhất tại Trung Quốc.  Theo phân định của chính phủ Trung Quốc, Tam Sa bao gồm khoảng 260 đảo, đá, đá ngầm,  bãi cát trên biển Đông với tổng diện tích đất liền là 13 km². Địa giới thành phố trải dài 900 km theo chiều đông-tây, 1800 km theo chiều bắc-nam, diện tích vùng biển khoảng 2 triệu km². Đó là đường lưỡi bò huyền bí. Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam nằm trên trục chính của sự thèm muốn này.

Ngày xuân đọc Trạng Trình. Lạ lùng thay hơn 500 trước Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dự báo điều này và  sứ giả Thanh triều là Chu Xán khi nói đến nhân vật Lĩnh Nam cũng có câu “An Nam lý học hữu Trình Tuyền” (về môn lý học nước Nam có ông Trình Tuyền) rồi chép vào sách để truyền lại bên Tàu.

CỰ NGAO ĐỚI SƠN

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm Bích tầm tiên sơn triệt đế thanh Cự ngao đới đắc ngọc hồ sinh Đáo đầu thạch hữu bổ thiên lực Trước cước trào vô quyển địa thanh Vạn lý Đông minh quy bá ác Ức niên Nam cực điện long bình Ngã kim dục triển phù nguy lực Vãn khước quan hà cựu đế thành Dịch nghĩa: CON RÙA LỚN ĐỘI NÚI Nước biếc ngâm núi tiên trong tận đáy Con rùa lớn đội được bầu ngọc mà sinh ra Ngoi đầu lên, đá có sức vá trời Bấm chân xuống, sóng cuồn cuộn không dội tiếng vào đất Biển Đông vạn dặm đưa về nắm trong bàn tay Muôn năm cõi Nam đặt vững cảnh trị bình Ta nay muốn thi thổ sức phù nguy Lấy lại quan hà, thành xưa của Tổ tiên. Dịch thơ: CON RÙA LỚN ĐỘI NÚI Núi tiên biển biếc nước trong xanh Rùa lớn đội lên non nước thành Đầu ngẩng trời dư sức vá đá Dầm chân đất sóng vỗ an lành Biển Đông vạn dặm dang tay giữ Đất Việt muôn năm vững trị bình Chí những phù nguy xin gắng sức

Cõi bờ xưa cũ Tổ tiên mình.(Bản dịch thơ Nguyễn Khắc Mai)

THƠ VĂN NGUYỄN BỈNH KHIÊM

Bốn tác phẩm tuyển chọn

DƯỠNG SINH THI
Nguyễn Bỉnh Khiêm

Tích khí, tồn tinh, cánh dưỡng thần
Thiểu tư, qủa dục, vật lao thân.
Thực thôi ban bảo, vô kiêm vị,
Tửu chỉ tam phân, mạc quá tần
Mỗi bả hý ngôn, đa thủ tiếu,
Thường hàm, lạc ý, mạc sinh xân
Nhiệt viêm, biến trá, đô hưu vấn
Nhiệm ngã tiêu dao qúa bách xuân

Dịch thơ

Giữ khí, gìn tinh, lại dưỡng thần
Ít lo, ít muốn, ít lao thân.
Cơm nên vừa bụng, đừng nhiều vị,
Rượu chỉ vài phân, chớ qúa từng.
Miệng cứ câu đùa, vui miệng mãi,
Bụng thường nghĩ tốt, bụng lâng lâng.
Bốc đồng, biến trá, thôi đừng hỏi,
Để tớ tiêu dao đến tuổi trăm.

(Bản dịch của GS. Lê Trí Viễn)

NHÀN (Thơ Nôm, bài 73)
Nguyễn Bỉnh Khiêm

Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao.
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
Rượu đến cội cây, ta sẽ nhắp
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

CHÍN MƯƠI (Thơ Nôm, bài 29)
Nguyễn Bỉnh Khiêm

Tóc đã thưa, răng đã mòn,
Việc nhà đã phó mặc dâu con.
Bàn cờ, cuộc rươu, vầy hoa cúc
Bó củi, cần câu, trốn nước non.
Nhàn được thú vui hay nấn ná,
Bữa nhiều muối bể chứa tươi ngon
Chín mươi thì kể xuân đà muộn
Xuân ấy qua thì xuân khác còn.

NGUYỄN BỈNH KHIÊM: MẶT TRỜI MỌC Ở PHƯƠNG ĐÔNG

Vẹn toàn điều Thiện là Trung, không vẹn toàn điều Thiện thì không phải là Trung. Tân là cái bến, biết chỗ dừng lại là bến chính, không biết chỗ dừng lại là bến mê… Nghĩa chữ Trung chính là ở chỗ Chí Thiện. (Trung Tân quán bi ký, 1543)

Làm việc thiện không phải vì công tích mà ở tấm lòng. Nay vừa sau cơn loạn lạc thì chẳng những thân người ta bị chìm đắm, mà tâm người ta càng thêm chìm đắm. Các bậc sĩ đệ nên khuyến khích nhau bằng điều thiện, để làm cho mọi người dấy nên lòng thiện mà tạo nên miền đất tốt lành. (Diên Thọ kiều bi ký, 1568).

Hoành Sơn nhất đái, khả dĩ dung thân
(Nguyễn Bỉnh Khiêm nói với sứ giả của Đoan Quận công Nguyễn Hoàng)

Cao Bằng tuy thiểu, khả diên sổ thế
(Nguyễn Bỉnh Khiêm nói với sứ giả của vua Mạc)

Lê tồn Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong
(Nguyễn Bỉnh Khiêm nói về mối quan hệ giữa vua Lê và chúa Trịnh)

Tứ bách niên tiền, chung phục thuỷ / Thập tam thế hậu, dị nhi đồng
(Nguyễn Bỉnh Khiêm viết về con cháu họ Mạc)

Hồng Lam ngũ bách niên thiên hạ / Hưng tộ diên trường ức vạn xuân
(Nguyễn Bỉnh Khiêm viết về thời vận mới của nước Việt)

Cổ lai quốc dĩ dân vi bản / Đắc quốc ưng tri tại đắc dân
(Thơ chữ Hán, Cảm hứng)

Cổ lai nhân giả tư vô địch / Hà tất khu khu sự chiến tranh
(Thơ chữ Hán)

Tất cánh dục cầu ngô lạc xứ / Tri ngô hậu lạc tại tiên ưu
(Thơ chữ Hán, Ngụ hứng)

Có thuở được thời mèo đuổi chuột / Đến khi thất thế kiến tha bò
(Thơ Nôm, Bài 75)

Thớt có tanh tao ruồi đậu đến / Ang không mật mỡ kiến bò chi
(Thơ Nôm, Bài 53)

Hoa càng khoe nở, hoa nên rữa / Nước chứa cho đầy, nước ắt vơi
(Thơ Nôm, Bài 52)

Thế gian biến cải vũng nên đồi / Mặn nhạt chua cay lẫn ngọt bùi
(Thơ Nôm, Bài 77)

Làm người hay một chớ hay hai / Chớ cậy rằng hơn, chớ cậy tài
(Thơ Nôm, Bài 65)

Làm người chớ thấy tài mà cậy / Có nhọn bao nhiêu lại có tù
(Thơ Nôm, Bài 11)

Làm người có dại mới nên khôn / Chớ dại ngây si, chớ quá khôn
(Thơ Nôm, Bài 94)

Chớ cậy rằng khôn khinh rẻ dại / Gặp thời, dại cũng hoá ra khôn
(Thơ Nôm, Bài 94)

Thuở khó dẫu chào, chào cũng lảng/ Khi giàu chẳng hỏi, hỏi thời quen
(Thơ Nôm, Bài 5)

Đạo ở mình ta lấy đạo trung / Chớ cho đục, chớ cho trong
(Thơ Nôm, Bài 104)

https://youtu.be/_SbQfvZP_Q0 An vui cụ Trạng Trình THANH MINH TIẾT THÁNG BA https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana


#hga 190 Hoàng Gia An tiếng Anh 190 https://youtu.be/Vp0myGo0dig
@hoanggiaan20170 seconds ago https://youtu.be/_Uem1OmWNQ Tỉnh Thức Cùng Tháng Năm/ Bồ Đề Nôi Hạnh Phúc https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana

HỌC LÀM NGƯỜI
HỌC ĂN HỌC NÓI HỌC HỎI

Chính Trung Hiếu Thiện Lành
Một Gia Đình Yêu Thương

Vui Đi Dưới Mặt Trời
#cnm365 #TìnhYêuCuộcSống


Ngọc Long Lâm Thành Phước
Bình Minh An Ngày Mới
Nguyên Thủy Kim Liêm Hiển
#ĐáVàng Với #BanMai

Biết Ơn Lời Thầm Lặng
Bài Học Đầu Đời Con

https://cnm365.wordpress.com & https://youtu.be/2cS7AQdf_To & Tâm Inamori Kawano Sách Quý https://youtu.be/ryRBFmn6b0c?si=m8w5lWnr9RRN_23T


Trà Sớm Với Lão Nông https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tra-som-voi-lao-nong/

HOÀNG TỐ NGUYÊN TIẾNG TRUNG

#htn365 https://youtu.be/i9VVmW8eJJ8 https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana VẬN MỆNH MỘT NGƯỜI TỐT hiển lộ trên khuôn mặt https://youtu.be/KWa4PEyt9TQ?si=FYvq5ALAFAkZY9u9 & https://youtu.be/Xm8VYVJ4umc?si=CmqJ_u8iSZpuNZth & Kinh Dịch Ngọc Trí Tuệ https://youtu.be/LXpzkhsSaNk?si=zJbXjXkK6GEpm5kW & https://youtu.be/H02l9puur04?si=nUTSKE5llnUxKlUl & https://youtu.be/XbsZEXMSV34?si=FfuItKii9eTn4zFj & https://youtu.be/W_p3-jeNZ_E?si=VCIEAasm1MkSwfMv & https://youtu.be/ebZmqzqqEig?si=kyCM3J3eMLEG1Pph

#hgb365 14 Bình Minh An Tiếng Trung 14A https://youtu.be/WQazg52lkwI

CẢM ƠN ĐỜI CÓ PHƯỚC

Đức Độ Và An Nhiên
Phước Tình Yêu Cuộc Sống
Nam Ông Giấc Mộng Hiền

Tâm An Nhiên Thung Dung

Sống Thiện Lành Vui Khỏe
Gia Đình Thầy Bạn Quý
Tình Tiền Đủ Thảnh Thơi
Đời Phúc Hậu Lạc Quan


Chính Trung Hiếu Thiện Lành
Trí Tuệ Người Tôn Trọng
Từ Bi Thấu Khoan Dung

Nhân Duyên Thời Phục Sinh

Bồ Đề Nôi Hạnh Phúc

#cnm365 Bạch Ngọc Hoàng Kim https://youtu.be/YlsthMwlxzA
Bồ Đề Nôi Hạnh Phúc https://youtu.be/F82cmvejJMY; https://youtu.be/M1KLBBEH3CQ Ngẫm Quán Trà Đời https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana

Chúc mừng Ngày Tình Yêu, bản tình ca bền vững với thời gian. Ngày 14 tháng 2 là Ngày Valentine (hay còn gọi là Lễ tình nhân) một biểu tượng nổi tiếng khắp thế giới. Ngày này năm xưa. Ngày 14 tháng 2 năm 1918, lịch Gregory, bộ lịch mới do Giáo hoàng Grêgôriô XIII đưa ra vào năm 1582 Liên Xô bắt đầu sử dụng sau cách mạng tháng 10 Nga và đã được sử dụng rộng rãi tới ngày nay. Ngày 14 tháng 2 năm 2005, tên miền của Youtube được kích hoạt, Youtube hiện là trang web chia sẻ video lớn nhất thế giới;

Bài chọn lọc ngày 14 tháng 2: Xuân sớm Ngọc Phương Nam; Nắm chặt tay anh đi em; Giấc mơ lành yêu thương; Bài ca yêu thương; Biển nhớ Trịnh Công Sơn; Cần Thơ Bùi Hữu Nghĩa; Ngôi sao mai chân trời; Tết ấm áp tình thân; Nhớ Mẹ Cha; Hoàng Ngọc Dộ khát vọng; Hoàng Trung Trực đời lính; Đường xuân đời quên tuổi Thông tin tại https://hoangkimvn.wordpress.com/http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-14-thang-2/https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-14-thang-2/

Bồ Đề Nôi Hạnh Phúc /Nam Ông Giấc Mộng Hiền https://youtu.be/bIm3ZYIOc6Y Nhạc Thiền Tâm An Lành https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana

Chúc Ngày Mới Vui Khỏe Biết Im Lâng Nói Chậm; Luyện Tâm Thiện Lời Vàng; Bồ Tát Tướng Tâm Sinh; Tướng Mạo Tùy Tâm Chuyển; Nhân Duyên Thời Phục Sinh; Soi sáng lại chính mình; Bồ Đề Nôi Hạnh Phúc; Tri Tâm Thuật Cổ Nhân https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana

Minh triết tâm an 16 hơi thở chánh niệm; Nhà tôi tình yêu cuộc sống; Hoàng Gia Bình tiếng Anh; VẬN MỆNH MỘT NGƯỜI TỐT HAY XẤU ĐỀU HIỂN LỘ TRÊN KHUÔN MẶT | THUẬT CỔ NHÂN; QUY LUẬT NHÂN QUẢ CÒN MẠNH HƠN PHONG THỦY GẤP TRĂM LẦN | THUẬT CỔ NHÂN https://youtu.be/gXPz6QUv3QQ?si=5myX6KytYLCwVkRl; TRI TÂM THUẬT https://youtu.be/E1gPCRvrCxg?si=lnMf0P9RF7a5ywjK; HÒA HỢP VỚI CHÍNH MÌNH https://youtube.com/shorts/fGShOMuO1-w?si=0OLPa-Oz4NkA0EF0; BIẾT ƠN ĐỜI CÓ PHÚC

Nam Ông Giấc Mộng Hiền
VĨNH THẠNH VÂN RẠCH GIÁ

Thánh Liễu đèo Ngang dạo
Toàn Chân nhẹ gót Tiên
Trầm Hương bền sử ký
Nam Ông* giấc mộng hiền

Hoàng Long Ngọc Phương Nam
Ước an bình may mắn . Tks
*Mạc tộc Lâm môn độ
May thiện lành đường xuân

NHÀ TÔI GIẤC MƠ XANH

Giấc mơ lành yêu thương
Gốc mai vàng trước ngõ
Chim Phượng về làm tổ
Hoa Lúa giữa Đồng Xuân

Minh triết sống phúc hậu
Ngày xuân đọc Trạng Trình
Thầy bạn trong đời tôi
Đêm trắng và bình minh

Cách mạng sắn Việt Nam
Giống khoai lang Việt Nam
Lúa siêu xanh Việt Nam
Nông nghiệp sinh thái Việt

Chọn giống sắn Việt Nam
Nhớ Viên Minh Hoa Lúa
CNM365 Tình yêu cuộc sống
Thầy bạn là lộc xuân

Hoàng Kim

câu chuyện cuộc đời tại 14 đường dẫn ở https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nha-toi-giac-mo-xanh & https://hoangkimlong.wordpress.com/category/mot-gia-dinh-yeu-thuong-2 & https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoanggia & https://youtu.be/UwspPNJwge8

Nguyễn Thị Thủy Hoàng Gia An
ÔNG BÀ VÀ CON CHÁU

Ông bà dạy cháu học
Lời hát ru chuyện đời
Có vàng vàng chẳng hay phô
Có con có cháu trầm trồ dễ nghe

Bà dạy cháu ăn nói
Ăn sạch thì sống lâu
Nói lành thì phước lớn
Lời nói không mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

Ông và cháu trốn tìm
Học chuyện đời tìm kiếm:
Trăm năm ai chớ quên ai
Chỉ thêu nên gấm, sắt mài nên kim

Cháu và ông làm bài
Tô màu và đố chữ:
Vàng trắng xanh tím đỏ
An nhàn vô sự là Tiên

Bài đồng dao huyền thoại
Ngày mới Ngọc cho đời
Ông bà và con cháu
Một gia đình yêu thương

Cầu Trời Nối Mẹ Cha Xưa

Cầu trời nối mẹ cha xưa
Mưa dày thấm đất, nắng thưa thấu trời
Lời thương giao cảm lòng người
Ngày Cha Mẹ suốt trọn đời trong con.

https://youtu.be/7rKsYZYhp-U Thời Giao Mùa Huyền Diệu

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/cau-troi-noi-me-cha-xua/. Thông tin tích hợp tại Tình thức cùng tháng năm #htn#ana#Thungdung, #dayvahoc, #vietnamhoc, #đẹpvàhay, #cnm365 , #cltvn ; https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ong-ba-va-con-chau/ & https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-14-thang-2/

BỒ ĐỀ NÔI HẠNH PHÚC

Ngọc Phương Nam Bồ Đề Nôi Hạnh Phúc
Mẹ Thiên Nhiên Trời Đất Nước An Bình

Chính Trung Hiếu Thiện Lành Đức Độ
Tâm Hiền Hòa Phúc Hậu Bạn Cùng Ta

Thơ sâu như biển trời quan tái
TRÀ SỚM VỚI LÃO NÔNG

Tây Tiến AI VỮNG BƯỚC TỰ HÀO
Đường xuân đời quên tuổi
gian lao
Điểm hẹn chim ưng về tổ ấm
Thăm thẳm trời sông Thương khát khao


Hoàng Kim
#Thungdung 568

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bai-ca-nhip-thoi-gian/
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bo-de-noi-hanh-phuc

THẾ GIỚI TRONG MẮT AI

Vườn nhà sớm mai nay

Trong vùng lành sinh khí
Một gia đình yêu thương
Đường xuân vui biết đủ
An nhiên giữa đời thường


Nguyễn Thị Thủy Hoàng Kim
tích hợp #Nhàtôi Cảm ơn bác Đăng Bui chúc phúc
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bo-de-noi-hanh-phuc/

TRÒ CHUYỆN VỚI LÃO NÔNG

Chơi cùng cháu con #ana DẠY HỌC
Nhàn với cỏ hoa #thungdung GIA ĐÌNH
Đi vừa sức mình #đávàng NGƯỜI THÂN
Ngủ khỏe giấc ngon #banmai THẦY BẠN

Vừa đủ phước đức thấm thía AN NHIÊN
Vừa đủ sức khỏe đừng cầu SỐNG THỌ
Vừa đủ tình tiền không phiền NẶNG NỢ
Vừa đủ yêu thương chẳng lụy ÂN TÌNH


https://hoangkimvn.wordpress.com/2025/02/10/ana/

HOÀNG TỐ NGUYÊN TIẾNG TRUNG
黄素源 (越南) Hoàng Tố Nguyên Việt Nam
Dạy và học tiếng Trung trực tuyến
#htn Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung https://hoangkimvn.wordpress.com/category/hoang-to-nguyen-tieng-trung/https://hoangkimlong.wordpress.com/tag/hoang-to-nguyen-tieng-trung. Bài học mới mỗi ngày https://hoangkimvn.wordpress.com/

Xây dựng học liệu mở #htn #vietnamxahoihoc #cnm365 #dayvahoc #vietnamhoc, #cltvn Việt Nam xã hội học (越南社会学; Vietnamese Sociology) Ngữ văn Việt Trung đối chiếu là môn học bảy bài Xã hội Việt Nam ngày nay; Nông nghiệp sinh thái Việt; Ngành nghề ở Việt Nam; Vùng sinh thái Việt Nam; Du lịch sinh thái Việt; Nước Việt Nam ngày nay; Việt Nam con đường xanh với 36 tiểu mục, là sách học Việt Trung.

Bài 1 Xã hội Việt Nam ngày nay có 5 tiểu mục:1.1 Việt Nam một khái quát; 1.2 Việt Nam con đường xanh; 1.3 Việt Nam tâm thế mới;1.4 Việt Nam sáng tạo KHCN; 1.5 Việt Nam dư địa chí Việt Nam xã hội học bách khoa mở 越南社会学开放百科全书 Vietnam Sociology Open Encyclopedia tích hợp thông tin mới trên cấu trúc Việt Nam xưa và nay để bổ sung Ngữ văn Việt Trung đối chiếu phục vụ học tập giảng dạy nghiên cứu

DẠY VÀ HỌC https://hoangkimvn.wordpress.com Việt Nam học; Học tiếng Trung và tiếng Việt 学中越文 Tổng quan về Kinh tế Xã hội và Văn hóa Việt Nam 越南社会经济和文化概述, Cây Lương thực Việt Nam; CNM365; Tình yêu cuộc sống

Tiếng Trung Kim Hân Online Tự Học Tiếng Hoa Giáo Trình Chuẩn HSK 1-6
https://www.chinesescholarshipcouncil.com/vi/

(*) Hội thảo khoa học Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao tiếng Trung Quốc từ lý thuyết đến thực tiển, thành phố Hồ Chí Minh 21-22 tháng 8 năm 2024 xem tiếp https://cn.sggp.org.vn/

Ông Bà Và Con Cháu

Ông Bà dạy cháu học
Lời hát ru chuyện đời
Có vàng vàng chẳng hay phô
Có con có cháu trầm trồ dễ nghe


Bà dạy cháu ăn nói
Ăn sạch thì sống lâu
Nói lành thì phước lớn

Lời nói không mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau


Ông và cháu trốn tìm
Học chuyện đời tìm kiếm:
Trăm năm ai chớ quên ai
Chỉ thêu nên gấm, sắt mài nên kim


Cháu và ông làm bài
Tô màu và đố chữ:
Vàng trắng xanh tím đỏ
An nhàn vô sự là Tiên


Bài đồng dao huyền thoại
Ngày mới Ngọc cho đời
Ông bà và con cháu
Một gia đình yêu thương


xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/cau-troi-noi-me-cha-xua Thông tin tích hợp tại Tình thức cùng tháng năm #htn #ana #Thungdung#dayvahoc, #vietnamhoc, #đẹpvàhay, #cnm365#cltvn;

Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung Tọa đàm Quốc tế MỚI

TRƯỜNG HỌC HƯỚNG BAN MAI
Bác Nhã học thức uyên bác, phẩm hạnh đoan chính.
Bát Nhã Tâm Kinh Trí Tuệ Trợ Duyên Phật Tánh
Hiếu học ‘Biển học vô bờ Siêng năng là bến’

Học ăn và học nói
Đầu tiên đến cuối cùng
Ca dao lọc tinh hoa
Dân ca truyền di sản

MĂNG NHÀ SỚM THU NAY

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng Ngườingày 13 tháng 9 năm 1958 tại lớp học chính trị của giáo viên cấp II, cấp III toàn miền Bắc. “Kế một năm, chi bằng trồng lúa, Kế 10 năm, chi bằng trồng cây. Kế trọn đời, chi bằng trồng Người”. “Trồng một, gặt một, ấy là lúa. Trồng một, gặt mười, ấy là cây, Trồng một, gặt trăm, ấy là Người.”. Kế một năm, chi bằng trồng lúa, Kế 10 năm, chi bằng trồng cây. Kế trọn đời, chi bằng trồng Người, Trồng một, gặt một, ấy là lúa. Trồng một, gặt mười, ấy là cây, Trồng một, gặt trăm, ấy là Người. Ngôn chí Gia Cát Mã Tiền Khóa, trích ý của Không Minh xưa,Thành tâm với chính mình https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thanh-tam-voi-chinh-minh/

Câu chuyện đầu năm mới
NAM ÔNG GIẤC MƠ HIỀN

Nam Ông Giấc Mộng Hiền
VĨNH THẠNH TÂN RẠCH GIÁ


Thánh Liễu đèo Ngang dạo
Toàn Chân nhẹ gót Tiên
Trầm Hương bền sử ký
Nam Ông* giấc mộng hiền

Hoàng Long Ngọc Phương Nam
Ước an bình may mắn . Tks
*Mạc tộc Lâm môn độ
May thiện lành đường xuân

“Cày đồng” sớm mai nay
TIẾNG VIỆT LUNG LINH SÁNG

Ca dao Việt “Cày đồng”
Mãn Giác thơ “Hoa Mai”
Thơ Việt ngoài ngàn năm
Tiếng Việt lung linh sáng

Bài đồng dao huyền thoại
Quốc Công đạo làm tướng
Tiết Chế đức dụng nhân
Lời dặn của Thánh Trần

Lời khuyên thói quen tốt
Phạm Ngũ Lão Thuật Hoài
Trần Khánh Dư “Bán than”
Nguyễn Trãi Dục Thúy Sơn


Muốn sang thì bắc cầu kiều
Chuyện đồng dao cho em


Hoàng Kim

TIẾNG TRUNG BÌNH MINH AN

Ông bà cha mẹ #annhiên vui
Con cháu #thungdung sống
Cậu với cháu an bình miền cổ tích
Thanh nhàn dạy học và vui chơi

https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana

Ngày giỗ của Tổ Bà Hoàng Tộc Hoàng Thị Thớc ngày 17 tháng Chạp nhằm ngày Tảo Mai (lặt là mai sáu ngày trước ngày Táo Quân lên Tết Trời) Hoàng Nhụy ngày 20 tháng 7 âm lịch https://cnm365.wordpress.com/2024/01/27/cnm365-cltvn-27-thang-1/ Ngày giỗ của Tổ Ông Trần tộc Trần Tươu ngày Tết Đoan Ngọ 5 tháng 5 âm lịch, Hoàng Thị Quynh ngày 10 tháng 2 âm lịch, xem thêm Một gia đình yêu thương

Thang nam nho lai va suy ngam 7

A Na bà chúa Ngọc
A Na Bình Minh An

Hoàng Gia Bình sinh ngày 29 tháng 3 năm 2011
Hoàng Gia Minh sinh ngày 22 tháng 2 năm 2014
Hoàng Gia An sinh ngày 23 tháng 2 năm 2017

Chị Sóc cùng Harry, Na
Giữa trời xanh tuyết trắng
Có hoa đào hồng thắm
Núi Phú trời bình yên

Chi Sóc là cô Tiên
Giữa một vùng cổ tích
A Na tìm được Ngọc
Harry vui thích cười.

Tuổi Ngọc sáng đất trời
Vô tư đầy sung sướng
Chị Hai mừng khôn lớn
Em nhớ hoài tuổi hoa

Chị với em ngắm hoa
Lung linh vườn cổ tích
Sóc, anh Harry mai học
Na và Ngoại ngoan nghe.

BÀ CHÁU BƯỞI TÂN TRIỀU

Cậu với cháu an nhiên miền cổ tích
Vui chọn cho mình dạy học bình yên

https://youtu.be/QS1KJ-THo-w Tiếng Trung Bình Minh An 19 1 2024 https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana

#Ban mai chào ngày mới
Tỉnh thức cùng tháng năm


https://hoangkimlong.wordpress.com/category/dep-va-hay-hoc-mai/

Cảm ơn ĐẸP và HAY
Ảnh và bài tuyệt đẹp

HOÀNG TỐ NGUYÊN TIẾNG TRUNG
黄素源 (越南) Hoàng Tố Nguyên Việt Nam
Dạy và học tiếng Trung trực tuyến
#htn #vietnamxahoihoc #cnm365 #dayvahoc #vietnamhoc, #cltvn Việt Nam xã hội học (越南社会学; Vietnamese Sociology) Ngữ Văn Việt Trung Anh đối chiếu Xã hội Việt Nam ngày nay; Nông nghiệp sinh thái Việt; Ngành nghề ở Việt Nam; Vùng sinh thái Việt Nam; Du lịch sinh thái Việt; Nước Việt Nam ngày nay; Việt Nam con đường xanh https://hoangkimvn.wordpress.com/tag/hoang-to-nguyen-tieng-trung & https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoang-to-nguyen-tieng-trung/

XÃ HỘI VIỆT NAM 越南社会
Hoàng Tố Nguyên
#htn #vietnamxahoihoc #vietnamhoc #cnm365 https://hoangkimvn.wordpress.com

#cattien Vườn Quốc Gia Cát Tiên

TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM
#htn, #hoangkimlong, #BanMai #vietnamxahoihoc, #htn365,#ana, #dayvahoc, #vietnamhoc, #cnm365#cltvn #Vietcassava

Nguyen Long

THƠ VỀ MẸ
Hoàng Long

Thuở cỏn con, con nằm bên mẹ
Đầu rúc vào lòng, con ấm lắm mẹ ơi
Con thương mẹ đêm ngày tần tảo
Thức đêm dài mẹ may áo cho con

Gió đồng nội trưa hè nắng nóng
Mẹ ngồi khom nhổ cỏ một mình
Mưa đêm lạnh mẹ ngồi lo lắng
Lo cho con yên giấc cơn đau

Con vui sướng khi được ôm lưng mẹ
Mỗi lần mẹ về với chị em con
Đem cho con muôn điều hạnh phúc
Mẹ vẫn luôn nghĩ về chúng con

Thuở thiếu thời con không nghe lời mẹ
Để mỗi lần mẹ đánh con đau
Tuổi nhỏ bồng bột chưa biết nghĩ
Giờ lớn khôn con cố học hành

Con sẽ bay cao bay xa mãi
Tìm đến ánh sáng của tương lai
Tìm ra người bạn con mong ước
Giữ mãi hình mẹ ở trong con

Đảm việc nhà lo toan việc nước
Xây gia đình giữ hạnh phúc cho con
Con muốn tìm, muốn gặp người bạn đó
Người bạn như mẹ, mẹ của con

Xa cha mẹ, chúng con lên thành phố
Nhớ tuổi thơ mẹ nhắc con học hành
Mẹ làm lụng chúng con mong giúp mẹ
Nhưng mẹ chỉ cười “học đi con”

Mẹ đã cho con nhiều hạnh phúc
Dạy cho chúng con biết điều hay
Mẹ cũng chăm con từng giấc ngủ
Mỗi lần con về bên mẹ, mẹ ơi!

Con muốn ở bên mẹ như thuở bé
Cảm nhận tình thương mẹ dành cho con
Thoải mái từng giờ trong hạnh phúc
Bên mẹ, gia đình, giấc ngủ ngon.

THƠ CHO CON
Hoàng Kim
Thương yêu tặng con Hoang Long
nhân ngày sinh

Con!
Thân thương một tiếng gọi
Hạnh phúc bật nên lời
Lòng Cha bồi hồi
Sung sướng gọi:
Con!

Cha đi công tác xa
Mong đợi Con, từng ngày chờ thư Mẹ
Thư đến!
Con ra đời!
Cha run lên vì mừng
Thao thức suốt đêm
Không ngủ

Bạn bè vây quanh Cha
Trân trọng niềm vui thiêng liêng
Nâng cốc chúc Cha
Hạnh phúc!

Tiếng Con ngọt ngào môi Cha
Dào dạt lòng Cha vỗ mãi
Có Con
Nối cuộc đời Cha
Gấp đôi
Có Con
Đan giữa cuộc đời
Hạnh phúc

Con là sợi dây máu thịt
Yêu thương gắn Mẹ và Cha
Có Con
Cha thấy cuộc đời ý nghĩa hơn
Cuộc sống – Tình yêu – Sự nghiệp
Hai Con là hai con mắt
Cửa sổ tâm hồn Cha
Dẫu đời Cha nhiều chông gai
Trái chín cuộc đời vẫn ngọt
Con là giấc mơ trong trẻo
Là ban mai tươi vui
Là viên ngọc trao đời
Là hương hoa hạnh phúc

Ước vọng cuộc đời Cha
Có Con đi nối con đường sự nghiệp
Con đứng trên vai Cha
Vươn tới những chân trời mơ ước

Hai Con
Hai viên ngọc
Chị con và Con
Mẹ con dịu hiền hơn
Mẹ con đảm đang hơn
Cha bớt vụng về mỗi việc làm nho nhỏ
Con trở thành ngọn lửa
Sưởi ấm lòng Mẹ Cha
Khi mỗi ngày khó khăn
Trong trẻo tiếng Con
Mẹ Cha hết mệt
Con là niềm vui lớn nhất
“Con hơn Cha nhà có phúc”
Cha mong dồn cho Con.

Lớn lên
Con sẽ hỏi Cha
Sao Cha đặt tên Con là Hoàng Long?
Con ơi!
Tên Con là khúc hát yêu thương
Của lòng Cha Mẹ
Cha Mẹ thương nhau
Vì qúy trọng những điều ân nghĩa
Sự nghiệp và tình yêu
Những ngày gian khổ
Cùng nghiên cứu củ sắn, củ khoai
Con là giống khoai Hoàng Long
Tỏa rộng nhiều vùng đất nước
Dẫu không là trái thơm qủa ngọt
Nhưng là niềm vui người nghèo
Để Cha nhớ về quê hương
Khoai sắn bốn mùa vất vả
Để Cha nhớ những ngày gian khổ
Năm năm
Cơm ngày một bữa
Khoai sắn không phụ lòng
Để Cha nhớ về
Lon khoai nghĩa tình
Nắm khoai bè bạn
Gom góp giúp Cha ăn học
Khi vào đời
Cha gặp Mẹ con
Cho nên:
Cha muốn Con
Trước khi làm những điều lớn lao
Hãy biết làm củ khoai, củ sắn
Hãy hướng tới những người lao động
Nhớ quê nghèo cắt rốn, chôn rau

Lớn lên
Con sẽ hỏi cha
Sao Cha đặt tên con Hoàng Long?
Long là rồng
Con là đậu rồng
Là công trình thứ hai Mẹ Cha nghiên cứu
Mẹ con chọn hạt
Cha gieo nên con
Vất vả gian nan
Hứa hẹn một mùa gặt hái
Con là tháng ngày mong đợi
Là niềm vui đóng góp cho đời
Từ hạt đậu củ khoai
Cha Mẹ trao Con sự nghiệp
Cha nhớ câu đối trăm năm
Về một gia đình hạnh phúc
“Sáng khoai, trưa khoai, tối khoai
ngày khoai ba bữa
Cha đỗ, mẹ đỗ, con đỗ
đều đỗ cả nhà”
Chị con và Con
Là mong ước
Của Mẹ và Cha

Lớn lên
Con sẽ hỏi Cha
Sao Cha đặt tên con Hoàng Long?
Long là rồng
Nghĩa mẹ tạo nền
Công cha xây móng
Trước mắt con là sông dài, biển rộng
Ước mong con bay lên
Con hãy đi đến cùng
Mục đích của con
Làm được những điều cao cả
Hãy cố gắng không ngừng
Kiên gan
Bền chí
Ước mơ và hiện thực
Hôm nay và mai sau
Nghị lực là thước đo cuộc đời
Hai chữ đầu tiên Con học làm người
Phải học hai điều NHÂN NGHĨA

Cha mong Con lớn lên
Ít nếm trãi khó khăn, vất vả
Nhưng đừng bao giờ quên
Những ngày đói khổ
Thời thơ ấu của Cha
Mồng Ba tháng Giêng ngày mất của Bà
Hai mươi tháng Mười ngày ông Mỹ giết
Ngày mà cửa nhà tan nát
Đói nghèo Bác dắt dìu Cha
Tuổi thơ thì bắt ốc, mò cua
Lớn một chút trồng khoai, dạy học
Qua danh lợi hiểu vinh, hiểu nhục
Trãi đói nghèo biết nghĩa, biết ân
Phan Thiết là nơi Mẹ đã sinh Con
Ông Bà ngoại nuôi cho Con khôn lớn
Tuổi thơ của Con lớn trong yên ấm
Tao nôi êm ả, thanh bình
Ru cho Con “uống nước nhớ nguồn”
Khi con lớn đừng quên điều HIẾU THẢO

Cha say viết về Con
Kể về Con
Thơ cho Con
Cô bác vây quanh Cha
Gật gù
Thông cảm

Thơ chắp mối
Từng vần,
Từng mảng
Câu thơ chưa chỉnh lời
Nhưng tứ thơ
Dồn dập
Bối hồi
Hạnh phúc lớn
Trong lòng Cha
Ngân mãi

BAN MAI CHÀO NGÀY MỚI
Hoàng Kim

An vui cụ Trạng Trình
Thung dung đời quên tuổi
Chín điều lành hạnh phúc
Ngày mới bình minh an

Thăm Quê Ngày Chuyển Năm
Hoàng Kim, Hoàng Long & Hoàng Minh Hải

Ngày cuối năm về quê
Dâng hương kính tổ tiên

Bái tạ hồn núi sông
Con cháu mừng ấm cội.


Phước lành đón năm mới
Khoan dung chuyện trái lòng
Đèn Trời soi nghiệp thiện
Tỉnh thức đức hiếu trung.

Trọn đời theo chân Bác
Đường xuân không nản lòng
Giấc mơ lành hạnh phúc
Thành tâm với chính mình.


Nhớ mãi lời căn dặn
Xuân mới ghi trong lòng

Kính dâng Người thấu hiểu
Tâm tình Con ước mong…

QUẢNG BÌNH ĐẤT MẸ ƠN NGƯỜI

Quảng Bình đất Mẹ ơn Người
Tổ tiên cát bụi nhiều đời thành quê
Đinh ninh như một lời thề
Trọn đời trung hiếu để về dâng hương

Lòng son trung chính biết ơn
Quê hương chung đúc khí thiêng Quảng Bình
Về quê kính nhớ Tổ tiên
Mừng vui giữa chốn bạn hiền người thân

Đất trời ngày mới thanh tân
Thung dung thăm hỏi ân cần níu chân.
Đường xuân như một dòng sông
Việt Nam thống nhất thác ghềnh đến nơi.

Hồn chính khí bốc lên ánh sáng
Sáng choang ngọc đá giữa hoang tàn’.
Tâm nhân văn lắng đọng tinh hoa
Hoa Đất Hoa Người trong cõi Bụt

ĐÁ ĐỨNG CHỐN SÔNG THIÊNG
Hoàng Kim

Con về Đá Đứng Rào Nan
Cồn Dưa Minh Lệ của làng quê hương
Linh Giang chảy giữa vô thường
Đôi bờ thăm thẳm nối đường tử sinh.

Quê hương sông núi hữu tình
Chính trung phúc hậu đinh ninh lời nguyền
Không vì danh lợi đua chen
Thù nhà nợ nước quyết rèn bản thân

Ân tình nắm đất quê hương
Công Cha nghĩa Mẹ lời thương dặn dò
Đinh ninh như một lời thề
Trọn đời trung hiếu để về dâng hương

Chúc Mừng Năm Mới Hạnh Phúc
Cả Nhà Ấm Áp Niềm Vui😍😍😍
Xuân Sớm Đón Ngày Đoàn Tụ
Hương Quê Thân Thiết Tuyệt Vời!

https://cnm365.wordpress.com/2024/01/01/cnm365-cltvn-1-thang-1/

Thành Tâm Với Chính Mình

Mười bốn năm xuống núi
Nhớ ngày lên non thiêng
Thương lời Thầy tỉnh thức
#Thungdung một giấc thiền
.

Ai dấn thân khổ lụy
Ta ước tròn nhân duyên
Công quả lành phước thiện
Đức lớn nuôi chí bền
.

Long Hồ thư sinh lão
Phượng Các học sĩ thần
Hoàng Phủ Chân Quân Truyện

Thành Ý Bền Nghiệp Duyên

Non Xanh Chùa Trấn Quốc
Hồ Rào Đá Thần Đinh
Tề Pháp Kim Long Đỉnh
Bát Trận Đồ Trúc Lâm

Gió Lộng Xoay Thái Cực
Thánh Linh Chuông Trống Trời
Tam Tuyến Bắc Đẩu Trận
Thiên An Dấu Huyền Môn


Sắn Khoai Ngon Cõi Bụt
Mình Về Đây Dâng Hương
Lều Tranh Bên Chùa Núi
#Annhiên Vui Đời Thường

Thành Tâm Với Chính Mình

Dạo Chơi Chùa Thần Đinh
Hoàng Long và Hoàng Kim

xem tiếp
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nui-than-dinh-quang-binh thông tin tích hợp tại TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM #htn, #hoangkimlong, #banmai #vietnamxahoihoc, #htn365, #ana, #dayvahoc, #vietnamhoc, #cnm365#cltvn #Vietcassava, https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thanh-tam-voi-chinh-minh & Trích dẫn và trích đoạn video/phim 3Kingdom Thành tâm với chính mình

Thông suối đạo lý LỜI ANH DẶN KHIÊM NHU CẦN KIỆM Hoàng Ngọc Dộ Khát Vọng
Phim Việt Nam ngày nay tầm lịch sử văn hóa, cần DẠY VÀ HỌC kỹ phim 3Kingdom

Khiêm tốn và lịch sự, đó mới là đạo kết giao

Kiến An năm thứ 13, Lưu Chương, Ích Châu mục, phái Trương Tùng tới gặp Tào Tháo, bàn về chuyện liên minh. Không ngờ bị từ chối phũ phàng, Trương Tùng lập tức chuyển hướng, tới Kinh Châu tìm Lưu Bị.

Khi Trương Tùng tới Kinh Châu, Lưu Bị nồng nhiệt tiếp đãi, đích thân ra nghênh đón. Thấy Lưu Bị vô cùng khiêm tốn, Trương Tùng rất nhanh buông bỏ phòng bị, bàn về chuyện liên minh.

Trong cả quá trình, Lưu Bị luôn lắng nghe rất chăm chú, còn ghi chép cẩn thận lại từng lời Trương Tùng nói. Trương Tùng cảm thán: “Tào Tháo ngạo mạn, con người Lưu Hoàng Thúc khiêm tốn, là một vị minh chủ hiếm có.”

Bậc thầy thu phục lòng người - Lưu Bị: Đàn ông có đáng để kết giao hay không, vừa nhìn là biết!  - Ảnh 2.
Lưu Bị trên màn ảnh nhỏ

Lãnh đạo khiêm tốn, quý như ngọc. Họ buông xuống được thân phận của mình, kìm nén sự kiêu ngạo, không xem người khác thấp kém hơn mình, càng không tỏ ra mình hơn người.

Vương Dương Minh từng nói: người khiêm tốn luôn khiến người khác cảm thấy như làn nước mùa xuân, khiến người ta cảm thấy mình được tôn trọng.

Có người nhận xét về Lưu Bị rằng ông là “người có tài, lấy được lòng dân, không bao giờ để người khác thấy mình kém cỏi”. Thuật xưng vương của ông không phải là tấn công và cướp bóc lãnh thổ, cũng không phải là âm mưu, mà là thu phục lòng dân và tập hợp sức mạnh của nhân dân.

Những người có nhân cách đẹp, có tầm nhìn xa là những người đáng để kết giao. 

https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana

dav


Học với chữ Hán Nôm
TIẾNG VIỆT LUNG LINH SÁNG
#cnm365 cập nhật mỗi ngày
Hoàng Kim

Tiếng Việt lung linh sáng
Muốn sang thì bắc cầu kiều
Chuyện đồng dao cho em
Bài đồng dao huyền thoại

Ca dao Việt “Cày đồng”
Mãn Giác thơ “Hoa Mai”
Tiếng Việt lung linh sáng
Thơ Việt ngoài ngàn năm


Trần Khánh Dư “Bán than”
Phạm Ngũ Lão Thuật Hoài
Nguyễn Trãi Dục Thúy Sơn
Đặng Dung thơ Cảm hoài.

Dân ca truyền di sản
Ca dao lọc tinh hoa
Đầu tiên tới cuối cùng
Học ăn và học nói

xem tiếp Đọc 18 đường dẫn liên quan các mẫu chuyện văn hóa tại chuyên mục Tiếng Việt lung linh sáng https://hoangkimlong.wordpress.com/2022/02/20/tieng-viet-lung-linh-sang/ tích hơp Hán Nôm Hội Quán

SƯU TẦM BÀI VIẾT HAY
易經) 智慧

Trần Thanh Liêm Người đóng góp nổi bật  · ndpsooeSrtf3m40hg4iil395ờ3725i400ia2a781ut81hfl3ilg0af5l0 61  ·

靜中 . 藏了 一个 個爭字 。
穩中・藏了一個急字。
Xem thêm Tỉnh táo trong an bình, điềm tĩnh trong vội vã, tự chăm sóc trong bận rộn, và sáng suốt trong nhẫn nhịn.


DỊCH NGHĨA :
Trí tuệ từ Kinh Dịch.
. Trong chữ “Tĩnh” (靜), ẩn chứa chữ “Tranh” (爭).
.Trong chữ “Ổn” (穩), ẩn chứa chữ “Cấp” (急).
.Trong chữ “Mang” (忙), ẩn chứa chữ “Vong” (亡).
.Trong chữ “Nhẫn” (忍), ẩn chứa chữ “Đao” (刀).
. Càng Tranh đấu, lòng càng cần phải Tĩnh (yên).
.Càng Nóng vội, lòng càng cần phải Ổn (vững).
.Càng Bận rộn, càng cần phải chăm sóc tốt cho bản thân.
.Càng Nhẫn nhịn, càng cần phải nhìn rõ sự thể.

Đoạn văn này sử dụng phương pháp triết học Đông phương, phân tích cấu tạo và ý nghĩa đối lập của các chữ Hán để rút ra lời khuyên về tu dưỡng tâm tính, là một lời nhắc nhở sâu sắc về việc cân bằng đối lập trong cuộc sống:

(I Ching) Trí tuệ

Im lặng . Giấu một từ tranh cãi.
Ổn định ・giấu một từ khẩn cấp.
Bận rộn ・giấu một từ chết
Bao dung . Giấu chữ dao
Càng đánh nhau càng phải im lặng
Koshi-kyu/Shin-etsu Yanshi
Càng bận càng chăm sóc bản thân
Bạn càng chịu đựng, bạn càng nhìn tình huống.

PHIÊN ÂM :
I Ching wisdom Dạ Kinh Trụ Tuệ.
Im lặng, che giấu một lời.
T ĩnh trung, t ường liễu nh ất c á Tranh t ự.
Ổn định, giấu một lời khẩn cấp.
Ổn trung, tàng liễu nhất cá Cấp tự.
Bận rộn, giấu một từ chết.
Mang trưng, tử liễu nhựt c á Vong tử
Trong sự kiên nhẫn, giấu một chữ dao.
Nhẫn trung, từ liễu nhượng c á Đào tự.
Càng chiến đấu, trái tim càng bình tĩnh.
Việt tranh, tâm việt yếu tĩnh.
Càng gấp gáp, trái tim càng vững vàng.
Việt cấp, tâm việt yếu ổn.
Càng bận rộn, bạn càng chăm sóc bản thân.
Việt mang, việt y ếu chi ếu cố hảo tự k ỷ.
Càng kiên nhẫn, càng rõ ràng.
Việt nhẫn, việt yếu khán thanh sự thái.

TÔ ĐÔNG PHA TÂY HỒ

Tô Nguyễn đêm vui thú bạn hiền
Lúa sắn ngày chăm lo lớp trẻ
Thầy chiến sĩ trầm tích sử ký
Bạn nhà nông đúc kết tinh hoa.


Tập Dịch Thơ Hán Cỗ :
TÔ ĐÔNG PHA TÂY HỒ

Nuôi con ai chẳng muốn thông minh
Ai ngỡ thông minh mãi hại mình
Chi muốn con ta vô tư mãi
#Thungdung làm người tốt #annhiên

Hoàng Kim @hoangkimvn nêu bật

THƠ HÁN CỔ :
Trần Thanh Liêm Người đóng góp nổi bật  · erotsSopnd8f1i02fha6868ờg21795aa65g m3061701iacg1htfc0l04cf1  ·

Tẩy nhi hí tác 洗兒戲作 • Làm đùa chơi nhân con chẵn tháng
Thơ » Trung Quốc » Bắc Tống 北宋, Liêu 遼 » Tô Thức 蘇軾

☆☆☆☆☆

人皆養子望聰明。
Nhân giai dưỡng tử vọng thông minh
我被聰明誤一生。
Ngã bị thông minh ngộ nhất sinh.
惟愿孩兒愚且魯,
Duy nguyện hài nhi ngu thả lỗ,
無災無難到公卿。
Vô tai vô nạn đáo công khanh
.

DỊCH NGHĨA :

​Mọi người sinh con đều mong con thông minh,
Ta vì thông minh mà lỡ dở cả đời.
Chỉ nguyện con ta ngu dốt và vụng về,
Không tai không nạn được làm đến công khanh.

*​Tẩy Nhi Hí Tác (洗兒戲作): Tức là “Bài thơ viết chơi nhân dịp tắm trẻ”. Đây là bài thơ Tô Thức viết khi con trai út Tô Quá (蘇過) ra đời.

​Khi Tô Thức viết bài thơ này, ông đã trải qua tai ương sinh tử của “Vụ án thơ Ô Đài” (乌台诗案), bị biếm đi Hoàng Châu, sau đó chào đón sự ra đời của con trai út là Tô Quá (蘇過). “Tắm trẻ” (洗兒) vốn là chuyện vui mừng, nhưng ông lại nhìn thấy quá khứ của chính mình trong tiếng khóc. Ba chữ “thông minh lầm” (聰明誤) ẩn chứa bài học “người nói vô tội, người nghe lấy đó làm răn” (言者無罪,聞者足戒); lời cầu nguyện “ngu dốt và vụng về” (愚且魯) chứa đựng sự hèn mọn “mong giữ được tính mạng trọn vẹn giữa thời loạn” (苟全性命於亂世). Lời khẩn cầu trong “Bài thơ tắm trẻ” (洗兒詩) này không phải là tuyên bố tiêu cực trốn tránh thế tục, mà là sự tỉnh táo sau khi trải qua bao sóng gió, khiến cho căn nhà tranh ở Hoàng Châu của ông đều trở thành chốn Thiền phòng để chiêm nghiệm nhân sinh.

DỊCH THƠ :

Nuôi con ai cũng muốn thông minh,
Đâu biết thông minh để luỵ mình.
Chỉ ước con ta ngu lại ngốc,
Thong dong an hưởng lộc công khanh.

Phật Tử Sơn Nam Theo dõi 高山必有高山治 Ý NGHĨA CỦA CÂU NÓI “ CAO SƠN TẤT HỮU CAO SƠN TRỊ” Câu nói chính xác là “Cao nhân tất hữu cao nhân trị”. Câu này có nghĩa là trong bất kỳ lĩnh vực nào, luôn có người giỏi hơn mình, vì vậy không nên tự mãn hay cho rằng mình là người giỏi nhất. Nghĩa đen: Núi cao thì có núi cao hơn trị. Lời khuyên: Câu này khuyên con người ta phải luôn giữ sự khiêm tốn và không ngừng học hỏi, bởi vì luôn có những người có trình độ cao hơn mình.

*

Văn vô sơn thủy phi kỳ khí,
Nhân bất phong sương vị lão tài!
Nghĩa là:
Văn không sông núi, không cao diệu,
Người chẳng phong sương, khó rạng tài!

Trần Bích San

*

Dạy và Học làm Người
Dạy và Học để Làm
Chính Trung Hiếu Thiện Lành
Một gia đình yêu thương

Chanthienmykhoandung Anchanhngoigocchanh

Chân Thiện Mỹ Khoan Dung
Ăn chanh ngồi gốc chanh *
Chính Trung Hiếu Thiển Lành

Nhớ Bài Ca Giữ Nước

Học với chữ Hán Nôm
TIẾNG VIỆT LUNG LINH SÁNG
Hoàng Kim

*Ăn chanh ngồi gốc cây chanh/ Chăm cội, chăm cành, chăm lá, chăm bông/ Vì người người chẳng phụ công/ Yêu người người sẽ vui lòng yêu ta”. Nhớ bài ca giữ nước Tiếng Việt lung linh sáng

Thần an mỹ hão
Cảm tình chi mỹ tại ư Dung
(giữ khi gìn tinh lại dưỡng thần THẦN AN Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm dung đẹp)

Thần an mỹ hảo
Chân thiện mỹ

Nhân tình chi mỹ tại ư thiện.
Học tập chi mỹ tại ư ngộ
Vì nhân chi mỹ tại ư xả.
Bằng hữu chi mỹ tại ư thành
Cảm tình chi mỹ tại ư Dung

Lý Bạch thơ trăng sáng

LÝ BẠCH THƠ TRĂNG SÁNG
Hoàng Kim

Thi Tiên Lý Bạch “Tĩnh dạ tứ” thật tuyệt vời !

TĨNH DẠ TỨ 靜夜思
Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh

Lý Bạch


Đầu giường ánh trăng rọi,
Mặt đất như phủ sương.
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,
Cúi đầu nhớ cố hương.”


(Bản dịch của Nam Trân)

*

Ngắm vầng trăng cổ tích
Ngắm dấu chân thời gian
Lý Bạch thơ trăng sáng
Nguyễn Trãi Dục Thúy Sơn,

Trần Tử Ngang thơ Người
Trần Khánh Dư “Bán than”
Phạm Ngũ Lão Thuật Hoài,
Mạnh Hạo Nhiên xuân hiểu

Đặng Dung thơ Cảm hoài
Đỗ Phủ thơ mưa lành
Ca dao Việt “Cày đồng”
Mãn Giác thơ “Hoa Mai”

Tứ quý hoa bốn mùa
Tự do ngời tâm đức
Chỉ tình yêu ở lại
Văn chương ngọc cho đời

Nguyên tác Tĩnh dạ tứ Lý Bạch,
dịch nghĩa và một số bản dịch chọn lọc




Tĩnh dạ tứ

Sàng tiền minh nguyệt quang,
Nghi thị địa thượng sương.
Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương.

Dịch nghĩa

Đầu giường trăng sáng soi,
Ngỡ là sương trên mặt đất.
Ngẩng đầu nhìn vầng trăng sáng,
Cúi đầu lại thấy nhớ quê nhà.

Thuở nhỏ, Lý Bạch thường lên đỉnh núi Nga Mi ở quê nhà ngắm trăng. Từ năm 25 tuổi, ông đã xa quê và xa mãi. Bởi vậy, cứ mỗi lần thấy trăng là nhà thơ lại nhớ tới quê nhà.

Đầu giường ánh trăng rọi,
Mặt đất như phủ sương.
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,
Cúi đầu nhớ cố hương.

(bản dịch của Nam Trân)
Nguồn: Thơ Đường (tập II), NXB Văn học, 1987

Trông trăng dọi trước giường
Những ngỡ đất mù sương
Ngẩng đầu nhìn trăng tỏ
Cúi đầu nhớ cố hương
(bản dịch của Lê Nguyễn Lưu)
Nguồn: Đường thi tuyển dịch, NXB Thuận Hoá, 1997

Đầu giường trăng tỏ rạng
Đất trắng ngỡ như sương
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Cúi đầu nhớ cố hương.

Giường khuya trăng chiếu bời bời
Sương rơi phủ đất ngỡ đời chiêm bao
Ngẩng đầu trăng sáng trên cao
Cúi đầu ngấn lệ nghẹn ngào… cố hương.
(hai bản dịch của Hải Đà)

Đêm nay trăng sáng rọi đầu giường
Mặt đất hình như phủ kín sương?
Ngẩng mặt nhìn trời, trăng sáng quá
Cúi đầu suy ngẫm nhớ quê hương

Vốn thạo nghề cầy cấy
Tính khí hơi ẩm ương
Nay vào chơi com.net
Đua đòi chút văn chương
(Bản dịch và tự thán của Lão Nông)

Lý Bạch vọng Lư Sơn 李白 望廬山

Nguồn Thi Viện Đào Trung Kiên https://www.thivien.net/ & https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ly-bach-tho-trang-sang/
Trần Thanh Liêm Người đóng góp nổi bật  · Sotsdoneprlt91i6i2mghi64437 ifgf91u0fmmacugf7m474c3ug478ccờu  ·

Vọng Lư sơn bộc bố 望廬山瀑布 • Xa ngắm thác núi Lư
Thơ » Trung Quốc » Thịnh Đường 盛唐 » Lý Bạch 李白。

日照香爐生紫煙,
Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên,
遙看瀑布掛前川。
Dao khan bộc bố quải tiền xuyên.
飛流直下三千尺,
Phi lưu trực há tam thiên xích,
疑是銀河落九天。
Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên.

DỊCH NGHĨA :

Mặt trời chiếu xuống đỉnh Hương Lô sinh ra màu khói tía,
Từ xa nhìn thác nước treo như con sông trước mặt.
Bay chảy thẳng xuống từ ba nghìn thước,
Ngỡ là Ngân Hà rơi khỏi chín tầng mây.

*​Khi Lý Bạch viết bài thơ này, đó chính là thời kỳ đỉnh cao của盛唐 (Thịnh Đường). Tâm cảnh của ông, như thác nước này, thư thái, khai phóng và bừng nở, vừa có cái hào khí “rút kiếm lìa nước” (rút kiếm ra đi khắp thiên hạ), lại vừa có sự tự tin “mắt nhìn bốn biển.” Quá trình “Ngắm thác nước” (Vọng Lư Sơn Bộc Bố) cũng là sự phóng chiếu tinh thần của ông: làn khói tía phiêu diêu là sự lãng mạn của ông, tiếng gầm vang của thác nước là khí phách của ông, và sự kỳ ảo của Ngân Hà là trí tưởng tượng của ông. Sự “ngắm” này không chỉ là xem cảnh, mà còn là cuộc đối thoại với thiên nhiên, khiến thác nước Lư Sơn trở thành minh chứng tuyệt vời nhất cho khí chất “Thi Tiên” của ông.

DỊCH THƠ :

1.Hương Lô nắng dọi khói hồng xây,
Xa trước dòng sông thác Bộc đầy.
Bay thẳng xuống ba nghìn thước thẳm,
Ngỡ sông Ngân tuột chín tầng mây.

2.Nắng Hương Lô, khói vẽ vòng
Xa nhìn dòng thác trước sông phơi bày
Thác ba nghìn thước khói bay,
Ngỡ sông Ngân tuột khỏi mây chín tầng.

Thơ cổ odeSnopsrt66tt80mc874ui58lờ5mc35 ggu0lt593gh0u97ghihu1tgh003  ·
https://www.thivien.net/V%C6%B0%C6%A1ng-B%E1%BB%99t/Giang-%C4%91%C3%ACnh-d%E1%BA%A1-nguy%E1%BB%87t-t%E1%BB%91ng-bi%E1%BB%87t-k%E1%BB%B3-2/poem-uWOsKqnomagy-dK4o1s66w

Giang đình dạ nguyệt tống biệt kỳ 2

_ Vương Bột_ Đường

亂煙籠碧砌,
飛月向南端。
寂寂離亭掩,
江山此夜寒。

Phiên âm:

Loạn yên lung bích thế,
Phi nguyệt hướng nam đoan.
Tịch tịch ly đình yểm,
Giang sơn thử dạ hàn.

Dịch nghĩa:

Khói sóng bao phủ lên bậc thềm bằng đá xanh,
Mặt trăng dần dần chuyển về hướng nam.
Sau phút chia ly, trong vắng vẻ hiu quạnh, ngôi đình càng khuất dần.
Đêm nay, núi sông sao mà lạnh lẽo đến vậy.

https://www.thivien.net/V%C6%B0%C6%A1ng-B%E1%BB%99t/Giang-%C4%91%C3%ACnh-d%E1%BA%A1-nguy%E1%BB%87t-t%E1%BB%91ng-bi%E1%BB%87t-k%E1%BB%B3-2/poem-uWOsKqnomagy-dK4o1s66w

Hoàng Kim dịch thơ
Vương Bột trăng tiễn biệt 2

Loạn yên khói vương đá
Trăng an tỏ hướng nam
Đình trưởng mờ khuất bóng
Sông núi tiễn lạnh lùng


Phim hay Hàn Sở Tranh Hùng Tập 28 https://youtu.be/iDWeeHcEcLo?si=DZhMI77UTNmlB2Yo

VỀ NGHĨA LĨNH ĐỀN HÙNG
Hoàng Kim

Đền thiêng trên Nghĩa Lĩnh.
Giếng ngọc dưới trời Nam.
Chén cơm truyền con cháu.
“Vạn cổ thử giang san”

Chữ PHẠN: Cơm

Viên Mai ‘Tùy Viên thi thoại’ “vịnh hoài’ (Tỏ chí của lòng mình) có hai câu thơ thơ :Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch /Lập thân tối hạ thị văn chương (Mỗi bữa không quên ghi thẻ trúc,/Lập thân thấp nhất ấy văn chương).

Học với chữ Hán Nôm, Nhiều từ tiếng Việt có gốc Hán tự, với sự chiết tự mới hiểu sâu sắc ý tứ và ngữ nghĩa. Lập thân tối thượng thị công đức. Lập thân tối hạ thị văn chương Lập thân cao nhất là công đức, thấp nhất là văn chương. Sống trên đời cần nhất là học làm Người “nợ ai thì phải trả” “đời có trả có vay” “Đã ăn cơm của ai thì không được phản lại người đó”. Đó là luật Nhận Quả. Tối thượng (cao nhất) là lập được Công Đức với Nước với Dân vì ơn Dân lộc Nước.Tối hạ (thấp nhất) là văn chương trong ý nghĩa học làm Người. Đời cần và đủ ba việc ấy.

Văn bản dịch khác của hai câu thơ trên diễn đạt lối khác vẫn không thay đổi ý nghĩa của hai câu trên Mỗi bữa ăn không quên nghĩ đến ghi thẻ trúc Lập thân nhỏ bé nhất là làm văn chương.

Cụ Phan Bội Châu, hiền tài dân tộc Việt, đã.diễn đạt sự nhận thức của Cụ về hai câu thơ đó qua bốn câu thơ của chính Cụ:”Công ở non sông thiêng tấc dạ /Thân nhờ bút mực quá hèn trai./Khuya sớm những mong ghi sử sách / Lập thân hèn nhất ấy văn chương.“.

Tiếc thay, học tiếng Việt ngày nay, có người chê ‘Học với chữ Hán Nôm’ chiết tự là cổ điển, Thực ra, muốn hiểu đúng chân thiện mỹ chữ Việt tiếng Việt có nguồn gốc Hán Nôm cần thấu hiểu chiết tự. Tiếng Việt lung linh sáng https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tieng-viet-lung-linh-sang/

Chữ TUỆ (慧 )

Chữ TUỆ (慧 ) trong “Trí tuệ” hay “thông tuệ” chiếu theo lục thư là chữ hình thanh kết cấu trên dưới. Chữ này gồm chữ TUỆ 彗 (cái chổi, quét) bên trên và bộ TÂM 心 (trái tim, tấm lòng) bên dưới hội hợp lại mà thành. Người Trung Quốc cổ đại quan niệm thậm chí ngộ nhận rằng trái tim thay vì bộ não là trung tâm của cơ thể con người, trong tiếng Hán bộ TÂM chủ đạo về suy nghĩ , tình cảm và tư duy nên dễ hiểu khi 心 là thành tố biểu nghĩa chính của chữ 慧 . Trong cấu tạo chữ TUỆ (慧) ngoài bộ 心 sự xuất hiện của chữ 彗 không chỉ đóng vai trò chỉ âm đơn thuần mà còn chứa đựng một dụng ý cao thâm của các vị cao nhân học giả ngày xưa, nếu tâm không tốt, còn nhiều bụi bặm dơ bẩn, không dùng cái chổi để quét dọn sạch sẽ, thì làm sao có tuệ? TUỆ (慧) gồm chữ tâm 心 và chữ 彗 thể hiện ý nghĩa quét dọn bụi bẩn, nghĩa là tâm trong sạch thì trí sẽ minh mẫn. Một khi tâm niệm không trong sạch thì trí tuệ sẽ gặp trở ngại. Đó là điều mà người trí thức cần phải lưu ý. Sách Luận ngữ cũng bàn về người trí thức rằng: “Hành kỉ hữu sỉ, sứ vu tứ phương, bất nhục quân mệnh”​. Câu này có nghĩa là một người trí thức phải biết chú ý tới hành vi của bản thân, có ý thức trách nhiệm, biết hổ thẹn khi làm điều sai trái và luôn lo sợ nhân cách, phẩm chất của bản thân mình bị vấy bẩn.

Trong ngôn ngữ hàng ngày, ta thường nói đến từ “trí tuệ” và thường hiểu đơn giản trí tuệ là hiểu biết và kiến thức. Trong Phật giáo cũng dùng từ Trí Tuệ (cũng dùng “trí huệ”). Nhưng Trí hay Tuệ trong Đạo Phật có nghĩa sâu hơn, bao hàm sự thấu hiểu có tính chân lý và tính trực tiếp. Tiếng Việt không có từ nào khác hơn và thích hợp hơn để dịch chữ Tuệ trong kinh điển đạo Phật, mặc dù nó có nghĩa khác hơn. Tóm lại, ta có thể định nghĩa từ “Trí Tuệ” của Đạo Phật qua một số thuộc tính của nó, ví dụ: sự thấu hiểu, trực tiếp, đúng và hợp chân lý, có thể phát triển theo thời gian và sự tu tập v.v…. Trí Tuệ có nguồn cội giống như kiến thức, nhưng khác với kiến thức, nó là một năng lực hiểu biết trực tiếp không thông qua ngôn ngữ, khái niệm hay lý luận.

Trong khi Tuệ của đời thường (sự hiểu biết) nhằm mục đích phục vụ cuộc sống thế gian, thì Tuệ hay “trí huệ” (âm khác của Đạo Phật nhằm mục đích giúp cho con người vượt thoát khỏi thế gian và những cái hữu hạn của nó. Tuệ, trong Đạo Phật, nhằm giúp người tu vượt lên cõi nhân gian, vươn tới những cõi giới cao hơn, hoặc thậm chí vượt qua tất cả các cõi giới để đạt được tự do tuyệt đối!

Giải thích về nội hàm chữ ” Tuệ ” quả là Tuệ ” thật… Trong các đại điện hoặc tiền điện của các Phật tự cổ xưa, người ta thường dễ nhận thấy một tấm hoành với nội dung ” Duy TUỆ thị nghiệp ” Đó là một quan niệm ” Đời sống tu hành, TUỆ chính là sự nghiệp ” không mất sau khi rời thế gian, giúp hành giả tiệm ngộ hoặc đốn ngộ liễu đạt chân lý giải thoát… (Đặng Quốc Bảo bình chú giải của Nguyễn Xuyến)

Chữ THỨ (恕), bao dung, khoan dung

chữ “Thứ” (恕), do chữ “Như” (如) và chữ “Tâm” (心) hợp thành, nghĩa là tha thứ, bao dung. Chữ “Như” ghép với chữ “Tâm” mang ý nghĩa là để cho trái tim gần với trái tim, để tâm mình gần với tâm người, tâm người cũng như tâm mình.

Trong Luận Ngữ, Khổng Tử đã hai lần nhắc đến chữ Thứ.

Một lần là Khổng Tử nói với Tăng Sâm: “Này Sâm, đạo của ta chỉ có một lẽ mà thông suốt hết tất cả”. Tăng Sâm thưa “Vâng”. Khi Khổng Tử ra rồi, các môn sinh khác hỏi Tăng Sâm: “Thầy muốn nói gì vậy?”. Tăng Sâm đáp: “Đạo của thầy chỉ có một lẽ Trung Thứ mà thôi”.

Một lần khác là khi Tử Cống hỏi: “Thưa thầy, có một chữ nào có thể dẫn dắt hành xử trọn đời không?”. Khổng Tử đáp: “Có lẽ là chữ Thứ chăng? Cái gì mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác”.

Người có lòng nhân, luôn khoan dung, tha thứ cho kẻ khác thì sẽ chẳng bao giờ làm những điều ích kỷ lợi thân mà tổn hại cho người. Con người sống trên cõi đời chật chội, những chuyện va vấp là điều thường tình, ai chẳng có lúc phạm lỗi, mắc sai lầm? Cho nên trong quan hệ giữa người với người, cần suy xét thận trọng, để lòng mình gần gũi với lòng người, đặt mình vào địa vị đối phương mà suy nghĩ thì tự nhiên sẽ khoan thứ.

Chữ SINH 生

Chữ SINH 生 có khá nhiều quan điểm về nguồn gốc hình thành:. Thứ nhất, chữ SINH 生 là chữ Hội ý kết cấu đan xen, bao gồm bộ NHÂN 人 (con người) và bộ THỔ 土 hợp lại mà thành. Tính chất hội ý của chữ SINH 生 là con người sinh ra và lớn lên từ đất. Trong truyền thuyết về Nữ Oa tạo ra con người (nữ thần thủy tổ của thần thoại Trung Quốc) và “Sáng thế ký” của người Công giáo có một điểm chung là “đắp đất tạo người”, Con người được tạo ra từ đất. Điều này làm rõ quan điểm của người xưa, con người sinh ra từ cát bụi, sau này chết đi cũng trở về cát bụi.

Quan điểm thứ hai căn cứ vào hình dạng chữ cổ. Từ giáp cốt văn đến triện văn, chữ 生 được biểu thị là hình ảnh một mầm cây mọc lên trên mặt đất, nét phẩy xuất hiện sau này biểu trưng cho chiếc lá cây, cũng có thể hiểu là hướng mà cây phát triển sẽ là hướng lên trên. Nghĩa gốc của từ này chỉ cây cỏ sinh trưởng trên mặt đất. Ngoài ra chữ “sinh” còn có nghĩa là sản sinh, sáng tạo và nuôi dưỡng.

Trong thư pháp chữ Khải, chữ “sinh” (生) bên trên là “nhân” (人), bên dưới là “thổ” (土), “con người ở trên mặt đất” nghĩa là sinh. Con người sau khi chết đi thì an vị dưới đất, không thể ở trên mặt đất được. Vậy thì nơi ở của người sống nên là ở trên mặt đất, nơi có ánh Mặt trời, nếu ở lâu trong căn phòng dưới mặt đất hoặc dưới gầm cầu, đường hầm thì sẽ mang đến âm khí u ám, không có lợi cho sức khỏe.

Nếu nhìn từ góc độ khác, theo lý luận của Đạo gia, trong không gian vũ trụ mà xã hội nhân loại tồn tại này, hết thảy vạn vật đều do âm dương Ngũ hành tạo thành, vật chất cấu thành thân thể người cũng không phải ngoại lệ. “Thổ” đứng vị trí thứ năm trong ngũ hành, cho nên đối với sinh mệnh ở cảnh giới rất cao mà nói, thân thể người chính là đất, con người sống ở thế gian chính là bị chôn vùi trong đất, “sinh” đối với con người lại chính là “tử” trong mắt của các sinh mệnh cao tầng, con người đến thế gian chính là đi vào cõi chết. Câu nói của Lão Tử “xuất sinh nhập tử” (sinh ra là chết đi) chính là có hàm nghĩa như vậy.

Cho nên con người chỉ có cách duy nhất là khắc khổ tu luyện trong chính Pháp đại Đạo, dũng mãnh tinh tấn, cuối cùng ra khỏi Ngũ hành, mới có thể rời xa cõi chết, bước vào cuộc sống vĩnh hằng.

MƯỜI BỐN CÁI NHẤT TRONG CUỘC ĐỜI

Kẻ thù lớn nhất trong cuộc đời là bản thân mình

Thất bại lớn nhất trong cuộc đời là tính kiêu ngạo

Sự lừa dối lớn nhất trong cuộc đời là sự thiếu hiểu biết

Nỗi buồn lớn nhất trong cuộc đời là lòng ghen tị

Sai lầm lớn nhất trong cuộc đời là tự bỏ rơi mình

Tội lỗi lớn nhất trong cuộc đời là tự lừa dối bản thân

Điều đáng tiếc nhất trong cuộc đời là hạ thấp lòng tự trọng

Sự ngưỡng phục lớn nhất trong cuộc đời là phấn đấu hướng thiện

Sự phá sản lớn nhất trong đời là nổi tuyệt vọng

Của cải lớn nhất trong cuộc đời là sức khỏe

Món nợ lớn nhất trong cuộc đời là nhân tình

Món quà lớn nhất của cuộc sống là sự tha thứ

Thiếu sót lớn nhất của cuộc đời là từ bi và trí tuệ

Niềm an ủi lớn nhất trong cuộc đời là sự rộng lượng.

NHÂN SINH THẬP TỨ TỐI

Nhân sinh tối đại đích địch nhân thị tự kỷ

Nhân sinh tối đại đích thất bại thị tự đại

Nhân sinh tối đại đích khi phiến thị vô trí

Nhân sinh tối đại đích bi ai thị tật đố

Nhân sinh tối đại đích thác ngộ thị tự khí

Nhân sinh tối đại đích tội quá thị tự khi

Nhân sinh tối đại đích khả liên thị tự ty [1]

Nhân sinh tối đại đích bội phục thị tinh tiến [2]

Nhân sinh tối đại đích phá sản thị tuyệt vọng

Nhân sinh tối đại đích tài phú thị kiện khang

Nhân sinh tối đại đích trái vụ thị nhân tình [3]

Nhân sinh tối đại đích lễ vật thị khoan thứ

Nhân sinh tối đại đích khuyết khiếm thị bi trí

Nhân sinh tối đại đích hân uý thị bố thí

人生十四最

人生最大的敵人是自己

人生最大的失敗是自大

人生最大的欺騙是無智

人生最大的悲哀是嫉妒

人生最大的錯誤是自棄

人生最大的罪過是自欺

人生最大的可憐是自卑

人生最大的佩服是精進

人生最大的破產是絕望

人生最大的財富是健康

人生最大的債務是人情

人生最大的禮物是寬恕

人生最大的缺欠是悲智

人生最大的欣慰是布施

TRUNG HIẾU và ĐỨC NHÂN
Trung Hiếu trì gia viễn
Đức Nhân xử thế trường

(Lấy Trung Hiếu làm nền tảng gia đình mãi mãi, Đem Đức Nhân để đối đãi với đời lâu dài).Cụ Lạc Bần nói: Chữ “trì” (bộ thủ) viết nhầm sang chữ “đặc” (bộ ngưu). Thật đáng tiếc.

Chữ TẢO TẦN

Nguồn gốc hai chữ “TẢO TẦN”
(theo Đỗ Dương, Học với chữ Hán Nôm)

“Tảo tần” là một từ để chỉ đức tính đảm đang, chịu thương chịu khó, thường là của phụ nữ. Nhưng nguồn gốc của từ này là như thế nào?

“Tảo tần”, chữ Hán viết là “藻蘋” (zǎo píng), trong đó:

– TẢO 藻 là rong rêu, chỉ chung các thứ cỏ mọc ở dưới nước. Như “hải tảo” 海藻 là rong biển.

– TẦN 蘋 còn đọc với âm “bình”, là rau lục bình nổi trên mặt nước, ta thường gọi là bèo.

Như vậy, “tảo tần” là rau tảo và rau tần. Người xưa dùng rau tảo và rau tần để dâng lên cúng tổ tiên. Hái rau tảo và rau tần là việc chuyên trách của người phụ nữ xưa. Rau tần thường mọc hoang dại bên bờ suối, còn tảo thì sinh trưởng trong lòng suối như các loại rong, cả hai đều không dễ mà hái được. Do đó người vì đạo hiếu với tổ tiên mà lặn lội đi tìm rau tảo rau tần là người đảm đang, đáng khen ngợi.

Trong bài “Thái Tần” 采蘋 trong Kinh Thi cũng có viết rằng:

于以采蘋?Vu dĩ Thái Tần,
南澗之濱。Nam gián chi tân
于以采藻?Vu bỉ Thái Tảo
于彼行潦。Vu bỉ hàng lạo

Dịch nghĩa:

Đi hái rau Tần,
bên bờ khe phía nam,
đi hái rau Tảo,
bên lạch nước kia.

Dịch thơ:

Để mà đi hái rau tần,
Núi nam hay mọc ở gần bờ khe.
Tảo kia ta hái luôn về,
Bên đường nước chảy dầm dề sau mưa.

Hai câu thơ trên ca ngợi người “vợ hiền dâu thảo”, chăm chỉ hái rau Tần, rau Tảo về làm cỗ cúng tổ tiên. Trong truyền thống văn hóa Trung Quốc, “Tảo Tần” tượng trưng cho đức tính siêng năng, chịu khó, hay lam hay làm của người phụ nữ.

Tóm lại, từ phong tục cổ về thờ cúng, “tảo tần” trở thành từ chỉ chung sự đảm đang, rồi theo thời gian nghiêng về nét nghĩa chịu thương chịu khó, lo toan việc nhà trong cảnh sống khó khăn của người phụ nữ.

HUẤN MÔNG TAM TỰ KINH DIỄN CA
Dịch giả: Thanh Sơn Thủy
NXB Cổ Học Tùng Thư 1963
112 trang Giá 150k miễn ship

Sách dạy trẻ ba chữ một bằng văn vần
Phiên âm dịch nghĩa từng chữ
Giải nghĩa từng câu
Dịch ra văn vần từng bài

Sách không hẳn là do thánh nhân làm ra, nhưng nó là kết tinh của sách vở thánh hiền truyền lại. Chỉ hơn một ngàn chữ mà nêu ra đủ trọng tâm các vấn đề: Từ bản tính sơ sinh “tính tương cận, Tập tương viễn” đến giáo pháp, giáo đạo “Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri lý”, Tu tề, Hiếu đễ, từ bản thân đến vạn vật, vụ trụ: Tam tài, tam quang, tam cương, ngũ hành, ngũ nghĩa, ngũ thường… Tứ thư, Ngũ kinh, gương chuyên cần, đạo xử thế… còn lược kê cả những diễn biến lịch sử Trung Quốc từ Phục Hy, Thần nông đến Minh, Thanh….

Sách vỡ lòng được biên soạn như vậy thật quá chu đáo, dù không học nhiều, nhưng với 1000 chữ, khi nắm vững được nghĩa lý, cũng khả dĩ cho con người có một khái niệm vững chắc về cuộc sống, về đạo đời, là mẫn mực sáng giá cho mãi đến ngày nay.

Như đã nói trên, Tam Tự Kinh là sách học vỡ lòng cho trẻ thời xưa, nhưng ngày nay cũng rất hữu ích cho những ai muốn học chữ Hán, do đó tác giả cho tái bản tập Tam Tự Kinh của học giả Đoàn Trung Còn (vì xét ra phần dịch nghĩa và chú thích khá phong phú). Đồng thời để đáp ứng cho nhu cầu học Hán Nôm đang trên đà phát triển mạnh, Tác giả cho in thêm phần chữ Nôm bên chữ Hán để tiện việc học tập.

———

Bản in lại theo nguyên gốc, chỉ còn vài bộ
Quý vị mua sách nhắn: Tên sách, địa chỉ, điện thoại, họ tên người nhận để được chuyển sách miễn phí tận nhà.
Lh 0973534413 (theo Đỗ Dương, Học với chữ Hán Nôm)


Chữ 撟 (KIỀU) : cong lên, uốn lên

Muốn sang thì bắc cầu kiều
TIẾNG VIỆT LUNG LINH SÁNG
ảnh và ghi chú Ruc Hung
lời bình của Hoàng Kim

1. Hán tự tồn tại khoảng 30 chữ KIỀU lận, nhưng trong đó chỉ 4 chữ có nghĩa liên quan / kết hợp được với chữ CẦU (cầu kiều) mà thôi:

– 撟 (kiều) : cong lên, uốn lên
– 喬 (kiều): cao
– 嬌: (kiều): mềm mại, đẹp
– 橋: (kiều): cây cầu

2. Trong câu ca dao ” Muốn sang thì bắc CẦU KIỀU…” hiện chưa rõ người ta dùng chữ KIỀU nào trong số 4 chữ Hán trên phối hợp với chữ CẦU (cầu kiều) để minh định đó là cây cầu gì (cao, cong, đẹp, mềm mại…)? Và do vậy tranh luận còn… liên miên!

3. Lợi dụng người ta mãi tranh luận, Ruchung tôi dùng “đại” chữ 撟 (kiều) với nghĩa “cong lên, uốn lên” để chỉ cây CẦU KIỀU trong stt của mình mà không hề sợ ai…phản biện cả! Mà trực quan cũng thấy có đoạn cong lên thật.

4. Hehe!

Lời bình của Hoàng Kim

Ruc Hung nói chuyện cầu kiều
Kiều ba mươi nghĩa, cầu kiều là ‘uốn lên’
Hồ Tĩnh Tâm thơ “NhaTrang” (*)
‘Núi trườn, biển uốn’, biển và em một vần

“Núi trườn xuống biển, núi lừng lững
Biển uốn chân trời, biển mênh mông
Nha Trang chiều xuống khoe sương tím
Anh chẳng khoe em dại dột lòng” (*)

CA DAO VIỆT CÀY ĐỒNG
Hoàng Kim

Ngẫm thơ ngoài ngàn năm; Ca dao Việt “Cày đồng”Mãn Giác thơ “Hoa Mai” đều là những viên ngọc quý, tuyệt hay, xếp hàng đầu Thơ Việt ngoài ngàn năm. Trần Khánh Dư “Bán than”, Phạm Ngũ Lão “Thuật Hoài“, Nguyễn Trãi “Dục Thúy Sơn“, Đặng Dung thơ “Cảm hoài” là các bài thơ nổi tiêng đã trên bảy trăm tuổi, sánh với các kiệt tác Đỗ Phủ thơ ‘mưa lành‘; Lý Bạch thơ ‘trăng sáng‘, Mạnh Hạo Nhiên ‘xuân hiểu‘; Trần Tử Ngang thơ Người; Trà sớm nhớ bạn hiền, tôi chép tặng bạn Những bài thơ hay, xúc động, ám ảnh, mà tôi yêu thích và thường đọc lại. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ngam-tho-ngoai-ngan nam/

Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thảnh hót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.

xem tiếp Ca dao Việt “Cày đồng” lời bình chọn lọc và những kiệt tác thơ hay https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ca-dao-viet-cay-dong/

Cụ Nguyễn Quốc Toàn là “Lão Quán Lục Vân Tiên”,“mọt sách đền văn học, ngày 5 tháng 4 lúc 14:59 có bài viết DỊCH HAY PHÓNG TÁC ?? nguyên văn như sau:

1- Trong số ca dao Việt Nam nói về nghề nông và giá trị hạt gạo thì bài: “Cày đồng đang buổi ban trưa. Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày. Ai ơi! bưng bát cơm đầy. Dẻo thơm một hột, đắng cay muôn phần” có mặt trong nhiều tuyển tập, như: • Tục ngữ ca dao dân ca VIỆT NAM của Vũ Ngọc Phan (1). • Tục ngữ ca dao VIỆT NAM của Hồng Khánh – Kỳ Anh sưu tầm biên soạn (2), • Ca dao VIỆT NAM do Bích Hằng tuyển chọn (3). Các tác giả của ba tập sách trên tuyệt nhiên không có chú thích gì về bài ca dao đó, làm người đọc đinh ninh là ca dao Việt Nam. Nhà phê bình danh tiếng Hoài Thanh cũng yên trí “đó là một trong những bài ca dao hay nhất của xứ ta từ trước” (4).*** .

2- Thực ra bài ca dao “Cày đồng đang buổi ban trưa…” là của Tàu, chưa rõ ai là tác giả. Một số bảo của Lí Thân, (李紳,772 – 846) người Vô Tích tỉnh Giang Tô, số khác cho là của Nhiếp Di Trung (聶夷中, 837 – 884) người Hà Đông. Có điều lạ, trong “Toàn Đường thi” (全唐詩) (5) bốn câu trên được xếp vào ngũ ngôn tứ tuyệt vừa để ở mục Nhiếp Di Trung vừa để ở mục Lí Thân. ***

3- Tui tìm thấy bản chữ Hán bài ca dao trên trong bộ “Đường thi tuyển dịch” của ông Lê Nguyễn Lưu gồm hai tập, kê cứu 1409 bài thơ của 173 nhà thơ Tàu. Lí Thân ở trang 1097, với hai bài thơ Cổ phong kỳ1 và Cổ phong kỳ 2. Dưới đây là bài Cổ phong kỳ 1 tui đang bàn tới 古風其一鋤禾日當午汗滴禾下土誰知 盤中餐粒粒 皆辛苦* Phiên âm Thơ Cổ phong Bài 1 Sừ hòa nhật đương ngọ Hãn trích hòa hạ thổ Thùy tri bàn trung xan Lạp lạp giai tân khổ *** Ông Lê Nguyễn Lưu dịch xuôi:Cày xới lúa đang lúc giữa trưa Mồ hôi giọt xuống đất dưới cây lúa Ai nghỉ đến bữa cơm dọn trong mâm Mỗi hột đều chứa nỗi đắng cay gian khổ Và ông Lưu dịch thơ:Cấy lúa giữa ban trưa Mồ hôi ngoài ruộng đổ Ai hay một bát cơm Hạt hạt đầy tân khổ*** Để thấy dịch giả Lê Nguyễn Lưu vừa lúng túng vừa tiền hậu bất nhất trong cách dịch của mình, tui phân tích hai chữ sừ (鋤) và hòa (禾) trong câu thứ nhất “sừ hòa nhật đương ngọ”.- Sừ (鋤) có hai trạng thái diễn đạt. Khi là danh từ, sừ (鋤) chỉ cái cuốc. Ví dụ Nguyễn Trãi nói với bạn là Hữu Nhân: 他年淽溪約, 短笠荷春鋤 : “Tha niên Nhị Khê ước, Đoản lạp hạ xuân sừ”, nghĩa là: Năm nào hẹn về Nhị Khê đội nón lá, vác cuốc đi làm vụ xuân”. Khi là động từ, sừ (鋤) chỉ sự cuốc, như cuốc đất cuốc cỏ.- Hòa (禾) là lúa chưa tuốt ra khỏi bông, chưa cắt ra khỏi rơm rạ. Kinh thi có câu: Thập nguyệt nạp hòa giá 十月納禾稼 Tháng mười thu vào thóc lúa.*** Nếu căn cứ vào tự dạng chữ Hán thì sừ hòa (鋤禾) phải dịch là cuốc lúa, nhưng cuốc lúa là sự vô lý nên ông Lưu thay cuốc bằng “cày” và thêm vào chữ “xới” thành ra “cày xới lúa đang lúc giữa trưa”. Ý dịch giả là người nông dân cày xới cỏ giữa những hàng lúa. Điều đó dẫn đến sự thậm vô lý khác. Là lúa (禾=hòa) đã chắc hạt, đợi tuốt ra khỏi bông cớ sao còn phải cày cỏ. Khi dịch ra thơ, học giả Lê Nguyên Lưu tùy tiện bỏ cuốc lúa,cày lúa, mà gọi là “cấy lúa giữa ban trưa” ***

Một nông dân Việt (hoặc một nhà thông thái Việt) nào đó thấy “sừ hòa nhật đương ngọ” có cái gì đó không ổn, nên dựa vào ý thơ để sáng tác thành một tác phẩm khác theo thể thơ lục bát truyền thống Việt, ai đọc vào cũng hiểu và thuộc nằm lòng ngay.

CA DAO VIỆT .***

Tiếc là cho đến nay chưa thấy một học giả nào tìm ra thân thế người phóng tác thiên tài đó. Chỉ biết là bốn câu ca dao trên đã thuộc về tài sản dân ca Việt Nam trong các tuyển tập. —————————–
(1) Nxb Khoa học xã hội Hà Nội 1971
(2) Nxb Đà Nẵng 2007
(3) Nxb Văn hóa Thông tin 2011
(4) http://www.thivien.net/viewwriting.php?ID=250
(5) huynhchuonghung.com
Bộ sách Đường thi tuyển dịch của Lê Nguyễn Lưu

Cụ Nguyễn Quốc Toàn còn nói thêm: Có một sự thực ta phải chấp nhận, hàng ngày ta nói và viết đã dùng đến 80% âm Hán Việt. May mắn là chúng ta vẫn là người Việt của nước Việt Nam.

Anh Ruc Hung có hai nhận xét thật tuyệt vời xin được chép lại :

1. Bài ca dao “Cày đồng…” từ lâu đã được nhiều học giả, nhiều tờ báo, trang Web…trong nước cùng xác định là có nguồn gốc từ bài thơ Đường “Mẫn nông (憫農)” của Trung Quốc rồi bác ạ. Trước sau đã có rất nhiều bản dịch bài “Mẫn nông” sang tiếng Việt và tất cả các bản dịch này đều gắn với tên dịch giả, chỉ duy nhất bản dịch “Cày đồng…” phiên bản ca dao mà bác NQT đang bàn là khuyết danh mà thôi. Tuy nhiên, điều lạ lùng là vượt lên tất cả, chính bản dịch khuyết danh phiên bản ca dao này mới là bản được nhiều thế hệ người Việt biết đến và ngưỡng mộ nhất, thậm chí còn đinh ninh đó là sản phẩm cổ phong bản địa và quyết không rời nó, dù sau này nhiều người đã biết nguyên tác có nguồn gốc ngoại lai! Tại sao vậy? Đó là một câu chuyện dài…Hình dung rằng, bản dịch thoạt đầu được TRUYỀN KHẨU bằng TIẾNG VIỆT trong dân gian, trải thời gian, được nhiều thế hệ tác giả vô danh kế tiếp chỉnh sửa, gọt dũa, đồng sáng tạo theo phong cách dân gian mà thành bản dịch hoàn chỉnh hơn, rất THOÁT, rất HAY, rất THUẦN VIỆT so với nguyên tác. Khi người Việt chưa có chữ viết, cũng như bao tác phẩm sáng tạo dân gian khác, bài “Cày đồng…” tồn tại trong ký ức cộng đồng và TRUYỀN KHẨU trong nhân gian cho đến khi các nhà sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian bắt gặp/nghe được, ghi chép lại, văn bản hoá vào công trình sưu tầm, nghiên cứu của mình và từ đó bài “Cày đồng…” trở thành một đơn vị trong dòng văn học dân gian (văn học trước khi có chữ viết) Việt Nam. Thế nên, không thể, thậm chí không cần đi tìm tác giả bản dịch bài “Cày đồng…” nữa, bởi bài thơ đã được sáng tạo lại, được dân gian hoá.

2. Vì lý do lịch sử, lý do tiếp xúc, tiếp biến văn hoá, không riêng gì bài ca dao “Cày đồng…” mà còn nhiều thể loại văn học dân gian Việt Nam khác cũng ảnh hưởng văn học Trung Quốc, nhưng không ai đặt vấn đề xem xét lại, hoặc gỡ bỏ khỏi kho tàng văn học dân gian nước nhà, bởi nó đã được Việt hoá cao độ và ăn sâu vào đời sống văn học, văn hoá, giao tiếp của người Việt. Chẳng hạn như trong hệ thống thành ngữ Việt Nam có không ít thành ngữ Trung Quốc được dịch và dân gian hoá (Việt hoá) để dùng (mà các nhà nghiên cứu cho là tương đồng):- Y cẩm dạ hành / Áo gấm đi đêm.- Cô thụ bất thành lâm / Một cây làm chẳng nên non.- Diệp lạc quy căn / Lá rụng về cội.- Gia miếu bất linh / Bụt chùa nhà không thiêng- Bão noãn tư dâm dật / No cơm ấm cật dậm dật khắp nơi- Bất cộng đái thiên / Không đội trời chung-….

Hoàng Kim có một câu hỏi nghi vấn: “Sáng tác Việt hay dịch?” Ví như “Tết Việt và Tết Trung” là xuất phát từ “Tiết Lập Xuân” hướng chính Đông của Việt Thường La Bàn Việt.

MÃN GIÁC THƠ “HOA MAI”

Hoàng Kim và Hoàng Long

Ca dao Việt “Cày đồng” “Mản Giác thơ “Hoa Mai” Tiếng Việt lung linh sáng. Thơ Việt ngoài ngàn năm. Mãn Giác thơ Hoa Mai là bài thơ tuyệt hay thơ ngoài ngàn năm sau bài thơ “Ca dao Việt “Cày đồng” mà chúng tôi đã giới thiệu kỳ trước.

HOA MAI

(Mãi Giác 1052 – 1096)

“Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai.
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Gốc mai vàng trước ngõ Rằm xuân lại nhớ anh. Cành mai rung rinh quả. Xuân sang lộc biếc cành. … Vườn nhà buổi sáng mai nay. Nước xao tăm cá vườn đầy nắng xuân. Mẹ gà quấn quýt đàn con. Đất lành chim đậu lộc xuân ân tình; xem tiếp Gốc mai vàng trước ngõ; Hoa Mai trong Tết Việt; Mãn Giác thơ “Hoa Mai” https://hoangkimlong.wordpress.com/category/man-giac-tho-hoa mai

SỚM HÈ LÍU RÍU XUÂN
Hoàng Kim

Suốt đời chuyên việc chính
Bạn hữu thường Nông dân {*)
Thầy nghề nông chiến sĩ
Ngày mới vui Cày đồng (**)

2

Hoa lộc vùng đỏ thắm
Sớm mai líu ríu xuân
Trà thơm thương người Ngọc
Ban mai xa mà gần

3

Sớm mai líu ríu mưa xuân
Trời như mát lạnh, nắng gần mờ sương
Thung dung nhàn giữa đời thường
An vui cụ Trạng Trình quên việc đời.

4

Sớm xuân ngắm mai nở
Nhớ ai thời thanh xuân
Thương bạn đêm đông lạnh
Thắp đèn lên đi em

5

Vui đi dưới mặt trời
Giấc mơ lành yêu thương
Trà sớm thương người hiền
Chín điều lành hạnh phúc

Lời thương cùng tháng năm
Trân trọng Ngọc riêng mình
Bài ca nhịp thời gian
Chọn giống sắn Việt Nam

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/som-he-liu-riu-xuan

(*) NÔNG DÂN
Nguyễn Sĩ Đại

Có người nói: Nông dân không tư tưởng
Nông dân làm cản trở bánh xe lăn…
Tôi đã thấy nông dân suốt một đời làm lụng
Nuôi cái ăn chung trên mảnh đất khô cằn

Tôi đã thấy trên chiến trường ngã xuống
Những nông dân áo lính máu tươi ròng
Chết: tưới đất; sống: ngày cày xới đất
Không bổng lộc nào theo đến lũy tre xanh.

Tôi đã thấy những xích xiềng phong kiến
Cái trói tay của công hữu màu mè
Mấy chục năm kéo người xa ruộng đất
Mấy chục năm ròng cái đói vẫn ghê ghê…

Nghèo chữ quá nên trọng người hay chữ
Bóp bụng nuôi con thành ông trạng, ông nghè
Sáu mươi tuổi, mẹ lội bùn cấy hái
Ông trạng áo dài, ông trạng ly quê

Dẫu năm khó, không quên ngày chạp
Nhớ người xưa con cháu quây quần
Vâng, có thể nông dân nhiều hủ tục
Nhưng không yêu được họ hàng, yêu chi nổi nhân dân!

Tôi đã thấy thằng Bờm và mẹ Đốp
Còn sống chung với Bà Kiến, Chí Phèo
Con gà mất chửi ba ngày quyết liệt
Con gái gả chồng, cả xóm có trầu vui

Tôi đã thấy đổ mồ hôi, sôi nước mắt
Từ hạt lúa gieo mầm đến cấy hái phơi phong
Dăm bảy tạ, vài trăm nghìn một vụ
Bữa tiệc xoàng của mấy xếp là xong!

Có miếng ngon nông dân dành đãi khách
Thờ Phật, thờ Tiên, thờ cả rắn, cả rồng
Cả tin quá, tin cả dì ghẻ ác
Nhưng sống chết mấy lần, nợ quyết trả bằng xong!

Nông dân sống lặng thầm như đất
Có thể hoang vu có thể mùa màng
Xin chớ mất, chớ mất niềm tin sai lạc
Chín phần mười đất nước nông dân…

(**) CA DAO VIỆT ‘CÀY ĐỒNG’

Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hột đắng cay muôn phần

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/…/som-he-liu-riu-xuan/

Về Nghĩa Lĩnh Đền Hùng
Lên non thiêng Yên Tử
Đến Kiếp Bạc Côn Sơn
Vào Tràng An Bái Đính

Thăm Trường xưa Hà Bắc
Nhớ Linh Giang quê hương
Động Thiên Đường tuyệt đẹp
Biển Nhật Lệ Quảng Bình

Đất Mẹ vùng di sản
Nguồn Son nối Phong Nha
Biển xanh kề núi thẳm
Mừng bạn về Quê choa

ĐỀN HÙNG ( Hi Cương,Việt Trì, Phú Thọ)
NƠI HỘI TỤ KHÍ THIÊNG SÔNG NÚI

Ảnh

Nguồn: Về Nghĩa Lĩnh Đền Hùng (Hoàng Kim)
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ve-nghia-linh-den-hung

HỌC VỚI CHỮ HÁN NÔM
Tiếng Việt lung linh sáng
Tự học chiết tự 1.146 chữ Nho
https://youtu.be/DUo6OlWFNP4
Hoàng Kim

Học không bao giờ muộn
Lời dặn của Thánh Trần
Chính Ngọ đoán Kinh Dịch
Ngày xuân đọc Trạng Trình

Mười thói quen mỗi ngày
Gia Cát Mã Tiền Khóa
Chín điều lành hạnh phúc
Bài ca nhịp thời gian

Ban mai lặng lẽ sáng

Đọc 10 đường dẫn ẩn ngữ tâm đắc trong bài Chuyện cổ tích người lớn Học với chữ Hán Nôm https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoc-voi-chu-han-nom/ Tiếng Việt lung linh sáng https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tieng-viet-lung-linh-sang/ Mười thói quen mỗi ngày https://hoangkimlong.wordpress.com/category/muoi-thoi-quen-moi-ngay/

Đỗ Nguyên Hán Nôm ( Học với chữ Hán-Nôm )
16 tháng 4 lúc 04:56  ·

ĐỈNH CAO CHIẾT TỰ 8 CHỮ HÁN ĐỂ THẤY ĐƯỢC TRÍ TUỆ CỦA CỔ NHÂN.

1. Đạo (道)

Chữ “Đạo” (道) bắt đầu bằng hai nét phết (丷) tượng trưng cho Âm – Dương, cùng với chữ “Nhất” (一) tạo thành ‘Âm Dương hợp nhất’.

Bên dưới là chữ “Tự” (自), trên dưới kết hợp lại tạo thành chữ “Thủ” (首) là khởi thủy, ban đầu, đứng đầu. Vũ trụ cũng bắt nguồn từ một thứ nguyên thủy nhất rồi mới sinh ra vạn sự vạn vật. Kinh Dịch viết: “Dịch có Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái, Bát Quái sinh Ngũ Hành”, từ ngũ hành ấy mà vạn vật mới xuất sinh.

Bên trái chữ Đạo là bộ “Sước” (辶) nghĩa là chạy, bước đi, biểu thị sự vận chuyển không ngừng. Như vậy, bên trong Đạo đã bao hàm cả Âm và Dương, tĩnh và động, động thì không ngừng sinh hóa, tĩnh thì thanh tịnh vô vi.

2. Dương (陽)

Chữ Dương bên trái có bộ “Phụ” (阝) tức là núi đất, bên phải có chữ “Nhật” (日) đứng trên chữ “Nhất” (一), tạo thành hình ảnh mặt trời mọc. Bên dưới là chữ “Vật” (勿) mang ý nghĩa vạn sự vạn vật được mặt trời chiếu sáng.

Chữ “Dương” (陽) thường đi liền với chữ “Âm” (陰) tạo thành hai mặt đối lập. Bởi có Dương và Âm, nên mới có sáng và tối, ngày và đêm, nóng và lạnh, thiện và ác, tốt và xấu, trong và đục… Từ Thái Cực mà sinh ra hai khí Âm Dương, Dương phát tán còn Âm thì tụ hội, cho nên Âm Dương bổ sung và tương trợ cho nhau, đặc tính trái ngược nhau nhưng không tương hại, tương khắc mà tương hòa, tương sinh mà tương diệt.

3. Chính (正)

Chữ “Chính” (正) nghĩa là ngay chính, bao gồm chữ “Nhất” (一 – một, duy nhất) và chữ “Chỉ” (止 – dừng lại).

Chữ “Nhất” biểu thị rằng bề ngoài và nội tâm cần phải thống nhất với nhau. Chữ “Chỉ” cho thấy làm việc phải thích hợp và biết dừng lại đúng lúc. Phải có đầy đủ cả hai yếu tố trên thì mới thành bậc chính nhân quân tử, là người ngay thẳng, chính thường mà không thiên lệch. Có câu nói rằng: “Bất thiên tả, bất thiên hữu, bất bạo động”, cho nên “Chính” nghĩa là không nghiêng phải, không nghiêng trái, không bị lay động.

Trong chữ Chính có một chữ “Nhất” ở trên và một chữ “Nhất” ở dưới, ở giữa là nét thẳng đứng. Điều đó cho thấy con người hành xử cần có trên có dưới, nghiêm chỉnh ngay thẳng, không thiên lệch lên trên cũng không thiên lệch xuống dưới, trên dưới hợp nhau, hài hòa, ngay thẳng, không cúi đầu khom lưng, không a dua xu nịnh. Người như thế sao có thể nói là không Chính đây?

4. Quý (愧)

Chữ “Quý” (愧) nghĩa là hổ thẹn, bao gồm bộ “Tâm” (忄) là tim, và chữ “Quỷ” (鬼) nghĩa là ma quỷ. Con người ai cũng có hai mặt thiện và ác, có Phật tính và ma tính, có thiện tâm và ma tâm. Nếu thiện tâm làm chủ thì đó là người tốt, còn nếu ma tâm làm chủ thì chẳng phải đó sẽ là người xấu sao?

Có câu cổ ngữ rằng: “Không làm việc hổ thẹn với lòng mình thì không sợ ma quỷ gọi cửa”. Người làm những việc xấu xa, lừa người hại người, thì cũng chính là trong tâm sinh ma quỷ, không cần ma quỷ gọi cửa thì anh ta cũng không thể sống thoải mái thanh thản được.

Người xưa nói: “Ngẩng mặt không hổ thẹn với Trời, cúi đầu không tủi thẹn với Đất”. Như vậy, làm người thì tâm chí cần phải quang minh lỗi lạc, không nên làm điều gì hổ thẹn với lương tâm mà để lại nỗi ân hận suốt đời.

Chữ nghĩa của người xưa luôn hàm súc, phong phú và sâu sắc. Thông qua chữ “Quý”, cổ nhân muốn nhắn nhủ chúng ta rằng làm người phải thẳng thắn chân thật không lừa dối thì trong tâm mới không có ma quỷ.

5. Thính (聽)

Chữ “Thính” (聽) nghĩa là lắng nghe, bao gồm bộ “Nhĩ” (耳 – tai), bộ “Vương” (王 – vua), chữ “Thập” (十 – mười), chữ “Mục” (目 – mắt), chữ “Nhất” (一) và chữ “Tâm” (心).

Nếu ghép các bộ này vào nhau chúng ta sẽ hiểu được hàm ý mà người xưa muốn gửi gắm: Khi lắng nghe một ai đó, chúng ta phải khiến người ấy cảm thấy mình quan trọng như một vị vua (chữ Vương), và lắng nghe bằng đôi tai của mình (bộ Nhĩ). Đồng thời chúng ta còn phải dồn mọi ánh nhìn và sự chú ý tới họ (chữ Thập, chữ Mục). Nhưng như vậy vẫn chưa đủ, điều quan trọng nhất là phải dành trọn trái tim để cảm nhận những điều họ nói (chữ Nhất, Tâm). Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể lắng nghe trọn vẹn những thông điệp mà họ muốn truyền tải, mới biết cách thấu hiểu và trân trọng người khác.

6. Thứ (恕)

Chữ “Như” (如) và chữ “Tâm” (心) hợp lại thành chữ “Thứ” (恕), nghĩa là tha thứ, bao dung. Chữ “Như” ghép với chữ “Tâm” mang ý nghĩa là để cho trái tim gần với trái tim, để tâm mình gần với tâm người, tâm người cũng như tâm mình.

Trong Luận Ngữ, Khổng Tử đã hai lần nhắc đến chữ Thứ.

Một lần là Khổng Tử nói với Tăng Sâm: “Này Sâm, đạo của ta chỉ có một lẽ mà thông suốt hết tất cả”. Tăng Sâm thưa “Vâng”. Khi Khổng Tử ra rồi, các môn sinh khác hỏi Tăng Sâm: “Thầy muốn nói gì vậy?”. Tăng Sâm đáp: “Đạo của thầy chỉ có một lẽ Trung Thứ mà thôi”.

Một lần khác là khi Tử Cống hỏi: “Thưa thầy, có một chữ nào có thể dẫn dắt hành xử trọn đời không?”. Khổng Tử đáp: “Có lẽ là chữ Thứ chăng? Cái gì mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác”.

Người có lòng nhân, luôn khoan dung, tha thứ cho kẻ khác thì sẽ chẳng bao giờ làm những điều ích kỷ lợi thân mà tổn hại cho người. Con người sống trên cõi đời chật chội, những chuyện va vấp là điều thường tình, ai chẳng có lúc phạm lỗi, mắc sai lầm? Cho nên trong quan hệ giữa người với người, cần suy xét thận trọng, để lòng mình gần gũi với lòng người, đặt mình vào địa vị đối phương mà suy nghĩ thì tự nhiên sẽ khoan thứ.

7. Dung (容)

Chữ “Dung” (容) gồm bộ “Miên” (宀) nghĩa là mái nhà, chữ “Bát” (八) nghĩa là số 8, chữ “Nhân” (人) nghĩa là người, và chữ “Khẩu” (口) nghĩa là miệng. Kết hợp lại, chữ Dung giống như một căn nhà tuy chật chội nhưng vẫn chứa được “8 người”. Đây cũng chính là nói đến tấm lòng: chỉ cần luôn bao dung rộng mở thì có thể đón nhận được muôn người.

Ở một khía cạnh khác, “bát nhân” cũng là tám kiểu người mà chúng ta cần phải bao dung: “Thân nhân” (người thân), “Hữu nhân” (người bạn), “Lộ nhân” (người qua đường), “Ái nhân” (người vợ, chồng), “Lân nhân” (người hàng xóm), “Ác nhân” (người xấu), “Cừu nhân” (người thù địch) và “Ngu nhân” (người ngu ngốc).

8. Tín (信)

Chữ “Tín” (信) gồm chữ “Nhân” (亻) là người và chữ “Ngôn” (言) là lời nói. Con người cần phải có trách nhiệm với lời nói của mình, lời đã nói ra mà không thực hiện thì sao có thể giữ được chữ “Tín” đây?

Nho giáo cho rằng, Tín là một trong Ngũ Đức: “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín”. Trong Luận Ngữ có câu: “Nhân nhi vô tín, bất tri kì khả dã. Đại xa vô khẩu, tiểu xa vô ngột, kì hà dĩ hành chi tai?“, đại ý là nếu con người không giữ chữ Tín, cũng giống như một cỗ xe lớn không có đoạn gỗ chốt nối giữa càng xe và ách xe, xe sẽ không thể chạy được.

Vào thời Xuân Thu, có một người nước Ngô tên Quý Chát lần đầu tiên đi sứ sang nước Tần, đi ngang qua phía bắc của Từ quốc. Vua của nước Từ rất thích bảo kiếm của Quý Chát, nhưng không nói ra. Trong lòng Quý Chát biết điều đó nhưng vì vẫn phải đi sứ sang nước khác nên chưa thể tặng cho vua nước Từ được. Sau đó khi ông đi sứ xong và quay trở lại Từ quốc thì quốc vương nước Từ đã băng hà. Thế là ông liền cởi bỏ bảo kiếm xuống và treo trên cái cây trước mộ của đức vua. Tùy tùng của ông hỏi: “Thưa tướng quân, vua Từ quốc đã băng hà rồi, thì thanh bảo kiếm này còn phải tặng ai nữa?”. Quý Chát trả lời: “Không phải như ngươi nghĩ là xong đâu, ban đầu trong lòng ta đã quyết định tặng bảo kiếm cho ông ấy, sao mà có thể vì việc ông ấy đã mất rồi mà đi ngược lại với lời hứa của mình chứ!”.

Trong Sử ký – Quý Bố, Loan Bố liệt truyện có câu: “Đắc thiên lượng hoàng kim, bất như đắc quý bố nhất nặc” (Được trăm lạng vàng cũng không bằng một lời hứa của Quý Bố). Thời Hán Sở phân tranh, Quý Bố là tùy tướng của Hạng Võ, là một người rất coi trọng chữ Tín. Mỗi khi ông đã hứa hẹn với ai điều gì thì không bao giờ thất hứa. Cho nên người đời xem lời hứa của Quý Bố rất có giá trị, ví là quý hơn cả trăm nén vàng vậy. Người đời sau nói: “Lời hứa đáng giá ngàn vàng“, đều có ý chỉ lời hứa có giá trị vô cùng to lớn.

Nguồn : st

LỜI THƯƠNG
Hoàng Kim
Ta đi về chốn trong ngần
Để thương sỏi đá cũng cần có nhau
.

Học với chữ Hán Nôm
Tiếng Việt lung linh sáng

Mỗi ngày một chữ mới
PHẠN nối Thực với Phản

“Đã ăn cơm của ai
thì không được phản lại người đó”
xem tiếp https://hoangkimvn.wordpress.com/2022/04/23/hoc-voi-chu-han-nom/

https://www.youtube.com/embed/DUo6OlWFNP4?feature=oembedT học chiết tự 1146 chữ Nho https://youtu.be/DUo6OlWFNP4

LỜI THƯƠNG CÙNG THÁNG NĂM
Hoàng Kim

Lời ru vui giữa đời thường
Lời yêu
Lời nhớ
Lời thương
Lời chờ ,,,

Lời trầm tĩnh, lời mơ hồ
Lời sâu sắc luận, lời thơ thẩn buồn

Đồng xuân ấm nắng thái dương
Nhớ ngôi sao mọc sớm hôm từng trời

Yêu thương tiếng Việt một đời
Học ăn học nói thành người có nhân

Cuộc đời thoáng chốc trăm năm
Lời thương còn lại …
Tri âm lâu bền !

xem tiếp 9 bài thơ Lời thương https://hoangkimlong.wordpress.com/category/loi-thuong/

#vietnamhoc
NHÀ TÔI CHIM LÀM TỔ
Hoàng Kim

Thích quá đi.
Nhà tôi có chim về làm tổ
Cây bồ đề cuối vườn
Cò đêm về trắng xóa.

Gốc me cho con
Xanh non màu lá
Ong đi rồi về
Sóc từng đàn nhởn nhơ.

Cây sơ ri ba mẹ trồngLúc con tuổi còn thơNay như hai mâm xôiTròn đầy trước ngõ.

Cây mai Bác trồng
Bốn mùa hoa thương nhớ
Trúc xanh từ non thiêng Yên Tử
Trúc vàng ân nghĩa Đào Công.

Em ơi!
Hôm nay trên cây lộc vừng
Chim phượng về làm tồ
Mẹ dạy con tập bay
Sao mà đẹp thế !

Đá vàng trao hậu thế
Người hiền noi tiếng thơm …

xem tiếp

Đá vàng trao hậu thế
Người hiền noi tiếng thơm …


xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nha-toi-chim-lam-to/
(*) Vui sống giữa thiên nhiên; Năm đặc điểm nhà phong thủy tốt https://www.facebook.com/tuvinhansinh/videos/614699602550232/

CHIM PHƯỢNG VỀ LÀM TỔ
Hoàng Kim
Chim Phượng Hoàng đất vườn nhà tôi là một chuyện may mắn. Vườn nhà tôi có cặp chim Trĩ (Phương Hoàng đất) về làm tổ sinh ra bầy chim trĩ con tuyệt đẹp. Những cây cao trong vườn có cò, chào mào, sáo sậu, yến, …và sóc về nhiều. Chim hót đủ giọng và sóc chuyền cành thật vui. Tổ chim Trĩ trên cây lộc vừng trước cửa nhà tôi bị gió lớn hất xuống sân. Con chim Trĩ non mới nở được nhà tôi cho vào một chiếc rỗ con treo lên cây để chim bố mẹ hàng ngày có thể cho ăn. Tối đó đi Phú Yên về, tôi rọi đèn ra thăm, trăng 16 đã hơi muộn. Chim non cánh vẫn còn ngắn… Sáng ra, nghe tiếng líu ríu của bố mẹ, hai con chim Phượng sà xuống lần lượt cho con ăn và gù rất lạ như là khuyến khích con bay lên. Chim Trĩ non thốt nhiên bật dậy nhảy lên thành rỗ. Sau khi lấy đà, nó bay vù qua nơi chảng ba của cây lộc vừng với sự háo hức lạ. Sau đó bổ nhào xuống cây sơn và đậu vững vàng như một con chim thành thục. Cặp Phượng Hoàng đất chuyền cành trên cây me cho con, có bộ lông đẹp, xanh mướt như ngọc và đều hót vang. Con chim non rướn mình bay lên khóm mai và cũng líu ríu. Nó đã tự tin và học đang bay. Nó đậu chắc trên cây mai và chịu mưa gió mạnh suốt đêm. Tôi lo lắng hai ba lần ra soi đèn vẫn thấy chim đậu chắc trên cây chịu mưa gió. Tôi bỗng nhớ lời Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn: “Chim Hồng hộc bay được cao và xa là nhờ sáu cái trụ lông cánh, nếu không khác gì chim thường”.

chim-phuong-hoang-dat-9781-1381131449.jp
Phượng hoàng đất là Chim trĩ ( Buceros bicornis) là loài chim quý hiếm, với các loại trĩ đỏ, trĩ  xanh và trĩ đen. Trong dân gian nó được ẩn dụ với loài chim phượng hoàng cao quý rất hiếm thấy,  một trong tứ linh (long , ly, quy phượng), mà nếu ai gặp được thì rất may mắn. Theo Truyền thuyết về chim phượng hoàng thì  Phượng hoàng là biểu thị cho sự hòa hợp âm dương , biểu tượng của đức hạnh và vẻ đẹp duyên dáng, thanh nhã . Phượng Hoàng xuất hiện ở nơi nào thì nơi đó được mừng là đất lành, thịnh vượng, và điềm lành. Rồng và Phượng (hoàng) là biểu tượng cho hạnh phúc vợ  chồng, hòa hợp âm dương và thường được trang trí, chúc phúc trong các đám cưới ở Trung Quốc, Việt Nam và nhiều nước châu Á. Theo Kim Anh nguồn VN Express thì Phượng hoàng đất ở Tràng An  là loài Buceros bicornis, loài to nhất trong họ hồng hoàng, được phát hiện thấy tại một số khu rừng ở Tràng An Ninh Bình. Ở phương Nam, trong điều kiện đồng bằng tôi bất ngờ gặp loài chim trĩ  lông xanh đen (ảnh minh họa) là loài nhỏ hơn nhưng vẫn rất đẹp và quý mà tôi chưa có điều kiện để tra cứu kỹ ở Sinh vật rừng Việt Nam.

NGÀY QUỐC TẾ HẠNH PHÚC VÀ 18 LÔNG CHIM
Hoàng Kim

Ngày Quốc tế Hạnh phúc 20 tháng 3 là ngày được Liên Hợp quốc chọn tôn vinh niềm hạnh phúc của nhân loại. Mục tiêu của sự tôn vinh này không chỉ mang ý nghĩa biểu tượng mà còn là ngày của hành động, nỗ lực nhiều hơn để đem lại hạnh phúc tốt hơn cho người người trên trái đất.

Ngày Quốc tế Hạnh phúc được lấy từ ý tưởng của Vương quốc Bhutan là được đánh giá là nước có chỉ số hạnh phúc cao dựa trên các yếu tố như sức khỏe, tinh thần, giáo dục, môi trường, chất lượng quản lý và mức sống của người dân. Từ những năm đầu tiên của thập kỷ 70 thế kỷ XX, Bhutan là quốc gia đã ghi nhận vai trò của hạnh phúc quốc gia hơn là thu nhập quốc gia bằng việc thực thi mục tiêu tổng hạnh phúc quốc gia thay vì tổng sản phẩm quốc nội. Họ cho rằng nhu cầu về Ngày Hạnh phúc này là đối với tất cả quốc gia và con người trên toàn thế giới để có những bước vượt lên trên sự khác biệt giữa các nước và con người trên toàn thế giới, và liên kết, đoàn kết toàn nhân loại.

Ngày Quốc tế Hạnh phúc còn khởi nguồn từ nhu cầu về một cách tiếp cận tăng trưởng kinh tế cân bằng, hợp tình hợp lý hơn, nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững, xóa nghèo và phấn đấu vì hạnh phúc và sự thịnh vượng cho tất cả mọi người và xuất phát từ nguyện vọng mỗi người hãy chọn cho mình một quan niệm đúng về hạnh phúc, quan tâm đến vấn đề cốt lõi nhất trong sự tồn tại là làm sao tìm được thật nhiều niềm vui trong cuộc sống, làm lan tỏa những điều tốt đẹp nhất trên khắp hành tinh xanh.

Ngày này được Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon chính thức công bố tại một hội nghị của Liên hợp quốc từ vào ngày 28 tháng 6 năm 2012. Việc Liên hợp quốc chọn ngày 20 tháng 3 là Ngày Quốc tế Hạnh phúc xuất phát từ nguyên nhân đây là ngày đặc biệt trong năm, khi mặt trời nằm ngang đường xích đạo, nên trong ngày này có độ dài ngàyđêm bằng nhau và người ta cho đó là biểu tượng cho sự cân bằng, hài hòa của vũ trụ.[3] Cũng là biểu tượng của sự cân bằng giữa âmdương, giữa ánh sángbóng tối, giữa ước mơhiện thực từ đó ngày này được cho là sẽ truyền tải thông điệp rằng cân bằng, hài hòa là một trong những chìa khóa để mang đến hạnh phúc.[4]

Ban Ki-moon cũng tranh thủ nhân đó kêu gọi công dân tất cả các nước cam kết giúp đỡ những người xung quanh, thúc đẩy sự phát triển bền vững và toàn diện của nhân loại bằng tình yêu thương làm lan tỏa hạnh phúc và giúp chúng ta xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn để khi tham gia làm việc thiện, bản thân chúng ta cũng nhận lại những điều tốt lành.[3]

Ngày xuân phân, chúng tôi thành công với lúa siêu xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu, năng suất cao chất lượng tốt trên đồng ruộng. Tôi trở về nhà đúng ngày quốc tế hạnh phúc (*)  và may mắn nhặt được18 lông chim trong đó có 9 lông chim trĩ   rãi rác ở dưới gốc bồ đề, khóm trúc, vườn mai, khế, vú sữa … Thật đúng là sự may mắn an nhiên và niềm vui tình yêu cuộc sống. 20 tháng 3 năm 2014  ngày quốc tế hạnh phúc, với gia đình tôi là ngày xuân phân may mắn. Nhà tôi có chim về làm tổ. Tôi nhặt được 18 lông chim trong đó có 9 lông chim trĩ dưới gốc Cây bồ đề nhà tôi ra lá non sau khi Thăm siêu lúa xanh ở Phú Yên. (Ành HK)

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là hoa-mai.jpg

NƠI VƯỜN THIÊNG CỔ TÍCH
Hoàng Kim

Anh đưa lối em vào
Khu vườn thiêng cổ tích
Nơi trời đất giao hòa
Ong làm mật yêu hoa
Lá non đùa nắng mới

Nhạc đồng xuân thung dung
Đắm say hòa quyện
Ban mai mù sương sớm
Trời xanh trong như ngọc
Nơi cá nước chim trời
Vui với thú an nhiên…

Nơi khoảng lặng đất trời
Khu cổ tích vườn thiêng
Gốc mai vàng trước ngõ
Giấc mơ lành yêu thương

Nguyễn Thị Thủy Hoàng Kim

Bồ đề ra lộc non

Cây bồ đề nhà tôi ra lá non

Học với chữ Hán Nôm
Khiếu Năng Tĩnh Thi Viện


HÁN NÔM HỘI QUÁN

Trần Thanh Liêm  · odnprotsSe2t n:c4g5660l7mh f19ffu1u4 03lcág74f131túlu 4hct1g  ·

THƠ VIỆT CỔ Tĩnh Giang
Trúc vịnh 竹詠 • Vịnh cây trúc

Thơ » Việt Nam » Nguyễn » Khiếu Năng Tĩnh

☆☆☆☆☆

君子藩籬立有群,
Quân tử phiên ly lập hữu quần
喚晴驅雨手長伸。
Hoán tình khu vũ thủ trường thân.
造端夫婦先求得,
Tạo đoan phu phụ tiên cầu đắc,
家國從來保重臣。
Gia quốc tòng lai bảo trọng thần.

DỊCH NGHĨA :

Người quân tử như hàng rào che chắn, luôn sống có hội có phường (trúc mọc thành khóm, biểu trưng cho sự đoàn kết).

Có khả năng hô mưa gọi gió (ngụ ý người có tài năng, có tầm ảnh hưởng lớn), tay luôn duỗi dài để giúp đời.

Việc bắt đầu đạo làm người phải từ đạo vợ chồng (đạo đức gia đình là gốc), cần phải đạt được điều đó trước tiên.

​Từ xưa đến nay, nhà và nước luôn được bảo vệ bởi những người bề tôi trung kiên, trọng yếu.

*​​Bài thơ mượn hình ảnh cây trúc để nói về người quân tử và đạo trị gia, trị quốc.

Cây trúc dẻo dai, ngay thẳng chính là hình ảnh của những vị đại thần làm trụ cột cho đất nước.

DỊCH THƠ :

Quân tử kề vai đứng tựa rào,
Tay dài vẫy gió gọi mưa cao.

Đạo đời phu phụ cần xây trước,
Gia quốc muôn đời dựa hiền hào.

1. Bản dịch của Tĩnh Giang Thơ Việt Cổ

Quân tử biên cương có bạn bầy,
Đuổi mưa gọi tạnh vươn dài tay,
Ban đầu chồng vợ người đều có,
Tự cổ nước nhà thần trọng thay!

2. Bản dịch của Lương Trọng Nhàn.

#tretrúclâm rào dậu #Thungdung
Che mưa ngăn nắng dưỡng măng non
Vợ chồng con cái gia đình ổn
Nước nhà trọng trách biết chăm lo.
3. Bản dịch của Hoàng Kim #ana

Bồ Đề Nôi Hạnh Phúc
Đá Vàng Với Ban Mai
Khoai sắn thương ngày cũ
Thơ dâng tặng cho đời.

ÂN TÌNH ĐẤT PHƯƠNG NAM

Cho ta về lại ngày xưa
Thấm năm tháng con thơ
và nhiệm vụ
Phượng đỏ nhớ nhọc nhằn gạo đỏ
Ân tình đất phương Nam

Thăm thẳm trời sông Thương
Thương câu thơ lưu lạc
“Hoành Linh vô gia huynh đệ tán”
Tổ Quốc Gia Đình bước qua thời lửa đạn

Một gia đình yêu thương

Hoàng Kim
Trà sớm với Lão Nông
ĐÁ VÀNG VỚI BAN MAI CNM365 Tình yêu cuộc sống

Nhà có phong thủy tốt căn bản nhìn vào 5 đặc điểm này 1) Chim ong về làm tổ. 2) Ánh sáng vào tràn đầy 3) Kiến trúc vững kiên cố 4) Cửa chính hướng phong quang 5) Nhà vườn luôn sạch đẹp https://www.facebook.com/tuvinhansinh/videos/614699602550232/

Đồng Nai Nôi Bồ Đề
ĐI NHƯ MỘT DÒNG SÔNG
Hoàng Kim

1
Linh Giang sông quê hương
Lời thề trên sông Hóa
Đá Đứng chốn sông thiêng
Đại Lãnh nhạn quay về.

2
Lời dặn của Thánh Trần
Minh triết Hồ Chí Minh
Thầy nghề nông chiến sĩ
Đồng xuân lưu dấu hiền

3
Chuyện đời tôi Hoàng Kim
Chín điều lành hạnh phúc
Chim Phượng về làm tổ
Chung sức trên đường xuân

4
Nguyễn Trãi Dục Thúy Sơn
Nguyễn Du trăng huyền thoại
Tô Đông Pha Tây Hồ
Nguyễn Hiến Lê sao sáng

5
Việt Nam con đường xanh
Cây Lương thực Việt Nam
Ngày xuân đọc Trạng Trình
Sóc Trăng Lương Định Của.

6
Dạo chơi non nước Việt
Về Nghĩa Lĩnh Đền Hùng
Lên Trúc Lâm Yên Tử
An Viên Ngọc Quan Âm

7
Trường tôi nôi yêu thương
Dấu xưa thầy bạn quý
Thầy bạn là lộc xuân
Thầy bạn trong đời tôi

8
Giấc mơ thiêng cùng Goethe
Châu Mỹ chuyện không quên
Ấn Độ địa chỉ xanh
Trung Quốc một suy ngẫm

9
Giấc mơ lành yêu thương
Cuối dòng sông là biển
Sự chậm rãi minh triết
Cây đời mãi tươi xanh

Thương Kim Thiết Vũ Môn
NHỚ NÚI

Một gia đình yêu thương
Bà Đen Gia Ninh Trần
Tre rồng sông Kỳ Lộ
Thương Kim Thiết Vũ Môn

Cây Lương Thực Food Crops
CÂY LƯƠNG THỰC VIỆT NAM


Cây lương thực (Food crops) là nhóm cây trồng mà sản phẩm dùng làm lương thực cho người, nguồn thức ăn chính về năng lượng (tinh bột, đường) cacbohydrat và chất dinh dưỡng thiết yếu trong khẩu phần ăn. Chúng bao gồm các loại ngũ cốc (lúa, ngô, lúa mì, yến mạch), củ/rễ (khoai tây, khoai lang, sắn), các loại đậu/hạt (đậu nành, đậu phộng, đỗ), và cả trái cây/rau quả, đóng vai trò quan trọng trong an ninh lương thực toàn cầu, với các loại phổ biến nhất thế giới là lúa, ngô, lúa mì, khoai tây và sắn. CÂY LƯƠNG THỰC VIỆT NAM lúa, ngô (bắp), sắn, khoai lang là bốn loại cây lương thực chính Cây lương thực (Việt Nam) – Wikipedia tiếng Việt

Các loại cây lương thực chính

  • Lúa (Oryza sativa): Cây ngũ cốc quan trọng nhất, cung cấp gạo, là nguồn lương thực chính cho hơn một nửa dân số thế giới, đặc biệt là ở châu Á.
  • Ngô (Bắp): Một cây ngũ cốc quan trọng trên thế giới, dùng làm lương thực và thức ăn gia súc.
  • Sắn (Khoai mì): Cây trồng lấy củ giàu tinh bột, quan trọng ở các vùng nhiệt đới.
  • Khoai lang: Củ có thể dùng làm lương thực, cung cấp năng lượng.
  • Cao lương (Sorghum): Ngũ cốc quan trọng thứ 5 thế giới sau lúa, lúa mì, ngô, đại mạch.
  • Kê (Setaria): Hạt nhỏ, được sử dụng làm lương thực. 

Đặc điểm và vai trò

  • Nguồn cung cấp năng lượng: Cung cấp tinh bột và năng lượng chính cho khẩu phần ăn con người.
  • Giá trị toàn cầu: Lúa và ngô là những cây lương thực có tầm quan trọng toàn cầu, được trồng và tiêu thụ rộng rãi.
  • Phân biệt với lương thực khác: Ngũ cốc (hạt) có độ bền cao hơn trái cây có tinh bột và củ, phù hợp cho công nghiệp và dự trữ. 

Sản xuất lúa gạo tại Việt Nam

  • Vùng trọng điểm: Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Vụ mùa: Miền Bắc có vụ chiêm và vụ mùa; miền Nam có vụ đông xuân, hè thu và vụ ba. 

Một số sản phẩm Cây Lương thực Việt Nam thương hiệu Nông Lâm được nghiên cứu phát triển, trồng phổ biến trong sản xuất những năm qua, là lời biết ơn chân thành của các tác giả với Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 70 năm ngày thành lập (19/11/1955-19/11/2025), 80 năm Ngành Nông Nghiệp Việt Nam (1945-2025) với thầy bạn và đông đảo nông dân. Bài viết này giới thiệu một số đúc kết tư liệu liên quan Dạy và Học Cây Lương thực Việt Nam giúp bạn đọc tiện theo dõi. Cây Lương thực Việt Nam #cltvn

Hoàng Kim CNM365 Tình yêu cuộc sống
DẠY VÀ HỌC https://hoangkimvn.wordpress.com
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Mỗi sáng nạp tràn đầy năng lượng & Yêu thích sự bình an & Bí quyết sống thanh thản & 5 kiểu người càng sống càng có phước & 5 cách giao tiếp kỳ diệu với vũ trụ & 7 Dấu Hiệu Cho Thấy Bạn Không Phải Là NGƯỜI THƯỜNG & 8 KIẾP NẠN Bạn Đã VƯỢT QUA Mà Không Biết Dấu Hiệu Phước Báo Sắp Đến & 8 dấu hiệu tâm linh mạnh mẽ & 5 Dấu Hiệu Bạn Là Hậu Duệ Của Bồ Tát | Mang Căn Tu Từ Kiếp Trước Mà Không Biết & 9 DẤU HIỆU Bạn Có TRÍ TUỆ PHẬT ĐÀ Mà Không Nhận Ra | Thông Minh Khác Biệt Theo Lời Phật Dạy; Con xứng đáng với sự bình yên trong tâm mình . Tâm An

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365 Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn, Kim on Facebook, Kim on Twitter

Bản Giốc và Ka Long


BẢN GIỐC VÀ KA LONG

Thác Bản Giốc và sông Ka Long là nơi lưu dấu gợi nhớ những câu chuyên sâu sắc đời người không thể quên: Người lính trên tuyến đầu; Bản Giốc nhớ Nguyễn Duy; Nguyễn Duy cát trắng bụi; Về An Giang Nhớ Doãn Uẩn; Người lính già thời Bác; Người lính nơi đất Mẹ; Người mù điếc huyền thoại; Người vịn trời chấp sói; Chợt gặp mai đầu suối; Qua sông Thương bến nhớ; Cao Biền trong sử Việt; Câu cá bên dòng Sêrêpôk; Tư liệu này là điểm nhấn để đọc và suy ngẫm. Xem Video Bản Giốc và Kalong tuyệt đẹp ở đây https://www.facebook.com/AmazingThingsInVietnam/videos/260029285748758 và tích hợp Hiền Thúy LS https://www.facebook.com/reel/1349525653796231 trong tài liệu này

Hoàng Kim https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ban-gioc-va-ka-long/

n [2]:
Lùm Trần Thương ấy thắm sắc không!


Kim Hoàng

Hoàng Kim Lùm Trần Thương

Bản Giốc Ka Long đức núi sông[1],
Trống Mái trời thương độ vợ chồng.
Bắp chuối đất lành bền mưa nắng,
Hoa người khoai sắn vững gió đông.

Đồng cam vẹn kiếp nhờ cố gắng,
Cộng khổ ân tình quý nghĩa công
#nhàtôi duyên may #ngọclong trọn [2]:
Lùm Trần Thương ấy thắm sắc không!


Kim Hoàng

Hoàng Trần Gia nâng gánh non sông
Đường Sống Nam An chí nguyện chồng
Khoai Sắn Đất Lành Bền Mưa Nắng
Ngô Lúa Trời Thương Vững Gió Đông
Vẹn Kiếp Đồng Cam Bền Cố Gắng
Ân Tình Cộng Khổ Quý Nghĩa Công
Kim Thủy Thổ Mộc Hỏa Ước Trọn
Đồng Nai Nôi Bồ Đề Sắc Không


Hoàng Kim Cây Lương Thực

[1] Bản Giốc Ka Long là nơi Hoàng Kim ở trước khi về Trường ĐHNN2 Hà Bắc

[2] Lùm Trần Thương Tổ Quốc chỉ Đền Trần Thương (Hà Nam) và các nơi liên quan lời lưu truyền trong dân gian Sinh Kiềp Bạc, Thác Trần Thương Lương Lùm Trần https://baophapluat.vn/den-tran-thuong-noi-hoi-tu-gia-tri… là di tích quốc gia đặc biệt, nơi thờ Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn cùng các bộ tướng, nằm trên nền kho lương chính của nhà Trần trong kháng chiến chống quân Nguyên – Mông. Nơi đây nổi tiếng với lễ phát lương đầu năm, Lương của đức Thánh Trần gồm năm loại hạt chính: 1) (lúa gạo, 2) ngô (bắp), 3) khoai lang 4) sắn ; 5) đậu đỗ các loại (đậu nành, đậu xanh, đậu lạc, đậu đen, đậu đỏ) và/hoặc rau hoa cây thuốc thể hiện lòng tôn kính và khát vọng thái bình, gắn liền với di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia. Đền Trần Thương được coi là điểm kết nối lịch sử, thể hiện tinh thần yêu nước và tri ân bậc tiền nhân có công cứu quốc. Đền Trần Thương, nơi hội tụ giá trị lịch sử, văn hoá, tâm linh

• Vị trí: Xã Trần Hưng Đạo, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

• Ý nghĩa: Tôn vinh Trần Hưng Đạo và di sản văn hóa – tâm linh đặc sắc, điểm đến du lịch văn hóa.

• Kiến trúc: Độc đáo với bố cục phong thủy, đặc biệt có hệ thống 5 giếng nước cổ (giếng nhũ) biểu trưng cho sự đầy đặn, sinh khí.

• Lễ hội: Diễn ra dịp rằm tháng Giêng (lễ phát lương) và tháng 8 âm lịch (giỗ Đức Thánh Trần).

26 thg 9, 2023 — Hồ Trần Thương thuộc Quần thể di tích đền Trần Thương được đầu tư khang trang. Lễ hội truyền thống đền Trần Thương và Lễ phát lương…Báo Pháp luật Việt Nam Các hoạt động dự kiến diến ra trong lễ hội truyền thống Đền Trần Thương … 22 thg 9, 2025 — Đền được xây dựng vào thời Hậu Lê, nằm ngay trên nền kho lương của nhà Trần được xây để phục vụ cuộc chiến chống quân Mông-Nguyên … Sở Du lịch Ninh Bình Đền Trần Thương – Dấu ấn kho lương nhà Trần 13 thg 1, 2026 — Không gian linh thiêng và kiến trúc phong thủy độc đáo Đền Trần Thương được xây dựng theo bố cục chặt chẽ, hài hòa giữa kiến trúc … Nguồn đăng nhập Vietnam.vnhttps://cnm365.wordpress.com/…/29/cnm365-cltvn-29-thang-1/

Trần Tế Xương Thương Vợ

“Một thác nước tự nhiên, đẹp hùng vĩ bậc nhất thế giới nằm ở giữa ranh giới hai quốc gia, chứa đựng trong đó nhiều tiềm năng tài nguyên về thủy điện, du lịch. Một khu vực cửa sông tàu thuyền hai bên đi lại dễ dàng, giao thương thuận lợi. Tất cả những tiềm năng này đang chờ đợi sự đầu tư, hợp tác cùng khai thác”, theo VOV 27.11. 2015.

Sông Ka Long và sông Bắc Luân

Sông Ka Long theo bản đồ của Việt Nam xuất bản, bắt nguồn từ rìa bắc xã Quảng Đức, Hải Hà 21°36′36″B 107°41′2″Đ, phía tây cửa khẩu Bắc Phong Sinh cỡ 5 km, chảy uốn lượn về hướng đông đông bắc. Đoạn sông này dài cỡ 16 km. Sông KaLong đến “bãi Chắn Coóng Pha” ở bản Thán Phún xã Hải Sơn, Móng Cái 21°39′34″B 107°48′24″Đ, thì hợp lưu với Sông Bắc Luân bên Trung Quốc và đổi hướng chảy về đông, sau đó đông nam đến nội thị của thành phố Móng Cái. Toàn bộ đoạn sông nói trên là ranh giới tự nhiên cho đường biên giới Việt – Trung. Sông Kalong đến ranh giới phường Ka Long và Trần Phú ở thành phố Móng Cái thì sông chia thành hai nhánh 21°32′13″B 107°57′58″Đ: 1) Dòng Ka Long chảy trong đất Việt theo hướng Nam xuyên qua thành phố Móng Cái ra biển ở nơi giáp ranh giữa xã Hải Xuân và xã Vạn Ninh. 2) Chi lưu là dòng sông Bắc Luân chảy theo hướng đông, tiếp tục là đường biên giới Việt – Trung, đi qua rìa phía đông bắc phường Hải Hòa, dọc theo rạch Tục Lãm và đổ ra biển Đông ở cửa Bắc Luân. Sông Bắc Luân (Bei Lun He, Bắc Luân hà) phía Trung Quốc thì bắt nguồn từ núi Thập Vạn Đại Sơn 21°45′3″B 107°45′31″Đ ở Phòng Thành, Trung Quốc, chảy theo hướng đông nam tới vùng “bãi Chắn Coóng Pha”. Từ đây sông là ranh giới tự nhiên cho đường biên giới Việt – Trung đến cửa Bắc Luân. Sông có tổng chiều dài 109 km, trong đó đoạn tạo thành biên giới Việt Nam-Trung Quốc là 60 km.

Sông Ka Long là sông Bắc Luân Việt Nam phần chảy trong lãnh thổ Việt Nam và  biên giới Việt Trung. Dòng sông này cũng có chốn hợp lưu và có một phần chảy ở nước ngoài là sông Bắc Luân. Câu chuyện này cũng giống như dòng sông Sesan với dòng sông Mekong, đều có chốn hợp lưu, có một phần ở nước ngoài, và có nơi tự do chảy toàn trong lãnh thổ Việt Nam. Từ Mekong nhớ Neva, năm trước khi thăm lại Srepok, điểm hợp lưu quan trọng nhất của sông Mekong ở ngã ba Đông Dương, trong lần chuyển giao tiến bộ kỹ thuật canh tác sắn Tây Nguyên,  tôi liên tưởng và suy ngẫm về các dòng sông đất nước. Nay sông Kalong và sông Bắc Luân cũng là một câu chuyên tương tự.

Wikipedia tiếng Việt trích dẫn tư liệu Đại Nam nhất thống chí chépː “Sông Ninh Dương ở cách châu Vạn Ninh 1 dặm về phía tây. Nguồn (của sông này) từ các xã Thượng Lai và Mông Sơn tổng Bát Trang chảy về đông 37 dặm ven theo địa giới nước Thanh (đến ngã ba). Rồi chuyển (dòng) chảy sang phía đông 7 dặm, đổ ra cửa Lạch. Một nhánh chảy về phía nam 5 dặm đến xã Ninh Dương, lại chia làm 2 chiː một chi chảy về phía đông làm sông Trà Cổ, một chi chảy về tây nam 1 dặm đến đông nam núi Hữu Hàn chảy 10 dặm đổ ra cửa Đại… Ải Thác Mang ở xã Vạn Xuân, cách châu Vạn Ninh 2 dặm về phía bắc, giáp đồn phủ Đông Hưng của nước Thanh. Phàm hai nước có công văn đều do ải này giao đệ. (Đường bộ) đi đến tỉnh thành mất 8 ngày“.


Khu vực cửa sông Bắc Luân năm 1888. Công ước năm 1887 giữa Pháp và nhà Thanh lấy cửa sông này làm đường biên giới. Sông Palong nay bắc qua nhánh Ka Long chảy trong thành phố Móng Cái có 2 cầu là cầu Ka Long và cầu Hòa Bình, bắc qua nhánh Bắc Luân chảy dọc biên giới hiện có cầu Bắc Luân nối hai cửa khẩu quốc tế Móng Cái của Việt Nam và cửa khẩu Bắc Luân của Trung Quốc.

Ngày 13/09/2017 hai nước đã cùng khánh thành cầu Bắc Luân 2 Việt – Trung, là cây cầu thứ 2 nối giữa 2 thành phố cũng như 2 quốc gia, cũng là cây cầu dạng vòm lớn nhất Việt Nam. Đi qua cầu Bắc Luân 2 về đêm nhớ về Hoành Mô, Tiên Yên, Móng Cái kỷ niệm một thời của thuở xưa ‘Qua sông Thương gửi về bến nhớ‘ với bao kỷ niệm.

Thác Bản Giốc

Thác Bản Giốc là thác nước đẹp hiếm thấy tại xã Ðàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, trên các trang mạng Trung Quốc gọi là cặp thác Đức Thiên – Bản Ước là một nhóm thác nước nằm trên sông Quây Sơn tại biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc. Nếu nhìn từ phía dưới chân thác, phần thác bên trái và nửa phía tây của thác bên phải thuộc chủ quyền của Việt Nam tại xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng; nửa phía đông của thác bên phải thuộc chủ quyền của Trung Quốc tại thôn Đức Thiên, trấn Thạc Long, huyện Đại Tân, thành phố Sùng Tả của khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây. Thác nước này cách huyện lỵ Trùng Khánh khoảng 20 km về phía đông bắc, cách thủ phủ Nam Ninh của Quảng Tây khoảng 208 km.

Sông Quy Xuân theo cách gọi của phần dòng sông tại Việt Nam, còn tên chung của cả dòng sông theo tiếng Trung gọi là Quây Sơn,  Quy Xuân hà,  归春河, Guīchūn Hé, là một dòng sông quốc tế. Sông Quây Sơn có chiều dài 89 km với diện tích lưu vực là 1.160 km², độ cao trung bình của sông là 556 m. Sông chảy phần lớn trên địa bàn tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc và có chiều dài khoảng trên 20 km tại tỉnh Cao Bằng của Việt Nam. Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam sông Quy Xuân tại Việt Nam có một chi lưu là suối Cạn và sông có tổng chiều dài 38 km với diện tích lưu vực là 370 km2  hoặc theo Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam thì sông Quy Xuân phần chảy trong nội địa Việt Nam có tổng chiều dài 49 km với diện tích lưu vực 475 km² .

Sông Quy Xuân  bắt nguồn từ các khe suối tại huyện Tĩnh Tây, thành phố Bách Sắc của Quảng Tây, Trung Quốc sau đó chảy xuôi về phía nam hoàn toàn trong lãnh thổ Việt Nam tại xã Ngọc Côn của huyện Trùng Khánh thuộc tỉnh Cao Bằng, tiếp tục chảy theo hướng đông nam cho đến cực nam của xã Đình Phong rồi  chuyển hướng đông-đông bắc đến xã Đàm Thủy sông chuyển hướng đông nam và chảy đến khu vực thác Bản Giốc  tại xã Đàm Thủy (Việt Nam) với đối ngạn là  thôn Đức Thiên, trấn Thạc Long, huyện Đại Tân của thành phố Sùng Tả (Trung Quốc). Đường biên giới Việt Nam-Trung Quốc đi từ mốc 53 (cũ) lên cồn Pò Thoong giữa sông rồi đến điểm giữa của mặt thác chính của thác Bản Giốc. Sau đó sông Quy Xuân trở thành đường biên giới tự nhiên giữa Việt Nam (huyện Hạ Lang) và Trung Quốc (huyện Đại Tân). Đến xã Minh Long, Hạ Lang thì sông Quây Sơn chuyển sang hướng tây và chảy đến xã Lý Quốc, Hạ Lang  và đến trấn Thạc Long, thì sông chảy hoàn toàn trong lãnh thổ Trung Quốc. Sông Quy Xuân sau khi chảy vào lãnh thổ Trung Quốc, vẫn có hướng chính là hướng tây rồi nhập vào sông Hắc Thủy ở Thạc Long và sau đó lại nhập vào Tả Giang rồi đổ ra biển Đông tại vùng Châu Giang. Vì tính chất dòng chảy như vậy nên ở Trung Quốc sông được ca ngợi là “sông yêu nước” vì sự quấn quýt trở về. Sông Quy Xuân có thác Bản Giốc Việt Nam và cặp thác Đức Thiên – Bản Ước Trung Quốc được bình chọn và đánh giá là một trong các thác đẹp nhất Trung Quốc và Việt Nam.

Quảng Ninh và Cao Bằng là một phần đời tôi ở đó. Lên Việt Bắc điểm hẹn; Về Việt Bắc đêm lạnh nhớ Bác tôi đã kể ký ức về Thác Bản Giốc và sông Ka Long.“Việt Nam Trung Hoa núi liền núi sông liền sông”, đây là một thí dụ điển hình.

HOÀNG TỐ NGUYÊN TIẾNG TRUNG
黄素源 (越南) Hoàng Tố Nguyên Việt Nam
Dạy và học tiếng Trung trực tuyến
#htn Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung https://hoangkimvn.wordpress.com/category/hoang-to-nguyen-tieng-trung/https://hoangkimlong.wordpress.com/tag/htn. Bài học mới mỗi ngày https://hoangkimvn.wordpress.com/

Những bài giảng ấn tượng, cần học tập nâng cao kiến thức chuyên môn mỗi ngày https://youtu.be/pGakUEDBN_4?si=w48PYlfjMG_XwnbV (trích) Chia sẻ Chiều sông Thương https://youtu.be/6x8ZRp5A5qQ

Hoàng Gia An tiếng Anh
A NA TÌM ĐƯỢC NGỌC

THẾ GIỚI DẠY HỌC CỦA MẸ VỚI NA, HARRY VÀ CHỊ SÓC
#ana Mẹ Nguyên với Na, Harry và chị Sóc học ngoại ngữ
https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana
Lớp 10ATT ĐHNN2 Hà Bắc năm 2022 vừa có chuyến Du lịch sinh thái Việt điểm đến Bản Giốc và Ka Long. Một số ảnh tuyển chọn

CVC KS Nguyễn Quang Hoạch: sinh ngày 20/8/1947; nơi sinh Sơn Lễ, Hương Sơn, Hà Tĩnh; hộ khẩu thường trú Thôn 6, xã Đăk Cấm, TP Kon Tum, tỉnh Kon Tum; nguyên cán bộ định canh định cư, tỉnh Kon Tum. Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng năm 2022; SĐT 0326709568

Quadeochotgapmaidausuoi

CHỢT GẶP MAI ĐẦU SUỐI
Hoàng Kim

Nghìn dặm tìm anh chẳng gặp anh/ Đường về vó ngựa dẫm mây xanh/ Qua đèo chợt gặp mai đầu suối/ Đóa đóa vàng tươi xuân thắm cành“. Tôi biết bài thơ kỳ lạ này của Bác Hồ đăng trên báo khoảng năm 1970 do một chuyện ngẫu nhiên tình cờ nên nhớ mãi. Bài thơ kỳ lạ vì ẩn chứa nhiều triết lý sâu sắc không dễ thấy, vì nó là thơ của Bác Hồ mà ít thấy sách báo nào nhắc đến gần nửa thế kỷ qua.Thuở ấy, tôi mười bảy tuổi, đã cùng người anh trai Hoàng Ngọc Dộ ra thăm đèo Ngang. Chúng tôi vừa đi xe đạp vừa đi bộ từ chân núi lên đến đỉnh đèo. Gần cột mốc địa giới hai tỉnh trên đỉnh đường xuyên sơn, cạnh khe suối ven đỉnh dốc sườn đèo có cây mai rừng rất đẹp. Chúng tôi đang thưởng ngoạn thì chợt gặp xe của Bộ trưởng Xuân Thủy và  bí thư tỉnh ủy Quảng Bình Nguyễn Tư Thoan vừa tới. Họ đã xuống xe ngắm nhìn trời, biển, hoa, núi và bộ trưởng Xuân Thuỷ đã bình bài thơ trên.

Bộ trưởng Xuân Thủy là nhà ngoại giao có kiến thức rộng, bạn thơ của Hồ Chí Minh, giỏi dịch thơ chữ Hán. Ông cũng là người đã dịch bài thơ “Nguyên tiêu” nổi tiếng, nên khi tôi tình cờ được nghe lời bình phẩm trực tiếp của ông về bài thơ trên thì tôi đã nhớ rất lâu. Tôi cũng hiểu nghĩa rõ ràng cụm từ “Trung Nam Hải” từ dịp ấy.

Ba mươi năm sau, khi anh Gia Dũng sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu bài thơ “Tìm bạn không gặp” trong tập thơ “Ngàn năm thương nhớ” tuyển thơ một nghìn năm Thăng Long, Hà Nội. Bài thơ “Tầm hữu vị ngộ” của Bác do nhà Hán học nổi tiếng Phan Văn Các diễn nghĩa và dịch thơ. Nội dung tuy vẫn thế nhưng bản dịch mới lời dịch sát nghĩa chữ Hán hơn so với bản tự dịch thoáng ý của chính Bác và có khác MỘT chữ so với bài mà tôi được nghe bình trước đây. Đó là từ “nghìn dặm” được thay bằng từ “trăm dặm” (“bách lý tầm quân vị ngộ quân” thay vì “thiên lý tầm quân vị ngộ quân”). Bản dịch mới có lời ghi chú, nghe nói là của Bác. Bài thơ viết năm 1950 nhưng cảm xúc thực sự của Người khi thăng hoa bài thơ nổi tiếng này thì nay vẫn còn để ngỏ.

Hồ Chí Minh tầm hữu vị ngộ

Thiên lý tầm quân vị ngộ quân,
Mã đề đạp toái lĩnh đầu vân.
Quy lại ngẫu quá sơn mai thụ,
Mỗi đoá hoàng hoa nhất điểm xuân.

尋友未遇

千里尋君未遇君,
馬蹄踏碎嶺頭雲。
歸來偶過山梅樹,
每朵黃花一點春。

Nghìn Trăm dặm tìm anh chẳng gặp anh,
Đường về vó ngựa dẫm mây xanh.
Qua đèo chợt gặp mai đầu suối
Đóa đóa vàng tươi xuân thắm cành.

(Bản tự dịch của Hồ Chí Minh, theo Xuân Thủy)

“Trăm dặm tìm không gặp cố nhân
Mây đèo dẫm vỡ ngựa dồn chân
Đường về chợt gặp cây mai núi
Mỗi đoá hoa vàng một nét xuân”
(Bản dịch thơ của Phan Văn Các)

Bác ra nước ngoài từ đầu năm 1950 đến đầu tháng Tư mới về nước theo hồi ức “Chiến đấu trong vòng vây” của đại tướng Võ Nguyên Giáp. Bác lúc đó đã sáu mươi tuổi, bí mật đi đến Bắc Kinh gặp chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc Mao Trạch Đông rồi đi luôn sang Matxcơva gặp đồng chí Stalin. Bác cũng đi tìm gặp đại tướng Trần Canh khi chuẩn bị chiến dịch Biên giới. Trong cơn lốc của các sự kiện, Bác khẳng định: “ Tổng phản công của ta sẽ là một giai đoạn lâu dài. Rồi đây, có sự chi viện của Liên Xô và Trung Quốc về vật chất, vũ khí, trang bị, ta sẽ đỡ khó khăn hơn, nhưng giành được thắng lợi là phải do sức nỗ lực của chính bản thân ta quyết định”.

“Nghìn dặm” hay “trăm dặm”? “gặp bạn” hay “không gặp” hoặc “gặp nhưng không gặp về cách làm”? Ngữ nghĩa của câu thơ “Bách lý tầm quân vị ngộ quân” khác hẳn với “thiên lý tầm quân vị ngộ quân” và không đơn giản dịch là “Tìm bạn không gặp”. Dường như Bác đang đề cập một vấn đề rất lớn của định hướng chiến lược đối ngoại. Nhiều sự kiện lịch sử hiện tại đã được giải mã nhưng còn nhiều ẩn ý sâu sắc trong thơ Bác cần được tiếp tục tìm hiểu, khám phá thêm. Những năm tháng khó khăn của cách mạng Việt Nam “chiến đấu trong vòng vây”; Những tổn thất và sai lầm trong cải cách ruộng đất do sự thúc ép từ phía Liên Xô và sự vận dụng không phù hợp kinh nghiệm của Trung Quốc; Quan hệ của nước nhỏ đối với các nước lớn. Nhiều điều tinh tế ẩn chứa trong thơ Bác.

Ý tứ trong bài thơ của Bác rất gần với với một bài thơ cổ của Trung Quốc thời nhà Tống: “Tận nhật tầm xuân bất kiến xuân/ Mang hài đạp phá lãnh đầu vân/ Quy lai khước phá mai hoa hạ/ Xuân tại chi đầu vị thập phân”. Bài thơ tả một ni cô mang hài trèo đèo vượt núi cực khổ tìm xuân suốt ngày mà vẫn chẳng gặp xuân. Đến khi trở về mới thấy xuân đang hiện trên những cành mai trong vườn nhà.

Bác Hồ cũng vượt vòng vây phong tỏa, chịu nhiều gian khổ suốt bốn tháng ròng để tìm sự ủng hộ quốc tế cho cách mạng Việt Nam đang “chiến đấu trong vòng vây”. Trên đường về, qua đèo, Bác chợt gặp cây mai đầu suối và Bác đã ngộ ra được những vấn đề sâu sắc của phương pháp cách mạng. Đối diện với mặt trời đỏ “đông phương hồng, mặt trời lên” là mặt TRĂNG hiền hoà (rằm xuân lồng lộng trăng soi) và gốc MAI vàng cổ thụ bên SUỐI nguồn tươi mát (bên suối một nhành mai). Trăng, suối, hoa mai là những cụm từ quan trọng trong thơ Bác. Nó là triết lý ứng xử tuyệt vời của một nước nhỏ đối với các nước lớn trong quan hệ quốc tế phức tạp. Trời càng sáng, trăng càng trong, nước càng mát, mai càng nở rộ.

Hồ Chí Minh Thướng Sơn

“Thướng sơn”; là bài thơ Ngôn chí đặc sắc của Hồ Chí Minh viết ở Lũng Dẻ năm 1942, in tại: Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh, Nhà Xuất bản Văn học, Hà Nội, 1990, trang 14. Bài thơ ẩn ngữ lấy ý chủ đạo “nhành mai” đối “mặt trời hồng“. “bên suối một nhành mai.”

Thướng sơn

Lục nguyệt nhị thập tứ,
Thướng đáo thử sơn lai.
Cử đầu hồng nhật cận,
Đối ngạn nhất chi mai.

上山





Dịch nghĩa

Ngày hai mươi bốn tháng sáu,
Lên đến núi này.
Ngẩng đầu thấy mặt trời đỏ gần lại,
Bờ bên kia có một nhành mai.

Dịch thơ

Hai mươi tư tháng sáu,
Lên ngọn núi này chơi.
Ngẩng đầu: mặt trời đỏ,
Bên suối một nhành mai.
(Bản dịch của Tố Hữu)

Hăm tư tháng sáu hôm nay
Trèo lên trên đỉnh núi này dạo chơi
Ngẩng lên đỏ chói mặt trời
Bên kia khe một nhành mai xanh rờn
(Bản dịch của Xuân Thủy)

Ngày 24 tháng 6 là ngày gì trong lịch sử? Ngày 24 tháng 6 năm 1812 là ngày đại quân của Hoàng đế Pháp Napoléon Bonaparte vượt sông Neman, khởi đầu xâm chiếm Đế quốc Nga. Ngày 24 tháng 6 năm 1942 là ngày khởi đầu của chiến dịch Voronezh đại quân Đức Quốc Xã Adolf Hitler tấn công Voronezh, thành phố có tầm quan trọng chiến lược đặc biệt quan trọng bên bờ sông Đông, (là nguyên quán của Nikolai Fyodorovich Vatutin tư lệnh Phương diện quân Tây Nam, lực lượng phòng thủ chính của Liên Xô trong Chiến dịch phòng thủ Valuiki – Rossosh năm 1942). Về sau Adolf Hitler cho rằng hai ngày chậm trễ trong chiến dịch này đã làm Tập đoàn quân thiết giáp số 4 không kịp đến, làm giảm sức công phá và để cho Liên Xô kịp phòng thủ cứu nguy Stalingrad, thay đổi cục diện chiến tranh. Ngày 24 tháng 6 năm 1942 tại Lũng Dẻ, Hồ Chí Minh lên núi.

“Thướng sơn” và “Tầm hữu vị ngộ” là ẩn ngữ, câu thơ lưu lạc giữa đời thường. Hồ Chí Minh là người chuộng kinh Dịch và rất tinh tế, thường có những ứng xử ngẫu nhiên phù hợp với quy luật tất nhiên. Hồ Chí Minh trọn đời minh triết viết và nói thường có ẩn ý. Như 19 tháng 5 là ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng là ngày thành lập Việt Minh, cũng là ngày khai sinh  đường Hồ Chí Minh trong lịch sử. Chuỗi ba sự kiện lớn này đóng mốc son ngày 19 tháng 5 vào lịch sử Việt Nam và thế giới đối với nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sự nghiệp thống nhất Tổ quốc Việt Nam.

“Thướng sơn” (lên núi) là lên non thiêng ‘chống gậy lên non xem trận địa”, để xác định đúng tình thế, thời cơ và phương pháp cách mạng “tùy cơ, tùy vận, tùy thiên mệnh, tùy thời, tùy thế lại tùy nghi” là minh triết Hồ Chí Minh.”Đi đường mới biết gian lao. Núi cao rồi lại núi cao chập chùng . Núi cao lên đến tận cùng. thu vào tầm mắt muôn trùng nước non” (Đi đường, Hồ Chí Minh) Lên núi là để xem thế trận biến ảo khôn lường dự báo kêết quả thắng thua của Chiến tranh thế giới thứ hai. Tôn Trung Sơn thời Trung Hoa Dân Quốc, đưa ra đại kế “Liên Nga, thân Cộng, ủng hộ Công Nông, Tam Dân chủ thuyết” Uông Tinh Vệ nối nghiệp Tôn Trung Sơn cùng Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch.là “tam hùng”. Uông Tinh Vệ trước tả sau hữu, kết giao người Nhật và trở thành Hán gian vì Uông Tinh Vệ cho rằng Đức Nhật Ý sẽ thắng Nga Mỹ Anh Trung Hoa Dân Quốc.

Hồ Chí Minh nguyên tiêu

Nhân nói thêm dịch bài thơ “Nguyên tiêu” Hồ Chí Minh, kiệt tác trong “100 bài thơ hay nhất Việt Nam thế kỷ 20” thì bản dịch thơ của Xuân Thủy được nhiều người yêu thích hơn cả. Tuy vậy nghe nói là Cụ Hồ đã hỏi vui Bộ trưởng Xuân Thủy rằng câu thơ “Xuân giang, xuân thủy tiếp xuân thiên” (sông xuân, nước xuân tiếp trời xuân) khi dịch là “Sông xuân nước lẫn bầu trời thêm xuân” thì ba chữ xuân sao chỉ còn lại hai chữ xuân? Đó cũng là sự tinh tế (như Bộ trưởng Xuân Thủy làm Bộ trưởng không Bộ vậy).

Rằm Tháng Giêng
Hồ Chí Minh

Rằm xuân lồng lộng trăng soi,
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân.
Giữa dòng bàn bạc việc quân,
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

(Bản dịch thơ của Xuân Thuỷ)

Nguyên tác




滿

Nguyên tiêu

Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên,
Xuân giang, xuân thủy tiếp xuân thiên.
Yên ba thâm xứ đàm quân sự,
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.

Dịch nghĩa

Đêm nay, rằm tháng giêng, trăng vừa tròn,
Nước sông xuân tiếp liền với màu trời xuân.
Giữa nơi khói sóng thăm thẳm, bàn bạc việc quân,
Nửa đêm trở về, thuyền chở đầy ánh trăng.

Tháng 2 năm 1948.

Nguồn:
1. Hồ Chí Minh – Thơ, NXB Văn học, Hà Nội, 1975
2. Hồ Chí Minh toàn tập (tập 5), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000

Nhành mai trong thơ Bác

Bài thơ “Tầm hữu vị ngộ” Hồ Chí Minh câu thơ nguyên tác cuối bài là  “Mỗi đóa hoàng hoa nhất điểm xuân”. Giáo sư tiến sĩ Hán học Phan Văn Các, nguyên Viện trưởng Viện Hán Nôm đã dịch là “Mỗi đóa hoa vàng một nét xuân”. So câu chữ là rất chuẩn và rất sát nghĩa. Thế nhưng, tôi lại nghe cố bộ trưởng nhà thơ Xuân Thủy, người đã dịch kiệt tác bài thơ “Nguyên tiêu” ra tiếng Việt, nói năm 1970 thì “Ông Cụ” đã tự mình dịch câu thơ trên là “đóa đóa vàng tươi xuân thắm cành”.

Câu thơ “Đình tiền tạc dạ nhất chi mai” của Thiền sư Mãn Giác (Lý Trường,1051-1096) theo Minh Đức Triều Tâm Ảnh được dẫn lại và phân tích sâu thêm của Nguyễn Khôi, thì đáng chú ý nhất và khó dịch nhất là “nhất chi mai”.

Nhiều người dịch “nhất chi mai” là “một nhành mai, một nhánh mai, một cành mai”, thật ra phải hiểu “nhất chi mai” còn có nghĩa là “một đóa mai” mới thấu hiểu hết nghĩa thâm thúy. Một đóa là đủ cho cái tối thiểu, là đủ đại biểu cho mùa xuân, như một câu thơ có trước đó của Thiền sư Tề Kỷ (864-937) bạn của Thi sĩ Trịnh Cốc (849-911) đời nhà Đường đã sáng tác bài:

TẢO MAI

Vạn mộc đống dục chiết
Cô căn noãn độc hồi
Tiền thôn thâm tuyết lý
Tạc dạ nhất chi khai.
Phong đệ u hương khứ
Cầm khuy tố diễm lai
Minh niên như ưng luật
Tiên phát ánh xuân đài.

MAI NỞ SỚM

Vạn cây băng giá chết
Một cội ấm mọc ra
Đầu xóm trong tuyết đặc
Một cành đêm nở hoa.
Gió xa đem hương ẩn
Chim ngắm hoa trắng ngà
Năm tới như đúng tiết
Mừng Xuân sáng ánh tà.

Chuyện kể rằng: Khi thiền sư Sư Tề Kỷ, sau khi viết xong, vốn tính khiêm tốn đã đem sang nhờ Thi sĩ Trịnh Cốc “góp ý kiến”, Trịnh Cốc đọc nhanh, rồi nói “sổ chi” phi “tảo” dã, vị nhược “nhất chi” giai (“mấy cành” chưa phải là sớm, chưa hay bằng “một cành”). Thiền sư Sư Tề Kỷ bèn sửa thành “Tạc dạ nhất chi khai”(một cành đêm nở hoa) bất hủ.

Bài thơ của Mãn Giác so với Tề Kỷ thì tương tự, nhưng có phần thâm viễn hơn. Với ý muốn nhắn gửi với đời về lẽ chuyển dịch vô thường không dao động đến tâm an nhiên của ta (theo Trần Tuấn Kiệt); Còn theo Ngộ Không thì nên hiểu: ở đây “xuân tàn” là trầm luân, “hoa lạc tận” là hư vô, giữa mê và Ngộ, phân ra hữu và vô, có và không. “nhất chi mai” chính là giác ngộ với trong sinh có diệt, trong diệt có sinh.”

“Mỗi đóa hoàng hoa nhất điểm xuân” là “nhành mai” điểm nhấn tinh tế trong thơ Bác. Tại đây, Hồ Chí Minh chỉ rõ là “đóa” cụ thể là “một đóa mai” (nhất chi mai) nhưng Hồ Chí Minh tài tình chỉ rõ là “hoàng hoa” “đóa mai vàng” rất phù hợp và thông dụng ở Việt Nam, khác với mơ, mận, mai trắng, có nhiều ở xứ lạnh nhưng ít thông dụng ở xứ ấm như Việt Nam. Hồ Chí Minh lại viết ba chữ “nhất điểm xuân” đồng nghĩa nhưng khác sự diễn đạt với “nhất chi mai”, lời dịch nghĩa lại thoáng nghĩa “đóa đóa vàng tươi xuân thắm cành” thuần Việt hoàn toàn và khẳng định chân lý “toàn thể mới làm nên mùa xuân đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công thành công đại thành công.

Qua đèo chợt gặp mai đầu suối là tuyệt phẩm. “đóa đóa vàng tươi xuân thắm cành” là câu thơ kiệt tác của Hồ Chí Minh.

ĐƯỜNG XUÂN THEO CHÂN BÁC
Bài học lớn muôn đời

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Nguyên khí quốc gia thịnh thì đất nước mạnh

VOV.VN – Dẫn lời Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Nước nhà cần phải kiến thiết; kiến thiết cần phải có nhân tài”; “Trí thức là vốn liếng quý báu của Dân tộc…”

{trích …)

tong bi thu nguyen phu trong nguyen khi quoc gia thinh thi dat nuoc manh hinh anh 4

Tổng Bí thư đề nghị Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam: “Tiếp tục làm tốt hơn nữa nhiệm vụ tư vấn, phản biện trong quá trình xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật với các tiêu chí cụ thể, thu hút, trọng dụng, sử dụng, đãi ngộ và tôn vinh trí thức, nhằm xây dựng đội ngũ trí thức nước ta không ngừng lớn mạnh, bảo đảm đủ số lượng và chất lượng, có cơ cấu phù hợp, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong thời kỳ hội nhập; có kế hoạch bố trí, sử dụng đội ngũ trí thức một cách hợp lý; có chính sách thu hút trí thức trẻ được đào tạo chính quy thực sự có trình độ, năng lực, có phẩm chất đạo đức tham gia hoạt động trong các viện nghiên cứu, nhà trường và doanh nghiệp; xây dựng cơ chế, chính sách thu hút, tập hợp trí thức là người Việt Nam ở nước ngoài tích cực tham gia hiến kế, hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ mới; quan tâm công tác khuyến khích, tôn vinh những trí thức có thành tích xuất sắc trong hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.

Đặc biệt, tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác cùng với các tổ chức hội thành viên phải nâng cao tính chủ động, năng động, sáng tạo; có nhiều nội dung, hình thức hoạt động phong phú gắn với chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế – xã hội của ngành, khu vực và cả nước, thu hút ngày càng đông các hội viên tham gia, động viên anh chị em có nhiều đóng góp tâm sức, trí tuệ vào công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ vững chắc sự bình yên của nước nhà”./.

Văn Hiếu/VOV Nguồn https://vov.vn/chinh-tri/tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-nguyen-khi-quoc-gia-thinh-thi-dat-nuoc-manh-post1009460.vov

Mong muốn Hoa Kỳ hỗ trợ Việt Nam xây dựng ngành công nghiệp năng lượng tái tạo

NDO – Chiều 9/9, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính tiếp Đặc phái viên của Tổng thống Hoa Kỳ về khí hậu John Kerry đang thăm làm việc tại Việt Nam.

Chào mừng Đặc phái viên John Kerry trở lại Việt Nam đúng vào dịp Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden thăm cấp nhà nước tới Việt Nam theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhất trí với ông Kerry về việc quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam-Hoa Kỳ ngày càng thực chất, đi vào chiều sâu, ổn định trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị của nhau.

Thủ tướng đánh giá cao nỗ lực của Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden, Đặc phái viên John Kerry trong triển khai nỗ lực toàn cầu nhằm nâng cao nhận thức và hành động ứng phó với biến đổi khí hậu; mong muốn hợp tác với Hoa Kỳ trong các lĩnh vực này, trên cơ sở phù hợp điều kiện kinh tế-xã hội của Việt Nam, đáp ứng lợi ích và quan tâm của nhân dân hai nước.

Thủ tướng cho biết, Việt Nam đã và đang nỗ lực thực hiện giảm phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 như đã cam kết tại Hội nghị COP26; triển khai các bước thực hiện thỏa thuận JETP; đã ban hành Quy hoạch điện VIII, trong đó có thúc đẩy chuyển đổi năng lượng…; nhấn mạnh, Việt Nam có tiềm năng lớn về nắng và gió để phát triển năng lượng tái tạo; phát triển năng lượng tái tạo là yêu cầu khách quan của Việt Nam, do đó, Việt Nam đang triển khai các kế hoạch phát triển ngành công nghiệp này một cách bài bản. Việt Nam đang khẩn trương hoàn thiện thể chế, trong đó có thể chế về nguồn điện, tải điện, giá điện; huy động các nguồn vốn; thúc đẩy chuyển giao công nghệ; đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển năng lượng tái tạo.

Nguồn: https://nhandan.vn/mong-muon-hoa-ky-ho-tro-viet-nam-xay-dung-nganh-cong-nghiep-nang-luong-tai-tao-post771688.html

Lưu Huyền Đức Khổng Minh hai câu nói thấm thía nhân cách; Thật vui mừng được chép về #cnm365 Tình yêu cuộc sống https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-9-thang-9

Thất bại không đáng sợ, đáng sợ nhất là để mất lòng người.

Lưu Bị hành sự trước sau đều có một đặc điểm lớn nhất chính là thà chịu thất bại, thà nhận phần thiệt thòi chứ không bao giờ làm chuyện trái nhân, trái nghĩa. https://youtu.be/Xpe0nDHGqOQ

Ông có phải là người ăn cắp quýt ở trong bữa tiệc của Viên Thiệu đó không? Xin hãy ngồi nghe ta giảng giải cho:

Tào Tháo đã là con cháu tướng quốc họ Tào, thì là đời đời làm tôi nhà Hán, nay dám chuyên quyền ngang ngược, khinh nhờn cả vua; như thế hắn không những là vô quân mà lại là khinh cả tổ tiên mình; không những là loạn thần nhà Hán, mà còn là đứa con bất hiếu của họ Tào nữa.

Lưu Dự Châu đường đường một đấng tôn thất, đương kim hoàng đế hiện đã xét gia phả và phong tước cho, sao dám bảo là không có căn cứ?

Vả đức Cao tổ ngày xưa, xuất thân làm đình trưởng, mà sau được thiên hạ, thì dệt chiếu, bán giày có gì là nhục? Kiến thức ông như trẻ con, không nên ngồi nói chuyện với cao sĩ.

Nguồn: #Gia_Cát_Lượng#Thiệt_chiến_quần_nho#Khổng_Minh

Xây dựng học liệu mở #htn #vietnamxahoihoc #cnm365 #dayvahoc #vietnamhoc, #cltvn Việt Nam xã hội học (越南社会学; Vietnamese Sociology) Ngữ văn Việt Trung đối chiếu là môn học bảy bài Xã hội Việt Nam ngày nay; Nông nghiệp sinh thái Việt; Ngành nghề ở Việt Nam; Vùng sinh thái Việt Nam; Du lịch sinh thái Việt; Nước Việt Nam ngày nay; Việt Nam con đường xanh với 36 tiểu mục, là sách học Việt Trung.

XÃ HỘI VIỆT NAM 越南社会
Hoàng Tố Nguyên
#htn #vietnamxahoihoc #vietnamhoc #cnm365 https://hoangkimvn.wordpress.com

“Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Lời Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong “Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa , ngày 15.9. 1945. #cnm365

Việt Nam xã hội học (越南社会学; Vietnamese Sociology) Ngữ văn Việt Trung Anh đối chiếu là môn học gồm bảy bài: Xã hội Việt Nam ngày nay; Nông nghiệp sinh thái Việt; Ngành nghề ở Việt Nam; Vùng sinh thái Việt Nam; Du lịch sinh thái Việt; Nước Việt Nam ngày nay; Việt Nam con đường xanh, với 36 tiểu mục.

Bài 1 Xã hội Việt Nam ngày nay gồm có 5 tiểu mục 1.1 Việt Nam một khái quát; 1.2 Việt Nam con đường xanh; 1.3 Việt Nam tâm thế mới; 1.4 Việt Nam sáng tạo KHCN; 1.5 Việt Nam dư địa chí

Bài 2 Nông nghiệp sinh thái Việt gồm có 5 tiểu mục: 2.1 Phát triển nông thôn mới; 2.2 Chương mục tiêu quốc gia; 2.3 Nông nghiệp công nghệ cao; 2.4 Nông nghiệp Việt trăm năm; 2.5 Chuyển đổi số nông nghiệp.

Bài 3 Ngành nghề ở Việt Nam gồm có 5 tiểu mục: 3.1 Minh triết Hồ Chí Minh 3.2 Ngành nghề Việt Nam ngày nay; 3.3 Chuyển đổi số Quốc Gia;3.4 Việt Nam tâm thế mới; 3.5 Việt Nam học tinh hoa

Bài 4 Vùng sinh thái Việt Nam gồm có 5 tiểu mục 4.1 Vùng kinh tế Việt Nam; 4.2 Vùng kinh tế động lực; 4.3 Làng Việt xưa và nay; 4.4 Ngôn ngữ văn hóa Việt; 4.5 Tiếng Việt lung linh sáng

Bài 5 Du lịch sinh thái Việt gồm có 5 tiểu mục: 5.1 Hà Nội mãi trong tim; 5.2 Quê Mẹ vùng di sản, 5.3 Ân tình đất phương Nam; 5.4 Bản Giốc và Ka Long; 5.5 Giếng Ngọc vườn Tao Đàn

Bài 6 Nước Việt Nam ngày nay gồm có 5 tiểu mục: 6.1 Phát triển nông thôn mới; 6.2 Bảo tồn và phát triển; 6.3 Chuyển đối số Quốc gia; 6.4 Vườn Quốc Gia Việt Nam; 6.5 Di sản Thế giới tại Việt Nam

Bài 7 Việt Nam con đường xanh gồm có 5 tiểu mục: 7.1 Minh triết Hồ Chí Minh; 7.2 Đường xuân theo chân Bác; 7.3 Chung sức trên đường xuân; 7.4 Ca dao Việt ‘Cày đồng’; 7.5 Dạo chơi non nước Việt

BÌNH MINH AN NGÀY MỚI

BÌNH MINH AN TIẾNG TRUNG

#ana Nhà tôi cõi nhân sinh https://youtu.be/2F-XbSmtr90
#hgb https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana
&hgm https://cnm365.wordpress.com/

Cháu vui chơi cùng bạn
Con dạy học suốt ngày
Ông Bà hóng với bé
Nhớ Thầy Nông chân quê

(*) Hội thảo khoa học Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao tiếng Trung Quốc từ lý thuyết đến thực tiển, thành phố Hồ Chí Minh 21-22 tháng 8 năm 2024 xem tiếp https://cn.sggp.org.vn/ & “Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê” . Nhớ Thầy Võ Tòng Xuân https://youtu.be/NSNJca4IhDA

HOÀNG TỐ NGUYÊN TIẾNG TRUNG

https://youtu.be/_RA_P3g6icY Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung tọa đàm ngôn ngữ quốc tế ‘ ULIS UNC 2024 Hà Nội Việt Nam https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana & #htnhttps://hoangkimvn.wordpress.com/category/htn & https://www.facebook.com/reel/970376038205245 Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung Tọa đàm Quốc tế MỚI

A Na bà chúa Ngọc A Na Bình Minh An

Bài học mới cập nhật: 1000 cụm từ tiếng Anh để nói những gì bạn muốn nói https://youtu.be/7hM2Cv3UHlY?si=YrfKQwUGCqAeuFl8 ;

NGỌC PHƯƠNG NAM NGÀY MỚI
Đất Mẹ vùng di sản
Mái trường bên dòng Gianh
Trường tôi nôi yêu thương
Sự chậm rãi minh triết
Ban mai chào ngày mới
Một gia đình yêu thương

Bài viết mới trên DẠY VÀ HỌC
https://hoangkimvn.wordpress.com bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
Bài ca thời gian
Chỉ tình yêu ở lại
Ngày hạnh phúc của em
Giúp bà con cải thiện mùa vụ
Quà tặng cuộc sống yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365; Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn; Kim on Facebook Kim on Twitter

Chuyện đời không thể quên


TÌNH NGƯỜI CÂY VÀ ĐẤT
Chuyện đời không thể quên
Nhớ vầng trăng ngọn lửa
Thương ký sự mưa bay
Tình Người Cây Và Đất


Cây Lương thực Việt Nam
Đồng Nai Nôi Bồ Đề
Cha là nắng của con
Mẹ là mưa lành đất

Sông Đồng Nai yêu thương
Núi Chứa Chan Xuân Lộc
Lùm Trần Thương Tổ Quốc
Bà Đen Ngọc Phương Nam

Trà Sớm Với Lão Nông
Thung Dung Chào Ngày Mới
Chậm rãi học lắng đọng
Nha Trang mùa hạ nhớ *

Đồng Nai Nôi Bồ Đề
Sông Thiêng** đường ta đi
Ngắm Lộc Bình chốn cũ
So lời kể Vương Khang


Nhớ ‘Tiếng chim khảm khắc’
Mười Vui Và Mười Thương.

Hoàng Kim Cây Lương Thực tiếp vần
Ngọc Hương thơ Hưng Lộc
TÌNH NGƯỜI CÂY VÀ ĐẤT

#KimNotes: Nha Trang mùa hạ nhớ*Sông Thiêng** là thơ nhạc Nguyễn Đình Chi (bạn học chung Lớp TT4 ĐHNN2 Hà Bắc)

Ngọc Hương Thơ Hưng Lộc
TÌNH NGƯỜI CÂY VÀ ĐẤT

Bốn mươi năm ấy mặn nồng
Gắn đời mình với ruộng đồng quê hương
Tay bùn chân lấm vấn vương
Đem khoa học gửi yêu thương vào đời


Đậu xanh HL89E3
Hạt tròn mẩy chắc cho người ấm no
HL92 đậu tương hẹn hò
Mùa vàng trĩu hạt, con đò nặng vai


HL25 lạc ngọt bùi thay
Tím hoa, chắc củ, sum vầy xóm thôn
Bốn giống ngô lớn xanh rờn
VN 2599
, VN112, MN585 lại còn Max7379

Bắp vàng nặng trĩu đầy tay
Là bao tâm huyết tháng ngày không quên.


Phạm Văn Ngọc. 2026- IAS

Chung Một Niềm Tin

Chuyện kể rằng ở một góc phòng thí nghiệm
Có ba người chung một giấc mơ xanh
Anh Phạm Văn Ngọc – bền bỉ, chân thành
Anh Hoàng Kim – một lòng vì hạt giống
Và anh La Đức Vực – người đi trước, mở đường.


Ba con người, ba mảnh đời
Chung một niềm tin và nghị lực:
“Lấy ruộng đồng làm trường đời để học
Lấy hạt giống làm thước đo lòng kiên nhẫn!”


Dấu Ấn Không Phai
Bốn mươi năm, bao mùa lai tạo
Mồ hôi ba người đã thấm vào từng hạt.
Nhớ không anh Ngọc, anh Kim, anh Vực

Đêm đầu tiên đậu xanh xung trận
HL89-E3 – đứa con chung, xanh màu hy vọng
Là kết tinh của những lần trăn trở với Khảm vàng.
Rồi HL92 – đậu tương vàng óng
Ngắn ngày, chín sớm giữa mùa mưa,
Có nụ cười của anh Vực hiền vui
Có cái gật gù tâm đắc của anh Kim
Và có bàn tay nâng niu của anh Ngọc.
HL25 – giống lạc tím hoa
Vẫn còn đó bóng dáng ba anh trên đồi cát nắng
Người mất, người còn, nhưng giống vẫn còn đây
Hạt vẫn nảy, hoa vẫn tím, tình bạn vẫn đầy.
Và tự hào thay – bản hùng ca ngô!
VN2599, VN112 và Max7379
Ba giống ngô – như ba anh em
Đứng thẳng, hiên ngang giữa bạt ngàn nương rẫy
Là thành quả của tình bạn, tình đồng chí
Mà anh Vực đã vun trồng từ những ngày đầu gian khó.


Viết Tiếp Giấc Mơ
Giờ đây, anh Vực đã đi xa
Về với đất – nơi anh đã yêu cả cuộc đời
Anh đi rồi, nhưng hạt giống anh gieo vẫn ở lại
Nảy mầm trong tim hai người bạn cũ.
Anh Ngọc, anh Kim vẫn miệt mài
Trên con đường xưa, có thêm nỗi nhớ.
Nỗi nhớ hóa thành động lực
Để viết tiếp giấc mơ còn dang dở:
Là Waxy nếp trắng dẻo thơm mùi sữa
Là Waxy nếp tím dẻo ngọt tình người
Hai giống mới sắp thành hình
Như nén tâm nhang thơm ngát kính dâng lên anh!
Anh Vực ơi, anh có thấy không?
Nơi ruộng thí nghiệm, bắp nếp tím sắp trổ bông
Trắng và tím – hai màu thuần khiết
Như tình bạn ba anh – trước sau như một.


Tên Người Hóa Hạt
Bốn mươi năm, một đời gieo hạt
Tên anh Ngọc đã hóa viên ngọc đất
Tên anh Kim đã hóa thành vàng mười của giống
Tên anh Vực đã hóa thành yêu thương sâu thẳm.
Ba người – một con đường
Người đã khuất, người còn ở lại
Nhưng tất cả đã hóa thành HẠT
Hạt giống của tình bạn, của đam mê,
Của một đời khoa học không ngơi nghỉ!


Phạm Văn Ngọc. 2026-IAS

Nghiên cứu và phát triển mô hình trồng bắp lai xen đậu xanh ở Đông Nam Bộ
Hoàng Kim, Phạm Văn Ngọc và Mai Văn Quyền

Mô hình trồng hai hàng bắp lai xen sáu hàng đậu xanh ở Đông Nam Bộ đã được nghiên cứu phát triển trãi 10 năm (1985-1995) và được ứng dụng rộng rãi phổ biến trong sản xuất được đánh giá cao. Báo cáo trình bày tại Hội nghị lần thứ V của chương trình Hệ thống Canh tác Việt Nam được tổ chức ở Trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội ngày 28-30 tháng 11 năm 1994, Kết quả cũng đã được in trong sách kết quả nghiên cứu hệ thống canh tác năm 1993. Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hệ thống Canh tác Đồng bằng Sông Cửu Long- Đại học Cần Thơ, Hậu Giang, Trang 111-117. Mô hình trồng hai hàng bắp lai xen sáu hàng đậu xanh đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận là tiến bộ kỹ thuật năm 1995.

Giống đậu xanh HL89E3

GIỐNG ĐẬU XANH HL 89-E3
Hoàng Kim, Nguyễn Văn Chương

1.Nguồn gốc

            Tác giả: Nguyễn Văn Chương, Hoàng Kim và cộng tác, Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc thuộc Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam.           

Giống đậu xanh HL 89-E3 có tên gốc IPB M79-9 82, nhập nội từ Philippines năm 1987. Giống được công nhận tạm thời theo Quyết định số 45/NN-KHKT/QĐ ngày 6/3/1991, công nhận chính thức theo Quyết định số 126/NN-KHKT/QĐ ngày 21/5/1992. Đây là giống có tính thích nghi cao, năng suất ổn định và được duy trì đến ngày nay, sử dụng nhiều trong sản xuất ở các tỉnh phía Nam (trang 69 dòng 5 dl. Kỷ yếu khoa học giai đoạn 1975-2025. Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam).

2. Những đặc điểm chính

–          Thời gian sinh trưởng: 60 – 65 ngày.

–          Cao cây 60 – 70 cm, lá dày, xanh trung bình.

–          Ra hoa và chín tập trung, tỷ lệ thu hoạch lần 1 đạt khoảng 80-90%.

–          Quả màu đen, dài khoảng 8-10 cm, đóng hạt dày và chặt.

–          Hạt màu xanh bóng, hình bầu dục, cấp hạt đều,  trọng lượng 1000 hạt 55 – 65gr tuỳ theo mùa vụ.

–          Kháng bệnh Vàng lá (Mungbean Yellow Mosaic Virus), nhiễm nhẹ đến trung bình Bệnh Đốm lá (Cescospora leaf spot).

–          Có thể canh tác 3 vụ trong năm, thích nghi nhiều vùng sinh thái.

–          Năng suất: Hè Thu và Thu Đông: 1,2-1,5 tấn/ha, Đông xuân: 1,5 – 2,5 tấn/ha

3. Hướng sử dụng và yêu cầu kỹ thuật.

            Giống đậu tương HL 89 – E3 trồng thích hợp trên đất đỏ bazan, đất phù sa ven sông, suối và đất thịt nhẹ luân canh sau 2 vụ lúa (có tưới).

            Mật độ trồng thích hợp 333 – 375 ngàn cây/ha (cách hàng 0,4 – 0,45m, cách cây 0,2m x 3 cây/hốc). Lượng phân bón/ha: 40 – 60N + 60P2O5 + 60K2O, khoảng 87 – 130 kg Urea + 364 kg Super lân + 100 kg KCl. Bón lót trước gieo trồng: toàn bộ lân, thúc lần 1: 10 –12 ngày sau mọc ½ N + ½ K2O, thúc lần 2: 20 – 25 ngày sau mọc ½ N + ½ K2O. Vụ trồng thích hợp: Hè Thu, Đông Xuân (Tây Nguyên); Thu Đông, Đông Xuân (Đông Nam Bộ); Đông Xuân, Xuân Hè (ĐBSCL), có thể trồng xen với ngô, bông vải và cao su trồng mới.

4. Điển hình đã áp dụng thành công

            Giống đậu xanh HL89 – E3 là giống có khả năng thích nghi cao, đang trồng phổ biến ở các tỉnh phía Nam, trồng nhiều ở Tây Nguyên và Duyên Hải Nam Trung Bộ.

5. Địa chỉ liên hệ

Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam.

Địa chỉ: xã Hưng Thịnh, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

Điện thoại: 061. 3868556; 3868984; 3868632. 

Giống lạc HL25 Việt Ấn

Dia chi xanh An Do 2

Giống lạc HL25 Việt Ấn
Hoàng Kim, Phạm Văn Ngọc, Mai Văn Quyền, Đỗ Thị Dung

Giống lạc HL 25, có tên gốc là ICGSE 56, hoặc ICGV015 nguồn gốc từ Viện Nghiên cứu Quốc tế Cây trồng vùng Nhiệt đới Bán khô hạn (ICRISAT), được nhập nội theo Chương trình Hệ thống canh tác lúa châu Á.từ IRRI vào Việt Nam năm 1988 Giống thích hợp canh tác cho vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long suốt một thời gian dài. Giống lạc HL25 cho đến nay vẫn là một giống lạc tốt được nông dân nhiều địa phương các tỉnh Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung ưa chuộng.

Giống lạc HL25 được chọn taọ, khảo nghiêm cơ bản, khảo nghiệm sản xuất, nhân giống, xây dựng mô hình canh tác trồng thuần và trồng xen ngô đậu hiệu quả (Hoàng Kim, Phạm Văn Ngọc, Mai Văn Quyền, Đỗ Thị Dung 1999, 2004). Giống lạc HL25 được công nhận giống tạm thời tại Quyết định số 3493/ QĐ/BNN/KHCN ngày 09/9/1999, công nhận giống chính thức tại Quyết định số 2182/QĐ/ BNN/ KHCN ngày 29/7/2004.

DSCN5768

Những đặc điểm chính: TGST: 90 – 95 ngày. Cao cây: 50 – 60 cm, thuộc nhóm Spanish. Số cành cấp 1: 4 – 5 cành Tổng số quả/cây: 25 – 35 quả.Tỷ lệ trái 3 hạt: 60 – 65%. P 100 hạt: 40 – 45 g. Vỏ trái có gân, mỏ quả thẳng cong, màu hạt trắng hồng. Tỷ lệ nhân 70 – 72 %. Kháng bệnh rỉ sắt, đốm lá trung bình (cấp 4-6). Năng suất đạt 2,0 – 2,5 tấn/ha trong vụ Hè Thu và Thu Đông, đạt 2,5 – 3,5 tấn/ha trong vụ Đông Xuân và Xuân Hè.

Vùng thuở Xưa Ngô Đậu/ Nay Đa Canh Vẫn Nhiều

Giống lạc HL25 tên gốc là ICGV86015 của nhà chọn giống lạc Shyam Narayan Nigam (chuyên gia hàng đầu của ICRISAT và thế giới về lạc và đậu thực phẩm) có từ rất sớm ở Ấn Độ (1986) nôi của môi trường thân thiện nơi mà người dân (nhổ lạc) và chim muông (con cò) thân thiện bên người . Quá trình dục thành giống lạc ICGV86025 đã được nhập nội theo Chương trình Hệ thống canh tác lúa châu Á.từ IRRI vào Việt Nam năm 1988, thực hiện nghiên cứu và phát triển sản xuất tại mô hình trồng xen ngô đậu trong hệ thống cây trồng vùng Đông Nam Bộ (Hoàng Kim, Trần Ngọc Quyền và đồng sự 1988-1991), Mô hình trồng xen đậu xanh, lạc, đậu rồng với sắn ở vùng Đông Nam Bộ và vùng duyên hải Nam Trung Bộ (Hoàng Kim, 1991), Hệ thống cây trồng thích hợp trên đất trồng cao su thời kỳ kiến thiết cơ bản ở Đông Nam Bộ.(Hoàng Kim, Phạm Văn Ngọc, Võ Văn Tuấn, Đinh Văn Cự, Mai Văn Quyền 1996).Mô hình trồng lạc xen với cao su non.(Hoàng Kim và đồng sự,1997) Chọn tạo và phát triển giống lạc HL25 (Hoàng Kim, Phạm Văn Ngọc, Mai Văn Quyền, Đỗ Thị Dung 1999, 2004). Giống lạc HL25 trong suốt 15 năm (1988-2004) chọn tạo và phát triển sản xuất đã được Việt hóa, tích hợp, tuyển chọn, kế thừa và phát triển so với giống lạc gốc Ấn Độ là ICGV86015

Tiến sĩ Shyam Narayan Nigam rất được tín nhiệm ở ICRISAT Ấn Độ. Ông đóng góp nhiều và rất hiệu quả cho chương trình chọn giống lạc của Ấn Độ, Châu Á, châu Phi và Quốc tế. Ông là bạn nhà nông, đã nhiều lần tới làm việc ở Việt Nam.

Giống lạc HL25 là một giống cây trồng tốt của thời kỳ 1999-2004 nhưng tồn tại khá lâu trong sản xuất mãi mãi cho đến tận ngày nay. Niềm vui gặp lại những người bạn tốt khi đã luống tuổi, luôn yêu thương quý trọng nhau, gợi nhớ lại một thời. Nhớ lại và suy ngẫm những bài học lịch sử thấm thía. Khoa học nông nghiệp là khoa học thực tiễn. Những bài học kinh nghiệm cần thành hoa đất, thành phù sa cho cây và bài học cho lớp trẻ. Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Trìu thăm mô hình trồng xen ngô đậu trong hệ thống cây trồng vùng Đông Nam Bộ. Thầy Đào Thế Tuấn đánh giá cao mô hình trồng xen giống lạc HL25 và đậu rồng với sắn, ngô; mời xem tại Thầy Tuấn trong lòng tôi” và Thầy Tuấn kinh tế hộ. Thầy Đào Thế Tuấn là thân phụ của nhà khoa học Đào Thế Anh, người tiếp nối công việc của người cha, vừa nhận huân chương tôn vinh của Chính phủ Pháp.

HoiKhoahocDatVietNam

THẦY TUẤN TRONG LÒNG TÔI
Hoàng Kim

Hoàng Kim bảo vệ luận án tiến sĩ đúng dịp Đại hội thành lập Hội Khoa học Đất Việt Nam 30 tháng 8 năm 1991.  Đặng Kim Sơn, Mai Thành Phụng, Nguyễn Đăng Nghĩa và tôi đều là nghiên cứu sinh cùng học khóa đào tạo chính quy 1988- 1991 ở VAAS (lúc đó tên gọi là VASI). Đặng Kim Sơn và tôi bảo vệ có sớm hơn một chút so với các bạn cùng trang lứa. Thầy Nguyễn Văn Luật Đào Thế Tuấn trực tiếp giúp cho Đặng Kim Sơn, thầy Mai Văn Quyền hướng dẫn tôi. Hôm tôi bảo vệ thầy Đỗ Ánh là Chủ tịch Hội đồng, thầy Đào Thế Tuấn là Viện trưởng Viện VASI, GS Trần Thế Thông là Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam có tới dự.

Thầy Đào Thế Tuấn đã chúc mừng tôi bảo vệ luận án thành công, chúc mừng thầy Quyền và tôi đã có cách làm hay, sáng tạo theo giải pháp tiếp cận hệ thống, xây dựng được phương pháp nghiên cứu trên ruộng nông dân và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật thật tốt . Thầy khen ngợi về ba bài báo tiếng Anh, về lạc giống mới HL25 , đậu xanh HL89-E3 giống mới, đậu rồng Bình Minh, Chim Bu, Long Khánh giống mới xen sắn giống mới KM60 và kỹ thuật canh tác trồng xen lạc, đậu xanh, đậu rồng với sắn, sử dụng ngô sắn làm cây choái tự nhiên cho đậu rồng leo trong sự hợp tác hiệu quả Việt Tiệp. Thầy nói rất hay rất cảm động về cây lương thực trong hệ thống cây trồng cạn. Theo thầy Tuấn, “Nghiên cứu phát triển hệ thống nông nghiệp Việt Nam thích hợp bền vững, Nghiên cứu chọn tạo giống và những giải pháp tiến bộ kỹ thuật chính để tăng năng suất, chất lượng nông sản, thu nhập đời sống, sinh kế người lao động, phát triển kinh tế hộ nông dân. Tôi thích cách làm kiểu làm này và kết quả thực tiễn tốt đẹp này. Cách nghiên cứu hệ thống nông nghiệp ‘kiểu Mai Văn Quyền Hoàng Kim’ là “hứa hẹn mở ra một tương lai tốt đẹp cho các kết quả nghiên cứu chọn giống và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật canh tác thành công tiếp nối”, giáo sư Đào Thế Tuấn nói. Thầy truyền cho chúng tôi nhiệt huyết dấn thân suốt đời. Tôi lặng người xúc động biết ơn.

Kieu Nghien cuu He thong Nong nghiep

Thấy Tuấn khen Hình 1 của tôi trong sách sắn thời đó. Thầy tiếp cận thông tin gốc sớm hơn rất nhiều so với sự đăng báo. Thầy khen ngợi tôi có ba bài báo nước ngoài có tóm tắt bằng bốn thứ tiếng đã được đăng trước khi bảo vệ. Thầy nêu nhiều ý hay cho quý thầy hội đồng và người tham dự để khuyến khích bài đăng báo, đặc biệt là bài đăng báo có uy tín về chất lượng.: Hình 1 là hình trên: Hoang Kim, Tran Ngoc Quyen, Nguyen Dang Mai and Co Van Tuan 1996. On farm research and transfer of technology for cassava production in South Vietnam. In Centro Internacional de Agricultura Tropical (CIAT) A Benchmark Study on Cassava Production , Processing and Marketing in Vietnam. Proceedings of a Workshop held in Hanoi, Vietnam, Oct 29-31, 1992 R.H.Howeler (Ed.). Bangkok, Thailand) . Ba bài báo “đăng ở nước ngoài’ là (1) Kim H.; Buresova, M, 1986. Growing winged bean on natural supports under the conditions of South Vietnam. In: Agricultura Tropica et Subtropica, Universitas Agriculturae Praga, No. 19; p. 225 – 236 En. Sum. En. 14 Ref. In CIAT 1990 National Bibliographies Cassava in Asia East and Southeast Asia, p. 416 ;  2)  Buresova, M.; Kim, H.; Quyen, T.N.,1987. The economics og winged bean on manioc as natural supports under the conditions of South Vietnam. In: Agricultura Tropica et Subtropica, Universitas Agriculturae Praga, No. 20; p. 101 – 114 En. Sum. En.; Sk., Ru.,8 Ref. In: CIAT 1990 National Bibliographies Cassava in Asia East and Southeast Asia, p. 416; 3) Hoang Kim, M. Buresova, Tran Ngoc Quyen and Nguyen Van Chuong, 1988 Economic of Winged bean on Maize as natural support in South Vietnam. In: Agricultura Tropica et Subtropica, Universitas Agriculturae Praga, No. 21; p. 45 – 59 En. Sum. En.; Sk., Ru.,9 Ref.)

ThayDaoTheTuan taiHARC

Thầy Đào Thế Tuấn bình dị giữa đời thường, thầy ngồi thoải mái giữa anh em trẻ tại Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc. Khoảng năm 1993, thầy Đào Thế Tuấn đã đến thăm và làm việc tại đây. Thầy ngồi đối diện chúng tôi trên chiếc bàn dài đặt giữa phòng và hóm hỉnh hỏi đùa  khi tôi đang làm giám đốc Trung tâm ở đấy: Cậu Hoàng Kim định học và làm gì với mình khi cậu là lính của Giáo sư Trần Thế Thông và cậu đang phối hợp với CIAT, CIP, CIMMYT, Tiệp, Nga với Giáo sư Mai Văn Quyền làm đề tài về cây lương thực và hệ thống canh tác đã rất thành công? Sự nghiên cứu trên ruộng nông dân và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật sản xuất sắn ở phía Nam đã đạt được những tiến bộ mới nào nổi bật trong thực tiễn? Sắn Việt Nam trong hệ thống canh tác hiện nay như thế nào? Thầy Đào Thế Tuấn trong mắt tôi là người Thầy của tư duy hệ thống, có tính thực tiễn rất cao độ, các câu hỏi của Thầy hầu hết đều xoáy vào chuyển giao tiến bộ kỹ thuật thành công mới, những đóng góp mới”.

Tôi cũng lém lĩnh chất vấn lại thầy: Vì sao thầy ít làm đề tài hệ thống canh tác hoặc đề tài kinh tế hộ cho các tỉnh phía Nam. Thầy Đào Thế Tuấn đã trả lời thật dí dỏm là nguồn lực thầy có hạn và thầy cần tập trung nhiều hơn cho vùng đồng bằng sông Hồng và vùng núi trung du phía Bắc là vùng nghiên cứu chìa khóa của thầy. Với nữa, thầy nói vui:  Ở trong Nam thì anh Thông, anh Quyền, anh Luật, anh Xuân và các cậu làm hay hơn tôi. Phải tự lượng sức và câu trả lời khéo. Thật phúc hậu những lời Thầy nói. Tôi thưa với thầy Đào Thế Tuấn là truyền nhân lãnh đạo của Thầy thì đã có anh Nguyễn Văn Bộ nhưng truyền nhân nghề nghiệp của Thầy thì có Đặng Kim Sơn và Đào Thế Anh. Em học và làm theo thầy là học tư duy hệ thống, học tính thực tiễn cao độ, dạy và học chuyển giao tiến bộ kỹ thuật thành công,  dạy và học giáo dục văn hóa du lịch sinh thái tiếp cận kinh tế cây lương thực và kinh tế vùng . Riêng kinh tế hộ nông dân và kinh tế học đô thị thì em chỉ biết và học vận dụng thôi. Thầy cười hồn hậu.

Ngày đi thực tế của thầy Đào Thế Tuấn ở phía Nam đã tận mắt chứng kiến những thành tựu khoa học kỹ thuật của học trò thầy đất phương Nam bén duyên ‘sâu rễ bền gốc’ trên đồng ruộng  và loang nhanh vào sản xuất . Thầy nhắc lại lời khen về ba bài báo tiếng Anh về  giống sắn mới, kỹ thuật canh tác thích hợp và giải pháp nghiên cứu cùng nông dân và chuyển giao kỹ thuật canh tác sắn. Sau này chúng tôi đã giới thiệu và phát triển rộng trong sản xuất 27 giống cây trồng tốt và 5 kỹ thuật canh tác tiến bộ đều đi theo nguyên lý và cách làm này. Định hướng quan trọng hơn tốc độ.

Giáo sư Đào Thế Tuấn, Giáo sư Vũ Tuyên Hoàng và nhiều chuyên gia giỏi Quốc tế đã truyền nghề và lắng đọng trong lòng tôi những cẩm nang nghề nghiệp thật quý giá. Tôi may mắn đã được học từ Thầy  những bài học vô giá về khoa học thực tiễn để luôn gắn sở học với hiệu quả thực tiễn của hệ thống nông nghiệp.  Hôm nay, sau hơn 35 năm đọc lại bài viết cuả thầy: ‘Vai trò cây sắn trong hệ thống canh tác vùng đồi núi’ và những lời khen tặng của thầy đối với bốn bài báo quốc tế “trình làng” của tôi đối với luận án thuở đó vẫn nóng hổi tính thời sự. Con người ấy, tầm vóc đó thật lớn biết bao ( Đào Thế Tuấn 1992. The role of cassava in farming systems of hilly and mountainous areas; Sách đọc tại đây. A Benchmark Study on Cassava Production, Processing and Marketing in Vietnam. Proceedings of a Workshop held in Hanoi, Vietnam Oct 29-31, 1992. R.H. Howeler (Ed). Bangkok, Thailan, p. 200- 202. )

*

Thời gia trôi qua, nhớ về thầy Đào Thế Tuấn , tôi vẫn thích nhất lời tiễn thầy của Tiến sĩ Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, người bạn thân thiết của tôi: “Không còn nữa nhà trí thức tài hoa Đào Thế Tuấn; người yêu nước từ thủa ấu thơ, khi có giặc thì cầm súng bảo vệ tổ quốc, khi hoà bình thì nghiên cứu hạt lúa, củ khoai; người lãnh đạo mà tài sản quí nhất trong nhà chỉ là sách vở. Nhưng còn mãi với chúng ta giọng nói miền Trung sang sảng của giáo sư khẳng khái tranh cãi học thuật; mãi còn đó nụ cười hóm hỉnh, dí dỏm của Giáo sư khi bàn bạc về lẽ đời; nhớ mãi dáng vẻ ngơ ngác, cặm cụi tìm tòi của con người mà trí tuệ và lòng bao dung vượt qua những trăn trở đời thường. Chỉ có tương lai mới cho chúng ta biết đã mất gì khi mất đi Đào Thế Tuấn và cũng chỉ có thời gian mới cho chúng ta biết mình được gì do ông để lại. Vĩnh biệt Giáo sư Đào Thế Tuấn – Con Người tuyệt đẹp của một Gia Đình tuyệt đẹp”.

Giống ngô lai đơn VN25-99

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là ngovietnam-va-nhung-nguoi-thay-4-easup.jpg

GIỐNG NGÔ LAI ĐƠN VN25-99
Hoàng Kim

Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam đã xây dựng kỷ yếu khoa học giai đoạn 1975- 2015. Các công trình nghiên cứu cây ngô và cây đậu đỗ tiêu biểu và hiệu quả của Viện đã được tổng kết tóm tắt trong kỷ yếu này tại các trang từ trang 29 đến trang 86. Kết quả chọn tạo và phát triển giống ngô lai đơn VN25-99 (1997-1999), La Đức Vực, Phạm Văn Ngọc, Hoàng Kim, Nguyễn Văn Khoan và Nguyễn Văn Long. Thông tin trích từ kỷ yếu, như sau

Đề tài thực hiện thuộc nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp ngành “Nghiên cứu phát triển cây trồng cạn thích hợp cho vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung” (1997- 1999) . Mục tiêu nghiên cứu chọn tạo giống ngô lai đơn có năng suất cao, thời gian sinh trưởng sớm hơn giống ngô lai đơn DK888, chất lượng hạt tốt, ít nhiễm bệnh đốm lá và khô vằn, dạng cây đẹp, lá xanh đậm, thích hợp với hệ thống canh tác vùng Đông Nam Bộ. Giống ngô lai đơn VN25-99 do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc lai tạo ra từ tổ hợp lai JL11 x MV292. Giống đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhân giống quốc gia năm 2004 theo quyết định số 2432 QĐ/BNN-KHCN ngày 17 tháng 8 năm 2004;

Giống VN25-99 có đặc điểm:
– Thời gian sinh trưởng ở phía Nam từ 93-98 ngày.
– Cây sinh trưởng nhanh, cứng cây, ít đổ ngã, bộ lá gọn, độ đồng đều cao, lá xanh lâu tàn.
– Nhiễm nhẹ bệnh cháy lá và bệnh khô vằn; có 18-19 lá; chiều dài bắp 18-20 cm; đường kính bắp 4,5-5,0 cm; trái to, đều, hạt dạng đá, màu vàng cam đẹp.
– Năng suất hạt khô đạt từ 6,5-7,0 tấn/ha, thâm canh tốt có thể đạt 7,5-8,0 tấn/ha, vụ Đông Xuân đạt 10-12 tấn/ha;
– Giống ngô lai đơn VN25-99 có khả năng thích ứng rộng, phù hợp với cơ cấu mùa vụ ở các tỉnh phía Nam.

Bài viết này ghi thêm DẤU XƯA VÀ BẠN QUÝ chuyện đời không nỡ quên.

Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc thuộc Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam là điểm sáng nghiên cứu và phát triển cây màu (ngô, khoai, sắn) và cây đậu đỗ cho các tỉnh phía Nam trong nửa thế kỷ nay kể từ sau ngày Việt Nam thống nhất, Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lôc ngày nay vẫn là một địa chỉ xanh tin cậy và uy tín trong việc chọn tạo giống sắn ngô khoai đậu đỗ và xây dựng mô hình quy trình kỹ thuật canh tác thích hợp bền vững cho các tỉnh phía Nam, trọng điểm vùng Đông Nam Bộ

Thầy Trần Hồng Uy, thuở thầy làm Viện trưởng Viện Nghiên cứu Ngô thường vào với chúng tôi. Thầy đã nói lời chân tình thật xúc động “Các cậu là gương sáng lao động thực tiễn mà tôi là anh hùng lao động lưu danh” khi Thầy làm phản biện chính đánh giá xuất sắc giống ngô lai VN25-99, sau đó Thầy đã trở về trao cho Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc chúng tôi bức tranh sơn mài quý giá, kỷ niệm ngày vui của Thầy với sự chứng kiến của lãnh đạo địa phương.

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là nho-thay-uy-ngo-lai-viet-nam.jpg

Đường tới IAS 100 năm (1025-2025) chúng tôi biết ơn những gương sáng tri thức và tấm lòng của những thầy bạn lớn nhà nông từ nhiều nơi khác nhau đã đến chung sức với Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam làm nên những thành tựu quý giá cho sản xuất nông nghiệp. Giáo sư Trần Hồng Uy là một người thân thiết trong số đó. Hình ảnh giáo sư Trần Hồng Uy trở về thăm và tặng quà Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc, với sự chứng kiến của lãnh đạo địa phương nhân dịp Thầy được tặng danh hiệu anh hùng lao động, thao thức trong lòng tôi.

Giáo sư Trần Hồng Uy với Trung tâm Hưng Lộc có nhiều chi tiết đời thường thật cảm động. Thầy lột đồng hồ đeo tay trao tặng cho anh Tiến lái xe của Trung tâm Hưng Lộc để biết ơn những ngày vất vả đã cùng thầy lội ruộng (Chiếc đồng hồ này thầy vẫn thường đeo, và có mặt trong tấm ảnh này), Thầy nhiều lần xuống thăm nhà riêng bạn cũ là Nguyễn Khang và gia đình chúng tôi, những đàn em mà ông quý. Ông Nguyễn Khang trước là cán bộ lái máy gieo trồng chăm sóc thu hoạch ngô rất giỏi của Trung tâm Nghiên cứu Ngô Sông Bôi của Thầy sau này là phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc; Thầy ngủ tại nhà khách đơn sơ của Viện nhiều lần đi điểm mà khi ít ngủ khách sạn Thầy chơi thân với anh Vực, anh Định, chị Rịnh, cùng nhiều anh chị em làm ngô ở Hưng Lộc và Viện, rất hòa đồng với anh em bảo vệ lái xe và nhân viên hành chính trực phòng, dọn vệ sinh. Chúng tôi ở Hưng Lộc biết ơn thầy Uy khi thầy đã chia sẻ phần kinh phí ít ỏi của đề tài cây màu mà thầy làm chủ nhiệm để khoai sắn những khi khó khăn được nương bóng thầy vui đồng hành đồng tác giả “Chọn tạo và phát triển giống sắn KM98-1”. Thầy tham gia phần lớn các hội thảo quốc tế, quốc gia về cây có củ. Tôi nhớ như in cái xiết tay cảm thông và những lời an ủi động viên của Thầy khi giống sắn KM98-5, KM140 đã có quyết định rồi của tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai công nhận sản xuất thử và cho phép sản xuất đại trà trong tỉnh nhưng lại chậm được thủ tục công nhận khác. Cây khoai lang cũng vậy, thầy Uy, thầy Quyền, thầy Tình, thầy Minh, thầy Bửu,… đều khuyến khích chúng tôi nghiên cứu chọn giống đừng buông bỏ trước khó khăn, trong khi việc đúc kết của Viện đôi khi lại xuýt quên khoai (!). Nhờ những nổ lực và góc nhìn bao dung, những lời khuyên ấm áp chân thành của những bạn thầy mà chúng ta có được những giống khoai lang ngon Hoàng Long, HL4, Chiêm Dâu, Khoai Gạo , khoai Bí Đá Lạt, HL518 Nhật đỏ, HL491 Nhật tím . Tôi thật tâm đắc với bài thơ “Chung sứctrên đường xuân” “Ngô khoai chẳng phụ dày công Viện” Nguyên văn bài thơ dưới đây có bóng dáng nhiều người thầy ngô Việt Nam, mà nổi bật là thầy Uy và thầy Tình.

Cựu Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn là nhà quản lý hàng đầu trong ngành nông nghiệp. sinh thời rất quan tâm cây ngô và có những chuyến thăm đồng với giáo sư Trần Hồng Uy. Những người thầy ngô lai Việt Nam lĩnh vực chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp cây ngô, nghiên cứu khoa học kỹ thuật cây ngô, đào tạo đội ngũ chuyên sâu cây ngô, tiêu biểu nhất nửa thế kỷ qua là giáo sư Trần Hồng Uy, giáo sư Ngô Hữu Tình, giáo sư Trần Văn Minh, phó giáo sư Trương Đích, . Đó là ba chuyên gia ngô lai Việt Nam hàng đầu, các thầy bạn nhà nông thật thân thiết. Giáo sư Trần Hồng Uy là cánh chim đầu đàn trong số đó.

Ngô Việt Nam là cây lương thực quan trọng thứ hai sau lúa, có diện tích canh tác hàng năm hiện đạt khoảng 1,15 triệu ha, năng suất bình quân 4,55 tấn/ha, sản lượng 5,24 triệu tấn (Tổng cục Thống kê 2017). Sản phẩm ngô Việt Nam chủ yếu dùng cho chăn nuôi, nay dùng làm thực phẩm cho người hơn 5%. Cuộc cách mạng về giống ngô lai Việt Nam đã góp phần tăng nhanh diện tích, năng suất và sản lượng ngô trong toàn quốc, đưa nước ta đứng vào hàng ngũ những nước trồng ngô lai tiên tiến của vùng châu Á. So với năm 1985 trước đổi mới, ngô Việt Nam lúc ấy có diện tích 397 ngàn ha, năng suất bình quân 1,47 tấn/ha, sản lượng 0,37 triệu tấn thì đến nay ngô Việt Nam ngày nay đã đạt một bước tiến vượt bậc gấp 3 lần về năng suất và 14 lần về sản lượng. Mặc dù, sản lượng ngô hiện nay vẫn chưa đủ cung cấp cho ngành chăn nuôi của cả nước, Việt Nam mỗi năm vẫn phải nhập khoảng 1,60 – 2,00 triệu tấn ngô hạt để làm thức ăn chăn nuôi, nhưng Việt Nam đã cùng Thái Lan và Trung Quốc nằm tốp đầu những quốc gia trồng ngô tiên tiến ở châu Á. Trong thành tựu ấy, có công đóng góp hiệu quả của giáo sư Trần Hồng Uy ở chặng đường đầu.

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là la-duc-vuc-ngo-huu-tinh.jpg

Giáo sư Trần Hồng Uy, giáo sư Ngô Hữu Tình (ảnh), giáo sư Trần Văn Minh, PGS.TS Trương Đích, TS Lê Quý Kha là những gương sáng tiêu biểu về cây ngô Việt Nam mà tôi từng biết, Chúng ta kính trọng những người Thầy thực sự là con người của thực tiễn, của hành động, thật sâu sát thực tiễn, nâng đỡ và đánh giá cao những kết quả tốt nổi bật phục vụ sản xuất..

Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Trần Hồng Uy nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu ngô Việt Nam Thầy được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học Công nghệ trong lĩnh vực Nông nghiệp vào năm 2000 với công trình nghiên cứu tạo giống ngô lai ở Việt Nam. GS.TSKH Trần Hồng Uy sinh ngày 2/2/1938 tại thôn Hương Gián, xã Thái Sơn, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Thủa thiếu thời GS đã có những hoài bão phục vụ nông nghiệp nước nhà…Lớn lên thầy dành trọn đời mình cho sự nghiên cứu bảo tồn và phát triển cây ngô Việt Nam với thành tựu nổi bật là Ngô lai Việt Nam, Ngô đông Việt Nam, Ngô chất lượng cao. TS. Bùi Mạnh Cường Viện trưởng Viện Nghiên cứu Ngô với bài viết “GS.TSKH Trần Hồng Uy cây đại thụ của ngành ngô Việt Nam” trên báo Nông nghiệp Việt Nam đã đúc kết các bài học kinh nghiệm sâu lắng: ”Ngoài truyền bá kiến thức mới cho người dân, gần gũi với nông dân, giải quyết những vấn đề mới phát sinh trong sản xuất ngô, GS Trần Hồng Uy còn đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ cao, uyên thâm về kiến thức chọn tạo, đó là các tiến sỹ, thạc sỹ, công nhân kỹ thuật đủ sức gánh vác nhiệm vụ nặng nề của Viện trong những năm vừa qua. Nhiều học trò của Thầy đã trưởng thành, giữ các trọng trách cao của Viện, các Sở, Ban ngành của các địa phương. Trong cuộc sống thầy sống giản dị, chân thành, giàu lòng nhân ái, thường xuyên truyền đạt những kiến thức mới, bác học, với phương châm phải lấy thực tiễn là thước đo để đánh giá hiệu quả trong công tác nghiên cứu khoa học, phương châm ấy đã trở thành qui luật bất biến của Viện. Nhưng điều lớn lao hơn mà giáo sư đã để lại cho hậu thế là một kho kiến thức về cuộc sống, tác phong sinh hoạt, tư duy khoa học, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm”.

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là gsngohuutinh-va-ngo-lai.jpg
Giáo sư Ngô Hữu Tình đánh giá phản biện giống ngô tốt VN112 của Trung tâm Hưng Lộc chọn tạo.

Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc với công trình nghiên cứu chọn tạo giống ngô lai VN25-99, VN112 và mô hình trồng ngô lai xen đậu xanh, đậu nành, lạc, đầu rồng với sắn, phù hợp vụ trồng và điều kiện sinh thái, đã đồng hành với các giống ngô lai xuất sắc của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam vang bóng một thời. Viện IAS chúng ta có sự chung sức của giáo sư Trần Hồng Uy, giáo sư Ngô Hữu Tình cùng nghiên cứu đánh giá giống ngô và các mô hình hệ thống canh tác ngô. Sự hợp tác bền bỉ bao năm đã lưu lại ấn tượng sâu sắc trong lòng chúng tôi mãi không bao giờ quên.

CHUNG SỨC TRÊN ĐƯỜNG XUÂN
Hoàng Kim

1

Thầy bạn nhà nông mến dặm đường
Tình yêu cuộc sống đức lưu hương
Trình, Đào thanh thản nương thời vận
, Nguyễn thung dung nhẹ đoạn trường
Lúa sắn ngô khoai yêu khoa học
Mai lan cúc trúc thú văn chương
Tâm bình minh triết thành công quả
An vui trí sáng đức muôn phương.

2

Chung sức bao năm một chặng đường
Cuộc đời nhìn lại phúc lưu hương
Ngô khoai chẳng phụ dày công Viện
Lúa sắn chuyên tâm mến nghĩa Trường
Dạy học tinh hoa giàu trí tuệ
Chuyển giao chuyên nghiệp khiếu văn chương
Người chọn vãng sanh vui một cõi
Ai theo cực lạc đức muôn phương

xem tiếp Chung sức trên đường xuân

Soi mình trong gương không bằng soi mình trong lòng người.

Năm tháng đi qua chỉ tình yêu ở lại.

Thăm Lộc Bình chốn cũ
SO LỜI KỂ VƯƠNG KHANG
https://youtu.be/QFvyXrvni7M?si=EsJXg3JaeSD82hiJ
Vì Sao Bắc Ninh Được Gọi Là Đất KINH BẮC? | Lịch Sử Văn Hóa Đại Việt
https://youtu.be/2j69Vqp1U0Y?si=nc2K5fujSbgsweMy

Trà Sớm Với Lão Nông
Thung dung chào ngày mới
Chậm rãi học lắng đọng
Nha Trang mùa hạ nhớ*


Đồng Nai nôi Bồ Đề


HỘP TRÍCH DẪN
Hoàng Kim Cây Lương Thực
Đường xuân theo chân Bác
#TranNhanTongVietNam
#cnm365Tình yêu cuộc sống
.

#NgọcLong #nhasachhoanggia
Bình Minh An Ngày Mới
An vui cụ Trạng Trình
Nguyễn Du trăng huyền thoại


Vui đi dưới mặt trời
Nhà tôi chim làm tổ
Bài ca nhịp thời gian
An nhiên vui mỗi ngày


An nhiên vui mỗi ngày
Giấc mơ lành yêu thương
Đường xuân đời quên tuổi
Đá Vàng Với Ban Mai.

Sông Thiêng** sông quê hương

#KimNotes: Nha Trang mùa hạ nhớ*Sông Thiêng** là thơ nhạc Nguyễn Đình Chi (bạn học chung Lớp TT4 ĐHNN2 Hà Bắc)

Thím Nga Lê quý mến : AHA trò chơi đoán vui, anh Hoàng Kim vui vẻ đùa lại Việc tốt được điểm ƯU 4097 điểm YẾU 3 là thật hay Chị Huyền Ngày Của Mẹ (ảnh THK 10 tháng 5 2026). Anh khỏe #thungdung và #annhiên. Gia đính cả nhà vui khỏe ,

Anh thích Nguyễn Khải thầy văn Việt Sống Với Viết Nghiêm Cẩn: “Tôi viết vậy thì tôi tồn tại” Viết văn không chỉ do nhu cầu kiếm sống, viết văn cũng không chỉ do những bức xúc khôn khuây của cá nhân, mà viết còn là mong muốn được trao trở về với cái vô hạn”. “Tôi trở lại nghề viết không nhằm tự khẳng định với mình, cũng không dám ganh đua với ai mà chỉ mong lại được sống trong tự do, trong niềm vui và hy vọng, không phải phụ thuộc vào cái yêu cái ghét của người khác, kể cả với con cái. Biết đâu nhờ vẫn làm việc miệt mài khi tuổi đã già mà tạo được một ràng buộc về tinh thần cho con cho cháu, thành một nếp nhà như người xưa.Viết là một cách để tồn tại”. 😍https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nguyen-khai-thay-van-viet/

HỌC CHỮ HÁN NÔM TTK
Tam Tự Kinh Chiết Tự
Thầy Nguyễn Chí Công
TTK 01 https://youtu.be/zTob-FCpSPM?si=eTj8_2eaC630yAhX
TTK 02 https://youtu.be/gjsz8_GOaMY?si=z37pU5a80gKXEhO9
TTK 03 https://youtu.be/LjRXtElUgjc?si=RfTnOSugp2AXBrq6
TTK 04 https://youtu.be/sF08tEJ4c_U?si=EDjx1XXhkNX3m3hy
TTK 05 https://youtu.be/LPOTFCFJVDA?si=YlVT1hEchLwouczM

Vùng sinh thái Việt Nam


Theo Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia mới nhất (phê duyệt tại Quyết định số 1352/QĐ-TTg), lãnh thổ Việt Nam được phân vùng và định hướng quản lý theo 8 vùng sinh thái thay vì 7 vùng như trước đây do tách vùng Trung du và miền núi phía Bắc thành hai vùng riêng biệt. [1].

8 Vùng Sinh Thái Mới Của Việt Nam

Vùng Nam Trung Bộ: Các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ.

Vùng Đông Bắc: Gồm các tỉnh miền núi phía Bắc hướng Đông, tập trung số lượng khu bảo tồn lớn.

Vùng Tây Bắc: Gồm các tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình.

Vùng Đồng bằng sông Hồng: Vùng châu thổ và các tỉnh lân cận.

Vùng Bắc Trung Bộ: Dải đất miền Trung từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên Huế.

Vùng Nam Trung Bộ: Các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ.

Vùng Tây Nguyên: Các tỉnh cao nguyên trung bộ.

Vùng Đông Nam Bộ: Vùng kinh tế và sinh thái trọng điểm phía Nam.

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: Vùng hạ lưu sông Mekong. [1, 2, 3, 4]

Thông Tin Bản Đồ

Bạn có thể tra cứu chi tiết ranh giới tọa độ và dữ liệu không gian trực tiếp tại cổng thông tin của Cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia. [1, 2] Lãnh thổ trên đất liền của Việt Nam có thể chia thành tám vùng theo hệ sinh thái nông nghiệp. Bản đồ không gian phân vùng này tích hợp hệ thống 178 khu bảo tồn cũ, đồng thời quy hoạch thành lập mới 61 khu bảo tồn trên cả nước.

Vùng Tây Nam bộ: gồm 13 tỉnh Long An, Bến Tre, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang, Tiền Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, An Giang, Trà Vinh.

Vùng Tây Bắc: gồm 4 tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình.

Vùng Đông Bắc: gồm 11 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Giang, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ.

Vùng đồng bằng sông Hồng: gồm 10 tỉnh Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nội, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Vĩnh Phúc.

Vùng Bắc Trung bộ: gồm 6 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế.

Vùng Nam Trung bộ: gồm 6 tỉnh Đà Nẵng,Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà.

Vùng Tây Nguyên: gồm 5 tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông, Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum.

Vùng Đông Nam bộ: gồm 8 tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây Ninh.

Vùng Tây Nam bộ: gồm 13 tỉnh Long An, Bến Tre, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang, Tiền Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, An Giang, Trà Vinh.

Bảy vùng sinh thái kinh tế nông nghiệp du lịch Việt Nam

VÙNG SINH THÁI VIỆT NAM
越南生态区 Vietnam eco-region

Vùng kinh tế Việt Nam; Vùng kinh tế động lực; Làng Việt xưa và nay; Ngôn ngữ văn hóa Việt; Tiếng Việt lung linh sáng là năm chủ đề được nghiên cứu và giảng dạy trong Bài 4 Vùng sinh thái Việt Nam của Việt Nam học; Việt Nam xã hội học (越南社会学; Vietnamese Sociology) Ngữ văn Việt Trung Anh đối chiếu 学越中文 Tổng quan về Xã hội Kinh tế Văn hóa Việt Nam 越南社会经济和文化概述, Cây Lương thực Việt Nam; CNM365; Tình yêu cuộc sống https://hoangkimvn.wordpress.com/category/vung-sinh-thai-viet-nam

VÙNG KINH T VIỆT NAM
越南经济区 Economic region of Vietnam

Việt Nam có bảy vùng sinh thái kinh tế nông nghiệp. .Vùng Kinh tế Việt Nam ngày nay đã phân vùng và hiệu chỉnh phù hợp với yếu tố sinh thái ‘dư địa chí’ được chú trọng sâu sắc, tinh tế hơn  

1) Vùng Trung du và vùng núi phía Bắc có 14 tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình cùng 21 huyện, một thị xã phía Tây của hai tỉnh Thanh HóaNghệ An;

2) Vùng Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải Đông Bắc có 2 thành phố trực thuộc trung ương Hà Nội, Hải Phòng,và 9 tỉnh Bắc Ninh, Hà Nam, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh.

3) Vùng Bắc Trung Bộ có 6 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế ;

4) Vùng Nam Trung Bộ có 1 thành phố trực thuộc trung ương Đà Nẵng và 6 tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Khánh Hòa, Ninh Thuận;

5) Vùng Tây Nguyên có 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk NôngLâm Đồng.

6) Vùng Đông Nam Bộ có 1 thành phố trực thuộc trung ương Thành phố Hồ Chí Minh và 5 tỉnh: Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Đồng NaiTây Ninh.

7) Vùng Đồng Bàng Sông Cửu Long có 1 thành phố trực thuộc trung ương là Cần Thơ và 12 tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Bạc LiêuCà Mau

“Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” ngày 22/1/2013 xác định rõ Việt Nam có 7 vùng du lịch với 24 trung tâm du lịch như sau:[5][6]

Vùng trung du vùng núi phía bắc bao gồm 14 tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Phú Thọ, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn và Bắc Giang. Vùng này có 5 trọng điểm du lịch là:

  1. Sơn LaĐiện Biên: gắn với Mộc Châu, hồ Sơn La, cửa khẩu quốc tế Tây Trang, di tích lịch sử Điện Biên Phủ và Mường Phăng.
  2. Lào Cai gắn với cửa khẩu quốc tế Lào Cai, khu nghỉ mát Sa Pa, Phan Xi Phăng và vườn quốc gia Hoàng Liên.
  3. Phú Thọ gắn với lễ hội Đền Hùng và hệ thống di tích thời đại Hùng Vương, du lịch hồ Thác Bà.
  4. Thái NguyênLạng Sơn gắn với hồ Núi Cốc, di tích ATK Định Hóa, Tân Trào, khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng, khu nghỉ mát Mẫu Sơn.
  5. Hà Giang gắn với công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, cảnh quan Mèo Vạc, Mã Pí Lèng, Na Hang…

Vùng đồng bằng sông Hồng và Duyên hải Đông Bắc gồm Thủ đô Hà Nội và các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Hải PhòngQuảng Ninh, gồm 3 trọng điểm du lịch là:

  1. Thủ đô Hà Nội gắn với hệ thống di tích lịch sử văn hóa nội thành và các cảnh quan tự nhiên vùng phụ cận.
  2. Quảng NinhHải Phòng gắn với cảnh quan biển đảo Đông Bắc đặc biệt là Hạ Long – Cát Bà, Vân Đồn, Đồ Sơn.
  3. Ninh Bình gắn với Tam Cốc – Bích Động, Hoa Lư, Tràng An, Vân Long, Cúc Phương, Tam Chúc – Ba Sao và quần thể di tích, cảnh quan vùng phụ cận.

Vùng Bắc Trung Bộ gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế. Vùng này có 3 địa bàn trọng điểm du lịch là:

  1. Thanh Hóa và phụ cận gắn với điểm du lịch quốc gia Thành Nhà Hồ, Lam Kinh, Bến En và đô thị du lịch Sầm Sơn.
  2. Nam Nghệ AnBắc Hà Tĩnh gắn với Cửa Lò, Kim Liên, Đồng Lộc, cửa khẩu Cầu Treo, núi Hồng – sông Lam, Xuân Thành…
  3. Quảng BìnhQuảng Trị gắn với Phong Nha – Kẻ Bàng, biển Cửa Tùng – Cửa Việt, đảo Cồn Cỏ, cửa khẩu Lao Bảo và hệ thống di tích chiến tranh chống Mỹ.
  4. Thừa Thiên Huế

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ gồm các tỉnh Quảng Nam, TP. Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận. Vùng này có 3 địa bàn trọng điểm du lịch là:

  1. Đà NẵngQuảng Nam gắn với Sơn Trà, Hải Vân, Hội An, Mỹ Sơn…
  2. Bình ĐịnhPhú YênKhánh Hòa gắn với các bãi biển Phương Mai, Đầm Ô Loan, vịnh Nha Trang, Cam Ranh…
  3. Bình Thuận gắn với biển Mũi Né, đảo Phú Quý…

Vùng Tây Nguyên gồm các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng. Vùng này có 3 trọng điểm du lịch là:

  1. Thành phố Đà Lạt gắn với hồ Tuyền Lâm, Đan Kia – Suối Vàng.
  2. Đắk Lắk gắn với vườn quốc gia Yokđôn và không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
  3. Gia Lai – Kon Tum gắn với cửa khẩu quốc tế Bờ Y, Măng Đen, Yaly.

Vùng Đông Nam Bộ gồm TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh. Vùng này có 3 trọng điểm du lịch:

  1. Thành phố Hồ Chí Minh gắn với khu rừng sác Cần Giờ và hệ thống di tích lịch sử văn hóa nội thành.
  2. Tây Ninh gắn với cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, núi bà Đen, hồ Dầu Tiếng.
  3. Thành phố Vũng Tàu gắn với Long Hải, Phước Hải, Côn Đảo.

Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long gồm các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Tiền Giang, Hậu Giang và TP. Cần Thơ. Vùng này có 4 trọng điểm du lịch:

  1. Tiền GiangBến Tre gắn với du lịch miệt vườn Thới Sơn.
  2. Cần ThơKiên Giang gắn với biển đảo Phú Quốc, Hà Tiên.
  3. Đồng ThápAn Giang gắn với Tứ giác Long Xuyên, vườn quốc gia Tràm Chim.
  4. Cà Mau gắn với U Minh – Năm Căn – mũi Cà Mau

Đánh giá hiện trạng kinh tế xã hội văn hóa xã hội Việt Nam Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng ngày 16/5/2021 tại bài viết:“Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”.đã khái quát:

Trước Đổi mới (năm 1986), Việt Nam vốn là một nước nghèo lại bị chiến tranh tàn phá rất nặng nề, để lại những hậu quả hết sức to lớn cả về người, về của và môi trường sinh thái. Tôi chỉ nêu thí dụ, cho đến nay vẫn có hàng triệu người chịu các bệnh hiểm nghèo và hàng trăm ngàn trẻ em bị dị tật bẩm sinh bởi tác động của chất độc da cam/dioxin do quân đội Mỹ sử dụng trong thời gian chiến tranh ở Việt Nam. Theo các chuyên gia, phải mất đến hơn 100 năm nữa Việt Nam mới có thể dọn sạch hết bom mìn còn sót lại sau chiến tranh. Sau chiến tranh, Mỹ và phương Tây đã áp đặt cấm vận kinh tế với Việt Nam trong suốt gần 20 năm. Tình hình khu vực và quốc tế cũng diễn biến phức tạp, gây nhiều bất lợi cho chúng ta. Lương thực, hàng hoá nhu yếu phẩm hết sức thiếu thốn, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, khoảng 3/4 dân số sống dưới mức nghèo khổ.

Nhờ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt 35 năm qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỉ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Công nghiệp phát triển khá nhanh, tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 85% GDP. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, năm 2020 đạt trên 540 tỉ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 280 tỉ USD. Dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt 100 tỉ USD vào năm 2020.

Đầu tư nước ngoài tăng nhanh, đăng ký đạt gần 395 tỉ USD vào cuối năm 2020. Về cơ cấu nền kinh tế xét trên phương diện quan hệ sở hữu, tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam hiện nay gồm khoảng 27% từ kinh tế nhà nước, 4% từ kinh tế tập thể, 30% từ kinh tế hộ, 10% từ kinh tế tư nhân trong nước và 20% từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

Hiện dân số của Việt Nam là hơn 97 triệu người, gồm 54 dân tộc anh em, trong đó hơn 60% số dân sống ở nông thôn. Phát triển kinh tế đã giúp đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội những năm 80 và cải thiện đáng kể đời sống của nhân dân. Tỉ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước).

Đến nay, hơn 60% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; hầu hết các xã nông thôn đều có đường ô tô đến trung tâm, có điện lưới quốc gia, trường tiểu học và trung học cơ sở, trạm y tế và điện thoại. Trong khi chưa có điều kiện để bảo đảm giáo dục miễn phí cho mọi người ở tất cả các cấp, Việt Nam tập trung hoàn thành xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2010; số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gần 17 lần trong 35 năm qua. Hiện nay, Việt Nam có 95% người lớn biết đọc, biết viết.

Trong khi chưa thực hiện được việc bảo đảm cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho toàn dân, Việt Nam tập trung vào việc tăng cường y tế phòng ngừa, phòng, chống dịch bệnh, hỗ trợ các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn. Nhiều dịch bệnh vốn phổ biến trước đây đã được khống chế thành công. Người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi được cấp bảo hiểm y tế miễn phí.

Tỉ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em và tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh giảm gần 3 lần. Tuổi thọ trung bình của dân cư tăng từ 62 tuổi năm 1990 lên 73,7 tuổi năm 2020. Cũng nhờ kinh tế có bước phát triển nên chúng ta đã có điều kiện để chăm sóc tốt hơn những người có công, phụng dưỡng các Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, chăm lo cho phần mộ của các liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc.

Đời sống văn hoá cũng được cải thiện đáng kể; sinh hoạt văn hoá phát triển phong phú, đa dạng. Hiện Việt Nam có khoảng 70% dân số sử dụng Internet, là một trong những nước có tốc độ phát triển công nghệ tin học cao nhất thế giới. Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hoá các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Năm 2019, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,704, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển.

Như vậy, có thể nói, việc thực hiện đường lối đổi mới đã đem lại những chuyển biến rõ rệt, hết sức sâu sắc và tích cực ở Việt Nam: kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố.”

LÀNG VIỆT XƯA VÀ NAY
越南村庄的过去与现在 Vietnamese village past and present

Làng Việt xưa và nay là văn hóa truyền thống. Người Việt, tiếng Việt, nghề lúa cá đã là đặc trưng Tam Nông có từ thời Văn Lang, phát triển rực rỡ qua các triều đại Lý Trần, đến thời nay đã sâu rễ bền gốc, là nền tảng của bảo tồn và phát triển nông thôn mới, xem tiếp Làng Việt xưa và nay https://hoangkimlong.wordpress.com/category/lang-viet-xua-va-nay/Làng Việt

TIẾNG VIỆT LUNG LINH SÁNG
越南语闪闪发光 Vietnammese language shimmering

đồng hành ‘Thiền với mùa Thu
‘, thơ Nguyễn Quế (*)

Ai ngồi
Thiền với cỏ cây
Ta lơi bớt việc
trọn đời nắng mưa

Ai ngồi
Thiền với bốn mùa
Ta ngơi giờ nghĩ giấc trưa nhẹ lòng

#Thungdung gió mát trời trong
#Annhiên hôm sớm thong dong đường trần

Ai ngồi
Thiền giữa thanh xuân
Ta đi mãi miết bước chân miệt mài

Ai ngồi
Thiền giữa trần ai
Lời thương lắng đọng nhắc hoài tháng năm …

15/8/23
Kim Hoàng

(*) THIỀN VỚI MÙA THU

Ta ngồi
Thiền với cỏ cây
Thắp trăng làm nến
Rải mây làm bùa

Ta ngồi
Thiền với bốn mùa
Câu kinh tụng giữa nắng mưa đất trời

Mõ khua tiếng gió chơi vơi
Bật lên từ đất những chồi non xanh

Ta ngồi
Thiền giữa trong lành
Vẳng nghe những tiếng mong manh suối ngàn

Ta ngồi
Thiền giữa nhân gian
Hóa thân vào chốn bạt ngàn sắc Thu !…

14/8/23

Nguyễn Quế

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tieng-viet-lung-linh-sang/

LỜI THƯƠNG 15
Bạch Ngọc Hoàng Kim

Người hiền ở chốn sông Thương
vắng nhau
thì nhớ
con đường
ngại xa …

“Mình đi ta ở lại nhà
Cái dưa thì khú, cái cà thì thâm”

Sông dài cá lội biệt tăm …
Núi cao, biển rộng, trăm
năm đợi chờ

Sao Hôm thăm thẳm xa mờ
Ban Mai ngày mới vẫn mơ ước gần


*

Lời thương cùng với tháng năm
Chốn thiêng
Nắng mới
Lộc xuân Trạng Trình

*

Ca dao Việt “Cày đồng”
Mãn Giác thơ “Hoa Mai”
Thơ Việt ngoài ngàn năm
Tiếng Việt lung linh sáng


Bài đồng dao huyền thoại
Quốc Công đạo làm tướng
Tiết Chế đức dụng nhân
Lời dặn của Thánh Trần

Lời khuyên thói quen tốt
Phạm Ngũ Lão Thuật Hoài
Trần Khánh Dư “Bán than”
Nguyễn Trãi Dục Thúy Sơn


Muốn sang thì bắc cầu kiều
Chuyện đồ
ng dao cho em

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/loi-thuong/

HoangKim36

VUI ĐI DƯỚI MẶT TRỜI
Bạch Ngọc Hoàng Kim

Hãy lên đường đi em
Ban mai chào ngày mới
Vui đi dưới mặt trời
Một niềm tin thắp lửa

Ta như ong làm mật
Cuộc đời đầy hương hoa
Thời an nhiên vẫy gọi
Vui khỏe đời cho ta.

Vui đi dưới mặt trời
Nắng dát vàng trên đồng xuân
Mưa ướt vệt bóng mây, tím sắc trời cuối hạ
Đất ước, cây trông, lòng nhớ …

Người tốt việc tốt trốn tìm đâu
trong giấc mơ tâm tưởng
Chuyện Bác Hồ ước ao dặn lại …
Ngôi nhà con hạnh phúc trăm năm
Bếp lửa ngọn đèn khuya

Vận mệnh cuộc đời cố gắng

Tình yêu là người thầy tốt hơn trách nhiệm
Đồng lòng đất cảm trời thương

Phúc hậu minh triết tận tâm
Cố gắng làm người có ích

Tháng năm tròn đầy vườn thiêng cổ tích
Mừng ban mai mỗi ngày tỉnh thức bình an
Chào ngày mới CNM365 Tình yêu cuộc sống
Thảnh thơi vui cõi phúc được thanh nhàn.

#Thungdung#dayvahoc, #vietnamhoc#cnm365#cltvn; #đẹpvàhay xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/truong-hoc-huong-ban-mai/

MĂNG ĐEN
Bạch Ngọc Hoàng Kim

Măng Đen
Ơi Măng Đen
Sương sớm
Rừng khuya
Thật khó quên
Chốn xưa
thăm thẳm
thời gian khó
Tỉnh thức
mà sao
ngấn lệ nhoèn …

NGUYỄN TRỌNG TẠO ĐỒNG DAO
Hoàng Kim

Cảm ơn ‘Câu chuyện thi ca’ NHÀ THƠ NGUYỄN TRỌNG TẠO: “NHỮNG BÔNG HOA VẪN CỨ NỞ ĐÚNG MÙA” .Cảm ơn anh Duy-Man Vu đã chuyển tải tác phẩm ‘Hội ngộ Văn chương’ ưng ý và lắng đọng nhất, dường như là ‘bài giảng cuối cùng’, của nhà thơ nhạc sĩ tài hoa Nguyễn Trọng Tạo, tác giả ‘khúc hát sông quê’ sang tiếng Anh với văn phong hay chuẩn mực. Hôm nay là ngày đặc biệt Nguyễn Trọng Tạo bài giảng cuối cùng tham luận đọc tại Liên hoan văn học ASEAN lần thứ 2, Indonesia: “Chủ nghĩa tiêu dùng với tác phẩm văn học” là tuyên ngôn văn chương sau cùng và hay nhất của anh, mà những người lính chiến trường và các bạn hữu, người thân của anh ở mũi nhọn của trận tuyến dân trí, không thể không đọc lại và suy ngẫm

“… Vấn đề quan trọng là nhà văn có tin những điều mình viết ra là sự thật, là nhân văn, là hấp dẫn người đọc và dẫn dắt tâm hồn, tư tưởng của họ hay không. Đó là điều không dễ dàng. Tôi cũng đã nhiều lần nghiền ngẫm về điều đó. Tin hay không tin? Và tôi đã viết nó thành bài thơ “Tin thì tin không tin thì thôi”. Tôi xin đọc bài thơ này thay cho lời kết thúc bài phát biểu của mình:

TIN THÌ TIN KHÔNG TIN THÌ THÔI
Nguyễn Trọng Tạo

bốn lăm bậc thời gian dốc ngược
tôi đã vượt qua
em cách một sợi tơ
tôi đã không qua được
tin thì tin không tin thì thôi
tôi đã tới hang động yến sào tôi đã thèm ăn yến
vậy mà chưa được nếm bao giờ
hàng quốc cấm
nghe nói từ xưa làm vua sướng lắm
mà đôi khi tôi cũng sợ làm vua
tin thì tin không tin thì thôi
có anh hề đã nói với tôi
– đời thằng hề buồn lắm anh ơi
và tôi đã khóc
tin thì tin không tin thì thôi
nhưng tôi người cầm bút, than ôi
không thể không tin gì mà viết.
tin thì tin không tin thì thôi!

1991

“… it is important whether the writer believes what he wrote are truth, are human, are compelling to the reader and guide their soul and their thought or not. This is not easy. I also have mulled several times about it. Believe it or not? And I wrote the poem “Believe or don’t believe it’s alright.” I would like to read this poem as my closing words:

BELIEVE OR DON’T BELIEVE IT´S ALRIGHT

forty-five steps of time upside down
I have overcome
you are just a fine line of silk away
I have not overcome
believe or don’t believe it’s alright
I have come to the bird’s cave, I have longed to eat the bird’s nest
but I have not tasted
the national forbidden food
I have heard from old time it’s great to be king
but sometimes I am afraid to be king
believe or don’t believe it’s alright
there is a clown who told me
– a clown’s life is so sad, my brother
and I have cried
believe or don’t believe it’s alright
but me, a writer, oh dear
I can’t write without belief.
Believe or don’t believe it’s alright!
1991

Poet Nguyen Trong Tao
(Vietnam)

NHỚ ĐĂK TÔ TÂN CẢNH
Bạch Ngọc Hoàng
Kim

Thời chiến qua rồi mình vẫn vậy
Kim Long lúa sắn vẫn chuyên làm
Ngô khoai rau đậu nghề yêu thích

Măng rừng hoa núi cá tươi ngon

Nhớ tháng bảy mưa ngâu
Những con người trung hiếu

Thăm thẳm trời sông Thương
Việt Nam con đường xanh

Đến với Tây Nguyên mới https://khatkhaoxanh.wordpress.com/category/den-voi-tay-nguyen-moi

Kon Ka Kinh Gia Lai (ảnh Hồ Thị Thùy Linh)

KON KA KINH GIA LAI
Hoàng Kim

Kon Ka Kinh Kon Ka Kinh
Thăm thẳm Gia Lai bát ngát xanh
Vườn Quốc gia Việt Nam Hồn Việt
Trầm Hương hoa núi nhớ hương rừng

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/kon-ka-kinh-gia-lai/ và 18 đường dẫn liên quan các mẫu chuyện văn hóa tại chuyên mục Tiếng Việt lung linh sáng https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tieng-viet-lung-linh-sang/

Lời dặn của thánh Trần


LỜI DẶN CỦA THÁNH TRẦN

Biết mình và biết người
Dám đánh và quyết thắng
Kế sách một chữ Đồng
Hiền tài bút hơn gươm


Quốc Công đạo làm tướng
Tiết Chế đức dụng nhân

Lời dặn của Thánh Trần
Văn chương Ngọc cho đời


Ban mai đứng trước biển
Đảo Yến trong mắt ai
Thăm thẳm một tầm nhìn
Vị tướng của lòng dân


Bài học lớn muôn đời
Sóng yêu thương vỗ mãi

Giấc mơ lành yêu thương
Thế giới trong mắt ai

Sông Đồng Nai yêu thương
Sông Kỳ Lộ Phú Yên
Hà Nội mãi trong tim

Đất Mẹ vùng di sản

Giếng Ngọc vườn Tao Đàn
Sớm xuân kênh Thị Nghè
Sóc Trăng Lương Định Của
Biển Hồ Ngọc Kinh Luân

Đường xuân đời quên tuổi
An vui cụ Trạng Trình
Ban mai chào ngày mới
Việt Nam con đường xanh


Hoàng Kim
Lời dặn của Thánh Trần https://hoangkimlong.wordpress.com/category/loi-dan-cua-thanh-tran Sinh Kiếp Bạc Thác Trần Thương Thương Bảo Lộc tích hợp video Cảnh https://www.facebook.com/reel/1146659 & phim hay TÔN TỬ ĐẠI TRUYỆN tập 1; tập 2, tập 3, tập 4, tập 5, tập 6, tập 7, tập 8, tập 9, tập 10, tập 11, tập 12, tập 13, tập 14, tập 15, tập 16, tập 17, tập 18, tập 19, tập 20, tập 21, tập 22 , tập 23, tập 24, tập 25, tập 26, tập 27, tập 28, tập 29, tập 30, tập 31, tập 32, tập 33, tập 34, tập 35; https://youtu.be/yVAKhwhn9A0 Bài học lớn muôn đời ; Kế sách một chữ Đồng https://youtu.be/yVAKhwhn9A0 ; https://youtu.be/5ez92uX_ZiY; Hiền tài bút hơn gươm https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hien-tai-but-hon-guom; Cuộc đời cao hơn trang văn. Bảo tồn và phát triển tinh hoa di sản là niềm vui SOI SÁNG LẠI CHÍNH MÌNH, gồm những trãi nghiệm sâu sắc nhất về #cnm365, #vietnamhoc đất nước con người của chính mình, gia đình, người thân và thầy bạn.

Quốc Công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn mất ngày 20 tháng 8 âm lịch năm 1300. Người được dân Việt tôn kính gọi là Đức Thánh Trần và thường dâng lễ tạ ơn sớm từ 20 tháng 8 dương lịch đến ngày lễ chính. Vua Trần Anh Tông lúc Đức Thánh Trần sắp lâm chung có ân cần ngự tới nhà thăm, hỏi rằng: “Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào?”. Đức Thánh Trần  trả lời: “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy”. Nguyên văn: “Ngày xưa Triệu Vũ Đế (tức Triệu Đà) dựng nước, vua nhà Hán cho quân đánh, nhân dân làm kế thanh dã (vườn không nhà trống), đại quân ra Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, Hồ Nam, còn đoản binh thì đánh úp phía sau. Đó là một thời. Đời nhà Đinh, nhà Tiền Lê dùng người tài giỏi, đất phương nam mới mạnh mà phương bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên dưới một dạ, lòng dân không lìa, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống. Đó lại là một thời. Vua nhà Lý mở nền, nhà Tống xâm phạm địa giới, dùng Lý Thường Kiệt đánh Khâm, Liêm, đến tận Mai Lĩnh là vì có thế. Vừa rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây. Vì vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc phải bị bắt. Đó là trời xui nên vậy. Đại khái, nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản binh chế trường trận là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như các tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được. Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy” * (Đại Việt sử ký toàn thư tập 2 trang 76 -77).

Trần Hưng Đạo giành chiến thắng trước quân Nguyên trên sông Bạch Đằng, kết thúc chiến tranh Nguyên Mông – Đại Việt lần 3 vào ngày 9 tháng 4 năm 1288, tức 8 tháng 3 năm Mậu Tý. Sau ba lần thắng giặc, đất nước thanh bình, ông lui về Vạn Kiếp và mất ngày 20 tháng 8 năm 1300 tại vườn An Lạc. Đền Kiếp Bạc ( Hải Dương) là nơi đền thờ chính của đức Thánh Trần.

Chùa Thắng Nghiêm (Hà Nội) nơi Trần Hưng Đạo lúc nhỏ tu học, là nơi Người hiển thánh.

Đức Thánh Trần gương soi kim cổ

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là nhà chính trị, quân sự, nhà văn kiệt xuất thời nhà Trần. Chiến công kiệt xuất đánh bại quân đội nhà Nguyên năm 1285 và 1287 đã đưa Đức Thánh Trần thành đại danh tướng lừng lẫy nhất của thế giới và Việt Nam. “CHỌN TƯỚNG” là một chương trong Binh thư Yếu lược của Trần Quốc Tuấn, kiệt tác súc tích và sâu sắc lạ lùng.

“Người quân tử tiến thoái quả quyết, xem người thì thanh thản vui tươi, chí thì ở trừ tàn bạo, đó là khí độ của người tướng quốc. Thấy ác không giận, thấy lành không mừng, nhan sắc không thay đổi, đó là lượng của người thiên tử.

Được sự thắng nhỏ, gặp sự thua nhỏ, mà mừng lo hình ra nét mặt, hễ thấy động thì động, thấy tĩnh thì tĩnh, nhát mà không tính toán gì, cất chân thì thần sắc không định, mà hay lấy lời nói để thắng người, đó là tướng ngu vậy.

Bảy phép để biết người:

1. Hỏi bằng lời nói xem trả lời có rõ ràng không
2. Lấy lời cật vấn đến kỳ cùng để xem cách ứng biến của họ.
3.  Cho gián điệp thử xem có trung thành không.
4. Hỏi rõ ràng tường tất để xem đức hạnh thế nào.
5. Lấy của mà thử để xem có thanh liêm không
6. Lấy sắc đẹp mà thử để xem có đứng đắn không.
7. Lấy việc khó khăn mà thử để xem có dũng cảm không.
8. Đem rượu cho họ uống say để xem có giữ được thái độ không.

Tướng ngu có tám điều tệ:

1. Lòng tham mà không chán
2. Ghen người hiền, ghét người tài
3. Tin lời dèm pha, thích lời nịnh hót
4. Xét người mà không xét mình
5. Do dự không quả quyết
6. Say đắm rượu và sắc đẹp
7. Thích xảo trá mà lòng nhút nhát
8. Nói lời viễn vông mà không giữ lễ

Gia Cát Lượng sách Tướng Uyển chỉ bảy phép biết người.

Biết tính tình của người, chẳng gì khó bằng xem xét, lành dữ tuy khác nhau, tính tình và vẻ mặt chẳng phải một: có kẻ thì ôn hoà, hiền lành nhưng làm việc trộm cắp;có kẻ bề ngoài thì cung kính nhưng trong bụng thì vô lễ, dối trá; có kẻ bề ngoài thì mạnh dạn nhưng trong bụng thì khiếp sợ;có kẻ làm việc tận lực nhưng bụng không trung thành;

Bảy phép sau đây để biết người

1. Hỏi việc phải trái để dò chí hướng;
2. Lấy lời cật vấn để biết ứng biến;
3. Đem mưu kế hỏi để lường kiến thức;
4. Giao chuyện hiểm nguy để soi dũng cảm;
5. Mời rượu cho uống say để xét tính tình;
6. Đưa lợi gái thử để rõ thanh liêm chính trực;
7. Đem việc cậy nhờ để xét sự trung thành, tin thật.

Tám hạng tướng và bậc đại tướng

Nhân tướng là người dùng đức để đem đường cho người, dùng lễ để xếp việc cho họ, hiểu thấu sự đói rét của người dưới, biết rõ khó nhọc của đồng sự, đó là nhân tướng.

Nghĩa tướng là người làm việc không cẩu thả, thấy lợi mà không tham, biết chết vinh hơn sống nhục.

Lễ tướng là người có địa vị cao quý mà không kiêu căng, công hơn người mà không cậy, tài năng mà biết hạ mình, cứng cỏi mà biết nhẫn nhịn.

Trí tướng là người gặp biến bất ngờ mà chí không đổi, ứng phó linh hoạt với việc khó khăn, có thể đổi họa thành phúc, gặp cơn nguy biến mà sắp đặt thành thắng thế.

Tín tướng là người thưởng phạt nghiêm minh công bằng, khen thưởng không chậm trễ và không bỏ sót, trừng phạt không buông tha cho kẻ cao quý.

Bộ tướng thủ hạ của đại tướng phải chọn người tay chân lẹ làng, võ nghệ tuyệt luân,  giỏi đánh gần, ứng biến di chuyển mau lẹ, để bảo vệ an toàn cao nhất cho chủ soái.

Kỵ tướng là người có thể vượt núi non cheo leo, từng trải việc nguy hiểm, cưỡi ngựa bắn tên mau lẹ như chim bay, tới thì đi trước, lui thì về sau.

Mãnh tướng là người khí thế vượt hẳn ba quân, dám coi thường địch mạnh, gặp đánh nhỏ vẫn luôn cẩn trọng, gặp đánh lớn thì can đảm quả quyết.

Bậc đại tướng là người bao trùm và vượt hẳn tám hạng tướng kể trên, gặp hiền tài thì tôn trọng lắng nghe, biết tỏ ý mình không theo kịp người, biết nghe lời can ngăn như thuận theo dòng nước, lòng rộng rãi nhưng chí cương quyết, giản dị và nhiều mưu kế.”

Vạn Kiếp tông bí truyền thư (萬劫宗秘傳書) của Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương, tác phẩm này còn gọi là Vạn Kiếp binh thư đã thất truyền. Bài tựa của Trần Khánh Dư trong cuốn sách này giải thích bí truyền đại sư là người thế nào:

“Phàm người khéo cầm quân thì không cần bày trận, khéo bày trận thì không cần giao chiến, khéo giao chiến thì không thể thất bại, khéo thất bại thì không thương vong. Xưa kia, Cao Dao làm chức sĩ sư mà mọi người không dám trái mệnh, Văn Vương và Vũ Vương nhà Chu là bậc thầy về văn và về võ, ngấm ngầm sửa đức để khuynh loát quyền bính của nhà Thương mà lấy nghiệp vương. Đó đều có thể gọi là những người giỏi cầm quân, không cần bày trận vậy. Vua Thuấn múa lá mộc và lông trĩ mà họ Hữu Miêu tự mình tìm đến, Tôn Vũ nước Ngô đem mỹ nhân trong cung thử tập trận mà phía tây phá nước Sở hùng cường, phía Bắc ra uy với nước Tần nước Tấn, nổi tiếng khắp chư hầu. Đó đều có thể gọi là những người giỏi bày trận, không cần giao chiến vậy. Cho đến Mã Ngập nước Tấn dựa vào bát trận đồ chuyển đánh nghìn dặm, phá được Thụ Cơ Năng mà lấy lại Lương Châu. Thế gọi là người giỏi giao chiến không bao giờ thất bại vậy.Cho nên, trận nghĩa là bày ra, là khéo léo. Ngày xưa, vua Hiên Viên lập ra phép “tỉnh điền” để đặt binh chế, Gia Cát Lượng xếp đá bên sông để làm bát trận, Vệ công sửa lại làm trận Lục Hoa, Hoàn Ôn định ra trận Xà Thế, trước sau đều có trận đồ nổi tiếng, trình bày tuần tự, thành phép tắc rõ ràng. Nhưng người đương thời ít ai thông hiểu, muôn vàn đầu mối nhìn vào dường như rối loạn, chưa từng nắm được lẽ biến dịch bên trong. Ví như những phép tắc và suy luận của Lý Thuyên, người sau không ai hiểu nghĩa là gì. Vì thế, Quốc công ta bèn so sánh, kê cứu trận đồ và binh pháp của các nhà, tổng hợp lại thành một bộ sách. Tuy chép cả những điều chi tiết, nhưng người sử dụng thì nên bỏ bớt những chỗ rườm, tóm lấy thực chất. Rồi lấy năm hành ứng với nhau, chín cung câu với nhau, phối hợp cương và nhu, xoay vần chẵn và lẽ, không làm hỗn loạn âm dương và thần sát, phương lợi và sao tốt, hung thần và ác tướng, ba cát và năm hung, việc nào việc ấy thực phân minh rõ rệt. Quốc công lại còn thêm bớt với chiến thuật của thời Tam đại, nhờ đó trăm trận trăm thắng. Cho nên đương thời phía bắc làm cho Hung Nô phải sợ, phía tây làm cho Lâm Ấp phải kinh. Rồi ông đem sách này dạy bảo con em làm gia truyền, không tiết lộ cho người ngoài biết. Lại có lời dặn rằng: “Sau này con cháu và bề tôi phò tá của ta có học được bí thuật này thì nên lấy đầu óc sáng suốt, linh hoạt mà thực hành và sắp đặt nó, chứ không nên lấy đầu óc cứng nhắc, tối tăm mà cất giữ và lưu truyền. Nếu trái điều đó thì sẽ mang vạ vào thân, lại hại lây đến cả con cháu. Đó gọi là tiết lậu cơ trời vậy.”

Bài tựa của Trần Khánh Dư cho Vạn Kiếp tông bí truyền thư, còn như sách Binh thư yếu lược mà người đời ngờ rằng bản thật đã bị cướp và thất lạc, đời sau chỉ có chân truyền lời này.

Chùa Thắng Nghiêm (Hà Nội) nơi Trần Hưng Đạo lúc nhỏ tu học, là nơi Người hiển thánh.

Ôi, đọc lại “Binh Thư Yếu lược” “Hịch Tướng Sĩ Văn” và Vạn Kiếp tông bí truyền thư, gương soi kim cổ, lắng nghe cuộc sống, để biết sửa mình;

Hoàng Kim

Danghuong

LỜI THỀ TRÊN SÔNG HÓA
Hoàng Kim


Sông Hóa ơi Bạch Đằng Giang
Ta đến nơi đây chẳng một lần
Lời thề sông núi trời đất hiểu
Lời dặn của Thánh Trần (*)

Sông Hóa ơi hời, ơi Linh Giang
Quê hương liền dải tụ trời Nam
Minh Lệ, Hưng Long hai bầu sữa
Hoàng Gia trung chính một con đường
.

Rào Nan Đá Dựng chốn sông thiêng
Nguồn Son Chợ Mới đẹp ân tình
Minh Lệ đình xưa thương làng cũ
Nguyện làm hoa đất của quê hương.


Đất nặng ân tình đất nhớ thương
Ta làm hoa đất của quê hương
Để mai mưa nắng con đi học
Lưu dấu chân trần với nước non.

(*) Trương Hán Siêu “Phú sông Bạch Đằng” đã thuật lại cuộc chiến sông Bạch Đằng nơi voi chiến sa lầy rơi nước mắt và lời thề trên sông Hóa 1288 của Hưng Đạo Vương. Lời thơ lẫm liệt hào hùng bi tráng: “Thuyền bè muôn đội, tinh kỳ phấp phới/ Hùng dũng sáu quân, giáo gươm sáng chói/[…] / Trận đánh được thua chửa phân/ Chiến lũy bắc nam đối chọi/ […] / Tất Liệt thế cường, Lưu Cung chước dối / Những tưởng gieo roi một lần/ Quét sạch Nam bang bốn cõi/ […] /Trời cũng chiều người / Hung đồ hết lối! ” Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải viết: ‘Thái bình tu nổ lực/ Vạn cổ thử giang san”.— cùng với Tình yêu cuộc sống, Kim Hoàng, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Thị ThủyHoang Long.; Đá Đứng chốn sông thiêng; Làng Minh Lệ quê tôi; Hoàng Kim ghé thăm Cụ Nguyễn Khôi người hiền tâm đắc ý kiến Cụ Trần Thái Hồng Truyện cũ chép lại CẬY NGƯỜI KHÔNG BẰNG CHẮC Ở MÌNH; Nhớ lời Thầy Nguyễn Khoa Tịnh Em ơi can đảm lên

BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN
#KimNotes #cltvn #ana 26 tháng 6
#cnm365 Tìnhyêucuộcsống
Lời dặn của Thánh Trần (*)

Sông Hóa ơi hời, ơi Linh Giang
Quê hương liền dải tụ trời Nam
Minh Lệ, Hưng Long hai bầu sữa
Hoàng Gia trung chính một con đường.

Rào Nan Đá Đứng chốn sông thiêng
Nguồn Son Chợ Mới đẹp ân tình
Minh Lệ đình xưa thương làng cũ
Nguyện làm hoa đất của quê hương.

Đất nặng ân tình đất nhớ thương
Ta làm hoa đất của quê hương
Để mai mưa nắng con đi học
Lưu dấu chân trần với nước non.

(*) Hoàng Kim @hoangkimvn Nguyễn Thị ThủyHoang Long.

Đá Đứng chốn sông thiêng Làng Minh Lệ quê tôi

Đình Minh Lệ Làng Minh Lệ quê tôi (xã Nam Gianh, tỉnh Quảng Trị)

Yellow stones of Hoàng Kim
(Vườn Hoàng Kim)

Đá vàng thương củ sắn khoai
Nhớ bông hoa súng thắp hoài ao sen
Văn chương nết đất, thơ hiền
Lão Nông dạy học vững bền #annhiên


Yellow stones of Hoàng Kim

(*) Notes Ghi chú Hoàng Kim, Nguyễn Thị Thủy, 1981: Tiến bộ mới trong chọn giống khoai lang ở các tỉnh phía Nam Việt Nam. (Recent progress in Sweet Potato varietal improvement in South Vietnam. Báo cáo công nhận chính thức bốn giống khoai lang Hoàng Long, Chiêm Dâu, Gạo, Bí Đà Lạt. Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp Thực phẩm. Hội nghị khoa học kỹ thuật nông nghiệp các tỉnh phía Nam lần thứ nhất, thành phố Hồ Chí Minh, 9-11/5/1981. 33 trang MAFI (MARD), Proc. 1st Vietnam Agricultural Research Workshop held in Ho Chi Minh City, Vietnam, May 09-11/1981. 33 pages)  Khoai lang Hoàng Long có nguồn gốc tại Thái Sơn, Thái An, Sơn Đông, Trung Quốc do tổ chuyên gia Trung Quốc mang vào Việt Nam năm 1968 làm việc với các chuyên gia nông nghiệp Việt Nam Quách Ngọc Ân, Đinh Thế Lộc. Khoai lang Hoàng Long được  trồng đầu tiên tại chân núi Trường Sinh thuộc bản Ngọc, xã Cẩm Lương, huyện miền núi Cẩm Thủy và phát triển rộng nhất ở huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Giống khoai lang Hoàng Long chọn lọc do Hoàng Kim, Nguyễn Thị Thủy Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh thu thập, tuyển chọn và giới thiệu công nhận giống năm 1981. Khoai Hoàng Long chọn lọc được tuyển chọn theo hướng năng suất cao phẩm chất ngon vỏ củ màu hồng sẫm, thịt củ màu vàng cam, dạng củ đều đẹp, chất lượng ngon, độ dẽo hơn độ ngọt Đây là giống khoai lang cao sản được trồng phổ biến nhất Việt Nam trong gần nửa thế kỷ qua, nhiều nhất tại tỉnh Thanh Hóa, Ninh Bình. Giống khoai Hoàng Long tuyển chọn tại Việt Nam có chất lượng ngon hơn và ngắn ngày hơn so với giống gốc đầu tiên tại Trung Quốc.Notes ** Lúa, bắp (ngô), sắn, khoai lang là bốn loại cây lương thực chính của Việt Nam https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A2y_l%C6%B0%C6%A1ng_th%E1%BB%B1cKhoai

SÚNG AO SEN 1
Hoàng Kim
Hồ thủy phương Nam súng lẫn sen
Cảnh huống chân quê chẳng ngại phèn
Hưng Thịnh ân tình lành bến đợi
Đồng Nai thơm thảo khí trời chen
Bồ Đề sen hồng đầm thủy kính
Hưng Long súng tím quyết không hèn
Tuổi hạc nhàn vui cùng bạn quý
Lời vàng châu ngọc kiệm lời khen.

Đồng Nai 13/6/26

SÚNG AO SEN 2
Hoàng Kim
May nắng mưa lành nước súng sen
Đất Mẹ truân chiên chắng ngại phèn
Khoai sắn lúa ngô âm thầm gắng
Đậu Hoa Quả Dược mặc sức chen
Ông Bà nội ngoại ơn che chở
Bố Mẹ sinh ra vốn chẳng hèn
Nước mát soi gương vui ngắm cá
Phúc hậu chân tình tiếng ngợi khen.

SÚNG AO SEN 3
Hoàng Kim

Người tĩnh tâm hồn ta cũng sen
Nam sen cuối hạ súng thay phèn
Hồng thắm trắng tinh hương bát ngát
Tím cành xanh lá vượt cỏ chen

Thủy hồ đầm may nơi núp
Tâm thế #thungdung vốn chằng hèn
Nắng hững ban mai vui trời đắt
Mưa lành thời vận thấm câu khen*.

(*) Chuyện bảy viên ngọc thần

BÀI CA NHỊP THỜI GIAN
Đôi cánh thời gian vững chí bay
Một đời mưa nắng tĩnh tâm này
Hành Giả Kim Tinh thông tuệ mắt
Ngộ Không Vàng Đá thép chân tay
Tám mốt nghiệp duyên không e sợ
Chín tầng trời đất chẳng chuyển lay
Mười phương cõi Bụt mười hai bến
Chính Trung Hiếu Thiện Lành #đẹpvàhay  
Hoàng Kim

Thầy Trao Gương Bạch Ngọc
Trăng Xuân Soi Đường Trần
Thiên Mệnh Sáng Sử Ký
Hoàng Gia Ngọc Phương Nam

Viên Minh Đêm Sương Giáng
Hạc Vàng Đón Người Thân
Vượt Trăm Năm Viên Mãn
Rằm Trọn Thời Thanh Minh

Thầy Cây Lương Thực Việt
Nghề Giáo Dưỡng Nhân Tâm
Nghiệp Vinh Danh Khoai Sắn
Lúa Ngô Thành Trúc Lâm

Thiền Sư Lão Nông Tăng
Khuyên giờ lành tỉnh thức
Noi theo dấu chân Bụt
#Thungdung#annhiên


Chính Trung Hiếu Thiện Lành
Lão Nông Ngọc phương Nam
Ban mai chào ngày mới
Tỉnh thức cùng tháng năm

Hoàng Kim

ĐƯỜNG SỐNG

Đường sống Thầy ơi một lối hiền
Chính Trung Hiếu Thiện Chí Minh Lành
Con theo lối sáng đầy ơn nghĩa
Soi thấu tâm thành một trái tim.

Nguyện trọn lời thương theo chân Bác
Kính yêu đất nước Việt quê hương
Hoa lúa biết công người hiếu thảo
Trọn giấc mơ tiên một chặng đường.

*
ĐÁ trời thạch trận nông sâu
VÀNG thau sỏi cát, chẳng cầu ngại chi
THƯƠNG nhà yêu nước huyền vi
CỦ tinh hoa chọn, mới về Chính Trung


SẮN thơm ngon nhớ ơn trồng
KHOAI bùi sâm quý đất lành miền quê
**

NHỚ Người * bình dị anh minh
BÔNG hồng cài áo, chí tình non sông
HOA Đất nguyên vẹn tấc lòng
SÚNG
gươm kiếm bút tâm trong chí bền

THẮP đèn lên đi em!
HOÀI thương chuyện cũ lời Thầy theo em !
AO Trời Biển Việt Đường Xanh
SEN Vàng Bùn Chẳng Hôi Tanh Mùi Bùn

VĂN thơ sử Việt lưu công
CHƯƠNG trình tổng thể tích trong mỗi thời
NẾT na phúc hậu tính người
ĐẤT
lành chim đậu lộc trời thiện tâm

THƠ dâng theo dấu Tagore
HIỀN thương Đỗ Phủ sao Kim tỏ lòng.

LÃO Ngư Tiều thích trăng xanh
NÔNG dân hiện đại đức dành niềm vui
DẠY Cây Lương Thực trọn đời
HỌC yêu thương vạn kiếp Người chưa xong

VỮNG tâm thỏa chí tang bồng
BỀN lòng điểm sáng dấn thân giảm nghèo
AN bình biển rộng trời cao
NHIÊN Đăng Cổ Phật lối vào đồng xuân.

Lời thương bạn tặng đôi vần
#Thung dung xướng họa, xa gần thảnh thơi
Mình về với chính mình thôi
#Annhiên vui khỏe, nhàn nơi thiện lành.

#Kim Notes 4 7 #cltvn
Hoàng Kim

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/loi-thuong & https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chuyen-co-tich-nguoi-lon/

Kim Notes lắng ghi chú
* Nhớ Người Minh triết Hồ Chí Minh Sóc Trăng Lương Định Của
** Vị tướng của lòng dân : Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thuở Cụ làm PTT phụ trách KHKT và kế hoạch hoa gia đình, đã nói chuyện với cán bộ công viên chức tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam “Khoai lang ở Quảng Bình quê tôi là sâm người nghèo”. Trong thời ấy, GS Trần Thế Thông, GS Mai Văn Quyền, GS. Trần Hồng Uy, GS Nguyễn Ngọc Kính, … đều khuyến khích, ủng hộ vợ chồng tôi theo nghiệp chọn giống sắn khoai ngô lúa nghề nông ‘cha truyền con nối’ thiện nghiệp ngày nay


*** Giống Khoai lang Việt Nam
**** Cây Lương Thực Việt Nam
***** Bồ Đề Nôi Hạnh Phúc

GIỐNG KHOAI LANG VIỆT NAM
Hoàng Long, Hoàng Kim, Nguyễn Thị Thủy, Trần Công Khanh, Nguyễn Thị Sâm, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Văn Phu
, (Bài tóm tắt tổng hợp về giống khoai lang)

Giống khoai lang Việt Nam phổ biến HL518 NHẬT ĐỎ, HL491 NHẬT TÍM, HƯNG LỘC 4, HOÀNG LONG, BÍ ĐÀ LẠT, Mười kỹ thuật canh tác khoai lang, liên kết sản xuất chế biến tiêu thu hiệu quả

FOODCROPS. GIỐNG KHOAI LANG VIỆT NAM. Nguồn gen giống khoai lang trên thế giới. Nguồn gen giống khoai lang ở Việt Nam. Nguồn gốc và đặc tính nông sinh học chủ yếu của một số giống khoai lang phổ biến trong sản xuất hiện nay: Giống phổ biến:  HL518 (Nhật đỏ), HL491 (Nhật tím),  Hoàng Long, Hưng Lộc 4, Bí Đà Lạt; Giống bản địa quý, giống tạo thành và giống triển vọng: Chiêm Dâu,  khoai Sữa, Khoai Gạo, Trùi Sa, Trà Đõa, Dương Ngọc, Bí  Đế,Tự Nhiên, Cực nhanh, KB1, K51,K1, K2, K3, K4, K7, K8, VX37-1, KB1; Kokey 14 (Nhật vàng), Murasa Kimasari (Nhật tím 1), HL284 (Nhật trắng), HL565, HL524, KLC3

TA CÒN NỢ CỦ KHOAI LANG
Hoàng Kim và đồng sự (*)

Ta còn nợ củ khoai lang
Nợ bao mưa nắng mênh mang nỗi niềm
Rời đồng trời đã nhá nhem
Lên xe trăng rọi sương đêm dặm trường

Sâm nhà nghèo nhớ mà thương
Giống khoai lang Việt thêm vương vấn đời
Kiếp sau xin nối nghiệp Người
Lúa ngô khoai sắn cho đời có sâm
.

Ta còn nợ củ khoai lang
Nhạt nhoà mới cũ, hiểu thêm chuyện đời …


https://khatkhaoxanh.wordpress.com/category/ta-con-no-cu-khoai-lang

Mô hình trồng sầu riêng xen khoai lang giống HL518 Nhật đỏ năng suất cao, phẩm chất ngon đang canh tác phổ biến tại tỉnh Đăk Lắk ( Video Nguyễn Thanh Bình 27 9 2023 https://www.facebook.com/watch/?v=665995315505310

THƠ VUI NHỮNG NGÀY NHÀN

Thơ hay gạn lọc khơi trong
Tình như mắt lá mãi mong một mình
Hạt sương đầu nụ lung linh
Thơm như hương nắng mông mênh đất trời

Ta về khoảng lặng Người ơi
Thiền trong tâm tưởng bồi hồi nhớ quên
Tim xoa ấm áp ưu phiền
Đường xuân theo Bác vững thêm tâm hồn

Chung tay dạy học và làm
Đời vui hưu trí để càng tĩnh tâm
Vô ưu biết đủ phước nhà

Biết ơn từ hiếu thiện lành nhân duyên.

Hoàng Kim
#Nhàtôi #Khátkhaoxanh

Về hưu cuốc đất trồng rau,
Nhàn tênh hôm sớm, giải dầu #Thungdung
Rượu bia thuốc lá chẳng màng
Chính liêm cần kiệm không phiền lụy ai


Thảnh thơi nắng sớm mưa mai
Giúp con, dạy cháu, khuyến ai cần mình
An nhàn, đức độ, công minh
Tìm lành, lánh dữ, hoàng thành  HƯU TU.


Về hưu việc cứ lu bù
Kiệm cần vẫn quý từng xu, từng đồng
Làm thêm đâu phải buồn lòng
Mà quen lao động thong dong tối ngày


Người thân đùa bảo đi cày
Vì không lười được, hưu này HƯU TRÂU.
Về hưu chẳng thiết đi đâu
Nấu cơm, dạy cháu, nhặt rau, quét nhà


Giúp con, khuyến học, thưởng trà
Kiêm luôn bảo vệ, nuôi gà, tưới cây  
Cháu thương quấn quýt vui say  
Thuận làm HƯU CHÓ suốt ngày #Annhiên

#Thungdung chẳng lụy ưu phiền
Đũa tre chén đất mà quên sự đời .
Mặc ai quyền quý đua bơi
Thanh nhàn vui hưởng trọn thời thần tiên


Mới hay tiền định nhân duyên
Một pho Ngọc quý làm nên chuyện dài
Mã tiền khóa luận đúng sai
Đức năng thắng số vui say việc đời


Đường trần thỏa chí rong chơi
Thênh thênh bạn quý ấy thời HƯU HÂM
Cuộc đời thoáng chốc trăm năm
Đồng dao người lớn tri âm thành vè:


“Ai ơi lẳng lặng mà nghe
Dữ răn việc trước, lành dè thân sau” (7).

“Trai thời trung hiếu làm đầu
Gái thời hiếu hạnh làm câu trau mình” (3):

“Lênh đênh qua cửa Thần Phù
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm” (1)
 
“Trai khôn thì được vợ chiều
Gái ngoan thì được chồng yêu suốt đời” (2).

“Nên thợ nên thầy nhờ có học
No ăn no mặc bởi hay làm” (4) .

“Dẫu có bạc vàng trăm vạn lượng
Không bằng kinh sử một vài pho”(5).

“Người trồng cây hạnh người chơi
Ta trồng cây đức để đời mai sau
. (6)

Hoàng Kim

https://hoangkimlong.wordpress.com/tho-vui-nhung-ngay-nhan/ Những câu thơ trích dẫn : (1) (2) (6) Ca dao người Việt cổ; (3) (7) Nguyễn Đình Chiểu: (4) Nguyễn Trãi; (5) Lê Quý Đôn


https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tho-vui-nhung-ngay-nhan/

Hoàng Kim Long
HOÀNG GIA

HOÀNG LONG CÂY LƯƠNG THỰC
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoang-long-cay-luong-thuc & https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoang-long-day-va-hoc

#hoanglong 4 Hoàng Long Dạy Và Học 4 https://youtu.be/2UyJuhmBg6o
#hoanglong 3 Hoàng Long Dạy Và Học 3 https://youtu.be/PEt-sMGwTf0
#hoanglong 2 Hoàng Long Dạy Và Học 2 https://youtu.be/Ser-qe_6eBo
#hoanglong 1 Hoàng Long Dạy Và Học 1 https://youtu.be/fnrWBdkZ9KA

GIỐNG SẮN VIỆT NAM PHÁT TRIỂN QUA 50 NĂM (1975-2024)
Vietnamese cassava varieties progression across 50 years

Hoàng Long1, Nguyễn Thị Trúc Mai2, Nguyễn Nữ Quỳnh Đoan3,
Hoàng Kim4  , Clair Hershey5 & Reinhardt Howeler5

Tóm tắt

Giống sắn Việt Nam là yếu tố cơ bản, then chốt trong chương trình phát triển sắn bền vững. Bài viết này nhằm mục đích tóm tắt những tiến bộ đã đạt được trong gần 5 thập kỷ trong việc nhân giống và nâng cao giống sắn Việt Nam. Từ đó vạch ra cơ cấu giống sắn phù hợp cho từng thời kỳ và vùng sinh thái. Việc lựa chọn các giống sắn có năng suất tinh bột và khả năng kháng bệnh cao cùng với việc xây dựng mô hình canh tác sắn phù hợp, hiệu quả điển hình là 10T cho các giống sắn Việt Nam KM568, KM539, KM537, KM569, KM94 là nền tảng cho sự bền vững, phát triển sắn qua các năm. Hiện tại, chúng tôi vận động nông dân trồng các giống sắn có triển vọng như KM568 và KM539 (phiên bản nâng cao của giống sắn CIAT C39, được tạo qua nhiều chu kỳ nhân giống từ năm 2004 trở đi), KM537, KM569 và HN1 (ban đầu được gọi là TMEB419), bên cạnh các giống sắn phổ biến: KM440, KM419, KM94, KM7, STB1, KM414, KM98-7, KM140, KM98-5, KM98-1. Chúng tôi đã tiến hành các thử nghiệm về tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định (DUS) và giá trị trồng trọt và sử dụng (VCU), giới thiệu các giống sắn nổi bật trong canh tác quy mô lớn, từ đó cung cấp bằng chứng thuyết phục cho việc bảo tồn thận trọng và phát triển bền vững cây sắn. Quá trình phát triển sắn Việt Nam (1975 đến nay) trải qua 6 giai đoạn, với 5 đợt chuyển đổi cơ cấu giống sắn phù hợp với định hướng mục tiêu, điều kiện canh tác và nhu cầu thị trường, đỉnh cao là 16 giống sắn phổ biến và 4 giống sắn có triển vọng KM568, KM539, KM537, và KM569.

Từ khóa: giống sắn, DUS và VCU, tiến bộ, Việt Nam

Việc chính đời người chỉ ít thôi.
Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi.
Phúc hậu suốt đời làm việc thiện.
Di sản muôn năm mãi sáng ngời

CÂY LƯƠNG THỰC VIỆT NAM

Cây Lương thực Việt Nam #CLTVN chủ yếu có lúa ngô, sắn, khoai. Ẩm thực Việt, nguồn thức ăn đồ uống Việt (Food & Drink) bao gồm gạo ngô, sắn, khoai, cây đậu đỗ thực phẩm, rau hoa quả, thịt, cá, … Dạy và học cây lương thực ngày nay đòi hỏi sự hiểu biết chuyên sâu hệ thống và kết nối liên ngành, nhằm nâng cao giá trị hiệu quả thực tiễn sản xuất chế biến cung ứng và tiêu thụ sản phẩm thành chuỗi giá trị ngành hàng. Mục tiêu nâng cao giá trị chất lượng cuộc sống người dân, tỏa sáng Việt Nam đất nước con người ra thế giới về chất lượng giống, khoa học kỹ thuật công nghê thâm canh cây lương thực Việt, ẩm thực Việt, thương hiệu Việt, sinh thái nông nghiệp Việt, hiệu sách Việt, ngôn ngữ, lịch sử văn hóa Việt Nam.

Cây Lương thực Việt Nam #cltvn thương hiệu Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh một số sản phẩm chính được nghiên cứu phát triển, trồng chủ lực thương mại / hoặc phổ biến rộng rãi trong sản xuất những năm gần đây (hình).Giống lúa GSR65, GSR90, Giống sắn KM419, KM440, Giống khoai lang HL518 (Nhật Đỏ), HL491 (Nhật Tím), Hoàng Long. Đó là lời biết ơn chân thành của các tác giả đối với Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm trên 67 năm (19/11/1955 -19/11/2022) ngày thành lập Trường, và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam chuẩn bị kỷ niệm một trăm năm nông nghiệp Việt Nam IAS đường tới 100 năm (1925-2025) Bài viết này giới thiệu đúc kết tư liệu dạy và học Cây Lương thực Việt Nam giúp bạn đọc tiện theo dõi, hòa niềm vui chung với thầy bạn và đông đảo bà con nông dân.

KHOAI HOÀNG LONG, LÚA SIÊU XANH, NÚI THÁI SƠN

“Khoai Hoang Long, Lúa Siêu Xanh, Núi Thái Sơn là ba điểm đến yêu thích nhất của Hoàng Kim và Hoàng Long tại đất nước Trung Hoa. Vợ chồng Hoàng Kim Nguyễn Thị Thủy bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu đời mình bằng giống khoai Hoàng Long và lấy tên khoai Hoàng Long đặt tên cho Hoang Long con trai của mình. Con chúng tôi lại bắt đầu sự nghiệp cuộc đời con Hoàng Long cây lương thực bằng kết quả chọn tạo và phát triển giống Lúa Siêu Xanh Việt Nam (Green Super Rice GSR) GSR65, SR90 với chín năm học tập chọn tạo và thử nghiệp phát triển. Hai cha con chúng tôi ước muốn tạ ơn bằng sự leo núi Thái Sơn đêm trăng rằm Phật Đản 2018 ở đất nước Trung Hoa sau khi Hoàng Long bảo vệ thành công luận án tiến sĩ ở Viện Hàn Lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc (CAAS). Hoàng Kim đã nói với thầy Li và thầy Zheng như vậy. Chùm ảnh này lưu lại những kỹ niệm chính đời người không bao giờ quên.

Ai bảo chăn trâu là khổ? https://hoangkimlong.wordpress.com https://youtu.be/4AppOs_jQ-Y

Giống khoai Hoàng Long

GIỐNG KHOAI HOÀNG LONG

Nguồn gốc giống:
Hoàng Long là giống khoai lang phổ biến ở Việt Nam. Nguồn gốc Trung Quốc nhập nội vào Việt Nam năm 1968, trồng phổ biến ở Thanh Hóa, Ninh Bình. Giống do Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh tuyển chọn và giới thiệu (Hoàng Kim, Nguyễn Thị Thủy, 1981). Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống năm 1981(*). Đặc điểm giống: Thời gian sinh trưởng 85-95 ngày. Năng suất củ tươi 15 – 27 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-30%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu hồng sẫm, thịt củ màu vàng cam, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím, lá hình tim không phân thùy, phủ luống gọn, mức độ nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình.

(*) Notes Ghi chú Hoàng Kim, Nguyễn Thị Thủy, 1981: Tiến bộ mới trong chọn giống khoai lang ở các tỉnh phía Nam Việt Nam. (Recent progress in Sweet Potato varietal improvement in South Vietnam. Báo cáo công nhận chính thức bốn giống khoai lang Hoàng Long, Chiêm Dâu, Gạo, Bí Đà Lạt. Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp Thực phẩm. Hội nghị khoa học kỹ thuật nông nghiệp các tỉnh phía Nam lần thứ nhất, thành phố Hồ Chí Minh, 9-11/5/1981. 33 trang MAFI (MARD), Proc. 1st Vietnam Agricultural Research Workshop held in Ho Chi Minh City, Vietnam, May 09-11/1981. 33 pages)  Khoai lang Hoàng Long có nguồn gốc tại Thái Sơn, Thái An, Sơn Đông, Trung Quốc do tổ chuyên gia Trung Quốc mang vào Việt Nam năm 1968 làm việc với các chuyên gia nông nghiệp Việt Nam Quách Ngọc Ân, Đinh Thế Lộc. Khoai lang Hoàng Long được  trồng đầu tiên tại chân núi Trường Sinh thuộc bản Ngọc, xã Cẩm Lương, huyện miền núi Cẩm Thủy và phát triển rộng nhất ở huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Giống khoai lang Hoàng Long chọn lọc do Hoàng Kim, Nguyễn Thị Thủy Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh thu thập, tuyển chọn và giới thiệu công nhận giống năm 1981. Khoai Hoàng Long chọn lọc được tuyển chọn theo hướng năng suất cao phẩm chất ngon vỏ củ màu hồng sẫm, thịt củ màu vàng cam, dạng củ đều đẹp, chất lượng ngon, độ dẽo hơn độ ngọt Đây là giống khoai lang cao sản được trồng phổ biến nhất Việt Nam trong gần nửa thế kỷ qua, nhiều nhất tại tỉnh Thanh Hóa, Ninh Bình. Giống khoai Hoàng Long tuyển chọn tại Việt Nam có chất lượng ngon hơn và ngắn ngày hơn so với giống gốc đầu tiên tại Trung Quốc.Notes ** Lúa, bắp (ngô), sắn, khoai lang là bốn loại cây lương thực chính của Việt Nam https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A2y_l%C6%B0%C6%A1ng_th%E1%BB%B1cKhoai

lang Hoàng Long trồng phổ biến ở Việt Nam. Nguồn gốc Trung Quốc nhập nội vào Việt Nam năm 1968, trồng phổ biến ở Thanh Hóa, Ninh Bình. Giống do Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh tuyển chọn và giới thiệu (Hoàng Kim, Nguyễn Thị Thủy, 1981). Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống năm 1981(*). Đặc điểm giống: Thời gian sinh trưởng 85-95 ngày. Năng suất củ tươi 15 – 27 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-30%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu hồng sẫm, thịt củ màu vàng cam, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím, lá hình tim không phân thùy, phủ luống gọn, mức độ nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình. Giống khoai lang Hoàng Long ngày nay là loại cây đặc sản của tỉnh Ninh Bình nói chung và vùng Nho Quan Gia Viễn vốn nằm bên sông Hoàng Long nói riêng. Khoai Hoàng Long có thịt củ bở, màu vàng nhạt, bùi, ngọt và
có mùi thơm đặc trưng. Hiện nay, Trung tâm Thực nghiệm Sinh học Nông nghiệp công nghệ cao thuộc Viện Di truyền nông nghiệp Việt Nam đã thử nghiệm và phục tráng thành công giống khoai lang Hoàng Long cho năng suất, chất lượng cao trên diện tích 3ha tại các xã Yên Quang và Phú Sơn huyện Nho Quan. Khoai Hoàng Long cùng với dê núi Ninh Bình, rượu Kim Sơn, dứa Đồng Giao, cơm cháy Ninh Bình là những đặc sản tiêu biểu được xây dựng thương hiệu và đem vào phục vụ du lịch.

Giống khoai lang Việt Nam Giống khoai lang HL518; Giống khoai lang HL491; Giống khoai Hoàng Long; Giống khoai lang HL4; Giống khoai Bí Đà Lạt

GIỐNG KHOAI LANG NGON HL518

gọi là khoai Bình Minh Bình Tân (Vĩnh Long), và vùng khoai khoai Lệ Cần (là đặc sản của vùng Lệ Cần, xã Tân Bình, Đak Đoa, Gia Lai). Vì nổi tiếng nên giống khoai này được trồng ở khắp nơi. Nhưng do chỉ nhân giống bằng dây nên củ không còn nguyên phẩm chất như ban đầu.

Nguồn gốc giống: Giống khoai lang HL518 (Nhật đỏ) là giống khoai lang Việt Nam ưu tú có nguồn gốc từ tổ hợp lai Kokey 14 Nhật Bản polycross, tạo giống tại Việt Nam; giống do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam chọn tạo và giới thiệu (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim, Trần Công Khanh, Nguyễn Thị Sâm 1997) Giống khoai lang HL518 (Nhật đỏ) đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống năm 1997; hiện trồng phổ biến trong sản xuất và bán nhiều ở các siêu thị (*).

Đặc tính giống: HL518 là giống khoai lang rất ngon. Thời gian sinh trưởng từ 95 đến 110 ngày. Năng suất củ tươi: 17-32 tấn/ha, tỷ lệ chất khô 27-30%. chất lượng củ luộc rất ngon, vỏ củ màu đỏ đậm, thịt củ màu cam đậm, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím, nhiễm nhẹ sùng, hà và sâu đục dây. Các chợ và siêu thị trên toàn quốc đều có bán. Mười kỹ thuật canh tác khoai lang cần tuyển lại hệ củ theo bản tả kỹ thuật đã đăng ký, để đảm bảo chất lượng và năng suất.

(*) Ghi chú: Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim, Trần Công Khanh, Nguyễn Thị Sâm 1997. Hai giống khoai lang mới HL518 và HL491. Tài liệu báo cáo công nhận hai giống khoai lang HL518 và HL419. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Hội nghị khoa học kỹ thuật nông nghiệp ở các tỉnh phía Nam tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 16-18/9/1997. 18 trang. Two new sweet potato varieties: HL 518 and HL 491. In: MARD Proc. Vietnam Agricultural Research Workshop held in Ho Chi Minh City, Vietnam, Sep 16- 18/1997. 18p.

Giong Khoai lang HL518 NhatDo


Hỏi: Giống khoai lang HL518 Nhật Đỏ làm sao để nhận diện giống? Cần mua đúng loại giống khoai ngon này để ăn và trồng thì nên mua ở đâu để có giá tốt và mua không bị lầm? Hiện nay ai và nơi nào có thể giúp làm việc bảo tồn phát triển giống khoai lang ngon cao sản này? Thầy Hoàng Kim, Nguyễn Thị Thủy, Trần Công Khanh Nguyễn Thị Sâm, là các tác giả giống, hiện còn tiếp tục giúp tư vấn sản xuất, tiêu thụ đối với giống khoai lang này không?

Tiến sĩ Hoàng Kim trả lời:

1) Giống khoai lang HL518 Nhật Đỏ nhận diện giống cần đối chiếu hình ảnh củ và thận lá, so sánh chi tiết với bản tả kỹ thuật của giống khoai lang HL518 đã công bố của Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim, Trần Công Khanh, Nguyễn Thị Sâm 1997:Hai giống khoai lang mới HL518 và HL491 (Two new sweet potato varieties: HL 518 and HL 491) Tài liệu báo cáo công nhận chính thức hai giống khoai lang HL518 và HL419. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Hội nghị khoa học kỹ thuật nông nghiệp ở các tỉnh phía Nam tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 16-18/ 9/ 1997,18 trang.

Giống khoai lang ở Việt Nam hiện nay có nhiều loại với năng suất, chất lượng, thời gian sinh trưởng rất khác nhau và hiệu quả kinh tế cũng rất khác nhau. Ba giống khoai lang cao sản có chất lượng ngon, được trồng phổ biến nhất là HL518 (Nhật đỏ), HL491 (Nhật tím) và Hoàng Long chọn lọc. Thông tin về ba giống khoai lang này được tóm tắt dưới đây: xem thêm Giống khoai lang Việt Nam https://hoangkimlong.wordpress.com/category/giong-khoai-lang-viet-nam/

HL518PhuThien

Giống khoai lang ngon HL518

Nguồn gốc giống: Giống khoai lang HL518 (Nhật đỏ) do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc, Viên Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam chọn tạo và giới thiệu từ tổ hợp Kokey 14 polycross nguồn gốc Nhật Bản = CIP92031 = HL518 (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim, Trần Công Khanh, Nguyễn Thị Sâm 1997). Giống đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống năm 1997; hiện phổ biến trong sản xuất phía Nam, (trồng nhiều ở vùng Lệ Cần, xã Tân Bình, Đak Đoa, Gia Lai) và bán nhiều ở các siêu thị . Đặc tính giống: Thời gian sinh trưởng: 95 -110 ngày. Năng suất củ tươi: 17-32 tấn/ha, tỷ lệ chất khô 27-30%. chất lượng củ luộc ngon, vỏ củ màu đỏ đậm, thịt củ màu cam đậm, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím, nhiễm nhẹ sùng, hà và sâu đục dây. xem tiếp Giống khoai lang ngon HL518 https://hoangkimlong.wordpress.com/category/giong-khoai-lang-viet-nam/

GIỐNG KHOAI LANG NGON HL491
Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim, Trần Công Khanh, Nguyễn Thị Sâm 1997

Nguồn gốc giống: Giống khoai lang HL491 (Nhật tím) do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc chọn tạo và giới thiệu từ tổ hợp lai Murasa Kimasari polycross nguồn gốc Nhật Bản = CN76-2 CIP/AVRDC (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim, Trần Công Khanh, Nguyễn Thị Sâm 1997). Giống đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống năm 1997, hiện phổ biến trong sản xuất phía Nam (trồng nhiều ở Bình Tân Vĩnh Long) và bán nhiều ở các siêu thị. Đặc tính giống Thời gian sinh trưởng: 95 -110 ngày. Năng suất củ tươi: 15-27 tấn/ha, tỷ lệ chất khô 27- 31%. chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu tía, thịt củ màu tím đậm, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím, nhiễm nhẹ sùng, hà và sâu đục dây. xem thêm :Giống khoai lang Việt Nam https://hoangkimlong.wordpress.com/category/giong-khoai-lang-viet-nam/; Giống khoai lang ngon HL491 https://hoangkimlong.wordpress.com/2025/05/28/giong-khoai-lang-ngon-hl491/

IAS90

Hai giống khoai lang HL518 (Nhật đỏ) và HL491 (Nhật tím) đã được trồng khá phổ biến và mang lại sự thay đổi căn bản về năng suất cao và chất lượng ngon cho sự canh tác khoai lang tại nhiều tỉnh của Việt Nam. Những tỉnh trồng hai giống khoai lang này nhiều là  Vĩnh Long, Kiên Giang, Đà Lạt,  Đăk Nông, Gia Lai, Đồng Nai và Sóc Trăng, … Tại Vĩnh Long, việc thay thế giống khoai lang địa phương Dương Ngọc, Tàu Nghẹn, Bí Đế bằng hai giống khoai lang HL518 (Nhật đỏ) và HL491 (Nhật tím) và ứng dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh thích hợp đã đưa sản lượng khoai lang Vĩnh Long năm 2000 từ  diện tích khoai lang 2,5 ngàn ha, năng suất bình quân 18,4 tấn/ ha, sản lượng 46,2 ngàn tấn, lên diện tích khoai lang 8,5 ngàn ha, năng suất bình quân 29,2 tấn/ ha , sản lượng 248,7 ngàn tấn, (Tổng cục Thống kê 2014).

KhoaiSan

Việc ứng dụng giống khoai lang tốt có năng suất chất lượng cao và các biện pháp kỹ thuật thâm canh đã mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho nông dân.  Tuy vậy, năng suất, sản lượng, hàm lượng các chất trong củ khoai lang (% chất khô, tinh bột, vitamin, … ) là có sự sai khác rất rõ giữa các địa phương, vùng miền, tùy thuộc chủ yếu vào các yếu tố:  đặc điểm sinh thái khí hậu đất đai và mức độ thích hợp với các giống khoai lang khác nhau; trình độ kỹ thuật thâm canh của dân địa phương và điều kiện kinh tế xã hội liên quan đến sản xuất và tiêu thụ khoai lang; mô hình tổ chức sản xuất tiêu thụ khép kín theo VIETGAP và lợi thế so sánh của khoai lang tại nơi thực hiện. Khó khăn chính trong sản xuất khoai lang hiện tại là: Giống khoai lang lẫn tạp và thoái hóa; Kỹ thuật canh tác khoai lang chưa thật phù hợp (từ thời vụ trồng, chọn đất, chọn hom giống tốt, kỹ thuật làm đất, bón phân NPK và hữu cơ vi sinh, kỹ thuật trồng, mật độ trồng, phòng trừ sùng khoai lang, sâu đục dây và bệnh hại, đến các biện pháp làm cỏ, nhấc dây, tổ chức sản xuất kinh doanh và tiêu thụ khép kín…); Chưa kiểm soát tốt sùng hà gây hại; Ít đầu tư thâm canh; Chưa tổ chức sản xuất kinh doanh và tiêu thụ khép kín. Chúng tôi sẵn sàng hợp tác nghiên cứu phát triển giống khoai lang và các biện pháp kỹ thuật thâm canh để lựa chọn giống xác định địa bàn phù hợp đạt chất lượng năng suất khoai lang cao và hiệu quả kinh tế.

Giống khoai lang Việt Nam ngon nhất hiện nay là HL518 (Nhật đỏ), và HL491 (Nhật tím) (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim, Trần Công Khanh, Nguyễn Thị Sâm 1997)

Giống lúa siêu xanh GSR65

Nguồn gốc giống: Giống lúa GSR65 có nguồn gốc từ giống lúa Huang Hua Zhang (HHZ) cải tiến HHZ5-DT11-SAL2-7, được lai tạo và nhập nội nguồn gen từ chương trình chọn tạo giống lúa siêu xanh (GSR) của Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) với Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc (CAAS). Giống lúa GSR65 được Mạng lưới Nghiên cứu Lúa Siêu Xanh Việt Nam tuyển chọn và phát triển thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu tại Việt Nam (Nguyễn Trọng Tùng, Nguyễn Đức Thắng, Hoàng Long và ctv. 2018a, Nguyễn Trọng Tùng, Nguyễn Đức Thắng, Hoàng Long và ctv. 2018b; Hoang Long et al. 2015). Giống lúa siêu xanh GSR 65 đã được tuyển chọn qua bảy vụ tại Phú Yên với sáu khảo nghiệm cơ bản (12 giống lúa trong ba vụ tại hai điểm); bốn khảo nghiệm sản xuất (5 giống lúa tuyển chọn trong hai vụ tại hai điểm), bốn trình diễn xây dựng mô hình sản xuất thử (trong hai vụ tại hai điểm). Giống lúa GSR65 đang được Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Phú Yên chủ trì phối hợp với Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại Học Nông Lâm Huế, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Sóc Trăng, Viện Hàn Lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc lập hồ sơ công nhận giống lúa mới.

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là lua-sieu-xanh-viet-nam-13.jpg

Đặc điểm giống: Giống lúa siêu xanh GSR65 năng suất cao chất lượng tốt thích hợp vùng thâm canh và vùng mặn, vùng hạn. Giống có thời gian sinh trưởng 95 – 100 ngày đối với lúa sạ và 100 – 105 ngày khi cấy. Giống có chiều cao cây 98 – 100 cm. Giống có 336 – 354 bông/m2, trọng lượng 1000 hạt khoảng 24 – 25g. Tỷ lệ gạo lật, tỷ lệ gạo xát và tỷ lệ gạo nguyên đều đạt tốt, chất lượng gạo loại 1. Giống GSR65 đạt mức protein cao trên 7%, có hàm lượng amylose trung bình, có mùi thơm và cơm ngon. Giống có đặc điểm nông sinh học tốt dạng hình lúa siêu xanh, bộ lá xanh lâu bền (điểm 1), thấp cây (điểm 1), cứng cây không đổ ngã (điểm 1), độ thoát cổ bông cao (điểm 1), dạng hạt gạo thon dài. Giống GSR65 kháng vừa rầy nâu, có phản ứng nhiễm vừa với bệnh đạo ôn hại lúa. Giống lúa GSR65 tại Phú Yên trong khảo nghiệm cơ bản đạt năng suất thực thu bình quân là 8,70 tấn/ ha vượt 30,12% so với đối chứng ML48 đạt 6,69 tấn/ha, trong mô hình trình diễn khảo nghiệm sản xuất thử đạt năng suất thực thu bình quân là 7,98 tấn/ ha vượt 11,92% so với đối chứng ML48 đạt 71,3 tạ/ha.

Giống lúa siêu xanh GSR90

Nguồn gốc giống: Giống lúa GSR90 được lai tạo từ tổ hợp OM9921x GSR38 thực hiện tại Việt Nam (GSR38 có nguồn gốc là giống lúa Huang Hua Zhang (HHZ) cải tiến HHZ5-Y7-Y3 nhập nội từ chương trình chọn tạo giống lúa siêu xanh (GSR) của Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) với Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc (CAAS). Giống lúa GSR90 được Mạng lưới Nghiên cứu Lúa Siêu Xanh Việt Nam lai tạo, tuyển chọn và phát triển thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu tại Việt Nam (Nguyễn Trọng Tùng, Nguyễn Đức Thắng, Hoàng Long và ctv. 2018a, Nguyễn Trọng Tùng, Nguyễn Đức Thắng, Hoàng Long và ctv. 2018b; Hoang Long et al. 2015). Giống lúa siêu xanh GSR 90 đã được tuyển chọn qua bảy vụ tại Phú Yên với sáu khảo nghiệm cơ bản (12 giống lúa trong ba vụ tại hai điểm); bốn khảo nghiệm sản xuất (5 giống lúa tuyển chọn trong hai vụ tại hai điểm), bốn trình diễn xây dựng mô hình sản xuất thử (trong hai vụ tại hai điểm). Giống lúa GSR90 đang được Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Phú Yên chủ trì phối hợp với Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửa Long, Trường Đại Học Nông Lâm Huế, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Sóc Trăng, Viện Hàn Lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc lập hồ sơ công nhận giống lúa mới tại Việt Nam.

Đặc điểm giống: Giống lúa siêu xanh GSR90 năng suất cao chất lượng tốt thích hợp vùng thâm canh và vùng mặn, vùng hạn. Giống có thời gian sinh trưởng khoảng 99 – 102 ngày đối với lúa sạ và 101 – 105 ngày khi cấy. Giống có chiều cao cây 103 – 105 cm. Giống có 309 – 351 bông/m2 trọng lượng 1000 hạt khoảng 28 – 29 g. Tỷ lệ gạo lật, tỷ lệ gạo xát và tỷ lệ gạo nguyên đều đạt tốt, chất lượng gạo loại 1. Giống GSR90 đạt mức protein cao trên 7%, có hàm lượng amylose trung bình, có mùi thơm và cơm ngon. Giống có đặc điểm nông sinh học tốt dạng hình lúa siêu xanh, bộ lá xanh lâu bền (điểm 1), thấp cây (điểm 1), cứng cây không đổ ngã (điểm 1), độ thoát cổ bông cao (điểm 1), dạng hạt gạo thon dài. Giống GSR90 ít sâu bệnh hại ngoài đồng ruộng, kháng vừa rầy nâu, có phản ứng nhiễm bệnh đạo ôn hại lúa. Giống lúa GSR90 tại Phú Yên trong khảo nghiệm cơ bản đạt năng suất thực thu bình quân là 8,36 tấn/ha vượt 25,01% so với đối chứng ML48 đạt 6,69 tấn/ha; trong mô hình trình diễn khảo nghiệm sản xuất thử đạt năng suất thực thu bình quân là 8,17 tấn/ ha vượt 14,58% so với đối chứng ML48 đạt 7,13 tấn/ha.

Thông tin tại: 1) Nguyễn Trọng Tùng, Nguyễn Đức Thắng, Hoàng Long, Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Văn Minh, Đặng Văn Mạnh, Ngô Thị Bích Diễm, Lê Thanh Tùng, Hoàng Kim, Tian Qing Zheng, Zhikang Li. 2018. Nghiên cứu hai giống lúa siêu xanh GSR65, GSR90 năng suất cao, chất lượng tốt và quy trình kỹ thuật thâm canh lúa thích hợp tại cánh đồng Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên (Two Green Super Rice varieties GSR65, GSR90 with high productivity and quality and appropriate technical process of cultivation in the Tuy Hoa fields, Phu Yen province) Trong sách: Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Tạp chí Khoa học và Công nghệ. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, số 10, trang 47- 55; Science and Technology Journal of Agriculture & Rural Development , MARD, No 10, p. 47-55, ISSN0866-7020 ; 2) Nguyễn Trọng Tùng, Nguyễn Đức Thắng Hoàng Long, Nguyễn Thị Trúc Mai, Phạm Thị Thỏa, Đàm Thanh Tồn, Hoàng Kim 2018. Tuyển chọn giống lúa siêu xanh năng suất cao chất lượng tốt thích ứng điều kiện biến đổi khí hậu ở tỉnh Phú Yên (Phần 2). Selection of Green Super Rice (GSR) with high yield, good qualities, and adaptation to climate condition in Phu Yen province (Part Two). Trong sách:Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển, JAD Tập 17 Số 4, 15-24 (2018) Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh pISSN 2615-9503 ∗ eISSN 2615949X ; 3) Nguyễn Trọng Tùng, Nguyễn Đức Thắng Hoàng Long, Nguyễn Thị Trúc Mai, Phạm Thị Thỏa, Đàm Thanh Tồn, Hoàng Kim 2018. Tuyển chọn giống lúa siêu xanh năng suất cao chất lượng tốt thích ứng điều kiện biến đổi khí hậu ở tỉnh Phú Yên (Phần 1) Selection of Green Super Rice (GSR) with high yield, good qualities, and adaptation to climate condition in Phu Yen province (Part one). Trong sách: Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển, JAD Tập 17 Số 4, 15-24 (2018) Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh pISSN 2615-9503 ∗ eISSN 2615949X

Lúa Siêu Xanh Việt Nam giống tốt và kỹ thuật thâm canh là khâu trọng yếu, đầu tiên để cải tiến chuỗi giá trị sản phẩm lúa gạo Việt Nam, bảo tồn và phát triển bền vững ngành lúa gạo, thích ứng với biến đổi khí hậu, thích hợp với các vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam. Thủ tướng Chính phủ Việt Nam khẳng định tầm nhìn, cơ chế, chính sách mới nhằm khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn tại Nghị định 57/2018 / ND-CP. Theo đó, trục sản phẩm chính nhắm đến các sản phẩm chính quốc gia, trong khi lúa gạo vẫn tiếp tục là ngành chính của nông nghiệp Việt Nam, giá đỡ của an sinh xã hội và phát triển kinh tế, là sinh kế chính của vùng nông thôn rộng lớn, lao động và việc làm. Chuỗi giá trị sản phẩm lúa gạo ở cấp tỉnh cần đủ lớn, liên kết các khu vực nguyên liệu thô với các thương hiệu, ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao và đào tạo nguồn nhân lực. Mục tiêu hướng tới sự đáp ứng tốt nhất chất lượng cuộc sống của người lao động, đạt hiệu quả cao trong tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường, tiến bộ và công bằng xã hội. Mục đích của tài liệu này là nhằm cung cấp thông tin về các kết quả nghiên cứu đã được xác định rõ ràng để giúp người nông dân nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất lúa gạo đi đôi với việc bảo vệ đất đai và môi trường. Tài liệu được thiết kế như một cẩm nang nghề lúa gạo cần thiết cho các nhà nghiên cứu, cán bộ khuyến nông, cán bộ tổ chức phi chính phủ làm việc về phát triển nông nghiệp, cũng như các hộ nông dân trồng lúa quy mô nông hộ sản xuất lớn và nhỏ. Tài liệu nhằm cung cấp một thông tin  tham khảo kỹ lưỡng về thực hành sản xuất lúa thân thiện môi trường. Từ việc trình bày ngắn gọn tầm quan trọng lúa gạo trên thế giới và Việt Nam; sản xuất tiêu thụ lúa gạo trên thế giới và Việt Nam; thành phần dinh dưỡng và giá trị kinh tế lúa gạo; nguồn gốc vùng phân bố và phân loại cây lúa; Sinh học cây lúa: Đặc điểm thực vật học cây lúa (rễ, thân, lá, hoa, hạt) Các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây lúa Đặc điểm sinh lý của ruộng lúa năng suất cao; Khí hậu và đất lúa, tầm quan trọng của nó trong khu vực để đề xuất chi tiết về quản lý đất nước và cây trồng, giống mới và kỹ thuật thâm canh lúa. Tài liệu mỏng này cung cấp một bằng chứng thực nghiệm mạnh mẽ của chính tác giả và đồng sự sau mười năm nghiên cứu ứng dụng lúa siêu xanh (Green Super Rice) vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp Việt Nam, với một số kết quả bước đầu đã được xác định để tiếp tục sự nghiên cứu, giảng dạy, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới, bảo tồn phát triển lúa siêu xanh Việt Nam cho thương hiệu gạo Việt. Kính chúc bà con nông dân những mùa thu hoạch bội thu.

Anh Nam Sinh Đoàn viết : “Ngoài đồng giống lúa không thuần, nhà nông lười khử giống bị lẫn, giống dại. Cộng với nhà lái mua vào để lẫn, hoặc cố tình pha lẫn lấy lời. Ai đời trộn lẫn hột dài với hột hơi tròn, gạo dẽo với gạo cứng cơm, gạo cũ với gạo mới, … Chính vì vậy mà nồi cơm nào cũng chỗ nhão chỗ khô, hạt mềm nhẽo cạnh hạt còn tim bột. (Chưa kể phun thêm hương liệu, chất chống mốc mọt,…thay đổi cả đặc tính hạt gạo khi đun nấu). Nhiều năm làm lúa với anh Hồ Quang Cua, mới có dịp học hỏi về việc làm giống, giữ đặc trạng của từng giống, cách thức trồng trọt – thu hoạch – tồn trữ – xay xát – lựa lọc – bao bì,…cả chục việc đòi hỏi phải chắc tay. Thế mà khi thí nghiệm trên bàn của nhóm chuyên gia còn lòi ra bao thứ khác: thời gian ngâm, tỉ lệ nước, thời gian đun và cách đun nấu, … Ví dụ, với cùng một thứ gạo, nhưng có dòng nở ít, thì chỉ 70-71% nước. Loại nào nở cơm thì ngâm trước 15 phút, loại nở búp chỉ cần mươi phút là được. Lại còn tùy loại gạo, để ăn xào với rau, gia vị cho có màu mùi như kiểu châu Âu thì nấu bằng nồi hơi như nồi hong. Để còn làm cơm xào, cơm chiên thì chớ ngâm nhiệt, tức là ngâm gạo, đun nước vừa nóng chừng 50 độ hãy cho gạo vào theo đúng tỉ lệ, mới đạt yêu cầu. Câu nói: Cơm lành canh ngọt tưởng dễ mà khó thay”. Tôi (Hoàng Kim) trả lời: Thưa anh, xin hãy nhìn tấm ảnh, từ hạt gạo đến bát cơm chỉ là một phần ngắn trong chuỗi “hoa lúa, bùn, hột lúa, cây lúa, hạt gạo, bát cơm”. Hai khâu khó nhất và nhọc nhằn nhất là hoa lúa và bùn. Mời đọc bài tiếp nối Từ Sắn Việt Nam đến Lúa Siêu Xanh; Lúa Siêu Xanh Việt Nam

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là chien-luoc-chon-tao-lua-sieu-xanh-vietnam.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là lua-sieu-xanh-viet-nam-gsrgvn.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là lua-sieu-xanh-viet-nam-6.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là lua-sieu-xanh-viet-nam-8.jpg

Hoàng Long bảo vệ thành công luận án tiến sĩ ở Viện Hàn Lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc (CAAS), Bắc Kinh, Trung Quốc năm 2018, ngay trước rằm Phật Đản

Giáo sư viện sĩ Zhikang Li là nhà di truyền chọn giống cây trồng hàng đầu Trung Quốc, IRRI và Thế giới, nhà khoa học chính của Dự án IRRI Green Super Rice GSR, và Phó Giáo sư Tiến sĩ Tian Qing Zheng là Trưởng nhóm nghiên cứu GSR vùng Châu Á và Châu Phi, quản lý nguồn gen lúa gạo GSR của Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc, Bắc Kinh, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. 


Lên Thái Sơn hướng Phật

Hoàng KimHoang Long

Đường trần thênh thênh bước
Đỉnh xanh mờ sương đêm
Hoàng Thành, Trúc Lâm sáng
Phước Đức vui kiếm tìm.

Đêm Thái Sơn cha con tôi đã có một chuyến leo núi thật tuyệt vời, một trãi nghiệm không bao giờ quên và một giấc ngủ thật ngon dưới gốc tùng ở Thái An, Sơn Đông. Nhớ về kỷ niệm cũ khoai lang, tôi gom ba bài viết cũ ‘Giống khoai lang ở Việt Nam‘, ‘Thơ cho con‘, ‘Đến Thái Sơn nhớ Đào Duy Từ” vào phần ba, với một số hình ảnh đẹp chụp cảnh xưa thu hoạch khoai Hoàng Long  tại Sơn Đông cùng với nông dân và các chuyên gia khoai lang Trung Quốc, CIP năm 1996, ảnh đẹp chụp ở ‘Khổng miếu’ với giáo sư khoai lang  Ấn Độ, ảnh đẹp chụp ‘Khổng Lâm’ với giáo sư khoai lang nổi tiếng  Rasco người Philippine. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/len-thai-son-huong-phat/

Đến Thái Sơn nhớ Người
Hoàng Kim và Hòang Long

Ngược gió đi không nản
Rừng thông tuyết phủ dày
Ngọa Long cương đâu nhỉ?
Đầy trời hoa tuyết bay!

Chúng tôi hành hương lên Thái Sơn hướng Phật để thấu hiểu và giác ngộ. Lên Thái Sơn hướng Phật là con đường di sản soi thấu trên 5000 năm lịch sử văn hóa Trung Quốc mà tôi và Hoang Long đã may mắn được thực hiện trong trong đêm Phật đản năm 2018. Hoàng Long vừa hoàn thành thật tốt việc bảo vệ luận án tiến sĩ về đề tài lúa siêu xanh (Green Super Rice GSR) với sự hướng dẫn của hai chuyên gia di truyền chọn giống lúa lỗi lạc hàng đầu của đất nước Trung Hoa. Học để làm (Learning to Doing), học bởi làm (Learning by Doing) là nguyên lý giáo dục hiện đại gắn kết ngành hàng với chất lượng thương hiệu sản phẩm, giá trị kinh tế, hiệu quả sản xuất đích thực.

Núi Thái Sơn là di sản thế giới hỗn hợp, đáp ứng đủ 7 tiêu chuẩn,và đạt nhiều tiêu chuẩn nhất hiện nay của UNESCO, với hai hai yếu tố nổi bật về văn hóa và thiên nhiên. Đó là điểm đến du lịch nổi bật bậc nhất tại Trung Quốc. Núi Thái Sơn cùng với Vùng hoang dã ở Tasmania của Úc là 2 di sản thế giới hỗn hợp đáp ứng đủ 7 tiêu chuẩn của UNESCO, nhưng Tasmania thì đáp ứng tất cả các tiêu chuẩn di sản thiên nhiên còn Thái Sơn thì đáp ứng đủ 7  tiêu chuẩn di sản thiên nhiên và văn hóa.  Do vậy, núi Thái Sơn năm 1988 đã được UNESCO công nhận là di sản đứng đầu trong số 9 khu di sản tổng hợp của thế giới, là điểm du lịch thiên nhiên văn hóa nổi  tiếng, mà nhiều người thích leo núi trên 4 tiếng đi bộ từ chân núi lên đỉnh núi vào ban đêm, để ngắm mặt trời mọc vào sáng sớm.

Trung Quốc một suy ngẫm
Hoàng KimHoang Long

Tuyết rơi trên Vạn Lý
Trường Thành bao đổi thay
Ngưa già thương đồng cỏ
Đại bàng nhớ trời mây.

Hồ Khẩu trên Hoàng Hà
Đại tuyết thành băng giá
Thế nước và thời trời
Rồng giữa mùa biến hóa.

Lên Thái Sơn hướng Phật
Chiếu đất ở Thái An
Đi thuyền trên Trường Giang
Nguyễn Du trăng huyền thoại

Khổng Tử dạy và học
Đến Thái Sơn nhớ Người
Kho báu đỉnh Tuyết Sơn
Huyền Trang tháp Đại Nhạn

Tô Đông Pha Tây Hồ
Đỗ Phủ thương đọc lại
Hoa Mai thơ Thiệu Ung
Ngày xuân đọc Trạng Trình

Quảng Tây nay và xưa
Lên đỉnh Thiên Môn Sơn
Ngày mới vui xuân hiểu
Kim Dung trong ngày mới

Bình sinh Mao Trạch Đông
Bình sinh Tập Cận Bình
Lời dặn của Thánh Trần
Trung Quốc một suy ngẫm

VU LAN NHỚ NGƯỜI THÂN

Ăn cơm mới nói chuyện cũ
Vu Lan nhớ người thân
Thương
hòn đá khiêm nhường
Sri Lanka dấu chân Phật
Champasac dấu chân Bụt
Quế Lâm hòn đá Bill

Yellow stones of Hoàng Kim
Đá Vàng Của #Nhà tôi
https://khatkhaoxanh.wordpress.com/

MÙA VU LAN NHỚ ANH
Thức Em Dậy *
Hoàng Ngọc Dộ

Đã bốn giờ sáng
Ta phải dậy rồi
Sao mai chơi vơi
Khoe hào quang sáng

Ta kêu Kim dậy
Nó đã cựa mình
Vớ vẫn van xin
Cho thêm chút nữa.

Thức, lôi, kéo, đỡ
Nó vẫn nằm ỳ
Giấc ngủ say lỳ
Biết đâu trời đất

Tiếc giấc ngủ mật
Chẳng chịu học hành
Tuổi trẻ không chăm
Làm sao nên được

Đêm ni, đêm trước
Biết bao là đêm
Lấy hết chăn mền
Nó say sưa ngủ

Ta không nhắc nhủ
Nó ra sao đây
Khuyên em đã dày
Nó nghe chẳng lọt

Giờ đây ta quyết
Thực hiện nếp này
Kêu phải dậy ngay
Lay phải trở dậy

Quyết tâm ta phải
Cố gắng dạy răn
Để nó cố chăm
Ngày đêm đèn sách

Ta không chê trách
Vì nó tuổi thơ
Ta không giận ngờ
Vì nó tham ngủ

Quyết tâm nhắc nhủ
Nhắc nhủ, nhắc nhủ …


Hoàng Kim
ĐÁ VÀNG VỚI BAN MAI
#KimNotes #cltvn #ana 21 tháng 6
#cnm365 Tìnhyêucuộcsống
Tỉnh thức cùng tháng năm
HỘP TRÍCH DẪN:

NÚI THẦN ĐINH QUẢNG BÌNH
Hoàng Kim
và Hoàng Long

1
An nhiên
Dạo chơi chùa Thần Đinh


Mình cứ an nhiên ta cứ ngủ
Thung Nham Bái Đính hỏi chi thiền
Thần Đinh chợt tỉnh Nam Kha mộng
Thăm thẳm trời xanh níu cảnh tiên

2

Biển Bảo Ninh Đồng Hải

Biển1 nhớ nơi nao Người lắng2 sóng
Bờ thương chốn cũ Bác trông thuyền
Bảo như trường kiếm xô sông dạt
Ninh Hải Thung Nham níu núi thiền

3

Núi Thần Đinh Quảng Bình

Chùa Non3 thiền miếu cổ Kim Phong
Động Thánh Linh xưa thẳm 4 thiện lành
Bắc Đẩu, Thần Đinh 5 huyền diệu quá
Giao Châu, Long Đại, cổng Thiên An 6.

4
Linh Nhạc và Nguyễn Du

Linh Nhạc thương lời hiền lối chính
Nguyễn Du trăng huyền thoại đường xuân
Phan Công thủ nghĩa trời thành ý
Nguyễn Đức #Thungdung đất ghi lòng

5

Dạo Chơi Chùa Thần Đinh

Non Xanh Chùa Trấn Quốc
Chốn Thiêng Nhà Bác Giáp
Đào Duy Từ Còn Mãi
Chuyện Hiền Vui Muôn Năm

6

Thành Tâm Với Chính Mình

Mười bốn năm xuống núi
Nhớ ngày lên non thiêng
Thương lời Thầy tỉnh thức
#Thungdung một giấc thiền
.

Ai dấn thân khổ lụy
Ta ước tròn nhân duyên
Công quả lành phước thiện
Đức lớn nuôi chí bền
.

Long Hồ thư sinh lão
Phượng Các học sĩ thần
Hoàng Phủ Chân Quân Truyện
Thành Tâm Với Chính Mình

ToNguyen

Thơ dâng tặng cho đời
CHỈ TÌNH YÊU Ở LẠI

Cát bụi chuyện trăm năm
Nhớ Mẹ mùa Vu Lan
Đến với bài thơ hay
Chỉ tình yêu ở lại


Vui đi dưới mặt trời
Nhà tôi chim làm tổ
Bài ca nhịp thời gian
An nhiên vui mỗi ngày


Giấc mơ lành yêu thương
Đường xuân theo chân Bác
Đường xuân đời quên tuổi
Thơ dâng tặng cho đời


Trần Nhân Tông Việt Nam
Chuyện đọc lúc ban mai (*)
Hoàng Ngọc Dộ khát vọng, Hoàng Trung Trực đời lính,
#hoangkimlong #cnm365 Tình yêu cuộc sống #nhasachhoanggia
An Viên Phước Hoàng Gia #cltvn #cayluongthuc #TranNhanTongVietNam

ĐÊM GIAO THỜI HUYỀN DIỆU

Cảnh mãi theo người được đâu em
Hết khổ, hết cay, hết vận hèn
Nghiệp sáng đèn giời đang chỉ rõ
Rồi đây cay đắng chẳng buồn chen.

ĐÊM GIAO THỜI HUYỀN DIỆU

Cảnh mãi theo người được đâu em
Hết khổ, hết cay, hết vận hèn
Nghiệp sáng đèn giời đang chỉ rõ
Rồi đây cay đắng chẳng buồn chen.

Hoàng Ngọc Dộ KHÁT VỌNG
(trích trong #cnm365 Tình yêu cuộc sống)

TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM
#htn, #hoangkimlong, #banmai #vietnamxahoihoc, #htn365, #ana, #dayvahoc, #vietnamhoc, #cnm365#cltvn, #vietcassava, #annhiên #đẹpvàhay

CNM365 Tình yêu cuộc sống: Cuộc đời thành trang văn; Hoàng Ngọc Dộ khát vọng; Chuyện ngày sinh của Thủy; Thầy Nguyễn Lân Dũng; Thầy Quyền thâm canh lúa; Thầy Luật lúa OMCS OM; Chuyện cô Trâm lúa lai; Vạn An lời yêu thương; Hoàng Thành đến Trúc Lâm; Chuyện cổ tích người lớn; Trăng rằm thương nhớ Anh; Gốc mai vàng trước ngõ; Hoàng Trung Trực đời lính; Làng Minh Lệ quê tôi; Trần Công Khanh ngày mới; Nguyễn Ngọc Tư sầu riêng;  Phan Chí Thắng chuyện  đời; Thương Kim Thiếp Vũ Môn; Lão Mai Đinh Đình Chiến; Ông Hồ Sáu Đồng Nai; Đêm giao thời huyền diệu; Thành tâm với chính mình; Thung dung vườn cổ tích; Từ Hiếu với người hiền; Xuân mới sức sống mới; Trường tôi nôi yêu thương;

Chào ngày mới 12 tháng 2
ĐÊM TRĂNG RẰM NHỚ MẸ

Đêm Vu Lan nhớ bài thơ đi học
Thấm nhọc nhằn củ sắn, củ khoai
Nhớ tay Chị gối đầu khi Mẹ mất
Thương lời Cha căn dặn học làm Người…


Hoàng Kim
Nguyên Tiêu Rằm Xuân Ất Tỵ nhằm ngày 12 tháng 2 năm 2025.

LÊN NON XEM TRẬN ĐỊA

Đi dưới trời minh triết
Thế giới trong mắt ai
Ngồi tựa đỉnh non Xanh
Thăm thẳm một tầm nhìn

#cnm365 #cltvn 18 tháng 6

Cụ Tô Tôi Nghe Lại
Lời biết ơn chân thành
Lời dặn của Thánh Trần
Lời khuyên thói quen tốt
Lời ru nhớ núi sông
Lời Thầy dặn thung dung

BORLAUG VÀ HEMINGWAY
Hoàng Kim

Năm 1988, tôi đến CIANO thăm nơi làm việc của nhà khoa học xanh Norman Borlaug nhà nhân đạo người Mỹ đã ‘cứu sống nhiều người hơn bất cứ ai khác trong lịch sử’ và thăm nơi lưu dấu di sản Ernest Hemingway, tác giả của kiệt tác Ông già và biển cả là bài học tự do sáng tạo sống giữa thiên nhiên. Tôi mang theo suốt đời ấn tượng sâu sắc với Borlaug và Hemingway. Tôi chỉ mới chép đôi điều về họ trên Wikipedia Tiếng Việt, nay lưu điểm nhấn này để thỉnh thoảng quay lại chiêm nghiệm sâu hơn về di sản của hai người thầy kỳ dị và bạn lớn này. xem tiếp Borlaug và Hemingway

LỜI THẦY LUÔN THEO EM
Hoàng Kim

trước tượng Phan Bội Châu, nhớ thầy cô Nguyễn Khoa Tịnh Trần Diệu Vinh “Thầy truyền cho chúng em niềm tin Đạo làm người, lòng yêu nước. Em càng thấm thía vô cùng. Vì sao những người có tâm huyết ngày xưa. Những Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiếp, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, … Đều yêu nghề dạy học.”
Lời Thầy luôn theo em
Lời thề trên sông Hóa
Lời thương cùng tháng năm
Lời vàng giữ sức khỏe
Lời vàng từ trái tim
Lửa đèn vầng trăng soi
Lý Bạch thơ trăng sáng
Lev Tonstoy năm kiệt tác
Linh Giang sông quê hương
Linh Nhạc thương lời hiền
Luận Kinh Dịch Cụ Nguyễn

THẦY VĂN HỒ NGỌC DIỆP
Hoàng Kim
Vượt tám mươi xuân Thầy vẫn khỏe
Văn chương lá Ngọc biếc xanh đời
Quảng Bình quê Mẹ giàu trung hiếu
Lời Thầy tình nghĩa Biển Hồ thơi.


Biển nhớ nơi nao Người lắng sóng
Bờ thương chốn cũ Bác trông thuyền
Bảo như trường kiếm xô sông dạt
Ninh Hải Thung Nham níu núi thiền.*

* Núi Thần Đinh Quảng Bình: nhớ biển bờ Bảo Ninh lên Long Đại núi Thần Đinh thăm đỉnh thiền. Hoàng Kim may gặp truyện kể của Thầy Hồ Ngọc Diệp, xin lưu lại điều tâm đắc. Thầy văn Hồ Ngọc Diệp gửi cho Hoàng Kim bài thơ TẶNG BÁO QUỐC GIA của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết năm 1946: “Tết này mới thật tết dân ta / Mấy chữ chào mừng báo quốc gia / Độc lập đầy vơi ba cốc rượu / Tự do vàng đỏ một rừng hoa / Muôn nhà đón tiếp xuân dân chủ / Cả nước hoan nghênh phúc cộng hòa / Ta chúc nhau rồi,ta nhớ chúc / Những người chiến sĩ ở phương xa”. Thầy Diệp kể: “Bác Hồ chúc xuân trên báo Tết đã có nhiều người viết lắm. Nhưng tôi thấy chưa có ai viết về bài thơ chúc Tết của Bác Hồ viết sau Tết năm Độc Lập của dân tộc (1946). Bác đã viết bài thơ chúc Tết năm đó theo đơn đặt hàng trân trọng và khẩn thiết cho một tờ báo tư nhân ở Hà Nội, đó là báo ” QUỐC GIA” do bà Ngô Thị Thoa, sau đó là ông Nguyễn Xuân Thiều làm chủ bút. Bản thảo được một vệ sĩ của Bác mang tận nơi trao cho tổng biên tập. Phong bì là một tờ giấy đã viết một mặt, còn mặt kia bỏ trống, người ta gọi là giấy loại. Còn bài thơ thì được viết mặt sau của một tờ lịch đã bóc bởi đã sang ngày. Bài thơ như trên đây. Báo Quốc Gia Tết đó “cháy tiệm” vì báo in mấy lần đều không đủ bán cho khách hàng. Chủ tiệm báo còn chua dưới bài là tác giả đã gửi đến tòa soạn bài viết trên mặt sau một tờ lịch ngày đã qua và phong bì đóng bằng một tờ giấy đã viết hết một mặt và đã bỏ đi. Đồng bào đọc bài thơ chúc Tết đầy tính cách mạng của Bác Hồ và thấm thía đức tính giản dị và tiết kiệm của Người.“. Thầy văn Hồ Ngọc Diệp viết tiếp: “Tôi đã gửi bài viết này cho báo văn nghệ Tuyên Quang và báo tết Qúy Mão Tuyên Quang đã đăng in bài viết của tôi. Hôm nay tôi mới nhận được báo biếu và một triệu nhuận bút mà tòa báo gửi về. Kính cảm ơn tòa báo”

Kính chúc Thầy vui khỏe. Tôi lặng người xúc động, và kính gửi Thầy tấm ảnh với bài thơ họa vần cùng sáu đường dẫn lời thương cảm nhận và lưu lại ‘dấu vân tay’ của Thầy.

THẦY VĂN HỒ NGỌC DIỆP
Hoàng Kim
Chiếu làng thơ Trạng bày lên
Em vui học được Thầy thêm ba bài
Tuổi cao Thầy thảnh thơi vui
Thơ như hương nắng mai trời bình an

đọc thơ Thầy xem tiếp …
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-van-ho-ngoc-diep

Cụ Nguyễn Khôi người hiền
Lời tiễn dặn người yêu

Lưu dấu chân thời gian Ma Văn Kháng trong tôi Machu Picchu di sản thế giới Mai Hạc vầng trăng soiMai Khoa Thu Hà NộiMai tới Tiết Lập ĐôngMai vàng bền mưa nắngMarco Polo sinh ở CroatiaMARDI và những người bạnMark Twain nhà văn MỹMark Zuckerberg và FBMartin Fregene xa mà gầnMái trường bên dòng GianhMây lành Phổ Đà SơnMãn Giác thơ “Hoa Mai”Mình về thăm nhau thôiMình về với chính mìnhMón ngon ở Ninh BìnhMôhamet và đạo HồiMạc triều trong sử ViệtMạnh Hạo Nhiên xuân hiểuMẫu phương Nam Tao ĐànMẹ tắm mát đời conMỏ than Hồng giữ lửaMột công án kỳ lạMột gia đình yêu thươngMột ngày với Hernán CeballosMột niềm tin thắp lửaMột niềm vui ngày mớiMột vùng trời nhân vănMừng Giáng Sinh Đến SớmMe kong trước hiểm họaMexico ấn tượng lắng đọngMiên Thẩm thầy thơ ViệtMinh triết của đức PhậtMinh triết cho mỗi ngàyMinh triết Hồ Chí MinhMinh triết là yêu thươngMinh triết sống phúc hậuMinh triết Thomas JeffersonMyanmar đất nước chùa thápMưa bóng mây nắng đầyMưa hoa chờ trước ngõMưa lành mùa yêu thươngMưa lành và lúa xuânMưa nắng và thời vậnMưa Ngâu rằm Vu LanMưa tháng Năm nhớ bạnMưa xuân trong mắt aiMười kỹ thuật thâm canh sắnMười thói quen mỗi ngàyNam Ông giấc mộng hiềnNam Mỹ trong mắt tôiNam tiến của người ViệtNam Tư một suy ngẫmNôi ví dặm ân tìnhNôi đất Việt yêu thươngNông lịch tiết Bạch LộNông lịch tiết Cốc vũNông lịch tiết giữa ĐôngNông lịch tiết Hàn LộNông lịch tiết Hạ ChíNông lịch tiết Kinh TrậpNông lịch tiết Lập HạNông lịch tiết Lập ThuNông lịch tiết Lập XuânNông lịch tiết Lập ĐôngNông lịch tiết Mang ChủngNông lịch Tiết Sương GiángNông lịch tiết Thanh MinhNông lịch tiết Thu PhânNông lịch Tiết Tiểu HànNông lịch tiết Tiểu MãnNông lịch tiết Tiểu ThửNông lịch tiết Tiểu tuyếtNông lịch tiết Vũ ThủyNông lịch Tiết Xử ThửNông lịch tiết Xuân PhânNông lịch tiết Đại HànNông lịch tiết Đại ThửNông lịch tiết Đại tuyếtNông nghiệp công nghệ caoNông nghiệp sinh thái ViệtNông nghiệp Việt trăm nămNúi Chứa Chan Xuân LộcNúi Thần Đinh Quảng BìnhNắm chặt tay anh đi emNắng ban mai ngày mớiNắng gió lành thuốc quýNắng lên là sương tanNắng mới và mưa lànhNắng và gió phương NamNếp nhà đẹp văn hóaNợ duyênNgành nghề ở Việt NamNgày của ChaNgày của MẹNgày của Mẹ trong conNgày cuối năm thong thảNgày Hạnh Phúc của emNgày mới bình minh anNgày mới lời yêu thươngNgày mới Ngọc cho đờiNgày mới trên quê hươngNgày nhớ trong tim tôiNgày Quốc tế Hạnh phúcNgày vui nhớ Chứa ChanNgày xuân đọc Trạng TrìnhNgô Việt Nam ngày nayNgôi sao mai chân trờiNgôi đền thiêng lòng ngườiNgôn ngữ văn hóa ViệtNgẫm thơ ngoài ngàn nămNgắm ‘ngõ nhà lão Hâm’Ngắm dấu chân thời gianNgắm vầng trăng cổ tíchNgọc lục bảo Paulo CoelhoNgọc lưu ly nhớ MẹNgọc Phương Nam ngày mớiNgọc Quan Âm xuân mớiNgọt bùi nhớ trái ớt cayNgồi tựa đỉnh non XanhNgộ Tam Minh Tĩnh GiácNgựa không nản chân bonNghê Việt am Ngọa VânNghê Việt trong Hồn ViệtNghị lực và Ơn ThầyNghe khúc hát hái senNghiên cứu Kinh Dược SưNguồn Son nối Phong NhaNguyên Hùng bạn xứ NghệNguyên Ngọc về Tây NguyênNguyễn Du Hồ Xuân HươngNguyễn Du là bậc anh hùngNguyễn Du làm Ngư TiềuNguyễn Du Nguyễn Công TrứNguyễn Du niên biểu luậnNguyễn Du tâm hồn ViệtNguyễn Du thời nhà NguyễnNguyễn Du thời Tây SơnNguyễn Du thơ chữ HánNguyễn Du tiếng tri âmNguyễn Du trăng huyền thoạiNguyễn Du tư liệu quýNguyễn Duy cát trắng bụiNguyễn Hàm Ninh Thầy VuaNguyễn Hiến Lê sao sángNguyễn Huệ thời Tây SơnNguyễn Huy Thiệp lắng đọngNguyễn Khải thầy văn ViệtNguyễn Minh Không Bái ĐínhNguyễn Ngọc Tư sầu riêngNguyễn Quế chiều Bích ĐộngNguyễn Trãi Dục Thúy SơnNguyễn Trãi kiệt tác thơ vănNguyễn Trọng Tạo đồng daoNguyễn Đức Trung Hoa ĐấtNgười dĩ công vi thượngNgười lính cây sắn tuổi thơNgười lính già thời BácNgười lính nơi đất MẹNgười mù điếc huyền thoạiNgười vịn trời chấp sóiNha Trang biển và emNha Trang thơm trầm hươngNha Trang và A. YersinNhà mình gần ngã ba sôngNhà tôi chim làm tổNhà tôi giấc mơ xanhNhà Trần trong sử ViệtNhân hậu đời quên tuổiNhân Huệ Vương vẹn kiếpNhân nghĩa cốt an dânNhân nghĩa lời yêu thươngNhớ Ông Bà Cậu MợNhớ ải Lạng Chi LăngNhớ bài học sâu sắcNhớ bạn chốn rừng xanhNhớ bạn hiền xóm núiNhớ bạn nhớ châu PhiNhớ bạn Đào Trung KiênNhớ cây thông mùa đôngNhớ cụ Nguyễn Khắc ViệnNhớ cụ Nguyễn Ngọc TrìuNhớ kỷ niệm một thờiNhớ lại và suy ngẫmNhớ lớp học trên đồngNhớ lời vàng Albert EinsteinNhớ Mẹ mùa Vu LanNhớ nốt lặng bên đờiNhớ ngày về thăm bạnNhớ NgườiNhớ tháng bảy mưa ngâuNhớ thầy Nguyễn Mộng GiácNhớ thầy Nguyễn Quốc ToànNhớ thầy Phan Hoàng ĐồngNhớ thầy Tôn Thất TrìnhNhớ thương cánh chim trờiNhớ vầng trăng ngọn lửaNhớ Viên Minh Hoa LúaNhững bài thơ ám ảnhNhững câu thơ lưu lạcNhững con người trung hiếuNhững cuốn sách tôi yêuNhững người Việt ở FAONhững trang văn thắp lửaNhững trang đời lắng đọngNhiều bạn tôi ở đấyNiềm tin và nghị lựcNăm tháng đó là emNơi một trời thương nhớNơi tình yêu bắt đầuNơi vườn thiêng cổ tíchNước Lào một suy ngẫmNước mát cây xanh đất lànhNước Nga và châu ÂuNước trong và ngày mớiPhan Chí Thắng chuyện đờiPhan Huy Chú thầy VănPhan Thanh Kiếm bạn tôiPhan Thiết có nhà tôiPhát triển nông thôn mớiPhòng trừ bệnh chổi rồngPhú Tuệ duyên gặp ThầyPhú Yên nôi lúa sắnPhúc hậu thanh thận cầnPhạm Ngũ Lão Thuật HoàiPhạm Quang Khánh Hoa ĐấtPhạm Trung Nghĩa Viện LúaPhạm Văn Bên Cỏ MayPhố núi cao yêu thươngPhục sinh giữa tối sángPho tượng Ngọc Quan ÂmPhương Nam đêm anh vềPraha Goethe và lâu đài cổPushkin bình minh thơ NgaQua Mang Thít Vĩnh LongQua sông tới Cát TiênQua sông Thương bến nhớQua Waterloo nhớ ScottQuan niệm về hạnh phúcQuang Dũng thơ gọi nắngQuê hương xa mà gầnQuê Mẹ vùng di sảnQuả táo Apple Steve JobsQuả tốt bởi nhân lànhQuản lý bền vững sắnQuảng Bình với Trường SơnQuảng Bình đất Mẹ ơn NgườiQuảng Tây nay và xưaQuốc Công đạo làm tướngRằm Đản Sinh Nhớ MẹRio phố núi và biểnRượu cần nơi bản vắngRượu và sắn ngày mớiSách hay thầy bạn quýSách Văn Nghệ Quảng MinhSáng mãi ngọc lưu lySáng tạo và Công nghệSân trước một nhành maiSóc Trăng Lương Định CủaSóng yêu thương vỗ mãiSông Hoàng Long giữa lòngSông Kỳ Lộ Phú YênSông Mekong tin nổi bậtSông ThươngSông Thương ngày trở lạiSông Đồng Nai yêu thươngSông đời thao thiết chảySắn lúa ở Phú KhánhSắn tốt nhớ bạn hiềnSắn Việt bảo tồn phát triểnSắn Việt Nam bài học quýSắn Việt Nam ngày naySắn Việt Nam sách chọnSắn Việt Nam và HowelerSắn Việt Nam và KawanoSắn Việt và Sắn TháiSắn Việt Đất Ông HoàngSớm hè líu ríu xuânSớm mai ngắm mai nởSớm mai qua Đại LãnhSớm Thu thơ giữa lòngSớm Thu vui chim hótSớm thu đất ông HoàngSớm XuânSớm Xuân thơ giữa lòngSớm xuân đi tảo mộSớm ĐôngSớm Đông trên đồng rộngSớm đông nhớ Trạng TrìnhSự cao quý thầm lặngSự chậm rãi minh triếtSự thật tốt hơn ngàn lời nóiSelma Nobel văn họcSholokhov người sông ĐôngSoi sáng lại chính mìnhSuy ngẫm từ núi XanhSuy tư sông Dương TửSơn Nam ông già Nam BộSơn Núi trên rừng khuyaSơn Tùng chuyện Bác HồTa về trời đất Hồng LamTa về với Linh GiangTa về với đồng xuânTagore Thánh sư Ấn ĐộTam Quốc luận anh hùngTâm tĩnh lặng an nhiênTâm Đạo chuyện trăm nămTìm về đức Nhân TôngTím một trời yêu thươngTô Đông Pha Tây HồTản mạn nhớ và quênTảo mai nhớ đức Nhân TôngTắm tiên Chư Yang SinTết ấm áp tình thânTỉnh lặng với chính mìnhTỉnh lặng đời an nhiênTỉnh thứcTỉnh thức cùng tháng nămTỉnh thức nhớ Viên MinhTỉnh thức đêm Song NgưTổ hợp tác nông nghiệpTứ Cô Nương bạn tôiTứ quý hoa bốn mùaTừ Hiếu với người hiềnTừ Mê Kông nhớ Nê VaTự do ngời tâm đứcTự thuật ‘thơ dưỡng sinh’Thanh nhàn vui tháng nămThanh trà Thủy Biều HuếThao thức nhịp thời gianThành tâm với chính mìnhThác nước giữa lòng NgườiThái Bình Nguyễn Sư MạnhThái Dương Hệ Mặt TrờiThái Tông và Hưng ĐạoTháng Ba hoa gạo nởTháng Chín câu chuyện ảnhTháng Năm câu chuyện ảnhTháng năm Tết Đoan DươngTháng Sáu chuyện ân tìnhTháng Tư chuyện không quênTháp Bút viết trời xanhTháp Tự Do Nước MỹThâm Giang Trần Gia NinhThích nghi để tồn tạiThầy bạn là lộc xuânThầy bạn trong đời tôiThầy bạn Vĩ Dạ xưaThầy dẫn đường của tôiThầy Dương Thanh LiêmThầy giáo già trước biểnThầy Hiếu Đêm Giáng SinhThầy là nắng tháng BaThầy lúa Bùi Bá BổngThầy Luật lúa OMCS OMThầy nghề nông chiến sĩThầy Ngoạn Hồ Núi CốcThầy Nguyễn Hoàng PhươngThầy Nguyễn Lân DũngThầy nhạc Trần Văn KhêThầy Norman BorlaugThầy Phạm Hồng Đức PhướcThầy Quý lúa lan lyThầy Quyền thâm canh lúaThầy tôi sao sáng giữa trờiThầy Tụng nhớ thầy TrìnhThầy Tuấn kinh tế hộThầy Tuấn trong lòng tôiThầy Tuệ Trung Thượng SĩThầy Vũ trong lòng tôiThầy văn Hồ Ngọc DiệpThầy Xuân canh tác lúaThắp đèn lên đi emThế giới trong mắt aiThế sự bàn cờ vâyThổ Nhĩ Kỳ ngày nayThời biến nhớ người xưaThời chuyển mùa nhớ bạnThời gian lưu dấu hiềnTheo chân người dẫn đườngThiên nhiên là thú thần tiênThiên nhiên với con ngườiThiên đường này đâu quá xaThiền Sư Lão Nông TăngThiện Đức Nguyễn Đức HàThomas Edison huyền thoạiThu Nguyệt gai và hoaThu tĩnh lặng an nhiênThung dungThung dung chào ngày mớiThung dung dạy và họcThung dung vườn cổ tíchThung dung đẹp và hayThung dung đời quên tuổiThăm Hoa Lư Cúc PhươngThăm nhà cũ của DarwinThăm Tây Hồ nhớ NgườiThăm thẳm câu chuyện ảnhThăm thẳm một tầm nhìnThăm thẳm nhớ quê hươngThăm thẳm trời sông ThươngThăm thẳm đất miền TrungThăm trường xưa Hà BắcThăm Đền Hùng nhớ BácThăng Long Lý Thái TổThơ dâng theo dấu TagoreThơ Pushkin bình minh NgaThơ tình Hồ Núi CốcThơ tặng mùa yêu thươngThơ Tứ tuyệt Hoàng KimThơ thiền Thích Nhất HạnhThơ viết bên thác IguazuThơ Việt ngoài ngàn nămThơ vui những ngày nhànThơ Xuân Chào Ngày MớiThơ xuân ngày giáp TếtThư trả lời Thùy HươngThượng Đức thương nhìn lạiThương câu thơ lưu lạcThương Kim Thiếp Vũ MônThương nhớ Biển Hồ tràTiến bộ giống sắn Việt NamTiếng Việt lung linh sángTiếng Việt thuyền và biểnTiết Chế đức dụng nhânTiếu ngạo với Lan HoaTiễn em vào trận đánhTiệp Khắc kỷ niệm một thờiToni Morrison nhà văn MỹTQ mộng China DreamTrà sớm nhớ bạn hiềnTrà sớm thương người hiềnTrà sớm với Lão NôngTrà Tì bánh và hoaTrân trọng Ngọc riêng mìnhTrên bục giảng đường xuânTrò chuyện với Hoàng KimTrò chuyện với Yến ThanhTrúc Lâm Trần Nhân TôngTrạng TrìnhTrạng Trình dưỡng sinh thiTrầm tích ngọc cho đờiTrần Công Khanh ngày mớiTrần Duệ Tông hậu TrầnTrần Khánh Dư “Bán than”Trần Khánh Dư vẹn kiếpTrần Nhật Duật nhân tướngTrần Quang Khải thơ thầnTrần Tử Ngang lắng đọngTrần Thánh Tông minh quânTrần Văn Trà bóng hạcTrần Đăng Khoa trong tôiTrận Vũ Hán lịch sửTrịnh Công Sơn lắng đọngTrời giữa mùa giông bãoTrời mưa trong mắt aiTrời nhân loại mênh môngTrở về nơi điểm hẹnTre Rồng sông Kỳ LộTrung Liệt đền thờ cổTrung Nga với Trung ÁTrung Quốc một suy ngẫmTrung Quốc thời ông TậpTrung Đông với Hồi GiáoTruyện George WashingtonTruyện Norodom SihanoukTruyện Pie Đại đếTruyện Tam Cố Thảo LưTruyện vua SolomonTrăng rằmTrăng rằm Ngọc Quan ÂmTrăng rằm sen Tây HồTrăng rằm thương nhớ AnhTrăng rằm đêm Thanh MinhTrăng rằm đêm Trung ThuTrăng rằm đêm Vu LanTrường học hướng ban maiTrường tôi nay và xưaTrường tôi nôi yêu thươngTrương Minh Thảo hoa cỏTuệ Giác và Tâm ĐứcTurkmenistan đất và ngườiTuyệt vời Hoàng hôn tímTuyệt vời lục bát ViệtTĩnh lặng cùng với OshoTĩnh lặng là trí tuệTương lai trong tay taVành đai và con đườngVào Tràng An Bái ĐínhVóc hạc thương người hiềnVạn An lời yêu thươngVạn Kiếp binh thư truyềnVạn Xuân nơi An HảiVầng đá chốn đại ngànVận khí và vận mệnhVề lại bến sông xưaVề miền Tây yêu thươngVề Nghĩa Lĩnh Đền HùngVề Trường để nhớ thươngVề với vùng cát đáVề với vùng văn hóaVị tướng của lòng dânVớt Trăng nhàn nét bútVe ran gà gọi sángViện Lúa Sao Thần NôngViệt Bắc Khát Khao XanhViệt Bắc nhớ Bác HồViệt Nam con đường xanhViệt Nam dư địa chíViệt Nam học thung dungViệt Nam học tinh hoaViệt Nam ngọc di sảnViệt Nam Sao Thần NôngViệt Nam sáng tạo KHCNViệt Nam tâm thế mớiViệt Nam tổ quốc tôiViệt Nam thông tin khái quátViệt Nam thời Nhà TrầnViệt Phương ba điều nhớ mãiVietnamese cassava todayVu Lan bài học mớiVui bước tới thảnh thơiVui quà tặng cuộc sốngVui sống giữa thiên nhiênVui thu măng mỗi ngàyVui về với ruộng đồngVui đùa bạn Hoa HuyềnVui đến chốn thung dungVui đi dưới mặt trờiVăn Công Hùng Tây NguyênVăn chương ngọc cho đờiVĩ Dạ thương Miên ThẩmVườn giống sắn Đồng XuânVườn nhà sớm mai nayVườn Quốc Gia Cát TiênVườn Quốc gia Việt NamVườn Tao Đàn bạn quýWalt Disney người bạn lớnWalter Scott bút hơn gươmXanh một trời hi vọngXóm NúiXuân ấm áp tình thânXuân mớiXuân sớm Ngọc Phương NamYên Bái Tà Chì NhùYên Lãng Hồ Chí MinhYên Tử Trần Nhân TôngYên Tử Yên Phụ thiêngĂn cháo nói càn khônĐào Duy Từ còn mãiĐào tiên Ngọc Quan ÂmĐá Đứng chốn sông thiêngĐáy đại dương là ngọcĐèo Ngang thăm thẳm nhớĐêm giao thời huyền diệuĐêm lạnh nhớ Đào CôngĐêm mai là trăng rằmĐêm nay là Trăng rằmĐêm nay trăng mười sáuĐêm ngủ ở Hà TânĐêm nhớ Thuyền và BiểnĐêm thanh ngắm hoa quỳnhĐêm trắng và bình minhĐêm Vu Lan thương chịĐêm Yên TửĐón bạn hiền xóm NúiĐùa vui cùng Thuận NghĩaĐùa vui với thầy HiềnĐại Lãnh nhạn quay vềĐại tuyết trên Hoàng HàĐảo Yến trong mắt aiĐất Lành Dưỡng Phục SinhĐất Mẹ vùng di sảnĐất Quảng hồn sông núiĐập Tam Hiệp Tam TuyếnĐậu Quốc Anh khiêm nhườngĐặng Dung thơ Cảm hoàiĐặng Kim Sơn lắng đọngĐặng Thái Sơn đọc và ngẫmĐẹp và hay học mãiĐến Neva nhớ Pie Đại ĐếĐến Thái Sơn nhớ NgườiĐến với bài thơ hayĐến với Tây Nguyên mớiĐền Bà Chúa Thượng NgànĐền Kiếp Bạc Côn SơnĐền Ngọc Sơn Hồ GươmĐền Trần chùa Thắng NghiêmĐịa chỉ xanh kết nốiĐọc ’50 năm nhớ lại’Đọc lại trăm bài thơĐọc lại và suy ngẫmĐọc lời nguyền trăm nămĐọc Lục Bát Xứ NghệĐối thoại nền văn hóaĐối thoại với Thiền sưĐồng hành cùng đi tớiĐồng Nai sớm mai trời ấmĐồng xuân lưu dấu hiềnĐồng đội cùng tháng nămĐỗ Phủ thơ mưa lànhĐỗ Phủ thương đọc lạiĐỗ Tất Lợi danh y ViệtĐời đừng thiếu mùa ĐôngĐợi anh ngày trở lạiĐợi mưaĐợi nắngĐức sáng Trần Thái TôngĐi bộ trong đêm thiêngĐi dưới trời minh triếtĐi như một dòng sôngĐi thuyền trên Trường GiangĐi để hiểu quê hươngĐường Sống Đạo Làm NgườiĐường xuân theo chân BácĐường xuân đời quên tuổi
Thông tin tích hợp tại TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM

#htn, #hoangkimlong, #banmai#vietnamxahoihoc, #htn365, #ana, #dayvahoc, #vietnamhoc, #cnm365, #cltvn, #vietcassava, #annhiên, #đẹpvàhay, https://cnm365.wordpress.com/…/chao-ngay-moi-17-thang-3/ & https://cnm365.wordpress.com/cat…/cnm365-cltvn-17-thang-3/
VN

Ta đã thấy gì trong đêm nay – Trịnh Công Sơn – vohuudinh.com 0947331132

MẢNH ĐẠN TRONG NGƯỜI
Hoàng Trung Trực

Bao nhiêu mảnh đạn gắp rồi
Vẫn còn một mảnh trong người lạ thay
Nắng mưa qua bấy nhiêu ngày
Nó nằm trong tuỹ xương này lặng câm…

Thời khói lửa đã lui dần
Tấm huân chương cũng đã dần nhạt phai
Chiến trường thay đổi sớm mai
Việt Nam nở rộ tượng đài vinh quang.

Thẳng hàng bia mộ nghĩa trang
Tên đồng đội với thời gian nhạt nhoà
Muốn nguôi quên lãng xót xa
Hát cùng dân tộc bài ca thanh bình

Thế nhưng trong tuỷ xương mình
Vẫn còn mảnh đạn cố tình vẹn nguyên
Nằm hoài nó chẳng nguôi quên
Những ngày trở tiết những đêm chuyển mùa

Đã qua điều trị ngày xưa
Nó chai lỳ với nắng mưa tháng ngày
Hoà bình đất nước đổi thay
Đêm dài thức trắng, đau này buồn ghê

Khi lên bàn tiệc hả hê
Người đời uống cả lời thề chiến tranh
Mới hay cuộc sống yên lành
Vẫn còn mảnh đạn hoành hành đời ta.

BỀN CHÍ
Hoàng Trung Trực

Chỉ có chí mới giúp ta đứng vững
Và dòng thơ vực ta dậy làm người
Giờ ta hiểu vì sao Đặng Dung mài kiếm
Thơ “Thuật hoài” đau cảnh trần ai.


Cụ Nguyễn Du vì sao nén thở dài
Quan san cả trong lòng người áo gầm
Lầu Ngưng Bích vì đâu Kiều xế bóng
Khúc “Đoạn trường” dậy sóng nhớ lòng ai


Phạm Ngũ Lão sớm xuất chúng hơn người
Vì sao thành một hiền nhân trầm mặc
Ai chộn rộn đi kiếm tìm quyền lực
Để đời Ức Trai phải chịu án Lệ Chi Viên


Thương Nguyễn Kim nặng lòng tri kỷ
Xoay cơ trời tạo lại nghiệp nhà Lê
Giữa sa trường phải chịu thác mưu gian
Gương trung liệt dám quên mình vì nước


Ơn Trạng Trình nhìn sâu thế nước
Miền Đằng Trong hiến kế Nguyễn Hoàng
Hoành Linh Lũy Thầy dựng nghiệp phương Nam
Đào Duy Từ người Thầy nhà Nguyễn


Sông núi này mỏi mòn cố quận
Hạnh Phúc là gì mà ta chưa hay
Ta đọc Kiều thương hàn sĩ đời nay
Còn lận đận giữa mênh mang trời đất.


Ta an viên vợ con, em trai Thầy học
Anh trai ta lưu ‘Khát vọng” ở đời
Chỉ có chí cùng niềm tin chân thật
Và dòng thơ vực ta dậy làm người

TRÒ CHUYỆN VỚI THIỀN SƯ
Hoàng Trung Trực

Vất bỏ ngoài tai mọi chuyện đời
Lòng không vướng bận dạ an thôi
Ráng vun đạo đức tròn nhân nghĩa
Huệ trí bùng khai tỏa sáng ngời


Lòng lộng đêm nghe tiếng mõ kinh
Bao nhiêu ham muốn bỗng an bình
Tâm tư trãi rộng ngàn thương mến
Mong cả nhân loài giữ đức tin.


Thượng Đế kỳ ba gíáo đô đời
Vô minh cố chấp tại con người
Thánh Tiên tùy hạnh tùy công đức
Ngôi vị thiêng liêng tạo bởi Người.


Vững trụ đức tin đạo chí thành
Vô cầu vô niệm bả công danh
Sớm hôm tu luyện rèn thân chí
Đạo cốt tình thương đức mới thành

TRẠNG TRÌNH
Hoàng Trung Trực

Hiền nhân tiền bối xưa nay
Xem thường danh vọng chẳng say tham tiền
Chẳng màng quan chức uy quyền
Không hề nghĩ đến thuyết truyền duy tâm
Đức hiền lưu giữ ngàn năm
Vì Dân vì Nước khó khăn chẳng sờn
Hoàn thành sứ mạng giang sơn
Lui về ở ẩn sáng thơm muôn đời
Tầm nhìn hơn hẳn bao người
Trở thành Sấm Trạng thức thời gương soi.

(*) ‘Trò chuyện với Thiền sư’ là tâm sự của Hoàng Trung Trực với thầy Thích Giác Tâm là vị cao tăng trụ trì ở chùa Bửu Minh, Biển Hồ ‘mắt ngọc Tây Nguyên” Pleiku – Gia Lai, nơi điểm nhấn của dòng sông Sê San huyền thoại, một trong các chi lưu chính của sông Mekong bắt nguồn từ núi Ngọc Linh và Chư Yang Sin nổi tiếng Tây Nguyên, Việt Nam. Bửu Minh (www.chuabuuminh.vn) là ngôi chùa cổ, một trong những địa chỉ văn hóa gốc của Tây Nguyên.
Hoàng Trung Trực đời lính

NhoThay1
NhoThay2

ƠN THẦY Lời Thầy dặn thung dung. Mục đích sau cùng của DẠY VÀ HỌC là thấu suốt bản chất sự vật, có lời giải đúng và LÀM được việc. Thầy Quyền thâm canh lúa video https://youtu.be/04FTsXu0B7Y?si=l5xrLMcroICxe6Ii Thương em cảnh gieo neo mẹ mất, lại cha già giặc giết hôm quaBài ca Trường Quảng Trạch Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”.Thầy dẫn đường của tôi Việt Nam con đường xanh. Hoàng Kim

Cha ngày xưa nuôi con đi học
Một nắng hai sương trên những luống cày
Trán tư lự, cha thường suy nghĩ
Phải dạy con mình như thế nào đây?

Cha mất sớm, bom thù rung mặt đất
Cái chết giằng cha ra khỏi tay con
Mắt cha lắng bao niềm ao ước
Vẫn lo cho con đến phút cuối cùng

Giặc giết cha, cha chưa kịp thấy
Tương lai con đi, sự nghiệp con làm
Cha có biết, luống cày cha bỏ dỡ
Cha ngã xuống rồi trao lại tay con

Trên luống cày này, đường cày con vững
Bởi có dáng thầy thay bóng cha xưa
Hiểu mảnh đất máu đào cha nhuộm đỏ
Thôi thúc tim con học tập phút giờ …

NHỚ LỚP HỌC TRÊN ĐỒNG

Trò đứng trên bờ
Thầy cày dưới ruộng
Roi rói đất lật lên
Thẳng tắp từng hàng từng luống …

Buổi đầu chưa quen đường cày đâu vững
Thầy nắn tay cầm, thầy sửa dáng đi
Trán lấm tấm mồ hôi, trời thì lạnh giá
Nhưng mọi người đều học say mê

Thầy dạy con muốn đường cày đẹp
Phải vững tay cày và thẳng mắt trông
Bước đĩnh đạc, đường hoàng, ngay ngắn
Dóng trâu đi đúng lối, thẳng đường

Con hiểu thầy bày từng lời cặn kẽ
Đâu chỉ dạy cày, thầy dạy đức cho con
Nuôi mục đích trước sau như một
Việc tốt đưa ra, quyết vượt tới cùng …

– Các em học hiểu không?
– Hiểu lắm!
– Em nào ra cày?
Muôn cánh tay giơ lên …

Luống cày chạy băng băng
Đất lành sôi sự sống
Từng hàng, từng hàng lật lên
Áo mới thay dần mặt ruộng

Thầy trò say mê mãi
Dưới ruộng trò cày
Trên bờ thầy hớn hở
Đường cày càng vững vàng hơn…

1971

NGÀY MỚI NHÀN XUÂN HIỂU

Thủy Kim bến đậu thung dung
An nhiên cây mát
trăng xuân đất lành
Ngủ vườn tóc đẹp như sao
Ngủ sông cá lặn chim reo tận bờ
Thức thời nhàn trí vô tư
Xuân Hiểu Ngày Mới bây giờ là đây

Hoàng Kim thơ 8/3 568

HỌC KHÔNG BAO GIỜ MUỘN

Mục đích sau cùng của DẠY và HỌC là thấu suốt bản chất sự vật, có lời giải đúng và LÀM được việc. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoc-khong-bao-gio-muon/

LỜI KẾT: Đào Duy Từ còn mãi
ĐỒNG XUÂN LƯU DẤU HIỀN
Hoàng Kim


Thân thiết một người hiền cũ
Tháng năm nhanh thật là nhanh
Tùng Châu, Hoài Nhơn, Phụng Dụ
Dừa xanh, sắn biếc tâm hồn

Cứ nhớ thương thầm dấu cũ
Dòng đời đâu dễ nguôi quên
Chuyên “Đào Duy Từ còn mãi”
Đồng xuân lưu dấu người hiền

Một giấc mơ lành hạnh phúc
Tùng Châu, Châu Đức, Đào Công
Một góc vườn thiêng cổ tích
Lời thương thăm thẳm giữa lòng

Hoàng Kim đã về dâng hương tưởng nhớ Đào Duy Từ ở đất Tùng Châu xưa. Tôi lần tìm theo những trang ghi chép cũ để thấu hiểu sự nhọc nhằn khởi nghiệp của bậc anh hùng và để thấy dấu ấn cùng với những ảnh hưởng lớn lao của Đào Duy Từ đối với mảnh đất này. Tôi may mắn  thăm  Đình Lạc Giao, Lũy Thầy và các nơi để chứng ngộ công đức của Người và cảm nhận. Cám ơn gia tộc Đào Duy, phó giáo sư Đào Thế Anh, giáo sư Mai Văn Quyền, giáo sư Lê Văn Tố, phó giáo sư sử học Trương Minh Dục, thầy Dương Duy Đồng, thầy Nguyễn Minh Hiếu, em Nguyễn Thị Trúc Mai, em Phạm Văn Ngọc, một số người đã trực tiếp chứng kiến các khảo sát điền dã nông nghiệp lịch sử của tôi đã gợi ý cho tôi tiếp tục hoàn thiện bài viết này.

NHỚ NGƯỜI
Đến Thái Sơn nhớ Đào Duy Từ

Ngược gió đi không nản
Rừng thông tuyết phủ dày
Ngọa Long cương đâu nhỉ?
Đầy trời hoa tuyết bay (*)

Hoàng Kim

Tài liệu tham khảo chính

1) Đào Xuân Hưng 2010. Họ Đào Việt Nam http://hodaovietnam.com/home
2) Nguyễn Khắc Thuần 2012. Giai thoại dã sử Việt Nam; Nhà Xuất bản Giáo dục
3) Trần Trọng Kim 1921 Việt Nam sử lược, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin 1999;
4) Trịnh – Nguyễn diễn chí, quyển 2;
5) Trang thông tin điện tử tỉnh Bình Định http://www.baobinhdinh.com.vn;
(TS. Đinh Bá Hòa 2012. Gia thế Đào Duy Từ qua hai cuốn gia phả, Trong: Báo Bình Định, http://www.baobinhdinh.com.vn/vanhoa-nghethuat/2012/2/122623). Cuốn thứ nhất chép năm Tự Đức 30 Đinh Sửu (1872) và cuốn thứ hai chép năm Thành Thái thứ 3, vào tháng 2 năm Tân Mão (1891)… Về nội dung, hai cuốn gia phả đều chép giống nhau về các đời của họ Đào, trong cùng một khung niên đại, từ đời viễn tổ Đào Duy Trung đến mốc soạn tu gia phả. Bản năm Tự Đức bị mất một số trang phần liệt kê các chi phái. Bản Thành Thái do trùng tu trên cơ sở của bản trước nên văn phong sáng sủa, ghi chép cẩn thận, tỉ mỉ hơn… Về lai lịch họ Đào, kể từ Đào Duy Từ và vợ ông là Cao Thị Nguyên trở về trước, cả hai bản đều ghi là ở Thanh Hóa. Về vợ Đào Duy Từ, sử sách về ông đều chép, ông được khám lý Trần Đức Hòa gả con gái cho. Vậy nên có cơ sở để nói rằng Đào Duy Từ có hai vợ. Về bà Cao Thị Nguyên, gia phả họ Đào ghi bà là vợ Đào Duy Từ. Về bà Trần Thị (không nói rõ tên) cả chính sử và dã sử đều chép là vợ của Lộc Khê hầu. Ở Hoài Nhơn, cách đền thờ Đào Duy Từ 300 m có đền thờ bà Trần Thị, trước cổng đề biển “Quốc ông phu nhân tự”... Đối chiết tài liệu gia phả do TS. Đinh Bá Hòa cung cấp với dã sử và khảo sát thực tế cần xác định rõ thêm người vợ Trần Thị của Đào Duy Từ và gia tộc khám lý Trần Đức Hòa, để rõ thêm con cái và hành trạng hai người vợ  của ông.  Con cháu họ Đào cũng cho biết, không hiểu từ bao giờ tại vùng này, trai gái hai họ Trần và Đào không được lấy nhau mà coi nhau như anh em ruột thịt. Hiện nay tục này vẫn giữ tuy không còn nghiêm ngặt.Theo hai bản gia phả, bà Cao Thị Nguyên là vợ của Đào Duy Từ… Đào Duy Từ và vợ cả đều là người Tĩnh Gia – Thanh Hóa. Ông lấy bà Cao Thị Nguyên trước khi vào Đàng Trong. Tài liệu chính sử và dã sử đều ghi Đào Duy Từ vào Đàng Trong năm 1625, lúc này đã 53 tuổi. Năm 1627, Đào Duy Từ gặp Trần Đức Hòa, được ông gả con gái và tiến cử lên chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên… Các tài liệu ghi năm 1631 Đào Duy Từ gả con gái cho Nguyễn Hữu Tiến, tuy không nói rõ con bà vợ nào nhưng chắc chắn là con bà Cao Thị Nguyên. Tài liệu cũng chép, bà Cao Thị Nguyên không theo ông vào Đàng Trong mà ở quê nhà trông coi phần mộ cha mẹ Đào Duy Từ, ông chỉ mang các con vào sau khi đã thành danh. Vậy mộ song thân Đào Duy Từ và bà vợ họ Cao được đón vào lúc nào cần được tìm hiểu rõ hơn.
6) Trang thông tin điện tử tỉnh Quảng Bình http://www.quangbinh.gov.vn ;
7) Trang thông tin điện tử tỉnh Thanh Hóa http://www.thanhhoa.gov.vn
8)  Đào Duy Từ (chuyên luận Hoàng Kim)  đã bổ sung, chỉnh sửa , hiệu đính nhân ngày 17 tháng 10 âm lịch năm 2015, và đăng lại ở CNM365
9) Đến Thái Sơn nhớ Đào Duy Từ. 10) Xem phim hay TÔN TỬ ĐẠI TRUYỆN tập 1; tập 2, tập 3, tập 4, tập 5, tập 6,
tập 7, tập 8, tập 9, tập 10, tập 11, tập 12, tập 13, tập 14, tập 15, tập 16, tập 17, tập 18, tập 19, tập 20, tập 21, tập 22 , tập 23, tập 24, tập 25, tập 26, tập 27, tập 28, tập 29, tập 30, tập 31, tập 32, tập 33, tập 34, tập 35; https://youtu.be/yVAKhwhn9A0 Bài học lớn muôn đời ; Kế sách một chữ Đồng; Hiền tài bút hơn gươm liên tưởng chuyện Đào Duy Từ bà vợ họ Cao và họ Trần với hai chi ngày nay ở Hoài Nhơn. Nhớ truyện Tôn Vũ Y Lan và Nguyễn Du Hồ Xuân Hương trong Nguyễn Du trăng huyền thoại. Cuộc đời cao hơn trang văn. Bảo tồn và phát triển tin. https://hoangkimvn.wordpress.com/2026/05/25/dao-duy-tu-con-mai/

DenThanSonnhoDaoDuyTu

AN VIÊN PHƯỚC HOÀNG GIA

Chim hót cùng mưa nhẹ
tiếng đàn nghe du dương
Tâm hồn #thungdung lạ
#Annhiên vui đời thường


An vui cụ Trạng Trình
An nhiên vùng Thủy Kính
Học không bao giờ muộn
CNM365 Tình yêu cuộc sống

Dạy và hc để làm

Chào ngày mới tốt lành
Hiểu sách Nhàn đọc giấu
An Viên Phước Hoàng Gia

Nguyễn Thị Thủy Hoàng Kim

#hoanggia #Thungdung #dayvahoc #vietnamhoc
#htn365 #ana #ngoclong #cnm365 #cltvn #nhasachhoanggia


#cnm365 #cltvn
Món ăn bài thuốc
GIỐNG ĐẬU RỒNG BÌNH MINH
#ana Hoàng Gia An
Ông quét sân, tắm nắng
Em dọn vườn em chơi
Giống đậu rồng Bình Minh
Trà hoa đu đủ đực

Bà dạy cháu tập viết
Cậu chở con đi bơi
Mẹ vài tuần mới gặp
Đêm muộn mẹ con chơi.

Sóc Harry với Bố
Huế Bà Nội Ngự Bình …
Na ôm Bà trưa ngủ
Ông dò bài cùng Con


Quảng Bình với Trường Sơn
Quảng Bình đất Mẹ ơn Người

https://hoangkimlong.wordpress.com/
https://www.facebook.com/reel/1638842697207105

Bài viết mới trên DẠY VÀ HỌC
https://hoangkimvn.wordpress.com bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
Bài ca nhịp thời gian
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn, Kim on Facebook, Kim on Twitter

Soi sáng lại chính mình


Hình ảnh này không có thuộc tính văn bản thay thế; tên tập tin là ngay-quoc-te-hanh-phuc.jpg

Soi sáng lại chính mình DẠY VÀ HỌC LÀM VƯỜN #Thungdung#KimNotesY Tý Farmstay – Vườn thảo dược trên mây Banmaichaongaymoi #Tỉnhthứccùngthángnăm https://youtu.be/lQoNqb9C5e8?si=q2QFTDHTBv21-U8P & https://hoangkimvn.wordpress.com/2026/09/03/soi-sang-lai-chinh-minh/

Most Beautiful Garden in the World You Won't Believe These Gardens Are Real!

Thương Ký Sự Mưa Bay
CHA LÀ NẮNG CỦA CON

Tôi lưu các bài về Cha cho chính mình, cho vợ con và người thân. Đó là những trang viết sâu thẳm. Cha là nắng của con. Lời Cha dặn Cụ ơi. Mẹ là mưa lành đất, là ba ký ức tuổi thơ không thể nào quên về Mẹ Cha đối với tôi. Trong bài “Thầy bạn là lộc xuân ” tôi đã có kể một ít ký ức về tuổi thơ:Quê tôi ở miền Trung nghèo khó “Nhà mình gần ngã ba sông/ Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình,/ Linh Giang (7) sông núi hữu tình / Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con/ Chèo thuyền cho khuất bến Son/ Để con khỏi chộ (thấy) nước non thêm buồn/ Câu thơ quặn thắt đời con/ Mẹ cha mất sớm, con còn trẻ thơ ”. Mẹ tôi mất sớm, cha bị bom Mỹ giết hại, tôi và chị gái đã được anh Hoàng Ngọc Dộ nuôi dạy cơm ngày một bữa suốt năm năm trời. Thầy Nguyễn Khoa Tịnh đứng khóc trên bục giảng (8) vận động thầy cô, bạn hữu chia sớt khoai sắn giúp đỡ. Tôi cũng dạy năm lớp vỡ lòng, ba lớp bổ túc văn hóa để vượt khó vươn lên. Thầy Hiệu trưởng Trần Đình Côn đã viết những lời xúc động trong trường ca tình thầy trò: “Thương em nhỏ gieo neo mẹ mất. Lại cha già giặc giết hôm qua. Tình thầy, tình bạn, tình cha. Ấy là ân nghĩa thiết tha mặn nồng” (9)  Những gương mặt thầy bạn đã trở thành máu thịt trong đời tôi.

Nhà tôi thuở ấy nghèo quá ! Đói đến mức gần tắt bữa. Mẹ tôi ốm và chết trẻ do hậu sản và suy gan sau khi em tôi mất. Mẹ chết sáng mồng ba Tết “Giáp Thìn bốn chín mẹ quy tiên”. Trước đó, cha đã bán hết tài sản để cứu mẹ nhưng không được. Tài sản đáng giá nhất tôi còn nhớ là: một con bò vàng, hiền nhưng không chịu để ai bắt nạt và có những thế đánh rất giỏi, nổi tiếng khắp cả hai làng Minh Lệ và Hòa Ninh; một căn nhà gỗ mái lợp tranh; một bộ phản cũ và một thùng gỗ vừa là thứ đựng lúa gạo vừa cũng là giường nằm. Mẹ đau nặng, cha bán hết bò, vật dụng và nhà, vừa nói với các con vừa khóc: “Cụ biết mạ con bệnh hiểm nghèo không qua khỏi nhưng cụ quyết ‘còn nước còn tát ‘ vì không thể thấy mạ con chết mà không cứu?”. Suốt bao nhiêu năm trôi qua, khuôn mặt khắc khổ mếu xệch và dòng nước mắt người cha trước sự lựa chọn sinh tử dữ dội luôn thấm mát đời con. Nhà minh con trai con gái ai cũng yêu thương vợ con có lẽ có từ bài học sâu sắc đầu đời này. Trước đó, tôi nghe kể, có lần khi cha bị bắt đi, cha xin chậm lại một chút để chẻ củi nhóm than cho vợ vừa sinh. Ông lập cập nên chẻ vào chân mình, máu ra nhiều, ngất lịm đi. Sau được cứu. Mẹ mất lúc tôi lên 9 và chị Huyền tuổi 12. Anh Dộ đi dạy cấp 1 ở xa, chị Huyên đã lấy chồng đều về chịu tang. Hôm mẹ chết, hầu như cả làng đi đưa. Đám tang rất đông vì sinh thời mẹ ăn ở đức độ, phúc hậu và mẹ đẹp người, đẹp nết, chết trẻ vì bệnh hiểm nghèo nên ai cũng thương. Gia đình tôi sau đó còn ba bố con ở chái lều tranh một mái gác xiên trên tường đất cũ. Nền nhà cao hơn một mét, kiềng đá hộc chắc chắn để tránh lụt vô nhà. Nền này, anh Trực tôi đã nhiều đêm cùng cha đào gánh đất đắp nền, trước khi anh tình nguyện đi bộ đội lúc 17 tuổi để cha được miễn dân công hỏa tuyến ở nhà nuôi vợ ốm và hai con nhỏ.Trong ký ức tuổi thơ của tôi nhớ về mẹ là được dụi đầu vào ngực của người và được mẹ âu yếm. Tôi nhớ ngày còn rất nhỏ theo mẹ đi bán nước chè lá vằng cho bà con cô bác đi chợ, một đọi (chén sành) được hai xu, thỉnh thoảng có người uống đến năm xu, vừa uống vừa xoa đầu tôi: “cháu giỏi lắm, chừng này tuổi mà đã biết giúp mẹ”. Những lúc mệt, tôi lại chạy về ôm mẹ và được mẹ lau mồ hôi cho. Chiếc khăn mẹ thơm mùi trầu cau. Sau này khi đi học, tôi có được thưởng một chiếc khăn mùi xoa. Lúc đó, cha một mình gà trống nuôi con đã nhiều năm. Tôi đưa tặng chiếc khăn cho cha và lần ấy tôi thấy cha mếu và khóc. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi làm thơ:
Cụ ơi

Con cầm về chiếc khăn tay
Của trường, của lớp, của thầy tặng con
Cầm khăn cụ vui vô cùng
Hai hòn nước mắt tưng bừng tuôn rơi
Gì từng ấy hỡi cụ ơi
So bằng công cụ như trời như non
Nuôi con biết mấy năm tròn
Gom từng hột sạu, bòn từng lá rau.
Công ơn của cụ thẳm sâu
Món quà con đó so đâu công này?
Kỷ niệm tuổi thơ tôi về cha mẹ thật êm đềm. Mẹ cha thường nựng tôi là ‘cục vàng của cụ mạ”, câu chuyện quan hệ đến tên khai sinh và ngày sinh của tôi mà tôi được tự mình chứng kiến một câu chuyện khi tôi lên sáu hoặc lên bảy …   

Lời Cha dặn Cụ ơi

LỜI CHA DẶN

Ngày của Cha trong gia đình tôi là Ngày nhớ ơn Cha Mẹ, *Ngày giỗ Mẹ là ngày mồng Ba Tết Âm Lịch, Ngày giỗ Cha là ngày 29 tháng 8 Âm Lịch. Năm 2025 ngày 29 tháng 8 âm lịch đúng ngày 20 tháng 10 năm Mậu Thân ngày mà ông bị Mỹ giết. Năm 2026 ngày 29 tháng 8 âm lịch nhằm ngày 9 tháng 10, sớm hơn dương lịch 11 ngày. Cha tôi là lính Vệ Quốc Đoàn thuộc tiểu đoàn 174, Trung đoàn 18 “Chiến khu thư Tư” của đơn vị bác Lê Văn Tri (sau này là Trung tướng Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, Phó Tư Lệnh Quân chủng Phòng Không Không Quân Việt Nam).Cha bị bom Mỹ giết hại năm 1968. Tôi vắng Mẹ từ tuổi thơ, lớn một chút lại mất Cha vì bom Mỹ giết. Tôi nhớ anh Hai đã thay cha yêu quý và chị gái Hoàng Thị Huyền đã thay mẹ hiền dìu dắt, nâng giấc. Kỹ niệm tuổi thơ yêu thương như Linh Giang sông quê hương thao thiết chảy. Tôi cất kỹ tờ giấy ố vàng Lời Cha dặn: “Con Kim. Cụ khi mô cũng nhớ ’em’ cả. Con học với Thầy phải kính Thầy để Thầy thương. Con chơi với bạn phải nhường bạn để bạn mến. Con sống với người phải tử tế, phúc đức để họ trọng. Làm gì cũng phải tự ý cẩn thận, đừng nghe người ta xui”.”Cụ biết mạ con bệnh hiểm nghèo không qua khỏi nhưng cụ quyết bán hết tài sản ‘còn nước còn tát ‘ vì không thể thấy mạ con chết mà không cứu?”. “ Hoàng Thị Huyền (Thỉu con) sinh buổi sớm 13 tháng 3 năm Mẹo, mặt trời lên ngọn tre. Hoàng Minh Kim sinh gần nửa đêm rằm xuân Gíáp Ngọ, trăng qua ngọn cau hơn hai sào”. (Sau này tôi được khai sinh đi học là ngày 27 tháng 12 năm 1953, vì lý do tôi đi học trước tuổi do nhỏ tuổi không có ai trông, phải theo học kèm với chị, và theo anh từ nhỏ xa quê sang Pháp Kệ để anh kèm học hết cấp Một. Lên lớp 5 thì học trường Thọ Linh (Quảng Sơn). Tôi cất tờ giấy này giữa hai tờ bọc vở của cuốn sổ và mang  tờ giấy này theo bên mình khi rời Nam Quảng Trạch sang bờ bắc rào Nậy (sông Gianh) đến Pháp Kệ, sau đó là Phù Lưu, Đồng Dương để đi học theo anh Dộ tôi đang dạy cấp một. Anh tôi xin thầy Trần Đình Côn, hiệu trưởng nhà trường cho tôi được học cấp ba Bắc Quảng Trạch. Tôi làm bài thơ thứ hai ghi lại kỷ niệm này và chép lại cẩn thận hai bài thơ tuổi nhỏ: Một bài là Theo anh sang Pháp Kệ “Cho con sang với ông ơi, Cho con sang với khỏi chờ đò lâu, Bấy lâu nay bụng những sầu, Bây giờ được học đang rầu hóa vui”. Một bài khác là bài toán đố, tôi giải bằng thơ nhanh, đúng và được … khen, Đó là: “Thương nhau cau sáu bổ ba/ Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười/ Cả thương và ghét chín mươi/ Bao nhiêu thương ghét em thời biết không?” Tôi đã trả lời liền bằng … thơ: “Thương nhau cau sáu bổ ba/ Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười/ Cả thương và ghét chín mươi/ Hai mươi thương, ba ghét là thời của em”. Bài được khen và hoan hô. Nay già rồi mà vẫn nhớ.
(Bài tiếp : Mẹ là mưa lành đất)

MẸ LÀ MƯA LÀNH ĐẤT
#KimNotes 24 tháng 7 #cltvn #ana
#cnm365 Tìnhyêucuộcsống

Cha Mẹ Là Quê Hương
Cha là nắng của con
Mẹ là mưa lành đất
Thương Ký Sự Mưa Bay
Nhớ vầng trăng ngọn lửa
.

VIẾNG MỘ CHA MẸ
Hoàng Trung Trực

“Dưới lớp đất này là Mẹ và Cha
Là khởi phát đời Con từ bé bỏng
Là lời Mẹ ru dịu dàng cánh võng
Là gươm đao Cha một thuở đau đời.

Hành trang cho con đi bốn phương trời
Là nghĩa khí của cha, là nhân từ của mẹ
Vẫn bầu sữa tinh thần không ngừng không nghỉ
Để hành trang cho con đi tiếp cuộc đời

Cuộc đời con bươn chải bốn phương trời
Nay về lại nơi cội nguồn sinh trưởng
Dâng nén hương mà lòng hồi hồi tưởng
Thuở thiếu thời trong lồng cánh mẹ cha

“Ước hẹn anh em một lời nguyền
Thù nhà đâu sá kể truân chiên
Bao giờ đền được ơn trung hiếu
Suối vàng nhắm mắt mới nằm yên” (6)

“Không vì danh lợi đua chen
Công Cha nghĩa Mẹ quyết rèn bản thân !”

HỘP TRÍCH DẪN

SOI SÁNG LẠI CHÍNH MÌNH

“Đường Trần Ta Lại Rong Chơi
Vui Thêm Chút Nửa, Buồn Thôi Lại Về”


Chuyện đồng dao cho em

Biển Hồ Chùa Bửu Minh
Học không bao giờ muộn

Soi Sáng Lại Chính Mình

Bình Minh An Ngày Mới
Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung
Hoàng Long cây lương thực
Ban mai chào ngày mới

Tỉnh thức cùng tháng năm
Dưỡng Sinh Tinh Khí Thần
Thung dung chơi chốn hiền
An Viên Ngọc Quan Âm

Thiền Sư Lão Nông Tăng
An Viên Ngọc Phương Nam

Hoàng Thành đến Trúc Lâm
Vĩ Dạ thương Miên Thẩm
Một gia đình yêu thương
An Viên Ngọc Phương Nam

BÌNH MINH AN NGÀY MỚI

Một gia đình yêu thương
Trường học hướng ban mai
Sống #Annhiên #Thungdung
Bồ Đề Nôi Hạnh Phúc
Đường xuân đời quên tuổi
Tỉnh thức cùng tháng năm

BÌNH MINH AN NGÀY MỚI

#TỉnhThức Trò Chuyện Với Lão Tử
#Annhiên An Viên Phước Hoàng Gia
#banmai Thung dung đời quên tuổi
Vợ chồng con cháu … lộc ông bà

‘Tôi đem thu vén lại đời
Bỏ buông những thứ rối bời tâm can
Giản đơn để sống thanh nhàn
Khiêm cung đi giữa trần gian bộn bề’


Nhân sinh như mộng đêm hè
#winlinh giác ngộ lời nghe thấm lòng
Mưa lành nắng mới trăng trong
#annhiên Bạch Ngọc #thungdung Trạng Trình


An Viên Ngọc Phương Nam

Học không bao giờ mun

#annhiên#Thungdung
Soi sáng lại chính mình
Ban mai chào ngày mới
Tỉnh thức cùng tháng năm


Một gia đình yêu thương

Những trang văn đọc lại
Cuộc đời phúc lưu hương
Bồ Đề Nôi Hạnh Phúc

Mục đích sau cùng của DẠY và HỌC là thấu suốt bản chất sự vật, có lời giải đúng và LÀM được việc Hoàng Kim Nguyễn Thị Thủy https://hoangkimvn.wordpress.com/

Bản chất cuộc sống là hạnh phúc và đau khổ, vui vẻ và phiền muộn, sự thiếu hoàn thiện và vô thường. Minh triết của đời người hạnh phúc là biết sống thung dung, phúc hậu, thanh thản, an nhiên tự tại, nhận ra kho báu vô giá của chính mình, không lo âu, không phiền muộn, sống với tinh thần dịu hiền và trái tim nhẹ nhõm.


Soi sáng lại chính mình không tìm ở đâu khác. Trúc Lâm Trần Nhân Tông, cư trần lạc đạo: “Ở đời vui đạo, thả tùy duyên. Đói cứ ăn đi mệt ngủ liền. Kho báu trong nhà thôi tìm kiếm. Vô tâm, đối cảnh, hỏi chi thiền”.

Thiền Sư Lão Nông Tăng Viên Minh Thích Phổ Tuệ từng nói: “Sống ở trên đời này được bao nhiêu năm, theo tôi, không phải là thước đo giá trị của đời người. Con rùa nó sống hàng ngàn năm thì đã sao? Vấn đề là sống để thực hiện sứ mệnh gì, mang lại lợi ích gì cho Đời, cho Đạo, ngài Trần Nhân Tông chỉ ở đời có 51 năm, Ngài Pháp Loa có 47 năm mà công nghiệm thì bất khả tư nghì.

#hoangkimlong đã nhiều lần đọc đi đọc lại “Hiểu đời” và càng tâm đắc: “Người hiểu đời rất quý trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghĩa của nó, làm cho cuộc sống vui hơn, giàu ý nghĩa hơn. Cần có tấm lòng rộng mở, yêu cuộc sống và thưởng thức cuộc sống, trông lên chẳng bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng mình, biết đủ thì lúc nào cũng vui. Tập cho mình nhiều đam mê, vui với chúng không biết mệt, tự tìm niềm vui. Tốt bụng với mọi người, vui vì làm việc thiện, lấy việc giúp người làm niềm vui… Ghế cao chẳng bằng tuổi thọ cao, tuổi thọ cao chẳng bằng niềm vui thanh cao…’’.

Soi Sáng Lại Chính Mình
Đọc Xếp Dọn Đời Mình
Trần Quang Đạo Mơ Hồ
AI Giúp Ta Thay Áo


Không Thể Quên Nước Nhà
Tổ Tiên Với Gia Đình
Chính Trung Hiếu Thiện Lành
Hoa Đất Của Quê Hương

Hoàng Kim lời quý mến

NGŨ HÀNH NƯỚC TỪ LỬA

Thủy Kim Mộc Hỏa Thổ
Hoa Đất thương lời hiền

Mẹ , Chị Gái, Vợ, Con Gái
Ngũ Hành tương sinh tương hợp
Phước lành ‘Chỉ lửa là rất thật’*
Đức tin ‘Em ơi can đảm lên‘ **

“Trung dũng ai bằng cái chảo rang
Lửa to mới biết sáp hay vàng
Xào nấu chiên kho đều vẹn cả
Chua cay mặn ngọt giữ an toàn
Ném tung chẳng vỡ như nồi đất
Quăng bừa xó bếp vẫn nằm ngang
Tốt đẹp đâu cần danh tiếng hão
Bạn cùng lửa đỏ, nóng chang chang”

Anh rang chín đời mình bởi em
Kim vàng ròng không sợ lửa
#tretrúclâm, #tâmbồđề
#PhậtDượcSư lánh về cõi Bụt

Soi sáng lại chính mình

Hoàng Kim

CHUYỆN ĐỒNG DAO CHO EM

Đồng dao là chuyện tháng năm
Lời ru của mẹ Trăng rằm thảnh thơi
Biết tìm bạn quý mà chơi
Học ăn học nói làm người siêng năng


Hiểu nhàn biết đủ thời an
Thung dung minh triết thanh nhàn thảnh thơi
Người sung sướng biết sống vui
Những người hiếu hạnh được đời yêu thương.

Việc chính là học làm người
Khắc sâu nhân nghĩa nhớ đời đừng quên
Hiếu trung phải học đầu tiên
Đừng tham tưởng bở mà quên ân tình.

Đừng tưởng cứ đẹp là tiên
Cứ trên là sáng cứ tiền là xong
Đừng tưởng không nói là câm
Không nghe tưởng điếc không trông tưởng mù

Đừng tưởng cứ trọc là sư
Cứ vâng là chịu cứ ừ là ngoan
Đừng tưởng có của là sang
Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây.

Đừng tưởng cứ uống là say
Tai trâu đàn gẩy lời hay ham bàn
Đừng tưởng giàu hết gian tham
Không thời chẳng vận lạm bàn chuyện dân


Đừng tưởng cứ mới là tân
Cứ hứa là chắc cứ ân là tình
Đừng tưởng cứ thấp là khinh
Cứ chùa là tĩnh cứ đình là to.


Đừng tưởng già hết hồ đồ
Cứ trẻ là chẳng âu lo buồn phiền
Đừng tưởng cứ quyết là nên
Cứ mạnh là thắng cứ mềm là thua.


Đừng tưởng đã dấm là chua
Sấm rền là sẽ có mưa ngập trời
Đừng tưởng vui chỉ có cười

Buồn thì ủ rũ chỉ ngồi khóc than

Đừng tưởng cứ lớn là khôn
Cứ bé là dại cứ hôn là chồng
Đừng tưởng bịa có thành không
Nhìn gà hóa cuốc lẫn ông với thằng


Lúc vui tham bát bỏ mâm
Đến khi hoạn nạn tần mần bỏ đi
Đừng tưởng không nhất thì nhì
Phò thịnh sung sướng giúp suy nghèo hèn


Gặp trăng thì vội quên đèn
Hám tiền quên nghĩa đỏ đen lạc đường
Đừng tưởng giàu hết cô đơn
Cao sang hết ốm gian tham hết nghèo.

Đừng tưởng cứ núi là cao
Cứ sông là chảy, cứ ao là tù
Đừng tưởng cứ dưới là ngu
Tham giành là được thấy tu tưởng hiền.

Đừng tưởng cứ thấp là hèn
Cứ sang là trọng cứ tiền là xong
Đừng tưởng quan chức là rồng
Dân thường thấp cổ thì không biết gì.

Đời người lúc thịnh lúc suy
Lúc khỏe lúc yếu lúc đi lúc dừng
Đắng cay chua ngọt đã từng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau.


Ở đời nhân nghĩa làm đầu
Thủy chung sau trước tình sâu nghĩa bền
Học làm người việc đầu tiên
Hiếu trung phúc hậu đừng quên nối vần

“Lênh đênh qua cửa Thần Phù
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm”
“Chồng khôn thì được vợ chiều
Vợ ngoan thì được chồng yêu suốt đời”
“Người trồng cây hạnh mà chơi
Ta trồng cây đức để đời mai sau”(*)

(*) Ca dao người Việt cổ

CHÂN CHÍNH
“Chân chính bao nhiêu phúc bấy nhiêu”
(Lời của Ông Bà dạy)

Làm Người chân chính sống vui
Chân là sự thật, chính thời thẳng ngay
Ai ơi nhớ lấy câu này
Tìm lành lánh dữ, cây ngay bóng tròn


Hoàng Kim

TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM

Việt Nam con đường xanh
Ban mai chào ngày mới
Đường xuân đời quên tuổi
Giấc mơ lành yêu thương

https://hoangkimvn.wordpress.com

BAN MAI CHÀO NGÀY MỚI
Hoàng Kim

An vui cụ Trạng Trình
Thung dung đời quên tuổi
Chín điều lành hạnh phúc
Ngày mới bình minh an

Hình ảnh này không có thuộc tính văn bản thay thế; tên tập tin là hoa-binh-minh-nhu-nhien.jpg

Đường trần trung chính hướng ban mai
An tĩnh, thanh tâm, đón nắng trời
Gió mát, thư nhàn, tươi khóm trúc
Đất lành, bình thản, đọng sương mai
Một bầu ngọc bích quang mây ửng
Hai túi càn khôn đức với đời
Vui cụ Trạng Trình nơi đồng rộng
Chọn tìm giống tốt thú riêng chơi.

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ban-mai-chao-ngay-moi

BÀI HỌC LỚN MUÔN ĐỜI (*)
Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim

Thế giới còn đổi thay
Việt Nam con đường xanh
Bài học lớn muôn đời
Đường xuân theo chân Bác

TRƯỜNG HỌC HƯỚNG BAN MAI

Ban mai chào ngày mới
Vui đi dưới mặt trời
Ai bảo chăn trâu là khổ?
Giấc mơ lành yêu thương

Trường học hướng ban mai
Thơ vui những ngày nhàn
Chuyện đồng dao cho em
Cuối dòng sông là biển.

Đường xuân đời quên tuổi
An vui cụ Trạng Trình


Hoàng Kim

Ai bảo chăn trâu là khổ?
CNM365 TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
https://hoangkimlong.wordpress.com

Nắng ban mai ghé cửa
Tỉnh thức hoa bình minh
Vừng đông ấm đêm lạnh
Trời hồng khỏe an nhiên.

Thích chia cùng thiền sư
Giọt sương mai đầu nụ
Bạch Ngọc thích Tánh Tuệ
Trăng rằm thương mẹ hiền

Đồng xuân đón thái dương
Nắng mai tươi trước ngõ
Sao hôm vầng trăng tỏ
Thăm thẳm trời sông thương

VUI TĨNH LẶNG AN NHIÊN

Thu Đông Xuân Hạ tiết trời thay
Nắng sớm mưa mai đã ướt đầy
Dưỡng quý, tồn tinh, thời đổi lá
Tích lành, chọn tốt, vận thay cây
Thuyền nan bình lặng âu trời hiểu
Đường chính an nhiên lẽ người bày
Thung dung cuối dòng sông là biển
Đường xuân đời quên tuổi tầm tay


Hoàng Kim

TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM

Sớm nào cũng dành nửa tiếng,
#Thungdung hòa nhịp thời gian.

Thong thả chỉ thêu nên gấm,
An nhiên việc tốt cứ làm.
Thoáng chốc đường trần nhìn lại,
‘Thanh nhàn vô sụ là tiên‘


Hoàng Kim

QUẢ TỐT BỜI NHÂN LÀNH

Trời xanh tỉnh lặng với thu không
Nhân quả ghi ơn quý vun trồng
Hạnh phúc đủ đầy nhờ tích đức
Hiếu trung trọn vẹn bởi tâm công
Nhìn ai dân mến vì chí thiện
Ngắm kẻ người chê bởi khác lòng
Ban mai ngày mới mừng biết đủ
Tình yêu cuộc sống rạng vừng đông.


Hoàng Kim

KẾT QUẢ

Đất bạc bao ngày vẫn bỏ không
Ta đem hạt quý đến gieo trồng
Chồi non nảy lá tròn tâm nguyện
Lộc biếc vươn cành chẳng uổng công
Ngắm đoá hoa thơm mà mát dạ
Nhìn mâm quả ngọt cũng no lòng
Mai này bóng rợp chim làm tổ
Hạnh phúc dâng tràn lúc rạng đông !


Nguyễn Quế

ĐẤT TRỜI MÙA ĐOÀN VIÊN

Ban mai chào ngày mới
Lộc vừng xòe nõn xanh
Lá vàng ấm gốc biếc
Nắng mới vun đầy cành


Hoàng Kim

A NA TÌM ĐƯỢC NGỌC

A Na bà chúa Ngọc
A Na Bình Minh An
Bình Minh An Ngày Mới
A Na tìm được Ngọc


Bạch Ngọc Hoàng Kim

CHÍN ĐIỀU LÀNH HẠNH PHÚC
Hoàng Kim.

Mặt trời và thiên nhiên
Môi trường sống an lành
Gia đình thầy bạn quý
Minh triết cho mỗi ngày
An nhiên và phúc hậu
Thức ngủ cần hài hòa
Lao động và nghỉ ngơi
Gieo lành thì gặt thiện
Yêu thương trong tầm tay


CHÍN ĐIỀU LÀNH HẠNH PHÚC

1) Cười nhiều Giận ít
2) Vui nhiều Lo ít
3) Làm nhiều Nói ít
4) Đi nhiều Ngồi ít
5) Rau nhiều Thịt ít
6) Chay nhiều Mặn ít
7) Chua nhiều Ngọt ít
8) Tắm nhiều Lười ít
9) Thiện nhiều Tham ít

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là trang-ram-2.jpg

TRĂNG RẰM NGỌC QUAN ÂM

Chẳng thể nào ngủ được đêm nay
Đêm Vu Lan mờ tỏ
Trăng rằm khuya lồng lộng giữa trời
Thăm thẳm một lời Người nói …

Mẹ cũ như ngôi nhà cũ
Chiếc áo mẹ mang bạc phếch tháng năm
Cha cũ như con thuyền cũ
Dòng sông quê hương thao thiết đời con


Anh chị cũ tình vẹn nghĩa
Trọn đời thương nhau lồng lộng trăng rằm
Em tôi hồn quê dáng cũ
Con cháu niềm vui thương thảo tháng năm.


Thầy bạn lộc xuân đầy đặn
Bài ca thời gian ngời ngợi trăng rằm.


Thắp đèn lên đi em
Đêm Vu Lan gặp bạn
Thương nhớ bài thơ cũ
Chuyện đời không nỡ quên …

Ngày mới và đêm Vu Lan
Vầng trăng Sao Hôm Sao Kim thân thiết.
Loanh quanh tìm tòi cái mới
Đêm Vu Lan thức về lại chính mình.

Trăng sáng lung linh, trăng sáng quá!
Đất trời lồng lộng một màu trăng
Dẫu đêm khuya vắng Người quên ngắm
Trăng vẫn là trăng, trăng vẫn rằm.

Hoàng Kim
Bài ca nhịp thời gian Run away with me https://youtu.be/_Bs4XcVufqY

TÍM MỘT TRỜI YÊU THƯƠNG

Hạnh phúc thật giản đơn…
Khi sớm mai thức dậy
Thong thả vào trang mới
Cùng người thân chuyện trò

Thương năm tháng đường xa
Gừng cay và muối mặn
Nhớ giọt nước mắt trong
Sự an nhiên thầm lặng

Chợt thấy lòng bâng khuâng
Thanh thản ngày vui tới
Thung dung chào ngày mới
Tím một trời yêu thương.


Hoàng Kim

LỜI BIẾT ƠN THẦM LẶNG

Có nhiều điều “Biết Không biết”
Nhưng Người Thân ơi chỉ cần “Biết” một điều

SOI SÁNG LẠI CHÍNH MÌNH
CHỈ TÌNH YÊU Ở LẠI

Hoàng Kim

GIẤC MƠ LÀNH YÊU THƯƠNG

nhắm mắt lại đi em
để thấy rõ giấc mơ hạnh phúc
trời thanh thản xanh
đêm nồng nàn thở
ta có nhau trong cuộc đời này
nghe hương tinh khôi đọng mật
quyến rũ em và khát khao anh
mùi ngây ngất đằm sâu nỗi nhớ
một tiếng chuông ngân
thon thả đầu ghềnh

nhắm mắt lại đi em
hạnh phúc đâu chỉ là đích đến
hạnh phúc là con đường trãi nghiệm
vỗ về, chờ đợi, nhớ thương

nhắm mắt lại đi em
trong giấc mơ của anh
có em và rừng thiêng cổ tích
có suối nước trong veo như ngọc
có vườn trúc và ngôi nhà tranh
có một đàn trẻ thơ tung tăng
heo gà chó mèo ngựa trâu
nhởn nhơ trên đồng cỏ
tươi xanh

nhắm mắt lại đi em,
tận hưởng thú an lành.

Nhắm mắt lại đi em
Giấc ngủ ngoan
giấc mơ hạnh phúc
Em mãi bên anh,
Đồng hành với anh
Bài ca yêu thương
Bài ca hạnh phúc
Giấc mơ lành yêu thương

Nhắm mắt lại đi em
Giấc mơ cuộc đời
giấc mơ hạnh phúc
ngôi nhà tâm thức
Giấc mơ lành yêu thương
Có cánh cửa khép hờ
Có bãi cỏ xanh non.
Đất nước cây và hoa
Một khu vườn tĩnh lặng.
Chim sóc chó mèo gà
luôn quấn quýt sớm hôm.
Ban mai ửng
nghe chim trời gọi cửa.
Hoàng hôn buông
trăng gió nhẹ lay màn.
Ta về với ruộng đồng
Vui giấc mơ hạnh phúc
Vui một giấc mơ con
Hoa Lúa Hoa Người Hoa Đất 
Giấc mơ lành yêu thương.


Hoàng Kim

GIẤC MƠ LÀNH YÊU THƯƠNG

Hoàng Thành đến Trúc Lâm
Lời thương cùng tháng năm
Tỉnh thức đêm Song Ngư
Hoa và Ong Hoa Người


Giấc mơ lành yêu thương
Tỉnh lặng với chính mình
Đi bộ trong đêm thiêng
Vui đi dưới mặt trời


Hoa Lúa giữa Đồng Xuân
Hoa Đất thương lời hiền
Hoa Mai và Mùa Xuân
Chỉ tình yêu ở lại


A Na bà chúa Ngọc
Nhà tôi chim làm tổ
Thầy là nắng tháng Ba
Ngôi sao mai chân trời


Hoàng Kim

xem 16 đường dẫn chọn lọc tại Giấc mơ lành yêu thương https://hoangkimlong.wordpress.com/category/giac-mo-lanh-yeu-thuong/

NGÔI SAO MAY MẮN CHÂN TRỜI
Hoàng Kim

Em đọc lại Nhà Giả Kim em nhé
Bài ca thời gian câu chuyện cuộc đời
Một giấc mơ Người đi tìm kho báu
Theo ước mơ mình tới chốn xa xôi …

Bậc tiên tri biết nhìn sâu khát vọng
Khuyến khích em theo mơ ước tuổi hoa
Đi tới cuối con đường hạnh phúc
Hãy là chính mình, ta chính là ta.

Em thấu hiểu có ngôi sao may mắn
Luôn bên em lấp lánh phía chân trời
Nơi bảng lãng thơ tình Hồ núi Cốc
Giấc mơ đưa ta về cổ tích xa xôi  

Lên đường đi em
Bình minh đã rạng
Vui bước tới thảnh thơi
Vui đi dưới mặt trời!


Ta hãy chăm như con ong làm mật
Cuộc đời này là hương hoa.
Ngày mới yêu thương vẫy gọi,
Ngọc cho đời vui khỏe cho ta.

THẦY LÀ NẮNG THÁNG BA
Hoàng Kim

Thầy em là nắng tháng ba
Trời xanh biển rộng đậm đà sắc xuân
Nơi hoa vàng trên cỏ xanh
Biển xanh màu ngọc nắng lam da trời

Thầy là nắng tháng Ba.
Thầy Quyền thâm canh lúa.

Bài viết mới trên CNM365 Tình yêu cuộc sống
DẠY VÀ HỌC https://hoangkimvn.wordpress.com
CNM365 bấm vào đây cập nhật mỗi ngày


Video yêu thích
https://youtu.be/dXApBvgUNBQ

Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365 Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn, Kim on Facebook, hoangkim vietnam; Kim on Twitter

Du lịch sinh thái Việt


DU LỊCH SINH THÁI VIỆT
越南生态旅游 Vietnam ecotourism

Hà Nội mãi trong tim; Quê Mẹ vùng di sản, Ân tình đất phương Nam; Bản Giốc và Ka Long; Giếng Ngọc vườn Tao Đàn (ảnh) là năm chủ đề được nghiên cứu và giảng dạy trong Bài 5 Du lịch sinh thái Việt của Việt Nam học; Việt Nam xã hội học (越南社会学; Vietnamese Sociology) Ngữ văn Việt Trung đối chiếu 学越中文 Tổng quan về Xã hội Kinh tế Văn hóa Việt Nam 越南社会经济和文化概述, Cây Lương thực Việt Nam; Du lịch sinh thái Việt Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim và cộng tác (Tập bài giảng )CNM365; Tình yêu cuộc sống https://hoangkimvn.wordpress.com kết nối Anh Tuan Hoang d͏r͏o͏s͏e͏t͏o͏S͏p͏n͏t͏,͏1͏l͏g͏l͏f͏ ͏á͏4͏2͏0͏a͏4͏i͏h͏m͏1͏0͏ ͏c͏f͏t͏a͏6͏4͏m͏g͏u͏ ͏m͏n͏3͏2͏g͏m͏g͏l͏h͏l͏8͏0͏l͏u͏i͏8͏m͏2͏0͏l͏  ·Điểm đầu Cao Bằng (Km 0) và điểm cuối Cà Mau (Km 2436) của đường Hồ Chí Minh. Về lý thuyết là đã hoàn thành lộ trình

Cao Bằng KM0 (ảnh Hoàng Anh Tuấn)

Cà Mau KM 2436 (ảnh Hoàng Anh Tuấn)

Cao Bằng 16 trăng treo (thơ và ảnh Hoàng Kim)

Cao Bằng 16 trăng treo
Ka Long Bản Giốc Bản Mèo Dá Hai
Còn trời còn nước còn non
Hò khoan Lệ Thủy hòa dòng Đồng Nai

Hoàng Kim Cây Lương Thực

***Hò khoan Lệ Thủy: https://youtu.be/rBVs1Rg9o84?si=JWS9X5Qvs8nqYgbv
**Sông Thiêng lời thơ Nguyễn Đình Chi, xem thêm
* Linh Giang sông quê hương (Hoàng Kim)

Hình ảnh này không có thuộc tính văn bản thay thế; tên tập tin là kimnotes-28-thang-7-cltvn-ana.jpg

Chuyện đời thường lắng đọng lời tri ân thầm lặng

Thơ dâng tặng cho đời
CHỈ TÌNH YÊU Ở LẠI

Cát bụi chuyện trăm năm
Nhớ Mẹ mùa Vu Lan
Đến với bài thơ hay
Chỉ tình yêu ở lại


Vui đi dưới mặt trời
Nhà tôi chim làm tổ
Bài ca nhịp thời gian
An nhiên vui mỗi ngày


Giấc mơ lành yêu thương
Đường xuân theo chân Bác
Đường xuân đời quên tuổi
Thơ dâng tặng cho đời


Trần Nhân Tông Việt Nam
Chuyện đọc lúc ban mai (*)
Hoàng Ngọc Dộ khát vọng, Hoàng Trung Trực đời lính,
#hoangkimlong #cnm365 Tình yêu cuộc sống #nhasachhoanggia
An Viên Phước Hoàng Gia #cltvn #cayluongthuc #TranNhanTongVietNam

Trang Hoàng Kim (Kim Hoàng)
BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN

Trà Sớm Với Lão Nông


Chuyện đời thường lắng đọng lời tri ân thầm lặng
Cảm Ơn Đời Có Phước
Một gia đình yêu thương
Chính Trung Hiếu Thiện Lành
Cuộc đời phúc lưu hương
Trà Sớm Với Lão Nông
Thương ký sự mưa bay
Nhớ vầng trăng ngọn lửa

Qua sông Thương bến nhớ
Đá Đứng chốn sông thiêng
Hoa Đất và Hoa Lúa
An vui cụ Trạng Trình
Ân tình đất phương Nam
Qua sông tới Cát Tiên

Ngày vào đời (năm 1971, Uyên Châu Vũ Viện Lúa (quê Tây Ninh, Nam Việt Nam) viết: Như giấc mơ hoa, thơ UCV trang 31/153): “Một ngày vào cuộc truân chuyên/ Nắm tay bằng hữu nhìn em ta buồn/ Mai xa biết nói gì hơn/ Em như giọt lệ vuông khăn nữa chiều“. Cũng năm ấy Hoàng Kim bằng tuổi UCV (nhưng ở Bắc Việt Nam) , ‘’ngày 02 tháng 9 năm 1971 gia nhập quân đội cùng lứa với Nguyễn Văn Thạc. Đợt tuyển quân sinh viên trong ngày độc lập đã nói lên sự quyết liệt sinh tử và ý nghĩa thiêng liêng của ngày cầm súng. Chiến trường đánh lớn. Đơn vị chúng tôi chỉ huấn luyện rất ngắn rồi vào trận ngay với 81 đại đội vượt sông Thạch Hãn“. Hoàng Kim Thơ Thung Dung bài Qua sông Thương bến nhớ đã ghi nhận skiện ngày lên đường (sau huấn luyên ngắn vào trận ngay). Nay trên 50 năm nhìn lại ký sự : bài Thầy bạn trong đời tôi https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/ & với bài thơ ngày hành quân qua phà sông Thương. Qua sông Thương bến nhớ https://hoangkimlong.wordpress.com/category/qua-song-thuong-ben-nho

Thơ của người ra trận
Chương Xuân ơi bạn hiền
Trung Kim may còn sống
Mình nhớ hoài không quên
‘.

Thắp đèn lên đi em
Thăm thẳm trời sông Thương
Câu cá bên dòng Sêrêpôk

Thượng Đức thương nhìn lại

Lửa đèn vầng trăng soi
Nhớ Mẹ mùa Vu Lan
Nhớ tháng bảy mưa ngâu
Đêm Vu Lan thương chị

Tạ sông núi tổ tiên
Ơn nước nhà vợ hiền

Biết ơn thầy bạn quý
Một gia đình yêu thương”.


Hoàng Kim Cây Lương Thực


TUỔI GIÀ
Bùi Bá Bỗng

Tuổi già nói chuyện dễ thương
Trong như nắng sớm giọt sương cũng hờn
Rượu reo không nhớ nỗi buồn
Ngày mai dậy sớm căng buồm ra khơi

ĐÁ VÀNG
Hoàng KimLong

Đá vàng thương nước giếng thơi
Nhớ người như tượng qua thời bão giông
Chính Trung Hiếu Thiện Minh Lành
Sắn Khoai Ngô Lúa đời dành lương duyên


BIẾT DẠY HỌC THẬT KHÓ
Chính Trung Hiếu Thiện Lành
Lời thương mới là bạc
Im lặng mới là vàng
Tâm trí mới là ngọc


Dạy Và Học Làm Người
Làm Giỏi Rồi Hẵng Nói
Biết Tự Ý Cẩn Thận
Soi sáng lại chính mình.


Đá Vàng Với Ban Mai
An nhiên và Thung dung

BÌNH MINH AN NGÀY MỚI
https://khatkhaoxanh.wordpress.com/category/hoang-gia-an-ngay-moi/

THÁC NƯỚC GIỮA LÒNG NGƯỜI

Ngắm dấu chân thời gian
THÁC NƯỚC GIỮA LÒNG NGƯỜI
Hoàng Kim Thơ Thung Dung
BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN
#KimNotes #cltvn #ana #cnm365 Tìnhyêucuộcsống

NGẮM DẤU CHÂN THỜI GIAN *****

Đất nặng ân tình đất nhớ thương
Ta làm hoa đất của quê hương
Để mai mưa nắng con đi học
Lưu dấu chân trần với nước non

Ngắm dấu chân thời gian
Bài đồng dao huyền thoại
Vui bước tới thảnh thơi
Vui đi dưới mặt trời

Yellow Stones of Hoang Kim
Chim Phượng về làm tổ
ĐÁ VÀNG VỚI BAN MAI
Năng lượng nạp tràn đầy

Một gia đình yêu thương
An nhiên và Thung dung
Chính Trung Hiếu Thiện Lành
Thủy Kim lời ghi nhớ

NHỚ MÁ *****

Trưa nắng nóng Con về nơi cát bụi
Để được quỳ bên Má Má ơi
Má sanh ra Vợ Con người bạn đời yêu dấu
Cho Con ơn trọn đời công Má dạy nuôi


Nguyễn Thị Thủy Hoàng Kim

Chuyện lạ thật hiếm thấy
Chim Phượng vể làm tổ

Quốc Quốc vào phòng ngủ
Ngày 12 tháng 9 âm lịch *

* Ngày 12 tháng 9 âm lịch nhằm ngày 14 tháng 10 dương lịch, là ngày Giỗ Má của Gia Đình tôi, ngày Cụ Bà Hợp Táng về An Viên Thiện Đức Ấp Hưng Long. Hôm qua Chủ Nhật 13 tháng 10 năm 2024. Con cháu các chi Nội Ngoai về thắp hương Nhớ Ông Bà (Hình ảnh Gia đình Nhớ Má thuở xưa ở Hàm Tân trước khi Cụ Ông Cụ Bà Hợp Táng)

THÁC NƯỚC GIỮA LÒNG NGƯỜI

BẢN GIỐC VÀ KA LONG
Hoàng Kim
Lớp 10A TT ĐHNN2 Hà Bắc năm 2022 vừa có chuyến Du lịch sinh thái Việt điểm đến Bản Giốc và Ka Long là nơi tôi nhớ chuyên đời sâu sắc không quên:
Người vịn trời chấp sói

#Annhiên

Đá vàng thương củ sắn khoai
Nhớ bông hoa súng thắp hoài ao sen
Văn chương nết đất, thơ hiền
Lão Nông dạy học vững bền #Thungdung

*

Thầy Trao Gương Bạch Ngọc
Trăng Xuân Soi Đường Trần
Thiên Mệnh Sáng Sử Ký
Hoàng Gia Ngọc Phương Nam

Viên Minh Đêm Sương Giáng
Hạc Vàng Đón Người Thân
Vượt Trăm Năm Viên Mãn
Rằm Trọn Thời Thanh Minh

Thầy Cây Lương Thực Việt
Nghề Giáo Dưỡng Nhân Tâm
Nghiệp Vinh Danh Khoai Sắn
Lúa Ngô Thành Trúc Lâm

Thiền Sư Lão Nông Tăng
Khuyên giờ lành tỉnh thức
Noi theo dấu chân Bụt
#Thungdung#annhiên

#KimNotes 27 tháng 7, 2026


BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN
#KimNotes 27 tháng 7 #cltvn#ana
Chào ngày mới 27 tháng 7 NGÀY NÀY TRONG LỊCH SỬ : Việt Nam ngày thương binh liệt sĩ. Ngày 27 tháng 7 năm 1792, ngày mất Võ Trường Toản, nhà giáo, danh sĩ Việt Nam thời cận đại. Ngày 27 tháng 7 năm 1953, Chiến tranh Triều Tiên kết thúc giao tranh bằng một hiệp định đình chiến ký giữa Hoa Kỳ, Trung Quốc và Bắc Triều Tiên;

Nhớ Tháng Bảy Mưa Ngâu

Nhân dân ta, dân tộc ta, non sông đất nước ta đời đời nhớ ơn những người con trung hiếu đã hiến thân mình cho Tổ Quốc. Tấm ảnh Bác Hồ nghiêm trang, lặng lẽ, tĩnh lặng trong lòng của chúng ta thật nhiều điều. Có những khoảng lặng trời đất thấu lòng người, cả dân tộc ta cùng hướng về Ngày Thương Binh Liệt Sĩ.
TBT CTN Tô Lâm viếng đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, những lời cảm động ‘đậy nắp quan tài đình luận” : “Trọn cuộc đời đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã bền bỉ cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta bằng một tinh thần, ý chí thép, không lùi bước trước những trở ngại, khó khăn; khẳng định một nhân cách lớn, coi “Danh dự là điều thiêng liêng, cao quý nhất”, giữ vững nguyên tắc, sống trọn cuộc đời vì nước, vì dân. Đồng chí thực sự là tấm gương tiêu biểu, mẫu mực về đạo đức cách mạng trong sáng, “chí công vô tư”, lối sống giản dị, phong cách làm việc dân chủ, tận tụy, khoa học, tôn trọng và yêu thương con người…, được cán bộ, đảng viên và nhân dân kính trọng, tín nhiệm cao, tin tưởng và yêu quý, được bạn bè quốc tế trân trọng và đánh giá cao.”
Thành kính tưởng nhớ Người Thật biết ơn vận Nước

#cnm365 Tình yêu cuộc sống TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM: Bài chọn lọc ngày 27 tháng 7: Viếng mộ cha mẹ”; “Em ơi can đảm lên”; “Mẹ”; “Ba nén hương”; “Thư của người ra trận”; “Hoàng Ngọc Dộ khát vọng“; “Hoàng Trung Trực đời lính“; “Quảng Bình đất Mẹ ơn Người“; “Linh Giang sông quê hương“; “Lời thề trên sông Hóa“; “Thắp đèn lên đi em”; “Nhớ tháng bảy mưa ngâu; Cha là nắng của con; Mẹ là mưa lành đất; Nhớ vầng trăng ngọn lửa; Những bài thơ không quên“.

Thân ngã xuống cho đất thiêng Tổ Quốc
Hồn bay lên hòa linh khí Quốc Gia’.
‘Ơn Đất Nước thanh xuân dâng trung hiếu
Tạ Biển Trời trường cửu với quê hương’.
Ngày thương binh liệt sĩ, anh NMĐ điếu em HK lưu


NHỮNG BÀI THƠ KHÔNG QUÊN
Bài thơ “Viếng mộ cha mẹ” của đại tá Hoàng Trung Trực rút trong tập thơ “Dấu chân người lính”. “Em ơi can đảm lên” là thơ thầy Nguyễn Khoa Tịnh; “Hoàng Ngọc Dộ khát vọng” là di cảo thơ anh hai thầy giáo Hoàng Ngọc Dộ, người đã thay cha mẹ mất sớm dìu dắt các em. “Hoàng Trung Trực đời lính” có trường ca ‘Dấu chân người lính’; “Mẹ” là thơ Tô Hoàn, rút trong “Tuyển tập thơ lục bát Việt Nam” tái bản tháng 7 năm 2000, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin ấn hành. “Ba nén hương” là bài thơ của nhà thơ thương binh Hoàng Cát đăng trên báo và trang thơ Nguyễn Trọng Tạo.”Thư của người ra trận” là bài thơ người lính vô danh do anh Lê (Nguyễn?) Trung Xuân đọc năm 1971 và Hoàng Kim chép lại theo trí nhớ. Bốn người bạn Xuân, Chương, Trung, Kim đều cùng là sinh viên đại học nhập ngũ tháng 9 năm 1971. Chúng tôi cùng trong một tổ chiến đầu bốn người. Hai anh Xuân và Chương đều hi sinh năm 1972 tại Quảng Trị và Tây Nguyên, còn Phạm Huy Trung và Hoàng Kim trở về trường cũ sau ngày đất nước thống nhất . Anh Xuân ra đi đã mang theo bí mật của bài “Thư của người ra trận” mà cho đến nay chúng tôi vẫn chưa biết rõ ai là tác giả. “Quảng Bình đất mẹ ơn người”; “Linh Giang sông quê hương”; “Lời thề trên sông Hóa”; “Thắp đèn lên đi em”; “Nhớ tháng bảy mưa ngâu” là thơ Hoàng Kim.

Viengmochame

VIẾNG MỘ CHA MẸ
Hoàng Trung Trực

Dưới lớp đất này là mẹ là cha
Là khởi phát đời con từ bé bỏng
Là lời mẹ ru dịu dàng cánh võng
Là gươm đao cha một thuở đau đời

Hành trang cho con đi bốn phương trời
Là nghĩa khí của cha, là nhân từ của mẹ
Vẫn bầu sữa tinh thần không ngừng không nghỉ
Để hành trang cho con đi tiếp cuộc đời

Cuộc đời con bươn chãi bốn phương trời
Nay về lại nơi cội nguồn sinh trưởng
Dâng nén hương mà lòng hồi tưởng
Thuở thiếu thời dưới lồng cánh mẹ cha

“Ước hẹn anh em một lời nguyền
Thù nhà đâu sá kể truân chiên
Bao giờ đền được ơn trung hiếu
Suối vàng nhắm mắt mới nằm yên”.


Không vì danh lợi đua chen
Công Cha nghĩa Mẹ quyết rèn bản thân

EM ƠI CAN ĐẢM LÊN
Nguyễn Khoa Tịnh

Thầy ước mong em noi gương Quốc Tuấn

Đọc thơ em, tim tôi thắt lại
Lòng nghẹn ngào, nước mắt chảy rưng rưng
Nửa xót xa nhưng nửa lại vui mừng
Xót xa vì đời em còn thơ dại
Mới tuổi thơ mà cuộc đời đầy khổ ải
Mới biết cười đã phải sống mồ côi
Như chiếc thuyền giữa biển tự trôi
Như chiếc lá bay về nơi vô định
“Bụng đói” viết ra thơ em vịnh:

“Cơm ngày một bữa sắn trộn khoai
Có biết lòng ta bấy hỡi ai?
Vơi vơi lòng dạ, cồn cào bụng
Kể chi no đói, mặc ngày dài”

Phải!
Kể chi no đói mặc ngày dài
Rất tự hào là thơ em sung sức
Rất tự hào là em tôi đầy nghị lực
Đã hiển lộ mình qua “Cái chảo rang”

“Trung dũng ai bằng cái chảo rang
Lửa to mới biết sáp hay vàng
Xào nấu chiên kho đều vẹn cả
Chua cay mặn ngọt giữ an toàn
Ném tung chẳng vỡ như nồi đất
Quăng bừa xó bếp vẫn nằm ngang
Tốt đẹp đâu cần danh tiếng hão
Bạn cùng lửa đỏ, nóng chang chang”

Phải!
Lửa to mới biết sáp hay vàng!
Em hãy là vàng,
Mặc ai chọn sáp!
Tôi vui sướng cùng em
Yêu giấc “Ngủ đồng”
Hiên ngang khí phách:

“Sách truyền sướng nhất chức Quận công
Ta sướng khi ra ngủ giữa đồng
Lồng lộng trời hè muôn làn gió
Đêm thanh sao sang mát thu không
Nằm ngữa ung dung như khanh tướng
Lấy mấy vần thơ tỏ nỗi lòng
Tinh tú bao quanh hồn thời đại
Ngủ đồng khoan khoái ngắm gương trong”

Tôi biết chí em khi “Qua đèo Ngang”
Ung dung xướng họa với người anh hùng
Đã làm quân thù khiếp sợ:

“Ta đi qua đèo Ngang
Cũng gặp Người trèo qua núi hiểm
Đỉnh dốc chênh vênh
Xe mù bụi cuốn
Có lẽ thiên nhiên đã định bao giờ
Một dãy Hoành Sơn bát ngát trận đồ
Điệp điệp núi cao
Trùng trùng rừng thẳm.
Người thấy
Súng gác trời xanh
Gió lùa biển lớn
Nông dân rộn rịp đường vui
Thanh Quan nàng nhẽ có hay
Cảnh mới đã thay cảnh cũ.
Ta hay
Máu chồng đất đỏ
Mây cuốn dặm khơi
Nhân công giọt giọt mồ hôi
Hưng Đạo thầy ơi có biết
Người nay nối chí người xưa

Tới đây
Nước biếc non xanh
Biển rộng gió đùa khuấy nước
Đi nữa
Đèo sâu vực thẳm
Núi cao mây giỡn chọc trời

Nhớ thù nhà, luống thẹn làm trai
Thương dân nước, thà sinh phận gái
“Hoành Sơn cổ lũy”
Hỏi đâu dấu tích phân tranh?
Chỉ thấy non sông
Lốc cuốn, bốn phương sấm động.

Người vì việc nước ra đi
Ta muốn cứu dân nên thăm trận thế
Điều không hẹn mà xui gặp mặt
Vô danh lại gặp hữu danh
Cuộc đời dài ắt còn sẽ gặp nhau
Nay hội ngộ giữa đỉnh cao trời đất
Anh em ta ngự trên xe đạp
Còn Người thì lại đáp com măng
Đường xuyên sơn
Anh hùng gặp anh hùng
Nhìn sóng biển Đông
Như ao trời dưới núi.

Xin kính chào
Bậc anh hùng tiền bối
Ta ngưỡng mộ Người
Và tỏ chí với non sông
Mẹ hiền ơi!
Tổ Quốc ơi!
Xin tiếp bước anh hùng!”

Hãy cố lên em!
Noi gương danh nhân mà lập chí
Ta với em
Mình hãy kết thành đôi tri kỷ!
Đất Quảng Trạch này đâu kém Nam Dương
Tôi tự hào bài “Tỏ chí” của em:

“Quốc Tuấn ngày xưa chí vững bền
Thù nhà, nợ nước chẳng hề quên
Đến bữa quên ăn, đêm quên ngủ
Thương dân, yêu nước quyết báo đền
Văn hay thu phục muôn người Việt
Võ giỏi kinh hồn lũ tướng Nguyên
Mươi năm sau nữa ơi ông Tuấn
Nối chí ông, nay cháu tiến lên!”

Tôi thương mến em
Đã chịu khó luyện rèn
Biết HỌC LÀM NGƯỜI !
Học làm con hiếu thảo.
Mười lăm tuổi đã “Tập làm thầy giáo”

“Vui gì hơn buổi đầu làm thầy giáo
Của lớp vở lòng đất mẹ yêu thương
Trưa nắng luyến các em cùng đến lớp
Giọng líu lo như chim hót ven đường.

Đứng trước các em tuổi nhỏ đáng yêu
Mà đã tưởng tới bao nhiêu người lớn
Nghe em đọc giọng thanh thanh dễ mến
Mà đã nghe đất nước xuyến xao mình!”

Tổ Quốc đang chờ em phía trước.
Em ơi em, can đảm bước chân lên!

(*) “Bụng đói”, “Cái chảo rang”, “Ngủ đồng”, “Qua đèo Ngang”, “Tỏ chí”, “Tập làm thầy giáo” là những bài thơ Hoàng Kim được thầy Nguyễn Khoa Tịnh trích dẫn in nghiêng trong bài thơ này.

MẸ
Tô Hoàn

Con về thăm mẹ chiều mưa
Mới hay nhà dột gió lùa bốn bên
Hạt mưa sợi thắng sợi xiên
Cứ nhằm vào mẹ những đêm trắng trời
Con đi đánh giặc một đời
Mà không che nổi một nơi mẹ nằm!

BA NÉN HƯƠNG
Hoàng Cát

Nén hương này con thắp giỗ mẹ
Bom ập đến mẹ về cõi thế

Nén hương này anh thắp giỗ em
Ở lại miền Nam không có mộ để anh tìm

Nén hương này tôi thắp giỗ thân tôi
Chiến tranh cướp đi hai chục năm rồi

Ba nén hương một mình tôi làm giỗ
Giỗ chính mình, giỗ mẹ, giỗ em tôi !

THƯ CỦA NGƯỜI RA TRẬN
(Bài thơ chưa rõ tác giả)

Anh viết cho em lá thư dài tâm sự
Trời Lục Nam đêm này khó ngủ
Cũng mơ màng như nét bút anh biên.

Ở quê hương giờ chắc đã lên đèn
Sau vất vả một ngày lao động
Đêm nay nhé cùng anh em hãy sống
Những ngày đầu thơ ấu của tình yêu.

Nhớ lắm em ơi những sớm những chiều
Ta sánh bước dưới trời cao trong vắt
Anh nắm tay em, em cười trong mắt
Trăng thẹn thùng lẫn vội bóng mây trôi

….
Rồi từ đó bao đêm thao thức bồi hồi
Anh mơ được cùng em xây tổ ấm
No đói có nhau ngọt bùi khoai sắn
Một căn nhà đàn con nhỏ líu lô

Tấm lòng em là cả một bài thơ
Anh muốn viết như một người thi sĩ
Ruộng lúa nương khoai tấm lòng tri kỷ
Có bóng em đi thêm đẹp cả đất trời.

Nhưng em ơi khi ta bước vào đời
Đâu chỉ có bướm có hoa có trời có đất
Đâu chỉ có mơ màng những đêm trăng mật
Mà đất trời đã nổi phong ba

Tạm biệt em, anh bước đi xa
Khi thửa ruộng luống cày còn dang dỡ
Khi mầm non tình ta vừa mới nhú
Khi căn nhà còn tạm mái tranh.

Quê hương ơi xóm nhỏ hiền lành
Có biết chăng người yêu ta ở đó
Một nắng hai sương giải dầu mưa gió
Mắt mỏi mòn ai đó ngóng trông nhau.

Anh đi biển rộng sông sâu
Con thuyền nhỏ vẫn mong ngày cập bến
Đò có đông em ơi đừng xao xuyến
Nắng mưa này đâu chỉ có đôi ta.

Anh đi bão táp mưa sa
Chỉ thương em một cánh hoa giữa trời
Đời là thế đó em ơi
Buồn thương xa cách chia phôi là thường.

Anh gửi cho em lời nhắn lên đường
Bức thư của người ra trận
Dù mai sau trong niềm vui chiến thắng
Anh chưa về nhưng đã có thư anh …

BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN
#KimNotes 26 tháng 7 #cltvn#ana
Chào ngày mới 26 tháng 7 NGÀY NÀY TRONG LỊCH SỬ : Ngày 26 tháng 7 năm 2024, ngày quốc tang ông Nguyễn Phú Trọng, là lãnh tụ kiệt xuất của nhân dân Việt Nam, từ trần ngày 19 tháng 7 năm 2024 (nhằm ngày 16/6/2024 Âm lịch, ngày Bính Tuất, tháng Tân Mùi, năm Giáp Thìn), Ngày 26 tháng 7 năm 1294, ngày mất Trần Quang Khải (sinh năm 1241), Tể tướng đời Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông và Trần Anh Tông, coi cả mọi việc trong nước. Ngày 26 tháng 7 năm 1956 kênh đào Suez ở Ai Cập quốc hữu hóa bởi Tổng thống Ai Cập Gamal Abdel Nasser, dẫn đến một cuộc khủng hoảng ngay sau đó vì tầm quan trọng đặc biệt của kênh đào này. Ngày 26 tháng 7 năm 1953, ngày “Phong trào 26 tháng 7“ cách mạng Cu Ba do Fidel Castro bắt đầu nổi dậy, chống lại chế độ Fulgencio Batista và hình thành Cu Ba ngày nay.
TBT CTN Tô Lâm viếng đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, những lời cảm động ‘đậy nắp quan tài đình luận” : “Trọn cuộc đời đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã bền bỉ cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta bằng một tinh thần, ý chí thép, không lùi bước trước những trở ngại, khó khăn; khẳng định một nhân cách lớn, coi “Danh dự là điều thiêng liêng, cao quý nhất”, giữ vững nguyên tắc, sống trọn cuộc đời vì nước, vì dân. Đồng chí thực sự là tấm gương tiêu biểu, mẫu mực về đạo đức cách mạng trong sáng, “chí công vô tư”, lối sống giản dị, phong cách làm việc dân chủ, tận tụy, khoa học, tôn trọng và yêu thương con người…, được cán bộ, đảng viên và nhân dân kính trọng, tín nhiệm cao, tin tưởng và yêu quý, được bạn bè quốc tế trân trọng và đánh giá cao.”

#cnm365 Tình yêu cuộc sống TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM Bài chọn lọc ngày 26 tháng 7: Đến với Tây Nguyên mới ; Việt Bắc nhớ Bác Hồ; Đường xuân theo chân Bác; Đồng xuân lưu dấu hiền; Nhớ bạn nhớ châu Phi; Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung; Tiết Chế đức dụng nhân; Minh triết Hồ Chí Minh; Bài thơ Viên đá Thời gian; Trần Quang Khải thơ thần; Nhà Trần trong sử Việt; Về với vùng văn hóa; Sơn Tùng chuyện Bác Hồ; Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung; Việt Nam dư địa chí Nhớ bạn nhớ châu Phi; Nhớ vầng trăng ngọn lửa; Nếp nhà đẹp văn hóa; Thông tin tại https://hoangkimvn.wordpress.comhttp://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-26-thang

Thành kính tưởng nhớ Người Thật biết ơn vận Nước Xem video Lễ Viếng Đồng chí Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng 26 7 2024 https://youtu.be/nRwaXJj0mHk TRỰC TIẾP: LỄ TRUY ĐIỆU VÀ AN TÁNG TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG | VTV24 Share https://youtu.be/vybd2Va02SA

Chú thích ảnh
Đồng chí Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước, Trưởng Ban Lễ tang đọc Lời điếu. Ảnh: TTXVN

Thông tấn xã Việt Nam xin trân trọng giới thiệu toàn văn Lời điếu:

Thưa đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và các bạn bè quốc tế!

Thưa gia quyến đồng chí Nguyễn Phú Trọng!

Hôm nay, trong niềm xúc động và tiếc thương vô hạn, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng đồng bào, chiến sĩ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài, bạn bè quốc tế và gia đình long trọng tổ chức lễ truy điệu và tiễn đưa đồng chí Nguyễn Phú Trọng – Nhà lãnh đạo đặc biệt xuất sắc, một tấm gương sáng ngời về học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, người đảng viên cộng sản kiên trung, có uy tín lớn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, hiện thân đầy đủ phẩm chất, tài năng, bản lĩnh, trí tuệ của thế hệ lãnh đạo Việt Nam thời kỳ đổi mới về nơi an nghỉ cuối cùng.

Đồng chí mất đi là tổn thất to lớn, không thể bù đắp của Đảng ta, Dân tộc ta, nhân dân ta. Đất nước ta mất đi nhà lãnh đạo tài năng; phong trào cộng sản, tiến bộ thế giới mất đi nhà lý luận sắc bén; bạn bè quốc tế mất đi người bạn chân thành, người đồng chí thân thiết; gia đình, dòng tộc, quê hương Đông Hội mất đi người con ưu tú.

Gần 60 năm hoạt động cách mạng phong phú, bền bỉ, Giáo sư, Tiến sĩ, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với trí tuệ uyên bác, sắc sảo đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hệ thống tư tưởng và lý luận quý giá về con đường cách mạng Việt Nam trong thời đại mới. Kiên định, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nhà tư tưởng Nguyễn Phú Trọng, ngọn cờ lý luận của Đảng đã làm sáng tỏ lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, về vai trò của Đảng Cộng sản, về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa… Di sản vô giá đó đã củng cố niềm tin mãnh liệt về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đóng góp quan trọng cho sự phát triển của phong trào cộng sản trên thế giới, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại hiện nay.

Với tầm nhìn chiến lược về tình hình quốc tế trong thế giới đương đại, với những nỗ lực không ngừng góp phần duy trì, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới, Đồng chí mở ra chương mới trong quan hệ giữa nước ta với đối tác quốc tế, thúc đẩy tình hữu nghị giữa Việt Nam với các quốc gia, tăng cường sự đóng góp của Việt Nam bằng nhiều cam kết, hành động thiết thực, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đưa đất nước ta tiến lên mạnh mẽ.

Mãnh liệt truyền cảm hứng, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta bằng trí tuệ, tinh thần nhân văn, nhân ái cao cả, bằng ý chí, quyết tâm mạnh mẽ, bằng nhân cách và danh dự người chiến sĩ cộng sản hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, với tâm niệm “Danh dự là điều thiêng liêng cao quý nhất”, Nhà lãnh đạo kiên trung Nguyễn Phú Trọng đã không ngừng xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, lãnh đạo đất nước ta, dân tộc ta thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị chiếm vị trí đặc biệt quan trọng đối với đồng chí Nguyễn Phú Trọng. Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, đồng chí Nguyễn Phú Trọng đã đi sâu làm rõ về bản chất của Đảng, về xây dựng Đảng cầm quyền từ thực tiễn đổi mới ở Việt Nam. Từ đó, Đồng chí đã cùng Ban Chấp hành Trung ương hoạch định và lãnh đạo thực hiện thắng lợi các chủ trương chiến lược về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; kiên quyết, kiên trì chống chủ nghĩa cá nhân, chống sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, chống tham nhũng, tiêu cực trong Đảng. Đây là cuộc chiến chống “giặc nội xâm” vô cùng gian nan vất vả làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, khẳng định vai trò tiên phong, bản lĩnh, trí tuệ, để Đảng ta thực sự “là đạo đức, là văn minh”.

Dưới sự lãnh đạo của Đồng chí, lần đầu tiên Đảng ta ban hành Nghị quyết chuyên đề về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Trên cương vị Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Đồng chí luôn trăn trở, đau đáu với vấn đề xây dựng cơ quan lập pháp thực sự là cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân, thực sự dân chủ và đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, khả thi, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện và phát triển mạnh mẽ đất nước.

Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, ý thức sâu sắc vị trí, vai trò quan trọng của văn hóa “Văn hóa là hồn cốt của dân tộc”, “Văn hóa còn thì Dân tộc còn”, Nhà văn hóa lớn Nguyễn Phú Trọng đã dành nhiều tâm huyết và có cống hiến đặc biệt quan trọng về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bàn sắc dân tộc, thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh, động lực quan trọng để phát triển đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đồng chí, sau hơn 70 năm Đảng ta đã tổ chức Hội nghị toàn quốc về văn hóa – mốc son gắn kết tư tưởng và hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, phát huy mạnh mẽ vai trò của văn hóa, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Với nhãn quan chính trị sâu sắc, nhạy bén, Đồng chí đã nâng tầm tư duy chiến lược, tạo bước phát triển mới cho nền quốc phòng, an ninh và đối ngoại Việt Nam. Đó là tư tưởng về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy; luôn chú trọng xây dựng thế trận lòng dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng tinh, gọn, mạnh, thật sự trong sạch, vững mạnh; Quân đội, Công an đoàn kết gắn bó như “hai cánh của một con chim”, như “thanh kiếm và lá chắn”, chung sức, đồng lòng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, giữ gìn hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; phát huy vai trò tiên phong của nền ngoại giao toàn diện, hình thành và lãnh đạo thực hiện hiệu quả nghệ thuật ngoại giao thời đại mới mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam” trên cơ sở cốt cách con người Việt Nam “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, “hòa hiếu”, “lấy chí nhân thay cường bạo”. Dưới sự dẫn dắt của Đồng chí, Việt Nam trở thành đối tác tin cậy, thành viên tích cực và có trách nhiệm trên trường quốc tế; không ngừng hội nhập sâu rộng, toàn diện vào nền chính trị quốc tế, nền kinh tế thế giới và nền văn minh nhân loại.

Xuyên suốt trong tư tưởng của đồng chí Nguyễn Phú Trọng là nhân dân, là con người, là hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa và không ngừng củng cố đoàn kết thống nhất, trước hết là đoàn kết thống nhất trong Đảng, đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế trong sáng. Đồng chí luôn quyết tâm hoạch định và tổ chức thực hiện thắng lợi mọi chủ trương, chính sách hợp lòng dân; kiên định lập trường, quan điểm và thực hành “dân là gốc”, “nhân dân là chủ thể, trung tâm của công cuộc đổi mới”. Nhà cộng sản chân chính, chí tình, chí nghĩa luôn tâm niệm và yêu cầu toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị “phải có trách nhiệm cao nhất với dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân”, “liên hệ chặt chẽ với nhân dân là quy luật tồn tại, phát triển và hoạt động của Đảng, là nhân tố quyết định tạo ra sức mạnh của Đảng”.

Trọn cuộc đời đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã bền bỉ cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta bằng một tinh thần, ý chí thép, không lùi bước trước những trở ngại, khó khăn; mang hết tinh thần trách nhiệm, nhiệt huyết cách mạng, làm việc đến hơi thở cuối cùng, tận tâm, tận lực, tận hiến cho Đảng, cho nước, cho dân; khẳng định một nhân cách lớn, sống trọn cuộc đời vì nước, vì Đảng, vì dân. Đồng chí thực sự là tấm gương tiêu biểu, mẫu mực, sáng ngời về bản lĩnh, đạo đức cách mạng trong sáng, “chí công vô tư”, lối sống giản dị, liêm khiết, chân thành, phong cách làm việc dân chủ, tận tụy, khoa học, sâu sát, quyết liệt, nhất quán giữa nói và làm, tôn trọng và yêu thương con người, rất đỗi gần gũi với nhân dân; thật sự là hạt nhân quy tụ đoàn kết, thống nhất trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, được cán bộ, đảng viên và nhân dân, đồng bào ta ở nước ngoài kính trọng, tin tưởng và tự hào, được bạn bè quốc tế trân trọng, đánh giá cao.

Chúng ta thành kính, tôn vinh và biết ơn sâu sắc công lao, cống hiến vô cùng to lớn của đồng chí Nguyễn Phú Trọng đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Ghi nhận những công lao, cống hiến đặc biệt xuất sắc của Đồng chí, Đảng, Nhà nước đã trân trọng trao tặng Huân chương Sao vàng, phần thưởng cao quý nhất; nhưng hơn hết, Đồng chí mãi mãi thuộc về Tổ quốc và nhân dân.

Kính thưa anh linh đồng chí Nguyễn Phú Trọng!

Hôm nay, chúng tôi có mặt tại đây, cùng đồng bào, chiến sỹ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài, bạn bè quốc tế vô cùng thương tiếc tiễn đưa Đồng chí về cõi vĩnh hằng, về với lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam văn hiến và anh hùng. Đồng chí ra đi nhưng tên tuổi và sự nghiệp, công lao và cống hiến, tài năng và đức độ của Đồng chí sẽ còn sáng mãi trong lịch sử vẻ vang của Đảng ta, dân tộc ta, trong sự tri ân của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, trong tình cảm của bạn bè quốc tế.

Vĩnh biệt Đồng chí, nhà lãnh đạo kết tinh phẩm giá, nhân cách của Đảng, hiện thân của hòa bình, thống nhất và tiến bộ; toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nguyện một lòng thực hiện ước nguyện của Đồng chí, khắc cốt ghi tâm lời căn dặn “Nếu là người, hãy là người Cộng sản”, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, kiên định con đường mà Đảng, Bác Hồ và các thế hệ đi trước, trong đó có Đồng chí đã lựa chọn; đoàn kết, thống nhất, chung sức, đồng lòng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, xây dựng Đảng ta và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện, nhân dân ta có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, góp phần xây dựng một thế giới tiến bộ, văn minh và đạo đức. Di sản của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ sống mãi trong lịch sử Việt Nam, sẽ được kế thừa và phát huy hơn nữa trong công cuộc đổi mới; thực hiện thành công mục tiêu xây dựng nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ, giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc mà Đồng chí trọn đời ấp ủ, phấn đấu hy sinh.

Trong niềm tiếc thương vô hạn, chúng ta thành tâm gửi đến gia quyến đồng chí Nguyễn Phú Trọng lời chia buồn sâu sắc nhất trước nỗi đau thương mất mát không gì bù đắp được.

Xin kính cẩn nghiêng mình vĩnh biệt Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng kính mến – Nhà lãnh đạo đặc biệt xuất sắc của chúng ta.

TTXVN/Báo Tin tức

BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN
#KimNotes 25 tháng 7 #cltvn#ana
Chào ngày mới 25 tháng 7 NGÀY NÀY TRONG LỊCH SỬ Ngày 25 tháng 7 năm 2024, ngày quốc tang ông Nguyễn Phú Trọng, là lãnh tụ kiệt xuất của nhân dân Việt Nam, từ trần ngày 19 tháng 7 năm 2024 (nhằm ngày 16/6/2024 Âm lịch, ngày Bính Tuất, tháng Tân Mùi, năm Giáp Thìn) Ngày 24 và 25 tháng 7 năm 1783 là ngày sinh của Simón Bolívar, người công đầu giành độc lập cho sáu nước Venezuela, Colombia, Panama, Ecuador, Peru, Bolivia thoát khỏi ách thực dân Tây Ban Nha  (ông chết năm 1830), . Ngày Cộng hòa tại Tunisia; ngày Hiến pháp Thịnh vượng chung tại Puerto Rico. Ngày 25 tháng 7 năm 918, ngày khai quốc Cao Ly tại bán đảo Triều Tiên bởi Cao Ly Thái Tổ Vương Kiến (877-943). Ông là vị vua khai quốc Cao Ly tại bán đảo Triều Tiên.

TBT CTN Tô Lâm viếng đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Trọn cuộc đời đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã bền bỉ cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta bằng một tinh thần, ý chí thép, không lùi bước trước những trở ngại, khó khăn; khẳng định một nhân cách lớn, coi “Danh dự là điều thiêng liêng, cao quý nhất”, giữ vững nguyên tắc, sống trọn cuộc đời vì nước, vì dân. Đồng chí thực sự là tấm gương tiêu biểu, mẫu mực về đạo đức cách mạng trong sáng, “chí công vô tư”, lối sống giản dị, phong cách làm việc dân chủ, tận tụy, khoa học, tôn trọng và yêu thương con người…, được cán bộ, đảng viên và nhân dân kính trọng, tín nhiệm cao, tin tưởng và yêu quý, được bạn bè quốc tế trân trọng và đánh giá cao.”Thành kính tưởng nhớ Người Thật biết ơn vận Nước

#cnm365 Tình yêu cuộc sống TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM Bài chọn lọc ngày 25 tháng 7: Đến với Tây Nguyên mới ; Việt Bắc nhớ Bác Hồ; Đường xuân theo chân Bác; Đồng xuân lưu dấu hiền; Nhớ bạn nhớ châu Phi; Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung; Tiết Chế đức dụng nhân; Minh triết Hồ Chí Minh; Bài thơ Viên đá Thời gian; Nhớ thầy Tôn Thất Trình; Lê Quý Đôn tinh hoa; Nếp nhà đẹp văn hóa; Ngọc lục bảo Paulo Coelho; Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung; Nguyễn Trãi Dục Thúy Sơn; Nguyễn Trãi kiệt tác thơ văn; Bình Minh An Ngày Mới; Vui đi dưới mặt trời; Nhớ Người; Đào Duy Từ còn mãi; Châu Mỹ chuyện không quên; Machu Picchu di sản thế giới; Thông tin tại https://hoangkimvn.wordpress.com/http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlong; https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-25-thang-7; và https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-25-thang-7;

BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN
#KimNotes 24 tháng 7 #cltvn#ana
Chào ngày mới 24 tháng 7 NGÀY NÀY TRONG LỊCH SỬ Ngày 24 tháng 7 năm 1783 là ngày sinh của Simón Bolívar, người công đầu giành độc lập cho sáu nước Venezuela, Colombia, Panama, Ecuador, Peru, Bolivia thoát khỏi ách thực dân Tây Ban Nha  (ông chết năm 1830). Ngày 14 tháng 7 năm 1911 vùng Machu Picchu ở Peru di sản  thế giới UNESCO “thành phố bị lãng quên của người Inca“ đã được nhà thám hiểm người Mỹ Hiram Bingham III  tái khám phá. Ngày 14 tháng 7 năm 1968, 10 nữ thanh niên xung phong đã bị bom Mỹ vùi ở Ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh) sự kiện nổi bật hay nhắc tới trong chiến tranh Việt Nam 

#cnm365 Tình yêu cuộc sống TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM Bài chọn lọc ngày 24 tháng 7: Đến với Tây Nguyên mới ; Việt Bắc nhớ Bác Hồ; Đường xuân theo chân Bác; Đồng xuân lưu dấu hiền; Nhớ bạn nhớ châu Phi; Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung; Tiết Chế đức dụng nhân; Minh triết Hồ Chí Minh; Bài thơ Viên đá Thời gian; Thái Tông và Hưng Đạo; Nhà Trần trong sử Việt; Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung; Bài ca nhịp thời gian; Bình Minh An Ngày Mới; Vui đi dưới mặt trời; Đêm nay là Trăng rằm; Đồng xuân lưu dấu hiền; Đào Duy Từ còn mãi; Châu Mỹ chuyện không quên; Machu Picchu di sản thế giới; Ngọc lục bảo Paulo Coelho; Thông tin tại https://hoangkimvn.wordpress.com/http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-24-thang-7/; và https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-24-thang-7/;
Kim Hoàng

 Ngọc Ngà suối Lê Nin đẹp lắm
Đường xuân vui khỏe dấu chân son
Vợ chồng mãn nguyện du Đăk Lăk
Giỏi phước Ninh Bình đất thái an

Hoàng Kim tặng thơ vui https://hoangkimlong.wordpress.com/2026/07/23/lop-10a-tt-dhnn2-ha-bac/
NgocNga Nguyen @ Kim Hoàng E cám ơn a Hoàng Kim đa tài gợi nhớ kn đợt lớp mình đi Tây bắc, còn tặng vc em thơ tuyệt hay và ý nghĩa. E kính chúc người thày, nhà khoa học, nhà văn, nhà thơ cùng gđ anh vui khỏe và hạnh phúc.

Kim Hoàng @ NgocNga Nguyen vợ chồng em bảo trọng sức khỏe. AN NHIÊN VUI MỖI NGÀY 1. Có lương hưu hàng tháng dù không nhiều nhưng đủ sống. 2. Không có bệnh nặng, cuộc sống ung dung tự tại. 3. Chân tay còn linh hoạt, chưa phải chống gậy, là nghìn vàng khó mua. 4. Bộ tiêu hóa tốt, không kén ăn, không kiêng cữ, ăn gì cũng được. 5. Ngủ tốt, mỗi ngày ngủ được 5-6 giờ, tinh thần sẽ luôn sảng khoái. 6. Thị lực, thính lực còn tốt, không ảnh hưởng tới đọc, nhìn và giao lưu hàng ngày. 7. Đầu óc tỉnh táo, tư duy mạch lạc, nói chuyện logic. 8. Tâm thái cân bằng, lạc quan yêu đời không dễ bị kích động. 9. Có nhà ở riêng dù không lớn. 10. Còn bạn đời sống cùng, không cô đơn. 11. Hoà hợp với đại gia đình, con cháu. 12. Con cái sống tự lập. 13. Thung dung và an nhiên ///Người nếu đạt được 8 điều thì cuộc sống RẤT HẠNH PHÚC; nếu đạt 10 điều thì cuộc sống ĐẠI VIÊN MÃN; nếu đạt 12 -13 điều thì cuộc sống chẳng kém gì THẦN TIÊN. Vợ chồng em ĐẠI VIÊN MÃN hay THẦN TIÊN ? Hihi…😍😁😀https://www.facebook.com/reel/1359925032161829

xem Thế giới trong mắt ai: BATTLECRY – LỊCH SỬ THẾ GIỚI VN MỸ BỊ “ĐÂM SAU LƯNG” ĐAU ĐỚN: MÀN LẬT MẶT HOÀN HẢO CỦA BRAZIL – BẮT TAY PUTIN ĐỂ ĐÁNH SẬP ĐỒNG ĐÔ LA https://youtu.be/5HUsY7gBQMY?si=T6hU2iprSbWGUL-g
Ukraine War: Outcome decided after 5 days of protests; Russia announces victory in Konstantinovka I Báo Hà Tĩnh https://youtu.be/t-vCAkLF3Pw?si=IsmWADz_GZYbF_iq: Tình Báo, Phòng Không Nato Thua Thảm: Lý Do Tên Lửa Nga Dội Như Mưa || Bàn Cờ Quân Sự https://youtu.be/SWDXYO5IZ1I?si=VFwf7TPes9KCOLpL https://youtu.be/SWDXYO5IZ1I?si=VFwf7TPes9KCOLpL https://youtu.be/SWDXYO5IZ1I?si=VFwf7TPes9KCOLpL Bài viết chuẩn A của Phan Chi

BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN
#KimNotes23 7 #cltvn#ana
Chào ngày mới 23 tháng 7TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM. Kim tự tháp Ai Cập Khu lăng mộ Giza là một trong bảy kỳ quan thế giới cổ đại có niên đại sớm nhất và kỳ quan duy nhất còn tồn tại, ở cao nguyên Giza gần sông Nin cách trung tâm thành phố Cairo thủ đô Ai Cập khoảng 20 km về phía tây nam (hình). Ngày 23 tháng 7 là Quốc khánh  Ai Cập ngày cách mạng năm 1952. Ngày 23 tháng 7 bắt đầu tiết Đại thử (nóng oi) tại Đông Á . Ngày 23 tháng 7 năm 1921 Đảng Cộng sản Trung Quốc khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất (*) trong địa phận tô giới Pháp tại Thượng Hải, Tổng Bí thư đương nhiệm của Đảng Cộng sản Trung Quốc ngày nay là ông Tập Cận Bình. Ông đồng thời giữ chức vụ Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốckhóa 18-21 từ 11/2012 -nay.

#cnm365 Tình yêu cuộc sốngTỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM Bài chọn lọc ngày 23 tháng 7: 1) Nhớ vầng trăng ngọn lửa; 2) Thung dung vườn cổ tích;3) Cát bụi chuyện trăm năm;4) Mười vui và mười thương; 5) Lớp 10A TT ĐHNN2 Hà Bắc; Đến với Tây Nguyên mới ; Việt Bắc nhớ Bác Hồ; Đường xuân theo chân Bác; Đồng xuân lưu dấu hiền; Nhớ bạn nhớ châu Phi; Nguyễn Trọng Tạo đồng dao; Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung; Tiết Chế đức dụng nhân; Minh triết Hồ Chí Minh; Bài thơ Viên đá Thời gian; Borlaug và Hemingway; Bình sinh Mao Trạch Đông; Bình sinh Tập Cận Bình; Thông tin tại https://hoangkimvn.wordpress.com/http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-23-thang-7/;https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-23-thang-7/;

CHA LÀ NẮNG CỦA CON
#KimNotes #cltvn #ana 23 tháng 7
#cnm365 Tìnhyêucuộcsống


Cha là nắng của con
Mẹ là mưa lành đất

Thương ký sự mưa bay
Nhớ vầng trăng ngọn lửa
Hoàng Kim Thủy Thung Dung

MINH TRIẾT SỐNG PHÚC HẬU
Bản chất cuộc sống là hạnh phúc và đau khổ, vui vẻ và phiền muộn, sự thiếu hoàn thiện và vô thường. Minh triết của đời người hạnh phúc là biết sống thung dung, phúc hậu, thanh thản, an nhiên tự tại, nhận ra kho báu vô giá của chính mình, không lo âu, không phiền muộn, sống với tinh thần dịu hiền và trái tim nhẹ nhõm.

Thương Ký Sự Mưa Bay
CHA LÀ NẮNG CỦA CON

Tôi lưu các bài về Cha cho chính mình, cho vợ con và người thân. Đó là những trang viết sâu thẳm. Cha là nắng của con. Lời Cha dặn Cụ ơi. Mẹ là mưa lành đất, là ba ký ức tuổi thơ không thể nào quên về Mẹ Cha đối với tôi. Trong bài “Thầy bạn là lộc xuân ” tôi đã có kể một ít ký ức về tuổi thơ:Quê tôi ở miền Trung nghèo khó “Nhà mình gần ngã ba sông/ Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình,/ Linh Giang (7) sông núi hữu tình / Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con/ Chèo thuyền cho khuất bến Son/ Để con khỏi chộ (thấy) nước non thêm buồn/ Câu thơ quặn thắt đời con/ Mẹ cha mất sớm, con còn trẻ thơ ”. Mẹ tôi mất sớm, cha bị bom Mỹ giết hại, tôi và chị gái đã được anh Hoàng Ngọc Dộ nuôi dạy cơm ngày một bữa suốt năm năm trời. Thầy Nguyễn Khoa Tịnh đứng khóc trên bục giảng (8) vận động thầy cô, bạn hữu chia sớt khoai sắn giúp đỡ. Tôi cũng dạy năm lớp vỡ lòng, ba lớp bổ túc văn hóa để vượt khó vươn lên. Thầy Hiệu trưởng Trần Đình Côn đã viết những lời xúc động trong trường ca tình thầy trò: “Thương em nhỏ gieo neo mẹ mất. Lại cha già giặc giết hôm qua. Tình thầy, tình bạn, tình cha. Ấy là ân nghĩa thiết tha mặn nồng” (9)  Những gương mặt thầy bạn đã trở thành máu thịt trong đời tôi.

Nhà tôi thuở ấy nghèo quá ! Đói đến mức gần tắt bữa. Mẹ tôi ốm và chết trẻ do hậu sản và suy gan sau khi em tôi mất. Mẹ chết sáng mồng ba Tết “Giáp Thìn bốn chín mẹ quy tiên”. Trước đó, cha đã bán hết tài sản để cứu mẹ nhưng không được. Tài sản đáng giá nhất tôi còn nhớ là: một con bò vàng, hiền nhưng không chịu để ai bắt nạt và có những thế đánh rất giỏi, nổi tiếng khắp cả hai làng Minh Lệ và Hòa Ninh; một căn nhà gỗ mái lợp tranh; một bộ phản cũ và một thùng gỗ vừa là thứ đựng lúa gạo vừa cũng là giường nằm. Mẹ đau nặng, cha bán hết bò, vật dụng và nhà, vừa nói với các con vừa khóc: “Cụ biết mạ con bệnh hiểm nghèo không qua khỏi nhưng cụ quyết ‘còn nước còn tát ‘ vì không thể thấy mạ con chết mà không cứu?”. Suốt bao nhiêu năm trôi qua, khuôn mặt khắc khổ mếu xệch và dòng nước mắt người cha trước sự lựa chọn sinh tử dữ dội luôn thấm mát đời con. Nhà minh con trai con gái ai cũng yêu thương vợ con có lẽ có từ bài học sâu sắc đầu đời này. Trước đó, tôi nghe kể, có lần khi cha bị bắt đi, cha xin chậm lại một chút để chẻ củi nhóm than cho vợ vừa sinh. Ông lập cập nên chẻ vào chân mình, máu ra nhiều, ngất lịm đi. Sau được cứu. Mẹ mất lúc tôi lên 9 và chị Huyền tuổi 12. Anh Dộ đi dạy cấp 1 ở xa, chị Huyên đã lấy chồng đều về chịu tang. Hôm mẹ chết, hầu như cả làng đi đưa. Đám tang rất đông vì sinh thời mẹ ăn ở đức độ, phúc hậu và mẹ đẹp người, đẹp nết, chết trẻ vì bệnh hiểm nghèo nên ai cũng thương. Gia đình tôi sau đó còn ba bố con ở chái lều tranh một mái gác xiên trên tường đất cũ. Nền nhà cao hơn một mét, kiềng đá hộc chắc chắn để tránh lụt vô nhà. Nền này, anh Trực tôi đã nhiều đêm cùng cha đào gánh đất đắp nền, trước khi anh tình nguyện đi bộ đội lúc 17 tuổi để cha được miễn dân công hỏa tuyến ở nhà nuôi vợ ốm và hai con nhỏ.Trong ký ức tuổi thơ của tôi nhớ về mẹ là được dụi đầu vào ngực của người và được mẹ âu yếm. Tôi nhớ ngày còn rất nhỏ theo mẹ đi bán nước chè lá vằng cho bà con cô bác đi chợ, một đọi (chén sành) được hai xu, thỉnh thoảng có người uống đến năm xu, vừa uống vừa xoa đầu tôi: “cháu giỏi lắm, chừng này tuổi mà đã biết giúp mẹ”. Những lúc mệt, tôi lại chạy về ôm mẹ và được mẹ lau mồ hôi cho. Chiếc khăn mẹ thơm mùi trầu cau. Sau này khi đi học, tôi có được thưởng một chiếc khăn mùi xoa. Lúc đó, cha một mình gà trống nuôi con đã nhiều năm. Tôi đưa tặng chiếc khăn cho cha và lần ấy tôi thấy cha mếu và khóc. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi làm thơ:
Cụ ơi

Con cầm về chiếc khăn tay
Của trường, của lớp, của thầy tặng con
Cầm khăn cụ vui vô cùng
Hai hòn nước mắt tưng bừng tuôn rơi
Gì từng ấy hỡi cụ ơi
So bằng công cụ như trời như non
Nuôi con biết mấy năm tròn
Gom từng hột sạu, bòn từng lá rau.
Công ơn của cụ thẳm sâu
Món quà con đó so đâu công này?
Kỷ niệm tuổi thơ tôi về cha mẹ thật êm đềm. Mẹ cha thường nựng tôi là ‘cục vàng của cụ mạ”, câu chuyện quan hệ đến tên khai sinh và ngày sinh của tôi mà tôi được tự mình chứng kiến một câu chuyện khi tôi lên sáu hoặc lên bảy …   

Lời Cha dặn Cụ ơi

LỜI CHA DẶN

Ngày của Cha trong gia đình tôi là Ngày nhớ ơn Cha Mẹ, *Ngày giỗ Mẹ là ngày mồng Ba Tết Âm Lịch, Ngày giỗ Cha là ngày 29 tháng 8 Âm Lịch. Năm 2025 ngày 29 tháng 8 âm lịch đúng ngày 20 tháng 10 năm Mậu Thân ngày mà ông bị Mỹ giết. Năm 2026 ngày 29 tháng 8 âm lịch nhằm ngày 9 tháng 10, sớm hơn dương lịch 11 ngày. Cha tôi là lính Vệ Quốc Đoàn thuộc tiểu đoàn 174, Trung đoàn 18 “Chiến khu thư Tư” của đơn vị bác Lê Văn Tri (sau này là Trung tướng Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, Phó Tư Lệnh Quân chủng Phòng Không Không Quân Việt Nam).Cha bị bom Mỹ giết hại năm 1968. Tôi vắng Mẹ từ tuổi thơ, lớn một chút lại mất Cha vì bom Mỹ giết. Tôi nhớ anh Hai đã thay cha yêu quý và chị gái Hoàng Thị Huyền đã thay mẹ hiền dìu dắt, nâng giấc. Kỹ niệm tuổi thơ yêu thương như Linh Giang sông quê hương thao thiết chảy. Tôi cất kỹ tờ giấy ố vàng Lời Cha dặn: “Con Kim. Cụ khi mô cũng nhớ ’em’ cả. Con học với Thầy phải kính Thầy để Thầy thương. Con chơi với bạn phải nhường bạn để bạn mến. Con sống với người phải tử tế, phúc đức để họ trọng. Làm gì cũng phải tự ý cẩn thận, đừng nghe người ta xui”.”Cụ biết mạ con bệnh hiểm nghèo không qua khỏi nhưng cụ quyết bán hết tài sản ‘còn nước còn tát ‘ vì không thể thấy mạ con chết mà không cứu?”. “ Hoàng Thị Huyền (Thỉu con) sinh buổi sớm 13 tháng 3 năm Mẹo, mặt trời lên ngọn tre. Hoàng Minh Kim sinh gần nửa đêm rằm xuân Gíáp Ngọ, trăng qua ngọn cau hơn hai sào”. (Sau này tôi được khai sinh đi học là ngày 27 tháng 12 năm 1953, vì lý do tôi đi học trước tuổi do nhỏ tuổi không có ai trông, phải theo học kèm với chị, và theo anh từ nhỏ xa quê sang Pháp Kệ để anh kèm học hết cấp Một. Lên lớp 5 thì học trường Thọ Linh (Quảng Sơn). Tôi cất tờ giấy này giữa hai tờ bọc vở của cuốn sổ và mang  tờ giấy này theo bên mình khi rời Nam Quảng Trạch sang bờ bắc rào Nậy (sông Gianh) đến Pháp Kệ, sau đó là Phù Lưu, Đồng Dương để đi học theo anh Dộ tôi đang dạy cấp một. Anh tôi xin thầy Trần Đình Côn, hiệu trưởng nhà trường cho tôi được học cấp ba Bắc Quảng Trạch. Tôi làm bài thơ thứ hai ghi lại kỷ niệm này và chép lại cẩn thận hai bài thơ tuổi nhỏ: Một bài là Theo anh sang Pháp Kệ “Cho con sang với ông ơi, Cho con sang với khỏi chờ đò lâu, Bấy lâu nay bụng những sầu, Bây giờ được học đang rầu hóa vui”. Một bài khác là bài toán đố, tôi giải bằng thơ nhanh, đúng và được … khen, Đó là: “Thương nhau cau sáu bổ ba/ Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười/ Cả thương và ghét chín mươi/ Bao nhiêu thương ghét em thời biết không?” Tôi đã trả lời liền bằng … thơ: “Thương nhau cau sáu bổ ba/ Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười/ Cả thương và ghét chín mươi/ Hai mươi thương, ba ghét là thời của em”. Bài được khen và hoan hô. Nay già rồi mà vẫn nhớ.
(Bài tiếp : Mẹ là mưa lành đất)

Hộp trích dẫn bài liên quan
Bạn quê ngày chạp mộ

Minh Lệ Vương Thắng Dục Kim Tường
Chín năm về trước chạp mộ làng
Thăm mái đình xưa tìm gốc cũ
Lắng lòng trung hiếu thấu yêu thương


Hoàng Kim@hoangkimvn nêu bật bạn quê
https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-23-thang-7/;

Giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, góp phần xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực, nền tảng cho sự phát triển bền vững vùng Tây Nguyên trong bối cảnh mới
PGS, TS TRƯƠNG MINH DỤC
Học viện Chính trị khu vực III
Tạp chí Cộng sản 05:39, ngày 23-07-2025

BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN
#KimNotes 22 7 #cltvn #ana
Chào ngày mới 22 tháng 7 NGÀY NÀY TRONG LỊCH SỬ: Ngày 22 tháng 7 năm 2024 Thành Kính Tiễn Biệt Bác Nguyễn Phú Trọng. Tình cảm của cán bộ, đảng viên & nhân dân với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; Ngày 22 tháng 7 năm 1963,  Thuộc địa Sarawak của Vương thất Anh được độc lập, chưa đầy hai tháng sau Sarawak tham gia hình thành Malaysia. Tháp đôi Petronas tại Kuala Lumpur Malaysia là trụ sở của công ty dầu quốc gia Petronas, cũng là tháp đôi cao nhất trên thế giới. Ngày 22 tháng 7 năm 1970, Chiến tranh Việt Nam: Chiến dịch Campuchia kết thúc với kết quả quân Việt Nam Cộng hòa, Hoa Kỳ và Cộng hòa Khmer thu được nhiều vật tư của quân Giải phóng, nhưng đến cuối năm 1970, quân lực Việt Nam Cộng hòa đã bị đánh bật khỏi các đồn bốt, phải rút trở lại bên kia biên giới. Ngày 22 tháng 7 năm 1932, ngày mất  Bạch Thái Bưởi, doanh nhân Việt Nam (sinh năm 1874). Ông là người từ tay trắng làm nên nghiệp lớn. là một trong bốn người giàu có nhất Việt Nam vào những năm đầu của thế kỷ 20 với lĩnh vực kinh doanh nổi bật là hàng hải, khai thác than và in ấn.

#cnm365 Tình yêu cuộc sống TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM Bài chọn lọc ngày 22 tháng 7: MARDI và những người bạn; Một niềm tin thắp lửa; Vạn Xuân nơi An Hải, Báu vật nơi đất Việt; Cao Biền trong sử Việt; Đại Lãnh nhạn quay về, Borlaug và Hemingway; Chuyện Rowling Harry Potterr; Thầy bạn trong đời tôi; Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung; Minh triết Hồ Chí Minh; Mai Bồ Đề thời mới; Ngôn ngữ văn hóa Việt; Nông nghiệp sinh thái Việt; Việt Nam đất nước con người; Lời khuyên thói quen tốt; Dạy và học để làm; Thông tin tại https://hoangkimvn.wordpress.com/ và http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-22-thang-7/.và https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-22-thang-7/.

Thương Ký Sự Mưa Bay
MARDI và những người bạn

2017-02-01_nhungnguoiban

Tôi kể bạn nghe câu chuyện về Malaysia Kuala Lumpur MARDI và những bạn tôi ở nơi ấy. Đó là những bạn tốt của nông dân trồng khoai sắn châu Á. Trước hết, mời bạn xem một số ảnh kỷ niệm một thời. MARDI là Viện Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Malaysia (Malaysian Agricultural Research and Development Institute), trụ sở chính tại Persiaran MARDI-UPM, 43400 Serdang Selangor, Kuala Lumpur. Tôi có được vài lần sang dự họp ở MARDI và có báo cáo được chọn đăng trên trang báo địa  phương. Các báo cáo khoa học nông nghiệp Quốc tế của nhóm bạn MARDI trong nghiên cứu, phát triển cây có củ luôn tạo cho người nghe nhiều điều để trao đổi, học hỏi. 

MARDI VÀ NHỮNG NGƯỜI BẠN
Hoàng Kim

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/mardi-va-nhung-nguoi-ban/

BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN
#KimNotes 21 7 #cltvn #ana
Chào ngày mới 21 tháng 7 NGÀY NÀY TRONG LỊCH SỬ Ngày 21 tháng 7 năm 2007,  Harry Potter và Bảo bối Tử thần được phát hành, là truyện cuối cùng của loạt truyện Harry Potter, do nữ văn sĩ J. K. Rowling sáng tác. Đây là sách bán chạy nhất trong lịch sử. Đến tháng 6 năm 2011, cả bảy quyển Harry Potter đã bán được hơn 450 triệu bản, trở thành bộ sách bán chạy nhất trong lịch sử và được dịch sang 67 ngôn ngữ. Ngày 21 tháng 7 năm 1786, Quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy tiến vào Thăng Long, lật đổ quyền cai trị thực tế hơn 200 năm của họ Trịnh ở miền Bắc Đại Việt. Ngày 21 tháng 7 năm 1899, là ngày sinh của Ernest Hemingway, nhà văn Mỹ nổi tiếng, đoạt giải Nobel văn chương năm 1954 (mất năm 1961);

#cnm365 Tình yêu cuộc sống
TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM
Bài chọn lọc ngày 21 tháng 7: Nhớ vầng trăng ngọn lửa; Thung dung vườn cổ tích; Cát bụi chuyện trăm năm; Mười vui và mười thương; Lớp 10A TT ĐHNN2 Hà Bắc; Truyện Rowling Harry Potter; Báu vật nơi đất Việt; Vạn Xuân nơi An Hải, Cao Biền trong sử Việt; Đại Lãnh nhạn quay về, Thanh nhàn mừng tháng năm; Tiệp Khắc kỷ niệm một thời; Borlaug và Hemingway; Nguyễn Du thời Tây Sơn; Thầy bạn trong đời tôi; Thông tin tại https://hoangkimvn.wordpress.com/http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-21-thang-7https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-21-thang-7

BÀI THƠ VIÊN ĐÁ THỜI GIAN
|Nhớ Cụ chín mươi thôi nấn ná
‘Bó củi, cần câu, trốn nước non’
Thương Bác tám hai đành bớt việc
Thế giới mắt ai thấm thía lòng

Bài Thơ Viên Đá Thời Gian
.
ĐÊM TRƯỜNG SƠN NHỚ BÁC
https://www.facebook.com/photo/?fbid=1020716069107090&set=a.107435463768493
xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bai-tho-vien-da-thoi-gian

ĐẠI LÃNH NHẠN QUAY VỀ
Hoàng Kim
Núi Đá Bia thiên nhãn phương nam
Biển Vũng Rô mắt thần tịnh hải
Tháp Nhạn người Chăm lưu đất Phú
Mằng Lăng chữ Việt dấu trời Yên
Xuân Đài thành cổ ghềnh Đá Đĩa
Sông Ba sông Cái núi Cù Mông
Vạn kiếp tình yêu ai gửi lại
Ngàn năm Đại Lãnh nhạn quay về
https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-21-thang-7/

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là vietnamtoquoctoi.jpg

BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN
#KimNotes 20 7 #cltvn #ana
Chào ngày mới 20 tháng 7 NGÀY NÀY TRONG LỊCH SỬ Ngày 20 tháng 7 năm 1810 ngày Độc lập tại Colombia (1810); Ngày Hữu nghị tại Argentina, Brasil, Uruguay.. Ngày 20 tháng 7 năm 1969Chương trình Apollo: Apollo 11 đáp thành công xuống Mặt Trăng, phi hành gia Neil ArmstrongBuzz Aldrin trở thành những người đầu tiên đi trên Mặt Trăng. Ngày 20 tháng 7 năm 1994 , sau một cuộc bầu cử dân chủ, Alexander Lukashenko nhậm chức Tổng thống đầu tiên của Belarus, ông liên tục đảm nhiệm chức vụ này cho đến nay. Ông là đại biểu duy nhất bỏ phiếu chống lại việc phê chuẩn thỏa thuận tháng 12 năm 1991 để giải thể Liên bang Xô viết là lập nên Cộng đồng các Quốc gia Độc lập thay thế.[19],Tại cuộc bầu cử tổng thống năm 2020, ông đã giành chiến thắng áp đảo trước các đối thủ với tỷ lệ 80%[14] phiếu bầu. Như vậy ông sẽ giữ vai trò tổng thống trong nhiệm kì thứ sáu

#cnm365 Tình yêu cuộc sống TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM Bài chọn lọc ngày 20 tháng 7: 1) Thầy Tuấn trong lòng tôi 2) Hoàng Thành Đến Trúc Lâm; 3) Thượng Đức thương nhìn lạ; 4) Lào hoa trắng nắng Mekong; 5) Phan Chí Thắng chuyện đời 6) Thầy văn Hồ Ngọc Diệp; 7) Mười vui và mười thương (đọc trên WordPress,Hoàng Kim Thủy Thung Dung)


BÀI THƠ VIÊN ĐÁ THỜI GIAN

Nhớ Cụ chín mươi thôi nấn ná
‘Bó củi, cần câu, trốn nước non’
Thương Bác tám hai đành bớt việc
Thế giới mắt ai thấm thía lòng
Bài thơ Viên đá Thời gian

ĐÊM TRƯỜNG SƠN NHỚ BÁC

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bai-tho-vien-da-thoi-gian††
Ngày 19 tháng 7 năm 2024 (nhằm ngày 16/6/2024 âm lịch, Ngày: Bính Tuất , Tháng: Tân Mùi, Năm: Giáp Thìn) VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG.

Bản đồ địa hình Việt Nam. Được tạo với GMT từ dữ liệu GLOBE được phát hành công khai Topographic map of Vietnam. Created with GMT from publicly released GLOBE data

VIỆT NAM TỔ QUỐC TÔI
Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim

VIỆT NAM HỌC Tổng quan văn hoá và kinh tế xã hội Việt Nam là tập tài liệu giảng dạy nghiên cứu Việt Nam Học: người Việt, tiếng Việt, nông nghiệp Việt Nam, văn hóa, kinh tế, xã hội, du lịch sinh thái. Mục đích nhằm đúc kết kiến thức nền Việt Nam Học, giúp việc tìm hiểu đất nước con người Việt Nam “vốn xưng nền văn hiến đã lâu; núi sông bờ cõi đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác” (Nguyễn Trãi, 1428) với phẩm chất văn hóa thân thiện, tốt đẹp. Việt Nam Học bài này giới thiệu tóm tắt Thông tin nhanh về Việt Nam Bài đọc thêm Việt Nam đất lành chim đậu Nha Trang và A. Yersin

VIỆT NAM MỘT THOÁNG NHÌN

Việt Nam là một đất nước yêu độc lập, tự do và hạnh phúc. Đất nước Việt Nam hình chữ S, nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, ở phía đông bán đảo Đông Dương, phía bắc giáp Trung Quốc, phía tây giáp Lào, Campuchia, phía đông nam trông ra biển Đông và Thái Bình Dương. Việt Nam có diện tích 331.211,6 km², Dân số hiện tại của Việt Nam là 98.169.571 người vào ngày 01/07/2021 theo số liệu mới nhất từ Liên Hợp Quốc; Việt Nam đang đứng thứ 15 trên thế giới trong bảng xếp hạng dân số các nước và vùng lãnh thổ.Mật độ dân số của Việt Nam là 317 người/ km²; 37,34% dân số sống ở thành thị (36.346.227 người vào năm 2019) (Nguồn: https://danso.org/viet-nam/). Thủ đô là Hà Nội. Ba thành phố chính nổi tiếng nhất của Việt Nam là Hà Nội, Huế và thành phố Hồ Chí Minh. Bờ biển Việt Nam dài 3 260 km, biên giới đất liền dài 4 510 km. Trên đất liền, từ điểm cực Bắc đến điểm cực Nam (theo đường chim bay) dài 1 650km, từ điểm cực Đông sang điểm cực Tây nơi rộng nhất 600km (Bắc bộ), 400 km (Nam bộ), nơi hẹp nhất 50km (Quảng Bình). Kinh tuyến Việt Nam từ 102º 08′ đến 109º 28′ đông,Vĩ tuyến Việt Nam từ 8º 02′ – 23º 23′ bắc. Việt Nam là đầu mối giao thông từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương. Khí hậu Việt Nam là khí hậu của nước nhiệt đới gió mùa; Địa hình lãnh thổ Việt Nam phần đất liền bao gồm 3 phần 4 là đồi núi; Tài nguyên Việt Nam có những nguồn tài nguyên vô cùng phong phú như tài nguyên rừng, tài nguyên thủy hải sản, tài nguyên du lịch và nhiều loại khoáng sản đa dạng, nhưng trên hết, trước hết đó là tài nguyên con người hiền hòa, thân thiện, anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang, năng động, sáng tạo, sống có trách nhiệm với mái nhà chung Trái Đất, thích làm bạn với nhân dân thế giới.  Phân cấp hành chính Việt Nam hiện nay vối diện mạo mới gồm 34 tỉnh thành được chính thức hoạt động từ ngày 1 tháng 7 năm 2025 (hình 1).

Việt Nam ngày nay có 3321 xã phường, đặc khu chính thức của 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh thành phố Danh sách 3321 xã phường, đặc khu chính thức của 34 tỉnh thành phố tại Thư Viện Pháp Luật . Việt Nam thông tin khái quát, cập nhật mới hệ thống tại https://hoangkimlong.wordpress.com/category/viet-nam-thong-tin-khai-quat/

Bản đồ Hành chính Việt Nam (hình 2). Bảy vùng sinh thái kinh tế nông nghiệp Việt Nam (hình 3) cung cấp sự so sánh thông tin toàn cành theo Điều 110 Hiến pháp 2013 [1] và Điều 2 Luật Tổ chức chính quyền địa phương[2] với sự sáp nhập mới do Quốc hội thành lập. Việt Nam ngày nay có 2 cấp hành chính là cấp tỉnh thành phố và cấp xã phường so với trước đây có 3 cấp hành chính là cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã.

Hình 2: Bản đồ Hành chính Việt Nam
Hình 3: Bảy vùng sinh thái kinh tế nông nghiệp Việt Nam

Việt Nam Tổ quốc tôi  Nong Lam University in Ho Chi Minh Dạy và Học Cây Lương thực Việt Nam CNM365 Tình yêu cuộc sống đúc kết thông tin Việt Nam Đất nước Con người, Ngôn ngữ Nông nghiệp Du lịch Sinh thái, Lịch sử Địa lý Giáo dục Văn hóa, Kinh tế Xã hội Truyền Thông Ebook. Thông tin VIỆT NAM HỌC được trích dẫn từ Wikipedia tiếng Việt và các nguồn liên quan tới 1 tháng 7 năm 2025

Việt Nam Học Tinh Hoa

Nông nghiệp sinh thái Việt
Di sản thế giới tại Việt Nam
Du lịch sinh thái Việt
Vườn Quốc gia Việt Nam

Nông nghiệp công nghệ cao
Nông nghiệp Việt trăm năm
Ngôn ngữ văn hóa Việt
Dạo chơi non nước Việt

QUA SÔNG TỚI CÁT TIÊN

Ta đưa người qua sông
Mà nghe tiếng sóng vỗ trong lòng

An vui cụ Trạng Trình bến chính
Cát Tiên ta đưa người qua sông.

Qua sông tới Cát Tiên
Nước biếc non xanh gió lộng thuyền
Nho Quế, Hồng Lam thương cụ Nguyễn
Bạn Ngư Tiều vui hưởng thiên nhiên.

Chứa Chan, thăm thẳm trời sông Thương
Cát Tiên chim quý, hạc vàng đâu?
Mừng bạn #Thungdung #banmai
đẹp
Đại Thử qua sông thỏa nguyện cầu
.

3

Tân Phú Vĩnh Cửu xanh

Cát Tiên vùng linh địa
Ban mai chào ngày mới
Tỉnh thức cùng tháng năm.

4


Người cứ #annhiên ta cứ ngủ
Bồ Đề * #hoađất hỏi chi thiền

Dạo chơi non nước Việt
Qua Sông Tới Cát Tiên.

5

Sông Đồng Nai yêu thương
Nắng gió lành thuốc quý
Núi Chứa Chan Xuân Lộc
Giấc mơ lành yêu thương
.
Qua sông tới Cát Tiên
#ĐẹpvàHay Nhớ Mãi

(Ngày 7 tháng 6 âm lịch)

TRĂNG RẰM

Trăng sáng lung linh trăng sáng quá
Đất trời lồng lộng một màu trăng
Dẫu đêm khuya vắng người quên ngắm
Trăng vẫn là trăng, trăng vẫn rằm.

*

Đêm muộn
trăng rằm xuân thật sáng
ánh vàng đầy trời xanh
ta thì quen tháng nhớ
người vẫn lạ năm chờ
bài ca nhịp thời gian gõ cửa.

Đông qua là xuân tới
ngại chi đêm trở lạnh
lo chi ngày việc nhiều
biết nợ duyên nhân quả trời tạo nghiệp
hiểu chí thiện phước đức đất nuôi bền
Đường xuân đời quên tuổi


Vui đi dưới mặt trời
Bài ca nhịp thời gian


xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/trang-ram/

MỘT GIA ĐÌNH YÊU THƯƠNG

Bảo tồn và phát triển
Một gia đình yêu thương
Việt Nam tổ quốc tôi
Bài học lớn muôn đời

Hoàng Gia Ngọc Phương Nam
Hậu duệ của mặt trời
Đất Mẹ vùng di sản
Hà Nội mãi trong tim


An Viên Ngọc Quan Âm

Đi Dưới Trời Minh Triết

#Annhiên
HOÀNG THẠCH CHÂN QUÂN TRUYỆN


Đá vàng thương củ sắn khoai
Nhớ bông hoa súng thắp hoài ao sen

Văn chương nết đất, thơ hiền
Lão Nông dạy học vững bền #Thungdung

*

Thầy Trao Gương Bạch Ngọc
Trăng Xuân Soi Đường Trần
Thiên Mệnh Sáng Sử Ký
Hoàng Gia Ngọc Phương Nam

Viên Minh Đêm Sương Giáng
Hạc Vàng Đón Người Thân
Vượt Trăm Năm Viên Mãn
Rằm Trọn Thời Thanh Minh

Thầy Cây Lương Thực Việt
Nghề Giáo Dưỡng Nhân Tâm
Nghiệp Vinh Danh Khoai Sắn
Lúa Ngô Thành Trúc Lâm

Thiền Sư Lão Nông Tăng
Khuyên giờ lành tỉnh thức
Noi theo dấu chân Bụt
#Thungdung#annhiên

Hoàng Kim
Vietnam my homeland
Văn chương nết đất. Trà sớm với Lão Nông

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/một gia đình yeu-thuong.

BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN
#KimNotes 19 7 #cltvn #ana

Chào ngảy mới 19 tháng 7 NGÀY NÀY TRONG LỊCH SỬ Ngày 18 tháng 7 năm 1888, Tổng thống Pháp Marie François Sadi Carnot ký sắc lệnh thành lập thành phố Hà Nội và Hải Phòng (hình) thành phố biển Việt Nam tại Liên bang Đông Dương. Từ trái sang phải theo chiều kim đồng hồ: Tượng nữ tướng Lê Chân, Nhà hát Thành phố, Đảo Cát Bà , Cảng Hải Phòng, Hoa phượng đỏ , Central Park Hải Phòng. Ngày 19 tháng 7 năm 2024 (nhằm ngày 16/6/2024 âm lịch, Ngày: Bính Tuất , Tháng: Tân Mùi, Năm: Giáp Thìn) ngày mất của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng. Ngày 19 tháng 7 năm 1900, Tuyến đầu tiên của hệ thống tàu điện ngầm Métro Paris bắt đầu hoạt động, kết nối nhiều địa điểm diễn ra triển lãm thế giới. Ngày 19 tháng 7 năm 1947, ngày mất bà Cả Mọc Hoàng Thị Uyên, nữ doanh nhân, nhà từ thiện và là người thành lập nhà nuôi dưỡng trẻ miễn phí đầu tiên tại Hà Nội, trước năm 1945;

#cnm365 Tình yêu cuộc sống
TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM

Bài chọn lọc ngày 19 tháng 7: Việt Nam tổ quốc tôi; Hoàng Thành đến Trúc Lâm; Thượng Đức thương nhìn lại. Chuyện cổ tích người lớn; Đến với Tây Nguyên mới; Chuyện cô Trâm lúa lai; Dạy và học để làm;Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung; Ngôn ngữ văn hóa Việt; Nông nghiệp sinh thái Việt; Việt Nam đất nước con người; Thơ vui những ngày nhàn; Một vùng trời nhân văn; Trăng rằm sen Tây Hồ; Đêm Yên Tử; Nhớ bạn nhớ châu Phi; Hải Như thơ về Người; Câu chuyện ảnh tháng Bảy; Thông tin tại https://hoangkimvn.wordpress.com/ http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlong https://cnm365.wordpress.com/…/chao-ngay-moi-19-thang-7/ https://cnm365.wordpress.com/cat…/cnm365-cltvn-19-thang-7/;

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/…/bai-tho-vien-da… & Nhớ bác Nguyễn Phú Trọng Đọc Việt Bắc Chân Quê

BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN
#KimNotes 19 7 #cltvn #ana
Chào ngảy mới 19 tháng 7 NGÀY NÀY TRONG LỊCH SỬ Ngày 18 tháng 7 năm 1888, Tổng thống Pháp Marie François Sadi Carnot ký sắc lệnh thành lập thành phố Hà Nội và Hải Phòng (hình) thành phố biển Việt Nam tại Liên bang Đông Dương. Từ trái sang phải theo chiều kim đồng hồ: Tượng nữ tướng Lê Chân, Nhà hát Thành phố, Đảo Cát Bà , Cảng Hải Phòng, Hoa phượng đỏ , Central Park Hải Phòng. Ngày 19 tháng 7 năm 2024 (nhằm ngày 16/6/2024 âm lịch, Ngày: Bính Tuất , Tháng: Tân Mùi, Năm: Giáp Thìn) ngày mất của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng. Ngày 19 tháng 7 năm 1900, Tuyến đầu tiên của hệ thống tàu điện ngầm Métro Paris bắt đầu hoạt động, kết nối nhiều địa điểm diễn ra triển lãm thế giới. Ngày 19 tháng 7 năm 1947, ngày mất bà Cả Mọc Hoàng Thị Uyên, nữ doanh nhân, nhà từ thiện và là người thành lập nhà nuôi dưỡng trẻ miễn phí đầu tiên tại Hà Nội, trước năm 1945; 

#cnm365 Tình yêu cuộc sống
TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM
Bài chọn lọc ngày 19 tháng 7: Việt Nam tổ quốc tôi; Hoàng Thành đến Trúc Lâm; Thượng Đức thương nhìn lại. Chuyện cổ tích người lớn; Đến với Tây Nguyên mới; Chuyện cô Trâm lúa lai; Dạy và học để làm;Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung; Ngôn ngữ văn hóa Việt; Nông nghiệp sinh thái Việt; Việt Nam đất nước con người; Thơ vui những ngày nhàn; Một vùng trời nhân văn; Trăng rằm sen Tây Hồ; Đêm Yên Tử; Nhớ bạn nhớ châu Phi; Hải Như thơ về Người; Câu chuyện ảnh tháng Bảy; Thông tin tại https://hoangkimvn.wordpress.com/ và http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-19-thang-7/https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-19-thang-7/;

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bai-tho-vien-da-thoi-gian & Nhớ bác Nguyễn Phú Trọng Đọc Việt Bắc Chân Quê
https://www.youtube.com/embed/0cPBWOgoQtQ?feature=oembed

BÀI THƠ VIÊN ĐÁ THỜI GIAN

Nhớ Cụ chín mươi thôi nấn ná
‘Bó củi, cần câu, trốn nước non’
Thương Bác tám hai đành bớt việc
Thế giới mắt ai thấm thía lòng

Huân Chương Sao Vàng Việt Nam Mới
Người Thứ 87 và Người Thứ 88
Trần Quý Kiên và Nguyễn Phú Trọng
Một Bài Thơ Viên Đá Thời Gian
.

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bai-tho-vien-da-thoi-gian†

AN VUI CỤ TRẠNG TRÌNH

Thảnh thơi chơi cùng cụ Trạng
Thanh nhàn cùng với tháng năm
Bà và cháu vui chuyện bé
Thầy thì thong thả nấu cơm …


Ngày mới trông thời đoán tiết
Xuân vui trước ngõ chưa tàn
Phải đợi Hạ về Thu tới
Mới hòng Đông đến Xuân sang


Mùa xuân lộc vừng thay lá
Cây đời mầm mới thêm xanh
Nắng sớm ấm dấn trước ngõ
Tiếng chim ríu rít đầy vườn


Ban mai vui cùng cụ Trạng
An nhàn vô sự là tiên (*) .

(*) “Liên Mậu Kỷ Canh Tân
Can qua sinh sát biến”
“Bốc đắc Càn thuần quái
Sơ cửu thoái tiềm long
Ngã bát thế chi hậu
Can qua khởi trùng
trùng”.

Thầy Cô Lợi An Ngoan ĂN CƠM SEN NƯỚC SẠCH Đường xuân đời quên tuổi Tỉnh thức cùng tháng năm https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-19-thang-7/ và https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-19-thang-7/;

BAN MAI CHÀO NGÀY MỚI

An vui cụ Trạng Trình
Những trang văn đọc lại
Qua sông tới Cát Tiên
Khi đàn sếu bay qua

Chào ngày mới 18 tháng 7
TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM

Hà Nội thủ đô Việt Nam  Ngày 18 tháng 7 năm 1888, Tổng thống Pháp Marie François Sadi Carnot ký sắc lệnh thành lập thành phố Hà Nội. Ngày 18 tháng 7 năm 1918, ngày sinh Nelson Mandela , tổng thống Cộng hòa Nam Phi (mất năm 2013). Nelson Mandela là con người huyền thoại của châu Phi, ông sinh ngày 18 tháng 7 năm 1918, mất ngày 5 tháng 12, 2013. Ông làm Tổng thống Nam Phi 5 năm từ năm 1994 đến 1999, và là tổng thống Nam Phi đầu tiên được bầu cử dân chủ theo phương thức phổ thông đầu phiếu. Nelson Mandela là nhà hoạt động chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, và là người đứng đầu phái vũ trang của Đảng Đại hội Dân tộc Phi (ANC). Mandela đã trải qua 27 năm trong lao tù, phần lớn thời gian là ở tại Đảo Robben. Sau khi được trả tự do và trong nhiệm kỳ tổng thống của mình từ năm 1994 đến 1999, Mandela thường ưu tiên cho vấn đề hòa giải dân tộc.Tại Nam Phi, Mandela được biết tới như là một già làng với tước hiệu cao quý Madiba, mà bộ lạc của ông thường trao cho những già làng. Mandela đã nhận hơn 250 giải thưởng trong hơn bốn thập niên, trong đó có Giải Nobel Hòa bình năm 1993. Ngày 18 tháng 7 năm 1933, ngày sinh nhà thơ Nga Yevgeny Yevtushenko là một trong những nhà thơ lớn nhất của Nga trong thế kỉ 20;

#cnm365 Tình yêu cuộc sống TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM Bài chọn lọc ngày 18 tháng 7: Một vùng trời nhân văn; Trăng rằm sen Tây Hồ; Đêm Yên Tử; Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung; Ngôn ngữ văn hóa Việt; Nông nghiệp sinh thái Việt; Việt Nam đất nước con người; Chuyện đồng dao cho em; Thơ vui những ngày nhàn; Nhớ bạn nhớ châu Phi; Hải Như thơ về Người; Câu chuyện ảnh tháng Bảy;Thông tin tại https://hoangkimvn.wordpress.com/http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-18-thang-7/https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-18-thang-7/

NÚI THẦN ĐINH QUẢNG BÌNH
Hoàng Kim
và Hoàng Long

1
An nhiên

Mình cứ an nhiên ta cứ ngủ
Thung Nham Bái Đính hỏi chi thiền
Thần Đinh chợt tỉnh Nam Kha mộng
Thăm thẳm trời xanh níu cảnh tiên

2

Biển Bảo Ninh Đồng Hải

Biển1 nhớ nơi nao Người lắng2 sóng
Bờ thương chốn cũ Bác trông thuyền
Bảo như trường kiếm xô sông dạt
Ninh Hải Thung Nham níu núi thiền

3
Núi Thần Đinh Quảng Bình

Chùa Non3 thiền miếu cổ Kim Phong
Động Thánh Linh xưa thẳm 4 thiện lành
Bắc Đẩu, Thần Đinh 5 huyền diệu quá
Giao Châu, Long Đại, cổng Thiên An 6.

4
Linh Nhạc và Nguyễn Du

Linh Nhạc thương lời hiền lối chính
Nguyễn Du trăng huyền thoại đường xuân
Phan Công thủ nghĩa trời thành ý
Nguyễn Đức #Thungdung đất ghi lòng

5
Dạo Chơi Chùa Thần Đinh

Non Xanh Chùa Trấn Quốc
Chốn Thiêng Nhà Bác Giáp
Đào Duy Từ Còn Mãi
Chuyện Hiền Vui Muôn Năm

Hoàng Gia Bình vẽ tranh

MỘT VÙNG TRỜI NHÂN VĂN

Gương trời lồng lộng ban mai
Thung dung ta đến vùng trời nhân văn
Thịnh suy thế nước ngàn năm
Anh hùng là kẻ vì dân vì đời.


Bên lề chính sử dạo chơi
Rùa ơi thương Cụ biết nơi chọn về.
Kỳ Lân mộ, Tháp Rùa bia
Bia đời, bia miệng khắc ghi lòng người.

Tìm nơi tỉnh lặng ta ngồi
Tình yêu cuộc sống là nơi thư nhàn
Câu thơ lưu lạc trần gian.
Hoàng Thành Cổ Kiếm Hồ Gươm gọi về.


Hoàng Kim

Vị trí Hồ Gươm trong bản đồ đời Nguyễn và Rùa Hồ Gươm

(*) Vùng trời nhân văn :Nguyễn Du thơ ‘Kỳ Lân Mộ” tại “Bắc Hành tạp lục” là kiệt tác văn chương, thấu tình đạt lý, sức mạnh như một đạo quân, đã làm thay đổi chính sách của  vua Thanh và danh tướng Phúc Khang An tổng đốc Lưỡng Quảng, thay vì báo thù rửa hận cho Tôn Sĩ Nghị, đã giữ hòa hiếu lâu dài với Việt Nam. Nguyễn Du là bậc anh hùng quốc sĩ, kỳ tài hiếm có của dân tộc Việt. Nguyễn Du là bậc anh hùng

KỲ LÂN MỘ
Nguyễn Du

Phương Chi Yên Đệ người thế nào?
Cướp ngôi của cháu, đồ bất nhân.
Mỗi khi nổi giận giết mười họ,
Cổn to vạc lớn hại trung thần
Năm năm giết người hơn trăm vạn
Xương chất thành núi máu chảy tràn
Nếu bảo thánh nhân Kỳ Lân xuất
Buổi ấy sao không đi về Nam?

Nguyên văn chữ Hán

Hà huống Yên Đệ hà như nhân
Đoạt điệt tự lập phi nhân quân
Bạo nộ nhân sinh di thập tộc
Đại bỗng cự hoạch phanh trung thần
Ngũ niên sở sát bách dư vạn
Bạch cốt thành sơn địa huyết ân
Nhược đạo năng vị Thánh nhân xuất


xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/mot-vung-troi-nhan-van/

DemNguyenTieu

TRĂNG RẰM SEN TÂY HỒ
Hoàng Kim

Trăng sáng lung linh, trăng sáng quá!
Đất trời lồng lộng một màu trăng
Dẫu đêm khuya vắng người quên ngắm
Trăng vẫn là trăng, trăng vẫn rằm.

Rằm Tháng Giêng năm 1994 gần nửa đêm là lúc mất của anh hai tôi Hoàng Ngọc Dộ, cũng là thời khắc tôi chào đời Rằm Tháng Giêng năm Giáp Ngọ 1954. Anh hai tôi lúc sinh thời có bài thơ Cuốc đất đêm, sau nay tôi tích hợp vào bài thơ Ta hẹn em uống rượu ngắm trăng.

NhoThay2

Chào ngày mới 17 tháng 7
TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM
Ngày 17 tháng 7 năm 1907 ngày mất Hector Malot, văn hào Pháp, tác giả của bộ sách nổi tiếng Trong gia đình được dịch ra nhiều thứ tiếng và trẻ em khắp nơi trên thế giới yêu thích (ông sinh năm 1830). Ngày 17 tháng 7 năm 1504, (6 tháng 6 năm Giáp Tý) Thái tử Lê Thuần lên ngôi hoàng đế tại điện Hoàng Cực, tức Lê Túc Tông, vị vua hiền nhà Hậu Lê. Ngày 17 tháng 7 năm1945, ba nhà lãnh đạo Đồng Minh là Churchill, Truman và Stalin họp ở Potsdam để quyết định tương lai của nước Đức chiến bại.

Bài chọn lọc ngày 17 tháng 7: Hector Malot trong gia đình; Phan Chí Thắng chuyện đời; Mười vui và mười thương; A Na Bình Minh An, Từ Mê Kông nhớ Nê Va; Đến Neva nhớ Pie Đại Đế; Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung; Ngôn ngữ văn hóa Việt; Nông nghiệp sinh thái Việt; Việt Nam đất nước con người; Thơ vui những ngày nhàn; Chuyện cổ tích người lớn; Giấc mơ lành yêu thương; Hải Như thơ về Người; Châu Mỹ chuyện không quên; Thông tin tại https://hoangkimvn.wordpress.com/ và http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-17-thang-7/ và https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-17-thang-7/
Bạn gặt gì hôm nay?

HECTOR MALOT TRONG GIA ĐÌNH
Hai cuốn sách tuổi thơ yêu thích của tôi là Trong Gia đình của tác giả Hector Malot, dịch giả Hà Mai Anh, và “Tam Quốc diễn nghĩa” của tác giả La Quán Trung, dịch giả Phan Kế Bính, hiệu đính Bùi Kỷ. Những trang văn này sau này khi tôi lớn lên và luống tuổi dường như đã thấm vào máu như những kỷ vật lắng đọng không quên. Đọc Trong Gia đình của Hector Malot, và “Tam Quốc diễn nghĩa” của La Quán Trung, chúng ta thấm sâu về tác dụng tỉnh thức của ‘Sự đọc’ “Trong một thế giới có đủ bình tâm, người viết nhỏ hơn người đọc, người đọc nhỏ hơn quyển truyện họ đang đọc, và quyển truyện nhỏ hơn sự đọc. Người viết và người đọc rồi chết, truyện rồi quên. Chỉ sự đọc ở lại và làm nên một phần mênh mông trong định nghĩa của việc làm người.” Tôi thích sự đọc, thói quen dạy và học mỗi ngày.
Hoàng Kim
xem tiếp tại … https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-17-thang-7/

Bạn đang đọc bài viết Người nhạy cảm với cái mới, một nhân cách lớn tại chuyên mục Văn hóa của Báo Nông Nghiệp Việt Nam. Mọi thông tin góp ý và chia sẻ, xin vui lòng gửi về hòm thư baonongnghiepdientu@gmail.com hoặc số điện thoại, Viber: 0369024447.

NhoThay2

NHỚ CỤ NGUYỄN NGỌC TRÌU
Thành kính tưởng nhớ cụ Nguyễn Ngọc Trìu “Người cống hiến không ngừng cho sự phát triển ngành nông nghiệp Việt Nam; “Người nhạy cảm với cái mới, một nhân cách lớn“. Hoàng Kim chép lại hai đường link này của Đài Phát Thanh Truyền Hình Thái Bình và Báo Nông nghiệp Việt Nam, để thấm thía đức hạnh của con người minh triết, bình di, sâu sắc, mà tôi có dịp được tiếp xúc gần. Bài viết của GS AHLĐ Nguyễn Văn Luật và GS Nguyễn Tử Siêm xin được tích hợp về Cát bụi chuyện trăm năm https://khatkhaoxanh.wordpress.com/category/cat-bui-chuyen-tram-nam/

NGƯỜI THẦY TRONG TIM EM

Chúc mừng Thầy Trần Đình Long vừa được Viện Hàn Lâm Khoa Học Nga vinh danh. Thầy là ngọn đuốc sáng và niềm tự hào của nền khoa học nông nghiệp Việt Nam và khoa học Nga. Thầy là nhân cách trí thức lớn các em được noi gương, chung sức trên đường xuân. Người Thầy hiền tài thật gần gũi quý trọng trong lòng các em

Viện Hàn Lâm Khoa học Nga vinh danh 6 người Việt dịp kỷ niệm 300 năm thành lập

#cnm365 trích dẫn nguồn www.vietnamplus.vn: Theo đài Sputnik, tháng 2/2024, Viện Hàn lâm khoa học Nga (RAS) kỷ niệm 300 năm thành lập. Trong số các viện sĩ-thành viên nước ngoài của RAS có 6 công dân Việt Nam; Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Văn Hiệu, Trần Đình Long, Nguyễn Duy Quý, Đặng Vũ Minh; xem tiếp https://www.vietnamplus.vn/vien-han-lam-khoa-hoc-nga-vinh-danh-6-nguoi-viet-dip-ky-niem-300-nam-thanh-lap-post929060.vnp

Viện Hàn lâm khoa học Nga (RAS) được thành lập năm 1724 theo sắc lệnh của Sa hoàng Piotr Đại đế. Cho đến trước cuộc cách mạng vô sản năm 1917, RAS có tên gọi là Viện Hàn lâm khoa học Hoàng gia, dưới thời Liên Xô thì mang tên Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô và đến cuối năm 1991 được gọi là RAS.

RAS đào tạo các chuyên gia khoa học, nhưng chức năng cơ bản của tổ chức này là tiến hành nghiên cứu khoa học cơ bản và ứng dụng. Những công trình đa dạng được thực hiện trong khuôn khổ 653 cơ cấu khoa học là Viện chuyên ngành và Phòng thí nghiệm. Nhiều người ở Nga cho rằng RAS là tổ chức đảm bảo quyền tự do sáng tạo khoa học vì lợi ích phồn vinh của đất nước.

Trong lịch sử danh sách thành viên nước ngoài của RAS, công dân Việt Nam đầu tiên được bầu làm viện sĩ nước ngoài của Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô là ông Trần Đại Nghĩa. Tháng 2/1966, ông Trần Đại Nghĩa trở thành Viện sĩ chuyên ngành Cơ học. Nhà khoa học này nổi tiếng về những phát minh kỹ thuật góp phần đắc lực vào cuộc kháng chiến của quân dân Việt Nam chống thực dân Pháp.

Năm 1976, nhà sử học Nguyễn Khánh Toàn là người Việt Nam thứ 2 trở thành viện sĩ nước ngoài của Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô. Trong số các công trình khoa học của ông có nhiều tác phẩm nghiên cứu mối quan hệ cách mạng giữa Việt Nam và Nga.

Đặc biệt là Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu, người được bầu chọn vào Viện Vật lý thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô tháng 1/1982. Ông Nguyễn Văn Hiệu làm việc trong nhiều lĩnh vực của Toán học và Vật lý. Phần lớn hoạt động khoa học của ông gắn liền với Viện Nghiên cứu hạt nhân chung tại thành phố Dubna. Tại đó, cùng với các nhà khoa học Nga, Giáo sư Nguyễn Văn Hiệu đã nghiên cứu những vấn đề phức tạp nhất của Vật lý lý thuyết. Năm 1986, ông cùng với các nhà Vật lý Nga đã được Nhà nước Liên Xô trao tặng Giải thưởng Lênin

Tháng 5/1993, nhà khoa học Trần Đình Long được bầu chọn làm viện sĩ nước ngoài của RAS, chuyên ngành Nông học. Giáo sư Trần Đình Long còn nổi tiếng là nhà lãnh đạo Hiệp hội Cựu Sinh viên Việt Nam của các trường Đại học Xô-viết (VINACORVUZ).

Năm 1999, triết gia, nhà vật lý-xã hội học Nguyễn Duy Quý, lúc đó đương chức Chủ tịch Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, nay là Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, và nhà hóa học Đặng Vũ Minh, lúc đó đương chức Chủ tịch Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, nay là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, đã trở thành viện sĩ nước ngoài của RAS. Dưới thời 2 nhà quản lý tổ chức khoa học này, mối liên hệ khoa học giữa Nga và Việt Nam đã phát triển đặc biệt tích cực.

Các nhà khoa học Việt Nam này đều là ngọn đuốc sáng và niềm tự hào của nền khoa học Việt Nam. Đồng thời, họ cũng là niềm tự hào của khoa học Nga, vì hầu hết đều từng theo học ở Liên Xô./.

(Vietnam+)


Hoàng Kim
xúc động đọc thư thầy Mai Văn Quyền (kèm theo) và nhắn tin trả lời Thầy

Thưa Thầy. Thầy Quyền thâm canh lúa NGƯỜI THẦY TRONG TIM EM. Thầy cho em Kim được lưu những dòng này vào nơi vừa riêng tư nhưng cũng là Bài học lớn muôn đời để lắng đọng lại. Bạch Ngọc Hoàng Kim đối thoại với thiền sư @Jim Rohn có nghe nói: “Hãy canh gác cánh cửa TÂM TRÍ. Chúng ta trở thành thế nào chủ yếu được quyết định bởi những người chúng ta gặp, những sự kiện chúng ta tham gia, những cuốn sách chúng ta đọc, và lối sống mà chúng ta lựa chọn”. Trãi nghiệm sâu sắc nhất của chính mình là di sản giá trị nhất mà mình trao truyền lại. Em vừa trò chuyện với Lê Quý Kha : “Chúng ta đều lớn tuổi rồi Kha ơi. Theo ý kiến riêng mình, tốt nhất nên làm ba việc chính : 1) Bảo trọng sức khỏe #annhiên #Thungdung; 2) Tư vấn thực tiễn cây lương thực nông nghiệp sinh thái giáo dục 3) Tích lũy các bài học tâm đắc nhất về #vietnamhoc đất nước con người tinh hoa. Chúc vợ chồng bạn và cả nhà luôn vui khỏe. Thật trân quý tình bạn; Ước hội ngộ ở Viện nhân dịp IAS ĐƯỜNG TỚI TRĂM NĂM https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ias-duong-toi-tram-nam/.

Thành kính tiễn biệt Thầy
Giáo sư Nguyễn Ngọc Kính
Cụ Xuân Thủy đón đợi
Hoàng Thành mãi trong tim


_____________________________
“Tay nâng hòn đất lặng yên
Để nguyên là đất cất lên là nhà”

Thương người lại ngẫm đến ta
Dẫu rằng trúc cháy vẫn là tre xanh
Thân gầy áo cộc phong phanh
Thời nghèo ngậm ngãi để dành phận con

Nhọc nhằn “Cát trắng” “Bụi” son
“Về làng” nhớ “Cuốc đất đêm” “Trăng rằm”

xem tiếp https://khatkhaoxanh.wordpress.com/category/cat-bui-chuyen-tram-nam. Gương sáng phúc hậu tân tâm của Thầy Cô trong mắt của vợ chồng em, các con em, và người thân của em, mãi là bài học lớn. Năm tháng đi qua chỉ tình yêu ở lại

ƠN THẦY

Cha ngày xưa nuôi con đi học
Một nắng hai sương trên những luống cày
Trán tư lự, cha thường suy nghĩ
Phải dạy con mình như thế nào đây?

Cha mất sớm, bom thù rung mặt đất
Cái chết giằng cha ra khỏi tay con
Mắt cha lắng bao niềm ao ước
Vẫn lo cho con đến phút cuối cùng

Giặc giết cha, cha chưa kịp thấy
Tương lai con đi, sự nghiệp con làm
Cha có biết, luống cày cha bỏ dỡ
Cha ngã xuống rồi trao lại tay con

Trên luống cày này, đường cày con vững
Bởi có dáng thầy thay bóng cha xưa
Hiểu mảnh đất máu đào cha nhuộm đỏ
Thôi thúc tim con học tập phút giờ

Hoàng Kim

Khác với nhiều con sông trên đất nước Việt Nam, sông Nhật Lệ chảy qua TP Đồng Hới, Quảng Bình, bắt nguồn từ chân Trường Sơn. Sông hợp lưu của sông Kiến Giang, chảy qua lưu vực huyện Lệ Thuỷ trù phú, rộng lớn và sông Đại Giang, qua mấy xã miền Tây huyện Quảng Ninh, rồi với 12km, bất thần từ Quán Hàu phía Nam, nó thẳng đứng, tuôn tả về hướng Bắc, rồi đổ ra cửa biển. Cho đến bây giờ, các nhà nghiên cứu vẫn chưa ngớt lời tranh luận hai từ “Nhật Lệ” có nghĩa nguồn từ đâu.

Nhớ Ông Bà Cậu Mợ
Xưa cháu qua nơi ấy
Nay hình như khói sương
Phục tài hoa thơ ảnh
Cậu Út Hoàng Gia Cương
Cháu Hoàng Kim kính Cậu.

THẦY VĂN HỒ NGỌC DIỆP Hoàng Kim Vượt tám mươi xuân Thầy vẫn khỏe Văn chương lá Ngọc biếc xanh đời Quảng Bình quê Mẹ giàu trung hiếu Lời Thầy tình nghĩa Biển Hồ thơi. Biển nhớ nơi nao Người lắng sóngBờ thương chốn cũ Bác trông thuyềnBảo như trường kiếm xô sông dạtNinh Hải Thung Nham níu núi thiền.** Núi Thần Đinh Quảng Bình: nhớ biển bờ Bảo Ninh lên Long Đại núi Thần Đinh thăm đỉnh thiền. Hoàng Kim may gặp truyện kể của Thầy Hồ Ngọc Diệp, xin lưu lại điều tâm đắc. Thầyvăn Hồ Ngọc Diệp gửi cho Hoàng Kim bài thơ TẶNG BÁO QUỐC GIA của Chủ
tịch Hồ Chí Minh viết năm 1946: “Tết này mới thật tết dân ta / Mấy chữ chào mừng báo quốc gia / Độc lập đầy vơi ba cốc rượu / Tự do vàng đỏ một rừng hoa / Muôn nhà đón tiếp xuân dân chủ / Cả nước hoan nghênh phúc cộng hòa / Ta chúc nhau rồi,ta nhớ chúc / Những người chiến sĩ ở phương xa”. Thầy Diệp kể: “Bác Hồ chúc xuân trên báo Tết đã có nhiều người viết lắm. Nhưng tôi thấy chưa có ai viết về bài thơ chúc Tết của Bác Hồ viết sau Tết năm Độc Lập của dân tộc (1946). Bác đã viết bài thơ
chúc Tết năm đó theo đơn đặt hàng trân trọng và khẩn thiết cho một tờ báo tư nhân ở Hà Nội, đó là báo ” QUỐC GIA” do bà Ngô Thị Thoa, sau đó là ông Nguyễn Xuân Thiều làm chủ bút. Bản thảo được một vệ sĩ của Bác mang tận nơi trao cho tổng biên tập. Phong bì là một tờ giấy đã viết một mặt, còn mặt kia bỏ trống, người ta gọi là giấy loại. Còn bài thơ thì được viết mặt sau của một tờ lịch đã bóc bởi đã sang ngày. Bài thơ như trên đây. Báo Quốc Gia Tết đó “cháy tiệm” vì báo in mấy lần đều không đủ
bán cho khách hàng. Chủ tiệm báo còn chua dưới bài là tác giả đã gửi đến tòa soạn bài viết trên mặt sau một tờ lịch ngày đã qua và phong bì đóng bằng một tờ giấy đã viết hết một mặt và đã bỏ đi. Đồng bào đọc bài thơ chúc Tết đầy tính cách mạng của Bác Hồ và thấm thía đức tính giản dị và tiết kiệm của Người.
“. Thầy văn Hồ Ngọc Diệp viết tiếp: “Tôi đã gửi bài viết này cho báo văn nghệ Tuyên Quang và báo tết Qúy Mão
Tuyên Quang đã đăng in bài viết của tôi. Hôm nay tôi mới nhận được báo biếu và một triệu nhuận bút mà tòa báo gửi về. Kính cảm ơn tòa báo

Thành kính tiễn biệt cụ Lại Tấn Chuyên. Kính Thầy văn Hồ Ngọc Diệp bảo trọng sức khỏe. Tôi (HK) lặng người xúc động, xin kính Thầy HND lưu lại tấm ảnh này của Thầy với cụ Lại Tấn Chuyên (người hát bè trầm chèo thuyền trên sông Nhật Lệ với mẹ Suốt ) cùng lời thương cảm nhận lưu lại ‘dấu vân tay’ của Thầy. 

Hồ Ngọc Diệp ··

Tác giả

Ngồi cạnh tôi là ông Lại Tấn Chuyên ( người chèo đò với mẹ Suốt năm xưa) ông ấy đã về cõi vĩnh hằng hôm 17-7-2026
Người hát bè trầm
Dòng sông và tuổi thơ

Chào ngày mới 16 tháng 7
TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM

Ngày 16 tháng 7 năm 1790 Tổng thống Hoa Kỳ George Washington đã ký đạo luật dinh cư, chọn một địa điểm ven sông Potomac làm thủ đô của liên bang, nơi này về sau trở thành Washington, D.C. Ngày 16 tháng 7 năm 1790 được chọn là ngày thành lập thủ đô Washington Hoa Kỳ với .các hình ảnh biểu tượng tiêu biểu thủ đô Washington là Đại học Georgetown; tòa Quốc hội Hoa Kỳ; tượng đài Washington; tượng đài tưởng niệm nội chiến người Mỹ gốc châu Phi và đền Quốc gia. Ngày 16 tháng 7 năm 2016 Quốc hội Việt Nam truy tặng nhạc sỹ Văn Cao, tác giả Quốc ca Việt Nam, huân chương Hồ Chí Minh. Ngày 16 tháng 7 năm 1969, chuyến bay Apollo 11, lần đầu tiên đưa con người lên bề mặt Mặt Trăng.

Bài chọn lọc ngày 16 tháng 7: Châu Mỹ chuyện không quên; Truyện George Washington; Câu chuyện ảnh tháng Bảy; Vị tướng của lòng dân; Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung; Ngôn ngữ văn hóa Việt; Nông nghiệp sinh thái Việt; Câu cá bên dòng Sêrêpôk; Đến Neva nhớ Pie Đại Đế; Nước Lào một suy ngẫm; Sông Volga và sông  Neva; Từ Mekong nhớ  Neva; Thông tin tại https://hoangkimvn.wordpress.com/http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-16-thang-7/https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-16-thang-7/

Chào ngày mới 15 tháng 7
TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM

Neva là dòng sông mẹ lớn thứ hai chảy qua thành phố Sankt Peterburg thủ đô phương Bắc của nước Nga Ngày 15 tháng 7 năm 1240, trên sông Neva quân Nga Novgorod dưới quyền danh tướng Aleksandr Nevsky đã đánh bại quân Thụy Điển. Ông là vị tướng anh hùng dân tộc Nga, đứng đầu trong danh sách 12 danh tướng vĩ đại nhất của nước này. Ngày 15 tháng 7 năm 1799, binh sĩ Pháp phát hiện ra Phiến đá Rosetta là tấm bia Ai Cập cổ đại ba ngôn ngữ, chìa khóa vô giá để hiểu ngôn ngữ tượng hình Ai Cập, ở gần thành phố cảng Rosetta thuộc Ai Cập. Ngày 15 tháng 7 năm 1904 là ngày mất Sêkhốp Antôn Paplôvich nhà vǎn nổi tiếng Nga.

Bài chọn lọc ngày 15 tháng 7: #vietnamhoc, #Thungdung; Đến Neva nhớ Pie Đại Đế; Càu hiếu nối bờ thương, Sông Thương; Câu chuyện ảnh tháng Bảy; Câu cá bên dòng Sêrêpôk; Nơi hợp lưu Đông Dương; Sông Volga và sông Neva; Từ Mekong nhớ Neva; Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung; Nông nghiệp sinh thái Việt; Thông tin tại https://hoangkimvn.wordpress.com/http://fa,hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-15-thang-7/https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-15-thang-7/

Bạn gặt gì hôm nay?

GIA CÁT MÃ TIỀN KHÓA

Truyện Tam Cố Thảo Lư
Thành tâm với chính mình
Thế giới trong mắt ai
Gia Cát Mã Tiền Khóa

“Mơ màng ai tỉnh trước
Bình sinh ta biết ta
Thềm tranh giấc xuân đẫy
Ngoài song bóng xế tà”
1


Khổng Minh thơ ngôn chí
Nhân kiệt đất Long Trung
Công thành thân thoái ẩn
Ngũ Trượng sao lạnh lùng.


Công trùm thế tam phân,
Tiếng thơm đồ bát trận.
Nước chảy đá trơ trơ,
Đánh Ngô còn để giận”
2


Thiên Địa Nhân Tam Hợp
Cổ kim khéo luận bàn
Thế lớn tan rồi hợp
Hợp lâu rồi lại tan


Gia Cát Mã Tiền Khóa
Sáu chuyện đời khó quên:
Minh quân và danh tướng3
Gia đình với non sông4


Quy luật kết thực tiễn5
Hậu duệ của mặt trời 6
#Thungdung và biết đủ7
Thành bại với sống còn8

Quốc Công đạo làm tướng
Tiết Chế đức dụng nhân
Trúc Lâm Trần Nhân Tông
Lời dặn của Thánh Trần


An vui cụ Trạng Trình
Nguyễn Trãi Dục Thúy Sơn
Nguyễn Du trăng huyền thoại
Đi thuyền trên Trường Giang

Đường xuân theo chân Bác
Cuối dòng sông là biển
Bài ca nhịp thời gian
Ban mai chào ngày mới


Ngược gió đi không nãn
Rừng thông tuyết phủ dày
Ngọa Long Cương đâu nhỉ
Đầy trời hoa tuyết bay


Hoàng Kim

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/gia-cat-ma-tien-khoa/ & https://hoangkimvn.wordpress.com/tag/thanh-tam-voi-chinh-minh/https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thanh-tam-voi-chinh-minh/

Tài liệu trích dẫn chính

“Tận nhân lực tri thiên mệnh”
Cổ ngữ tinh hoa Việt

Gia Cát Mã Tiền Khóa
THÀNH TÂM VỚI CHÍNH MÌNH
An vui cụ Trạng Trình
Thế Giới Trong Mắt Ai

Kim Notes lắng ghi chú (*)

Mười bốn năm xuống núi
Nhớ ngày lên non thiêng
Thương lời Thầy tỉnh thức
#Thungdung một giấc thiền
.

Ai dấn thân khổ lụy
Ta ước tròn nhân duyên
Công quả lành phước thiện
Đức lớn nuôi chí bền
.

Long Hồ thư sinh lão
Phượng Các học sĩ thần
Hoàng Phủ Chân Quân Truyện

Thành Ý Bền Nghiệp Duyên

Non Xanh Chùa Trấn Quốc
Hồ Rào Đá Thần Đinh
Tề Pháp Kim Long Đỉnh
Bát Trận Đồ Trúc Lâm

Gió Lộng Xoay Thái Cực
Thánh Linh Chuông Trống Trời
Tam Tuyến Bắc Đẩu Trận
Thiên An Dấu Huyền Môn


Sắn Khoai Ngon Cõi Bụt
Mình Về Đây Dâng Hương
Lều Tranh Bên Chùa Núi
#Annhiên Vui Đời Thường

Thành Tâm Với Chính Mình

Dạo Chơi Chùa Thần Đinh
Hoàng Long và Hoàng Kim


Bớt sáng được phước lộc
Tỉnh thức cùng tháng năm
Tam Quốc nhàn đọc lại
Thành tâm với chính minh

xem tiếp
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nui-than-dinh-quang-binh thông tin tích hợp tại TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM #htn, #hoangkimlong, #banmai #vietnamxahoihoc, #htn365, #ana, #dayvahoc, #vietnamhoc, #cnm365#cltvn #Vietcassava, https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thanh-tam-voi-chinh-minh

Danghuong

THÀNH TÂM VỚI CHÍNH MÌNH

Lời dặn của Thánh Trần
Quốc Công đạo làm tướng
Tiết Chế đức dụng nhân
An vui cụ Trạng Trình


Hoa Lúa giữa Đồng Xuân
Thiền Sư Lão Nông Tăng
Quả tốt bởi nhân lành
Hoa Mai thơ Thiệu Ung

Đào Duy Từ còn mãi
Gia Cát Mã Tiền Khóa
Truyện Tam Cố Thảo Lư
Thành tâm với chính mình


“Mục đích sau cùng của DẠY VÀ HỌC là thấu suốt bản chất sự vật, có lời giải đúng và LÀM được việc”. Giáo dục trên nền tảng tinh hoa sự thật tín nghĩa công chính Việt Nam và Thế giới, lưu ý những bài học lịch sử ảnh hưởng sâu đến đức tin, đạo đức, văn hóa Việt. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thanh-tam-voi-chinh-minh/ #vietnamhoc #cnm365

LỜI DẶN CỦA THÁNH TRẦN
Hoàng Kim
Quốc Công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn mất ngày 20 tháng 8 âm lịch năm 1300. Người được dân Việt tôn kính gọi là Đức Thánh Trần và thường dâng lễ tạ ơn sớm từ 20 tháng 8 dương lịch đến ngày lễ chính. Vua Trần Anh Tông lúc Đức Thánh Trần sắp lâm chung có ân cần ngự tới nhà thăm, hỏi rằng: “Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào?”. Đức Thánh Trần  trả lời: “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy”. Nguyên văn: “Ngày xưa Triệu Vũ Đế (tức Triệu Đà) dựng nước, vua nhà Hán cho quân đánh, nhân dân làm kế thanh dã (vườn không nhà trống), đại quân ra Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, Hồ Nam, còn đoản binh thì đánh úp phía sau. Đó là một thời. Đời nhà Đinh, nhà Tiền Lê dùng người tài giỏi, đất phương nam mới mạnh mà phương bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên dưới một dạ, lòng dân không lìa, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống. Đó lại là một thời. Vua nhà Lý mở nền, nhà Tống xâm phạm địa giới, dùng Lý Thường Kiệt đánh Khâm, Liêm, đến tận Mai Lĩnh là vì có thế. Vừa rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây. Vì vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc phải bị bắt. Đó là trời xui nên vậy. Đại khái, nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản binh chế trường trận là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như các tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được. Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy” * (Đại Việt sử ký toàn thư tập 2 trang 76 -77).

Trần Hưng Đạo giành chiến thắng trước quân Nguyên trên sông Bạch Đằng, kết thúc chiến tranh Nguyên Mông – Đại Việt lần 3 vào ngày 9 tháng 4 năm 1288, tức 8 tháng 3 năm Mậu Tý. Sau ba lần thắng giặc, đất nước thanh bình, ông lui về Vạn Kiếp và mất ngày 20 tháng 8 năm 1300 tại vườn An Lạc. Đền Kiếp Bạc ( Hải Dương) là nơi đền thờ chính của đức Thánh Trần.

Chùa Thắng Nghiêm (Hà Nội) nơi Trần Hưng Đạo lúc nhỏ tu học, là nơi Người hiển thánh.

Đức Thánh Trần gương soi kim cổ

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là nhà chính trị, quân sự, nhà văn kiệt xuất thời nhà Trần. Chiến công kiệt xuất đánh bại quân đội nhà Nguyên năm 1285 và 1287 đã đưa Đức Thánh Trần thành đại danh tướng lừng lẫy nhất của thế giới và Việt Nam. “CHỌN TƯỚNG” là một chương trong Binh thư Yếu lược của Trần Quốc Tuấn, kiệt tác súc tích và sâu sắc lạ lùng.

“Người quân tử tiến thoái quả quyết, xem người thì thanh thản vui tươi, chí thì ở trừ tàn bạo, đó là khí độ của người tướng quốc. Thấy ác không giận, thấy lành không mừng, nhan sắc không thay đổi, đó là lượng của người thiên tử.

Được sự thắng nhỏ, gặp sự thua nhỏ, mà mừng lo hình ra nét mặt, hễ thấy động thì động, thấy tĩnh thì tĩnh, nhát mà không tính toán gì, cất chân thì thần sắc không định, mà hay lấy lời nói để thắng người, đó là tướng ngu vậy.

Bảy phép để biết người:

1. Hỏi bằng lời nói xem trả lời có rõ ràng không
2. Lấy lời cật vấn đến kỳ cùng để xem cách ứng biến của họ.
3.  Cho gián điệp thử xem có trung thành không.
4. Hỏi rõ ràng tường tất để xem đức hạnh thế nào.
5. Lấy của mà thử để xem có thanh liêm không
6. Lấy sắc đẹp mà thử để xem có đứng đắn không.
7. Lấy việc khó khăn mà thử để xem có dũng cảm không.
8. Đem rượu cho họ uống say để xem có giữ được thái độ không.

Tướng ngu có tám điều tệ:

1. Lòng tham mà không chán
2. Ghen người hiền, ghét người tài
3. Tin lời dèm pha, thích lời nịnh hót
4. Xét người mà không xét mình
5. Do dự không quả quyết
6. Say đắm rượu và sắc đẹp
7. Thích xảo trá mà lòng nhút nhát
8. Nói lời viễn vông mà không giữ lễ

Gia Cát Lượng sách Tướng Uyển chỉ bảy phép biết người.

Biết tính tình của người, chẳng gì khó bằng xem xét, lành dữ tuy khác nhau, tính tình và vẻ mặt chẳng phải một: có kẻ thì ôn hoà, hiền lành nhưng làm việc trộm cắp;có kẻ bề ngoài thì cung kính nhưng trong bụng thì vô lễ, dối trá; có kẻ bề ngoài thì mạnh dạn nhưng trong bụng thì khiếp sợ;có kẻ làm việc tận lực nhưng bụng không trung thành;

Bảy phép sau đây để biết người

1. Hỏi việc phải trái để dò chí hướng;
2. Lấy lời cật vấn để biết ứng biến;
3. Đem mưu kế hỏi để lường kiến thức;
4. Giao chuyện hiểm nguy để soi dũng cảm;
5. Mời rượu cho uống say để xét tính tình;
6. Đưa lợi gái thử để rõ thanh liêm chính trực;
7. Đem việc cậy nhờ để xét sự trung thành, tin thật.

Tám hạng tướng và bậc đại tướng

Nhân tướng là người dùng đức để đem đường cho người, dùng lễ để xếp việc cho họ, hiểu thấu sự đói rét của người dưới, biết rõ khó nhọc của đồng sự, đó là nhân tướng.

Nghĩa tướng là người làm việc không cẩu thả, thấy lợi mà không tham, biết chết vinh hơn sống nhục.

Lễ tướng là người có địa vị cao quý mà không kiêu căng, công hơn người mà không cậy, tài năng mà biết hạ mình, cứng cỏi mà biết nhẫn nhịn.

Trí tướng là người gặp biến bất ngờ mà chí không đổi, ứng phó linh hoạt với việc khó khăn, có thể đổi họa thành phúc, gặp cơn nguy biến mà sắp đặt thành thắng thế.

Tín tướng là người thưởng phạt nghiêm minh công bằng, khen thưởng không chậm trễ và không bỏ sót, trừng phạt không buông tha cho kẻ cao quý.

Bộ tướng thủ hạ của đại tướng phải chọn người tay chân lẹ làng, võ nghệ tuyệt luân,  giỏi đánh gần, ứng biến di chuyển mau lẹ, để bảo vệ an toàn cao nhất cho chủ soái.

Kỵ tướng là người có thể vượt núi non cheo leo, từng trải việc nguy hiểm, cưỡi ngựa bắn tên mau lẹ như chim bay, tới thì đi trước, lui thì về sau.

Mãnh tướng là người khí thế vượt hẳn ba quân, dám coi thường địch mạnh, gặp đánh nhỏ vẫn luôn cẩn trọng, gặp đánh lớn thì can đảm quả quyết.

Bậc đại tướng là người bao trùm và vượt hẳn tám hạng tướng kể trên, gặp hiền tài thì tôn trọng lắng nghe, biết tỏ ý mình không theo kịp người, biết nghe lời can ngăn như thuận theo dòng nước, lòng rộng rãi nhưng chí cương quyết, giản dị và nhiều mưu kế.”

Vạn Kiếp tông bí truyền thư (萬劫宗秘傳書) của Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương, tác phẩm này còn gọi là Vạn Kiếp binh thư đã thất truyền. Bài tựa của Trần Khánh Dư trong cuốn sách này giải thích bí truyền đại sư là người thế nào:

“Phàm người khéo cầm quân thì không cần bày trận, khéo bày trận thì không cần giao chiến, khéo giao chiến thì không thể thất bại, khéo thất bại thì không thương vong. Xưa kia, Cao Dao làm chức sĩ sư mà mọi người không dám trái mệnh, Văn Vương và Vũ Vương nhà Chu là bậc thầy về văn và về võ, ngấm ngầm sửa đức để khuynh loát quyền bính của nhà Thương mà lấy nghiệp vương. Đó đều có thể gọi là những người giỏi cầm quân, không cần bày trận vậy. Vua Thuấn múa lá mộc và lông trĩ mà họ Hữu Miêu tự mình tìm đến, Tôn Vũ nước Ngô đem mỹ nhân trong cung thử tập trận mà phía tây phá nước Sở hùng cường, phía Bắc ra uy với nước Tần nước Tấn, nổi tiếng khắp chư hầu. Đó đều có thể gọi là những người giỏi bày trận, không cần giao chiến vậy. Cho đến Mã Ngập nước Tấn dựa vào bát trận đồ chuyển đánh nghìn dặm, phá được Thụ Cơ Năng mà lấy lại Lương Châu. Thế gọi là người giỏi giao chiến không bao giờ thất bại vậy.Cho nên, trận nghĩa là bày ra, là khéo léo. Ngày xưa, vua Hiên Viên lập ra phép “tỉnh điền” để đặt binh chế, Gia Cát Lượng xếp đá bên sông để làm bát trận, Vệ công sửa lại làm trận Lục Hoa, Hoàn Ôn định ra trận Xà Thế, trước sau đều có trận đồ nổi tiếng, trình bày tuần tự, thành phép tắc rõ ràng. Nhưng người đương thời ít ai thông hiểu, muôn vàn đầu mối nhìn vào dường như rối loạn, chưa từng nắm được lẽ biến dịch bên trong. Ví như những phép tắc và suy luận của Lý Thuyên, người sau không ai hiểu nghĩa là gì. Vì thế, Quốc công ta bèn so sánh, kê cứu trận đồ và binh pháp của các nhà, tổng hợp lại thành một bộ sách. Tuy chép cả những điều chi tiết, nhưng người sử dụng thì nên bỏ bớt những chỗ rườm, tóm lấy thực chất. Rồi lấy năm hành ứng với nhau, chín cung câu với nhau, phối hợp cương và nhu, xoay vần chẵn và lẽ, không làm hỗn loạn âm dương và thần sát, phương lợi và sao tốt, hung thần và ác tướng, ba cát và năm hung, việc nào việc ấy thực phân minh rõ rệt. Quốc công lại còn thêm bớt với chiến thuật của thời Tam đại, nhờ đó trăm trận trăm thắng. Cho nên đương thời phía bắc làm cho Hung Nô phải sợ, phía tây làm cho Lâm Ấp phải kinh. Rồi ông đem sách này dạy bảo con em làm gia truyền, không tiết lộ cho người ngoài biết. Lại có lời dặn rằng: “Sau này con cháu và bề tôi phò tá của ta có học được bí thuật này thì nên lấy đầu óc sáng suốt, linh hoạt mà thực hành và sắp đặt nó, chứ không nên lấy đầu óc cứng nhắc, tối tăm mà cất giữ và lưu truyền. Nếu trái điều đó thì sẽ mang vạ vào thân, lại hại lây đến cả con cháu. Đó gọi là tiết lậu cơ trời vậy.”

Bài tựa của Trần Khánh Dư cho Vạn Kiếp tông bí truyền thư, còn như sách Binh thư yếu lược mà người đời ngờ rằng bản thật đã bị cướp và thất lạc, đời sau chỉ có chân truyền lời này.

Chùa Thắng Nghiêm (Hà Nội) nơi Trần Hưng Đạo lúc nhỏ tu học, là nơi Người hiển thánh.

Ôi, đọc lại “Binh Thư Yếu lược” “Hịch Tướng Sĩ Văn” và Vạn Kiếp tông bí truyền thư, gương soi kim cổ, lắng nghe cuộc sống, để biết sửa mình;

TRẠNG TRÌNH NGUYỄN BỈNH KHIÊM
Hoàng Kim


Thảnh thơi chơi cùng cụ Trạng
Thanh nhàn cùng với tháng năm
Bà và cháu vui chuyện bé
Thầy thì thong thả nấu cơm …


Ngày mới trông thời đoán tiết
Xuân vui trước ngõ chưa tàn
Phải đợi Hạ về Thu tới
Mới hòng Đông đến Xuân sang


Mùa xuân lộc vừng thay lá
Cây đời mầm mới thêm xanh
Nắng sớm ấm dấn trước ngõ
Tiếng chim ríu rít đầy vườn


Ban mai vui cùng cụ Trạng
An nhàn vô sự là tiên (*) .


(*) “Liên Mậu Kỷ Canh Tân
Can qua sinh sát biến”
“Bốc đắc Càn thuần quái
Sơ cửu thoái tiềm long
Ngã bát thế chi hậu
Can qua khởi trùng trùng”


Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585) là nhà giáo, nhà tiên tri, nhà thơ triết lý, nhà văn hoá lớn của thời Lê -Mạc, bậc kỳ tài yêu nước thương dân, xuất xử hợp lý, hợp thời, sáng suốt. Bài tựa về Trạng Trình của tiến sĩ Vũ Khâm Lân có vị trí trọng yếu để tìm hiểu thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tác phẩm được viết năm 1743 cho tập gia phả dòng họ Trạng Trình sau khi cụ Trạng đã mất khoảng 158 năm. Áng văn xuất sắc này là viên ngọc rất quý của người xưa để hiểu và đánh giá đúng về thân thế và sự nghiệp của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Hoàng Kim duyên may sưu tầm được một số sách và tư liệu quý về Người, đã tuyển chọn và biên soạn thư mục CNM365 “Ngày xuân đọc Trạng Trình” để hàng năm bổ sung hoàn thiện, hổ trợ dạy và học gồm: 1) Nguyễn Bỉnh Khiêm tìm trong gia phả; 2) Nguyễn Bỉnh Khiêm trên bách khoa thư; 3) Sấm Trạng Trình bản A 262 câu ; 4) Biển Đông vạn dặm giang tay giữ; 5) Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm; 6) Thầy bạn Nguyễn Bỉnh Khiêm; 7) Hậu duệ và học trò Trạng Trình; 8) Giai thoại về Trạng Trình; 9) Nguyễn Bỉnh Khiêm trí tuệ bậc Thầy.

Vũ Khâm Lân còn có tên là Vũ Khâm Thận, sinh năm 1702 tại làng Ngọc Lặc, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Ông đỗ tiến sĩ năm 1727 làm quan đến chức Tham tụng, Ngự Sử đài, tước Ôn Quận công. Bài tựa này được chép trong quyển “Công Dư Tiệp Ký” (Những chuyện ghi nhanh trong lúc rãnh việc quan) của Vũ Phương Đề, cuốn 3, tờ 166- 175. Quyển “Công Dư Tiệp Ký” là của Vũ Phương Đề do vậy có người nghi vấn tác giả bài tựa này là Vũ Phương Đề, sinh năm 1697, người làng Mộ Trạch, huyện Đường An, nay là Bình Giang, Hải Dương, đỗ tiến sĩ năm 1736. Căn cứ trên văn bản thì tác giả “Bài tựa” này là của Vũ Khâm Lân mà Vũ Phương Đề là người chép lại. “Bài tựa” này tuyển chọn từ trích dẫn của nhà nghiên cứu Phạm Đan Quế năm 2000. Bản dịch tại quyển “Bạch Vân Quốc ngữ Thi tập” của Nguyễn Quân, nhà xuất bản Sống Mới – Sài Gòn năm 1974. Đây là một văn bản quý đã trải qua sự sàng lọc của thời gian 277 năm (1743- 2020). Nguồn tư liệu chuẩn mực, tin cậy với những dẫn liệu chọn lọc và xác thực, lời văn chặt chẽ, súc tích, khoáng đạt.

NGUYỄN BỈNH KHIÊM TÌM TRONG GIA PHẢ
Bài tựa Nguyễn Công Văn Đạt phổ ký Tiến sĩ Vũ Khâm Lân viết năm 1743
Trích Gia phả dòng họ Trạng Trình
xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/2026/07/14/gia-cat-ma-tien-khoa/

Hoàng Kim

HOÀNG TỐ NGUYÊN TIẾNG TRUNG
黄素源 (越南) Hoàng Tố Nguyên Việt Nam
Dạy và học tiếng Trung trực tuyến
#htn Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung https://hoangkimvn.wordpress.com/category/hoang-to-nguyen-tieng-trung/https://hoangkimlong.wordpress.com/tag/hoang-to-nguyen-tieng-trung. Bài học mới mỗi ngày https://hoangkimvn.wordpress.com/ & https://youtu.be/J8FkhuHfvoI

Xây dựng học liệu mở #htn #vietnamxahoihoc #cnm365 #dayvahoc #vietnamhoc, #cltvn Việt Nam xã hội học (越南社会学; Vietnamese Sociology) Ngữ văn Việt Trung đối chiếu là môn học bảy bài Xã hội Việt Nam ngày nay; Nông nghiệp sinh thái Việt; Ngành nghề ở Việt Nam; Vùng sinh thái Việt Nam; Du lịch sinh thái Việt; Nước Việt Nam ngày nay; Việt Nam con đường xanh với 36 tiểu mục, là sách học Việt Trung.

Bài 1 Xã hội Việt Nam ngày nay có 5 tiểu mục:1.1 Việt Nam một khái quát; 1.2 Việt Nam con đường xanh; 1.3 Việt Nam tâm thế mới;1.4 Việt Nam sáng tạo KHCN; 1.5 Việt Nam dư địa chí Việt Nam xã hội học bách khoa mở 越南社会学开放百科全书 Vietnam Sociology Open Encyclopedia tích hợp thông tin mới trên cấu trúc Việt Nam xưa và nay để bổ sung Ngữ văn Việt Trung đối chiếu phục vụ học tập giảng dạy nghiên cứu

#htn365 BÌNH MINH AN TRUNG ANH
#hga365 @hoangkimvn https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana

https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana

ĐẾN NEVA NHỚ PIE ĐẠI ĐẾ
Hoàng Kim
Vonga và Neva là những con sông huyết mạch của nước Nga mà tôi từ lâu chưa được trở lại, nhưng dòng chảy thao thiết sinh tử của Neva cứ len lõi mãi trong tâm thức triết học của mình. Sông Neva được ví như dòng sông Hồng, sông Mekong, sông Đồng Nai, sông Kỳ Lộ, sông Linh Giang, sông Thương, sông Bạch Đằng, sông Mã, sông Lam, sông Hương, … và biết bao dòng sông sinh tử của quê hương Việt Nam, mà chạm vào nó là chạm thấu những bài học lớn. Ai may mắn trãi nghiệm sẽ thấm hiểu lời Trịnh Công Sơn lắng đọngTôi vốn thích triết học và vì thế tôi muốn đưa triết học vào những ca khúc của mình. Một thứ triết học nhẹ nhàng mà ai ai cũng có thể hiểu được như ca dao hoặc những lời ru con của mẹ. Triết học Việt Nam có đó nhưng không được hệ thống hóa vì nó bàng bạc trong đời sống nhân gian.“. Mấy hôm nay Mỹ và NATO đang lôi kéo Thụy Điển nhập cuộc, coi đó là một thắng lợi lớn, với nghiêng ngã của ‘người công chính’ Thổ Nhĩ Kỳ để trói chặt gấu Nga, trói chặt các hạm đội Ban Tích và Biển Đen. Câu chuyện dưới đây là bài học lớn muôn đời, tóm tắt lại cho những người ít thì giờ để có thể thấu suốt được mạch nhìn trong bao nhiêu uẩn khúc sự rối loạn của triết học địa chính trị lịch sử văn hóa .

Pie Đại Đế là người đã hiến trọn đời mình để sông Neva trở thành huyền thoại, Sankt- Peterburg trở thành cửa chính của nước Nga nhìn ra thế giới, nơi vùng đất bùn lầy, lạnh lẽo này của đêm trắng bình minh phương Bắc đã trở thành miền di sản.  Pie Đại Đế là nhân vật lịch sử vĩ đại nhất nước Nga, vượt cả Stalin và Lê Nin theo kết quả bình chọn của nhân dân Nga trong cuộc thăm dò ý kiến “Tên của nước Nga – Sự lựa chọn lịch sử năm 2008″ do kênh truyền hình Rossia cùng với Viện Lịch sử Nga thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga và Quỹ ý kiến xã hội tổ chức. Ông là kiến trúc sư của những thành tựu đặc biệt to lớn trong công cuộc hiện đại hóa đất nước, chuyển đổi mạnh mẽ một nước Nga lạc hậu, đi sau Tây Âu hàng trăm năm  vượt lên trở thành một trong năm đại đế quốc của châu Âu, chỉ  trong một thời gian ngắn. Pie Đại Đế có tố chất quân vương vừa cứng rắn vừa mềm dẻo, vừa nhiệt huyết kiên quyết, vừa bao dung mềm mỏng, vừa tàn nhẫn cứng rắn, vừa tình cảm ân nghĩa. Ông đã tạo nên bước ngoặt trong lịch sử nước Nga.

Pie Đại Đế là nhân vật lịch sử vĩ đại nhất nước Nga

Ông đã có những thành tựu đặc biệt to lớn trong công cuộc hiện đại hóa đất nước, chuyển đổi mạnh mẽ một nước Nga lạc hậu, đi sau Tây Âu hàng trăm năm  vượt lên trở thành một trong năm đại đế quốc của châu Âu, chỉ  trong một thời gian ngắn. Pie Đại Đế có tố chất quân vương vừa cứng rắn vừa mềm dẻo, vừa nhiệt huyết kiên quyết, vừa bao dung mềm mỏng, vừa tàn nhẫn cứng rắn, vừa tình cảm ân nghĩa. Ông đã tạo nên bước ngoặt  lịch sử nước Nga.

Pie đại đế sinh ngày 10 tháng 6 năm 1672 tại Moskva,  mất ngày  8 tháng 2 năm 1725 tại Sankt-Peterburg. Ông là Sa hoàng của nước Nga cũ và sau đó là Hoàng đế của Đế quốc Nga từ năm 1721, đồng cai trị với vua anh Ivan V, một người yếu ớt và dễ bệnh tật, trước năm 1696. Ông được tôn là Pyotr Đại Đế hay Pierre Đại Đế, Pie Đại Đế. Ông được xem là một trong những nhà cải cách kiệt xuất nhất trong lịch sử Nga.

Pie Đại Đế  đã tiến hành cuộc cải tổ lớn lao tại nước Nga Sa hoàng.Trong những năm 1697 – 1698 ông đi vòng quanh Tây Âu, học được những điều mới lạ ở đó và truyền vào Nga. Dưới triều ông, nước Nga có nền kinh tế phát triển và thành lập thể chế nghị viện. Trong việc xây dựng đất nước, Pie Đại Đế thường tham vấn những cố vấn tài ba người nước ngoài. Nhờ vậy, dưới triều đại không lâu dài của ông (1696 – 1725), nước Nga trở thành một đế quốc hùng cường trên thế giới thời đó, Hải quân Nga được thành lập. Người Nga đã có đủ sức giành chiến thắng trước hai cựu thù vào thời đó là đế quốc Ottoman và Thụy Điển,  tái chiếm các lãnh thổ đã mất và lấy đường thông ra biển. Năm 1703, ông hạ lệnh cho xây dựng thành phố Sankt-Peterburg. Chính tại đây, năm 1782 nước Nga đã hoàn thành việc xây cất tượng Pyotr I – tức tượng “Kị sĩ đồng”. Sankt – Peterburg trở thành một “thành Venezia của phương Bắc”, và trở thành kinh đô nước Nga vào năm 1712. Người Nga đã ca ngợi ông như một vị “Đại đế Ross toàn nước Nga”, hay “Cha của Tổ Quốc”.

Kết quả của cuộc thăm dò ý kiến nhân dân Nga “Tên của nước Nga – Sự lựa chọn lịch sử năm 2008″ do kênh truyền hình Rossia cùng với Viện Lịch sử Nga thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga và Quỹ ý kiến xã hội tổ chức. Kết quả đã bình chọn Pie Đại Đế là nhân vật lịch sử vĩ đại nhất nước Nga, kế đến là  Stalin, Le Nin, Nga hoàng Nikolai II và Nữ hoàng Elizaveta Petrovna được đánh giá là những nhà lãnh đạo kiệt xuất nhất lịch sử nước Nga. Điều đó  đã chứng tỏ những đánh giá của nhân dân Nga xuyên suốt một quá trình trải nghiệm lịch sử lâu dài.

Pie Đại Đế đã được sự  ngưỡng mộ đặc biệt của nhân dân Nga, sử gia và nhân dân  nhiều nước trên thế giới. Ông có công lớn  trong công cuộc xây dựng lực lượng hải quân, đội thương thuyền hàng hải và hiện đại hóa nước Nga, xây dựng Sankt-Peterburg, xây dựng hệ thống đường sá kênh đào vĩ đại, hoàn thiện cơ sở pháp luật, cải cách hành chính, lập nên Viện Hàn lâm Khoa học, thiết lập trường xóa mù chữ và dạy toán cấp cơ sở, trường kỹ thuật đào tạo thợ chuyên môn, xưởng in, nâng cao vai trò người phụ nữ,…

Pie Đại Đế là một vĩ nhân có tầm nhìn chiến lược sâu rộng, nhận thức đúng đắn và quyết tâm sắt đá cao độ để đi đến đích. Ông nung nấu hoài bão hiện đại hóa nước Nga nằm kề bên Tây Âu lúc ấy đã tiến bộ khá xa. Vua Pie Đại Đế đã  tự mình đóng một chiếc tàu và học cách điều khiển nó, tổ chức riêng cho mình một đội quân và tập trận thường xuyên để cuối cùng chuyển thành đội quân tinh nhuệ hơn hẳn lực lượng nòng cốt của triều đình. Ông tổ chức một phái bộ sứ thần đi Tây Âu để học hỏi và tuyển chọn nhân tài về giúp cho triều đình của mình. Ông vào vai thợ mộc học nghề ở Hà Lan để tự tay đóng một tàu chiến bắt đầu từ những súc gỗ thô sơ cho đến khi hạ thủy. Vua Pie đại đế sớm nhận ra nước Nga bao la không có hải quân mạnh, chỉ có đội thuyền đi đường sông, chỉ có một cảng biển thông ra thế giới trong sáu tháng mỗi năm; Vua Pie đại đế nhận thức được công dụng diệu kỳ của thuyền buồm có thể đi ngược gió, điều mà các loại thuyền bè của Nga hồi ấy không làm được. Ông đã quyết tâm xây dựng hải quân Nga và tạo dựng cảng biển từ tầm nhìn chiến lược sâu rộng đó.

Pie Đại đế là người quyết đoán và quyết tâm rất cao. Ông đã xây dựng thành phố Sankt-Peterburg bề thế từ bãi đầm lầy ngay cả trong những năm tháng chiến tranh, ngay cả khi vùng đất mới chiếm được từ Thụy Điển, chưa có hòa ước để hợp thức hóa là thuộc Nga vĩnh viễn. Ông ra lệnh tịch thu chuông nhà thờ để đúc đại bác phục vụ công cuộc chống ngoại xâm bất chấp giáo hội đầy quyền uy phản đối. Ông đòi hỏi các tầng lớp tăng lữ,quý tộc và thương nhân góp chi phí vào việc xây dựng hải quân, nếu ai không làm sẽ bị tịch thu gia sản, ai kêu nài sẽ phải đóng góp thêm. Ông ra lệnh đàn ông Nga phải cắt râu cho gọn và tất cả người Nga phải chuyển trang phục truyền thống sang kiểu gọn nhẹ , mục đích để dân Nga tăng năng suất làm việc. Ông thể hiện quyết tâm sắt đá giành đường giao thông hàng hải và căn cứ hải quân Nga bằng việc tranh đoạt Sankt-Peterburg thể hiện qua chính sách là có thể nhượng bộ Thụy Điển bất cứ điều gì, ngoại trừ trả lại Sankt-Peterburg. Quyết tâm này được lưu truyền mãi về sau, với kết quả là Sankt-Peterburg vẫn đứng vững trước các cuộc tấn công của vua Karl XII của Thụy Điển, cũng như của Hoàng đế Napoléon I của Pháp và Adolf Hitler của Đức Quốc xã sau này.

Pie Đại đế xác lập được quyền uy tuyệt đối vì rất biết trọng dụng nhân tài, cho dù họ là người Nga hoặc người nước ngoài. Ông ban hành luật theo ý muốn, ngay cả quyền xử tử hình bất cứ ai đi ngược lại ý ông. Trong một thể chế quân chủ lập hiến và một bối cảnh xã hội nước Nga trì trệ  thì chế độ độc đoán, hà khắc, đôi lúc tàn bạo của ông, có ý nghĩa cải tổ, tuy có làm mất đi một số giá trị truyền thống của xã hội Nga. Những tầng lớp thấp trong xã hội Nga, đặc biệt là nông dân, ít được hưởng lợi trực tiếp từ thành quả của ông, trái lại, họ còn khổ sở hơn vì phải trực tiếp hoặc gián tiếp chịu gánh nặng để xây dựng căn cứ hải quân, xây thành phố Sankt-Peterburg, chi phí cho cuộc chiến với Thụy Điển. Sự biện luận là khi nước Nga hùng cường thì đời sống nông dân Nga cũng được nâng cao hơn.

Pie Đại đế rất sâu sát thực tiễn và hiếu học. Ông đi viếng thăm đủ mọi nơi: nhà máy chế biến, xưởng cưa, nhà máy in, xưởng xe sợi, nhà máy giấy, xưởng cơ khí, viện bảo tàng, vườn thực vật, phòng thí nghiệm,… Ông đến thăm và hỏi han các kiến trúc sư, nhà điêu khắc, kỹ sư, nhà thiên nhiên học, người phát minh kính hiển vi, giáo sư giải phẫu học,… Ông học hỏi từ người hành nghề tầm thường nhất để biết cách vá quần áo của mình, đóng một đôi dép cho riêng mình, và còn tập tháo ráp đồng hồ. Ông luôn phân tích tại sao dân Nga quá nghèo và dân Tây Âu quá giàu khi thơ thẩn đi xem phố xá, chợ búa nước ngoại cho đến lúc nghiêm túc gặp các nhà khoa học, các nơi làm việc. Với một sự hiếu học hiếm thấy và sự tự do phóng khoáng trong suy nghĩ mà du học sinh Pyotr Mikhailov đã hiểu rất sâu về thực tiễn thuộc nhiều lĩnh vực :ngoại thương, cảng biển, đội thương thuyền,  tôn giáo…. để đúc kết thành chiến lược đồng bộ, tổng thể phát triển nước Nga.

Stalin rất ngưỡng mộ Pie Đại Đế. Trong “Điếu Ngư Đài quốc sự phong vân” những bí mật của nền ngoại giao Trung Quốc, do Lý Kiện biên soạn, Nhà Xuất bản Văn nghệ Thái bạch (Trung Quốc) ấn hành, NXB Văn hóa Thông tin năm 2003, có kể lại câu chuyện lịch sử: Đêm trước của cuộc nội chiến Quốc Cộng kéo dài hơn hai mươi năm, Tưởng Giới Thạch từng giữ mối quan hệ ngoại giao chính thức với Stalin đã dự cảm thầy Đảng Cộng sản Trung Quốc do Mao Trạch Đông đứng đầu sẽ trở thành đối thủ khó có thể chiến thắng được. Mẫn cảm và đa mưu, Tưởng Giới Thạch gọi con là Tưởng Kinh Quốc tới giao nhiệm vụ thay mặt ông giao hảo với Stalin (tương tự như quan hệ Trung Mỹ từ lâu ông đã giao độc quyền cho vợ ông là Tống Mỹ Linh). Tưởng Giới Thạch nói với Tưởng Kinh Quốc: ” Cha muốn mời Liên Xô đứng ra thử dàn xếp hộ quan hệ giữa cha và Mao Trạch Đông. Chỉ cần Trung Cộng hạ vũ khí, thống nhất mệnh lệnh hành chính, chúng ta và Mao Trạch Đông vẫn có thể là cộng sự được! Mao Trạch Đông không nghe cha, nhưng có thể lời nói của Stalin và người Liên Xô đối với họ ít nhiều cũng có tác dụng”. Cuối năm 1945, Tưởng Kinh Quốc sang Liên Xô gặp Stalin trong phòng làm việc ở điện Kremlin. Tất cả vẫn như cũ, duy chỉ có một điều hơi khác lần trước Tưởng Kinh Quốc diện kiến Stalin năm 1931 là “Ngày trước ở sau lưng bàn sách của Stalin treo một bức tranh sơn dầu Lê Nin đứng trên xe tăng kêu gọi nhân dân lao động” Bây giờ thì đổi là bức ảnh Pie Đại Đế. Lúc đầu Tưởng Kinh Quốc không hiểu, qua gợi mở của người thư ký Stalin, mới như bừng ra điều đại ngộ. Thì ra ”giờ khác, trước khác” thời thế đã biến đổi. Quả như dự liệu, Stalin muốn đứng trung lập giữa Tưởng và Mao để “tọa sơn quan hổ đấu”. Tưởng Giới Thạch sau lần đi đó của Tưởng Kinh Quốc đã tinh ý nhận biết sự chuyển hóa của đại cục, Tưởng chọn chiến lược ngã hẳn về Mỹ nên dù thua, vẫn neo được Đài Loan cho mãi đến tận ngày nay.

Pie Đại Đế, đến nay sau ba thế kỷ khi ông qua đời (1725-2015) , vẫn sừng sững  là một biểu tượng nhân vật lịch sử vĩ đại nhất nước Nga. Ông được những nhà khoa học, văn nghệ sĩ kiệt xuất và quảng đại quần chúng nhân dân tôn kính, ngưỡng mộ và ca ngợi nồng nàn. Pie Đại Đế cùng nữ hoàng Ekaterina II là hai người được Tổng thống Nga Vladimir Putin đề cao nhất trong lịch sử nước Nga.

Tài liệu về Pie đại đế được Wikipedia Tiếng Việt đúc kết  và Tình yêu cuộc sống thu thập giới thiệu trên trang TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim #htn #ana #Thungdung, #dayvahoc, #vietnamhoc, #đẹpvàhay, #cnm365 , #cltvn; Đến Neva nhớ Pie Đại Đế (Hình) và trang Chào ngày mới 27 tháng 5. Đây là ngày mà năm 1703, Pie đại đế khởi công xây dựng thành phố Sankt-Peterburg trên vùng đất bùn lầy, lạnh lẽo, sau này thành di sản văn hóa thế giới. Pie Đại Đế là nhân vật lịch sử được đông đảo người dân Nga tôn vinh là Đại Đế vĩ đại nhất nước Nga.

Sankt-Peterburg là thủ đô phương Bắc nước Nga

Sankt-Peterburg là thủ đô phương Bắc thành phố lớn thứ hai của nước Nga, đã được UNESCO công nhận là thành phố du lịch hấp dẫn thứ 8 của thế giới. Pie Đại đế nhân vật lịch sử vĩ đại nhất nước Nga sau khi đi học nước ngoài chợt bừng tỉnh ngộ khi hiểu ra vì sao nước Anh nhỏ bé lại làm bá chủ thế giới thời đó, chính vì nước Anh có đội thương thuyền hùng mạnh đi khắp toàn cầu, trong khi nước Nga mênh mông lại quẩn quanh nội địa, tự bằng lòng với giấc mơ con mà không thể có được vị thế như vậy.

Pie Đại Đế dốc sức cho Sankt-Peterburg  cửa chính nhìn ra thế giới, xây dựng một thành phố hải cảng hùng mạnh cho hải quân Nga. Ông đã dành trọn đời cho Sankt-Peterburg để biến giấc mơ Nga thành hiện thực, thành đại nghiệp lớn nhất đời ông.

Tôi đến thăm Sankt-Peterburg trong một chuyến đi ngắn ngày, ngắm nhìn tượng đài Pie Đại Đế và dòng sông Nê va cuộn chảy. Biết bao du khách say mê ngắm nhìn nét đẹp kiều diễm của thành phố Hoa hậu Thế giới; Thật ngưỡng mộ tầm nhìn của nhà chiến lược thiên tài đã chấn hưng dân tộc Nga. Đúng là niềm tự hào trân trọng của nước Nga. Tôi đã trãi lòng mình trong bài viết Đêm trắng và bình minh; Từ Mekong nhớ Neva; Pie Đại đế nhân vật lịch sử vĩ đại nhất nước Nga.

Sankt-Peterburg còn gọi là “Thành phố Thánh Phêrô”, là một thành phố liên bang của Nga, thành phố lớn thứ nhì ở Nga và cũng là cố đô của Đế quốc Nga. Đối với người Việt vào đầu thế kỷ 20 thì Sankt-Peterburg được phiên âm là Thành Bỉ Đắc như trong bài “Á Tế Á ca” của Phan Bội Châu.Sankt-Peterburg nằm trên một loạt đảo nhỏ trong châu thổ sông Neva; con sông này thông với Vịnh Phần Lan, tạo vị thế hải cảng cho Sankt-Peterburg.

Sankt-Peterburg có diện tích tự nhiên hơn 670 km², nếu tính cả vùng phụ cận khoảng .439 km², dân số khoảng  4,7 – 6,0 triệu người. Địa danh Sankt-Peterburg đã đổi tên nhiều lần, nguyên thủy là Sankt-Peterburg; khi Chiến tranh thế giới lần thứ nhất  nổ ra vào năm 1914 và Nga bị Đế quốc Đức xâm lăng thì thành phố cải danh là Petrograd để tránh nguyên danh gốc tiếng Đức; trong khoảng thời gian từ năm 1924 đến 1991 dưới chính thể Liên Xô thành phố mang tên Leningrad để tưởng niệm Vladimir Ilyich Lenin,  cố lãnh tụ Liên Xô  Sau khi Liên Xô sụp đổ, với cuộc trưng cầu dân ý năm 1991, địa danh ban đầu Sankt-Peterburg đã được dùng lại.

Sa hoàng Nga trong tất cả các triều đại Romanov đều mong muốn tạo đường thủy liên kết với Biển Baltic nhưng trên 100 năm từ cuối thế kỷ 15 đến cuối thế kỷ 16 đều không thể đạt được mục tiêu mong muốn này. Người Nga cho đến thời Pie Đại Đế mới tới được biển Baltic nhờ chiến tranh phương Bắc (1701-1721), chống lại Thụy Điển suốt 20 năm và nhờ chiến thắng trong trận Poltava vào năm 1710, cũng như những thỏa ước hòa bình có lợi cho cả  Nga và Thụy Điển tại Nystad mà Sa hoàng Pie Đại Đế mới đã có thể khai thác được các miền ven biển Baltic.

Bài học lớn từ Pie Đại Đế có quan hệ nhiều đếnKarl XIV Johan là vua Thụy Điển và Na Uy sau này ( Karl XIV Johan có tên khai sinh là Jean-Baptiste Bernadotte, về sau lấy tên là Jean-Baptiste Jules Bernadotte sinh ngày 26 tháng 1 năm 1763, mất ngày 8 tháng 3 năm 1844 với tiếng Na Uy là Karl III Johan từ năm 1818 đến khi lúc băng hà. Bernadotte đã có một sự nghiệp phụng sự lâu dài trong quân đội Pháp và đã được Napoléon I phong cho tước thống chế Pháp. Ông trở thành Thái tử nhiếp chính đầu tiên, kế vị ngai vàng của vua Thụy Điển năm 1810. Câu chuyện tự cường của  Pie Đại Đế quan hệ nhiều đến sự lựa chọn quyết sách của Bernadotte tách ra khỏi những tranh chấp của các con hổ lớn châu Âu và tìm đường riêng chấn hưng đất nước. Nhưng đó là câu chuyện khác mà tôi sẽ kể sau.

Pie Đại Đế giấc mơ lớn nhất là xây dựng một thành phố thật qui củ để qua đó chứng tỏ sự hùng hậu của nước Nga. Dự án của công trình này được bắt đầu ngay từ năm 1703 trên Hòn đảo con thỏ giành được từ tay người Thụy Điển (người Viking). Công trình được xây dựng đầu tiên trên đảo là pháo đài Sankt Piterburh, ngày nay gọi là Pháo đài Petro-Pavlov, thực hiện theo lệnh của Pie Đại Đế ngày 16 tháng 5 năm 1703 được chính thức chọn làm “ngày khai sinh” của thành phố. Trên phiến đá kỉ niệm dịp này người ta đã khắc dòng chữ: “Ngày 16 tháng 5 năm 1703, thành phố Sankt-Peterburg đã được Sa hoàng và Hoàng tử Aleksei Petrovich xếp đặt”.

Triều đại Sa hoàng cuối cùng, Nikolai II sa lầy và kiệt sức trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Đây là cuộc chiến diễn ra giữa phe Hiệp Ước (chủ yếu là Anh, Pháp, Nga, và sau đó là Hoa Kỳ, Brasil) và phe Liên Minh (chủ yếu là Đức, Áo-Hung và Bulgaria) từ tháng 8 năm 1914 đến tháng 11 năm 1918, có quy mô lớn nhất trong lịch sử nhân loại; về quy mô và sự khốc liệt, nó chỉ đứng sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Tất cả những Đế quốc tham chiến đều sụp đổ trong cuộc chiến này. Nó đã tạo điều kiện cho đảng Bolshevik lên nắm quyền tại nước Nga, và mở đường cho Adolf Hitler lên cầm quyền tại Đức.

Ở Sankt Peterburg trước Cung điện Mùa đông ngày chủ nhật 22/1/1905, quân đội đã nã súng vào đoàn người biểu tình làm thiệt mạng khoảng 1000 người trong đó có cả phụ nữ và trẻ em đã chết. Sự kiện Ngày Chủ nhật đẫm máu đã bị nhân dân toàn thế giới lên án. Các cuộc nổi dậy của nông dân, bãi công, biểu tình, ám sát và binh biến diễn ra liên tiếp, cho đến khi Sa hoàng Nikolai miễn cưỡng chấp nhận yêu sách của những người phản đối. Tháng 10 năm 1905, Sa hoàng Nikolai đã ký một văn kiện hứa đảm bảo quyền tự do ngôn luận và thành lập viện Duma một hạ viện thông qua bầu cử. Tình hình vẫn không giảm sau năm 1916, giá thức ăn tăng gấp 4 lần. Đoàn người chờ bánh mì trước Cung điện Mùa đông bắt đầu gây náo loạn. Trong khi đó, quân lính không theo lệnh vua, đứng ra lãnh đạo đoàn người biểu tình. Dân chúng luôn yêu cầu Sa hoàng phải thoái vị. Sau sự kiện Ngày Chủ nhật đẫm máu, không một quốc gia châu Âu nào đồng ý tiếp nhận vị Sa hoàng bị trục xuất này.

Đến năm 1917 nước Nga đã bị kiệt sức bởi chiến tranh và nhân dân đã quá căm giận nhà cầm quyền. Những người cộng sản Bolshevik Nga nêu cao khẩu hiệu “Biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng”. Đến tháng 3 năm 1917, Cách mạng tháng 2 đã nổ ra, Sa hoàng thoái vị, Chính phủ lâm thời thành lập do Kerensky đứng đầu. Những người Bolshevik do Vladimir Ilyich Lenin và Lev Trotsky đứng đầu  tiếp tục đấu tranh, tổ chức các cuộc nổi dậy lan rộng khắp đất nước. Đến ngày 7/11/1917, Cách mạng tháng Mười Nga thành công, lật đổ Chính phủ Lâm thời và lập ra nhà nước công nông đầu tiên.

Sankt-Peterburg sau năm 2014 đã cải danh là Petrograd để tránh nguyên danh gốc tiếng Đức đến năm 2014 Vladimir Ilyich Lenin mất, thành phố được đặt là Leningrad để tưởng nhớ người anh hùng. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, cuộc chiến thảm khốc nhất của lịch sử nhân loại, bắt đầu từ năm 1937 và chấm dứt vào năm 1945 giữa các lực lượng Đồng Minh và phe Trục theo chủ nghĩa phát xít, thì Sankt-Peterburg là một trong những nơi ác liệt nhất toàn cầu. Tháng 9 năm 1941, quân Đức bao vây Leningrad, cuộc vây hãm kéo dài 872 ngày, gần một triệu người đã chết vì bom đạn, đói khát và bệnh tật. Thành phố phương bắc giá lạnh bị vây hãm không có chất đốt để sưởi ấm và nước để uống, thức ăn không đủ. Trong tình trạng thiếu thốn đó, thịt của động vật nuôi, chuột và chim được sử dụng để nuôi con người. Chỉ tính riêng trong tháng Giêng và tháng Hai lạnh giá, đã có tới 200 nghìn người bị chết. Cuối cùng, cuộc phong toả chấm dứt vào ngày 27/1/1944. Khi quân Đức tiến vào thành phố, gần ba triệu người đã bị bắt, tuy vậy nhiều người đã vượt ra ngoài.

Tên thành phố Sankt Peterburg được đổi lại tên ban đầu sau khi Liên Xô tan rã thành 15 nước khác nhau. Trong chính thể nước Nga, nền kinh tế Sankt Peterburg được hồi phục, Tự do ngôn luận đã tạo một môi trường sôi động cho đời sống xã hội. Các hoạt động tôn giáo và nghệ thuật được phát triển. Du lịch trở thành nền kinh tế chính của thành phố. Các điểm đến du lịch hấp dẫn như Cung điện mùa đông, Cung điện mùa hè…đẹp tuyệt vời sáng chói giữa phương Bắc lạnh giá của nước Nga .

Thành phố Saint Petersburg nằm trên vùng đất thấp taiga dọc theo bờ biển của vịnh Neva thuộc Vịnh Phần Lan, và các đảo của đồng bằng châu thổ. Nơi cao nhất từ mực nước biển đến điểm cao nhất là 175,9 mét tại đồi Orekhovaya thuộc Duderhof Heights ở phía nam. Nơi thấp nhất là phần đất ở phía tây của Liteyny Prospekt không cao hơn 4 mét so với mực nước biển, và thường xuyên bị ngập. Ngập lụt ở Saint Petersburg chủ yếu từ sóng dài của biển Baltic, do chịu sự ảnh hưởng của các điều kiện khí tượng, gió và độ nông của vịnh Neva.  Đập Saint Petersburg đã được xây để ngăn lụt. Đảo Vasilyevsky là đảo lớn nhất cùng nhiều đảo khác nay hầu hết được chuyển thành các công viên và khu nghỉ dưỡng.  Từ thế kỷ 18 địa hình của thành phố được nâng lên do các yếu tố nhân tạo, ở những nơi có độ cao trên 4 mét, làm sáp nhập một số đảo, và thay đổi chế độ thủy văn của thành phố. Bên cạnh sông Neva và các phụ lưu của nó, các sông quan trọng khác gồm Sestra, Okhta và Izhora. Hồ lớn nhất là Sestroretsky Razliv nằm ở phía bắc, theo sau là Lakhtinsky Razliv, Suzdal và các hồ nhỏ khác.

Saint Petersburg thuộc nhóm khí hậu lục địa ẩm, thành phố có khí hậu ấm ẩm, mùa hè ngắn, mùa đông ẩm ướt, kéo dài. Nhiệt độ trung bình ấm nhất là vào tháng 7 khoảng 23 °C. Nhiệt độ trung bình năm là 5,8 °C. Nhiệt độ thấp nhất vào mùa đông là −35,9 °C được ghi nhận vào năm 1883. Sông Neva chảy qua thành phố thường bị đóng băng vào tháng 11-12 và tan băng vào tháng 4. Từ tháng 12 đến tháng 3, trung bình có 118 ngày bị phủ tuyết, với bề dày trung bình khoảng 19 cm vào tháng 2. Thời gian không đóng băng trong thành phố kéo dài trung bình 135 ngày. Trung tâm thành phố hơi ấm hơn vùng ngoại ô. Các điều kiện khí hậu khá thay đổi trong cả năm. Lượng mưa trung bình năm là 660 mm, cao nhất vào cuối hè và thay đổi tùy nơi trong thành phố. Độ ẩm không khí trung bình 78% và mỗi năm có khoảng 165 ngày nhiều mây.

Độ dài ngày ở Saint  Petersburg thay đổi theo mùa, do thành phố nằm ở 60°vĩ độ Bắc. Từ giữa tháng 5 đến giữa tháng 7, hoàng hôn có thể kéo dài cả đêm nên được gọi là “đêm trắng”. Mời bạn đọc câu chuyện thú vị này trong bài Đêm trắng và bình minh.

Sông Neva nơi lưu dấu những huyền thoại

Neva là một con sông ở phía tây bắc Nga chảy từ hồ Ladoga qua phía tây của Sankt-Peterburg đến Neva của vịnh Phần Lan. Đây là con sông huyền thoại nơi Pie Đại Đế nhân vật lịch sử vĩ đại nhất của nước Nga lập nên thành phố Sankt-Peterburg cố đô Đế quốc Nga thành phố lớn thứ hai ở Nga ngày nay. Con sông này thông với vịnh Phần Lan, tạo vị thế hải cảng cho Sankt-Peterburg mở cửa nhìn ra biển lớn.

Sông Neva cũng là nơi danh tướng Aleksandr Nevsky anh hùng dân tộc của nước Nga, đứng đầu trong số 12 danh nhân vĩ đại nhất của nước này  đánh bại quân Thụy Điển. Thành phố Sankt-Peterburg và dòng sông Neva sau này cũng là nơi chứng kiến những trận đánh đẫm máu và oanh liệt nhất của nước Nga trong cuộc đọ sức với nước Pháp thời Napoleon cũng như sau này là trận vây hãm kéo dài 872 ngày của phát xít Đức đối với Sankt Peterburg.

Gấu Bắc Cực liệu có bị mổ thịt?

Tôi đã đi qua miền đất này, đã thấu hiểu đêm trắng và bình minh phương Bắc. Nhìn sâu vào lịch sử, địa lý, giá trị văn hóa của mỗi vùng đất, chúng ta mới hiểu được con người. Mời bạn đọc Từ Mekong nhớ Neva; Đêm trắng và bình minh. Dự ngôn này tôi đã viết được 15 năm (2008-2023). Đọc lại và suy ngẫm.

Neva, Sankt Peterburg, Pie Đại Đế là di sản huyền thoại, niềm tự hào của người Nga.

MƯA NẮNG VÀ THỜI VẬN
Hoàng Kim


Trời mưa rây rây hạt
Mình trồng cây tiếp thôi
Mồ hôi và mưa quyện
Yêu thương thấm mát người.

Nắng mưa là thời trời
Tốt lành là thế đất
Phước Đức bởi lòng người
An nhiên mưa gió thổi.

Lắng nghe Lương Phủ ngâm
Ngắm nhìn non nước đổi (*)
Thung dung giấc ngủ ngon
Tỉnh thức trồng tiếp nối …

“Ngược gió đi không nản
Rừng thông tuyết phủ dày
Ngọa Long cương đâu nhỉ
Đầy trời hoa tuyết bay !

Gia Cát Mã Tiền Khóa,
Trạng Trình dưỡng sinh thi
An vui cùng cụ Trạng
Ngày mới Ngọc cho đời

Đường xuân đời quên tuổi
Vui bước tới thảnh thơi
Vui về với ruộng đồng
#Dayvahoc #Thungdung

Đồng xuân lưu dấu hiền;
Đào Duy Từ còn mãi
Báu vật nơi đất Việt
Bên suối một nhành mai


Kim Notes lắng ghi chú:
(*) LƯƠNG PHỦ NGÂM
(thơ Gia Cát Lượng)


Một đêm gió bấc lạnh,
vạn dặm mây mịt mù
Trên không tuyết bay loạn,
biến đổi cả giang sơn.

Ngửa mặt nhìn trời cao,
thấy như rồng đang đấu
Trùng trùng sư tử bay,
chớp mắt biến vũ trụ.

Cưỡi lừa qua cầu nhỏ,
một mình than mai gầy.

Nguyên văn

一夜北风寒,
万里彤云厚.
长空雪乱飘,
改尽江山旧.

仰面观太虚,
疑是玉龙斗.
纷纷鳞甲飞,
顷刻遍宇宙.

骑驴过小桥,
独叹梅花瘦!

Phiên âm:
Nhất dạ bắc phong hàn,
vạn lý đồng vân hậu.
Trường không tuyết loạn phiêu,
cải tận giang sơn cựu.
Ngưỡng diện quan thái hư,
nghi thị ngọc long đấu.
Phân phân lân giáp phi,
khoảnh khắc biến vũ trụ.
Kỵ lư quá tiểu kiều,
độc thán mai hoa sấu

Thăm thẳm trời sông thương

CẦU HIẾU NỐI BỜ THƯƠNG
Hoàng Kim


Sông dài nhớ người thân
‘Giang biên ức cố nhân’
Núi cao bên dòng xanh
Cầu hiếu nối bờ thương
Thăm thẳm trời tĩnh lặng

SÔNG THƯƠNG
Hoàng Kim

Ta chưa về lại
sông Thương
ghé thăm bến đợi
hoàng hôn
trời chiều
Sông Cầu
nước chảy
trong veo
Ngại chi chí thạnh
cách đèo
sông
ngăn.
Ước Trời chở gió
vào Nam
chở mây
ra Bắc
để làm
thành mưa.
Biển trời
cá nước duyên ưa
kể chi bến đợi
sông chờ
hỡi em.

QUA SÔNG THƯƠNG GỬI VỀ BẾN NHỚ
Hoàng Kim

Ta lại hành quân qua sông Thương
Một đêm vào trận tuyến
Nghe Tổ Quốc gọi lên đường!
Mà lòng ta xao xuyến
Và hồn ta căng gió reo vui
Như dòng sông Thương chảy mãi về xuôi
Hôm nay ta ra đi
Súng thép trên vai nóng bỏng

Không qua nhịp cầu ngày xưa soi bóng
Phà đưa ta sang sông
Rạo rực trời khuya, thao thức trong lòng
Rầm rập dòng sông sóng nhạc
Như tình thân yêu muôn vàn của Bác
Tiễn đàn con ra đi

Tầu cập bến rầm rì tiếng máy
Tiếng động cơ sục dưới khoang tàu
Hay sôi ở trong lòng đất cháy
Hay giữa tim ta thúc giục lên đường
Chào bờ Bắc thân yêu hẹn ngày trở lại!

Ôi những con thuyền đèn trôi suốt canh khuya
Có khua nhẹ mái chèo qua bến cũ
Nhắn cho ai ngày đêm không ngủ
Rằng ta đi chưa kịp báo tin vui

Đêm nay bên dòng nước nghiêng trôi
Sông vẫn thức canh trời Tổ Quốc
Rạo rực lòng ta bồi hồi tiếng hát
Đổ về bến lạ xa xôi
Với biển reo ca rộng mở chân trời

Hoàng Kim
(Rút trong tập THƠ VIỆT NAM 1945-2000
Nhà Xuất bản Lao động 2001, trang 646)

*

Sớm xuân ngắm mai nở
Nhớ bạn thời thanh xuân
Thương bạn đêm đông lạnh
Thắp đèn lên đi em

Thoáng chốc năm mươi năm
Đường trần chân không mỏi
Vui đi dưới mặt trời
Giấc mơ lành yêu thương
Trà sớm thương người hiền

* Cảm ơn anh Nguyễn Đình Sáng, Phạm Huy Trung gợi nhớ các câu chuyện cũ và những năm tháng không quên Qua sông Thương gửi về bến nhớ; CNM365 Hôm nay, mình thật nhớ bài thơ Thanh Thảo

Chiều sông Thương

TỔ QUỐC
Thanh Thảo


vệt nắng mỏng trước sân mái gà cục tác
con tôi ngủ trong nôi văng vẳng tiếng còi tàu
bữa cơm gia đình tôi trộn bắp trộn sắn bảy mươi phần trăm
mùa xuân những cơn bão hung hãn bất ngờ ập tới

trầm tĩnh như rừng kia như biển kia
Tổ Quốc tôi đứng lên trước bầy xâm lăng phương bắc
những dãy núi cong cánh cung những nỏ thần khủng khiếp
lại tung hàng loạt mũi tên xuyên ngực quân thù

ải Nam Quan ngọn khói xưa Nguyễn Trãi nuốt nước mắt quay về
mười năm nằm gai nếm mật
hẽm Chi Lăng lầm lì sông Kỳ Cùng bốc cháy
pháo đã giăng từ ngàn vạn điểm cao

quân di chuyển những dòng sông chảy ngược
mây uy nghi Yên Tử thuở nào
còn in dáng Trần Nhân Tông mắt dõi về phương bắc
tính nước cờ ung dung trên cao

sông Kỳ Cùng những tảng đá lên hơi
đùa với mặt trời trong nước
tôi chỉ đến tắm một lần nhưng đó là Tổ Quốc
chảy lặng thầm suốt cuộc đời tôi

những câu lượn câu sli đêm chợ Kỳ Lừa
chén rượu nồng thơm sắc màu thổ cẩm
vó ngựa gõ dòn lâng lâng sương khuya
khẩu súng chống tăng ghì chặt vào vai

anh xạ thủ H’ Mông mười tám tuổi
khi lũ giặc đang điên cuồng lao tới
một chấm nhỏ trên bản đồ một chấm nhỏ thiêng liêng
phút người lính đứng bật lên cắm chặt chân vào đất

phút ấy, đất dưới chân anh là Tổ Quốc
quả đạn rời nòng trong chớp mắt
xe tăng cháy ngang đồi lũ giặc lùi xa
anh lính trẻ mỉm cười lau mồ hôi trên mặt

gương mặt dịu lành như Tổ Quốc chúng ta

(Nhớ bạn) Sông Thương; Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlong

GIẤC MƠ THIÊNG CÙNG GOETHE
Người già kể chuyện sử thi
Kalovi Vary, Roma, Oregon
Thắp lên trong tôi ngọn lửa
Hoàng Kim

Mọi lý thuyết đều là màu xám,
chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi
Goethe trao tặng cho tôi
Ngọc minh triết của Người.

Tôi giấc mơ gặp Goethe
Kalovi Vary, Czechoslovakia
trong rừng thiêng cổ tích.
Người kể chuyện sử thi

Tiệp Khắc kỷ niệm một thời
Praha Goethe và lâu đài cổ
Những khát khao của Faust,
Nỗi đau của chàng Werther

Người nhắc tôi đừng quên
kể chuyện sử thi dân mình
Cho dù học gì làm gì
Cũng đừng quên chuyện đó !

Người hỏi tôi trong mơ
Con có dám học Faust?
Chọn minh triết làm Thầy
Suốt đời theo Trí Tuệ ?

Tôi trả lời.trong mơ
Có con xin theo Người !
Con xin theo học Goethe
Người kể chuyện sử thi

Ta bàng hoàng gặp Goethe
Trên cầu đi bộ Charles
Trong 30 tượng thánh trầm tư
Tôi ngắm hình tượng Faust

Quảng trường Old Town Square
Đế Quốc La Mã Thần Thánh
Goethe lắng đọng tại Praha
Trong huyền thoại muôn đời

Tôi nhớ Người ở Frankfurt,
Di sản Người Leipzig, Strasbourg
Ông già hiền triết châu Âu
Tại bao nhiêu điểm đến …

Goethe

Tôi học Goethe qua thơ Xuân Diệu
Mọi lý thuyết đều là màu xám,
chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi
Thơ Người đi cùng tôi bao tháng năm.

Tôi gặp Goethe ở châu Âu
Trong hình bóng người hiền
Cũng gặp Người tại Oregon
Nơi Miền Tây Nước Mỹ.

Tôi gặp Goethe ở châu Mỹ
Tại Ciudad Obregon
Hồ lớn ba tỷ khối nước
Cây xanh đất nước giao hòa

Tôi  gặp Người ở CIMMYT Mexico
phía cuối trời Tây
GoetheNorman Borlaug dạy cho tôi
Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương

Người hóa thân
trong thanh thản
bóng cây xanh
Người đàm đạo
với Norman Borlaug
và cậu học trò nghèo
Về ý tưởng xanh
Con đường xanh
Hành trình xanh
Sự nghiệp xanh
Nhà khoa học xanh
giấc mơ hạnh phúc

Goethe là vòm cây xanh
Goethe cũng là lão nông
ngồi cùng chúng ta
chuyện trò
trên cánh đồng xanh
hạnh phúc.

GoetheNorman Borlaug
là những trí tuệ bậc Thầy.
Họ không màng hư vình
mà hướng tới đỉnh cao hòa bình
sự an lành tiến bộ.

Anh và em cùng Goethe
Ở FAO, Rome, Italy
Người hóa thân
thành nữ thần Tình Yêu (*)

Trời xanh tuyệt vời !
Trời nhân loại mênh mông !

(*) Hình ảnh Hoàng Kim ở Roma, Italia.

(*) Bên hình tượng Johann Wolfgang von Goethe (1749–1832) ở Roma, Italia.

Giấc mơ về điểm hẹn
Xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/cau-hieu-noi-bo-thuong/

CÂU CHUYỆN ẢNH THÁNG BẢY
Hoàng Kim

Chúc mừng ngày Hạnh Phúc hai cháu và đại gia đình thầy Phạm Văn Hiền và thông gia. Vui gặp nhiều người thân quen, thầy Tuyến Bùi Cách, anh Cựu, Trúc Mai, Tran Huien Huien, …. Chùm ảnh bạn Tu Phan Van thật đẹp. Thân chúc mọi người vui khỏe.

Tu Phan Van cùng với Nguyen Khanh, Tam Hominh, Phạm Văn HiềnTuyến Bùi Cách

CÂU CÁ BÊN DÒNG SÊRÊPÔK
Hoàng Kim


Bạn chèo thuyền trên sông Vôn ga
Có biết nơi này mình câu cá?
Sêrêpôk giữa mùa mưa lũ
Sốt rừng, muỗi vắt, đói cơm.
Suốt dọc đường hành quân
Máy bay,
pháo bầy,
thám báo,
mưa bom
Chốt binh trạm giữa rừng
Người bạn thân
Lả người
Vì cơn rét đậm
Thèm một chút cá tươi
Mình câu cá
Cho bữa cơm cuối cùng của người thân
mà nước mắt
đời người
rơi, rơi…
mặn đắng

Bạn ơi
Con cá nhỏ trên dòng Sêrêpôk
Nay đã theo dòng thác lũ cuốn đi rồi
Đất nước nghìn năm
Trọn một lời thề
Sống chết thủy chung
với dân tộc mình
Muôn suối nhỏ
Đều đi về biển lớn.

Năm 1972 tại Tây Nguyên, tôi có kỷ niệm không thể quên về những ngày đói gạo, ăn rau rừng và câu cá ven sông Sêrêpôk gần Buôn Đôn. Nhớ buổi câu cho bữa cơm người bạn sốt rừng ốm nặng thèm ăn cá. Đây là bài thơ khóc bạn, lễ 30.4 và ngày 1.5, tôi bùi ngùi nhớ lại. Chèo thuyền trên sông Vônga là thơ Hoàng Bình. Điểm câu cá của tôi gần binh trạm khoảng giữa Đăk Tô-Tân Cảnh và Buôn Đôn. Sông Sêrêpôk (ảnh Đổ Tuấn Hưng trên Wikipedia Tiếng Việt)

Sêrêpôk (hay Srêpôk), tên gọi trong tiếng Campuchia là Tongle Xrepok, là dòng sông lớn nhất trong hệ thống sông ngòi ở Đắk Lắk. Đây là một phụ lưu quan trọng của sông Mekong. Sông Sêrêpôk được hợp thành từ hai dòng sông Krông Ana và Krông Nô (sông Mẹ và sông Bố). Đoạn chảy trên địa phận Đăk Lăk còn được gọi là sông Đăk Krông chảy qua các huyện Krông Ana, Buôn Đôn và Ea Súp với nhiều thác ghềnh hùng vĩ còn tương đối hoang sơ như thác Trinh Nữ, thác Đray Sáp, thác Đray Nu, thác Đray H’linh, thác Gia Long, thác Bảy Nhánh…Tính từ chỗ hợp lưu của sông Krông Ana,sông Krông Nô tới cửa sông của nó dài 406 km, trong đó đoạn chảy trong lãnh thổ Việt Nam dài khoảng 126 km, đoạn chảy qua Campuchia dài khoảng 281 km. Sông Sêrêpôk chảy sang Campuchia được bổ sung thêm nguồn chảy dồi dào từ dòng sông Ea H’leoông, sông Sesan và sông Sekong (hai sông này cũng có nguồn trên lãnh thổ Việt Nam). Sông Serepôk nhập vào sông Mekong sát Stung Treng, tỉnh Stung Treng, Campuchia, (nơi những năm gần đây mới phát hiện được phần mộ của Trung tướng Nguyễn Bình, tại xã Srê-pốc, huyện Xê-san,) sau đó con sông lớn này trở lại Việt Nam (ảnh 2 nguồn Sông Mekong tài liệu tổng hợp ).

Hiện tại dọc theo dòng sông này đã có rất nhiều các công trình thủy điện mọc lên như thủy điện Krông Kma (Krông Bông), Buôn Kuôp (Krông Ana), Đray H’linh 1, Đray H’linh 2 (Cư Jút), Buôn Tou Srah (Lăk), Srepôk 3 (Buôn Đôn)… Sông Sêrêpôk ở Đăk Lăk có tên gọi địa phương là sông Đăk Krông được nhắc đến trong bài hát nổi tiếng “Sông Đăk Krông mùa xuân về” của Tố Hải: “Đăk Krông ơi, Tây Nguyên ơi!/ Cái suối đổ về sông, cái sông ra biển lớn./ Ta nối tấm lòng dân bằng tình yêu cách mạng, đi suốt Truờng Sơn xanh, nghe dòng sông chảy mãi./ Đăk Krông ơi, dòng sông xanh thắm…”

Dòng sông Sê San ơi!  Là tản văn nổi tiếng của Tỳ kheo Thích Giác Tâm, vị sư trụ trì ở chùa Bửu Minh tại Biển Hồ, mắt ngọc Pleiku, tỉnh Gia Lai ” Đó là tiếng kêu thảng thốt của con người khi đứng trên bờ của dòng sông. Sông đã không sống đời của sông nữa, mà sông đã sống theo cách mà con người muốn nó sống. Ngày xưa sông vô tư, hồn nhiên sống, khi lên ghềnh, khi xuống thác, khi buông thư chầm chậm nhởn nhơ như người vô sự ngắm mây bay, xem hoa nở, lắng nghe tiếng chim hót. Nhưng rồi con người đã can thiệp vào, bắt sông phục vụ con người, mà nhu cầu của con người ở trong cõi người ta này thì vô hạn, vô chừng, không biết bao nhiêu là đủ. Thủy hỏa tương khắc, nhưng với trí tuệ con người biến nước thành hỏa, thành điện năng. Biến bao nhiêu cũng không đủ cung cấp, bởi con người không khác gì con khỉ Tôn Ngộ Không trong Tây Du Ký. Đào tiên quý là vậy mà hái trong thoáng chốc đã sạch vườn đào của Tây Vương Mẫu, mỗi trái chỉ cắn một miếng rồi quẳng đi, vứt bỏ. Quẳng đi không hề nuối tiếc, mà đào tiên mấy ngàn năm mới ra trái một lần (điện rất quý có khác gì trái đào tiên đâu!).”

Vị thiền sư trên mắt ngọc cao nguyên viết tiếp: “Đầu năm đứng trên dòng sông Sê San, tôi đã ngắm nhìn sông và tôi đã thấy như thế. Rừng đại ngàn đã ngã gục xuống, dòng sông mênh mang đẹp như một dải lụa trắng của các đại sư Tây Tạng, Ấn Độ quấn choàng cổ, bắt nguồn từ các đỉnh núi cao của núi rừng Ngọc Linh tỉnh Kon Tum băng qua đồi núi chập chùng của hai tỉnh Kon Tum và Gia Lai để rồi chảy qua biên giới Campuchia. Ngăn chặn dòng chảy, nhiều nhà máy thủy điện đã mọc lên, mọc lên để cung cấp năng lượng điện cho con người. Bên này nhà máy thủy điện nước mênh mang, bến bờ rộng thoáng vì nước tích tụ, đổ dồn nước về ba cái cống chạy tua bin phát điện. Bên kia nhà máy giòng sông khô cạn lởm chởm vô số đá, như những bãi đá ở bãi biển Quy Nhơn gần ngôi mộ Hàn Mặc Tử, so sánh cho dễ hình dung vậy thôi. Bãi đá ở biển Quy Nhơn, là đá sống, bởi có con người lân mẫn chăm sóc, cùng vui chơi ca hát quây phim chụp hình. Còn bãi đá ở giòng sông Sê San là bãi đá chết, đá chết bởi vì sông đã chết. Trong kinh Phật thường dùng từ:” Bên này bờ, bên kia bờ “. Bờ bên này là bờ sinh tử, vô minh, khổ đau. Bờ bên kia là giải thoát, an lạc, Niết Bàn. Đứng bên bờ sông Sê San tôi đã ngộ ra không có bờ bên này thì cũng không có bờ bên kia. Để tạo ra năng lượng điện con người phải trả giá cho cái được và cái mất. Được cho nhu cầu tiêu thụ của con người và mất cho môi trường sinh thái không còn cân đối, đảo lộn.”

Tôi đã từng đứng trên bờ sinh tử và cũng đã từng câu cá bên dòng sông này thuở mà sông chưa làm đập thủy điện. Nay tôi lại về lặng ngắm dòng sông xưa. Trong lòng tôi thao thiết một dòng sông chảy mãi…

NƠI HỢP LƯU ĐÔNG DƯƠNG
Hoàng Kim

Giảng dạy và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới trong nông nghiệp về lúa, sắn, rau, hoa, quả tại nơi hợp lưu Đông Dương, tôi nói với Hoàng Long, Nguyễn Văn Phu với các bạn trẻ cùng chung sức Việt Nam con đường xanh: Đây là vùng di sản, dấu chân Phật Đông Dương, hợp lưu sông Mê Công, nơi kết nối hiệu quả Việt Nam, Lào, Cămpuchia, Thái Lan và Biển Đông.

Sông Srepok vùng ngã ba Đông Dương là hợp lưu quan trọng nhất của sông Mekong. Sông Srepok phần Việt Nam là phụ lưu đặc biệt quan trọng của sông Mekong. Đây là ngã ba Đông Dương, hợp lưu lớn nhất của sông Mekong. Sông Srepok với các dòng sông ngắn, dốc, hung dữ, hoang sơ chảy ngược về Mekong mà không phải chảy xuôi về Biển Đông như các sông Việt khác. “Ai nắm được nóc nhà Tây Nguyên và chế ngự được vùng hợp lưu này là quản lý được Đông Dương”. Những chuyên gia quân sự và sử học đã từng nhận định vậy, Tính từ chỗ hợp lưu của sông Krông Ana (sông Mẹ) và sông Krông Nô (sông Bố) tới cửa sông Srepok dài 406 km, trong đó đoạn chảy qua Campuchia dài khoảng 281 km, đoạn chảy trong lãnh thổ Việt Nam dài khoảng 126 km.

Thuyền độc mộc là phương tiện vượt thác hiệu quả thuở hoang sơ của vùng đất nước dữ dội và hiền hòa này.

NGỌC PHƯƠNG NAM
Hoàng Kim

Thuyền độc mộc
‘Quên tên cây
làm thuyền
Tận cùng nỗi cô đơn
độc mộc!

Khoét hết ruột
Chỉ để một lần ngược thác
bất chấp đời
lênh đênh…” (1)

Ngọc phương Nam
“Hứng mật đời
thành thơ
Việc nghìn năm hữu lý
Trạng Trình

Đến Trúc Lâm
Đạt năm việc lớn Hoàng Thành
Đất trời xanh
Yên Tử …” (2)

Ngọc phương Nam Hoàng Kim (2) họa đối Thuyền độc mộc Trịnh Tuyên (1) nơi hợp lưu Đông Dương huyền thoại

Tôi đã rất nhiều lần qua lại vùng này. Thuở chiến tranh chống Mỹ, tại Tây Nguyên, đơn vị tôi chốt ở vùng ngã ba biên giới Việt – Lào- Cămpuchia, bên dòng sông Srepok (hay Sêrêpôk, Srêpôk, mà tiếng Campuchia gọi là Tongle Xrepok). Srepok tại ngã ba Đông Dương là điểm hợp lưu quan trọng nhất, trong khi Phnôm Pênh lại chính là điểm phân lưu quan trọng nhất của sông Mekong. Tôi đã có bài thơ Câu cá bên dòng Sêrêpôk, sau này tôi cảm khái đến nao lòng khi đọc bài viết “Dòng sông Sê San ơi !” của thượng tòa Thích Giác Tâm, Chùa Bửu Minh Biển Hồ, và tôi đã lần về tìm thăm thiền sư trên núi cao, và lâu lâu tôi lại đọc lạiVề nơi tịch lặng; Đến chốn thung dung“.

Con trai tôi, Hoàng Long hình ảnh mùa hè xanh Lào thật vô tư cùng bạn hữu. Tôi lưu lại một số hình ảnh ở Champasac, là một tỉnh ở phía tây nam Lào, kề biên giới Thái LanCampuchia. Đây là một trong ba lãnh địa nằm trên đất Lào, thuộc vương quốc Lan Xang. Theo cuộc tổng điều tra dân số năm 2015, đô thị này có dân số 694.023 người. Tên tỉnh lấy từ tên Vương quốc Champasak với thủ phủ cũ là thị trấn Champasak. Tỉnh lị là Pakse. Nhiều câu chuyện về đất về người vùng hợp lưu Đông Dương chưa kịp ghi lại.

Lúa sắn Cămpuchia và Lào, tôi đã gắn bó niều với các bạn tôi ở bên ấy. Chúng ta có thể dạy và học gì với nông dân? Tôi lưu lại đây một điểm nhấn hợp tác lúa sắn với nông nghiệp Căm pu chia và Lào để có dịp quay lại viết sâu hơn, kể câu chuyện tiếp nối các câu chuyện Hợp tác Bảo tồn và Phát triển. .

Trở lại câu chuyện Câu cá bên dòng Sêrêpôk lúc câu cá, tôi nghĩ nhiều về bức tranh sơn dầu nổi tiếng “Những người kéo thuyền trên sông Volga” của Repin và bài thơ Chèo thuyền trên sông Volga của Hoàng Bình. Tôi cảm nhận thật rõ ràng những suy tư của người lính chiến trước dòng sông Neva, Volga đối sánh với dòng sông Mekong, sông Hồng huyền thoại nước Việt mến yêu của Tổ Quốc tôi. Đất nước chúng ta cần lắm những tác phẩm sử thi kiểu :Sông Đông êm đềm” cho nhân dân đất nước mình và bạn hữu Lào Cămpuchia cùng đọc.

Những người kéo thuyền trên sông Volga”, kiệt tác hội họa của Rapin với bài thơ Chèo thuyền trên sông Neva của tiến sĩ sử học Hoàng Bình giúp chúng ta liên tưởng về sông sông Volga và sông Neva trong sự so sánh với sông Hồng và sông Mekong. Chèo thuyền trên sông Neva là chèo thuyền trên dòng sông huyền thoại. Volga và Neva là hai điểm tựa lịch sử của nước Nga mênh mông. Hoàng Bình là nhà sử học và nhiều năm du học Nga nên có sự nhìn nhận sâu sắc và cất lên tứ thơ. Tôi mong muốn tìm lại bản gốc bài thơ Chèo thuyền trên sông volga và bổ sung hoàn thiện bài viết này.

Nhân nói chuyện về nơi hợp lưu Đông Dương là nơi lắng đọng di sản của Vương quốc Champasak trong Lịch sử Lào, cũng là nơi giao hội nhưng đừng nhầm lẫn với Vương quốc Champa của Lịch sử Việt NamLịch sử Đông Nam Á. Những vùng đất hiền hòa và dữ dội, giao hội của các luồng văn minh thường ẩn chứa nhiều trần tích lịch sử văn hóa đáng suy ngẩm, để chấn hưng một dân tộc, những tinh hoa minh triết thường tìm về cội nguồn để tìm về nguyên khí. Nói chuyện về sông Hồng và sông Mekong trong mạch suy nghĩ “Từ Mekong nhớ Neva”, tôi xin được có chút ghi chép nhỏ về gia đình và dòng họ để bảo tồn. Họ bên mẹ tôi có nhiều người học và làm việc ở Nga. Sống lâu và hiểu về Nga và châu Âu nhất có lẽ là cậu Huỳnh Thúc Tấn, cậu Huỳnh Thúc Cẩn và Hoàng Bình. Cậu Huỳnh Thúc Tấn nguyên Phó chủ nhiệm văn phòng Chính phủ (Thứ trưởng) và từng là Trưởng đại diện thường trực Việt Nam tại Hội đồng tương trợ kinh tế (SEP). Cậu Huỳnh Thúc Cẩn là đại tá nhà văn, người tham gia đào tạo sĩ quan kĩ thuật quân sự cho Bộ Quốc phòng Cộng hòa dân chủ Đức, từng tham gia hội thảo về đường lối chiến tranh nhân dân cùng chuyên gia quân sự ba nước Cộng hòa dân chủ Đức, Bun ga ri và Tiệp khắc. Hoàng Bình là tiến sĩ sử học Nga, tác giả bài thơ Chèo thuyền trên sông Neva,  là con trai thứ hai của cậu Trình tôi. Cậu Trình là con cả của gia đình bảy anh em trai huyền thoại “Trình, Cảnh, Tuệ, Cẩn, Tấn, Thân, Cương” Cụ Hoàng Bá Chuân, nhà nho, ở số nhà 64 Hàng Bạc, Hà Nội, là ông nội Hoàng Bình. Ông là cậu ruột của mẹ tôi và rất thương chúng tôi là những đứa cháu sớm mồ côi cha mẹ và ông bà ngoại. Tôi rất thương kính ông như là ông ngoại ruột vì ông rất hiền và thương cháu. Cuộc đoàn tụ của 5 anh em ngày Giải phóng Thủ đô là câu chuyện kỳ lạ có thật ở làng Minh Lệ, xã Quảng Minh, thị xã Ba Đồn (trước là huyện Quảng Trạch), tỉnh Quảng Bình. Cụ Hoàng Bá Chuân viết: Nhà tôi sinh được bảy người con/ Quyết chí chung tình với nước non/ Kháng chiến năm con đi khắp nước/ Lớn lên trai bé sẽ xung phong… Cậu Trình, bố của Hoàng Bình mất sớm.Hoàng Bình trong gia đình đặc biệt như vậy nên thời đó được miễn nghĩa vụ quân sự và đi học Nga. Gia đình tôi thì bố tôi trước cũng đi bộ đội Vệ quốc đoàn và trong năm anh em tôi với ba trai và hai gái thì anh trai tôi là Hoàng Trung Trực nhập ngũ năm 1963, tôi cũng gia nhập quân đội năm 1971. Tôi đã từng kể chuyện này tại Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời. Hôm tôi đến thăm ông, trước lúc cắt quản hậu phương để vào Nam, tôi  đã tình cờ đọc được bài thơ Chèo thuyền trên sông Neva của Hoàng Bình và rất thích. Tôi chép bài thơ này vào sổ tay và mang vào chiến trường.

Từ sông Mekong nhớ Neva.

SÔNG VOLGA VÀ SÔNG NEVA
Hoàng Kim


ngắm bức tượng Mẹ của nước Nga lồng lộng trên nền trời tại đỉnh đồi gần sông Neva và gần trung tâm thành phố Sankt Peterburg. Tôi nhớ về nước Nga biểu tượng sâu sắc lắng đọng nhất trong lòng là sông Neva và sông Volga, đặc biệt là khúc sông chảy qua thủ đô phương Bắc Sankt Peterburg nơi có biểu tượng này của sức mạnh Nga. Nhiều bạn bè tôi thích Trường Đại học Quốc gia Moskva (MGU) nơi được Nữ hoàng Elizaveta Đế quốc Nga ra sắc lệnh thành lập ngày 25 tháng 1 năm 1755, nay là trường đại học lớn nhất và lâu đời nhất ở Nga. Nơi đó thời Stalin đã ra lệnh xây dựng tại nền cũ MGU tòa chính trường MGU mang tên Lomonosov với bảy tòa nhà chọc trời đã làm thay đổi hoàn toàn diện mạo Moskva. Ngày nay, đó là một bộ phận không thể thiếu của kiến trúc thủ đô, là tấm danh thiếp Moskva và một phần lịch sử của nó. Thế nhưng khi bình tâm nhìn lại sức mạnh Nga ở khoa học kỹ thuật công nghệ hay đất nước và con người thì có vẻ như Neva và Volga trong bản tính Nga là kỳ vĩ hơn.

Volga là dòng sông Nữ hoàng, dòng sông Mẹ, dòng sông Chủ gia đình, dòng sông Người cần mẫn, dòng sông Huyết mạch của Tổ quốc Nga. Sông Volga là đường giao thông chính xuyên châu Âu nơi có trên 150.000 con suối và sông nhỏ nước Nga hòa dòng nước của mình vào đó, nơi có khoảng 40% dân số Cộng hòa Liên Bang Nga sinh sống trong lưu vực của dòng sông vĩ đại này. Sông Volga ví như sông Hồng của Việt Nam là dòng sông mẹ vĩ đại, nôi của người Việt cổ, nền văn minh sông Hồng, chốn tổ của nghề lúa.

Neva là dòng sông mẹ thứ hai của nước Nga ví như sông Mekong là dòng sông mẹ thứ hai của người Việt, dòng sông mở rộng hi vọng và tương lai của dân tộc Việt. Neva có thành phố Sankt Peterburg lịch sử, niềm tự hào thiêng liêng của tổ quốc Nga. Nơi đây là cửa ngõ hải quân Nga vươn ra các đại dương và thế giới . Sông Neva và sông Volga là những sông mẹ của nước Nga vĩ đại dường như rất giống sông Mekong và sông Hồng của Việt Nam. Đó là mạch sống và nôi sức mạnh tiềm tàng đất nước. Bài thơ nói về con sông Neva nơi Pie Đại đế lập nên thành phố Sankt-Peterburg cố đô Đế quốc Nga và là thành phố lớn thứ hai ở Nga ngày nay. Sankt-Peterburg nằm trên một loạt đảo nhỏ trong châu thổ sông Neva; con sông này thông với Vịnh Phần Lan, tạo vị thế hải cảng cho Sankt-Peterburg mở cửa nhìn ra biển lớn. Đó cũng là nơi danh tướng Aleksandr Nevsky anh hùng dân tộc của nước Nga, đứng đầu trong số 12 danh nhân vĩ đại nhất của nước này đánh bại quân Thụy Điển trên sông Neva.  Thành phố Sankt-Peterburg và dòng sông Neva sau này cũng là nơi chứng kiến những trận đánh đẫm máu và oanh liệt nhất của nước Nga trong cuộc đọ sức với nước Pháp thời Napoleon cũng như sau này là trận vây hãm kéo dài 872 ngày của phát xít Đức đối với Sankt Peterburg, lúc đó gọi là Petrograd và sau khi Lê Nin mất được gọi là Leningrad, gần đây đã trở lại tên gọi  Sankt – Peterburg. Gần một triệu người Nga trong thành phố đã bị chết vì bom đạn, đói khát và bệnh tật trong cuộc vây hãm.

Sau này, tôi may mắn được vài lần đến thăm Neva và Volga những dòng sông huyền thoại của nước Nga mến yêu trong hành trình nhìn ra thế giới. Tôi thật sự xúc động khi liên tưởng những nét tương đồng trong số phận của hai dân tộc và những người lính. Người Việt và người Nga đều không hiếu chiến. Số phận dân tộc buộc họ lựa chọn sinh tử giữa tổ quốc niềm tự hào dân tộc với quyền con người và lý tưởng tự do. Đó là sự sâu thẳm Chiến tranh và hòa bình của L. Tonstoi, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, Cự ngao đới sơn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Con đường đau khổ của A. Tonstoi, Nguyễn Du và Truyện Kiều , Solokhop và Sông Đông êm đềm,   cùng biết bao những kiệt tác văn chương Nga Việt khác.

Ngày 25 tháng 1 năm 1755, Trường Đại học Quốc gia Moskva được Nữ hoàng Elizaveta Đế quốc Nga ra sắc lệnh thành lập, nay là trường đại học lớn nhất và lâu đời nhất ở Nga. Nhà chọc trời Moskva: Tòa chính trường MGU mang tên Lomonosov với bảy tòa nhà chọc trời thời Stalin ra lệnh xây dựng trên nền cũ MGU đã làm thay đổi hoàn toàn diện mạo Moskva. Ngày nay, đó là một bộ phận không thể thiếu của kiến trúc thủ đô, là tấm danh thiếp Moskva và một phần lịch sử của nó, thế nhưng có vẻ như Neva và Volga kỳ vĩ hơn.

Nữ hoàng Nga Elizaveta Petrovna là người được nhân dân Nga và Tổng thống Putin rất mực ngưỡng mộ. Nữ hoàng Elizaveta Petrovna sinh ngày 29 tháng 12 năm 1709 mất ngày 5 tháng 1 năm 1762, đăng quang năm 1741 và qua đời năm 1762. Trong 20 năm bà cầm quyền lãnh thổ Nga rộng 16 triệu kilômét vuông. Bà là vị Nữ hoàng trí tuệ phi thường đã khuyến khích nhà khoa học M. V. Lomonosov thiết lập Trường Đại học Moskva và ra sắc lệnh thành lập Trường Đại học Quốc gia Moskva vào ngày 25 tháng 1 năm 1755, nay là trường đại học lớn nhất và lâu đời nhất ở Nga. Bà cũng là người có tầm nhìn và tài năng sử dụng hiền tài kiệt xuất trọng dụng I. I. Shuvalov sáng lập Viện Hàn lâm Mỹ thuật của Đế quốc Nga ở kinh đô Sankt-Peterburg, trọng dụng kiến trúc sư lỗi lạc Bartolomeo Rastrelli xây dựng những công trình kiến trúc di sản thế giới như Cung điện Mùa Đông và Đại giáo đường Smolny tại Sankt-Peterburg.

Nhân dân Nga có cuộc thăm dò ý kiến “Tên của nước Nga – Sự lựa chọn lịch sử năm 2008″ do kênh truyền hình Rossia cùng với Viện Lịch sử Nga thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga và Quỹ ý kiến xã hội tổ chức. Pie đại đế là nhân vật lịch sử vĩ đại nhất nước Nga đã được bình chọn, kế đến là Stalin, Le Nin và Nga hoàng Nikolai II với Nữ hoàng Nga Elizaveta Petrovna là người được là những nhà lãnh đạo kiệt xuất nhất lịch sử nước Nga. Tổng thống Nga Putin gần đây cũng được nhân dân Nga lựa chọn để tiếp tục chấn hưng đất nước Nga. Điều đó đã chứng tỏ những đánh giá của nhân dân Nga xuyên suốt một quá trình trải nghiệm lịch sử lâu dài.

Sông Neva và sông Volga thao thiết chảy gợi cho chúng ta một tầm nhìn tham chiếu.

Từ Mekong nhớ Neva.

Hoàng Kim
https://hoangkimvn.wordpress.com/

TỪ MEKONG NHỚ NÊ VA
Hoàng Kim

Tắm tiên ở Chư Jang Sin tôi may mắn được tắm mình trong mạch nước thiêng ban mai đầu nguồn của một sông lớn và vùng núi hùng vĩ Tây Nguyên, trước đó đã qua trãi nghiệm gian khổ của cuộc chiến tranh thống nhất đất nước, sau này lại được làm nhà nông học đi nhiều nơi ở Tây Nguyên từ núi Ngọc Linh hùng vĩ và sông mẹ SeSan của Bắc Tây Nguyên đến núi Chư Jang Sin cao vọi và sông mẹ Đồng Nai của Nam Tây Nguyên, được nhiều lần sang Căm pu chia, Lào dọc sông Mekong, giúp bạn canh tác sắn lúa. Tôi càng trãi nghiệm và liên tưởng thấm thía sâu sắc về những dòng sông.

Nhớ Neva, nhớ những năm tháng ở Tiệp, Nga, Bỉ, Ý, Anh , Pháp … tôi càng nhận thức sâu sắc thêm “đêm trắng và bình minh“: Đi đâu cũng không bằng Tổ quốc mình. Nói gì, làm gì cũng không bằng dạy, học và làm cho đồng bào đất nước mình. Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương. Mục đích sau cùng của dạy và học là thấu suốt bản chất sự vật, có lời giải đúng và làm được việc. Dạy và học thực tiễn trên chính Tổ quốc mình. Việt Nam quê hương tôi! Đó là đất nước của biết bao nhiêu thế hệ xả thân vì nước để quyết giành cho được độc lập, thống nhất, tự do và toàn vẹn lãnh thổ. “Nếu chỉ để lại lời nói suông cho đời sau sao bằng đem thân đảm nhận trọng trách cho thiên hạ trước đã”. Làm nhà khoa học xanh hướng đến bát cơm ngon của người dân nghèo, đó là điều tôi tâm đắc nhất !

Sông Srepok phần Việt Nam đoạn chảy trên địa phận Đăk Lăk còn được gọi là sông Đăk Krông là dòng sông lớn nhất trong hệ thống sông ngòi ở Đắk Lắk. Sông Srepok được hợp thành từ hai dòng sông Krông Ana và Krông Nô có nhiều thác ghềnh hùng vĩ như thác Trinh Nữ, thác Đray Sáp, thác Đray Nu, thác Đray H’linh, thác Gia Long, thác Bảy Nhánh. Hiện tại dọc theo dòng sông này đã có rất nhiều các công trình thủy điện mọc lên như thủy điện Krông Bông, Krông Ana, Đray H’linh 1, Đray H’linh 2 (Cư Jút), Buôn Tou Srah (Lăk), Srepôk 3 (Buôn Đôn)…

Sông Srepok chảy sang Campuchia được bổ sung thêm nguồn chảy dồi dào từ dòng sông Ea H’leo, sông Sesan và sông Sekong. Hai sông này cũng có nguồn trên lãnh thổ Việt Nam. Sông Srepok nhập vào sông Mekong sát Stung Treng, tỉnh Stung Treng, Campuchia. Nơi đây, những năm gần đây vừa phát hiện được phần mộ của Trung tướng Nguyễn Bình, tại xã Srê-pốc, huyện Xê-san.  Sông Srepok hợp lưu quan trọng nhất của con sông Mekong tại ngã ba Đông Dương và phân lưu quan trọng nhất của sông Mekong tại Phnôm Pênh.

Đến Srepok, tôi đã may mắn được gặp nhiều già làng người dân tộc bản địa và người Kinh, được sống và làm việc với Một thế hệ Tây Nguyên mới, gồm nhiều bạn bè, người dân của các vùng miền Việt Nam về Tây Nguyên lập nghiệp. Họ cùng chung lưng đấu cật với dân bản địa hình thành nên một Tây Nguyên mới. Một số già làng bản địa mà tôi từng biết như anh hùng Đinh Núp người dân tộc Ba Na làng Stơr, xã Tơ Tung, huyện KBang, tỉnh Gia Lai, là nhân vật chính, nguyên mẫu trong bộ tiểu thuyết Đất nước đứng lên của nhà văn Nguyên Ngọc. Nhà giáo nhân dân, bác sĩ Y Ngông Niê Kdăm, Hiệu trưởng trường  Đại học Tây Nguyên nhiệm kỳ 1987 -1993 người dân tộc Ê Đê, sinh tại buôn Ea Sup, xã Kma Rang Prong, nay thuộc thị trấn Ea Pôk, huyện Cư M’gar, tại Đắk Lắk. Các già làng người Kinh như PGS. TS. Phan Quốc Sủng- Nhà khoa học chiến thắng bệnh tật, Hiệu trưởng Trường  Đại học Tây Nguyên (1993- 1997), nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu cà phê Eakmat (nay là Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên) trong nhiều năm. Cụ Đỗ Hữu Bá (bí danh Đỗ Văn Trị) Tỉnh ủy viên Đắk Lắk, Trưởng ban Dân tộc và Định canh Định cư tỉnh, đảng viên huy hiệu 60 năm tuổi đảng, là người Phú Yên, nay ở thành phố Buôn Ma Thuột, cụ đã từng ở Nga và là một pho địa lý, lịch sử về Tây Nguyên …

Từ Mekong nhớ Neva

LANG THANG VƯỜN CỔ TÍCH

Hoàng Kim@hoangkimvn@ nên bật “Tây Nguyên của tôi” của Văn Công Hùng với chùm bài viết ám ảnh của chính mình … “Tây Nguyên đang rời xa đi cái gốc nguyên thủy của nó, đang bị giằng xé dữ dội giữa phát triển và bảo tồn, giữa những vòng quay chóng mặt của ngộ nhận và cố chấp, của cả tự ti và áp đặt, của vênh vang và ngu dốt, của thực dụng và hiếu thắng…

Chứ trong tôi, một Tây Nguyên hài hòa, nhân văn, trữ tình và đầy khát vọng nhưng cũng rất khiêm nhường luôn luôn thường trực, một Tây Nguyên biết cứ khi nào con người mỏi chân thì lại hiện lên một cái cây bóng mát, một Tây Nguyên có hẳn một nghi lễ khóc trâu trước khi hiến tế, và một Tây Nguyên cương quyết không lừa thần linh, nên dẫu nhà nước hứa rồi nhưng lại không cho thần linh ăn trâu thì họ mang về làng để làm. Bởi họ không ăn trâu, mà là dâng hiến cho thần linh. Sự dâng hiến tự nguyện và thành kính.

Nhân nghĩa thủy chung và cũng rất giữ lời, trung thực một cách cực đoan như vậy đấy, Tây Nguyên của tôi…

Xem tiếp
Đến với Tây Nguyên mới
Theo chân người dẫn đường
Trên bục giảng mùa xuân
Bao chuyện đời không quên

Đến với Tây Nguyên mới

VUI BƯỚC TỚI THẢNH THƠI
Hoàng Kim

Người rất muốn đi về trong tịch lặng
Quẳng lại sau lưng nhân thế muộn phiền
Ta đến chốn thung dung tìm hoa lúa
Rong chơi đường trần sống giữa thiên nhiên.

Tâm thanh thản buồn vui cùng nhân thế
Đời Đạo thịnh suy sương sớm đầu cành
Lòng hiền dịu và trái tim nhẹ nhõm
Kho báu chính mình phúc hậu an nhiên.

Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt (*)
Trăng rằm xuân lồng lộng bóng tri âm
Người tri kỷ cùng ta và năm tháng.
Giác Tâm ta về còn trọn niềm tin.

*

Thăm người ngọc nơi xa, vùng tỉnh lặng,
Chốn ấy đồng xanh, người đã chào đời.
Nơi sỏi đá, giữa miền thiêng hoa cỏ,
Thiên nhiên an lành, bước tới thảnh thơi.

Sống giữa đời vui, giấc mơ hạnh phúc,
Cổ tích đời thường đằm thắm yêu thương.
Con cái quây quần thung dung tự tại,
Minh triết cuộc đời phúc hậu an nhiên.

Xuân Hạ Thu Đông, bốn mùa luân chuyển
Say chân quê ngày xuân đọc Trạng Trình
Ngày ra ruộng, đêm thì đọc sách.
Ngọc cho đời, giữ trọn niềm tin.

TA VỀ VỚI ĐỒNG XUÂN

Người khôn về chốn đông người
Cái nhìn thì mỏng, cái cười thì nông
Ta vui về với ruộng đồng
Để gieo tục ngữ để trồng dân ca.

Thỏa thuê cùng với cỏ hoa
Thung dung đèn sách, nhẫn nha dọn vườn
Mặc ai tính thiệt so hơn
Bát cơm gạo mới vẫn thơm láng giềng

Thiên nhiên là thú thần tiên
Chân quê là chốn bình yên đời mình
Bạn hiền bia miệng anh linh
Thảnh thơi hưởng trọn ân tình thế gian

Nước trong ngập ánh trăng vàng
Ta ra cởi bỏ nhọc nhằn âu lo
Lợi danh một thực mười hư
Trăm điều ước vọng chỉ phù du thôi

Thung dung thanh thản cuộc đời
Tình quê bồi đắp về nơi sâu đằm
Đồng Xuân đất Mẹ vạn xuân
Chọn tìm giống tốt đêm nằm chiêm bao.

LỜI THẦY LUÔN THEO EM
Hoàng Kim

trước tượng Phan Bội Châu, nhớ thầy cô Nguyễn Khoa Tịnh Trần Diệu Vinh “Thầy truyền cho chúng em niềm tin Đạo làm người, lòng yêu nước. Em càng thấm thía vô cùng. Vì sao những người có tâm huyết ngày xưa. Những Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiếp, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, … Đều yêu nghề dạy học.”

Thầy thung dung bước lên bục giảng
Buổi học cuối cùng “Tổng kết sử Việt Nam”
Tiếng Thầy ấm trong từng lời nói
Như muốn truyền cho các em
Tất cả những niềm tin.

Đôi mắt sáng lướt nhìn toàn bộ lớp
Thầy có dừng trên khuôn mặt nào không ?
Thầy có tin trong lớp còn ngồi học
Có những em nung nấu chí anh hùng.

Các em hiểu những gì
Trong tim óc người Thầy
Mái tóc đà điểm bạc
Em biết Thầy tâm huyết rất nhiều
Trên mười năm dạy học
Vẫn canh cánh trong lòng
Luôn tìm kiếm những người
Có chí lớn
và tấm lòng yêu nước
thương dân.

Mười năm
Thức đo thời gian
Dài như cả nỗi đau chia cắt
Sương bạc thời gian phôi pha mái tóc
Câu chuyện mười năm Đông Quan dạy học
Hẳn nhiều đêm rồi
Thầy nhớ Ức Trai xưa?

Mười năm
Trang lòng, trang thơ
Nhớ tráng sĩ Đặng Dung đêm thanh mài kiếm
Ôi câu thơ năm nào
giữa lòng Thầy xao xuyến
“Anh hùng lỡ vận ngẫm càng cay”

Mười năm
Dằng dặc thời gian
Đo lòng Thầy nhớ miền Nam tha thiết
Em tin trong lòng Thầy
Luôn âm ỉ cháy lửa lòng yêu nước
Thầy có tin rằng trong lớp
Có người trò nghèo
Chí nối Ức Trai xưa.

“Dẫu đất này khi thịnh khi suy
Song hào kiệt đời nào cũng có”

Thầy giảng Đại cáo bình Ngô
Liên hệ chuyện chân chúa Nguyễn Hoàng
âm thầm tìm kiếm Đào Duy Từ …
cũng như chuyện “Tam cố thảo lư”
anh em Lưu Bị
vượt núi thẳm, mưa tuyết, đường xa
ba lần đến Long Trung
tìm kiếm Khổng Minh Gia Cát
tuổi chỉ đáng bằng tuổi con mình
nhưng trọng dụng kỳ tài
đã tôn làm quân sư cùng lo việc nước…

Thầy kể chuyện Đào Duy Từ xưa
Bậc khai quốc công thần nhà Nguyễn
dựng nghiệp nhọc nhằn, người hiền lắm nạn
cha mẹ chết oan, chiếc lá giữa dòng…
Đào Duy Từ còn mãi với non sông:
Người có công nghiệp lẫy lừng chẳng kém Ngọa Long
Định Bắc, thu Nam, công đầu Nam tiến.
Người tổ chức phòng ngự chiều sâu
Hoành Sơn, Linh Giang, Lũy Thầy
minh chúa, quân giỏi, tướng tài, ba tầng thủ hiểm
Người xây dựng nên định chế đàng Trong
một chính quyền rất được lòng dân
nức tiếng một thời.
Người viết nên kiệt tác Hổ trướng khu cơ,
tuồng Sơn Hậu, nhã nhạc cung đình
là di sản muôn đời.
Trí tuệ bậc thầy, danh thơm vạn thuở …

Thầy giảng về bài học lịch sử Việt Nam
những người con trung hiếu
tận tụy quên mình vì dân vì nước
hẳn lòng Thầy cháy bỏng khát khao
vượng khí non sông khí thiêng hun đúc
Đất Quảng Trạch này đâu kém Nam Dương
Có nông phu ham học chăm làm
Mà thao lược chuyển xoay thời vận.
Ôi sử sách cổ kim bao nhiêu gương sáng
Học sử ai người biết sử để noi?

“Lịch sử dân tộc mình
Những năm bảy mươi
Các em sẽ là người viết tiếp
Điểm theo thời gian
Truyền thống ông cha xưa
Oanh liệt vô cùng”

Tiếng Thầy thiết tha
Truyền nguồn cảm xúc
Các em uống từng lời
Lắng nghe từng chữ
Lời tâm huyết thấm sâu vào lòng em:
“Nung gan sắt để dời non lấp bể
Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ”
Em đã tìm được trong Thầy
Một người anh
Một người đồng chí
Em vững tin trong sự nghiệp cứu dân
Hẳn có lòng Thầy luôn ở bên em!

Thầy nói nhiều về Việt Nam thân yêu
Dựng nước gian nan, người dân còn khổ
Mắt Thầy thiết tha quá chừng
Làm em mãi nhớ
Thầy truyền cho chúng em niềm tin
Đạo làm người, lòng yêu nước
Em càng thấm thía vô cùng
Vì sao những người có tâm huyết ngày xưa
Những Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Nguyễn Thiếp, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, …
Đều yêu nghề dạy học.

Tổ Quốc cần, gọi em về phía trước
“Em ơi em, can đảm bước chân lên!” (1)
Em sẽ khắc trong lòng
Những lời dạy đầu tiên!

Lời Thầy luôn theo em

Hoàng Kim
Rút trong tập THƠ CHO CON

(1) bài thơ của thầy Nguyễn Khoa Tịnh
Em ơi em can đảm bước chân lên“.

NHỚ THẦY CÔ
Hoàng Kim

“Đúc gan sắt để dời non lấp bể
Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ”
Văn Sử là Người, Thầy Cô thắp lửa thiêng
Khoa Tịnh Diệu Vinh mãi mãi vững bền.

Thầy Cô đó thanh thản cùng con cháu
Nén hương thơm thành kính ơn Người
Thầy đón Cô về là ngày giỗ Bác (*)
Xa mà gần thương nhớ mãi Cô ơi !

Tài sản Thầy Cô gia đình hạnh phúc
Phúc hậu tận tâm minh triết an nhiên
Đời thanh thản sống vui sống khỏe
Trăng rằm xuân thế giới người hiền.

(*) Thầy Nguyễn Khoa Tịnh bài thơ “Em ơi em can đảm bước chân lên“ . Cô Diệu Vinh và người thân trước mộ cụ Phan. Ngày của Cô (21 tháng 7al) là ngày giỗ Bác Hồ, 31.8.2018 Lời của Thầy theo mãi bước em đi


EM ƠI EM CAN ĐẢM BƯỚC CHÂN LÊN
Nguyễn Khoa Tịnh

Thầy ước mong em noi gương Quốc Tuấn

Đọc thơ em, tim tôi thắt lại
Lòng nghẹn ngào, nước mắt chảy rưng rưng
Nửa xót xa nhưng nửa lại vui mừng
Xót xa vì đời em còn thơ dại
Mới tuổi thơ mà cuộc đời đầy khổ ải
Mới biết cười đã phải sống mồ côi
Như chiếc thuyền giữa biển tự trôi
Như chiếc lá bay về nơi vô định
“Bụng đói” viết ra thơ em vịnh:

“Cơm ngày một bữa sắn trộn khoai
Có biết lòng ta bấy hỡi ai?
Vơi vơi lòng dạ, cồn cào bụng
Kể chi no đói, mặc ngày dài”

Phải!
Kể chi no đói mặc ngày dài
Rất tự hào là thơ em sung sức
Rất tự hào là em tôi đầy nghị lực
Đã hiển lộ mình qua “Cái chảo rang”

“Trung dũng ai bằng cái chảo rang
Lửa to mới biết sáp hay vàng
Xào nấu chiên kho đều vẹn cả
Chua cay mặn ngọt giữ an toàn
Ném tung chẳng vỡ như nồi đất
Quăng bừa xó bếp vẫn nằm ngang
Tốt đẹp đâu cần danh tiếng hão
Bạn cùng lửa đỏ, nóng chang chang”

Phải!
Lửa to mới biết sáp hay vàng!
Em hãy là vàng,
Mặc ai chọn sáp!
Tôi vui sướng cùng em
Yêu giấc “Ngủ đồng
Hiên ngang khí phách:

“Sách truyền sướng nhất chức Quận công
Ta sướng khi ra ngủ giữa đồng
Lồng lộng trời hè muôn làn gió
Đêm thanh sao sang mát thu không
Nằm ngữa ung dung như khanh tướng
Lấy mấy vần thơ tỏ nỗi lòng
Tinh tú bao quanh hồn thời đại
Ngủ đồng khoan khoái ngắm gương trong”

Tôi biết chí em khi “Qua đèo Ngang
Ung dung xướng họa với người anh hùng
Đã làm quân thù khiếp sợ:

“Ta đi qua đèo Ngang
Cũng gặp Người trèo qua núi hiểm
Đỉnh dốc chênh vênh
Xe mù bụi cuốn
Có lẽ thiên nhiên đã định bao giờ
Một dãy Hoành Sơn bát ngát trận đồ
Điệp điệp núi cao
Trùng trùng rừng thẳm.
Người thấy
Súng gác trời xanh
Gió lùa biển lớn
Nông dân rộn rịp đường vui
Thanh Quan nàng nhẽ có hay
Cảnh mới đã thay cảnh cũ.
Ta hay
Máu chồng đất đỏ
Mây cuốn dặm khơi
Nhân công giọt giọt mồ hôi
Hưng Đạo thầy ơi có biết
Người nay nối chí người xưa

Tới đây
Nước biếc non xanh
Biển rộng gió đùa khuấy nước
Đi nữa
Đèo sâu vực thẳm
Núi cao mây giỡn chọc trời
Nhớ thù nhà, luống thẹn làm trai
Thương dân nước, thà sinh phận gái
“Hoành Sơn cổ lũy”
Hỏi đâu dấu tích phân tranh?
Chỉ thấy non sông
Lốc cuốn, bốn phương sấm động.
Người vì việc nước ra đi
Ta muốn cứu dân nên thăm trận thế
Điều không hẹn mà xui gặp mặt
Vô danh lại gặp hữu danh
Cuộc đời dài ắt còn sẽ gặp nhau
Nay hội ngộ giữa đỉnh cao trời đất
Anh em ta ngự trên xe đạp
Còn Người thì lại đáp com măng
Đường xuyên sơn
Anh hùng gặp anh hùng
Nhìn sóng biển Đông
Như ao trời dưới núi.

Xin kính chào
Bậc anh hùng tiền bối
Ta ngưỡng mộ Người
Và tỏ chí với non sông
Mẹ hiền ơi!
Tổ Quốc ơi!
Xin tiếp bước anh hùng!”

Hãy cố lên em!
Noi gương danh nhân mà lập chí
Ta với em
Mình hãy kết thành đôi tri kỷ!
Đất Quảng Trạch này đâu kém Nam Dương
Tôi tự hào bài “Tỏ chí” của em:

“Quốc Tuấn ngày xưa chí vững bền
Thù nhà, nợ nước chẳng hề quên
Đến bữa quên ăn, đêm quên ngủ
Thương dân, yêu nước quyết báo đền
Văn hay thu phục muôn người Việt
Võ giỏi kinh hồn lũ tướng Nguyên
Mươi năm sau nữa ơi ông Tuấn
Nối chí ông, nay cháu tiến lên!”

Tôi thương mến em
Đã chịu khó luyện rèn
Biết HỌC LÀM NGƯỜI !
Học làm con hiếu thảo.
Mười lăm tuổi đã “Tập làm thầy giáo

“Vui gì hơn buổi đầu làm thầy giáo
Của lớp vở lòng đất mẹ yêu thương
Trưa nắng luyến các em cùng đến lớp
Giọng líu lo như chim hót ven đường.

Đứng trước các em tuổi nhỏ đáng yêu
Mà đã tưởng tới bao nhiêu người lớn
Nghe em đọc giọng thanh thanh dễ mến

Mà đã nghe đất nước xuyến xao mình!”|
Tổ Quốc đang chờ em phía trước.
Em ơi em, can đảm bước chân lên!

LỜI CỦA THẦY THEO MÃI BƯỚC EM ĐI
Hoàng Kim
tưởng nhớ thầy Nguyễn Khoa Tịnh

Thầy thung dung bước lên bục giảng
Buổi học cuối cùng “Tổng kết sử Việt Nam”
Tiếng Thầy ấm trong từng lời nói
Như muốn truyền cho các em
Tất cả những niềm tin.

Đôi mắt sáng lướt nhìn toàn bộ lớp
Thầy có dừng trên khuôn mặt nào không ?
Thầy có tin trong lớp còn ngồi học
Có những em nung nấu chí anh hùng.

Các em hiểu những gì
Trong tim óc người Thầy
Mái tóc đà điểm bạc
Em biết Thầy tâm huyết rất nhiều
Trên mười năm dạy học
Vẫn canh cánh trong lòng
Luôn tìm kiếm những người
Có chí lớn
và tấm lòng yêu nước
thương dân.

Mười năm
Thức đo thời gian
Dài như cả nỗi đau chia cắt
Sương bạc thời gian phôi pha mái tóc
Câu chuyện mười năm Đông Quan dạy học
Hẳn nhiều đêm rồi
Thầy nhớ Ức Trai xưa?

Mười năm
Trang lòng, trang thơ
Nhớ tráng sĩ Đặng Dung đêm thanh mài kiếm
Ôi câu thơ năm nào
giữa lòng Thầy xao xuyến
“Anh hùng lỡ vận ngẫm càng cay”

Mười năm
Dằng dặc thời gian
Đo lòng Thầy nhớ miền Nam tha thiết
Em tin trong lòng Thầy
Luôn âm ỉ cháy lửa lòng yêu nước
Thầy có tin rằng trong lớp
Có người trò nghèo
Chí nối Ức Trai xưa.

“Dẫu đất này khi thịnh khi suy
Song hào kiệt đời nào cũng có”

Thầy giảng Đại cáo bình Ngô
Liên hệ chuyện chân chúa Nguyễn Hoàng
âm thầm tìm kiếm Đào Duy Từ …
cũng như chuyện “Tam cố thảo lư”
anh em Lưu Bị
vượt núi thẳm, mưa tuyết, đường xa
ba lần đến Long Trung
tìm kiếm Khổng Minh Gia Cát
tuổi chỉ đáng bằng tuổi con mình
nhưng trọng dụng kỳ tài
đã tôn làm quân sư cùng lo việc nước…

Thầy kể chuyện Đào Duy Từ xưa
Bậc khai quốc công thần nhà Nguyễn
dựng nghiệp nhọc nhằn, người hiền lắm nạn
cha mẹ chết oan, chiếc lá giữa dòng…
Đào Duy Từ còn mãi với non sông:
Người có công nghiệp lẫy lừng chẳng kém Ngọa Long
Định Bắc, thu Nam, công đầu Nam tiến.
Người tổ chức phòng ngự chiều sâu
Hoành Sơn, Linh Giang, Lũy Thầy
minh chúa, quân giỏi, tướng tài, ba tầng thủ hiểm
Người xây dựng nên định chế đàng Trong
một chính quyền rất được lòng dân
nức tiếng một thời.
Người viết nên kiệt tác Hổ trướng khu cơ,
tuồng Sơn Hậu, nhã nhạc cung đình
là di sản muôn đời.
Trí tuệ bậc thầy, danh thơm vạn thuở …

Thầy giảng về bài học lịch sử Việt Nam
những người con trung hiếu
tận tụy quên mình vì dân vì nước
hẳn lòng Thầy cháy bỏng khát khao
vượng khí non sông khí thiêng hun đúc
Đất Quảng Trạch này đâu kém Nam Dương
Có nông phu ham học, chăm làm
Mà thao lược chuyển xoay thời vận.

Ôi sử sách cổ kim bao nhiêu gương sáng
Học sử ai người biết sử để noi?

“Lịch sử dân tộc mình
Những năm bảy mươi
Các em sẽ là người viết tiếp
Điểm theo thời gian
Truyền thống ông cha xưa
Oanh liệt vô cùng”

Tiếng Thầy thiết tha
Truyền nguồn cảm xúc
Các em uống từng lời
Lắng nghe từng chữ
Lời tâm huyết thấm sâu vào lòng em:
“Nung gan sắt để dời non lấp bể
Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ”
Em đã tìm được trong Thầy
Một người anh
Một người đồng chí
Em vững tin trong sự nghiệp cứu dân
Hẳn có lòng Thầy luôn ở bên em!

Thầy nói nhiều về Việt Nam thân yêu
Dựng nước gian nan, người dân còn khổ
Mắt Thầy thiết tha quá chừng
Làm em mãi nhớ
Thầy truyền cho chúng em niềm tin
Đạo làm người, lòng yêu nước
Em càng thấm thía vô cùng
Vì sao những người có tâm huyết ngày xưa
Những Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Nguyễn Thiếp, Phan Châu Trinh, …
Đều yêu nghề dạy học.

Tổ Quốc cần, gọi em về phía trước
“Em ơi em, can đảm bước chân lên!”
Em sẽ khắc trong lòng
Những lời dạy đầu tiên!

Lời của Thầy theo mãi bước em đi.

Lê Quang Vinh cùng với Ma Thi Len8 người khác.18 Tháng 11, 2017 ·

HAI BÀI THƠ – MỘT TẤM LÒNG
Lời dẫn của Lê Quang Vinh

Tôi là lứa học trò gần như “đầu đời’’ của cụ Nguyễn Khoa Tịnh. Ông dạy môn Lịch sử hai năm tôi học ở lớp 8C và lớp 9B (các năm 1964 – 1966, tại Trường Cấp 3 Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình). Tôi nhớ, hồi ấy Thầy giáo chưa… “làm thơ”; hoặc có làm nhưng không thấy đọc cho học trò nghe bao giờ.

Tôi hơn Hoàng Kim (FB “Hoàng Kim“) 6 tuổi. Em là lứa lớp sau tôi mấy khóa. Nhưng hai anh em may mắn, đều được thụ giáo (chịu sự dạy bảo) của thầy Nguyễn Khoa Tịnh.

Như đã “bật mí” tại lời dẫn của tôi trong bài “MỘT BÀI THƠ HAY CỦA NGƯỜI CON TRAI LÀNG MINH LỆ – TIẾN SĨ NÔNG HỌC HOÀNG KIM” (Lê Quang Vinh): “Chàng trai này từ nhỏ tên “Hoàng Minh Kim”, đã ham đọc sách và làm thơ; cứ tưởng sau này sẽ theo nghiệp… văn chương”.

Có lẽ thế, nên khi vừa vào học Cấp 3 Bắc Quảng Trạch, Hoàng Kim đã viết mấy bài thơ về thế giới quanh em; hoặc hoàn cảnh riêng của cá nhân mình… Em không thể ngờ được rằng, các bài thơ vô tư, hồn nhiên đó; lại có thể lọt ngay vào đôi “mắt xanh” của người thầy dạy Sử này. Đấy là “duyên thơ” của cả hai thầy trò.

Bài thơ “Em ơi em, can đảm bước chân lên” của cụ Nguyễn Khoa Tịnh chính là “họa lại” (tổng hợp, khuếch tán, nhân lên tình ý) từ cảm hứng đột nhiên khi đọc được thơ cậu học trò nhỏ của mình, gồm 6 bài thơ: “Bụng đói”, “Cái chảo rang”, “Ngủ đồng”, “Qua đèo Ngang”, “Tỏ chí”, “Tập làm thầy giáo”.

Điều thú vị là, trong bài thơ “Em ơi em, can đảm bước chân lên”, Ông giáo dùng nguyên văn nhiều câu thơ, đoạn thơ và cả bài thơ của Hoàng Kim – thủ pháp rất hiếm khi phải dùng tới hoặc khá “tối kỵ” trong sáng tạo nghệ thuật. Thế mà Thầy lại cố ý, dụng công vô cùng, để biến nó thành những câu thơ, đoạn thơ thống nhất, nhuần nhị trong cả bài thơ một cách hợp lý; khiến chất liệu thơ cùng giọng điệu, cấu tứ hòa quện nhau như… rút từ ruột gan của “chính mình’’ ra.

Cụ Nguyễn Khoa Tịnh làm điều này một cách khéo léo qua những câu thơ “bình luận” thơ trò, để “kết dính” chúng với nhau. Qua các câu thơ “bình luận” ấy, nâng tầm “thi liệu” đang được sử dụng trong bài thơ mình.

Đọc xong bài thơ, nếu không thật “chú ý”, khó lòng mà nhận ra đâu là… “thơ thầy”, đâu là… “thơ trò”. Đấy cũng là một “sự chơi” độc đáo của các bậc thi gia xưa…

(1/ “Bụng đói”: cả bài 4 câu “tứ tuyệt”.
2/ “Cái chảo rang”: cả bài 8 câu “thất ngôn”.
3/ “Ngủ đồng”: cả bài 8 câu “thất ngôn”.
4/ “Qua đèo Ngang”: cả bài 51 câu thể thơ “tự do”.
5/ “Tỏ chí”: Cả bài 8 câu thất ngôn.
6/ “Tập làm thầy giáo” cả bài 8 câu “bát ngôn”.).

Chắc chắn khi Hoàng Kim nhận lại được bài thơ đầy ân tình của Thầy – hẳn đã vô cùng sung sướng, cảm động. Đó chính là nguồn hứng khởi lay động tâm hồn, trái tim người học trò còn rất bé nhỏ này; để rồi sáng tạo nên bài thơ mới lắng đọng hơn, sâu sắc hơn, lý trí hơn: “LỜI CỦA THẦY THEO MÃI BƯỚC EM ĐI”.

Nhân ngày Nhà giáo Việt Nam, LQV xin gửi đến bạn đọc hai bài thơ – thực chất là cùng một tấm lòng yêu thương (“Tất cả vì học trò thân yêu” của người thầy và đạo lý “Tôn sư trọng đạo” của cậu học trò); nó thực sự thấm đẫm tình thầy trò của cụ Nguyễn Khoa Tịnh và người học trò xưa của ông – nay đã là Nhà nông học, Tiến sĩ Hoàng Kim – đúng như kỳ vọng cùng tiên đoán của mình.

Hà Nội, 16 giờ 04′ – ngày 18/11/2017

LQV,

Ơn Thầy

ƠN THẦY
Hoàng Kim
kính tặng thầy Mai Văn Quyền và quý Thầy Cô


Cha ngày xưa nuôi con đi học.
Một nắng hai sương trên những luống cày,
Trán tư lự, cha thường suy nghĩ, 
Phải dạy con mình như thế nào đây?


Cha mất sớm, bom thù rung mặt đất,
Cái chết giằng cha ra khỏi tay con,
Mắt cha lắng bao niềm ao ước,
Vẫn lo cho con đến phút cuối cùng.


Giặc giết cha, cha chưa kịp thấy,
Tương lai con đi, sự nghiệp con làm.
Cha có biết, luống cày cha bỏ dỡ,
Cha ngã xuống rồi trao lại tay con.


Trên luống cày này, đường cày con vững.
Bởi có dáng Thầy thay bóng cha xưa.
Hiểu mảnh đất máu đào cha nhuộm đỏ.
Thôi thúc tim con học tập phút giờ .

KHO BÁU ĐỈNH TUYẾT SƠN
Hoàng Kim

Bí mật kho báu trên đỉnh Tuyết Sơn góp phần giải mã ba tồn nghi lớn của lịch sử: Vì sao Trung Quốc quyết không cho Tây Tạng tự trị? Lý Tự Thành và kho báu đời Minh? Bí mật ngoại giao thời vua Càn Long với nhà Tây Sơn? Tuyết Sơn phi hồ là bộ tiểu thuyết đầu tiên trong 14 bộ tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Kim Dung, một trong ba văn hào được nhiều người đọc nhất của Trung Quốc đương đại. Tác phẩm Tuyết Sơn phi hồ của Kim Dung là một trong những đỉnh cao văn chương Trung Hoa và Thế Giới đã chuyển thể nghệ thuật điện ảnh và được nhiều nhà văn tài năng ao ước chinh phục, . Bài viết này đăng trên trang Nghiên cứu lịch sử ngày 1.8. 2016; được bảo tồn và phát triển tại đây https://hoangkimlong.wordpress.com/category/kho-bau-dinh-tuyet-son/

Bản đồ địa hình Việt Nam. Được tạo với GMT từ dữ liệu GLOBE được phát hành công khai Topographic map of Vietnam. Created with GMT from publicly released GLOBE data

VIỆT NAM TỔ QUỐC TÔI
Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim

VIỆT NAM HỌC Tổng quan văn hoá và kinh tế xã hội Việt Nam là tập tài liệu giảng dạy nghiên cứu Việt Nam Học: người Việt, tiếng Việt, nông nghiệp Việt Nam, văn hóa, kinh tế, xã hội, du lịch sinh thái. Mục đích nhằm đúc kết kiến thức nền Việt Nam Học, giúp việc tìm hiểu đất nước con người Việt Nam “vốn xưng nền văn hiến đã lâu; núi sông bờ cõi đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác” (Nguyễn Trãi, 1428) với phẩm chất văn hóa thân thiện, tốt đẹp. Việt Nam Học bài này giới thiệu tóm tắt Thông tin nhanh về Việt Nam Bài đọc thêm Việt Nam đất lành chim đậu Nha Trang và A. Yersin

VIỆT NAM MỘT THOÁNG NHÌN

Việt Nam là một đất nước yêu độc lập, tự do và hạnh phúc. Đất nước Việt Nam hình chữ S, nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, ở phía đông bán đảo Đông Dương, phía bắc giáp Trung Quốc, phía tây giáp Lào, Campuchia, phía đông nam trông ra biển Đông và Thái Bình Dương. Việt Nam có diện tích 331.211,6 km², Dân số hiện tại của Việt Nam là 98.169.571 người vào ngày 01/07/2021 theo số liệu mới nhất từ Liên Hợp Quốc; Việt Nam đang đứng thứ 15 trên thế giới trong bảng xếp hạng dân số các nước và vùng lãnh thổ.Mật độ dân số của Việt Nam là 317 người/ km²; 37,34% dân số sống ở thành thị (36.346.227 người vào năm 2019) (Nguồn: https://danso.org/viet-nam/). Thủ đô là Hà Nội. Ba thành phố chính nổi tiếng nhất của Việt Nam là Hà Nội, Huế và thành phố Hồ Chí Minh. Bờ biển Việt Nam dài 3 260 km, biên giới đất liền dài 4 510 km. Trên đất liền, từ điểm cực Bắc đến điểm cực Nam (theo đường chim bay) dài 1 650km, từ điểm cực Đông sang điểm cực Tây nơi rộng nhất 600km (Bắc bộ), 400 km (Nam bộ), nơi hẹp nhất 50km (Quảng Bình). Kinh tuyến Việt Nam từ 102º 08′ đến 109º 28′ đông,Vĩ tuyến Việt Nam từ 8º 02′ – 23º 23′ bắc. Việt Nam là đầu mối giao thông từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương. Khí hậu Việt Nam là khí hậu của nước nhiệt đới gió mùa; Địa hình lãnh thổ Việt Nam phần đất liền bao gồm 3 phần 4 là đồi núi; Tài nguyên Việt Nam có những nguồn tài nguyên vô cùng phong phú như tài nguyên rừng, tài nguyên thủy hải sản, tài nguyên du lịch và nhiều loại khoáng sản đa dạng, nhưng trên hết, trước hết đó là tài nguyên con người hiền hòa, thân thiện, anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang, năng động, sáng tạo, sống có trách nhiệm với mái nhà chung Trái Đất, thích làm bạn với nhân dân thế giới.  Phân cấp hành chính Việt Nam hiện nay vối diện mạo mới gồm 34 tỉnh thành được chính thức hoạt động từ ngày 1 tháng 7 năm 2025 (hình 1).

Việt Nam ngày nay có 3321 xã phường, đặc khu chính thức của 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh thành phố Danh sách 3321 xã phường, đặc khu chính thức của 34 tỉnh thành phố tại Thư Viện Pháp Luật . Việt Nam thông tin khái quát, cập nhật mới hệ thống tại https://hoangkimlong.wordpress.com/category/viet-nam-thong-tin-khai-quat/

Bản đồ Hành chính Việt Nam (hình 2). Bảy vùng sinh thái kinh tế nông nghiệp Việt Nam (hình 3) cung cấp sự so sánh thông tin toàn cành theo Điều 110 Hiến pháp 2013 [1] và Điều 2 Luật Tổ chức chính quyền địa phương[2] với sự sáp nhập mới do Quốc hội thành lập. Việt Nam ngày nay có 2 cấp hành chính là cấp tỉnh thành phố và cấp xã phường so với trước đây có 3 cấp hành chính là cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã.

Hình 2: Bản đồ Hành chính Việt Nam
Hình 3: Bảy vùng sinh thái kinh tế nông nghiệp Việt Nam

Việt Nam Tổ quốc tôi  Nong Lam University in Ho Chi Minh Dạy và Học Cây Lương thực Việt Nam CNM365 Tình yêu cuộc sống đúc kết thông tin Việt Nam Đất nước Con người, Ngôn ngữ Nông nghiệp Du lịch Sinh thái, Lịch sử Địa lý Giáo dục Văn hóa, Kinh tế Xã hội Truyền Thông Ebook. Thông tin VIỆT NAM HỌC được trích dẫn từ Wikipedia tiếng Việt và các nguồn liên quan tới 1 tháng 7 năm 2025

Việt Nam Học Tinh Hoa

Nông nghiệp sinh thái Việt
Di sản thế giới tại Việt Nam
Du lịch sinh thái Việt
Vườn Quốc gia Việt Nam

Nông nghiệp công nghệ cao
Nông nghiệp Việt trăm năm
Ngôn ngữ văn hóa Việt
Dạo chơi non nước Việt

CHÍN BÀI THƠ KHÔNG QUÊN
Hoàng Kim

Nhân dân ta, dân tộc ta, non sông đất nước ta đời đời ghi nhớ ơn những người con trung hiếu đã hiến thân minh cho Tổ Quốc. Bài thơ không quên ĐẤT NƯỚC TÔI mỗi năm ngày 27 tháng 7 tôi đều học lại: Tấm ảnh Bác Hồ nghiêm trang lặng lẽ đã dạy chúng tôi thật nhiều điều: “Có những dòng sông mãi không chảy ra biển, chẳng phải vì bãi bờ níu kéo mà bởi lòng người còn gửi gắm trĩu nặng ở nơi đây! Có những thảm cỏ không ai nỡ đặt chân, chẳng phải vì cỏ non xanh mướt mà vì còn nhiều người con ưu tú đất Việt đang nằm dưới đất này! Có những khoảng trời thật trong xanh chỉ để dành cho hương trầm lan tỏa! Và có những khoảng thời gian, cả dân tộc ta cùng hướng về Ngày Thương Binh Liệt Sĩ “

Chín bài thơ không quên và chùm ảnh cùng chủ đề: “Viếng mộ cha mẹ”; “Em ơi em can đảm bước chân lên”; “Mẹ”, ”Ba nén hương”; “Thư của người ra trận”; “Qua Thạch Hãn nhớ Linh Giang” “Linh Giang dòng sông quê hương”; “Thắp đèn lên đi em”; “Tháng Bảy mưa ngâu”, Bài thơ “Viếng mộ cha mẹ” của đại tá Hoàng Trung Trực rút trong tập thơ “Dấu chân người lính”. “Em ơi em can đảm bước chân lên” là bài thơ của thầy giáo Nguyễn Khoa Tịnh. “Mẹ” là bài thơ của nhà thơ chiến sĩ Tô Hoàn, rút trong “Tuyển tập thơ lục bát Việt Nam” tái bản tháng 7 năm 2000, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin ấn hành. “Ba nén hương” là bài thơ của nhà thơ thương binh Hoàng Cát đăng trên báo và trang thơ Nguyễn Trọng Tạo. ”Thư của người ra trận” là bài thơ do anh Lê Trung Xuân đọc cuối năm 1971 và Hoàng Kim chép lại theo trí nhớ. Bốn người bạn Xuân, Chương, Trung, Kim đều cùng là sinh viên đại học nhập ngũ tháng 9 năm 1971. Chúng tôi cùng trong một tổ chiến đầu bốn người. Hai anh Xuân và Chương đều hi sinh năm 1972 tại Quảng Trị, còn Phạm Huy Trung và Hoàng Kim trở về trường cũ sau ngày đất nước thống nhất . Anh Xuân ra đi đã mang theo bí mật của bài thơ tình “Thư của người ra trận” mà cho đến nay chúng tôi vẫn chưa biết rõ ai là tác giả. “Thắp đèn lên đi em”; “Qua Thạch Hãn nhớ Linh Giang” “Linh Giang dòng sông quê hương”; “Tháng Bảy mưa ngâu” là thơ Hoàng Kim. https://hoangkimvn.wordpress.com/2022/07/26/chin-bai-tho-khong-quen/

Anh Phan Chi Thắng nhắn tin Được tin nhà thơ Hoàng Cát qua đời, buồn quá, dẫu biết quy luật sinh lão bệnh tử không trừ một ai và biết anh Hoàng Cát bệnh đã mấy năm nay. epsnotdoSrh5t50l078g9a0p47l2a19gmlhfla2t3ú0h9ff2c0i7t1l0 61g. Hoàng Kim xin chép lại bài thơ “Ba nén hương” của nhà thơ thương binh Hoàng Cát như một nén tâm hương đưa tiễn Anh. Thành Kính Phân Ưu, Kính Anh An Lành Cõi Bụt

BA NÉN HƯƠNG
Hoàng Cát

Nén hương này con thắp giỗ mẹ
Bom ập đến mẹ về cõi thế

Nén hương này anh thắp giỗ em
Ở lại miền Nam không có mộ để anh tìm

Nén hương này tôi thắp giỗ thân tôi
Chiến tranh cướp đi hai chục năm rồi

Ba nén hương một mình tôi làm giỗ
Giỗ chính mình, giỗ mẹ, giỗ em tôi !


xem tiếp https://hoangkimvn.wordpress.com/category/chin-bai-tho-khong-quen/

KIM NOTES LÁNG GHI CHÚ *

Hình như thênh thênh ngày rộng
Hình như dìu dịu nắng trời
Ngày mới không còn thấy vội
Thanh nhàn ngày tháng đưa nôi …

Hạnh phúc sao mà giản dị
An nhiên vui với mỗi ngày
Ríu rít nghe chim gọi tổ
Nồng nàn hương mít thơm cây …

Hoa Lúa quyện vào Hoa Đất
Giấc mơ hạnh phúc bình an
Ngắm gốc mai vàng trước ngõ
Thời gian lắng đọng người hiền.


Hoàng Kim

(*) Kim Notes lắng ghi chú mỗi câu một đường dẫn, ẩn ngữ thông tin; xem tiếp
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/kim-notes-lang-ghi-chu/

#htn365 BÌNH MINH AN TRUNG ANH (rất rất rất cẩn thận 12 bài cơ bản nhất)
#hga365 @hoangkimvn https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana

Bài viết

NÔNG NGHIỆP SINH THÁI VIỆT
Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim (2021)

Tiếng Việt văn hóa kinh tế 学中越文 Tổng quan văn hoá và kinh tế xã hội Việt Nam 越南社会经济和文化概述 là tập tài liệu giảng dạy nghiên cứu Việt Nam Học Người Việt, Tiếng Việt, Nông nghiệp Việt Nam, văn hóa, kinh tế xã hội, du lịch sinh thái. Mục đích nhằm hổ trợ hệ thống hóa kiến thức nền Việt Nam Học, giúp bạn trẻ ham học hỏi, và người nước ngoài, cập nhật các hiểu biết khái quát về đất nước con người Việt Nam với phẩm chất văn hóa thân thiện, tốt đẹp “vốn xưng nền văn hiến đã lâu; núi sông bờ cõi đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác” (Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi, năm 1428). Nông nghiệp sinh thái Việt; Di sản thế giới tại Việt Nam; Du lịch sinh thái Việt; Vườn Quốc gia Việt Nam; Nông nghiệp công nghệ cao; Nông nghiệp Việt trăm năm; Ngôn ngữ văn hóa Việt; Dạo chơi non nước Việt; … rút trong tập tài liệu này là một số chủ đề giao lưu nông nghiệp sinh thái, ngôn ngữ, văn hóa,… xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nong-nghiep-sinh-thai-viet.

Người Việt, tiếng Việt và nông nghiệp Việt Nam là ba di sản quý nhất của dân tộc Việt được bảo tồn và phát triển. Người Việt gồm cộng đồng 54 dân tộc và 1 nhóm “người nước ngoài’ trong Danh mục các dân tộc Việt Nam, theo Quyết định số 421, ngày 2/3/1979 Tổng cục Thống kê). Người Việt bản địa là chủ nhân của nền văn hóa thời đồ đá tại Việt Nam từ 7.000 – 20.000 năm trước, là chủ nhân của tiếng Việt và nền văn minh lúa nước, chốn tổ của nghề trồng lúa nước trên thế giới. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính tiếng nói theo nhóm Việt-Mường của 8 nhóm ngôn ngữ Việt. Nông nghiệp Việt Nam là một trong ba ngành kinh tế, chiếm tỷ trọng trong tổng GDP Việt Nam năm 2015 ước tính: Nông nghiệp (nông lâm thủy sản) 17.4%; Công nghiệp (khai thác khoáng sản, công nghiệp chế biến, công nghiệp vật liệu xây dựng, sản xuất phân phối khí, điện, nước,…) 38.8%; Dịch vụ (thương mại, tài chính, du lịch, văn hóa, giáo dục, y tế) 43.7%.

Nông nghiệp sinh thái Việt Nam là bài giảng của tiến sĩ Hoàng Tố Nguyên, giảng viên khoa Ngữ văn Trung Quốc, Trừờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, được đào tạo chuyên ngành tiếng Trung hiện đại tại Trường Đại học Sư phạm Hoa Trung (Trung Quốc), với sự hổ trợ đúc kết thông tin liên ngành của tiến sĩ Hoàng Long, giảng viên Cây Lương thực, Bộ môn Cây Lương thực Rau Hoa Quả Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh và tiến sĩ nông học Hoàng Kim. Bài giảng này là tài liệu học tập cho sinh viên nước ngoài đang giao lưu ngôn ngữ văn hóa Việt Trung Anh và tìm hiểu kinh tế xã hội, nông nghiệp sinh thái, giáo dục, du lịch Việt Nam tại Trường. Đề cương bài giảng chương Nông nghiệp sinh thái Việt Nam gồm 9 nội dung tóm tắt: 1) Nông nghiệp sinh thái Việt Nam là nền tảng của kinh tế; 2) Bảy vùng nông nghiệp sinh thái Việt Nam; 3) Đặc điểm bảy vùng nông nghiệp sinh thái Việt Nam; 4) Hiện trạng tầm nhìn lao động nông nghiệp sinh thái Việt Nam;  5) Du lịch nông nghiệp sinh thái Việt Nam; 6) Nông nghiệp sinh thái Việt Nam ngày nay; 7) Tết Việt khởi đầu 24 tiết khí lịch nhà nông; 8) Việt Nam con đường xanh Ứng dụng công nghệ nâng cao chuỗi giá trị nông nghiệp (Technological application enhances agriculture value chain); 9) Nông nghiệp sinh thái Việt Nam điểm đến yêu thích của bạn. Thông tin được đúc kết, cập nhật, tại https://hoangkimvn.wordpress.com/http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://hoangkimlong.wordpress.com/category/nong-nghiep-sinh-thai-viet/ và https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-19-thang-7/

I. Nông nghiệp sinh thái Việt Nam là nền tảng của kinh tế

1.1 Người Việt trọng nông 
Thành ngữ Việt Nam: “dĩ nông vi bản” (lấy nghề nông làm gốc). Nông nghiệp sinh thái Việt Nam là nền tảng kinh tế vì đất nước là môi trường sống, là nguồn sống, nguồn thức ăn căn bản của đời sống con người. Việt Nam là chốn tổ của nền văn minh lúa nước với các di tích khảo cổ về người tiền sử với các nền văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn từ 7.000- 20.000 năm trước Công nguyên đã chứng tỏ sự xuất hiện của một nền nông nghiệp và chăn nuôi rất sớm. Nông nghiệp Việt Nam ngày nay đang vượt ra khỏi sản xuất nông nghiệp truyền thống để không chỉ tạo ra lương thực thực phẩm cho con người (food) thức ăn cho các con vật (feed) mà còn làm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến, may mặc, sợi dệt, chất đốt, cây cảnh và sinh vật cảnh, chất hóa học, cơ giới hóa nông nghiệp,  sinh hóa học nông nghiệp. các loại phân bón, thuốc trừ sâu, diệt cỏ.

1.2 Ba di sản lớn nhất  Việt Nam
Người Việt, Tiếng Việt và Nông nghiệp sinh thái Việt Nam là Ba di sản lớn nhất Việt Nam được nhà nước và nhân dân Việt Nam trọng tâm bảo tồn và phát triển.Việt Nam là đất nước của 54 dân tộc anh em với một nhóm “người nước ngoài”, trong Danh mục các dân tộc Việt Nam, theo Quyết định số 421, ngày 2/3/1979 Tổng cục Thống kê. Thông tin của Viện Nghiên cứu hệ gene, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, do Giáo sư Nông Văn Hải, công bố nguồn:Báo Tin Sáng 27 5 2020 Nghiên cứu đa dạng di truyền hệ gene ngưởi Việt Nam: Những viên gạch đầu tiên” với nhiều thư mục dẫn liệu kèm theo, đã có thể hé mở một phần câu trả lời. “đỉnh cao tập trung sự đa dạng DNA ty thể (của Người Việt cổ là) vào khoảng thời gian trùng với nền Văn hóa Đông Sơn, “có một sự tập trung gene cổ vào vùng đồng bằng sông Hồng khoảng 2.500-3.000 năm về trước”. Như vậy, không phải chỉ tổ tiên của người Kinh tập trung ở đồng bằng sông Hồng mà tổ tiên của các tộc người thuộc 5 nhóm ngữ hệ ngày nay đều có dấu vết tập trung dân cư đông đúc ở đây vào thời Đông Sơn. Nghĩa là nền văn hóa Đông Sơn là chung của các dân tộc này trong quá khứ. Đây là bằng chứng khoa học mới, đầu tiên trên thế giới về di truyền phân tử người cho thấy sự đa dạng di truyền liên quan đến khoảng thời gian ra đời của văn hóa Đông Sơn. Và điều này có thể đem lại một phần lời giải cho khẳng định của các nhà nghiên cứu khảo cổ học tiền sơ sử như TS Nguyễn Việt về các cư dân thời Đông Sơn và tiền Đông Sơn là một khối Bách Việt

Người Việt chủ yếu là dân tộc Kinh (chiếm 86,2 % dân số) sinh sống trên khắp toàn thể nước Việt Nam và một số nước khácnhưng đông nhất vẫn là các vùng đồng bằng và thành thị trong nước. Người Kinh sống rải rác trên khắp lãnh thổ Việt Nam, nhưng tập trung nhiều nhất ở các đồng bằng và châu thổ các con sông. 53 dân tộc Việt Nam thiểu số còn lại sinh sống chủ yếu ở miền núi và trung du, trải dài từ Bắc vào Nam; hầu hết trong số họ sống xen kẽ nhau, điển hình là cộng đổng dân tộc thiểu số ở phía Bắc và Bắc Trung Bộ. Các dân tộc thiểu số đông dân và có số lượng dao động trên dưới một triệu người gồm Tày, Thái, Mường, Khmer, H’Mông,  Nùng, Hoa, người Dao, Gia Rai, Ê Đê, Chăm, Sán Dìu, Ra Glai,  Đa số các dân tộc này sống ở miền núi và vùng sâu vùng xa ở miền Bắc, Tây Nguyên, miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long. Các dân tộc dân số ít nhất chỉ trên 300 người như Brâu, Ơ đu và Rơ Măm.  Các dân tộc thiểu số có trình độ phát triển không đồng đều. Ở Trung du và miền núi phía Bắc, các cư dân ở vùng thấp như Mường, Thái, Tày, Nùng sinh sống chủ yếu bằng canh tác lúa nước và nương rẫy, chăn nuôi gia súc và gia cầm, có một phần hái lượm, săn bắn, có nghề thủ công khá tinh xảo. Các dân tộc thiểu số ở phía Nam sống biệt lập hơn. Các dân tộc thiểu số ởTây Nguyên phần lớn sống theo tổ chức buôn-làng, kiếm sống dựa vào thiên nhiên mang tính tự cung tự cấp. Người dân tộc Chăm, Hoa và Khmer sống ở vùng duyên hải miền Trung và Nam Bộ có trình độ phát triển cao hơn, tạo thành những cụm dân cư xen kẽ với người Kinh.  Tất cả các nhóm dân tộc đều có nền văn hóa riêng biệt và độc đáo. Tín ngưỡng và tôn giáo của các dân tộc cũng khác biệt. Người Việt theo truyền thuyết dân tộc Kinh là con cháu của một thần rồng tên là Lạc Long Quân và một vị tiên tên là Âu Cơ. Hai người này lấy nhau và đẻ ra một bọc 100 trứng và nở ra 100 người con. Những người con sinh ra cùng một bọc gọi là “cùng bọc” (hay còn gọi là đồng bào) và “đồng bào” là cách gọi của người Việt để nói rằng tất cả người Việt Nam đều cùng có chung một nguồn gốc. Về nhân chủng học, có ba luồng quan điểm về nguồn gốc của người Việt. Các nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử khảo cổ học Việt Nam với dẫn liệu trống đồng và nỏ thần, các di chỉ khảo cổ tin rằng người Việt đầu tiên có gốc bản địa . Một số học giả khác thì truy nguyên nguồn gốc và cho rằng tộc Việt khởi đầu dần dần Một số học giả tin rằng người Việt đầu tiên dần dần chuyển từ quần đảo Indonesia thông qua bán đảo Mã Lai và Thái Lan cho đến khi họ định cư trên các cạnh của sông Hồng ở Đồng bằng Bắc Bộ bằng cách lần theo con đường của các công cụ đá từ cuối Thế Pleistocen (600,000-12,000 trước Công nguyên), trên Java, Malaysia, Thái Lan và phía bắc Miến Điện. Những công cụ bằng đá được cho là các công cụ con người đầu tiên được sử dụng trong khu vực Đông Nam Á. Các nhà khảo cổ tin rằng vào thời điểm này Hy Mã Lạp Sơn, một dãy núi ở miền bắc Miến Điện và Trung Quốc, tạo ra một rào cản băng giá cô lập người dân Đông Nam Á. Một số khác cho rằng người Việt đầu tiên vốn là một bộ tộc gốc Mông Cổ ở Tây Tạng, di cư xuống phía nam từ thời đồ đá cũ. Nhóm dân tộc này định cư tại vùng Bắc Bộ, thượng nguồn sông Hồng ngày nay và tạo nên nền văn minh Đông Sơn. Nhóm bộ tộc này cũng có sự tương đồng rất lớn về nhân chủng, văn hóa với các tộc người ở phía Nam Trung Quốc, mà sử Trung Quốc còn gọi là cộng đồng Bách Việt.

Người Việt, tiếng Việt và ngữ hệ Nam Á (Hoàng Tố Nguyên và đồng sự 2018).

Tiếng Việt là ngôn ngữ chính tiếng nói theo nhóm Việt-Mường của 8 nhóm Ngôn ngữ Việt gồm : Việt-Mường; Tày-Thái; Dao-Hmông; Tạng-Miến; Hán; Môn-Khmer; Mã Lai-Đa đảo: hỗn hợp Nam Á, khác). Tiếng Việt là ngôn ngữ của người Việt (người Kinh) và là ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam. Đây là tiếng mẹ đẻ của khoảng 85% dân cư Việt Nam, cùng với hơn bốn triệu người Việt hải ngoại. Tiếng Việt còn là ngôn ngữ thứ hai của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Mặc dù tiếng Việt có một số từ vựng vay mượn từ tiếng Hán và trước đây dùng chữ Nôm, một hệ chữ dựa trên chữ Hán để viết nhưng tiếng Việt được coi là một trong số các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Nam Á có số người nói nhiều nhất (nhiều hơn một số lần so với các ngôn ngữ khác cùng hệ cộng lại) có nguồn gốc với ngôn ngữ Nam Á về mặt từ vựng kết hợp với ngôn ngữ Tày-Thái về mặt thanh điệu. Ngày nay, tiếng Việt dùng bảng chữ cái Latinh, gọi là chữ Quốc ngữ (do Alexandre de Rhodes sáng lập), cùng các dấu thanh để viết.  Tiếng Việt trong quá trình phát triển đã tiếp thu và đồng hoá nhiều từ Hán thành từ Hán-Việt, và tiếp thu một số lượng khá lớn các từ khoa học kỹ thuật của các ngôn ngữ Pháp, Nga, Anh từ đầu thế kỷ 20 đến nay. Ngữ hệ Nam Á là một tổng hợp bao gồm khoảng 168 ngôn ngữ tại miền nam của châu Á, tập trung tại Đông Nam Á và rải rác tại Ấn Độ cùng Bangladesh. Ngôn ngữ có nhiều người dùng nhất trong hệ thống này là tiếng Việt, với trên 80 triệu người, sau đó là tiếng Khmer, với khoảng 16 triệu người. Trong các ngôn ngữ của ngữ hệ Nam Á  thì  tiếng Việt, tiếng Khmer và tiếng Môn là có lịch sử được ghi chép lại lâu dài và tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam.

Nông nghiệp sinh thái Việt Nam là môi trường sống và nôi văn hóa Việt. Người Việt bản địa là chủ nhân của nền văn hóa thời đồ đá tại Việt Nam thời kỳ từ 7.000 đến 20.000 năm trước. Người Việt là chủ nhân của tiếng Việt và nền văn minh lúa nước, chốn tổ của nghề trồng lúa nước trên thế giới. Các dân tộc Việt khác với cộng đồng ít người hơn có nguồn gốc thiên di từ Tây Tạng, Hoa Nam,… di cư đến Việt Nam sau thời kỳ đồ đá muộn. Nông nghiệp sinh thái Việt Nam bản địa gắn liền với Lịch sử Việt Nam. Người Việt tiền sử sinh sống tại đất Việt thì đã có hàng vạn năm trước công nguyên, còn tính từ khi cơ cấu nhà nước được hình thành thì khoảng từ năm 2879 TCN đến nay (năm 2020) là 4899 năm (gần 5000 năm) Tại Việt Nam các nhà khảo cổ đã tìm thấy các di tích chứng minh loài người đã từng sống từ nền văn hóa Tràng An, Ngườm, Sơn Vi và Soi Nhụ thời kỳ Đồ đá cũ. Trong nền văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn thời kỳ Đồ đá mới; văn hóa Phùng Nguyên ở xã Kinh Kệ huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ thuộc sơ kỳ thời đại đồ đồng, cuối thời đại đồ đá mới, cách đây chừng 4.000 năm đến 3.500 năm; Văn hóa Đồng Đậu Văn hóa Gò Mun ở thời đại đồ đồng, cách đây khoảng 3000 năm, di chỉ tại khu di tích Đồng Đậu ở thị trấn Yên Lạc, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, người tiền sử tại vùng này đã phát triển chăn nuôi, nông nghiệp, đặc biệt là kỹ thuật trồng lúa nước.Văn hóa Đông Sơn, Văn hóa Sa Huỳnh, và Văn hóa Óc Eo khoảng 1200 TCN, cách ngày nay 3218 năm, đã có sự phát triển của kỹ thuật trồng lúa nước và đúc đồ đồng trong khu vực sông Mã và đồng bằng sông Hồng đã dẫn đến sự phát triển của nền văn hóa Đông Sơn, nổi bật với các trống đồng. Các vũ khí, dụng cụ và trống đồng được khai quật của văn hóa Đông Sơn minh chứng cho việc kỹ thuật đúc đồ đồng bắt nguồn từ đây, nhiều mỏ đồng nhỏ xưa đã được khai quật ở miền Bắc Việt Nam. Ở đây các nhà khảo cổ đã tìm thấy quan tài và lọ chôn hình thuyền, nhà sàn, và bằng chứng về phong tục ăn trầu và nhuộm răng đen. Những người Việt tiền sử trên vùng đồng bằng sông Hồng đã trồng lúa, trồng trọt và đắp đê chống nước lụt đã tạo nên nền văn minh lúa nước và văn hóa làng xã.Nhà nước Văn Lang của các vua Hùng người Việt đã xuất hiện nhà nước đầu tiên trên miền Bắc Việt Nam ngày nay vào thời kỳ đồ sắt, vào khoảng thế kỷ VII TCN với truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên mà người Việt Nam tự hào truyền miệng từ đời này qua đời khác.

1.3. Nông nghiệp sinh thái Việt Nam là sớm nhất, căn bản nhất, giá đỡ của kinh tế Việt
Quá trình hình thành dân tộc và nông nghiệp Việt Nam theo các tài liệu phổ biến trong thế kỷ XX thì có thể chia thành ba giai đoạn:

  1. Vào thời kỳ đồ đá giữa khoảng 20.000-10.000 năm trước, có một bộ phận thuộc Đại chủng Á, sống ở tiểu lục địa Ấn Độ di cư về phía đông, tới vùng ngày nay là Đông Dương thì dừng lại. Tại đây, bộ phận của Đại chủng Á kết hợp với bộ phận của Đại chủng Úc bản địa và kết quả là sự ra đời của chủng Cổ Mã Lai.
  2. Cuối thời kỳ đồ đá mới,đầu thời kỳ đồ đồng khoảng 5.000 năm trước, chủng Cổ Mã Lai tiếp xúc thường xuyên với Đại chủng Á từ phía bắc tràn xuống,  hình thành chủng Nam Á
  3. Chủng Nam Á tại khu vực bắc Việt Nam và nam Trung Quốc (từ sông Dương Tử trở xuống) mà cổ thư Việt Nam và Trung Hoa gọi là Bách Việt. Ban đầu, họ nói một số thứ tiếng như: Môn-Khmer, Việt-Mường, Tày-Thái, H’Mông-Dao, Sau này quá trình chia tách này tiếp tục để hình thành nên các dân tộc và các ngôn ngữ như ngày nay. Phía nam Việt Nam, dọc theo dải Trường Sơn, trong khi đó, vẫn là địa bàn cư trú của người Cổ Mã Lai. Theo thời gian họ chuyển biến thành chủng Nam Đảo. Đó là tổ tiên của các dân tộc thuộc nhóm Chăm.

Nông nghiệp sinh thái Việt Nam là căn bản nhất, giá đỡ của kinh tế Việt Nam. Điều này hiển nhiên đến mức mà hầu như tất cả mọi người dân Việt đều hiểu, không cần phải phân tích.

II. Bảy vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam

Nông nghiệp sinh thai Việt Nam liên quan chặt chẽ với bảy vùng sinh thái nông nghiệp (cần nên cập nhật thông tin chỉ dẫn đia lý sinh thái thường xuyên có hệ thống bằng cách bấm vào để khai thác trực tiệp theo các thông tin quan trọng này:

  1. Vùng núi và trung du phía Bắc, có tiểu vùng Tây Bắc gồm 4 tỉnhLai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình., với tiểu vùng Đông Bắc: gồm 11 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Giang, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ.
  2. Vùng đồng bằng sông Hồng: gồm 11 tỉnh Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nội, Hà Tây, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Vĩnh Phúc.
  3. Vùng Bắc Trung bộ: gồm 6 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế.
  4. Vùng Nam Trung bộ: gồm 6 tỉnh Đà Nẵng,Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà.
  5. Vùng Tây Nguyên: gồm 5 tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông, Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum.
  6. Vùng Đông Nam bộ: gồm 8 tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà rịa – Vũng Tàu.
  7. Vùng Tây Nam bộ: gồm 13 tỉnh Long An, Bến Tre, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang, Tiền Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, An Giang, Trà Vinh.

III. Đặc điểm bảy vùng nông nghiệp sinh thái Việt Nam

  1. Vùng núi và trung du phía Bắc có đặc điểm sinh thái chính: Núi cao nguyên và đồi thấp, Đất feralit đỏ vàng, đất phù sa cổ bạc màu; Khí hậu cận nhiệt đới, ôn đới trên núi, có mùa đông lạnh. Điều kiện kinh tế xã hội: Mật độ dân số tương đối thấp. Dân có kinh nghiệm sản xuất lâm nghiệp, trồng cây công nghiệp. Ở vùng trung du có các cơ sở công nghiệp chế biến. Điều kiện giao thông tương đối thuận lợi.Ở vùng núi còn nhiều khó khăn. Trình độ thâm canh thấp; sản xuất theo kiểu quảng canh, đầu tư ít lao động và vật tư nông nghiệp. Ở vùng trung du trình độ thâm canh đang được nâng cao. Chuyên môn hóa sản xuất: Cây công nghiệp có nguồn gốc cận nhiệt và ôn đới (chè, trầu, sở, hồi..); Đậu tương, lạc, thuốc lá. Cây ăn quả, cây dược liệu; Trâu, bò lấy thịt và sữa, lợn (trung du).
  2. Vùng đồng bằng sông Hồng có đặc điểm chính về sinh thái nông nghiệp:Đồng bằng châu thổ có nhiều ô trũng; Đất phù sa sông Hồng và sông Thái Bình; Có mùa đông lạnh. Điều kiện kinh tế xã hội: Mật độ dân số cao nhất cả nước. Dân có kinh nghiệm thâm canh lúa nước. Mạng lưới đô thị dày đặc; các thành phố lớn tập trung công nghiệp chế biến. Quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đang được đẩy mạnh. Trình độ thâm canh: Trình độ thâm canh khá cao, đầu tư nhiều lao động; Áp dụng các giống mới, cao sản, công nghệ tiến bộ. Chuyên môn hóa sản xuất: Lúa cao sản, lúc có chất lượng cao; Cây thực phẩm, đặc biệt là các loại rau cao cấp. Cây ăn quả; Đay, cói; Lợn, bò sửa (ven thành phố lớn), gia cầm, nuôi thủy sản nước ngọt (ở các ô trũng), thủy sản nước mặn, nước lợ.
  3. Vùng Bắc Trung bộ: Điều kiện sinh thái nông nghiệp: Đồng bằng hẹp, vùng đối trước núi Đất phù sa, đất feralit (có cả đất badan) Thường xảy ra thiên tai (bão, lụt), nạn cát bay, gió Lào; Điều kiện kinh tế – xã hội: Dân có kinh nghiệm trong đấu tranh chinh phục tự nhiên. Có một số đô thị vừa và nhỏ, chủ yếu ở dải ven biển. Có một số cơ sở công nghiệp chế biến. Trình độ thâm canh: Trình độ thâm canh tương đối thấp. Nông nghiệp sử dụng nhiều lao động. Chuyên môn hóa sản xuất: Cây công nghiệp hàng năm (lạc, mía, thuốc lá..) Cây công nghiệp lâu năm (cà phê, cao su) Trâu, bò lấy thịt; nuôi thủy sản nước mặn, nước lợ.
  4. Vùng Nam Trung bộ: Điều kiện sinh thái nông nghiệp: Đồng bằng hẹp, khá màu mỡ. Có nhiều vụng biển thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản. Dễ bị hạn hán về mùa khô; Điều kiện kinh tế xã hội: Có nhiều thành phố, thị xã dọc dài ven biển. Điều kiện giao thông vận tải thuận lợi. Trình độ thâm canh: Trình độ thâm canh khá cao. Sử dụng nhiều lao động và vật tư nông nghiệp. Chuyên môn hóa sản xuất: Cây công nghiệp hàng năm (mía, thuốc lá) Công công nghiệp lâu năm (dừa) Lúa Bò thịt, lợn Đánh bắt và nuôi trồng thủy sản.
  5. Vùng Tây Nguyên: Điều kiện sinh thái nông nghiệp: Các cao nguyên ba dan rộng lớn, ở các độ cao khác nhau. Khí hậu phân ra hai mùa mưa, khô rõ rệt. Thiếu nước về mùa khô. Điều kiện kinh tế xã hội: Có nhiều dân tộc ít người, còn tiến hành nông nghiệp kiểu cổ truyền. Có các nông trường Công nghiệp chế biến còn yếu Điều kiện giao thông khá thuận lợi Trình độ thâm canh: Ở khu vực nông nghiệp cổ truyền, quảng canh là chính. Ở các nông trường, các nông hộ, trình độ thâm canh đang được nâng lên Chuyên môn hóa sản xuất: Cà phê, cao su, chè, dâu tằm, hồ tiêu Bò thịt và bò sữa
  6. Vùng Đông Nam bộ: Điều kiện sinh thái nông nghiệp: Các vùng đất ba dan và đất xám phù sa cổ rộng lớn, khá bằng phẳng Các vùng trũng có khả năng nuôi trồng thủy sản Thiếu nước về mùa khô Điều kiện kinh tế – xã hội: Có các thành phố lớn, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Tập trung nhiều cơ sở công nghiệp chế biến Điều kiện giao thông vận tải thuận lợi Trình độ thâm canh cao. Sản xuất hàng hóa, sử dụng nhiều máy móc, vật tư nông nghiệp Chuyên môn hóa sản xuất: Các cây công nghiệp lâu năm (cao su, cà phê, điều) Cây công nghiệp ngắn ngày (đậu tương, mía) Nuôi trồng thủy sản- Bò sữa (ven các thành phố lớn), gia cầm
  7. Vùng Tây Nam bộ: Các điều kiện sinh thái nông nghiệp: Các dải phù sa ngọt, các vùng đất phèn, đất mặn Vịnh biển nông, ngư trường rộng Các vùng rừng ngập mặn có tiềm năng để nuôi trồng thủy sản.Có thị trường rộng lớn là vùng Đông Nam Bộ Điều kiện giao thông vận tải thuận lợi Có mạng lưới đô thị vừa và nhỏ, có các cơ sở công nghiệp chế biến. Trình độ thâm canh cao. Sản xuất hàng hóa, sử dụng nhiều máy móc, vật tư nông nghiệp Chuyên môn hóa sản xuất: Lúa, lúa có chất lượng cao Cây công nghiệp ngắn ngày (mía, đay, cói) Cây ăn quả nhiệt đời Thủy sản (đặc biệt là tôm) Gia cầm (đặc biệt là vịt đàn)

Bảy vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam trên đây là tương đồng với Việt Nam vùng lãnh thổ hành chính;  Vùng núi và trung du phía Bắc là kết hợp của hai tiểu vùng : Tiểu vùng Tây Bắc gồm 4 tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình., với tiểu vùng Đông Bắc: gồm 11 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Giang, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ

IV. Hiện trạng, tầm nhìn lao động nông nghiệp sinh thái Việt Nam

Lao động Nông nghiệp sinh thái Việt Nam hiện có khoảng 22 triệu người chủ yếu tập trung ở nông thôn khoảng 69 %, khu vực thành thị khoảng 31 %.Việt Nam là nước nông nghiệp sinh thái đặc thù với rất nhiều lợi thế từ các sản phẩm nhiệt đới nhưng sự biến đổi tiềm năng tiềm tàng và lợi thế so sánh đó thực sự thành hiện thực, làm động lực cho phát triển nền nông nghiệp hàng hóa lớn và sản phẩm có thương hiệu và khả năng cạnh tranh là còn hạn chế và tiến trình phấn đấu gian khổ theo định hướng chiến lược quốc gia, khơi dậy nguồn lực sức mạnh tổng hợp Việt Nam con đường xanh

Hệ thống ngành nghề nông lâm ngư nghiệp thủy sản Việt Nam đang đào tạo chính trong 9 nhóm ngành nghề nông lâm ngư nghiệp thủy sản gồm: 1. Ngành Trồng trọt: 2. Ngành chăn nuôi:  3. Ngành Nông học: 4. Ngành Bảo vệ thực vật; 5. Ngành lâm nghiệp   6. Ngành Nông lâm kết hợp 7. Ngành Nuôi trồng thủy sản: 8. Ngành Cảnh quan và Kĩ thuật hoa viên: 9. Ngành Quản lí đất đai;

Việc chuyển đổi tầm nhìn và đầu tư sâu vào quá trình đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp sinh thái Việt Nam thích họp bền vững theo sự chuyển đổi tối ưu hóa theo ngành và vùng lành thổ là rất cấp thiết, quan trọng và cấp bách. Ngành Nông Lâm Ngư nghiệp nằm trong các nhóm ngành có thu nhập không cao, nhưng mỗi năm Việt Nam cả nước cần cung cấp ổn đinh trên 1 triệu lao động cho các nhóm ngành chính: Nông nghiệp 58.000 – 60.000 người/năm, Lâm nghiệp 8.000 – 10.000 người/năm, thủy lợi 7.000 – 9.000 người/năm; thủy sản 8.000 – 8.500 người/ năm.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành“. Việt Nam con đường xanh cốt lõi là an dân với năm yếu tố: An sinh xã hội; An tâm; An lạc; An toàn; An ninh.

Định hướng chiến lược quốc gia, phương hướng nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế xã hội 2021-2030 (* Đảng Cộng Sản Việt Nam 2020, Dự thảo các văn kiện trình đại hội Đảng XIII của Đảng) xác định 10 giải pháp cơ bản:

1) Tập trung hoàn thiện nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giải quyết tốt hơn quan hệ giữa Nhà nước và thị trường.

2) Phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm tạo bứt phá nâng cao năng suất, chất lượng hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế;

3) Phát triển nguồn nhân lực, giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế;

4) Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, bảo đảm thực chất, hiệu quả; phát triển nền kinh tế số; thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững trên cơ sở ổn định kinh tế vĩ mô;

5) Phát triển kết cấu hạ tầng, kinh tế vùng, kinh tế biển, lấy các đô thi làm động lực phát triển vùng và đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới;
6) Phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân;

7) Quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên; tăng cường bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai;

8) Củng cố, tăng cường quốc phóng, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độclập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia;

9) Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, hội nhập và vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế;

10) Tiếp tục xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động; đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tạo đột phá trong cải cách hành chính.

Việt Nam con đường xanh lĩnh vực nông lâm thủy hải sản trọng tâm là 13 sản phẩm nông nghiệp chủ lực quốc gia đã được xác định bởi Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tại Thông tư số 37 /2018/TT /BNNPTNT ngày 25/12/2018 gồm Gạo, Cà phê, Cao su, Điều, Hồ tiêu, Chè, Rau Quả, Sắn và sản phẩm từ sắn, Thịt lợn, Thịt và trứng gia cầm, Cá tra, Tôm, Gỗ và sản phẩm từ gỗ.

Phương hướng nhiệm vụ và giải pháp chính của giai đoạn 2021- 2030 để đảm bảo khối sản phẩm chủ lực này phát huy hiệu quả giá trị nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân lao động Việt Nam là cần tổ chức điều hành thật tốt 5 nhóm hệ thống giải pháp chính đã được xác định:

1) Nông sản Việt 13 ngành hàng chủ lực kết nối mạnh mẽ với thị trường thế giới, xác định lợi thế so sánh và hệ thống giải pháp bảo tồn phát triển bền vững, hiệu quả khoa học công nghệ, kinh tế an sinh xã hội môi trường và vị thế quan trọng của từng ngành hàng. Nâng cao hiệu quả, hiệu lực hợp tác đầu tư nước ngoài có trọng tâm, trọng điểm, có chọn lọc, ưu tiên các dự án có công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao, quản trị hiện đại, năng lực đổi mới sáng tạo, kết nối Nông sản Việt đạt lợi thế cạnh tranh cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu, có tác động lan tỏa, kết nối chặt chẽ hữu cơ với khu vực kinh tế trong nước. Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp, hiệu quả, đẩy mạnh hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản, kết nối với hệ thống tiêu thụ toàn cầu. Phát triển mạnh doanh nghiệp nông nghiệp, hổ trợ, khuyến khích phát triển kinh tế trang trại, hợp tác xã nông nghiệp và các tổ hợp tác. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp.

2) Phát triển mạnh nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, sạch, nông nghiệp hữu cơ, đạt tiêu chuẩn phổ biến về an toàn thực phẩm. Đổi mới chính sách quản lý và sử dụng đất trồng lúa, hàng năm sản xuất khoảng 35 triệu tấn lúa làm nòng cốt bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với lợi thế và nhu cầu thị trường, tăng khả năng chống chịu, thích ứng của nông dân với biến đổi khí hậu từng vùng, miền, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, ổn định. Tổ chức kết nối nông nghiệp với công nghiệp chế biến, thị trường xuất khẩu, chuỗi giá trị toàn cầu.

3) Phát triển chăn nuôi công nghiệp ứng dụng công nghệ cao, khuyến khích phát triển chăn nuôi trang trại, gia trại hiệu quả cao, thân thiện với môi trường. Phát triển nuôi trồng thủy sản cá trên biển và mặt nước nội địa theo hướng công nghiệp, quảng canh cải tiến,sinh thái, nâng cao hiệu quả khai thác xa bờ , phát triển đánh bắt hải dương. Thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi hải sản;

4) Quản lý chặt chẽ, bảo vệ và phục hồi rừng tự nhiên gắn với bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ cảnh quan, môi trường sinh thái. Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng rừng trồng, nhất là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu, rừng phòng hộ ven biển. Chú trọng phát triển trồng rừng gỗ lớn, nâng cao hiệu quả rừng trồng, lâm đặc sản, đáp ứng cơ bản nhu cầu lâm sản trong nước làm nguyên liệu chế biến xuất khẩu. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào các chuỗi giá trị lâm nghiệp.

5) Đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới và quản lý sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên; tăng cường bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai. Đẩy mạnh hợp tác với các quốc gia thượng nguồn và các tổ chức quốc tế trong việc bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tài nguyên nước ở lưu vực các dòng sông xuyên biên giới, nhất là sông Mê Công và sông Hồng. Nâng cao tính chống chịu và thích ứng biến đổi khí hậu của hệ thống kết cấu hạ tầng và của nền kinh tế Việt Nam, thực hiện các giải pháp thông minh để thích ứng trong nông nghiệp, thủy sản và phát triển rừng. Giảm thiểu những rũi ro do biến đổi khí hậu gây ra, đặc biệt là xâm nhập mặn, sạt lở tại Đồng Bằng Sông Cửu Long, an toàn lụt và môi sinh tại Hà Nội và vùng Đồng Bằng Sông Hồng khô hạn tại Tây Nguyên, Nam Trung Bộ,Bắc Trung Bộ Bảo vệ an ninh nguồn nước, tăng cường quản lý và khai thác, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm nguồn nước theo lưu vực sông, ngăn chặn suy giảm tài nguyên nước, tích nước điều tiết nguồn nước hợp lý phục vụ phát triển kinh tế xã hội. Quản lý chặt chẽ và nâng cao hiệu lực quản lý, hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài nguyên, nhất là đất, nước khoáng sản, theo nguyên tắc thị trường. Phát triển thị trường, đẩy mạnh thương mại hóa quyền sử dụng đất, tăng cường đăng ký quyền sử dụng đất và áp dụng định giá đất theo thị trường, bảo đảm công khai, minh bạch. Phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, mạng lướí các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia kết nối đồng bộ với các khu vực nông phẩm hàng hóa chính và khu đô thị, khu công nghiệp, cảng biển; Kết nối xây dựng nông thôn mới với kinh tế vùng, kinh tế biển, đào tạo nguồn lực nông nghiệp, cải tiến nâng cấp hệ thống hóa dữ liệu thông tin nông nghiệp nông dân nông thôn đáp ứng phù hợp với thời đại mới. Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới theo hướng gắn với đô thị hóa, thực chất và đi vào chiều sâu hiệu quả bền vững, lấy cư dân nông thôn làm chủ thể, tạo sự chuyển biến tích cực rõ rệt về nếp sống mới ở nông thôn; xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới cấp thôn bản. Thu hút mạnh mẽ các doanh nghiệp đầu tư vào khu vực nông thôn để tổ chức và nâng cao chuỗi gía trị “mỗi xã một sản phẩm” gắn với thương hiệu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm. Chú trọng xây dựng cảnh quan sinh thái môi trường làng xã Việt xanh sạch đẹp tiến bộ an lành

Ba trụ cột cốt lõi của một quốc gia là cân đối hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và thực hiện tiến bộ công bằng xã hội.theo kết luận của Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về Phát triển bền vững tại Johannesburg (Cộng hòa Nam Phi) năm 2002).

Bảo vệ an toàn môi trường sống và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân lao động Việt Nam là một trong ba trụ cột cốt lõi của chính sách quốc gia. Bảo vệ an toàn thức ăn, đất, nước, không khí và môi sinh là luật sống. Nguyên tắc cơ bản là: Ai gây ô nhiễm môi trường phải trả chi phí để xử lý khắc phục hậu quả, cải tạo và phục hồi. Thực thi chế tài và xử phạt nghiêm về vi phạm môi trường là quốc sách.

Tăng cường giám sát, công khai đầy đủ, kịp thời thông tin và nâng cao chất lượng môi trường, sự an toàn về thức ăn, đất nước, không khí và môi sinh ở các đô thị và vùng dân cư. Xử lý dứt điểm các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Cải thiện rõ rệt tình trạng ô nhiễm môi trường, ở các cụm công nghiệp, làng nghề, lưu vực sông, khu vực nông thôn. Kiểm soát chặt chẽ các dự án khai thác tài nguyên, chủ động phát hiện và xử lý nghiêm các vi phạm gây ô nhiễm môi trường. Ngăn chặn suy thoái môi trường. Tối ưu hóa các mục đích sử dụng đất nông nghiệp. Đẩy mạnh hợp tác với các quốc gia thượng nguồn và các tổ chức quốc tế trong việc bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tài nguyên nước ở lưu vực các dòng sông xuyên biên giới, nhất là sông Mê Công và sông Hồng.

Việt Nam con đường xanh, thông tin đúc kết này là chọn lọc trích dẫn phù hợp với tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Định hướng và tầm nhìn này nhấn mạnh

1) Phải phát triển hài hòa ba trụ cột “Không đánh đổi môi trường với tăng trưởng kinh tế”; “Không thể vì nghèo mà hy sinh môi trường và sức khỏe người dân”

2) Vai trò kiến tạo của Nhà nước là quyết định;

3) Vai trò của người dân lao động và cộng đồng xã hội là không thể thiếu.

Việt Nam và Trung Quốc ngày nay đều nhấn mạnh sự diệt trừ tham nhũng và đề cao vai trò kiến tạo của Nhà nước là quyết định. Việt Nam là nước văn hiến có truyền thống “bầu ơi thương lấy bí cùng” và kinh nghiệm làm chủ tập thể, cũng đã vận dụng thành công “chính sách cộng sản thời chiến” biết thắt lưng buộc bụng đầu tư trong điểm.

V. Nông nghiệp sinh thái Việt Nam và Du lịch

Việt Nam có ba vùng du lịch nông nghiệp sinh thái trọng điểm: Vùng du lịch Bắc bộ, Vùng du lịch Trung bộ, Vùng du lịch Nam bộ, Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung. Vùng du lịch Bắc bộ lấy Hà Nội làm trung tâm với trục động lực là Hà Nội – Hải Phòng – Hạ Long. Vùng du lịch Trung bộ lấy  Huế và Đà Nẵng làm trung tâm  và trục động lực là Quảng Bình – Quảng Trị – Huế – Đà Nẵng – Quảng Nam – Quảng Ngãi . Vùng du lịch Nam bộ Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung lấy trung tâm là thành phố Hồ Chí Minh, với các trục động lực là thành phố Hồ Chí Minh – Cần Thơ – Hà Tiên – Phú Quốc với TP. Hồ Chí Minh – Vũng Tàu – Phan Thiết – Nha Trang và TP. Hồ Chí Minh – Đà Lạt –  Nha Trang- Buôn Me Thuột – Kon Tum.

VI Nông nghiệp sinh thái Việt Nam ngày nay

6.1 Nông nghiệp sinh thái Việt Nam ngày nay là lĩnh vực đặc biệt quan trọng
, tạo sự ổn định xã hội và nâng cao chất lượng sống cho người nông dân, góp phần phát triển kinh tế đất nước. Hiện nay, Việt Nam là nước có nhiều lợi thế, tiềm năng phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp sinh thái đặc thù nhiều tiềm năng và trở thành một nước xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới.

Hàng nông sản chủ lực Việt Nam gồm  gạo, chè, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, rau quả, thủy sản (như cá tra, cá ba sa, cá ngừ, tôm, mực…)  là những mặt hàng có lợi thế, nhiều tiềm năng xuất khẩu sang thị trường các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Singapore, các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất (UAE), thị trường châu Âu và châu Mỹ…

Năm 2017, thủy sản Việt Nam là ngành có giá trị xuất khẩu cao nhất, đạt 8,3 tỷ USD, tiếp đến là hạt điều với 3,516 tỷ USD, rau quả đạt 3,502 tỷ USD, cà phê với 3,24 tỷ USD, gạo đạt 2,6 tỷ USD, hạt tiêu đạt 1,1 tỷ USD, sắn và các sản phẩm từ sắn đạt 1,03 tỷ USD…

6.2. Doanh nghiệp nông nghiệp có tỷ lệ rất thấp 8% chủ yếu nhỏ và siêu nhỏ  92,35%
Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến quý II/ 2018,  các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp sinh thái Việt Nam ước tính cả nước có khoảng hơn 49.600 doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, chiếm khoảng 8% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên cả nước, chủ yếu ở quy mô nhỏ và siêu nhỏ, chiếm 92,35%, tiếp đến là doanh nghiệp có quy mô lớn với 5,59% và doanh nghiệp có quy mô vừa với 2,06%. Đầu tư vào nông nghiệp sinh thái đã tạo ra hơn 4,5 triệu việc làm, chiếm 32,5% lao động của toàn bộ doanh nghiệp.

Đặc thù của các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp có đặc thù là phụ thuộc nhiều vào yếu tố tự nhiên như thiên tai, rủi ro dịch bệnh dẫn đến đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp chịu rất nhiều rủi ro so với các ngành kinh tế khác. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp còn phản ánh gặp khó khăn ở một số vấn đề chính như: quỹ đất nông nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất của doanh nghiệp; ngành công nghiệp cơ khí hỗ trợ cho nông nghiệp ở Việt Nam còn hạn chế. Nhiều thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong nông nghiệp còn bất hợp lý. Hiệu quả của hầu hết các loại hình tổ chức sản xuất, các ngành, các lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản nhìn chung chưa cao. Ứng dụng khoa học và công nghệ, liên kết chuỗi giá trị sản xuất trong nông nghiệp còn rất hạn chế, mới chỉ ở bước đầu phát triển…

6.3. Tầm nhìn đột phá đầu tư, cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn
Nghị định số 57/2018/NĐ-CP về cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn của Chính phủ Việt Nam  thể chế hóa tầm nhìn chuyển đổi tái cơ cấu nông nghiệp sau 30 năm đổi mới , cụ thể hóa Nghị định 61/2010/NĐ-CP chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; Nghị định 210/2013/NĐ-CP về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn

Những chủ trương lớn mới đây trong tầm nhìn của chính phủ Việt Nam theo Cổng thông tin Chính phủ VCP News

“Trục sản phẩm chủ lực

Trên cơ sở những kết quả đã đạt được, Bộ NNPTNT đề xuất một số định hướng giải pháp ưu tiên thu hút đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn thời gian tới như sau:

Thứ nhất, thực hiện đồng bộ các giải pháp đẩy mạnh quá trình cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và xây dựng nông thôn mới. trong đó, Bộ Nông nghiệp và PTNT xác định các ưu tiên phát triển ngành theo ba trục sản phẩm chính, bao gồm:

Các sản phẩm chủ lực quốc gia (các sản phẩm có giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD/ năm: lúa gạo, cao su, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, sắn, rau quả, tôm, cá tra, gỗ và sản phẩm từ gỗ; các ngành hàng có quy mô thị trường nội địa lớn như thịt lợn, thịt gia cầm).

Ưu tiên thu hút đầu tư của doanh nghiệp quy mô lớn, đóng vai trò hạt nhân, dẫn dắt, phát triển chuỗi giá trị đồng bộ. Tập trung thu hút đầu tư vào các cụm liên kết ngành cấp vùng, gắn với các vùng chuyên canh lớn của các doanh nghiệp, kết nối giữa khu hạt nhân của cụm (gồm trung tâm nghiên cứu khoa học công nghiệp, tài chính, thương mại, logistic) và các vệ tinh gồm các khu/cụm công nghiệp dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp cấp tỉnh.

Các vùng ưu tiên thu hút đầu tư cho các sản phẩm chiến lược này là: lúa gạo ở vùng đồng bằng sông Hồng, vùng đồng bằng sông Cửu Long; cà phê, cao su, hạt tiêu, hạt điều ở vùng Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ; chè ở vùng Trung du, miền núi phía Bắc và Tây Nguyên; cây ăn quả ở Trung du miền núi Bắc Bộ, đồng bằng sông Hồng, duyên hải miền trung, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long); cá da trơn ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, tôm và hải sản ở vùng Duyên hải Trung Bộ, vùng Đông Nam Bộ và vùng đồng bằng Sông Cửu Long; gỗ ở miền núi phía Bắc, vùng Duyên hải Trung Bộ và Tây Nguyên.

Chuỗi giá trị các sản phẩm chủ lực cấp tỉnh (như các sản phẩm đủ lớn có tổng giá trị xuất khẩu từ 500 triệu USD/năm). Ưu tiên thu hút doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với sản phẩm có lợi thế của địa phương, tập trung thu hút vào các cụm liên kết ngành cấp tỉnh, gắn với vùng nguyên liệu của doanh nghiệp, kết nối giữa khu hạt nhân của cụm (khu/vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại các tỉnh) và các khu/cụm công nghiệp – dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp cấp tỉnh.

Chuỗi giá trị đặc sản địa phương (chuỗi giá trị sản phẩm đặc thù vùng miền) có quy mô nhỏ, gắn với chỉ dẫn địa lý cụ thể, được xây dựng và phát triển cùng với xây dựng nông thôn mới theo mô hình “Mỗi xã một sản phẩm”. Ưu tiên thu hút đầu tư của doanh nghiệp quy mô cực nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp, các hợp tác xã, hộ sản xuất kinh doanh đối với các mặt hàng đặc sản của địa phương theo mô hình “Mỗi xã một sản phẩm” (one commune one product – OCOP), gắn với các tiểu vùng có sản phẩm đặc sản vùng miền.

Vùng sản xuất tập trung

Thứ hai, ưu tiên các doanh nghiệp đầu tư, nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng vào các nhóm lĩnh vực, ngành nghề sau:

Đầu tư, phát triển vùng sản xuất tập trung trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản.

Sản xuất, phát triển giống cây trồng, vật nuôi, giống cây lâm nghiệp, giống thủy sản. Sản xuất đầu vào như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi và thủy sản, chế phẩm sinh học, thuốc thú y chăn nuôi và thủy sản.

Ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa và các công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy lợi, thủy sản.

Đầu tư vào lĩnh vực chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản, dược liệu, tinh chế muối; sản xuất máy, thiết bị, chất phụ gia, phụ trợ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, máy chế biến thực phẩm; công nghệ giết mổ, bảo quản chế biến gia súc, gia cầm, tập trung, công nghiệp; sản xuất hàng thủ công; sản phẩm văn hóa, dân tộc truyền thống.

Thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt, nước thải sinh hoạt tại nông thôn; thu gom xử lý chất thải làng nghề; đầu tư hệ thống cấp nước sạch, thoát nước, công trình thủy lợi và hệ thống tưới tiên tiến, tiết kiệm nước.

Doanh nghiệp dẫn dắt các chuỗi giá trị

Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, đẩy mạnh cải cách hành chính để thu hút mạnh mẽ doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Trong thời gian tới, doanh nghiệp nông nghiệp được coi là lực lượng dẫn dắt các chuỗi giá trị nông nghiệp và tạo hiệu ứng lan tỏa cho phát triển kinh tế – xã hội.

Để có thể thu hút và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm các điều kiện đầu tư kinh doanh không cần thiết, nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh trong nông nghiệp, thực hiện tốt các cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp theo các Nghị định: số 52/2018/NĐ-CP, số 57/2018/NĐ-CP, số 58/2018/NĐ-CP, số 98/2018/NĐ-CP.

Đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận có thời hạn lâu dài với đất đai, phù hợp vớicác quyền sử dụng hợp pháp của nhà đầu tư; tăng cường đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng nông thôn nhằm tạo điều kiện cho các nhà đầu tư thực hiện các dự án; xây dựng cơ chế khuyến khích mạnh mẽ hơn các nhà đầu tham gia xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn theo nhiều hình thức khác nhau, đặc biệt là đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP).

Thực hiện Nghị định 58/2018/NĐ-CP về bảo hiểm nông nghiệp cũng sẽ khuyến khích doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân sản xuất trong ngành nông lâm thủy sản chủ động khắc phục và bù đắp thiệt hại về tài chính do các rủi ro xảy ra trong quá trình sản xuất. Các cá nhân, doanh nghiệp tổ chức sản xuất nông nghiệp theo mô hình sản xuất hợp tác, liên kết, tập trung, quy mô lớn có ứng dụng khoa học công nghệ và các quy trình sản xuất tiên tiến vào sản xuất, hướng tới nền nông nghiệp sạch, công nghệ cao, thân thiện với môi trường được hỗ trợ 20% phí bảo hiểm nông nghiệp.

Bên cạnh đó, Chính phủ tiếp tục hoàn thiện các chính sách nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật nông nghiệp, giúp giảm chi phí đào tạo ban đầu cho các nhà đầu tư, đặc biệt cho các lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư./.”

7) Tết Việt khởi đầu 24 tiết khí lịch nhà nông

Sự nghiên cứu Tết Nguyên Đán Việt Trung tương đồng và khác biệt của tác giả Trần Vũ Đồng và Hoàng Tố Nguyên 2020 cho thấy:

(* Tác giả Trần Vũ Đồng 陈雨桐 là học viên chuyên ngành song ngữ Anh Việt và tiến sĩ Hoàng Tố Nguyên là giảng viên khoa Ngữ văn Trung Quốc, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh).

Tết Nguyên Đán là lễ hội truyền thống quan trọng nhất của Việt Nam và Trung Quốc. Việc so sánh nguồn gốc phong tục đặc điểm giống và khác nhau giữa Tết Nguyên Đán của hai nước và tìm hiểu tư tưởng, quan niệm tín ngưỡng giúp chúng ta có thể hiểu rõ hơn về nền văn hóa, lịch sử của hai dân tộc, thúc đẩy mối quan hệ giao lưu thân thiện giữa hai quốc gia. Tết Nguyên Đán Việt Trung bất luận là tên gọi, thời gian, nguồn gốc hay phong tục đều có nhiều điểm giống nhau, nhưng không gian văn hóa và theo thời gian, mỗi nước đều tự tạo ra cho mình những nét đặc sắc riêng.

Tết Nguyên Đán Việt Nam và Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng trong cùng một không gian văn hóa Tết cổ truyền của Trung Quốc Việt Nam, Triều Tiên, Hàn Quốc và Nhật Bản Sự giao thoa Tết văn hóa và văn hóa Tết Việt Nam và Trung Hoa là gần gũi ‘đồng văn” tới mức trước đây và thậm chí gần đây, giới Đông phương học phương Tây thường xếp Việt Nam vào “Thế giới văn minh Trung Hoa” hay “Thế giới Hoa hóa” (như M.Gernet Le monde chinois, Paris, 1980, L. Vandermeersch Le monde Sinise PUF, Paris, 1986). Đối với Đông Nam Á, một khái niệm mới xuất hiện ở cuối thế chiến II, thì người ta xếp Việt Nam vào “các quốc gia Ấn hóa hay Hindou hóa” để đối sánh Việt Nam với các quốc gia Đông Nam Á khác. Người ta mệnh danh Việt Nam là bộ phận tiền đồn của văn minh Trung Hoa chọc xuống vùng Đông Nam Á.

Tết Nguyên Đán Việt Nam và Trung Quốc khác biệt năm điểm chính:1) Lịch sử văn hóa Trung Quốc thuộc nền văn minh Trung Hoa Context Đông Á (Đàm Gia Kiện chủ biên 1993). Bản sắc lịch sử văn hóa Việt Nam thuộc nền văn minh lúa nước Hòa Bình Context Động Nam Á Nước Việt, Dân Việt trên diễn trình lịch sử lâu dài tuy nhận nhiều ảnh hưởng văn hóa chính trị Trung Hoa Đông Á nhưng vẫn luôn luôn duy trì nền tảng văn hóa môi cảnh địa nhân văn Đông Nam Á của chính mình (Trần Quốc Vượng, Văn hóa Việt Nam tìm tòi và cảm nhận, Nhà Xuất bản Văn hóa Hà Nội, năm 2003);

2) Tết Nguyên Đán trước hết là Tết của người Việt. Tết nguyên nghĩa là “tiết”. Văn hóa Việt thuộc văn minh Nông nghiệp lúa nước, do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã “phân chia” thời gian trong một năm thành 24 tiết khí khác nhau, và ứng với mỗi tiết khí này lại có một thời khắc “giao thời”. Tết Nguyên Đán nghĩa là “Tết đầu năm mới”. Chữ Tết là âm “đọc trạch” theo lối dân gian của chữ “Tiết” Hán Việt. Tiết âm Hán Việt có nghĩa là Đoạn, Khúc, Đốt. Trên dòng thời gian liên tục của một năm theo lịch cổ truyền thì Tết Nguyên Đán nương theo Tiết Lập Xuân. Tiết Nguyên Đán là Tiết Lập Xuân của người Việt trong lịch cổ Việt Thường la bàn (hướng chính Đông).

3) Nguồn của Tết Nguyên Đán thuộc không gian văn hóa Hòa Bình và nền văn hóa Đông Sơn Trống đồng.là chốn tổ nền văn minh lúa nước. Tết Nguyên Đán là một lễ hội mùa nông nghiệp. Các chuyên khảo của giáo sư Trần Quốc Vượng 2003 đã cũng cố luận điểm này “Lịch ta và nền văn hóa lúa nước cổ truyền (trang 324-331), Con trâu và nền văn hóa Việt Nam (trang 332- 337) “Biểu tượng Ngưa và năm con ngựa 338-341) “Năm Giáp Tuất kể chuyện lịch ta và chú cẩu” (trang 342-347); Nhân xuân Ất Hợi 1995 chuyện vãn về con lợn trong văn hóa Việt Nam (trang 348-352).

4) Diễn trình lịch sử văn hóa Việt Nam thể hiện phong tục là khác nhau “Núi sông bờ cõi đã chia / Phong tục Bắc Nam cũng khác” , “trời đất tổ tông linh thiêng đã lặng thầm phù trợ” đó là tác phẩm Bình Ngô đại cáo do Nguyễn Trãi soạn thảo vào mùa xuân năm 1428. Theo Lịch sử Việt Nam diễn trình từ lúc có mặt con người sinh sống thì đã có hàng vạn năm trước Công nguyên, còn tính từ khi cơ cấu nhà nước được hình thành thì mới khoảng từ năm 2879 TCN. Việt Nam là chốn tổ của nghề lúa qua thông tin các di tích chứng minh loài người đã từng sống tại Việt Nam từ thời đại đồ đá cũ thuộc nền văn hóa Tràng An, Ngườm, Sơn Vi và Soi Nhụ. Vào thời kỳ đồ đá mới, nền văn hóa Hòa Bình Bắc Sơn tại vùng này đã phát triển về chăn nuôi và nông nghiệp, đặc biệt là kỹ thuật trồng lúa nước Di chỉ khảo cổ tại Trống Đồng Ngọc Lũ Đông Sơn, và nhiều minh chứng khác.

5) “Nghiên cứu đa dạng di truyền hệ gene người Việt Nam: Những viên gạch đầu tiên” thông tin của Giáo sư Nông Văn Hải Viện Nghiên cứu hệ gene (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) tại Nguồn: Báo Tin Sáng 27 5 2020 / với nhiều thư mục dẫn liệu kèm theo, có thể hé mở một phần câu trả lời cho sự tìm tòi và cảm nhận về Người Việt cổ và bản sắc văn hóa Việt Nam

Tết Việt khởi đầu 24 tiết khí lịch nhà nông là một bài học quý

8) Việt Nam con đường xanh Ứng dụng công nghệ nâng cao chuỗi giá trị nông nghiệp (Technological application enhances agriculture value chain).

Đó là chủ đề được Phó Giáo sư Tiến sĩ Đào Thế Anh, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, giới thiệu tại diễn đàn MALICA (Markets and Agriculture Linkages for Cities in Asia Kết nối Thị trường và Nông nghiệp các thành phố châu Á) và VTV4 https://vtv.vn/video/bizline-15-3-2020-427424.htm.

Cách ứng dụng thông minh công nghệ thông tin trong nông nghiệp theo cách Việt Nam là giải pháp chìa khóa Ứng dụng công nghệ nâng cao chuỗi giá trị nông nghiệp. Một số hình ảnh và thí dụ tại Việt Nam con đường xanh về đầu tư hiệu quả Công nghệ trồng hoa tươi

Kỹ thuật trồng hoa cúc. Ông Bùi Văn Sỹ một nông dân ở phường 11, thành phố Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng với khoảng 10 tỷ đồng đã đầu tư lắp đặt nhà kính, hệ thống tưới nước, bón phân tiên tiến của Nhật, Israel cho 4 ha hoa.

Hệ thống hiện đại này giúp ông Sỹ giảm từ 10 xuống 1 nhân công .Chỉ với một nút bấm điều khiển hệ thống sẽ thực hiện mọi công đoạn từ tưới nước bón phân … Nhờ hệ thống này hoa của ông Sỹ không bị hỏng do mưa đá hay sâu bệnh, bông hoa tươi lâu hơn và được khách Hàn Quốc, Thái Lan ưa chuộng. Mỗi ha hoa cho doanh thu hơn 2 tỷ đồng trừ chi phí còn hơn 700 triệu đồng tiền lãi.

Kỹ thuật trồng hoa ly Ông Nguyễn Minh Trí xã Xuân Thọ thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng sáng tạo trồng hoa ly trong nhà lưới hai lớp. Lớp lưới đen phía trong di chuyển được kéo ra khi mưa, kéo che khi nắng gắt.

Ông Trí lắp đặt hệ thống ống tưới nước, tưới phân nhỏ giọt tự động sát từng gốc hoa … Đặc biệt, ông Trí không trồng hoa trên đất mà trồng trên giá thể xơ dừa xử lý bằng công nghệ nano.

Trang trại hoa ly giá thể của ông Trí được chọn là mô hình mẫu về nông nghiệp công nghệ cao, cho doanh thu gần 4 tỷ đồng một năm một ha, và đã có hàng chục chủ doanh trại học hỏi, ứng dụng cách canh tác thông minh này thành công.

* Một số Ghi chú (Notes) Việt Nam con đường xanh thông tin lúa nổi bật qua hình ảnh

9) Nông nghiệp sinh thái Việt Nam điểm đến yêu thích của bạn

Nông nghiệp sinh thái Việt
Di sản thế giới tại Việt Nam
Du lịch sinh thái Việt
Vườn Quốc gia Việt Nam
Nông nghiệp công nghệ cao
Nông nghiệp Việt trăm năm
Ngôn ngữ văn hóa Việt
Dạo chơi non nước Việt

TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM
#Nhàtôi; #banmai; #htn365; #ana; #Thungdung#dayvahoc, #vietnamhoc;  #cnm365;  #cltvn; #đẹpvàhay; #lvn365; https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-15-thang-7/ & https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-15-thang-7 & https://www.facebook.com/reel/970376038205245; Đến Neva nhớ Pie Đại Đế (Hình) ;

CNM365 Tình yêu cuộc sống: An vui cụ Trạng Trình; Ta còn nợ củ khoai lang; Nhớ thầy Tôn Thất Trình; Mạc triều trong sử Việt; †† Lê Hùng Lân Hoa Tiên; Lời thương; Mưa nắng và thời vận; Qua sông tới Cát Tiên; Thung dung đời quên tuổi; Việt Nam con đường xanh; Hương sen vùng Đồng Tháp; Bảy kỳ quan thế giới; Nguyễn Du trăng huyền thoại; Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung; Thơ vui những ngày nhàn; Truyện George Washington; Nhà Trần trong sử Việt; Chính Trung Hiếu Thiện Lành; Châu Mỹ chuyện không quên; Tĩnh lặng là trí tuệ; Việt Nam tổ quốc tôi; Đến với Tây Nguyên mới; Hoa Đất thương lời hiền; Đặng Kim Sơn lắng đọng; Chuyện thầy Lê Văn Tố; Về miền Tây yêu thương; Linh Giang sông quê hương; Ngày Gia Đình Việt Nam; Một gia đình yêu thương; Nguyên Hùng bạn xứ Nghệ; Thầy nhạc Trần Văn Khê ; Bình Minh An ngày mới ; Ban mai đứng trước biển ;Ban mai chào ngày mới ; Đồng Xuân lưu dấu hiền; Thơ Tình Hồ Núi Cốc;Viện Lúa Sao Thần Nông ; Ông bà và con cháu ; Ấn Độ địa chỉ xanh; Lên Đỉnh Thiên Cổ Sơn ; Machu Picchu di sản thế giới ; Vắt ngang thế kỷ trồng cây đức; Những con người trung hiếu; Trần Quang Khải thơ thần; Biển Hồ Ngọc Kinh Luân ; Thế giới trong mắt ai ; Lúa siêu xanh Việt Nam; Về với vùng cát đá ; Pho tượng Ngọc Quan Âm; Tiết Chế đức dụng nhân ; Văn chương Ngọc cho đời ; Hiền tài bút hơn gươm; Tĩnh lặng là trí tuệ; Vui đến chốn thung dung; Đọc lại và suy ngẫm; Hạnh Phúc khát khao xanh; Thơ vui những ngày nhàn; Vui thu măng mỗi ngày; Hồ Xuân Hương góc khuất; Hồ Xuân Hương đời thơ; Lời vàng từ trái tim; Nhớ bạn nhớ châu Phi; Câu chuyện ảnh tháng Sáu; Một niềm tin thắp lửa; Cuối dòng sông là biển; Thạch Lam ngọc đời nay; Trung Quốc một suy ngẫm; Ban mai đứng trước biển;Ban mai chào ngày mới; Đồng Xuân lưu dấu hiền; Linh Giang sông quê hương; Thơ Tình Hồ Núi Cốc; Viện Lúa Sao Thần Nông; Một gia đình yêu thương; Ông bà và con cháu; Ấn Độ địa chỉ xanh; Lên Đỉnh Thiên Cổ Sơn; Machu Picchu di sản thế giới; Vắt ngang thế kỷ trồng cây đức; Những con người trung hiếu; Trần Quang Khải thơ thần; Biển Hồ Ngọc Kinh Luân ; Thế giới trong mắt ai; Lúa siêu xanh Việt Nam; Về với vùng cát đá; Pho tượng Ngọc Quan Âm; Tiết Chế đức dụng nhân; Văn chương Ngọc cho đời ; Hiền tài bút hơn gươm;Ban mai đứng trước biển ; Ban mai chào ngày mới ; Đồng Xuân lưu dấu hiền; Linh Giang sông quê hương; Thơ Tình Hồ Núi Cốc;Viện Lúa Sao Thần Nông ; Ban mai chào ngày mới (Hình) ; Đồng Xuân lưu dấu hiền ; Linh Giang sông quê hương; Thơ Tình Hồ Núi Cốc; Viện Lúa Sao Thần Nông; Một gia đình yêu thương; Ông bà và con cháu; Ấn Độ địa chỉ xanh; Lên Đỉnh Thiên Cổ Sơn; Machu Picchu di sản thế giới; Vắt ngang thế kỷ trồng cây đức; Những con người trung hiếu; Trần Quang Khải thơ thần; Biển Hồ Ngọc Kinh Luân; Thế giới trong mắt ai; Lúa siêu xanh Việt Nam; Về với vùng cát đá; Pho tượng Ngọc Quan Âm; Tiết Chế đức dụng nhân; Ban mai đứng trước biển; Văn chương Ngọc cho đời; Hiền tài bút hơn gươm;Di sản thế giới tại Việt Nam; Trần Quang Khải thơ thần; Current situation of cassava in Vietnam;Lời dặn của Thánh Trần ; Vị tướng của lòng dân; Về miền Tây yêu thương; Mộ Bồ Đề Đồng Nai; Một gia đình yêu thương;Vườn Quốc gia Việt Nam; Giấc mơ thiêng cùng Goethe; Minh triết của Đức Phật ; A Na tìm được Ngọc; Nhớ Ông Bà Cậu Mợ; Chuyện đời Phan Chí Thắng; Bảo tồn và phát triển; Có một ngày như thế; Cuộc đời thành trang văn; Hậu duệ của mặt trời; Thơ Tứ tuyệt Hoàng Kim; Thầy nghề nông chiến sĩ,  Ngôi sao mai chân trời; Thế giới trong mắt ai; Giống khoai lang Việt Nam; Giống khoai lang HL518 Nhật Đỏ; Lúa Việt tới Châu Mỹ; Học không bao giờ muộn; Thung dung chào ngày mới; Giống lúa siêu xanh GSR65; Thế giới trong mắt ai; Linh Nhạc thương lời hiền; Nguyễn Du trăng huyền thoại; Đến với bài thơ hay; Gõ ban mai vào phím; Một niềm vui ngày mới;  Hoàng Đình Quang bạn tôi; Lộc xuân Mẹ và Em; Lâm Chiêu Đồng hương quê;Thăm thẳm một tàm nhìn; Giấc mơ thiêng cùng Goethe ; Minh triết của Đức Phật ; Tỉnh thức cùng tháng năm; Những trang văn đọc lại ; Soi sáng lại chình mình; Vành đai và con đường; Lịch Vạn Niên Việt Nam; Nhớ Ông Bà Cậu Mợ; Một gia đình yêu thương; Thành kính lưu lời thương; A Na bà chúa Ngọc; Chuyện đồng dao cho em; Minh triết Hồ Chí Minh; Con đường xanh yêu thương; Ngọc Phương Nam ngày mới; Một nếp nhà văn hóa, Châu Mỹ chuyện không quên; Angkor nụ cười suy ngẫm;Ta về trời đất Hồng Lam; Học không bao giờ muộn; Những trang văn đọc lại; Cầu hiểu nối bờ thương; Sáng tạo và công nghệ;Thế giới trong mắt ai; Biết mình và biết người; Bảo tồn và phát triển sắn; Sóc Trăng Lương Định Của; Pho tượng Ngọc Quan Âm; Biết mình và biết người; Nhớ ngày về thăm bạn; Đến với Tây Nguyên mới; Sắn Việt và sắn Thái; Gõ ban mai vào phím; Thế giới trong mắt ai; Cầu trời nối mẹ cha xưa; Sắn Việt Nam và Kawano; Châu Mỹ chuyện không quên; TTC Group Sen vào hè ; Vị tướng của lòng dân; Trời nhân loại mênh mông; Gạo Việt và thương hiệu; Tagore Thánh sư Ấn Độ;Những trang văn đọc lại; Pho tượng Ngọc Quan Âm; Đường xuân đời quên tuổi; Đỗ Phủ thương đọc lại; Mưa lành mùa yêu thương; Sông Mekong tin nổi bật;Tỉnh thức cùng tháng năm; Lev Tonstoy năm kiệt tác; Chuyện thầy Nguyễn Tử Siêm;Thế giới trong mắt ai;Bài thơ Viên đá Thời gian; Lời Thầy dặn thung dung; Nông nghiệp Việt trăm năm;Sắn Việt Nam và Kawano; Châu Mỹ chuyện không quên; TTC Group Sen vào hè; Vị tướng của lòng dân; Trời nhân loại mênh mông; Gạo Việt và thương hiệu; Tagore Thánh sư Ấn Độ; Hoa Hồng Ngọc Quan Âm; Huế có Thiên Thụ Sơn; Ta về với Linh Giang; Làng Minh Lệ quê tôi; Châu Mỹ chuyện không quên; Nguyễn Du là bậc anh hùng; Tô Đông Pha Tây Hồ ; Hoàng Long cây lương thực; Nguyễn Du Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du trăng huyền thoại ; Việt Nam Tổ Quốc tôi; Việt Nam con đường xanh; Thế giới trong mắt ai ; Lúa siêu xanh Việt Nam; Tiến bộ giống sắn Việt Nam; Sắn Việt Nam ngày nay; Nguyễn Du trăng huyền thoại;Trời nhân loại mênh mông; Tagore Thánh sư Ấn Độ; Hoa Hồng Ngọc Quan Âm; Huế có Thiên Thụ Sơn; Ta về với Linh Giang; Làng Minh Lệ quê tôi; Châu Mỹ chuyện không quên; Nguyễn Du là bậc anh hùng; Tô Đông Pha Tây Hồ;Đền Kiếp Bạc Côn Sơn; Dám đánh và quyết thắng;Kim Notes lắng ghi chú; Phục Sinh Bình Minh An; Giấc mơ đời vẫn thực; Sóng yêu thương vỗ mãi; Sơn La núi báu vật; Ngụ ngôn cho người lớn; Huế có Thiên Thụ Sơn; Ta về với Linh Giang; Làng Minh Lệ quê tôi; Châu Mỹ chuyện không quên; Một gia đình yêu thương; Nguyễn Du là bậc anh hùng; Tô Đông Pha Tây Hồ; Lời Thầy dặn thung dung; Sớm hè líu ríu xuân Hoàng Long cây lương thực; Một gia đình yêu thương; Nguyễn Du Hồ Xuân Hương; Dưỡng mầm xanh phương Nam; Việt Nam Tổ Quốc tôi; Việt Nam con đường xanh; Cách đánh của Việt Nam; Thế giới trong mắt ai; Chỉ tình yêu ở lại; Mưa lành và lúa xuân; Lúa siêu xanh Việt Nam;Tiến bộ giống sắn Việt Nam; Lào hoa trắng nắng Mekong; Đẹp và Hay Học Mãi; Suy tư sông Dương Tử; Trung Tân mừng ngày mới; Thế giới trong mắt ai; Vui đến chốn thung dung; Việt Nam con đường xanh; Hoàng Trung Trực đời lính; Thơ viết bên thác Iguazu; Cuối dòng sông là biển, Sự cao quý thầm lặng; Nghị lực và Ơn Thầy; Quảng Bình đất Mẹ ơn Người; Nhớ kỷ niệm một thời; Nhớ lại và suy ngẫm; Trường tôi nôi yêu thương; Lời Thầy dặn thung dung; Con đường xanh yêu thương; Bảo tồn và phát triển sắn; Tiến bộ giống sắn Việt Nam;Giống sắn KM140 giải VIFOTEC; Hoa và Ong Hoa Người; Những trang văn thắp lửa; Bài ca Trường Quảng Trạch; Bài thơ Viên đá Thời gian; Thầy Hiếu đêm giáng sinh; Bóng hạc chốn xa xôi; Lời thương; Thế giới trong mắt ai; Cách mạng sắn Việt Nam;Bạch Ngọc Đông Hòa bạn quý;Tỉnh thức cùng tháng năm; Ban Mai Bình Minh AnTỉnh thức nhớ Viên Minh; Vĩ Dạ thương Miên Thẩm; Bay lên nào Hải Âu; Sơn Nam ông già Nam Bộ; Sơn Nam và Bùi Giáng; Chỉ tình yêu ở lại ; Về với vùng cát đá ; Thầy giáo già trước biển; Mưa lành và lúa xuân; Lúa siêu xanh Việt Nam ; Tiến bộ giống sắn Việt Nam; Sắn Việt Nam ngày nay;Hoàng Long thơ về Mẹ; Thung dung đời quên tuổi;Nhớ lời vàng Albert Einstein; Trần Văn Trà bóng hạc;Thiên đường này đâu quá xa;Qua Waterloo nhớ Scott; Lên đỉnh Thiên Môn Sơn; Gạo Việt và thương hiệu; Thăm nhà cũ của Darwin;Về; Nghĩa Lĩnh Đền Hùng; Dẻo thơm hạt ngọc Việt, Trần Khánh Dư vẹn kiếp; Ăn cháo nói càn khôn;Nhớ quên khúc nhạc vui; Mười thói quen mỗi ngày; Nguyễn Hàm Ninh Thầy Vua; Ngắm ‘ngõ nhà lão Hâm’; Kim Notes lắng ghi chú; Đọc ’50 năm nhớ lại’; Hoàng Đình Quang bạn tôi; Giống lúa siêu xanh GSR65; Tháng Tư chuyện không quên; Phục sinh giữa tối sáng; Việt Nam con đường xanh;Đêm khúc nhạc thanh bình; Thầy bạn trong đời tôi; Tiến bộ giống sắn Việt Nam ; Sắn Việt Nam ngày nay ; Giống khoai lang Việt Nam; Thành tâm với chính mình; Trường tôi nôi yêu thương, Về Trường để nhớ thương; Minh triết Thomas Jefferson; Chuyện đồng dao cho em; Chuyện cổ tích người lớn; Lời dặn của Thánh Trần; Nhớ thầy Tôn Thất Trình; Chuyện thầy Tôn Thất Trình; Tâm Đạo chuyện trăm năm;Đến với Tây Nguyên mới, Ban mai chào ngày mới; Khi hoa bằng lăng nở; Nhà tôi chốn thung dung; Kuma DCj & Hoàng Thảo;Minh triết của đức Phật; Đền Bà Chúa Thượng Ngàn; Đi dưới trời minh triết; Yên Lãng Hồ Chí Minh; Tản mạn nhớ và quên; Làng Minh Lệ quê tôi; Chuyện ngậm ngãi tìm trầm;Chuyện muôn năm còn kể;Lên Trúc Lâm Yên Tử;Lời ru nhớ núi sông; Đến với Tây Nguyên mới ; Câu cá bên dòng  Sêrêpôk; Tỉnh thức cùng tháng năm; Mưa xuân Kim và Thủy; Chuyện sao Kim kỳ thú; Sông Hoàng Long chảy hoài; Sông Kỳ Lộ Phú Yên; Mưa xuân trong mắt ai; Tháng Ba hoa gạo nở; Việt Nam con đường xanh; Đọc lại và suy ngẫm; Mây lành Phổ Đà Sơn; Kim Notes lắng ghi chú; Gia Cát Mã Tiền  Khóa; Trung Quốc một suy ngẫm; Nhớ Ông Bà Cậu Mợ; Có một ngày như thế; Phục sinh giữa tối sáng; Nam tiến của người Việt; Nhà tôi giấc mơ xanh; Cao Biền trong sử Việt; Giấc mơ lành yêu thương; Nhà tôi giấc mơ xanh; Tô Đông Pha Tây Hồ; Thượng Đức thương nhìn lại; Những trang văn thắp lửa; Thơ vui những ngày nhàn; Bill Gates học để làm; Minh triết sống phúc hậu; Giống khoai lang Việt Nam; Sắn Việt Nam ngày nay; Vietnamese Cassava Today; Hồ Lắk Đình Lạc Giao; Ngày Quốc tế Hạnh phúc; Chim Phượng về làm tổ; Chốn vườn thiêng cổ tích; Trân trọng Ngọc riêng mình; Bảo tồn và phát triển sắn; Về miền Tây yêu thương; Trần Công Khanh ngày mới; Mark Zuckerberg và FB ; Chuyện đồng dao cho em; Đến với Tây Nguyên mới; Thương Kim Thiếp Vũ Môn. Nghỉ ngơi nhàn tĩnh dưỡng; Trần Công Khanh ngày mới; Selma Nobel văn học; Thầy Quyền thâm canh lúa; Chuyện ngày sinh của Thủy;Một gia đình yêu thương; Thành kính lưu lời thương; Nhớ ông bà cậu mợ; Một niềm tin thắp lửa; Minh triết sống phúc hậu; Truyện vua Solomon; Đến với Tây Nguyên mới; Hồ Lắk Đình Lạc Giao; Thương Kim Thiết Vũ Môn; IAS đường tới trăm năm; Nông nghiệp Việt trăm năm; Quản lý đất đai Việt Nam; Nam Tiến của người Việt; Mẹ tắm mát đời con; Bóng hạc chốn xa xôi; Hồ Lắk Đình Lạc Giao; Cánh cò bay trong mơ; Vào Tràng An Bái Đính; Sông Hoàng Long chảy hoài; Nguồn Son nối Phong Nha; #An nhiên; Đến với Tây Nguyên mới; Thương Kim Thiết Vũ Môn; Nguyễn Huy Thiệp lắng đọng;Đặng Dung thơ Cảm hoài; Đồng hành cùng đi tới; Giống khoai lang Việt Nam; Thương Kim Thiếp Vũ Môn; Quảng Bình đất và người; Thơ văn thầy Hồ Ngọc Diệp; Chuyện cổ tích người lớn; Cuối dòng sông là biển; Thầy nghề nông chiến sĩ; Đọc lại và suy ngẫm; Thương Kim Thiếp Vũ Môn; Giống khoai lang Việt Nam; Việt Nam con đường xanh; Đọc lại và suy ngẫm; Mây lành Phổ Đà Sơn; Cao Biền trong sử Việt; Giấc mơ lành yêu thương; Nhà tôi giấc mơ xanh;Phạm Hồng Đức Phước ca cao; Cao Biền trong sử Việt;Trời nhân loại mênh mông; Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay; Thầy bạn trong đời tôi; Cuối dòng sông là biển;. Phục sinh giữa tối sáng; Nam tiến của người Việt; Gia Cát Mã Tiền Khóa;Kim Notes lắng ghi chú; Gia Cát Mã Tiền Khóa;Sông Kỳ Lộ Phú Yên; Châu Văn Tiếp Phú Yên; Chọn giống sắn Việt Nam; Ngọc Phương Nam ngày mới; Nghê Việt am Ngọa Vân; Phục sinh giữa tối sáng; Lê Phụng Hiểu ruộng thác đao; Thầy bạn trong đời tôi; Bóng hạc chốn xa xôi; Giống khoai lang Việt Nam; Chuyện thầy Lê Quý Kha;Lên Việt Bắc điểm hẹn ; Tiếng Việt lung linh sáng; Bài thơ Viên đá Thời gian; Kim Notes lắng ghi chú; Gia Cát Mã Tiền  Khóa; Minh triết sống phúc hậu; Thung dung dạy và học; Thầy bạn trong đời tôi; Trịnh Công Sơn lắng đọng; Dạo chơi non nước Việt; Minh triết cho mỗi ngày; Địa chỉ xanh Ấn Độ; Vườn Quốc gia Việt Nam; Tĩnh lặng cùng với Osho; Đi thuyền trên Trường Giang; Đến với Tây Nguyên mới; Bài thơ Viên đá Thời gian; Đợi anh ngày trở lại; Chốn thiêng; Thầy Ngoạn Hồ Núi Cốc; Sắn Việt Nam ngày nay; Chung sức trên đường xuân; Vietnamese cassava today; Đỗ Hoàng Phong chiều xuân; Hồ Văn Thiện bóng chiều; Walt Disney người bạn lớn; 24 tiết khí lịch nhà nông; Lời thương; Giống lạc HL25 Việt Ấn; Thầy Tuấn kinh tế hộ; Thầy Tuấn trong lòng tôi; Địa chỉ xanh Ấn Độ; Chuyện cổ tích người lớn; Giống khoai lang Việt Nam; Nguyễn Hiến Lê sao sáng; Xanh một trời hi vọng; Về miền Tây yêu thương; Nơi một trời thương nhớ; Nông lịch tiết Thanh Minh; 24 tiết khí nông lịch; Ngày xuân đọc Trạng Trình; Nhớ thầy Trần Ngọc Ngoạn; Chốn thiêng; Thế giới trong mắt ai; Việt Nam con đường xanh; Nông nghiệp công nghệ cao; Phạm Quang Khánh Hoa Đất; Sông Mekong tin nổi bật; Quảng Bình đất Mẹ ơn Người; Chín điều lành hạnh phúc; Đến với bài thơ hay;Nụ tầm xuân mùa xuân ; Về miền Tây yêu thương; Nơi một trời thương nhớ; Nông lịch tiết Thanh Minh; Tốt gỗ chẳng cần sơn; Ngày xuân đọc Trạng Trình; Nhớ thầy Trần Ngọc Ngoạn; Chốn thiêng; Thế giới trong mắt ai; Nông nghiệp công nghệ cao; Việt Nam con đường xanh; Thầy bạn trong đời tôi; Bill Gates học để làm Chuyện cổ tích người lớn. Thương Kim Thiếp Vũ Môn; Nhớ lời thề cỏ May, Vui quà tặng cuộc sống; A Na tìm được Ngọc; A Na múa Ấn Độ; Nhớ Núi; Nhớ Ông Bà Cậu Mợ; Một gia đình yêu thương; Sự thật tốt hơn ngàn lời nói; Lúa sắn Cămpuchia và Lào; Tháp vàng hoa trắng nắng Mekong; Truyện Pie Đại đếBảo tồn và phát triển;Chuyện đời Phan Chí Thắng; Bảo tồn và phát triển; Có một ngày như thế; Cuộc đời thành trang văn; Hậu duệ của mặt trời; Thơ Tứ tuyệt Hoàng Kim; Thầy nghề nông chiến sĩ,  Ngôi sao mai chân trời; Đến với bài thơ hay; Thế giới trong mắt ai; Giống khoai lang Việt Nam; Giống khoai lang HL518 Nhật Đỏ; Lúa Việt tới Châu Mỹ; Học không bao giờ muộn; Đồng Xuân lưu dấu hiền; Linh Giang sông quê hương ; Thơ Tình Hồ Núi Cốc;Viện Lúa Sao Thần Nông ; Một gia đình yêu thương; Ông bà và con cháu ; Pho tượng Ngọc Quan Âm; Tiết Chế đức dụng nhân ; Ban mai đứng trước biển ; Văn chương Ngọc cho đời ; Hiền tài bút hơn gươm; Ban mai đứng trước biển ; Ban mai chào ngày mới ; Đồng Xuân lưu dấu hiền ; Linh Giang sông quê hương ; Thơ Tình Hồ Núi Cốc; Viện Lúa Sao Thần Nông ; Một gia đình yêu thương; Ông bà và con cháu ; Ấn Độ địa chỉ xanh; Lên Đỉnh Thiên Cổ Sơn ; Machu Picchu di sản thế giới ; Vắt ngang thế kỷ trồng cây đức; Những con người trung hiếu; Trần Quang Khải thơ thần; Biển Hồ Ngọc Kinh Luân ; Thế giới trong mắt ai ; Lúa siêu xanh Việt Nam ; Về với vùng cát đá ; Pho tượng Ngọc Quan Âm; Tiết Chế đức dụng nhân ; Văn chương Ngọc cho đời ; Hiền tài bút hơn gươm; Đọc lại và suy ngẫm; Trần Thánh Tông minh quân; Thầy nhạc Trần Văn Khê; Marco Polo sinh ở Croatia; Nam Tư một suy ngẫm; Cung điện Hoàng đế Diocletian; Hồ Xuân Hương góc khuất; Hồ Xuân Hương đời thơ; Nhớ bạn nhớ châu Phi; Linh Giang sông quê hương; Giống khoai lang Việt Nam; Đùa vui cùng Thuận Nghĩa;Về miền Tây yêu thương; Linh Giang sông quê hương ;Thầy nhạc Trần Văn Khê ; Bình Minh An ngày mới ; Ban mai đứng trước biển ;Ban mai chào ngày mới ; Đồng Xuân lưu dấu hiền ; Linh Giang sông quê hương ; Thơ Tình Hồ Núi Cốc;Viện Lúa Sao Thần Nông ; Một gia đình yêu thương; Ông bà và con cháu ; Ấn Độ địa chỉ xanh; Lên Đỉnh Thiên Cổ Sơn ; Machu Picchu di sản thế giới ; Vắt ngang thế kỷ trồng cây đức; Những con người trung hiếu; Trần Quang Khải thơ thần; Biển Hồ Ngọc Kinh Luân ; Thế giới trong mắt ai ; Lúa siêu xanh Việt Nam ;Về với vùng cát đá ; Pho tượng Ngọc Quan Âm; Tiết Chế đức dụng nhân ; Văn chương Ngọc cho đời ; Hiền tài bút hơn gươm;Tĩnh lặng là trí tuệ; Giấc mơ lành yêu thương; Hồ Xuân Hương đời thơ; Hồ Xuân Hương góc khuất; Gạo Việt và thương hiệu; Hoa và Ong Hoa Người; Câu chuyện ảnh tháng Sáu; Một niềm tin thắp lửa; Cuối dòng sông là biển; Tĩnh lặng là trí tuệ; Vui đến chốn thung dung; Đọc lại và suy ngẫm; Hạnh Phúc khát khao xanh; Thơ vui những ngày nhàn; Vui thu măng mỗi ngày;Tĩnh lặng là trí tuệ; Giấc mơ lành yêu thương;Châu Mỹ chuyện không quên; Truyện George Washington; Chuyện Henry Ford lên Trời; Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung; Mười thói quen mỗi ngày; Đỗ Hoàng Phong chiều xuân; Hoa và Ong Hoa Người; Nguyễn Du trăng huyền thoại; Thơ vui những ngày nhàn; Việt Nam con đường xanh; Châu Mỹ chuyện không quên; Truyện George Washington; Nhà Trần trong sử Việt; Đến với Tây Nguyên mới; Chuyện thầy Lê Văn Tố; Về miền Tây yêu thương; Linh Giang sông quê hương ;Thầy nhạc Trần Văn Khê ; Bình Minh An ngày mới ; Ban mai đứng trước biển ;Ban mai chào ngày mới ; Đồng Xuân lưu dấu hiền ; Linh Giang sông quê hương ; Thơ Tình Hồ Núi Cốc;Viện Lúa Sao Thần Nông ; Một gia đình yêu thương; Ông bà và con cháu ; Ấn Độ địa chỉ xanh; Lên Đỉnh Thiên Cổ Sơn ; Machu Picchu di sản thế giới ; Vắt ngang thế kỷ trồng cây đức; Những con người trung hiếu; Trần Quang Khải thơ thần; Biển Hồ Ngọc Kinh Luân ; Thế giới trong mắt ai ; Lúa siêu xanh Việt Nam ;Về với vùng cát đá ; Pho tượng Ngọc Quan Âm; Tiết Chế đức dụng nhân ; Văn chương Ngọc cho đời ; Hiền tài bút hơn gươm;Tĩnh lặng là trí tuệ; Giấc mơ lành yêu thương;Kon Ka Kinh Gia Lai; Vườn Quốc gia Việt Nam; Kim Notes lắng ghi chú; Đến với Tây Nguyên mới; Thơ Tứ tuyệt Hoàng Kim; Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung; Ấn Độ địa chỉ xanh; Việt Nam con đường xanh; Đồng xuân lưu dấu hiền; †

Bài viết mới trên DẠY VÀ HỌC
https://hoangkimvn.wordpress.com bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter Đăng tải tại #cnm365, Chào ngày mới 15 tháng 7 | Thẻ Chào ngày mới 15 tháng 7 | Gửi phản hồiSửa Tìm

Bài viết mới

Bình Minh An ngày mới


BÌNH MINH AN NGÀY MỚI
Thơ cho ba bé nghe
Hoàng Kim


Bình Minh An ngày mới
Lạc vào xứ sương mù
Ông Bà già hóng cháu
Ngắm Chúa Tuyết vi vu

Chị Sóc cùng Harry, Na
Giữa trời xanh tuyết trắng
Có hoa đào hồng thắm
Núi Phú trời bình yên

Chi Sóc là cô Tiên
Giữa mốt vùng cổ tích
Em Na tìm được Ngọc
Chị em vui thích cười.

Tuổi Ngọc sáng đất trời
Vô tư đầy sung sướng
Chị Hai mừng khôn lớn
Em nhớ hoài tuổi hoa

Chị với em ngắm hoa
Lung linh vườn cổ tích
Sóc, anh Harry mai học
Na và Ngoại ngoan nghe.


(*) Thỉnh thoảng Ba Mẹ về
Đón Na thăm Chúa Tuyết
Nhớ “Câu chuyện xứ Đông
Hôm nay nhiều bài thích.

(**) Ghi chú: Kể cho bé nghe (để học văn)
https://www.facebook.com/reel/27201595446184299

Lần giở trang sách cũ, thấy người xưa nói Hà Nội là xứ kinh kỳ, là trung tâm vùng đồng bằng Bắc bộ. Bao quanh trung tâm là 4 hướng: Đông, Tây, Nam, Bắc. Và ở xứ Đông đó có một địa danh gắn với chữ “tứ”, đó là Tứ Kỳ, nằm ở hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình. Theo tra cứu từ nguyên, Tứ Kỳ theo âm Hán – Việt có nghĩa là “4 đường rẽ (ngã rẽ)”. Thực hư ra sao, chắc những nhà địa danh học mới tường tận hơn.

Một buổi sáng đầu tuần tháng 6, được về Tứ Kỳ, cùng “ra đồng” với bà con nông dân thu hoạch vụ “lúa – rươi” đầu mùa. Tiếp nối ngày hội thu hoạch cà rốt ở Cẩm Giàng cách đây 4 tháng, Hải Dương tổ chức sự kiện trải nghiệm sản xuất, gắn bó với đồng quê nông thôn, thông qua các hoạt động đa dạng khi vào vụ mùa thu hoạch.

Trên con đường đê yên bình, một sự kiện nhỏ, lại chứa đựng thật nhiều ý nghĩa. Đó là kích hoạt sự năng động cho cuộc sống làng quê, giới thiệu, quảng bá cách làm nông nghiệp bài bản, chỉn chu với du khách gần xa.

Cảm xúc biết bao khi nhìn ngắm những ruộng lúa trĩu bông đang vào vụ thu hoạch, bên dưới là rươi, là cáy. Cảm xúc biết bao khi được hoà mình vào một lễ hội bình dị, vui tươi, mà không kém phần độc đáo. Một không gian thật gần gũi, chan hoà giữa người với người, bừng lên sức sống mới, luồng gió mới, với cách làm nông nghiệp hướng tới “đa tầng”, “đa giá trị” của người Tứ Kỳ, như trong những câu thông điệp nhẹ nhàng, súc tích, điểm xuyết dọc đường đê.

“Đa tầng, đa giá trị” và triết lý nông nghiệp “vị nhân sinh”, như lời phát biểu mở hội của lãnh đạo huyện, là điều mang đến rất nhiều ý nghĩa, nhiều chiều sâu không dễ nhận ra. Sẽ có ý kiến cho rằng, làm nông là để thu hoạch sản lượng nhiều nhất, mang lại thu nhập cao nhất, thì có gì mà cao xa đâu mà cần đến triết lý, phương châm. Nhưng người Tứ Kỳ nói riêng và người Hải Dương nói chung đã dũng cảm bước ra khỏi cách nghĩ quen thuộc, cách tư duy truyền thống đó.

Đi theo đường cũ nhiều người đã đi, thì dễ. Mở ra con đường mới, để hướng đến mục tiêu mới, cần sự kiên trì và quyết tâm. Người Cẩm Giàng, người Thanh Hà, người Kinh Môn hôm qua và người Tứ Kỳ hôm nay dám chấp nhận thử thách, để tạo nên sự khác biệt.

Chọn một hướng đi, cũng giống như người Tứ Kỳ đứng giữa “4 ngã rẽ con đường”. Người Tứ Kỳ không ngã bên trái, không nghiêng bên phải, và chắc chắn càng không muốn tụt lại phía sau. Người Tứ Kỳ chọn tiến lên phía trước, theo cách riêng của mình. Từ “tư duy sản xuất” sang “tư duy kinh tế nông nghiệp”, từ tăng trưởng dựa trên “đơn giá trị” sang tích hợp “đa giá trị” và cộng với mô hình sản xuất “đa tầng” là chặng đường tìm tòi, khám phá những giá trị gắn bó với mảnh đất quê mình. Thì đó, tầng đầu là đất đai, thổ nhưỡng giàu chất dinh dưỡng nhờ con rươi, con cáy, tầng kế đến là cây lúa trĩu hạt, chất lượng cao, tầng tiếp theo là các hoạt động trải nghiệm đồng quê sinh động. Theo tính toán của bà con nông dân, nhờ mô hình kinh tế “đa tầng”, thu nhập trên một đơn vị diện tích đã tăng lên năm, bảy lần và còn có thể cao hơn.

Và chắc chắn rằng, giá trị gia tăng từ “đa tầng”, “đa giá trị” đâu chỉ dừng lại đó. Ngoài tầng doanh thu, lợi nhuận kinh tế hữu hình, còn những tầng lợi ích, giá trị vô hình. Tài nguyên bản địa độc đáo, cùng với văn hoá, lịch sử địa phương và kết cấu cộng đồng xã hội nông thôn, sẽ kết tinh thành nhiều tầng giá trị hơn nữa.

Nhiều người hay than phiền: “Địa phương tôi chẳng có gì!”, và từ đó, đôi khi cứ tìm kiếm cái mình không có. Nhưng ngày nay, người ta phát hiện ra rằng, mỗi địa phương đều có “ba nguồn lực”: “nguồn lực từ thiên nhiên” ban tặng như đất đai trù phú hay cảnh quan xinh đẹp; “nguồn lực mềm” như văn hoá đa dạng, kinh nghiệm dân gian và tri thức bản địa, truyền thống lịch sử; “nguồn lực con người” đậm tính cá nhân như ý tưởng, ý chí, tinh thần, ước mơ,…

Trong ba nguồn lực đó, có những sức mạnh “phát lộ” nhìn thấy được, nhưng có những sức mạnh cần phải liên tục “đào xới”, “vun trồng” để làm bật lên những điều tiềm ẩn vô hình nhưng chính là những tầng giá trị cao nhất.

Qua quan sát, người ta đúc rút ra một điều rằng, ngày nay, người tiêu dùng không đơn thuần tìm mua sản phẩm hữu hình, mà quan tâm, ấn tượng, cảm xúc nhiều hơn về câu chuyện kể ghi nhận quá trình tạo nên sản phẩm từ ba nguồn lực đó. Và người Hải Dương đang bắt đầu kể những câu chuyện về quả vải, củ hành, củ tỏi, củ cà rốt và hôm nay về cây lúa, con rươi, con cáy, gắn với những giá trị tiềm ẩn đó. Người Hải Dương kiên trì, chăm chút cùng nhau tạo nên giá trị tăng thêm từ những điều vô hình, những điều ít được quan tâm, những điều dễ bị lướt qua.

Chuyện kể rằng, người Hải Dương biến những mảnh đất nhỏ thành những cánh đồng lớn nhờ thoát khỏi tư duy manh mún. Chuyện kể rằng, người Tứ Kỳ biến đặc điểm riêng có của mình, thành lợi thế so sánh, chứ không tự bằng lòng với cách làm nông truyền thống bao đời, vốn không còn phù hợp với xu thế thay đổi không ngừng. Chuyện kể rằng, người Tứ Kỳ đang xây dựng thương hiệu nông sản của mình qua triết lý “nông nghiệp vị nhân sinh”, vì sự sống con người, thân thiện với môi trường, tự nhiên.

Về dự ngày hội ở Tứ Kỳ, còn có những chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý,… Mọi người vừa khám phá, vừa chung vui với người Tứ Kỳ. Doanh nghiệp về với Tứ Kỳ để kết nối đưa nông sản đi xa. Mong rằng, doanh nghiệp về làng, không chỉ dừng lại ở chuyện “thuận mua, vừa bán” đơn thuần, mà hãy cùng với bà con nông dân tạo ra giá trị cao nhất cho sản phẩm bằng những tầng giá trị gắn kết từ những điều còn tiềm ẩn.

Thương hiệu sản phẩm nông nghiệp bắt đầu từ những người nông dân, nhưng cần đến vai trò đồng hành, định hướng của doanh nghiệp, cũng như sự chung tay đóng góp của toàn hệ sinh thái.

Một nhà kinh tế nổi tiếng chia sẻ rằng, khi bạn chỉ nhìn vào một giá trị duy nhất, bạn đã bỏ qua nhiều giá trị ẩn đằng sau, mà đôi khi còn có giá trị nhiều lần hơn, giá trị ban đang nhìn thấy. Người Hải Dương đang đi tìm những giá trị vô hình đó để tích hợp “đa tầng, đa giá trị” cho từng nông sản của người nông dân, từng sản phẩm của doanh nghiệp.

Người Hải Dương chứng minh rằng “Vấn đề không phải ở chỗ bạn có thể làm hay không, mà chính là bạn có làm hay không”. Và người Hải Dương đang bắt tay làm, cùng nhau làm. Lại có câu: “Vấn đề không phải là bạn có thể làm, quan trọng là bạn đã làm”. Và người Hải Dương đã làm, đang làm và sẽ tiếp tục làm.

Cám ơn Hải Dương, cám ơn xứ Đông, một buổi sáng trong lành, bên ruộng lúa rươi Tứ Kỳ, mọi người nô nức, gửi gieo nhiều cảm xúc phấn khởi. Đường đê như rộn vang tiếng hát “ngày mùa vui thôn trang, lúa reo như hát mừng”.

Nội dung: Lê Minh Hoan; Thiết kế Khánh Thiện; Ảnh:Tùng Đinh – Trung Quân

Hoàng Kim Bài viết mới trên DẠY VÀ HỌC
https://hoangkimvn.wordpress.com bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
Nắng ban mai
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn hoangkim vietnam Kim on Facebook Kim on Twitter