
Bản đồ địa hình Việt Nam. Được tạo với GMT từ dữ liệu GLOBE được phát hành công khai Topographic map of Vietnam. Created with GMT from publicly released GLOBE data.

Việt Nam Tổ Quốc Tôi : DẠY VÀ HỌC Việt Nam học; Việt Nam xã hội học (越南社会学; Vietnamese Sociology) Ngữ văn Việt Trung đối chiếu 学越中文 Tổng quan về Xã hội Kinh tế Văn hóa Việt Nam 越南社会经济和文化概述, Cây Lương thực Việt Nam #cltvn; #ana; #cnm365 Tình yêu cuộc sống https://hoangkimvn.wordpress.com; Hoàng Kim Long Hoàng Gia
Việt Nam Hồ Chí Minh
Bài thơ: Nước ta (Hồ Chí Minh – 胡志明)
“Nước ta ở về xứ nóng, khí hậu tốt Rừng vàng biển bạc, đất phì nhiêu Nhân dân dũng cảm và cần kiệm Các nước anh em giúp đỡ nhiều.” là của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được Người phát biểu tại Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khóa 3 ngày 16/4/1962. Lời dặn này nhấn mạnh tiềm năng to lớn của thiên nhiên Việt Nam, đặc biệt là tài nguyên rừng và biển, đồng thời là lời kêu gọi bảo vệ, phát triển tài sản quốc gia quý giá này.
Nguồn gốc: Lời nói của Bác Hồ trong một bài phát biểu quan trọng.
Ý nghĩa:
- “Xứ nóng, khí hậu tốt”: Chỉ vị trí địa lý thuận lợi, khí hậu nhiệt đới gió mùa có lợi cho nông nghiệp và sinh trưởng.
- “Rừng vàng biển bạc”: Ca ngợi sự giàu có, phong phú của tài nguyên rừng (vàng) và tài nguyên biển (bạc), là biểu tượng cho sự trù phú của đất nước.
- “Đất phì nhiêu”: Khẳng định đất đai màu mỡ, tiềm năng nông nghiệp lớn.
Bối cảnh: Câu nói không chỉ là lời khẳng định vẻ đẹp thiên nhiên mà còn là lời nhắc nhở về trách nhiệm của toàn dân trong việc giữ gìn, phát triển tài nguyên, gắn liền với mục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh.
“Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em.”. Đây là Thư gửi các học sinh do Chủ tịch Hồ Chí Minh viết nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (tháng 9 năm 1945)..

Việt Nam Đất Và Người
Bình sinh Hồ Chí Minh
https://thoibaonganhang.vn/ban-do-34-tinh-thanh-moi-cua-viet-nam-vua-duoc-quoc-hoi-thong-qua-165676.html

BÀI THƠ “LỊCH SỬ NƯỚC TA “
HỒ CHÍ MINH 1942
Dân ta phải biết sử ta,
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.
Kể năm hơn bốn ngàn năm,
Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hoà.
Hồng Bàng là tổ nước ta.
Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang.
Thiếu niên ta rất vẻ vang,
Trẻ con Phù Đổng tiếng vang muôn đời.
Tuổi tuy chưa đến chín mười,
Ra tay cứu nước dẹp loài vô lương.
An Dương Vương thế Hùng Vương,
Quốc danh Âu Lạc cầm quyền trị dân.
Triệu Đà là vị hiền quân,
Quốc danh Nam Việt trị dân năm đời.
Nước Tàu cậy thế đông người,
Kéo quân áp bức giống nòi Việt Nam.
Quân Tàu nhiều kẻ tham lam,
Dân ta há dễ chịu làm tôi ngươi?
Hai Bà Trưng có đại tài,
Phất cờ khởi nghĩa giết người tà gian,
Ra tay khôi phục giang san,
Tiếng thơm dài tạc đá vàng nước ta.
Tỉnh Thanh Hoá có một bà,
Tên là Triệu Ẩu tuổi vừa đôi mươi,
Tài năng dũng cảm hơn người,
Khởi binh cứu nước muôn đời lưu phương.
Phụ nữ ta chẳng tầm thường,
Đánh Đông, dẹp Bắc làm gương để đời,
Kể gần sáu trăm năm giời,
Ta không đoàn kết bị người tính thôn.
Anh hùng thay ông Lý Bôn,
Tài kiêm văn võ, sức hơn muôn người,
Đánh Tàu đuổi sạch ra ngoài.
Lập nên Triều Lý sáu mươi năm liền.
Vì Lý Phật Tử ngu hèn,
Để cho Tàu lại xâm quyền nước ta.
Thương dân cực khổ xót xa,
Ông Mai Hắc Đế đứng ra đánh Tàu,
Vì dân đoàn kết chưa sâu,
Cho nên thất bại trước sau mấy lần.
Ngô Quyền quê ở Đường Lâm,
Cứu dân ra khỏi cát lầm ngàn năm.
Đến hồi Thập nhị sứ quân,
Bốn phương loạn lạc, muôn dân cơ hàn.
Động Hoa Lư có Tiên Hoàng,
Nổi lên gây dựng triều đàng họ Đinh.
Ra tài kiến thiết kinh dinh,
Đến vua Phế Đế chỉ kinh hai đời.
Lê Đại Hành nối lên ngôi.
Đánh tan quân Tống, đuổi lui Xiêm Thành.
Vì con bạo ngược hoành hành,
Ra đời thì đã tan tành nghiệp vương.
Công Uẩn là kẻ phi thường,
Dựng lên nhà Lý cầm quyền nước ta.
Mở mang văn hoá nước nhà,
Đắp đê để giữ ruộng nhà cho dân.
Lý Thường Kiệt là hiền thần,
Đuổi quân nhà Tống, phá quân Xiêm Thành.
Tuổi già phỉ chí công danh,
Mà lòng yêu nước trung thành không phai.
Họ Lý truyền được chín đời,
Hai trăm mười sáu năm giời thì tan.
Nhà Trần thống trị giang san,
Trị yên trong nước, đánh tan địch ngoài,
Quân Nguyên binh giỏi tướng tài:
Đánh đâu được đấy, dông dài Á, Âu,
Tung hoành chiếm nửa Âu châu,
Chiếm Cao Ly, lấy nước Tàu bao la,
Lăm le muốn chiếm nước ta,
Năm mươi vạn lính vượt qua biên thuỳ,
Hải quân theo bể kéo đi,
Hai đường vây kín Bắc Kỳ như nen.
Dân ta nào có chịu hèn,
Đồng tâm, hợp lực mấy phen đuổi Tàu.
Ông Trần Hưng Đạo cầm đầu,
Dùng mưu du kích đánh Tàu tan hoang,
Mênh mông một giải Bạch Đằng,
Nghìn thu soi rạng giống dòng quang vinh,
Hai lần đại phá Nguyên binh,
Làm cho Tàu phải thất kinh rụng rời.
Quốc Toản là trẻ có tài,
Mới mười sáu tuổi ra oai trận tiền,
Mấy lần đánh thắng quân Nguyên,
Được phong làm tướng cầm quyền binh nhung.
Thật là một đấng anh hùng,
Trẻ con Nam Việt nên cùng noi theo.
Đời Trần văn giỏi võ nhiều,
Ngoài dân thịnh vượng, trong triều hiền minh.
Mười hai đời được hiển vinh,
Đến Trần Phế Đế nước mình suy vi.
Cha con nhà Hồ Quý Ly,
Giết vua tiếm vị một kỳ bảy niên.
Tình hình trong nước không yên,
Tàu qua xâm chiếm giữ quyền mấy lâu,
Bao nhiêu của cải trân châu,
Chúng vơ vét chở về Tàu sạch trơn.
Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn,
Mặc dầu tướng ít binh đơn không nàn.
Mấy phen sông Nhị núi Lam,
Thanh gươm yên ngựa Bắc, Nam ngang tàng.
Kìa Tuý Động nọ Chi Lăng,
Đánh hai mươi vạn quân Minh tan tành.
Mười năm sự nghiệp hoàn thành,
Nước ta thoát khỏi cái vành nguy nan.
Vì dân hăng hái kết đoàn,
Nên khôi phục chóng giang san Lạc Hồng.
Vua hiền có Lê Thánh Tông,
Mở mang bờ cõi đã khôn lại lành.
Trăm năm truyền đến cung hoàng,
Mạc Đăng Dung đã hoành hành chiếm ngôi.
Bấy giờ trong nước lôi thôi,
Lê nam, Mạc bắc rạch đôi san hà,
Bảy mươi năm nạn can qua.
Cuối đời mười sáu Mạc đà suy vi.
Từ đời mười sáu trở đi,
Vua Lê, Chúa Trịnh chia vì khá lâu.
Nguyễn Nam, Trịnh Bắc đánh nhau,
Thấy dân cực khổ mà đau đớn lòng.
Dân gian có kẻ anh hùng,
Anh em Nguyễn Nhạc nổi vùng Tây Sơn,
Đóng đô ở đất Quy Nhơn,
Đánh tan Trịnh, Nguyễn, cứu dân đảo huyền.
Nhà Lê cũng bị mất quyền,
Ba trăm sáu chục năm truyền vị vương.
Nguyễn Huệ là kẻ phi thường,
Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu,
Ông đà chí cả mưu cao,
Dân ta lại biết cùng nhau một lòng.
Cho nên Tàu dẫu làm hung,
Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà.
Tướng Tây Sơn có một bà,
Bùi là nguyên họ, tên là Thị Xuân,
Tay bà thống đốc ba quân,
Đánh hơn mấy trận, địch nhân liệt là.
Gia Long lại dấy can qua,
Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài.
Tự mình đã chẳng có tài,
Nhờ Tây qua cứu, tính bài giải vây.
Nay ta mất nước thế này,
Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà,
Khác gì cõng rắn cắn gà,
Rước voi dầy mả, thiệt là ngu si.
Từ năm Tân Hợi trở đi,
Tây đà gây chuyện thị phi với mình.
Vậy mà vua chúa triều đình,
Khư khư cứ tưởng là mình khôn ngoan.
Nay ta nước mất nhà tan
Cũng vì những lũ vua quan ngu hèn.
Năm Tự Đức thập nhất niên,
Nam Kỳ đã lọt dưới quyền giặc Tây
Hăm lăm năm sau trận này
Trung Kỳ cũng mất, Bắc Kỳ cũng tan,
Ngàn năm gấm vóc giang san,
Bị vua họ Nguyễn đem hàng cho Tây!
Tội kia càng đắp càng đầy,
Sự tình càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Nước ta nhiều kẻ tôi trung,
Tấm lòng tiết nghĩa rạng cùng tuyết sương.
Hoàng Diệu với Nguyễn Tri Phương,
Cùng thành còn mất làm gương để đời.
Nước ta bị Pháp cướp rồi,
Ngọn cờ khởi nghĩa nhiều nơi lẫy lừng;
Trung Kỳ đảng Phan Đình Phùng
Ra tay đánh Pháp, vẫy vùng một phương.
Mấy năm ra sức Cần Vương,
Bọn ông Tán Thuật nổi đường Hưng Yên,
Giang san độc lập một miền,
Ông Hoàng Hoa Thám đất Yên tung hoành.
Anh em khố đỏ, khố xanh,
Mưu khởi nghĩa tại Hà thành năm xưa,
Tỉnh Thái Nguyên với Sầm Nưa,
Kế nhau khởi nghĩa rủi chưa được toàn.
Kìa Yên Bái, nọ Nghệ An
Hai lần khởi nghĩa tiếng vang hoàn cầu.
Nam Kỳ im lặng đã lâu,
Năm kia khởi nghĩa đương đầu với Tây.
Bắc Sơn đó, Đô Lương đây!
Kéo cờ khởi nghĩa, đánh Tây bạo tàn.
Xét trong lịch sử Việt Nam,
Dân ta vốn cũng vẻ vang anh hùng.
Nhiều phen đánh bắc dẹp đông,
Oanh oanh liệt liệt con Rồng cháu Tiên.
Ngày nay đến nỗi nghèo hèn,
Vì ta chỉ biết lo yên một mình.
Để người đè nén, xem khinh,
Để người bóc lột ra tình tôi ngươi!
Bây giờ Pháp mất nước rồi,
Không đủ sức, không đủ người trị ta.
Giặc Nhật Bản thì mới qua,
Cái nền thống trị chưa ra mối mành.
Lại cùng Tàu, Mỹ, Hà, Anh,
Khắp nơi có cuộc chiến tranh rầy rà.
Ấy là nhịp tốt cho ta,
Nổi lên khôi phục nước nhà tổ tông.
Người chúng ít, người mình đông
Dân ta chỉ cốt đồng lòng là nên.
Hỡi ai con cháu Rồng Tiên!
Mau mau đoàn kết vững bền cùng nhau.
Bất kỳ nam nữ, nghèo giàu,
Bất kỳ già trẻ cùng nhau kết đoàn.
Người giúp sức, kẻ giúp tiền,
Cùng nhau giành lấy chủ quyền của ta.
Trên vì nước, dưới vì nhà,
Ấy là sự nghiệp, ấy là công danh.
Chúng ta có hội Việt Minh
Đủ tài lãnh đạo chúng mình đấu tranh
Mai sau sự nghiệp hoàn thành
Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng
Dân ta xin nhớ chữ đồng:
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh!
(Nguồn trích dẫn VIỆT NAM ·Văn Tí Võ ·Chuyên gia trong nhóm · tsreSpdonomm944tc11m 33t2 3t7l0 g0ff07n72550447fch551gt,743á·

Cổng Thông tin điện tử xã Xuân Cẩm trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
“Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
Thưa các đồng chí lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương, các địa phương, các tổ chức đảng trong toàn hệ thống chính trị,
Thưa toàn thể các đồng chí cán bộ, đảng viên và đồng bào cả nước.
Hôm nay, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện các Nghị quyết, Kết luận, Quy định của Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Qua các chuyên đề, chúng ta đã làm rõ nội dung cốt lõi, điểm mới và những yêu cầu triển khai thực hiện. Tôi đánh giá cao tinh thần nghiêm túc, trách nhiệm của các đồng chí.
Hội nghị Trung ương 3 đã thống nhất cao nhiều nội dung, quyết định nhiều chủ trương lớn về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, phát triển và bảo vệ đất nước. Đây là bước cụ thể hóa quan trọng Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, gắn nhiệm vụ năm 2026 với mục tiêu cả nhiệm kỳ, đến năm 2030, năm 2045.
Các quyết sách cùng hướng tới nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, khả năng quản trị, phát triển, bảo vệ đất nước; làm cho bộ máy của hệ thống chính trị vận hành hiệu quả hơn, nguồn lực được khơi thông, đời sống Nhân dân được nâng cao, đất nước phát triển.
Chúng ta đã thống nhất nhận thức: triển khai phải rõ việc, rõ người, rõ thời hạn, rõ hiệu quả, rõ trách nhiệm. Chất lượng thực thi là thước đo năng lực lãnh đạo, cầm quyền và hiệu quả vận hành của hệ thống; phải chuyển nhận thức thành hành động, quyết tâm thành kết quả.
Trên tinh thần đó, tôi đề nghị toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị tập trung quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện tốt 5 vấn đề.
Thứ nhất, thống nhất nhận thức, nắm vững tư tưởng chỉ đạo, những điểm mới và mối quan hệ hữu cơ giữa các quyết sách, bước chuyển chiến lược của Trung ương; hiểu đúng để hành động thống nhất.
Điều cần nhận thức sâu sắc là các quyết sách của Trung ương là một hệ thống liên thông, gắn kết cùng hướng tới đổi mới đồng bộ phương thức lãnh đạo, quản trị, phát triển và bảo vệ đất nước.
Công tác xây dựng Đảng, tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ phải giúp nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và chất lượng vận hành; không gian phát triển, nguồn lực quốc gia phải được quản trị thống nhất, sử dụng hiệu quả; mô hình phát triển phải dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo và con người, phải bám sát thực tiễn Việt Nam; quốc phòng, an ninh, đối ngoại, môi trường phải chủ động phòng ngừa, nâng cao sức chống chịu, khả năng thích ứng và bảo vệ vững chắc đất nước. Các nhiệm vụ đó là một thực thể hữu cơ; khâu nào chậm, yếu đều ảnh hưởng đến kết quả chung.
Trong xây dựng Đảng, phải kết hợp giữa “xây” và “chống,” giữa kỷ luật nghiêm minh và khuyến khích đổi mới. Thi hành Điều lệ Đảng phải tuyệt đối chấp hành Điều lệ, đúng thẩm quyền; vấn đề mới cần thí điểm phải rõ phạm vi, thời hạn, trách nhiệm và được tổng kết.
Quy định về những điều đảng viên không được làm giúp nhận diện, ngăn chặn vi phạm, để cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa; đồng thời bảo vệ tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Trong quản trị không gian và nguồn lực phát triển, phải vượt qua sự chia cắt theo địa giới, ngành, lĩnh vực, nhiệm kỳ; đặt mỗi địa phương, mỗi nguồn lực trong tổng thể liên kết vùng và lợi ích quốc gia.
Hoàn thiện pháp luật đất đai phải giữ vững nguyên tắc sở hữu toàn dân, đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, là không gian sinh tồn và phát triển. Quản lý và sử dụng đất phải đảm bảo lợi ích chung của toàn dân, góp phần nâng cao đời sống Nhân dân, tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
Nhà nước không xem xét lại quyền sử dụng đất hợp pháp theo chính sách, pháp luật đất đai qua các thời kỳ. Nhà nước bảo đảm cải thiện chỗ ở, sinh kế của người có đất thu hồi.
Phát triển kinh tế biển phải gắn bảo vệ hệ sinh thái, nâng cao đời sống Nhân dân, giữ vững chủ quyền và phát triển đất nước. Kinh tế Biển chỉ là một thành tố trong mục tiêu xây dựng Quốc gia biển mạnh.
Chúng ta phải tích cực chuẩn bị các điều kiện để đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia giàu từ biển, phát triển bền vững từ biển, có nền quản trị biển hiện đại, có công nghệ biển tiên tiến.
Đổi mới mô hình phát triển không chỉ là điều chỉnh tăng trưởng, mà là đổi mới cách tạo ra, phân bổ và thụ hưởng thành quả phát triển; lấy Nhân dân và con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực.
Khoa học, công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao phải trở thành động lực chủ yếu. Tăng trưởng phải được tạo ra từ từng ngành, địa bàn, doanh nghiệp, hộ kinh doanh, người lao động; để mọi chủ thể có thêm cơ hội đóng góp và thụ hưởng.
Trong bảo vệ đất nước và phát triển bền vững, phải quán triệt quan hệ thống nhất giữa an ninh và phát triển. Phát triển phải tạo thêm tiềm lực, sức chống chịu; bảo đảm an ninh phải giữ vững môi trường ổn định cho phát triển.
Phải chuyển từ trạng thái tập trung ứng phó, khắc phục hậu quả sang chủ động nhận diện, dự báo, phòng ngừa, thích ứng; bảo vệ vững chắc Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời bảo đảm an ninh con người, dữ liệu, năng lượng, nguồn nước, hạ tầng trọng yếu. Không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng trước mắt.
Thứ hai, khẩn trương cụ thể hóa đồng bộ các quyết sách thành chương trình, kế hoạch hành động sát thực tiễn, có trọng tâm, trọng điểm, rõ thứ tự ưu tiên và liên thông giữa các nhiệm vụ.
Nghị quyết phải đi cùng chương trình hành động. Chương trình hành động phải mang hơi thở, nhịp sống, đặc thù của từng Bộ, Ngành, Địa phương, cơ sở để có thể thực thi hiệu quả.
Mỗi chương trình phải rõ mục tiêu, nhiệm vụ, cơ quan chủ trì, phối hợp, thẩm quyền, nguồn lực, tiến độ, sản phẩm, dữ liệu đánh giá và người chịu trách nhiệm. Không hành chính hóa việc thực hiện; không lấy số lượng kế hoạch, hội nghị thay cho kết quả.
Ngay sau Hội nghị hôm nay, các cấp ủy, cơ quan, địa phương phải rà soát chương trình thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các Nghị quyết của Đảng và Văn kiện Hội nghị Trung ương 3.
Nhiệm vụ cùng mục tiêu, đối tượng, địa bàn phải được tích hợp; nội dung chồng chéo phải được xử lý; nguồn lực phải điều phối theo mục tiêu chung. Không để nhiều đầu mối cùng làm nhưng không có cơ quan chịu trách nhiệm đến cùng.
Cần phân loại rõ công việc. Việc đã rõ chủ trương, đủ căn cứ và điều kiện phải thực hiện ngay. Việc cần thể chế hóa phải xác định cơ quan, thời hạn, sản phẩm cụ thể. Việc mới, khó, chưa có tiền lệ phải làm rõ nguyên tắc, thẩm quyền, phạm vi thí điểm, nguồn lực, cơ chế kiểm soát. Không lấy lý do chưa có tiền lệ để trì hoãn; cũng không nóng vội, duy ý chí.
Thể chế hóa phải kịp thời, đồng bộ, chuyển chủ trương của Đảng thành quy định rõ ràng, khả thi. Cấp nào có thẩm quyền phải chủ động giải quyết; vấn đề vượt thẩm quyền phải báo cáo ngay, đồng thời đề xuất phương án xử lý. Không chỉ chuyển văn bản lên cấp trên rồi chờ đợi; không để khoảng trống pháp lý, hướng dẫn thiếu thống nhất làm chậm công việc, phát sinh thêm thủ tục, chi phí cho người dân, doanh nghiệp.
Về hệ thống chính quyền địa phương 2 cấp, Trung ương không đặt vấn đề sắp xếp, điều chỉnh lại địa giới hành chính cấp xã, vì cơ bản cả hệ thống đang hoạt động ổn định, hiệu quả.
Tỉnh, thành phố nào thấy thật sự cần thiết phải điều chỉnh, căn cứ chủ trương của Đảng, Pháp luật của Nhà nước, quy hoạch, thực tiễn quản trị và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân thì đề xuất cấp có thẩm quyền quyết định. Phương án đề xuất điều chỉnh địa giới hành chính phải khoa học, thận trọng, khả thi, tạo đồng thuận, phải phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương và phục vụ Nhân dân tốt hơn. Kiên quyết loại bỏ tư tưởng “thuận cán bộ, khổ Nhân dân.” Ban thường vụ, Ban chấp hành Tỉnh, thành ủy phải chịu trách nhiệm về đề xuất đó.
Tiến độ triển khai Nghị quyết phải được thiết kế trong từng nhiệm vụ. Trong 6 tháng cuối năm 2026, phải bảo đảm bộ máy vận hành thông suốt, xử lý điểm nghẽn cấp bách, phấn đấu hoàn thành cao nhất các mục tiêu kinh tế-xã hội.
Trong nhiệm kỳ khóa XIV, phải cơ bản thể chế hóa các quyết sách, hoàn thiện phân cấp, phân quyền, tạo nền tảng cho mô hình phát triển mới. Hướng tới năm 2030, năm 2045, phải nâng cao năng lực tự chủ, sức cạnh tranh, khả năng thích ứng và sức chống chịu của đất nước.
Thứ ba, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, bảo đảm đầy đủ các điều kiện thi hành để hệ thống chính trị vận hành thông suốt, tương tác hiệu quả.
Sau một năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 2 cấp, bộ máy hoạt động ổn định, thông suốt, hiệu quả nhưng chất lượng chưa đồng đều, nhất là ở cơ sở.
Mục tiêu hiện nay là tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, quản trị, phục vụ Nhân dân. Phải tiếp tục hoàn thiện chức năng, thẩm quyền, năng lực thực thi. Phải chuyển mạnh hơn nữa, nhanh hơn nữa từ quản lý sang phục vụ, kiến tạo; từ xử lý phân tán sang quản trị tổng hợp dữ liệu; từ chờ hướng dẫn sang chủ động giải quyết, chịu trách nhiệm.
Tổ chức thực hiện phải đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, phát huy đúng chức năng, thẩm quyền của từng cơ quan. Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra; Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp thể chế hóa, quyết định, giám sát; Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương bố trí nguồn lực, tổ chức thực hiện; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tuyên truyền, vận động, giám sát, phản biện xã hội. Phải bảo đảm sự liên thông giữa lãnh đạo, thể chế hóa, thực hiện và giám sát; không làm thay chức năng của nhau.
Trung ương tập trung chiến lược, thể chế, nền tảng dùng chung, nguồn lực lớn và kiểm tra. Cấp tỉnh cụ thể hóa chủ trương, tổ chức không gian phát triển, điều phối nguồn lực, bảo đảm điều kiện cho cấp xã hoạt động thông suốt.
Cấp xã là tuyến đầu của quản trị công, trực tiếp giải quyết mọi nhu cầu, công việc của người dân, doanh nghiệp; phải đủ năng lực quản trị sự phát triển. Phải tự trưởng thành qua tổ chức triển khai công việc.
Trung ương phân quyền cho địa phương. Cấp tỉnh phân cấp những nhiệm vụ cấp xã có thể làm. Cấp xã phải nỗ lực đảm đương những nhiệm vụ được giao, không đẩy lên trên việc thuộc trách nhiệm của mình.
Khi cấp xã thiếu điều kiện thực thi, cấp tỉnh phải chủ động tháo gỡ, nếu nội dung công việc vượt qua thẩm quyền thì báo cáo Trung ương xem xét. Mỗi nhiệm vụ phải có một đầu mối chịu trách nhiệm chính, có cơ chế phối hợp rõ ràng, có nguồn dữ liệu dùng chung và kết quả phải đo, đếm được.
Phân cấp, phân quyền phải đồng bộ với nhân lực, tài chính, dữ liệu, công nghệ và kiểm soát quyền lực. Dữ liệu phải đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, được chia sẻ theo thẩm quyền; chấm dứt việc người dân phải cung cấp lại thông tin Nhà nước đã có trong hệ thống. Hệ thống thông tin phải phục vụ điều hành, cảnh báo, giám sát, quy trách nhiệm; không tạo thêm thủ tục, phần mềm, báo cáo hình thức.
Thứ tư, tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đề cao trách nhiệm nêu gương và vai trò quyết định của người đứng đầu.
Cán bộ là nhân tố quyết định chất lượng tổ chức thực hiện. Nghị quyết đúng, nguồn lực đủ nhưng cán bộ thiếu năng lực, thiếu trách nhiệm, không dám làm thì công việc vẫn trì trệ.
Đánh giá cán bộ phải dân chủ, công khai, công tâm, khách quan; gắn với vị trí việc làm, sản phẩm, tiến độ, hiệu quả, uy tín trong Đảng, tín nhiệm trong Nhân dân; lấy kết quả thực hiện nghị quyết làm căn cứ.
Các cấp ủy, địa phương phải bố trí cán bộ đúng năng lực, chuyên môn, nhất là ở cấp xã và vị trí trực tiếp thực thi quyết sách; đào tạo theo vị trí việc làm. Kịp thời thay thế, cho từ chức cán bộ yếu kém, né tránh, đùn đẩy; trọng dụng, bảo vệ cán bộ liêm chính, sáng tạo, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Phải phân biệt rõ cán bộ dám đổi mới với hành vi lợi dụng thí điểm, chính sách đặc thù hoặc cơ chế bảo vệ cán bộ để vụ lợi, hợp thức hóa, bao che sai phạm.
Người đứng đầu phải trực tiếp chỉ đạo việc lớn, việc khó, điểm nghẽn kéo dài; kiểm tra tiến độ, lắng nghe cơ sở, doanh nghiệp, Nhân dân; quyết định theo thẩm quyền, chịu trách nhiệm đến cùng. Không chỉ giao việc rồi chờ báo cáo; không nhận thành tích nhưng đẩy trách nhiệm khi chậm trễ. Người lãnh đạo phải sâu sát thực tiễn, hiểu địa bàn, lĩnh vực phụ trách, kịp thời nhận diện và giải quyết vấn đề.
Mỗi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thường xuyên tự soi, tự sửa, nêu gương bằng kết quả cụ thể. Kỷ luật nghiêm minh không phải để cán bộ sợ trách nhiệm, mà để mỗi người biết rõ giới hạn, đúng vai, đúng thẩm quyền, yên tâm đổi mới, cống hiến.
Thứ năm, thiết lập kỷ luật thực thi nghiêm minh; tăng cường kiểm tra, giám sát, thông tin, tuyên truyền và đánh giá bằng dữ liệu, sản phẩm, kết quả thực tế; lấy lợi ích và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo cuối cùng.
Kiểm tra, giám sát phải tiến hành từ đầu, trong suốt quá trình thực hiện, tập trung vào nơi có nguy cơ chậm tiến độ, khâu dễ phát sinh lợi ích nhóm, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và vấn đề Nhân dân quan tâm. Phải theo dõi, cảnh báo sớm, tháo gỡ kịp thời; không chờ đến khi nhiệm vụ chậm, nguồn lực bị lãng phí hoặc hậu quả phát sinh mới kiểm tra, xử lý.
Phải làm rõ chủ trương đã được thể chế hóa đến đâu, bộ máy vận hành tốt hơn thế nào? điểm nghẽn nào được tháo gỡ? nguồn lực nào được khơi thông? người dân, doanh nghiệp được hưởng lợi gì? Một nhiệm vụ chỉ hoàn thành khi có sản phẩm vận hành, dữ liệu kiểm chứng và hiệu quả thực tế. Kết quả phải là căn cứ đánh giá cán bộ; biểu dương nơi làm tốt, bảo vệ người dám đổi mới; xử lý nghiêm biểu hiện né tránh, đùn đẩy, hình thức, trục lợi.
Phải thường xuyên lắng nghe Nhân dân, doanh nghiệp, trí thức, chuyên gia, cán bộ cơ sở; coi phản hồi thực tiễn là kênh kiểm chứng chính sách. Khi vướng mắc phát sinh trên diện rộng, phải xem xét đồng thời trách nhiệm thực hiện và bất cập của cơ chế; không quy mọi hạn chế cho cơ sở, cũng không lấy chính sách để bao biện cho yếu kém. Qua kiểm tra phải tháo gỡ khó khăn, điều chỉnh cách làm, tổng kết thực tiễn, hoàn thiện thể chế.
Công tác thông tin, tuyên truyền phải được xác định trong từng chương trình hành động; bảo đảm kịp thời, chính xác, dễ hiểu, thuyết phục; làm rõ mục tiêu, lợi ích, lộ trình, trách nhiệm để Nhân dân hiểu đúng, tin tưởng, đồng hành. Phải chủ động đấu tranh với thông tin sai trái, xuyên tạc; đồng thời lắng nghe phản biện có cơ sở. Đồng thuận xã hội trước hết được tạo ra bằng chính sách đúng, thực hiện công bằng, công khai và kết quả người dân cảm nhận được.
Trong mọi chương trình hành động, phải đặt con người ở vị trí trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực. Hiệu quả kinh tế phải thống nhất với hiệu quả xã hội; tăng trưởng đi đôi với tiến bộ, công bằng, văn hóa, môi trường, quốc phòng, an ninh.
Không đánh đổi lợi ích lâu dài lấy thành tích trước mắt; không để người yếu thế gánh chi phí bất hợp lý. Giá trị của nghị quyết phải thể hiện ở chất lượng sống, cơ hội phát triển, sự an toàn, niềm tin và hạnh phúc của Nhân dân.
Thưa các đồng chí,
Hội nghị hôm nay mở ra giai đoạn tổ chức thực hiện với yêu cầu cao hơn về trách nhiệm, kỷ luật và hiệu quả. Những vấn đề Trung ương đã quyết định phải được chuyển ngay thành chương trình, nhiệm vụ, sản phẩm, kết quả cụ thể.
Vì vậy Tôi đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, địa phương và người đứng đầu bắt tay ngay vào công việc; xác định đúng trọng tâm, rõ đầu mối, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, bảo đảm đầy đủ điều kiện thực hiện. Kết quả công việc phải được kiểm chứng bằng chuyển biến thực tế, hiệu quả phục vụ, sự hài lòng của Nhân dân.
Mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi cán bộ, đảng viên phải biến nhận thức thành hành động, quyết tâm thành sản phẩm. Với sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, hành động đồng bộ của cả hệ thống chính trị và sự đồng lòng của Nhân dân, chúng ta nhất định đưa các văn kiện Hội nghị Trung ương 3 vào cuộc sống, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí.
Ban biên tập
& Hò khoan Lệ Thủy I Truyền Hình Nhân Dân
https://youtu.be/rBVs1Rg9o84?si=5GjeLVDsU7gdyk5e
Hoàng Kim CNM365 Tình yêu cuộc sống bảo tốn và phát triển)

TRÀ SỚM VỚI LÃO NÔNG
Ai còn trong đục dòng Lô,
Mình quên bát cạy lánh vô cõi Thiền
Ta về an trú non Tiên
Bồ Đề gốc cũ Tùy Duyên thiện lành
Nhớ về thầy bạn tinh anh
Hồ Gươm Thê Húc Đồng Xuân Tây Hồ
Đường trần Nam Tiến chia xa
Nữa đời nhìn lại tóc đà điểm sương
#Thungdung CHIẾT TỰ làm thơ
#An nhiên đèn sách nhởn nhơ làm lời
Ta đi cuối đất cùng đời
Ngộ ra hạnh phúc thảnh thơi làm Người
Hoàng Kim trò chuyện với bạn cũ
THƠ VIỆT MỚI #cnm365 #ana
EARLY MORNING TEA WITH AN OLD FARMER
Who is still in the muddy waters of the Lo River? I forget my bowl and escape to the realm of Zen. I return to dwell in the Immortal Mountain, The Bodhi Tree, its original root, following the path of good fortune. Remembering my brilliant teachers and friends, Ho Guom, The Huc, Dong Xuan, Tay Ho. The earthly journey south, we parted ways. Looking back on half a lifetime, my hair is already tinged with gray. #Leisurely deconstructing poetry, #Peacefully reading and writing. I walk to the ends of the earth with life, Realizing happiness and tranquility in being a human being. Hoang Kim chatting with an old friend
THƠ VIỆT CỔ :
Tạp ngâm kỳ 1 雜吟其一
Thơ » Việt Nam » Nguyễn » Nguyễn Du 阮攸»
Thanh Hiên thi tập » Dưới chân núi Hồng (1796-1802)
THƠ VIỆT CỔ :
Tạp ngâm kỳ 1 雜吟其一
Thơ » Việt Nam » Nguyễn » Nguyễn Du 阮攸»
Thanh Hiên thi tập » Dưới chân núi Hồng (1796-1802)
☆☆☆☆☆
秋聲一夜渡藍河,
Thu thanh nhất dạ độ Lam hà,
無影無形入我家。
Vô ảnh vô hình nhập ngã gia.
萬里西風來白髮,
Vạn lý tây phong lai bạch phát,
一窗秋色在黃花。
Nhất song thu sắc tại hoàng hoa.
百年哀樂何時了?
Bách niên ai lạc hà thời liễu?
四壁圖書不厭多。
Tứ bích đồ thư bất yếm đa.
庭植孤松高百尺,
Đình thực cô tùng cao bách xích,
不知青帝奈人何。
Bất tri Thanh đế nại nhân hà?
DỊCH NGHĨA :
Tiếng thu trong một đêm đi qua sông Lam,
Không hình không ảnh lẻn vào nhà ta.
Gió tây từ muôn dặm thổi đến mái tóc bạc,
Sắc thu bên cửa sổ đọng lại trên nhành hoa cúc vàng.
Cuộc đời trăm năm biết bao giờ mới hết nỗi buồn vui?
Sách vở vây quanh bốn bức tường, đọc bao nhiêu cũng chẳng thấy đủ.
Trước sân trồng một cây thông cô độc cao trăm thước,
Chẳng biết Chúa Xuân (vị thần mùa xuân) liệu có làm gì nổi ta không.
*Một bài thơ thật sự sâu lắng của Đại thi hào Nguyễn Du. Đây là bài đầu tiên trong chùm thơ Tạp ngâm, thể hiện nỗi lòng trăn trở, cô tịch của ông trước sự xoay vần của thời gian và thế sự.
DỊCH THƠ :
Tạp ngâm kỳ 1 雜吟其一
Thơ Chữ Hán Nguyễn Du Thời Hồng Sơn Liệp Hộ (1796-1802)
1. Bản dịch của Trương Việt Linh.
Tiếng thu một tối vượt Lam Hà
Không ảnh không hình bạn với ta
Muôn dặm gió tây xua trắng tóc
Đầy song sắc cúc đượm vàng hoa
Trăm năm vui khổ bao giờ dứt
Bốn vách đồ thư cũng goi là
Trăm thước tùng cao trồng trước cửa
Chúa xuân nào đã thấy chưa a?
2.Bản dịch của Đồng Thành.
Tiếng thu tối vượt Lam hà,
Không hình, không bóng tới nhà với ta.
Gió tây muôn dặm tóc phai.
Hoa vàng đầy cửa báo ngày thu sang.
Trắm năm sướng khổ sớm tàn?,
Đầy phòng sách vở thấy càng tốt thôi,
Tùng cao trồng trước cửa vào,
Chúa Xuân không biết thế nào với ta.
3. Bản dịch của Hoàng Kim
Tiếng thu một tối lọt Lam Hà
Vô ảnh vô hình đột nhà ta
Gió tây muôn dặm phơ bạc tóc
Cúc vàng đầy ngõ trổ vàng hoa
Trăm năm động loạn bao giờ dứt?
Bốn vách văn thơ chất đầy nhà
Sân trước cô tùng cao trăm thước
‘Thanh đế’* chưa hề biết lão a?
* Bài thơ Tạp ngâm kỳ 1 雜吟其一 trong nhóm bài thơ Dưới chân núi Hồng (1796-1802) Trang thơ Nguyễn Du , Thi Viện (Đào Trung Kiên) và Nguyễn Du niên biểu luận (Hoàng Kim).

TẬP TÔ VẼ GÀ TRỐNG
Sao đỏ đỉnh đầu may mắn đấy
Thân sạch băng thanh sống thảnh thơi.
Bình sinh Nông Lão khinh ngôn ngữ,
Một tiếng #ana tỉnh thức đời.
Phỏng dịch thơ tiếng Việt
Bản dịch của Kim Hoàng
Nguyên tác:
HỌA KÊ
Đường Dần, đời nhà Minh
頭上紅冠不用裁
Đầu thượng hồng quan bất dụng tài,
滿身雪白走將來。
Mãn thân tuyết bạch tẩu tương lai.
平生不敢輕言語,
Bình sinh bất cảm khinh ngôn ngữ,
一叫千門萬户開。Nhất khiếu thiên môn vạn hộ khai.
Nguồn: Hoàng Kim (Kim Hoàng) Học với chữ Hán Nôm.

Linh giang dạ độ
_ Nguyễn Tư Giản_ Nguyễn
新月潮猶小,
微風水自平.
魚燈不知處,
煙際棹歌聲。
Phiên âm:
Tân nguyệt triều do tiểu,
Vi phong thuỷ tự bình.
Ngư đăng bất tri xứ,
Yên tế trạo ca thanh.
Dịch nghĩa:
Trăng vừa mọc, thủy triều còn thấp
Gió nhẹ nhàng thổi mặt sông phẳng lặng.
Đèn của thuyền chài không biết ở nơi nào,
Chỉ nghe trong đám khói mịt mờ có tiếng hát chèo thuyền.
Bản dịch cuả Thơ cổ
Trăng non triều hãy chưa lên,
Vi vu gió thổi, êm đềm mặt sông.
Đèn chài đâu thấy mà trông,
Tiếng ca vang vọng mênh mông sương mờ.
Bản dịch của Hoàng Kim
LINH GIANG ĐÊM QUA SÔNG
Linh giang dạ độ, Nguyễn Tư Giản, Nguyễn
Trăng non triều còn thấp,
Gió nhẹ nước êm đềm.
Đèn chài thấy chưa tỏ,
Tiếng hát nghe mênh mang.
Bài thơ Đêm trăng qua Linh Giang của Nguyễn Tư Giản nhà Nguyễn. Ông là quan ở tòa Kinh Diên trãi bảy đời vua Nguyễn, gồm: Thiệu Trị, Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh.
Hoang Kim@hoangkimvn
Ghi chép và trao đổi
Bác Bùi Hải Đăng nói
THIÊN ĐỊA ĐỒNG NHẤT THỂ
CON NƯỚC VĂN HÓA VIỆT
Trong văn hóa Việt Nam
Ngày con nước tâm linh
Khi thủy triều lên do tác động của mặt trăng.Thiên địa đồng nhất thể .Con người trọng lượng hơn 90% là nước cho nên ngày con nước con người cũng chịu tác động của mặt trăng.
Xét về tâm linh người phương tây không thấu lý như người Việt
Ngày con nước là một khái niệm quan trọng trong văn hóa Việt Nam, liên quan đến hiện tượng thủy triều lên xuống do lực hấp dẫn của Mặt Trăng và Mặt Trời lên Trái Đất. Khoa học hiện đại giải thích rằng, ngày con nước xảy ra khi Mặt Trăng và Mặt Trời thẳng hàng với Trái Đất, tạo ra lực hấp dẫn mạnh mẽ, khiến mực nước biển dâng cao hoặc hạ thấp ¹ ².
Về quan niệm của phương Tây, họ cũng có khái niệm tương tự, gọi là “spring tide” (thủy triều lớn) và “neap tide” (thủy triều nhỏ). Tuy nhiên, không có bằng chứng cho thấy họ có một hệ thống lịch con nước cụ thể như ở Việt Nam.
*Cách tính ngày con nước:*
– Ngày con nước thường rơi vào mùng 1, 15 và 30 âm lịch.
– Có 26 ngày con nước trong một năm, tính theo lịch âm.
– Các tháng âm lịch có ngày con nước khác nhau, ví dụ:
– Tháng Giêng và Tháng Bảy: mùng 5, 19
– Tháng Hai và Tháng Tám: mùng 3, 17, 29 – …
*Ý nghĩa của ngày con nước:*
– Ngày con nước quan trọng trong nông nghiệp, ngư nghiệp và phong thủy.
– Giúp người dân dự báo thời tiết và thiên tai.
– Ảnh hưởng đến các hoạt động hàng ngày như di chuyển, |
sinh hoạt và công việc liên quan đến biển ¹ ².
Tóm lại, ngày con nước là một khái niệm quan trọng trong văn hóa Việt Nam, liên quan đến hiện tượng thủy triều và có ý nghĩa quan trọng trong nhiều lĩnh vực.
Bùi Hải Đăng
Dự kiến lộ trình Đồng Nai tiến lên thành phố toàn cầu,
chất lượng sống cao trên thế giới
Hoàng Anh https://vietnamnet.vn/lo-trinh-dong-nai-tien-len-thanh-pho-toan-cau-chat-luong-song-cao-tren-the-gioi-2501508.html

#cnm365NgayTiengTrung244dl&83al

Thơ dâng tặng cho đời
CHỈ TÌNH YÊU Ở LẠI
Cát bụi chuyện trăm năm
Nhớ Mẹ mùa Vu Lan
Đến với bài thơ hay
Chỉ tình yêu ở lại
Vui đi dưới mặt trời
Nhà tôi chim làm tổ
Bài ca nhịp thời gian
An nhiên vui mỗi ngày
Giấc mơ lành yêu thương
Đường xuân theo chân Bác
Đường xuân đời quên tuổi
Thơ dâng tặng cho đời
Trần Nhân Tông Việt Nam
Chuyện đọc lúc ban mai (*)
Hoàng Ngọc Dộ khát vọng, Hoàng Trung Trực đời lính,
#hoangkimlong #cnm365 Tình yêu cuộc sống #nhasachhoanggia
An Viên Phước Hoàng Gia #cltvn #cayluongthuc #TranNhanTongVietNam
Thung dung chào ngày mới
Hoàng Gia Ngọc Phương Nam
Chốn vườn thiêng cổ tích
A Na Bình Minh An
https://youtu.be/pG-A1XD32-M?si=jIjiFyrVazzw-0Hn
Chiết tự chữ Hán (tiếp theo)
Kỳ Thanh
Định nghĩa:
Chiết tự (折字) là phương pháp phân tách một chữ Hán thành nhiều phần nhỏ (như các bộ thủ hoặc các chữ đơn giản hơn) để giải thích ý nghĩa hoặc để ghi nhớ chữ đó một cách dễ dàng.
Về mặt ngữ nghĩa, “Chiết” (折) có nghĩa là bẻ gãy, tách ra; “Tự” (字) là chữ. Đây không chỉ là một thủ pháp ghi nhớ mà còn được coi là một nghệ thuật “giải mã” những thông điệp văn hóa, tư duy của người xưa ẩn chứa trong từng nét chữ.
Dưới đây là các đặc điểm và ví dụ tiêu biểu về chiết tự:
- Nguyên lý hoạt động
Chiết tự dựa trên cấu trúc biểu ý của chữ Hán. Một chữ Hán phức tạp thường được tạo thành từ việc ghép các bộ phận mang nghĩa lại với nhau. Người ta chia chữ ra, giải nghĩa từng phần rồi tổng hợp lại thành nghĩa chung của toàn bộ chữ đó.
- Ví dụ minh họa
- Chữ An (安 – Yên ổn, an lành): Gồm bộ Miên (宀) là mái nhà và bộ Nữ (女) là người phụ nữ. Chiết tự giải thích rằng: Trong nhà có người phụ nữ quán xuyến thì gia đình mới được yên ổn, an vui.
- Chữ Hảo (好 – Tốt đẹp, hay): Gồm bộ Nữ (女) và bộ Tử (子) là con trai. Quan niệm xưa cho rằng người phụ nữ sinh được con trai là điều tốt đẹp.
- Chữ Tư (思 – Suy nghĩ, tương tư): Gồm bộ Điền (田) là ruộng ở trên và bộ Tâm (心) là trái tim ở dưới. Hình ảnh ví von như “ruộng kia ai cất lên cao”, thể hiện tâm tư luôn canh cánh, lo toan.
- Ý nghĩa và ứng dụng
- Ghi nhớ từ vựng: Thay vì học vẹt từng nét, người học có thể nhớ thông qua các câu chuyện hoặc hình ảnh trực quan từ các bộ phận cấu thành.
- Sáng tạo nghệ thuật: Trong văn chương Việt Nam xưa, các cụ thường dùng chiết tự để làm thơ, đố chữ hoặc chơi chữ rất thú vị.
- Tìm hiểu văn hóa: Giúp hiểu được thế giới quan và nhân sinh quan của người Trung Quốc cũng như các thế hệ cha ông ta khi sử dụng chữ Nho.
Phương pháp chiết tự:
Để tạo ra phương pháp chiết tự đặc thù giúp dễ học và dễ nhớ chữ Hán, cha ông ta đã dựa trên ba nền tảng cốt lõi sau:
- Đặc điểm tượng hình và biểu ý của chữ Hán
Cha ông ta đã thấu hiểu sâu sắc bản chất của chữ Hán là loại chữ tượng hình và biểu ý. Thay vì học thuộc lòng từng nét rời rạc, các cụ đã:
- Phân tách chữ thành các bộ phận: Chia một chữ phức tạp ra các thành phần nhỏ (bộ thủ) mà mỗi phần đều mang ý nghĩa riêng.
- Kết nối ý nghĩa: Tổng hợp ý nghĩa của các phần đó lại để giải thích cho nghĩa toàn phần của chữ, dựa theo sự cảm nhận và quan sát thực tế cuộc sống.
- Sự liên hệ mật thiết với đời sống hằng ngày
Phương pháp chiết tự của người Việt không chỉ là kiến thức hàn lâm mà còn tiềm ẩn nội dung về tư duy và sinh hoạt thường nhật.
- Cha ông ta đã dùng những hình ảnh gần gũi như cái mái nhà (bộ Miên), người phụ nữ (bộ Nữ), hay cành tre, con chim… để minh họa cho cấu trúc chữ.
- Việc gán cho mỗi chữ một câu chuyện nội hàm giúp người học cảm thấy chữ Hán không còn xa lạ mà trở nên sinh động và dễ hình dung hơn.
- Nghệ thuật ngôn từ và thể thơ dân tộc
Đây là điểm sáng tạo độc đáo nhất của người Việt để biến việc học “khổ cực” thành niềm vui.
- Vần điệu hóa: Cha ông ta đã chuyển hóa các quy tắc viết chữ khô khan thành những bài thơ lục bát, câu đố hoặc văn vần.
- Ví dụ điển hình: Chữ Đức (德) được ghi nhớ qua câu thơ dân gian nổi tiếng:
“Chim chích mà đậu cành tre,
Thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm.”
Nhờ sự kết hợp giữa logic cấu trúc chữ và âm hưởng thơ ca dân tộc, phương pháp này đã giúp nhiều thế hệ người Việt tiếp cận chữ Hán theo hướng “học mà chơi, chơi mà học”.
Sự khác nhau về chiết tự của người Việt với người Trung Quốc
Thuyết văn giải tự ( 説文解字 ) và Chiết tự không hoàn toàn là một. Có một sự khác biệt rõ rệt giữa “tính khoa học hệ thống” của người Trung Hoa và “tính dân gian, nghệ thuật” trong cách học của Ông Cha ta:
- Thuyết văn giải tự (Cách của người Trung Hoa)
Đây là tên một bộ từ điển chữ Hán đầu tiên do Hứa Thận soạn thảo thời Đông Hán.
- Tính chất: Là một công trình khoa học, ngôn ngữ học nghiêm ngặt.
- Phương pháp: Dựa trên Lục thư (6 cách cấu tạo chữ Hán: Tượng hình, Chỉ sự, Hội ý, Hình thanh, Chuyển chú, Giả tá).
- Mục đích: Giải thích nguồn gốc hình thành của chữ dựa trên các bộ thủ nguyên bản (Tiểu triện). Nó mang tính chất tra cứu và định nghĩa chuẩn mực.
- Chiết tự (Cách đặc thù của Ông Cha ta)
Dù dựa trên nền tảng chữ Hán, nhưng Chiết tự tại Việt Nam mang tính “biến hóa” và gần gũi hơn.
- Tính chất: Là một phương pháp ghi nhớ (mẹo học) và chơi chữ mang tính văn học, dân gian.
- Phương pháp: Không nhất thiết tuân thủ nghiêm ngặt Lục thư. Ông Cha ta sẵn sàng “tách” chữ theo cách nhìn hình ảnh hoặc âm đọc sao cho dễ thuộc nhất.
- Sáng tạo riêng: Ông Cha ta sử dụng thơ lục bát, câu đố để “mã hóa” các bộ phận của chữ. Ví dụ, chữ Đức (德) trong Thuyết văn giải tự được giải thích là “thăng” (lên), nhưng Ông Cha ta lại dạy bằng thơ: “Chim chích mà đậu cành tre…” – một cách hình tượng hóa “cực kỳ” Việt Nam (phong cách Việt).
Sự khác biệt cốt lõi:
| Đặc điểm | Thuyết văn giải tự | Chiết tự (Việt Nam) |
| Bản chất | Ngôn ngữ học, từ điển học. | Nghệ thuật ghi nhớ, đố chữ. |
| Độ chính xác | Tuyệt đối theo quy tắc cấu tạo chữ. | Linh hoạt, có thể suy diễn theo cảm xúc. |
| Hình thức | Văn bản giải nghĩa khô khan. | Thơ ca, vè, câu đố có vần điệu. |
| Đối tượng | Học giả, nhà nghiên cứu. | Sĩ tử, người bình dân dễ tiếp cận. |
Tóm lại, Thuyết văn giải tự là “giáo trình gốc”, còn Chiết tự là “phương pháp học sáng tạo” mà cha ông ta đã Việt hóa để biến những ký tự xa lạ trở nên sống động và dễ đi vào lòng người.
Ngày nay, phương pháp chiết tự có “lạc hậu”?
Không hề lạc hậu hay bị đào thải, phương pháp chiết tự ngày nay vẫn đóng vai trò là “linh hồn” giúp việc học chữ Hán bớt khô khan. Dù hệ thống 214 bộ thủ và phiên âm (Pinyin) là nền tảng kỹ thuật, chiết tự lại là công cụ tư duy bổ trợ đắc lực vì những lý do sau:
- Cầu nối giữa ghi nhớ và giải trí: Việc học 214 bộ thủ một cách máy móc rất dễ nản. Chiết tự biến các bộ thủ đó thành những câu chuyện. Thay vì nhớ “chữ Hưu (休) gồm bộ Nhân và bộ Mộc”, người ta nhớ: “Người (人) tựa vào gốc cây (木) để nghỉ ngơi“.
- Ứng dụng trong “Mnemonics” (Mẹo ghi nhớ): Các phương pháp học ngoại ngữ hiện đại trên thế giới đều khuyến khích dùng hình ảnh và câu chuyện để ghi nhớ (storytelling). Chiết tự chính là hình thức sơ khai và hiệu quả nhất của phương pháp này đối với chữ tượng hình.
- Duy trì giá trị văn hóa: Chiết tự không chỉ để học chữ, mà còn để hiểu triết lý. Chẳng hạn, nhìn chữ Vũ (武 – võ thuật) gồm chữ Chỉ (dừng lại) và chữ Qua (vũ khí), ta thấy tư duy của người xưa: Đỉnh cao của võ thuật là để “dừng binh đao”, chứ không phải để gây chiến.
- Tính tùy biến cao: Ngày nay, người học không chỉ dùng thơ lục bát như cha ông, mà còn sáng tạo ra các “meme”, hình ảnh đồ họa (infographic) dựa trên chiết tự để chia sẻ trên mạng xã hội, giúp chữ Hán tiếp cận giới trẻ cực kỳ nhanh chóng.
Kết luận: Nếu 214 bộ thủ và Lục thư là “khung xương” thì chiết tự chính là “da thịt”, giúp chữ Hán trở nên sống động. Hai hệ thống này không loại trừ mà bổ trợ cho nhau: Một bên cho bạn sự chính xác, một bên cho bạn sự hứng thú.
Nói một cách chính xác: 214 bộ thủ là “nguyên liệu”, Lục thư là “quy luật”, còn Chiết tự là “cách chế biến”.
Nếu bạn không nắm vững bộ thủ và Lục thư, việc chiết tự vẫn có thể thực hiện được nhưng sẽ gặp 3 hạn chế lớn sau:
- Dễ bị “râu ông nọ chắp cằm bà kia”
Chữ Hán có nhiều nét rất giống nhau. Nếu không thuộc bộ thủ, bạn dễ nhìn nhầm bộ này sang bộ khác.
- Ví dụ: Bộ Thị (礻– thần linh) và bộ Y (衤– quần áo) chỉ khác nhau một dấu chấm. Nếu chiết tự sai bộ, ý nghĩa câu chuyện bạn dựng lên sẽ đi chệch hướng hoàn toàn.
- Chiết tự kiểu “đoán mò” (Dân gian quá đà)
Lục thư (đặc biệt là chữ Hình thanh) chiếm khoảng 80% chữ Hán. Loại chữ này gồm một phần chỉ ý và một phần chỉ âm.
- Nếu không biết Lục thư, bạn sẽ cố giải thích phần “chỉ âm” bằng một ý nghĩa hình ảnh nào đó. Kết quả là câu chuyện chiết tự trở nên khiên cưỡng, rắc rối và khó nhớ hơn cả việc học vẹt.
- Không thấy được sự logic của hệ thống
Học 214 bộ thủ giúp bạn có một “bản đồ” trong đầu. Khi gặp một chữ mới, não bộ tự động tách các mảnh ghép. Nếu thiếu nền tảng này, mỗi chữ Hán với bạn sẽ là một mê cung riêng biệt, bạn phải sáng tạo ra hàng ngàn câu chuyện rời rạc thay vì nhìn thấy một hệ thống logic.
20 bộ thủ thông dụng:
Thực tế, chỉ có khoảng 50-80 bộ thủ là xuất hiện thường xuyên nhất (chiếm 80% tần suất sử dụng).
Lời khuyên: Hãy học các bộ thủ phổ biến trước (như: Tâm, Nhân, Thủy, Hỏa, Mộc, Thạch…). Khi đã có “vốn liếng” này, việc chiết tự của bạn sẽ vừa thú vị (như cha ông ta), vừa chính xác (như Thuyết văn giải tự).
Nắm vững 20 bộ thủ này giống như bạn sở hữu 20 “chìa khóa vạn năng” để mở cánh cửa chiết tự của hàng ngàn chữ Hán thông dụng nhất.
Dưới đây là danh sách được phân nhóm để bạn dễ liên tưởng:
Nhóm về Con người & Bộ phận cơ thể
- Nhân (人 / 亻) – Người: Xuất hiện trong hầu hết các chữ chỉ hoạt động, tính cách con người (Ví dụ: Hưu 休 – người tựa gốc cây).
- Tâm (心 / 忄) – Tim, tâm hồn: Các chữ về tình cảm, tư duy (Ví dụ: Tư 思 – nỗi lòng lo toan).
- Khẩu (口) – Miệng: Các chữ liên quan đến ăn uống, nói năng, gọi hỏi (Ví dụ: Vấn 問 – đứng cửa hỏi thăm).
- Nữ (女) – Phụ nữ: Các chữ về phái đẹp, gia đình, sự yêu kiều (Ví dụ: An 安 – phụ nữ dưới mái nhà là yên ổn).
- Mục (目) – Mắt: Các chữ về nhìn ngắm, thị lực (Ví dụ: Khán 看 – tay che mắt để nhìn).
Nhóm về Thiên nhiên & Ngũ hành
- Thủy (水 / 氵) – Nước: Các chữ về sông ngòi, chất lỏng, tẩy rửa (Ví dụ: Hải 海 – biển).
- Hỏa (火 / 灬) – Lửa: Các chữ về nhiệt độ, nấu nướng, ánh sáng (Ví dụ: Nhiệt 熱 – nóng).
- Mộc (木) – Cây cối: Các chữ về thực vật, gỗ, xây dựng (Ví dụ: Lâm 林 – rừng).
- Kim (金) – Kim loại: Các chữ về tiền bạc, sắt thép, quý giá (Ví dụ: Ngân 銀 – bạc).
- Thổ (土) – Đất: Các chữ về đất đai, xây đắp, địa điểm (Ví dụ: Địa 地 – đất).
- Nhật (日) – Mặt trời, ngày: Các chữ về thời gian, ánh sáng (Ví dụ: Minh 明 – sáng sủa).
- Nguyệt (月) – Mặt trăng, tháng: Cũng dùng để chỉ cơ thể thịt da (Ví dụ: Hữu 有 – có).
Nhóm về Hành động & Công cụ
- Thủ (手 / 扌) – Tay: Các chữ chỉ hành động cầm, nắm, đánh, đỡ (Ví dụ: Đả 打 – đánh).
- Túc (足) – Chân: Các chữ liên quan đến đi lại, chạy nhảy (Ví dụ: Lộ 路 – con đường).
- Ngôn (言 / 讠) – Lời nói: Các chữ về ngôn ngữ, bàn bạc, hứa hẹn (Ví dụ: Ngữ 語 – lời nói).
- Mịch (糸 / 纟) – Sợi tơ: Các chữ về tơ lụa, kết nối, thắt nút (Ví dụ: Kết 結 – kết thúc/kết nối).
- Đao (刀 /刂) – Con dao: Các chữ về cắt xẻ, phân chia, sắc bén (Ví dụ: Phân 分 – chia ra).
Nhóm về Trú ngụ & Di chuyển
- Miên (宀) – Mái nhà: Các chữ về nơi ở, sự che chở (Ví dụ: Gia 家 – nhà).
- Sước (辶) – Bước chân đi: Các chữ liên quan đến khoảng cách, di chuyển (Ví dụ: Tiến 進 – tiến lên).
- Môn (門) – Cánh cửa: Các chữ về lối vào, sự ngăn cách (Ví dụ: Khai 開 – mở cửa).
Mẹo nhỏ cho bạn:
Khi nhìn vào một chữ Hán, hãy thử tìm xem trong đó có “mảnh ghép” nào thuộc 20 bộ này không. Nếu có, bạn đã nắm được gần 50% ý nghĩa của chữ đó rồi đấy!
Ví dụ 1
- Chữ ĐẮC (得 – Đạt được, có được)
- Chiết tự: Gồm bộ Xích (彳) (bước chân trái), bộ Nhật (日) (mặt trời), và bộ Thốn (寸) (đo lường/tấc).
- Giải mã: Muốn Đắc (đạt được thành quả), con người phải biết đi ra ngoài (彳) hành động từ lúc mặt trời mọc (日), và làm việc một cách tỉ mỉ, có chừng mực (寸).
- Mẹo nhớ: “Bước chân đi dưới ánh mặt trời, đo lường kỹ lưỡng thì sẽ có được thành công.”
- Chữ THUẬN (順 – Thuận lợi, nghe theo)
- Chiết tự: Gồm bộ Xuyên (川) (dòng sông) và bộ Hiệt (頁) (cái đầu/trang giấy).
- Giải mã: Hình ảnh dòng sông (川) chảy xuôi dòng. Một người biết dùng cái đầu (頁) để suy nghĩ và hành động thuận theo quy luật tự nhiên (như dòng nước chảy) thì mọi việc sẽ Thuận.
- Mẹo nhớ: “Cái đầu suy nghĩ xuôi như dòng nước chảy thì vạn sự hanh thông.”
- Chữ TIÊN (仙 – Tiên nhân, thoát tục)
- Chiết tự: Gồm bộ Nhân (亻) (người) và bộ Sơn (山) (núi).
- Giải mã: Đây là chữ hội ý cực kỳ dễ nhớ. Người (亻) mà bỏ đời sống xô bồ để lên núi (山) tu hành, hòa mình vào thiên nhiên thì chính là Tiên.
- Mẹo nhớ: “Người ở trên núi là Tiên.”
Những khó khăn gặp phải
Vấn đề: giữa Chữ Giản thể (dùng ở Trung Quốc) đã lược bỏ hoặc thay thế nhiều bộ phận của chữ Phồn thể (truyền thống), khiến việc chiết tự đôi khi bị “mất gốc” hoặc khó giải nghĩa theo cách truyền thống.
Dưới đây là các cách để bạn khắc phục và làm chủ cả hai hệ thống này:
- Hiểu nguyên tắc “Vay mượn” và “Lược bỏ”
Chữ Giản thể thường dùng những chữ có cùng âm đọc nhưng ít nét hơn để thay thế, hoặc giữ lại một phần của chữ gốc.
- Ví dụ chữ Thân (Thân thể):
- Phồn thể là 體 (gồm bộ Cốt 骨 – xương và chữ Lễ 豊). Chiết tự rất hay: Thân thể là sự kết hợp của xương cốt và lễ nghĩa.
- Giản thể là 体 (gồm bộ Nhân 亻 và chữ Bản 本). Chiết tự mới: Thân thể là cái “gốc vốn có” của con người.
- Cách khắc phục: Đừng coi Giản thể là “sai”, hãy coi đó là một câu chuyện mới. Khi học một chữ Giản thể, hãy dành 30 giây tra cứu chữ Phồn thể của nó để nắm được nghĩa gốc (Etymology).
- Sử dụng quy tắc “Bộ thủ tương ứng”
Nhiều bộ thủ trong chữ Giản thể được viết gọn lại nhưng vẫn mang ý nghĩa tương đương. Bạn chỉ cần nhớ cặp tương ứng là có thể chiết tự được ngay:
- Bộ Ngôn: 言 (Phồn), 讠 (Giản).
- Bộ Thủy: 水 (Phồn), 氵 (Giản).
- Bộ Mịch: 糸 (Phồn), 纟 (Giản).
Cách khắc phục: Học thuộc khoảng 30 cặp bộ thủ biến thể này. Khi nhìn thấy bộ Ngôn viết gọn (讠), não bạn tự động “dịch” về ý nghĩa lời nói.
- Ưu tiên chiết tự theo chữ Phồn thể khi muốn hiểu sâu
Nếu mục đích của bạn là tìm hiểu triết lý, văn hóa hoặc học theo cách của cha ông, hãy luôn chiết tự trên chữ Phồn thể.
- Chữ Phồn thể chứa đựng toàn bộ logic hình ảnh. Sau khi đã hiểu nghĩa từ chữ Phồn thể, việc nhớ chữ Giản thể (vốn ít nét hơn) sẽ cực kỳ nhanh.
- Phương châm: “Học Phồn để hiểu nghĩa – Dùng Giản để viết nhanh”.
- Sử dụng công cụ hỗ trợ (từ điển chiết tự)
Ngày nay có các ứng dụng như Hanping, Pleco hoặc trang web zdic.net giúp bạn xem song song cả hai dạng chữ và giải thích cấu tạo của chúng.
Cách khắc phục: Khi gặp một chữ Giản thể mà chiết tự thấy “vô lý”, hãy tra ngay phần “Glyph Origin” (Nguồn gốc chữ) để thấy hình thái ban đầu của nó.
Tóm lại: Chữ Giản thể giúp bạn tiết kiệm thời gian viết, nhưng chữ Phồn thể mới là “kho báu” để chiết tự. Việc nắm vững cả hai sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện và sâu sắc nhất.
30 cặp bộ thủ biến thể giữa Phồn và Giản thể:
Dưới đây là danh sách 30 cặp bộ thủ biến thể quan trọng nhất giữa Phồn thể và Giản thể. Nắm vững bảng này, bạn sẽ “nhìn thấu” được cấu trúc của hầu hết các chữ Hán hiện đại và chiết tự một cách chính xác.
Chia làm 3 nhóm để bạn dễ theo dõi:
- Nhóm bộ thủ đứng bên trái (Biến đổi hình thức)
Đây là những bộ thường xuất hiện nhất, được đơn giản hóa nét viết nhưng ý nghĩa chiết tự giữ nguyên.
| STT | Phồn thể | Giản thể | Tên bộ thủ | Ý nghĩa |
| 1 | 言 | 讠 | Ngôn | Lời nói, ngôn ngữ |
| 2 | 食 | 饣 | Thực | Ăn uống, thực phẩm |
| 3 | 糸 | 纟 | Mịch | Sợi tơ, kết nố |


BÌNH MINH AN NGÀY MỚI
Một gia đình yêu thương
Trường học hướng ban mai
Sống #Annhiên #Thungdung
Bồ Đề Nôi Hạnh Phúc
Đường xuân đời quên tuổi
Tỉnh thức cùng tháng năm
https://www.facebook.com/watch/?v=1566363074694004&rdid=oogvXujrdaBgSS6I


BÌNH MINH AN NGÀY MỚI
#TỉnhThức Trò Chuyện Với Lão Tử
#Annhiên An Viên Phước Hoàng Gia
#banmai Thung dung đời quên tuổi
Vợ chồng con cháu … lộc ông bà
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/an-vien-phuoc-hoang-gia/ &
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ong-ho-sau-dong-nai/


Cô đơn đọc sách thánh hiền Mới hay hậu vận bạc tiền từ tâm. Thường Người như thể thương thân Qua phong trần hiểu phong trần yêu thương Lắng nghe bao chuyên vô thường Tâm Bồ Đề đọng an nhiên phước lành. Trà sớm với Lão Nông

ÂN TÌNH ĐẤT PHƯƠNG NAM
Cho ta về lại ngày xưa
Thấm năm tháng con thơ và việc chính*
Phượng đỏ nhớ nhọc nhằn gạo đỏ
Thăm thẳm trời sông Thương
Thương câu thơ lưu lạc
“Hoành Linh vô gia huynh đệ tán”
Tổ Quốc Gia Đình bước qua thời lửa đạn
Ân tình đất phương Nam
Một gia đình yêu thương

LỜI THẦY DẶN THUNG DUNG
Mục đích sau cùng của DẠY VÀ HỌC là thấu suốt bản chất sự vật,
có lời giải đúng và LÀM được việc. Lời Thầy dặn thung dung.
Việc chính đời người chỉ ít thôi.
Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi.
Phúc hậu suốt đời làm việc thiện.
Di sản muôn năm mãi sáng ngời
Biết đủ thời nhàn sống thảnh thơi
Con, em và cháu vững tay rồi
Đời sống an nhiên lòng thanh thản
Minh triết mỗi ngày dạy học vui.
Thung dung đời thoải mái
ban mai của riêng mình
giọt thời gian điểm ngọc
thanh nhàn khát khao xanh.
Đường xuân đời quên tuổi
Học không bao giờ muộn
Chín điều lành hạnh phúc
Giấc mơ lành yêu thương
Hoàng Kim
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/loi-thay-dan-thung-dung &
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/an-tinh-dat-phuong-nam/
xem tiếp bài viết sau ngày 19 tháng 4:





Hoa Đất Thương Lời Hiền
Việt Nam con đường xanh
Đường xuân theo chân Bác
Thầy nghề nông chiến sĩ
Đường Sống Đạo Làm Người
#vietnamhoc #phậtdượcsư #ĐáVàng #cnm365 #cltvn

Hoàng Kim Nguyễn Thi Thủy
Trà Sớm Với Lão Nông: “Hãy canh gác cánh cửa TÂM TRÍ. Chúng ta trở thành thế nào chủ yếu được quyết định bởi những người chúng ta gặp, những sự kiện chúng ta tham gia, những cuốn sách chúng ta đọc, và lối sống mà chúng ta lựa chọn”.
Đọc lại và suy ngẫm ĐÁ VÀNG VỚI BAN MAI; CNM365 Tình yêu cuộc sống;
Chính Trung Hiếu Thiện Lành; Lời biết ơn chân thành; Vĩnh Thanh Vân Rạch Giá; Hoàng Long Ngọc Quan Âm; Đêm giao thời huyền diệu; DẠY VÀ HỌC MỖI NGÀY

#phậtdượcsư
PHẬT DƯỢC SƯ
Nhớ Mẹ Cha Ông Bà Cậu Mợ
Thương Đức Độ Người Lành
Hiểu Thân Tâm An LẠC
Thấm Địa Tạng Dược Sư
Tâm Bồ Đề Tu Tập
An Trú Nội Tâm Mình
Khi có sự phỉ báng, nói xấu, sỉ nhục .. mà chúng ta nghe được, tuyệt đối không trách móc người. Lập tức phải phản tỉnh lại bản thân là mình có đúng như lời người ta nói hay không? Nếu như thực sự đúng như lời họ nói thì phải cải đổi, họ nhắc nhở ta, họ giáo huấn ta ở chỗ này, ta lập tức sửa sai lầm.
Ta phải cảm ơn họ, nhờ có họ ta mới nhìn lại lỗi ở bản thân. Biết được lỗi lầm của chính mình là giác ngộ, sửa được lỗi lầm của chính mình là tu hành.
Nếu như lời họ nói là vu oan cho ta, bản thân ta không có lỗi gì ta cũng phải cám ơn họ, vì họ đến tiêu Nghiệp chướng thay cho ta. Người mà vô duyên vô cớ bị người ta mắng, bị huy báng, bị sỉ nhục…về sau thường thường có đại Phước báo.
Nhẫn nhục là nền tảng của tâm thanh tịnh, giác ngộ rồi thì không có tham sân si, khi mê thì vẫn còn tham sân si.
Nếu như chúng ta khởi tâm oán hận thì Phước báo đó không còn. Sau này làm gì có Phước báo, điều này được ghi chép rất nhiều trong lịch sử, là thật không phải giả.
Cho dù chính bản thân mình không có thịnh vượng, thì con cháu sẽ thịnh vượng. Cho nên chúng ta phải tu nhẫn, chấp nhận bị vu oan, chấp nhận bị hiểu lầm, tuy không dễ với người phàm nhưng với người tu muốn đạt cảnh giới trên cao thì phải tu nhẫn nhục trước tiên.
Sau này Phước đó rất là lớn. Nhưng quan trọng tâm của chúng ta không được oán hận, dù là một chút mảy may thôi cũng không được khởi lên. Nếu khởi lên sân hận thì ngay lập tức công đức và phước đức đều bị tiêu tan do cái tâm sân hận mà ra. Vì sao nói có cả công đức trong đó, vì trong hoàn cảnh nghịch cảnh đó, bạn tu dưỡng được Nhẫn nhục ba la mật, mà không khởi tâm sân hận thì công đức của bạn liền có.
Nam Mô A Di Đà Phật



Đường đời duyên phận gặp nhau
Lối chung cõi phúc gắng câu thiện lành
Bình sinh may được gặp mình
Đoàn viên vận mệnh kết tình thiên thu
Tam sinh tam thế an hòa
Lắng kinh bát nhã thấm thơ tâm hồn
Hoàng Kim
tích hợp #ĐẹpvàHay #Annhiên #Tỉnhthức Pháp Thiện Yêu Thương Con Bằng Trí Tuệ odnstroeSp7ma311cg https://www.facebook.com/ Yeuthuongconbangtritue/ videos/811042370968437 với Việt Nam con đường xanh https://hoangkimlong.wordpress.com/category/viet-nam-con-duong-xanh/
Chính Trung Hiếu Thiện Lành
Một Gia Đình Yêu Thương
Vui Đi Dưới Mặt Trời
#cnm365 #TìnhYêuCuộcSống
#ĐáVàng Với #BanMai
Hoàng Kim

Thủy khờ yêu gã Kim mơ
đức độ cần kiệm, thẩn thơ lụy tài
mặc ai ham hố chuyện trời
#Nhàtôi yêu thích trọn đời sắn khoai
lúa ngô mê mãi tháng ngày
#Thungdung đèn sách số dày #annhiên




Chính Trung Hiếu Thiện Lành
Một Gia Đình Yêu Thương
Vui Đi Dưới Mặt Trời
#cnm365 #TìnhYêuCuộcSống
#ĐáVàng Với #BanMai
Hoàng Kim

Chính Trung Hiếu Thiện Lành
Một Gia Đình Yêu Thương
Vui Đi Dưới Mặt Trời
#cnm365 #TìnhYêuCuộcSống
#ĐáVàng Với #BanMai
Biết Ơn Lời Thầm Lặng
Bài Học Đầu Đời Con
https://cnm365.wordpress.com & https://youtu.be/2cS7AQdf_To & Tâm Inamori Kawano Sách Quý https://youtu.be/ryRBFmn6b0c?si=m8w5lWnr9RRN_23T

#ana Na, Harry và chị Sóc học ngoại ngữ
https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana



TRÀ SỚM VỚI LÃO NÔNG
Dưỡng Sinh Thở Viết Tốt
Sắc Diện Trí An Tâm
Cụ Hoàng Vui Sống Khỏe
Soi sáng lại chính mình
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tra-som-voi-lao-nong/
THƯỢNG ĐỨC THƯƠNG NHÌN LẠI
Ta trở lại chân quê tình đất đỏ
Nhớ thương thầm gạo đỏ chốn rừng xanh
Lời trung hiếu trăm năm còn muốn kể (*)
Hoàng Thành ơi thăm thẳm đợi quay về
Kim Hoàng @nêu bật
Di Sản Thế Giới Tại Việt Nam
Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/di-san-the-gioi-tai-viet-nam/
Nông nghiệp sinh thái Việt, điểm đến yêu thích của bạn

DI SẢN THẾ GIỚI TẠI VIỆT NAM
Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim
Tiếng Việt văn hóa kinh tế 学中越文 Tổng quan văn hoá và kinh tế xã hội Việt Nam 越南社会经济和文化概述 là tập tài liệu giảng dạy nghiên cứu Việt Nam Học Người Việt, Tiếng Việt, Nông nghiệp Việt Nam, văn hóa, kinh tế xã hội, du lịch sinh thái. Mục đích nhằm hổ trợ hệ thống hóa kiến thức nền Việt Nam Học, giúp bạn trẻ ham học hỏi, và người nước ngoài, cập nhật các hiểu biết khái quát về đất nước con người Việt Nam với phẩm chất văn hóa thân thiện, tốt đẹp “vốn xưng nền văn hiến đã lâu; núi sông bờ cõi đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác” (Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi, năm 1428). Nông nghiệp sinh thái Việt; Di sản thế giới tại Việt Nam; Du lịch sinh thái Việt; Vườn Quốc gia Việt Nam; Nông nghiệp công nghệ cao; Nông nghiệp Việt trăm năm; Ngôn ngữ văn hóa Việt; Dạo chơi non nước Việt; … rút trong tập tài liệu này là một số chủ đề giao lưu nông nghiệp sinh thái, ngôn ngữ, văn hóa,… xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/di-san-the-gioi-tai-viet-nam/.
Di sản thế giớilà danh hiệu cao quý và lâu đời nhất trong các danh hiệu của UNESCO. Di sản thế giới gồm ba loại hình di sản văn hóa thế giới, di sản thiên nhiên thế giới và di sản hỗn hợp văn hóa và thiên nhiên thế giới. Việt Nam hiện có 8 di sản được UNESCO công nhận di sản thế giới gồm 5 di sản văn hóa thế giới là Hoàng Thành Thăng Long, cố đô Huế, Vịnh Hạ Long, Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, Quần thể danh thắng Tràng An, Thánh địa Mỹ Sơn, phố cổ Hội An, Thành Nhà Hồ. Ngoài 8 di sản thế giới ở Việt Nam được UNESCO công nhận còn có 1 di sản thế giới Cao nguyên đá Đồng Văn công viên địa chất toàn cầu thuộc Vườn Quốc Gia ở Việt Nam với 11 di sản văn hóa thế giới phi vật thể và 6 di sản tư liệu.
Tổng cộng có 26 di sản thế giới tại Việt Nam.

I. HOÀNG THÀNH THĂNG LONG
Hoàng thành Thăng Long Hà Nội khu di tích Trung tâm được Ủy ban di sản thế giới (thuộc UNESCO) chính thức công nhận là di sản văn hóa thế giới ngày 31-07-2010 tại Hội nghị lần thứ 34, tổ chức tại thủ đô Brasilia của Braxin. Khu di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long- Hà Nội nằm trong khu vực thuộc quận Ba Đình – Hà Nội với tổng diện tích là 18,395 ha. Trong đó bao gồm khu khảo cổ học được khai quật (ở số 18 đường Hoàng Diệu) và các di tích còn lưu giữ được trong khu di tích Thành cổ Hà Nội như: cột cờ Hà Nội, Đoan Môn, Điện Kính thiên, Hậu Lâu, Bắc Môn cùng phần tường bao và 8 cổng hành cung được xây dựng thời Nguyễn. Khu di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội được hình thành từ thời nhà Lý, từ sau những năm 1011 cùng với kinh thành Thăng Long. Kinh thành Thăng long được xây dựng theo mô hình “Tam Trùng Thành Quách”, bao gồm có 3 vòng thành: La thành hay còn gọi là Kinh thành bao quanh kinh đô men theo 3 con sông: sông Hồng, Tô Lịch và sông Kim Ngưu. Tiếp đến là Hoàng thành (vòng thành thứ 2) và trong cùng là Tử Cấm thành (vòng thành thứ 3). Trải qua hơn 10 thế kỷ với nhiều triều đại phong kiến cũng như bao biến cố thăng trầm trong lịch sử Việt Nam, Hoàng thành Thăng Long đã có nhiều sự thay đổi, song riêng khu vực Tử Cấm thành hầu như không thay đổi, chỉ có các kiến trúc bên trong là có sự tu sửa, xây dựng thêm. Vì vậy các di tích ở đây đã có mối liên hệ liên kết khá chặt chẽ tạo nên một tổng thể liên hoàn rất phức tạp nhưng rất phong phú và có sức hấp dẫn đặc biệt trong việc nghiên cứu về vấn đề quy hoạch đô thị và không gian kiến trúc tiếp nối giữa các triều đại trong lịch sử Việt Nam. Đây cũng chính là giá trị độc đáo nhất của khu di tích.

2. CỐ ĐÔ HUẾ
Quần thể di tích cố đô Huế được tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới ngày 03/7/1993 tại hội nghị tổ chức ở Colombia. Đây là di sản văn hóa đầu tiên của Việt Nam được vinh danh là Di sản văn hóa thế giới. Quần thể di tích cố đô Huế được phân bố dọc theo tả ngạn và hữu ngạn sông Hương, thuộc thành phố Huế và một vài vùng ngoại ô thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi đây là kinh đô của Việt Nam thời Phong kiến – Triều đại nhà Nguyễn từ năm 1802 đến 1945. Trải qua 143 năm dưới sự trị vì của 13 đời vua, kinh đô Huế đã hình thành một hệ thống kiến trúc biểu thị cho quyền uy của chế độ quân chủ trung ương tập quyền Nhà Nguyễn ở Việt Nam thời bấy giờ. Đó là một hệ thống thành quách mẫu mực, những công trình kiến trúc, lịch sử văn hóa vừa mang đậm dấu ấn của nghệ thuật kiến trúc phương Đông vừa có sự giao thoa với nghệ thuật kiến trúc phương Tây. Tất cả được sắp đặt ở những vị thế đặc biệt lồng trong khung cảnh thiên nhiên thơ mộng toát lên một vẻ đẹp cổ kính, uy nghiêm nhưng vẫn rất trữ tình. Một vẻ đẹp độc đáo của kinh đô “rất Việt Nam” với những công trình tiêu biểu như: Hoàng Thành, Tử Cấm Thành, Nghinh Lương Đình, Phu Văn Lâu, Kỳ Đài, Ngọ Môn và các ngôi điện Thái Hòa, Cần Chánh, Kiến Trung,..Ngoài ra còn có 7 cụm lăng tẩm của 9 vị vua, Đàn Nam Giao, Hổ quyền, cùng nhiều kiến trúc đình, điện, chùa phật giáo cổ kính và nhiều địa danh thiên nhiên kỳ thú, thơ mộng như chùa Thiên Mụ, điện Hòn Chén, Lăng Cô, núi Ngự, sông Hương,…đã góp phần tô điểm thêm vẻ đẹp rất đặc trưng của cố đô Huế.

3. VỊNH HẠ LONG
Di sản thiên nhiên Thế giới Vịnh Hạ Long Việt Nam được tổ chức UNESCO 2 lần công nhận là Di sản thiên nhiên Thế giới. Lần 1 vào ngày 17/12/1994, lần 2 vào ngày 02/12/2000 với giá trị ngoại hạng về thẩm mỹ và giá trị địa chất, địa mạo. Vịnh Hạ Long là một phần của Vịnh Bắc bộ, nằm ở vùng Đông Bắc Việt Nam. Vịnh có diện tích 1.553 km2 với 1969 đảo lớn, nhỏ. Trong đó vùng di sản được công nhận bao gồm 775 hòn đảo có diện tích là 434km2. Đây là di sản độc đáo được đánh gía độc nhất vô nhị trên thế giới. Nó không những chứa đựng nhiều dấu tích quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của trái đất, là cái nôi cư trú của người Việt cổ mà còn là một tuyệt tác nghệ thuật của thiên nhiên với hàng trăm, nghìn đảo đá “muôn hình vạn trạng”, cùng nhiều hang động kỳ bí tuyệt đẹp có tuổi kiến tạo địa chất cách đây từ 250-28 triệu năm. Vịnh Hạ Long không những là kỳ quan thiên nhiên của thế giới mà còn là một bảo tàng địa chất quý giá được gìn giữ ngoài trời đến 300 triệu năm. Bên cạnh đó Vịnh còn là nơi tập trung đa dạng sinh học với các hệ sinh thái của vùng biển nhiệt đới rất phong phú, đa dạng trong đó có nhiều loài động thực vật quý hiếm nằm trong Sách đỏ Việt Nam và Thế giới. Vịnh Hạ Long còn là vùng đất được coi là cái nôi của loài người với nền văn hóa Hạ Long qua những di chỉ khảo cổ nổi tiếng như Đồng Mang, Xích Thổ, Thoi Giếng cùng nhiều địa danh gắn với lịch sử đấu tranh oanh liệt, hào hùng của dân tộc như thương cảng Ba Đồn, núi Bài Thơ, sông Bạch Đằng.

4. VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA KẺ BÀNG
Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng nằm trên địa bàn các huyện Bố Trạch, Quảng Ninh, Minh Hóa của tỉnh Quảng Bình, có tổng diện tích 343.300 ha. Nơi đây được ví như một bảo tàng địa chất khổng lồ bởi cấu trúc địa hình, địa mạo rất phức tạp trải qua quá trình kiến tạo địa chất từ 4 triệu năm trước của trái đất với những cảnh quan thiên nhiên kỳ bí cùng hơn 300 hang động lớn nhỏ đẹp nổi tiếng như Phong Nha, Tiên Sơn, Thiên Đường. Đặc biệt là hang Sơn Đoòng được đánh giá là hang động lớn và dài nhất thể giới (hang cao 250m, rộng 200m, dài 8,5km). Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng còn là nơi có hệ động thực vật phong phú, đa dạng và độc đáo với 2400 loài thực vật bậc cao, 140 loài thú, 356 loài chim và hàng trăm loài lưỡng thể cá côn trùng trong đó có nhiều loài quý hiếm được ghi trong Sách đỏ Việt Nam và IUCN của thế giới như: sao la, mang lớn, mang Trường Sơn, Voọc Hà Tĩnh … Có thể nói, Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng vừa là một bảo tàng địa chất và cũng là một bảo tàng sinh học khổng lồ ở Việt Nam. Nó có nhiều giá trị to lớn không những đối với Việt Nam mà còn mang ý nghĩa toàn cầu. Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng cũng từng được UNESCO công nhận 2 lần là Di sản thiên nhiên Thế giới (Lần 1 vào ngày 3/7/2003 tại Hội nghị Pari – Pháp; lần 2 vào tháng 7/2015 tại Hội nghị họp tại Bon- Đức).

5. QUẦN THỂ DANH THẮNG TRÀNG AN
Quần thể danh thắng Tràng An Bái Đính là di sản thế giới hỗn hợp đầu tiên của Việt Nam được UNESCO chính thức công nhận vào ngày 23/6/2014 dựa trên 3 tiêu chí về văn hóa, thẩm mỹ và các giá trị địa chất, địa mạo. thuộc địa bàn các huyện Hoa Lư, Gia Viễn, Nho Quan và Thành phố Ninh Bình, với tổng diện tích khoảng 10.000 ha trong đó vùng lõi của di sản gồm: khu sinh thái Tràng An, cố đô Hoa Lư, Tam Cốc – Bích Động, ở đây có khoảng 100 hang động vừa là động khô, vừa là động nước. Các hang động xuyên thủy thông giữa các thung được thiên nhiên tạo tác muôn hình muôn vẻ, xung quanh được bao bọc bởi những ngọn núi đá vôi dựng đứng với những hình thù ký thú. Mỗi địa danh hang động nơi đây đều mang ý nghĩa gắn với những câu chuyện, sự kiện lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông từ triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần. Xen lẫn giữa các tuyệt tác thiên nhiên còn có cả những công trình kiến trúc cổ kính do bàn tay con người tạo nên, chúng hòa quyện với nhau trong một không gian huyền ảo, thơ mộng tạo nên vẻ đẹp linh thiêng, huyền bí cho Tràng An. Với sự đa dạng về địa chất địa mạo, về hệ thống cảnh quan hang động được kiến tạo trong thời gian kéo dài hàng triệu năm, Tràng An cũng là khu vực có hệ sinh thái phong phú, đa dạng, vừa trên cạn, vừa dưới nước. ở đây có hàng trăm đến hàng nghìn loài động thực vật khách nhau tropng đó có nhiều loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam và Thế giới. Không những chỉ có môi trường thiên nhiên đa dạng, cảnh quan kỳ bí, thơ mộng, Tràng An còn mang trong mình nhiều giá trị lịch sử văn hóa vô giá với những di tích lịch sử thời nguyên thủy đến các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần. Tràng An đã từng là nơi cu trú của người tiền sử, là mảnh đất vua Đinh chọn xây dựng kinh đô đầu tiên của nhà nước Việt Nam phong kiến độc lập: Đại Cồ Việt. Nơi đây cũng từng là thủ đô kháng chiến của vua tôi nhà Trần trong 2 lần chống quân Nguyên xâm lược. Qua đó có thể nói thật hiếm thấy một di sản văn hóa nào hội đủ các giá trị lịch sử, khoa học, thẩm mỹ, sinh thái và môi truờng như Quần thể danh thắng Tràng An của Việt Nam.

6. THÁNH ĐỊA MỸ SƠN
Khu đền tháp Mỹ Sơn được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới ngày 01-12-1999. Khu đền tháp Mỹ Sơn được phân bố tập trung trong một thung lũng được bao bọc xung quanh là đồi núi có đường kính khoảng 2km, từ Đông Trường Sơn đến kinh đô Trà Kiệu (nay thuộc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam). Đây chính là khu thánh địa Ấn Độ giáo của vương quốc Chăm Pa được xây dựng và tồn tại từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIII. Đền tháp ở Mỹ Sơn được xây theo từng cụm. Mỗi cụm thường có một đền thờ chính và bao quanh có nhiều tháp nhỏ hoặc một số công trình phụ. Đền tháp được xây bằng gạch, có ghép những mảng trang trí bằng sa thạch. Với kỹ thuật xây tường rất độc đáo (kỹ thuật mài chập xếp khít). Sau khi xây xong tường mới điêu khắc chạm trổ hình hoa lá, người, thú linh lên tháp. Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu thì Mỹ Sơn là nơi nghệ thuật kiến trúc Chăm Pa hội tụ một cách đầy đủ nhất. Các phong cách được phát triển liên tục mà chủ yếu nhất là từ thế kỷ VII – XIII. Mỹ Sơn tập trung đến 70 đền tháp, 32 bia ký tồn tại ở nhiều dạng khác nhau. Mặc dù trải qua bao thăng trầm của lịch sử và tác động của mưa nắng, thời gian chúng không còn được hoàn toàn nguyên vẹn nhưng đây vẫn là những cứ liệu tốt và rất quan trọng để nghiên cứu tìm hiểu về nghệ thuật Chăm. Đặc biệt là nghệ thuật điêu khắc Chăm, một nền nghệ thuật độc đáo chịu ảnh hưởng sâu sắc của Ấn Độ giáo có vẻ đẹp mang đậm nét văn hóa dân tộc hấp dẫn đến lạ kỳ.

7. PHỐ CỔ HỘI AN
Đô thị cổ Hội An được Ủy ban di sản thế giới (thuộc UNESCO) chính thức công nhận là Di sản văn hóa thế giới ngày 04-12-1999 tại Hội nghị thứ 23 tổ chức ở Maroc. Đô thị cổ Hội An nằm ở vùng hạ lưu ngã ba sông Thu Bồn, cách thành phố Đà Nằng 30km về phía Nam, thuộc địa phận tỉnh Quảng Nam. Đây là một cảng thị truyền thống Đông Nam Á duy nhất ở Việt Nam và hiếm có trên thế giới. Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu thì “các kiến trúc cổ của đô thị cổ Hội An hầu hết được làm mới từ thế kỷ XIX mặc dù năm khởi dựng xưa hơn nhiều”. Ở đây còn lưu giữ và bảo tồn gần như nguyên vẹn được trên 1000 di tích kiến trúc cổ bao gồm: các khu phố, nhà cửa, các hội quán, nhà thờ họ tộc, đình chùa, miếu mạo, giếng cổ,… Các kiến trúc cổ ở đây hầu hết được xây bằng vật liệu truyền thống như gạch, gỗ, phong cách kiến trúc vừa mang yếu tố nghệ thuật Việt Nam vừa có sự tiếp thu tinh hoa kiến trúc của các nước phương Đông( như Nhật Bản, Trung Hoa) và phương Tây. Điều đặc biệt của Hội An là mặc dù đã trải qua bao thế kỷ nhưng những phong tục tập quán, sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng lễ hội, những món ăn truyền thống, nghề thủ công truyền thống vẫn được người dân gìn giữ, bảo tồn và lưu truyền qua nhiều thế hệ cho đến ngày nay. Hội An từng là một thương cảng, nơi có điều kiện giao lưu với nhiều nền văn hóa khác nhau nên người Hội An ngoài những giá trị văn hóa truyền thống đã tiếp thu tinh hoa của các nền văn hóa các dân tộc khác hình thành nên một bản sắc văn hóa phong phú, đa dạng rất riêng và độc đáo. Người Hội An hồn hậu, dễ gần và rất mến khách. Đây cũng là một trong những yếu tố tạo nên sự hấp dẫn đối với du khách khi tới khám phá khu đô thị cổ Hội An.

8. THÀNH NHÀ HỒ
Thành nhà Hồ được Ủy ban di sản thế giới (thuộc UNESCO) chính thức công nhận là di sản văn hóa thế giới ngày 27-06-2011 tại hội nghị lần thứ 35 tổ chức tại Paris (Pháp). Phạm vi phân bố của Thành nhà Hồ gồm các xã Vĩnh Tiến, Vĩnh Long, Vĩnh Quang, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc, Vĩnh Ninh, Vĩnh Khang, vĩnh Thành và thị trấn Vĩnh Lộc thuộc huyện Vĩnh lộc, tỉnh Thanh Hóa. Thành nhà Hồ là kinh đô của Việt Nam giai đoạn từ 1398 đến 1407. Thành được Hồ Quý Ly xây dựng năm 1397. Trong lịch sử Thành còn có nhiều tên gọi khác như: Thành An Tôn, Tây Đô, Tây Kinh, Tây Nhai, Tây Giai. Khu di tích Thành nhà Hồ bao gồm: khu Thành nội, Hào thành, La thành và Đàn tế Nam Giao. Trong đó Thành nội được xây dựng hình vuông, tất cả phần tường thành và 4 cổng chính được xây dựng bằng đá phiến xanh với kỹ thuật xây dựng và điêu khắc rất tinh xảo. Hào thành được đào đắp bao quanh khu Thành nội có 4 cửa đá bắc vào 4 cửa của Thành nội. La thành của Thành nhà Hồ dài khoảng 10km là vòng thành ngoài được xây dựng để che chắn, bảo vệ cho thành nội được dựa theo địa hình sông núi tự nhiên và chủ yếu là đắp bằng đất, tường tre gai bao vệ. Đàn tế Nam Giao được xây dựng năm 1402, đây là một kiến trúc cung đình quan trọng – nơi các vua tế lễ tạ ơn trời đất, cầu quốc thái dân an. Đàn Nam Giao có diện tích khoảng 43.000m2, có 5 nền đất với 5 bậc cấp. Từ nền Đàn cao nhất đến nền thấp nhất có độ chênh lệch nhau tới 7,80m. Thành nhà Hồ được đánh giá là “một công trình kỳ vĩ bởi kỹ thuật và nghệ thuật xây dựng đá lớn và sự kết hợp các truyền thống xây dựng độc đáo có một không hai ở Việt Nam, khu vực Đông Á và Đông Nam Á trong thời kỳ cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV”.
9. CAO NGUYÊN ĐÁ ĐỒNG VĂN
Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn là công viên địa chất đầu tiên của Việt Nam và thứ 2 ở khu vực Đông Nam Á được Hội đồng tư vấn mạng lưới công viên địa chất toàn cầu (GGN) công nhận là công viên địa chất toàn cầu ngày 3/ 10/ 2010, nằm ở độ cao trung bình từ 1000-1600m so với mực nước biển, có diện tích gần 2356km2 thuộc địa bàn 4 huyện: Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quảng Bạ của tỉnh Hà Giang, Cao nguyên đá Đồng Văn mang trong mình nhiều di sản về địa chất, địa tầng, kiến trúc phong phú, đa dạng: điển hình như các vườn đá, rừng đá Khâu Vai, Lũng Pù (Mèo Vạc). Cao nguyên đá Đồng Văn được đánh giá là một trong những vùng có hệ địa sinh thái núi đá đẹp, độc đáo và đa dạng nhất trên thế giới. Đặc biệt nơi đây còn phát hiện được 4 di chỉ khảo cổ thời tiền sử thuộc thời kỳ đồ đá cách đây hàng vạn năm. Đây cũng là nơi sinh sống lâu đời của 17 dân tộc thiểu số vùng cao Bắc Việt Nam có nhiều nét văn hóa độc đáo mang đậm bản sắc văn hóa vùng miền.

10. TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG HÙNG VƯƠNG
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ là di sản văn hóa phi vật thể đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại ngày 6/12/2012. Phạm vi công nhận của di sản này được xác định gồm: 109 làng có đình, đền thờ vua Hùng thuộc địa phận Tp.Việt Trì, thị xã Phú Thọ và các huyện Cẩm Khê, Đoan Hùng, Hạ Hòa, Lâm Thao, Phú Ninh, Tam Nông, Thanh Sơn, Thanh Ba, Thanh Thủy, Yên Lộc của tỉnh Phú Thọ. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được khởi nguồn từ thời đại các vua Hùng sau đó đã được phát triển mạnh và rất được chú trọng ở các triều đại phong kiến Việt Nam trước đây, đặc biệt thời Hậu Lê, Tây Sơn, nhà Nguyễn đã liên tục sắc phong cho các đền thờ tại Phú Thọ, pháp điển hóa nghi thức thờ cúng, cấp ruộng đất để thu hoa lợi phục vụ cho việc thờ cúng, coi sóc. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được gắn với truyền thuyết Lạc Long Quân – Âu Cơ “bọc trăm trứng”, cả dân tộc cùng chung giống nòi, nguồn cội. đồng thời thể hiện đạo lý “uống nuớc nhớ nguồn”, sự gắn kết cộng đồngcũng như tinh thần đoàn kết dân tộc của người Việt Nam. Hàng năm lễ Giỗ tổ Hùng Vương được tổ chức ở các đền thờ vua Hùng trên khắp cả nước trong đó nghi lễ lớn nhất diễn ra tại khu di tích lịch sử đền Hùng tại Phú Thọ. Trong thời gian diễn ra lễ hội còn có nhiều trò chơi dân gian truyền thống như bịt mắt, bát dê, Kéo co, bắt vịt, bắt chạch thi bơi… Ngày nay Đảng và nhà nước ta cũng rất quan tâm đến công tác bảo tồn các di sản văn hóa đặc biệt là tín ngưỡng thờ Quốc tổ Hùng vương và đã đưa vào Quốc lễ. hằng năm cứ vào ngày 10/3 âm lịch nhân dân cả nước đều được nghỉ lễ để tham gia các hoạt động giỗ tổ được tổ chức trọng thể tại các đình, đền thờ vua Hùng ở các địa phương và nô nức hành hương về đất tổ Phú Thọ để tham dự nghi lễ tại khu di tích lịch sử đền Hùng.

11. NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ
Nhã nhạc – âm nhạc cung đình Việt Nam là di sản văn hóa phi vật thể đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận là kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại tại một phiên họp được tổ chức tại Paris nước Pháp ngày 07-11-2003. Nhã nhạc – âm nhạc cung đình Huế bao gồm nhiều thể loại khác nhau: Nhạc lễ nghi sử dụng riêng cho việc cúng tế và triều chính, các ngày quốc lễ và Yến nhạc dùng cho sinh hoạt vui chơi giải trí trong cung của vua chúa và hoàng tộc. Trong đó có cả thể loại ca nhạc đi kèm với múa và kịch hát (múa cung đình, tuồng cung đình). Nhạc cung đình Huế xưa có nhiều thể loại: Giao nhạc, Miếu nhạc, Ngũ Tự nhạc dùng trong các dịp cúng tế trời đất; tổ tông; Đại triều nhạc dùng trong dịp lễ lớn, nghênh tiếp sứ thần; Triều nhạc và Yến nhạc phục vụ nội cung. Múa cung đình Huế tiêu biểu có: Bát Dật, Lục Cung, Tam Tinh, Đấu Chiến Thắng Phật, Tứ Linh, Trình Tường,Tập Khách, Lục Triệt Hoa Mã Đăng… được phân định và sử dụng phù hợp vào các dịp, mục đích khác nhau. Các dàn nhạc và các bản nhạc cung đình triều Nguyễn cũng rất phong phú được biên soạn khá công phu bao gồm nhiều loại có biên chế khác nhau nhằm phục vụ các Nghi lễ và nhu cầu giải trí trong cung như: Nhã Nhạc, Huyền Nhạc, Ti Trúc Tế Nhạc, Tiểu nhạc, Đại nhạc, Nhạc Thiểu, Cổ Xúy Đại Nhạc, … Có thể nói “Nhã nhạc Huế là di sản văn hóa âm nhạc cổ điển bác học Việt Nam” được hình thành trên cơ sờ kế thừa thành tựu của dòng nhạc cung đình, các triều đại quân chủ trước đó ở Việt Nam và có sự sáng tạo phát triển lên một đỉnh cao mới, đây cũng chính là những giá trị vô giá và trường tồn của dân tộc Việt Nam .
12. KHÔNG GIAN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN
Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên được UNESCO chính thức công nhận là di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại vào ngày 25- 11- 2005. Đây là một di sản văn hóa độc đáo của đồng bào các dân tộc Vùng Tây Nguyên Việt Nam. Phạm vị phân bố của “ Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên bao gồm 5 tỉnh: Từ KonTum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng. Chủ nhân của di sản văn hóa độc đáo này là 12 dân tộc tụ cư lâu đời nơi đây: Bana, Ê đê, Xê Đăng, Mơ Nông, Rơ Măm, Mạ, Cơho, Gia Rai… Cồng Chiêng Tây Nguyên là một loại nhạc cụ độc đáo được chế tác chủ yếu bằng đồng có pha thêm một số kim loại khác như vàng, bạc, đồng đen. Các tộc người Tây Nguyên sử dụng cồng chiêng làm nhạc cụ nhưng không tự đúc được Cồng Chiêng mà phải mua của các dân tộc láng giềng. Nhưng sau khi mua về với bàn tay khéo léo, óc sáng tạo, đôi tai thính các nghệ nhân đã biết chỉnh âm lại phù hợp theo hàng âm của tộc người. Chiêng sau khi đã được chỉnh âm sẽ được tổ chức một lễ hiến sinh mời thần Chiêng về trú ngụ trong Chiêng và từ đó “Chiêng mới thật sự là của cải vật chất và tinh thần của con người”,vì vậy Cồng Chiêng mang đậm bản sắc văn hóa tộc người. Đối với người Tây Nguyên, cồng chiêng là cầu nối giao tiếp giữa con người với thần linh. Vì vậy nó được sử dụng nhiều trong các nghi lễ và lệ hội. Thường mỗi tộc người Tây Nguyên đều có một biên chế dàn Chiêng riêng, bản nhạc riêng tùy theo tính chất đặc trưng của từng nghi Lễ mà có nhưng dàn chiêng và bài chiêng phù hợp. Dàn Chiêng và bài Chiêng dùng trong các nghi thức cúng thần khác với dàn Chiêng và bài Chiêng dùng trong nghi thức cầu màu, cầu sức khỏe… Đối với các tộc người Tây Nguyên cồng chiêng là biểu tượng cho sự quyền lực và sự giàu có. Người sở hữu nhiều cồng chiêng không chỉ là người giàu có của cải mà hơn thế còn là người có sức mạnh linh thiêng lớn hơn người khác. Bởi có thần chiêng làm bạn.Chiêng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao. Tự lâu đời, cồng Chiêng có sự gắn bó mật thiết và không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Tây Nguyên. Cồng Chiêng và không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là tài sản vô giá về văn hóa lẫn âm nhạc, là di sản văn hóa độc đáo của nhân loại.

13. CA TRÙ
Ca trù là di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam được tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại cần được bảo vệ khẩn cấp vào ngày 01-10-2009. Đây là một di sản văn hóa phi vật thể có phạm vi ảnh hưởng lớn nhất, nó có mặt ở 15 tỉnh thành trong cả nước nhưng nhiều nhất ở phía Bắc Việt Nam. Tiêu biểu như ở Hà Nội, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hưng Yên, Nam Định, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Tp. Hồ Chí Minh. Được khởi nguồn từ trong dân ca dân vũ dân nhạc Việt Nam, Ca trù là “một bộ môn nghệ thuật tổng hợp với nét độc đáo là sự phối hợp đa dạng tinh tế, nhuần nhuyễn giữa thi ca và âm nhạc, đôi khi có cả múa”. Nó được ra đời từ thế kỉ XI và được phát triển rộng rãi từ thế kỉ XV nhưng mãi đến cuối thể kỷ XX mới được thế giới biết đến và được các nhà Nhạc gia, nhạc sĩ nước ngoài tìm hiểu, nghiên cứu giới thiệu tại nhiều trường đại học nổi tiếng trên thế giới. Ca trù còn được gọi là hát Ả đào, hát Cô Đầu, hát Cửa Đình, hát Nhà Trò, … hát Ca trù thường có 5 không gian trình diễn chính, mỗi không gian đều có lối hát và cách thức trình diễn riêng. Để biểu diễn ca trù ít nhất phải có 3 người: một “Đào nương” hay còn gọi là “Ca Nương” vừa hát vừa gõ phách, một “Kép” (Nam nhạc Công) đệm đàn đáy cho người hát và một “Quan Viên” là người điểm trống chầu. Trong đó ca nương là người được đánh giá cao nhất nhưng cũng là người phải khổ luyện và trải qua nhiều thử thách mới được công nhận. Ca trù xưa được tổ chức khá chặc chẽ và có những quy định cụ thể về sự truyền nghề, học đàn, hát, chọn đào nương đi thi hát… Ca trù là một bộ môn nghệ thuật độc đáo uyên bác. Ca Trù phong phú về lối hát, tinh tế, công phu trong kĩ thuật hát. Ca trù là một trong những kết tinh, nghệ thuật văn hóa tinh tế của tâm hồn người Việt Nam qua bao thế kỷ. Nó mãi là niềm tự hào và xứng đáng là Di sản Văn hóa Phi vật thể và Truyền Khẩu của Việt Nam và nhân loại.

14. QUAN HỌ BẮC NINH
Quan họ Bắc Ninh được tổ chức UNESCO công nhận là: Di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại vào ngày 30-9-2009. Phạm vi được công nhận chính thức gồm có 49 làng quan họ ở hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang, nhưng tập trung nhiều nhất là ở Bắc Ninh (có 44 làng quan họ). Quan họ Bắc Ninh là những làn điệu dân ca mượt mà, trữ tình của người dân vùng đồng bằng Bắc bộ, với lối hát giao duyên dân dã mộc mạc nhưng mang đậm nghĩa tình của trai gái thông qua những “Liền Anh” “Liền Chị” hát quan họ. Quan Họ Bắc Ninh cũng là môn nghệ thuật được hợp thành từ những yếu tố như: âm nhạc, lời ca, trang phục và lễ hội. Đây cũng là một trong những thể loại dân ca phong phú nhất về mặt giai điệu trong dân ca Việt Nam. Hát quan họ là hình thức hát đối đáp nam nữ giữa làng này với làng kia mà người ta còn gọi là “Bọn nam” “ Bọn nữ”. Một làng quan họ thường có nhiều “Bọn nam” và “Bọn nữ”. Khi hát có sự phân công hát dẫn, hát cặp để tạo được sự tương hợp về giọng ca. Việc truyền dạy dân ca quan họ cũng rất khác biệt so với các loại dân ca khác đó là tục “ngủ bọn”. Thường thiếu niên nam nữ trong làng từ 9-17 tuổi thường rủ nhau buổi tối tập trung tại nhà ông trùm để học cách nói năng, ứng đối và luyện giọng ghép đôi giữa “Liền anh” và “Liền chị” cho hợp giọng để đi hát. Trang phục và ẩm thực trong Quan họ Bắc Ninh cũng đặc biệt ấn tượng: vừa đẹp và trang trọng, thể hiện tình cảm thắm thiết của chủ nhà đối với khách cũng như tập quán của mỗi làng quê. Đó là trầu têm cánh phượng cánh quế, chè Thái, mâm son, thịt gà, giò lụa. Trang phục liền chị nổi bật với nón ba tầm, quai thao, khăn mỏ quạ, yếm váy… Liền anh áo the khăn xếp, ô lục soạn, áo the dài nâu thâm đi với quần, dép. Quan họ Bắc Ninh là nét văn hóa tiêu biểu của người dân vùng Kinh Bắc và là một trong những thể loại dân ca có làn điệu phong phú nhất trong kho tàng dân ca Việt Nam.

15. HỘI GIÓNG
Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại được UNESCO công nhận chính thức vào ngày 16-11-2010 tại Hội nghị lần thứ V của Uỷ Ban Liên Chính Phủ theo Công ước năm 2003 tổ chức tại thành phố Nairobi – thủ đô của Kenya. Hội Gióng hằng năm được tổ chức ở đền Sóc (xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội) từ ngày 6-8 tháng Giêng âm lịch và ở đền Phù Đổng (xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội) từ ngày 6-12 tháng tư âm lịch. Đây là hai địa danh theo truyền thuyết là nơi sinh ra người anh hùng Thánh Gióng và là nơi dừng chân cuối cùng sau khi dẹp tan giặc Ân ông bay về trời. Đây là lễ hội truyền thống để ca ngợi chiến công và tưởng nhớ công ơn của người anh hùng Thánh Gióng. Trong lễ hội có sự tái hiện lại một cách sinh động cảnh các trận đấu giao tranh quyết liệt giữa Thánh Gióng và nhân dân Văn Lang với giặc Ân theo hình thức chiến tranh giữa các bộ lạc cổ xưa. Lễ hội nhằm giáo dục lòng yêu nước và truyền thống đoàn kết cộng đồng và tinh thần thượng võ, ý chí đấu tranh kiên cường đồng thời cũng thể hiện khát vọng độc lập tự do của dân tộc.

16. HÁT XOAN Ở PHÚ THỌ
Hát Xoan ở Phú Thọ Việt Nam được UNESCO chính thức công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại vào ngày 24-11-/2011. Hát Xoan còn được gọi là khúc môn đình (hát cửa đình) được xuất hiện từ thời đại Hùng Vương cách ngày nay khoảng hơn 2000 năm. Đây là lối hát thờ thần xưa thường được tổ chức hát vào mùa Xuân. Hát Xoan có 3 hình thức: hát thờ cúng các vua Hùng, thành Hoàng làng, hát cầu mùa, cầu sức khỏe, hát lễ hội (giao duyên nam nữ). Phạm vi phân bố của Hát Xoan tập trung chủ yếu từ những làng cổ thuộc địa bàn trung tâm Văn Lang xưa thời vua Hùng ở Phú Thọ, tiêu điểm như An Thái, Phù Đức, Kim Đới ở hai xã Kim Đức và Phương Lâu (Phú Thọ) và sau được lan tỏa ra một số làng quê dọc theo hai bên bờ sông Lô, sông Hồng và tỉnh Vĩnh Phúc. Trong Hát Xoan khi biểu diễn thể hiện nhiều dạng thức như: hát nói, hát ngâm, ngâm thơ và ca khúc, đồng ca nữ, đồng ca nam, tốp ca, đối ca, hát đối đáp, hát xen, hát đuổi, hát có lĩnh xướng…Về sắc thái âm nhạc cũng rất phong phú đa dạng. Múa và hát luôn đi cùng và kết hợp với nhau. Nội dung lời ca có phần khấn nguyện, chúc tụng và mô tả sản xuất, sinh hoạt, ca ngợi cảnh vật thiên nhiên, kể nói về truyện xưa. Hát Xoan là một di sản văn hóa phi vật thể chưa đựng nhiều giá trị lịch sử văn hóa nghệ thuật độc đáo của dân tộc Việt Nam. Nó có một sức sống mãnh liệt được lưu truyền gìn giữ qua bao thế hệ và sẽ mãi trường tồn, đồng hành cùng cộng đồng dân tộc Việt Nam trong thời hiện đại.

17. ĐỜN CA TÀI TỬ NAM BỘ
Nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ còn được gọi là: “Đờn ca tài tử” đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại ngày 5-12-2013. Đây là một loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của người dân vùng Nam bộ Việt Nam, được hình thành và phát triển vào cuối Thế kỷ XIX. Đờn ca tài tử Nam bộ được người dân Nam bộ sáng tác để hát chơi sau những buổi lao động mệt nhọc. Các bản nhạc thường được sáng tạo dựa trên cơ sở của nhạc lễ, nhạc cung đình, nhạc dân gian miền Trung. Các bản nhạc của Đờn ca tài tử được cải biên liên tục từ bản nhạc cổ trong đó đặc biệt là từ 20 bài gốc. Nhạc cụ sử dụng trong Đờn ca tài tử thường là các loại đàn kìm, đàn tranh, đàn cò, đàn tỳ Bà, đàn độc huyền, sáo, tiêu…Về sau có sử dụng thêm một số đàn hiện đại như Guitar phím lõm, Violon… Đờn ca tài tử được thực hành theo nhóm, câu lạc bộ và gia đình. Nhạc công thường là song tấu, tam tấu, hòa tấu. Khi biểu diễn dàn nhạc thường cùng ngồi trên chiếu hoặc trên bộ ván với phong cách rất ung dung, thảnh thơi. Người nghe cũng có thể tham gia thực hành và bình luận. Đờn ca tài tử là một sinh hoạt văn hóa tinh thần không thể thiếu trong các dịp lễ hội, tết, cưới, sinh nhật, họp mặt giao lưu bạn bè… Đờn ca tài tử phản ánh tâm tư tình cảm mang tính cộng đồng cao và rất phù hợp với lối sống phóng khoáng, cởi mở, chân thật nhưng rất kiên cường của người dân vùng Nam bộ. Đây cũng là nét đẹp văn hóa truyền thống đang được bảo tồn và phát huy.
18. DÂN CA VÍ DẶM NGHỆ TĨNH
Dân ca Ví dặm Nghệ Tĩnh được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại ngày 27-11-2014. Đây là một loại hình nghệ thuật trình diễn dân ca khá phổ biến và chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân thuộc hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Nó mang đậm bản sắc, tâm hồn cũng như cốt cách của người dân Nghệ Tĩnh. Dân ca Ví dặm được người dân nơi đây hát trong mọi hoạt động của đời sống như khi ru con, dệt vải, gặt lúa, chèo thuyền… Nội dung lời ca của dân ca Ví dặm ca ngợi những giá trị nhân văn sâu sắc như tinh thần yêu nước, tôn sư trọng đạo, hiếu kính với cha mẹ, lòng chung thủy, cách ứng xử, sống có nghĩa có tình…kêu gọi gắn kết cộng đồng chống áp bức bất công trong xã hội. Hát ví thường là hát tự do, ngẫu hứng theo lối hát ví von để đối đáp hai bên nam nữ. Có nhiều loại ví khác nhau như: ví phường cấy, phường gặt, phường nón, phường vải, ví đò đưa… Hát dặm là thể hát nói bằng thơ ngụ ngôn thường có tiết tấu rõ ràng. Dặm mang tính tự sự, tự tình, khuyên răng, giải bày. Nhiều khi lại dí dỏm khôi hài, châm biếm trào lộng. Hát dặm Nghệ Tĩnh cũng có rất nhiều loại khác nhau: dặm nói, dặm kể, dặm vè, dặm ru, dặm nam nữ, dặm cửa quyền, dặm xẩm… Dân ca ví dặm có lối hát rất gần gũi, mộc mạc đặc biệt sử dụng nhiều từ ngữ và ngữ điệu phương ngữ Nghệ Tĩnh có khả nặng biểu đạt tư tưởng tình cảm của người dân xứ Nghệ Tĩnh đồng thời góp phần giáo dục những giá trị đạo đức truyền thống, lòng yêu nước, gắn kết cộng đồng. Nó có một sức sống mãnh liệt và là nguồn cảm hứng âm hưởng dân ca cho các nghệ sĩ kế thừa và phát huy trong các tác phẩm đương đại, góp phần làm giàu thêm di sản văn hóa tinh thần và sự phát triển bền vững của xã hội thời hiện đại.
19. KÉO CO
Nghi lễ và trò chơi kéo co là di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận vào ngày 02-12-2015 cùng với nghi lễ và trò chơi kéo co ở Campuchia và Hàn Quốc, là một tập quán phổ biến trong văn hóa của những cư dân trồng lúa nước ở vùng Đông Á và Đông Nam Á. Nó phản ánh nhân sinh quan, thế giới quan của con người đặc biệt là niềm tin vào lực lượng siêu nhiên. Ở Việt Nam, Nghi lễ và trò chơi kéo co tập trung chủ yếu ở vùng Trung du, đồng bằng Sông Hồng và Bắc Trung bộ. Tiêu biểu như ở các tỉnh Vĩnh Phúc, thành phố Hà Nội và cả…. ở vùng núi phía bắc trong cộng đồng người Tày, người Thái và người Giáy ở Lào Cai. Đây là những cư dân lúa nước sớm nhất trong lịch sử và là cái nôi của nền văn minh lúa nước. Kéo co không chỉ là một trò chơi dân gian mà còn là một sinh hoạt văn hóa gắn với quan niệm tâm linh của các dân tộc. Kéo co được tổ chức như một lễ nghi trong các lễ hội là để cầu mùa( mưa thuận, gió hòa, mùa màng tươi tốt), cầu sức khỏe, cầu an… Kéo co được biểu hiện ở hai hình thức: có dây hoặc không dây. Việc chuẩn bị người thi đấu và dây kéo cũng được chuẩn bị kỹ lưỡng vì theo quan niệm tâm linh của cư dân nông nghiệp điều này rất quan trọng liên quan đến sự bình an, may mắn trong làm ăn cho cả làng và cộng đồng.
20. TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TAM PHỦ
Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ của người Việt được tổ chức UNESCO chính thức công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại ngày 01-12-2016. Đây là một tín ngưỡng dân gian thờ các thần linh thiên nhiên có từ lâu đời của người Việt được xuất hiện từ thời tiền sử với khái niệm Thánh Mẫu, sau dần phát triển thành tín ngưỡng Tam Phủ (Thiên phủ, Địa phủ, Thoại phủ). Đến thế kỷ XVI cùng với sự xuất hiện của Thánh mẫu Liễu Hạnh một tín ngưỡng bản địa mới được hình thành đó là đạo Mẫu. Tín ngưỡng thờ Mẫu còn gắn liền với nghệ thuật hát chầu văn (hát hầu đồng) – một loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo của người Việt. Nghi lễ hầu đồng là nghi thức tín ngưỡng tiêu biểu của đạo Mẫu. Đây là nghi thức giao tiếp với thần linh, các vị thánh thông qua các ông đồng, bà đồng. Thường các vị thánh sẽ hóa thân vào nhân vật dùng nhạc thơ, lời kể lại chuyện. Đồng thời thể hiện quyền lực như trừ ma, phán bệnh, ban phúc lộc… Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ là một phong tục tập quán thờ cúng nữ thần và những nhân vật anh hùng có trong lịch sử, những người có công với đất nước là một nét văn hóa đặc sắc trong văn hóa tâm linh của người Việt và một số dân tộc khác như Mường, Dao, Nùng…Đây là loại hình nghệ thuật dân tộc độc đáo có lối trình diễn kết hợp nhiều yếu tố như: âm nhạc, trang phục, múa và diễn xướng.
21. MỘC BẢN TRIỀU NGUYỄN
Mộc bản triều Nguyễn là di sản tư liệu của Việt Nam được Uỷ ban tư vấn quốc tế (IAC) thuộc UNESCO công nhận là di sản tư liệu thế giới vào ngày 31/7/2009. Đây là một loại hình tài liệu đặc biệt quý hiếm không chỉ ở Việt Nam mà còn hiếm có trên toàn thế giới. Mộc bản triều Nguyễn là những văn bản chữ Hán – Nôm được khắc trên gỗ để in các loại sách lưu hành tại Việt Nam vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Mộc bản triều Nguyễn hiện còn lưu giữ được 34.619 tấm trong đó bao gồm cả những ván khắc in thu được ở Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội đua vào Huế lưu trữ. Tài liệu được khắc trên mộc bản rất tinh xảo và sắc nét với nội dung ghi lại các sự kiện lịch sử, các cuộc tiểu trừ giặc giã, công danh sự nghiệp của các bậc quân vương. Đồng thời nhân bản các bộ luật, các quy định về chuẩn mực xã hội để phổ biến bắt buộc mọi thần dân phải tuân thủ. Tất cả các bản thảo nói trên đều phải qua sự ngự lãm và phê duyệt bằng bút tích của Hoàng đế trước khi chuyển giao cho những nghệ nhân tài hoa trong ngự xưởng của cung đình khắc lên các loại gỗ quý như gỗ thị, nha đồng… Tài liệu Mộc bản triều Nguyễn là những bản khắc in các tác phẩm chính văn, chính sử được hình thành trong quá trình hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước và cuộc đời, hoạt động của những nhân vật lịch sử có ảnh hưởng lớn tới những biến cố xã hội cũng như tiến trình lịch sử của một dân tộc, của một đất nước. Hiện nay những tài liệu này rất hiếm có trên thế giới. Nó đặc biệt có giá trị trong việc nghiên cứu lịch sử văn hóa Việt Nam nói riêng và thể giới nói chung.
22. BIA TIẾN SĨ Ở VĂN MIẾU
Bia đá các khoa tiến sĩ triều Lê – Mạc (1442 – 1779) Bia đá các khoa tiến sĩ triều Lê – Mạc (gồm 82 tám bia tiến sĩ) được Uỷ ban ký ức thế giới khu vực châu Á Thái Bình Dương công nhận là di sản tư liệu thế giới thuộc Chương trình Ký ức thế giới của UNÉSCO vào ngày 09/3/2010. Bia tiến sĩ tại Văn miếu Quốc Tử Giám Hà Nội là di sản tư liệu độc đáo duy nhất trên thế giới “không chỉ lưu danh các tiến sĩ đỗ đạt trong các kỳ thi suốt gần 300 năm (1442 – 1779) mà còn ghi lại lịch sử các khoa thi và triết lý của triều đại về nền giáo dục và đào tạo, sử dụng nhân tài”. Trên các bia còn ghi rõ người viết văn bia, người dựng bia, ngày tháng dựng bia. Những điều này đã có tác động tích cực đối với xã hội đương thời và hậu thế cũng như khẳng định về tính xác thực, nguyên gốc và duy nhất của tư liệu. Nội dung văn bia đều do các nhà trí thức, danh nhân văn hóa biên soạn. Chữ viết và hoa văn trang trí trên các tấm bia sắc sảo, cầu kỳ mang tính nghệ thuật cao. Có thể nói mỗi tấm bia vừa là một tác phẩm thư pháp vừa là một tác phẩm thuật điêu khắc tinh tế và độc đáo với phong cách trang trí mang đậm dấu ấn của nghệ thuật đương thời. Với những giá trị lịch sử, văn hóa. nghệ thuật cũng như tính duy nhất, hiếm có của 82 tấm bia tiến sĩ, bia đá các khoa tiến sĩ triều Lê – Mạc tại Văn miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội) là di sản tư liệu vô giá, là niềm tự hào của nhân dân Việt Nam và nhân loại trên toàn thế giới.
23. MỘC BẢN KINH PHẬT
Mộc bản Kinh Phật Thiền phái Trúc Lâm chùa Vĩnh Nghiêm được Ủy ban UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới thuộc Chương trình Ký ức thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ngày 16-05-2012. Đây là bộ Mộc bản gốc, duy nhất của Phật phái Trúc Lâm còn lưu giữ được đến ngày nay tại chùa Vĩnh Nghiêm thuộc xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Ở đây còn lưu giữ được 3.050 bản khắc với hơn 10 đầu sách kinh phật. Trong đó chủ yếu là kinh sách, luật giới nhà Phật, trước tác của Tam Thế Tổ: Điếu Ngư Giác Hoàng Trần Nhân Tông, Thiền Sư Pháp Loa Đồng Kiên Cương, Thiền Sư Huyền Quang Lý Đạo Tái và một số bản in sớ điệp của Phật phái Trúc Lâm, mộc thư ghi chép lại cách chữa bệnh bằng châm cứu, bằng các loại thảo dược (thuốc nam). Các mộc bản này được san khắc vào giai đoạn vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi chùa Vĩnh Nghiêm là một trong những trung tâm đào tạo và ấn hành xuất bản lớn nhất của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. Đồng thời cũng là nơi lưu giữ hồ sơ các tăng ni trên toàn quốc. Mộc bản Kinh Phật Thiền phái Trúc Lâm chùa Vĩnh Nghiêm đều được làm bằng gỗ thị, chữ được khắc ngược trên cả hai mặt. Kỹ thuật khắc và trang trí thực hiện đúng theo quy chuẩn in của Việt Nam. Chữ khắc chủ yếu là chữ Hán cổ, chữ Nôm và một số ít có khắc xen cài thêm chữ Phạn. Mộc bản Kinh Phật Thiền phái Trúc Lâm chùa Vĩnh Nghiêm là một di sản văn hóa phi vật thể vô giá của Việt Nam và của nhân loại bởi nó không những hàm chứa những giá trị tư tưởng, giáo lý của Phật phái Trúc Lâm mà còn có tính độc bản, nguyên gốc mang tính nghệ thuật cao. Đồng thời đây cũng là nguồn cung cấp thông tin phong phú và đáng tin cậy khi người xem có nhu cầu tìm hiểu nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực như: tôn giáo, ngôn ngữ, văn hóa, y học, mỹ thuật.
24. CHÂU BẢN NHÀ NGUYỄN
Châu bản triều Nguyễn được công nhận là Di sản tư liệu thế giới thuộc Chương trình Ký ức thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ngày 14-05-2014 tại Hội nghị lần thứ 6 của Uỷ Ban Chương trình Ký ức thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (MOW CAP). Đây là những văn bản triều chính mà trong quá trình điều hành được các vua triều Nguyễn tự phê bằng mực son đỏ (từ 1802-1945). Toàn bộ khối Châu bản triều Nguyễn có 773 tập với khoảng 85.000 văn bản của 11 triều vua thời Nguyễn từ Gia Long đến Bảo Đại (không có của một vài vị vua không tại vị lâu). Các châu bản hầu hết được viết tay trên giấy dó và có nội dung khá phong phú về loại hình: chiếu, dụ, chỉ, sớ, tấu, khải, phúc, phiếu trình, phiếu nghỉ…Trong đó quy định rất rõ và chặt chẽ về chức năng và thẩm quyền. Nội dung phản ánh các vấn đề trong đời sống xã hội, các biến động về lịch sử, chính sách đối nội, đối ngoại của Việt Nam giai đoạn từ thế kỷ XIX đến nữa đầu thế kỷ XX. Các sự kiện ghi chép trong Châu bản có tính xác thực cao bởi đó là những thông tin được tiếp nhận và xử lý của các vua triều Nguyễn trong công tác quản lý xã hội. Đây cũng là nguồn sử liệu quan trọng để biên soạn các bộ sách sử và các sách điển lệ chính thống như: Đại Nam thực lục chính biên, Đại Nam nhất thống chí, Quốc Triều chính biên…Châu bản triều Nguyễn còn là tư liệu lịch sử có giá trị đặc biệt quan trọng trong việc minh chứng chủ quyền của Việt Nam về hai quần đào Trường Sa và Hoàng Sa. Ngoài ra các bút tích phê duyệt của các vua triều Nguyễn và hệ thống chữ viết trên Châu bản (sử dụng bốn loại chữ viết: chữ Hán, chữ Nôm, chữ Pháp, chữ Quốc ngữ) đã phản ánh sự biến động của hệ tư tưởng xã hội và sự tác động du nhập của văn hóa phương Tây cũng như hoạt động giao thương của Việt Nam đối với các nước trong khu vực và trên thế giới. Hiện nay toàn bộ số Châu bản này đang được gìn giữ bảo quản tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I (tại tòa nhà số 16 đường Vũ Phạm Hàm, phường Yên Hòa, Cầu Giấy – Hà Nội).

25. THƠ VĂN TRÊN KIẾN TRÚC CUNG ĐÌNH HUẾ
Thơ văn trên kiến trúc Cung đình Huế được Ủy ban chương trình ký ức thế giới khu vực Châu Á Thái Bình Dương (MOW CAP- thuộc UNESCO) chính thức công nhận là di sản tư liệu thế giới vào ngày 19-05-2016. Thơ văn trên kiến trúc Cung đình Huế bao gồm toàn bộ hệ thống văn tự chữ Hán chủ yếu là các bài văn, thơ được khắc chạm rất công phu và sắc sảo trên gỗ các kiến trúc thuộc quần thể kiến trúc cố đô Huế trong giai đoạn 1802-1945. Theo sự đánh giá của các chuyên gia và các nhà nghiên cứu thì Thơ văn trên kiến trúc Cung đình Huế là “di sản tư liệu độc đáo, là những bản gốc duy nhất hiện chỉ có ở Việt Nam và có giá trị nổi bật toàn cầu”.
26. MỘC BẢN TRƯỜNG HỌC PHÚC GIANG HÀ TĨNH
Mộc bản trường học Phúc Giang (Hà Tĩnh) đã chính thức được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thuộc chương trình ký ức thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ngày 19-05-2016 cùng với thơ văn trên kiến trúc Cung đình Huế. Mộc bản trường học Phúc Giang (Hà Tĩnh) là những bản khắc gỗ chữ Hán ngược dùng đề in sách do dòng họ Nguyễn Huy, làng Trường Lưu, xã Lai Thạch, huyện Thiên Lộc (nay là xã Trường Lộc, huyện Can Lộc), tỉnh Hà Tĩnh biên soạn và khắc in để phục vụ việc dạy và học. Mộc bản trường học Phúc Giang (Hà Tĩnh), được hình thành trong quá trình hoạt động giáo dục văn hóa từ giữ thế ký XIIX đến đầu thế kỷ XX. Mộc bản trường học Phúc Giang (Hà Tĩnh) là di sản tư liệu hiện có 383 bản được làm bằng gỗ những cây thị “đực”, nét chữ khắc tinh xảo với nhiều dạng chữ khác nhau như: Lệ thư, Thảo thư, Giản tự, Cô tự, … Mộc bản trường học Phúc Giang (Hà Tĩnh) là khối mộc bản cổ nhất và duy nhất về văn hóa giáo dục của một dòng họ còn được lưu giữ ở Việt Nam. Với những giá trị đặc biệt về hình thức, nội dung cũng như tính xác thực, độc đáo di sản tư liệu này đã có tầm ảnh hưởng tới cả khu vực và quốc tế. Hiện nay khối Mộc bản này đang được bảo quản tại tư gia dòng họ Nguyễn Huy và Bảo tàng Hà Tĩnh.
xem thêm: Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim: Di sản Thế giới tại Việt Nam
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/di-san-the-gioi-tai-viet-nam/
Nông nghiệp sinh thái Việt, điểm đến yêu thích của bạn

ĐÁ VÀNG VỚI BAN MAI; CNM365 Tình yêu cuộc sống; Chính Trung Hiếu Thiện Lành; Trà sớm với Lão Nông; Núi Chứa Chan Xuân Lộc; Vườn Quốc Gia Cát Tiên; Một gia đình yêu thương; Nhớ vầng trăng ngọn lửa ; Hoàng Thành Trúc Lâm Sáng; Đến với Tây Nguyên mới; Bài ca nhịp thời gian; Đường xuân đời quên tuổi; Chính Ngọ đoán Kinh Dịch; Nông lịch tiết Lập Đông 24 tiết khí nông lịch xem vieo Than Tran @ nêu bật Hien NguyenminhhienNgười Quảng Sơn Kết nối yêu thương .
Học Việt Hóa Thơ Đường*
Hoa Đất Thương Lời Hiền
HOÀNG KIM THƠ ĐỒNG TÂM
Đồng tâm hiệp lực sắt nên kim *
Cam khổ bền lòng, động vẫn im
Thống Nhất đường xuân bền thế nước
Việt Nam đất Mẹ mãi trong tim
Chính Trung Hiếu Thiện Lành thời nổi
#annhiên #Thungdung biến chẳng chìm
Đá vàng với ban mai nắng mới
Mưa lành Lã Vọng biết đâu tìm
QUẢ TỐT BỜI NHÂN LÀNH
Trời xanh tỉnh lặng với thu không
Nhân quả ghi ơn quý vun trồng
Hạnh phúc đủ đầy nhờ tích đức
Hiếu trung trọn vẹn bởi tâm công
Nhìn ai dân mến vì chí thiện
Ngắm kẻ người chê bởi khác lòng
Ban mai ngày mới mừng biết đủ
Tình yêu cuộc sống rạng vừng đông.
Tựa Cây Để Nghỉ Ngơi
Nhàn hưởng lộc Trời dưới bóng tre
Chuối già đủ chín chốn chân quê
Mèo Chăm sưởi nắng thành nơi đến
Ngựa Quý phong sương thạo lối về
Quảng Trị Nam Gianh Người Minh Lệ
Đồng Nai Hưng Thịnh Đất Bồ Đề
#ĐáVàng Lùm Trần Thương #TreTrúcLâm
Khi mệt tựa cây để nghỉ ngơi.
HOÀNG KIM VUI BẠN HIỀN
Nghe Cổ Vật Nói Chuyện
Loạn Động Cơ Trời Triệt Nói Nhăng
An Tĩnh Thời Đất Mạch Thanh Long
Vợ Thôi Lo Lắng Chăm Ăn Ngủ
Con Bớt Phân Tâm Sóc Nhẹ Lòng
Thầy Vững Thân Tâm Bền Sử Ký
Bạn Quý #annhiên và #Thungdung
#cnm365 #tìnhyêucuộcsống
Ta với AI vui bớt luận bàn

CỤ TÔ TÔI NGHE LẠI
Trà Sớm Với Lão Nông **
Cụ Tô Tôi Nghe Lại *****
Thật Tâm Đắc Hài Lòng
Đáo Trường Thành Hảo Hán
Ngũ Lão Sáng Tâm Công *
Dựng Trường Thành Quyết Sách
Thấu Thủy Hoàng Tây An
Nối Hòn Khoai Cuống Rốn
Dưỡng Phú Quốc Biển Nam
Thế Lớn Tan Rồi Hơp
Đồng Hải Thế Ao Nhà
Gia Đình An Tổ Quốc ****
Đền Trần Thương Bồ Đề
Bạch Ngọc Hoàng Kim cẩn đề ***
Cụ Tô Tôi Nghe Lại *****;Toàn văn bài phát biểu đanh thép của Ngoại trưởng Nga về thách thức và trật tự toàn cầu; Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; Đại tướng Phan Văn Giang truyền đạt “Tư duy, nhận thức mới về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc”; Đại tướng Lương Tam Quang truyền đạt “Tư duy, nhận thức mới về an ninh quốc gia của Đại hội XIV; Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại HNTQ nghiên cứu, triển khai thực hiện NQ Đại hội XIV; Đồng chí Trần Sỹ Thanh truyền đạt chuyên đề về “Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát”; ĐÁ VÀNG VỚI BAN MAI; CNM365 Tình yêu cuộc sống;
Kim Notes lắng ghi chú:
Nhà Trần trong sử Việt, một bài học sâu sắc. Posted on
Hoàng Kim tổng hợp biên soạn (2006-2026) hiệu đính và bổ sung

NHÀ TRẦN TRONG SỬ VIỆT
Hoàng Kim
Nhà Trần khởi đầu từ vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) lên ngôi Hoàng Đế vào ngày 31 tháng 12 năm 1225 nhằm ngày Mậu Dần mồng 1 tháng 12 năm Ất Dậu, Lý Chiêu Hoàng là vị Nữ Hoàng cuối cùng của nhà Lý xuống chiếu nhường ngôi cho chồng. Tiếp nối vua Trần Thái Tông là vua Trần Thánh Tông (Trần Hoảng), vua Trần Nhân Tông (Trần Khâm. Ba vua là thời nhà Trần thịnh thế ngời sử Việt dựng nên nghiệp lớn, chống quân Nguyên Mông, thống nhất Phật Giáo Việt Nam và đạt đến cực thịnh. Ba vua Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Trần Hiến Tông là thời kế nghiệp. Từ vua Trần Dụ Tông (sau khi thượng hoàng Trần Minh Tông mất) đến Hôn Đức Công, Trần Nghệ Tông, Trần Duệ Tông, cho tới Trần Phế Đế, Trần Thuận Tông, Giản Định Đế, Trần Quý Khoáng là thời suy tàn. Trần triều chấm dứt lúc Trần Phế Đế bị Thượng hoàng Trần Nghệ Tông ép thắt cổ chết thay thế bằng Trần Thuận Tông là con của Trần Nghệ Tông, khi thế lực Hồ Quý Ly đã vững không thể đổi. Vua Trần Thuận Tông trị vì từ năm 1388 cho đến năm 1400 thì bị ép nhường ngôi cho Hồ Quý Lý, lập ra triều đại nhà Hồ. Giặc Minh mượn danh nghĩa “phục Trần diệt Hồ” nhân cơ hội ấy vào cướp nước ta. Giản Định Đế, Trần Quý Khoáng chống nhà Minh nhưng không thành. Nhà Trần trong sử Việt kéo dài 175 năm với 13 đời hoàng đế. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nha-tran-trong-su-viet/ & #ana
Thái Tông và Hưng Đạo
Ngày mới đầy yêu thương
Nhà Trần trong sử Việt
Lồng lộng như trăng rằm
Ba đỉnh cao Yên Tử
Danh thắng quê hương Trần
‘Thái bình tu nổ lực
Vạn cổ thử giang san’ (*)
Nhà Trần trong sử Việt
Trước đèn bảy trăm năm,
Trúc Lâm Trần Nhân Tông
Thăm thẳm tầm nhìn lớn.
Từ một hai hai năm (1225),
Đến thế kỷ mười bốn (1400)
Chuyện cũ chưa hề cũ
Thoáng chốc tròn tháng năm.
An nhiên chào ngày mới
Vui bạn hiền người thân
Nhà Trần trong sử Việt.
Tinh hoa chọn đôi vần.
Xưa mình, nay bớt tiếng ve
Quanh nhà #ana an hưởng tiếng tre rì rào
Cụ Trần Hoàng ổ cạnh ao
Giấc mưa rôm rã ồn ào ếch kêu.
(*) Trích thơ Tụng giá hoàn kinh sư của
Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải

I.THÁI TÔNG VÀ HƯNG ĐẠO
Minh quân hiền tài vua tôi đồng lòng toàn dân gắng sức. Trần Thái Tông, Trần Hưng Đạo, Trần Thánh Tông là ba đỉnh cao vọi của trí tuệ thời Trần. Vua Trần Nhân Tông khi lên đỉnh Yên Tử có hỏi về ba đỉnh cao của dãy núi kia là gì thì được trả lời đó là dãy Yên Phụ của vòng cung Đông Triều trấn Bắc. Đức vua Phật Trần Nhân Tông đã lạy Yên Phụ và chọn Yên Tử làm nơi Cư trần lạc đạo chốn an nghĩ của mình. Trần Thái Tông và Trần Quốc Tuấn là câu chuyện minh quân thiên tài thật lạ lùng và sâu sắc lưu dấu nơi đất Việt. Bài học lịch sử Trần Thánh Tông, Trần Hưng Đạo, Trần Thánh Tông, Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư … là suối nguồn tươi trẻ của một câu chuyện tuyệt vời được nối tiếp sâu hơn trong các chuyên luận khác.
Vua Trần Thái Tông (1218-1277) người sáng nghiệp nhà Trần có câu nói nổi tiếng trong lịch sử: “Nếu chỉ để lời nói suông cho đời sau, sao bằng đem thân mình đảm nhận trọng trách cho thiên hạ trước đã”. Vua Trần Thái Tông là bậc minh quân tài trí được so sánh với Đường Thái Tông Lý Thế Dân là vị vua giỏi Trung Hoa thời trước đó. “Sáng nghiệp Việt, Đường hai Thái Tông/ Đường xưng: Trinh Quán, Việt: Nguyên Phong/ Kiến Thành bị giết, An Sinh sống/ Miếu hiệu tuy đồng, đức chẳng đồng”.
Đường Thái Tông Lý Thế Dân ngày 4 tháng 9 năm 626 đã lên ngôi hoàng đế nhà Đường sau sự biến Huyền Vũ môn. Đường Thái Tông thiết lập nên sự cường thịnh của nhà Đường phát triển về kinh tế và hùng mạnh về quân sự nhất thế giới thời ấy, nhưng so đức độ với vua Việt Trần Thái Tông thì vua Việt được người đời ca ngợi hơn.
An Sinh Vương Trần Liễu là người chống lại Thái Tông và hận thù giữa họ sâu đến nỗi Trần Liễu còn di nguyện cho Trần Quốc Tuấn sau này nhất thiết phải đoạt lại ngôi vua. Vua Trần Thái Tông không chỉ tha cho An Sinh Vương Trần Liễu mà còn tha cho Trần Quốc Tuấn là người đã gây ra chuyện tầy đình.
Tình yêu thương của Trần Quốc Tuấn và Thiên Thành công chúa là một câu chuyện thật quái và phi thường ! Tình yêu đó thật lớn lao nhưng sự việc quá liều lĩnh, khí phách và đặc biệt nguy hiểm. Trần Quốc Tuấn ngay trong đêm tân hôn của Thiên Thành công chúa với Nhân Đạo Vương đã dám lẻn vào cung của Nhân Đạo Vương ngủ với người mình yêu mà không sợ cái chết trong lúc Trung Thành Vương con trai của Nhân Đạo Vương đang bận đãi khách chưa kịp động phòng. Công chúa Thiên Thành con gái của vua Trần Thái Tông thì đã dám chọn cái chết để trao thân cho Trần Quốc Tuấn là người mình yêu, bất chấp đám cưới với Trung Thành Vương là con trai của Nhân Đạo Vương vị quan đầu triều Trần.
Vua Trần Thái Tông đã không làm ngơ để Quốc Tuấn bị giết. Vua chủ động kết nối lương duyên ngay cho Thiên Thành Quốc Tuấn bất chấp lẽ thường. Câu chuyện vua Trần Thái Tông không những không giết Trần Quốc Tuấn, con của Trần Liễu kẻ tử thù đang rất hận mình và đang “cố tình phạm tội ngông cuồng” trái nhân tình mà còn chủ động tác thành cho Thiên Thành Quốc Tuấn nên vợ chồng, hóa giải mọi điều, thu phục được tấm lòng của bậc anh hùng và giữ lại được cho non sông Việt một bậc kỳ tài muôn thuở
Chuyện lạ và hay, thật hiếm có !

II. LỜI DẶN CỦA THÁNH TRẦN
Chùa cổ Thắng Nghiêm là nơi Đức Thánh Trần thuở nhỏ đã theo công chúa Thụy Bà về đây để tìm minh sư học phép Chọn người, Đạo làm tướng, viết kiệt tác Binh thư Yếu lược. Mẹ tôi họ Trần. Tôi về dâng hương Đức Thánh Trần tại đền Tổ. Lắng đọng trong tôi Lời thề trên sông Hóa; Lời dặn của Thánh Trần.
Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là nhà quân sự kiệt xuất nhất trong lịch sử Việt Nam nhà chính trị, ngoại giao, tư lệnh tối cao của Việt Nam thời nhà Trần, đã ba lần đánh thắng đội quân Nguyên Mông đế quốc hùng mạnh nhất thế giới thời đó. Người là một trong mười vị tướng tài của Thế Giới
Trần Hưng Đạo sinh năm 1232, mất ngày 20 tháng 8 âm lịch năm 1300, ông là con thứ ba của An Sinh Vương Trần Liễu, gọi Trần Thái Tông bằng chú ruột, mẹ ông là Thiện Đạo quốc mẫu, một người trong tôn thất họ Trần. Ông sinh ra ở kinh đô Thăng Long, quê quán ở thôn Tức Mặc, phường Lộc Vượng, TP Nam Định ngày nay. Ông khi lên 5 tuổi năm 1237 làm con nuôi cô ruột là Thụy Bà công chúa, vì cha ông là Trần Liễu chống lại triều đình (Trần Thủ Độ). Đại Việt sử ký toàn thư mô tả ông là người có dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người, nhờ được những người tài giỏi đến giảng dạy nên ông sớm trở thành kỳ tài xuất chúng văn võ song toàn, thông hiểu sâu sắc huyền cơ tạo hóa, phép biến dịch và cách dùng binh.
Vua Trần Thái Tông tên thật là Trần Cảnh, sinh ngày 16 tháng 6 năm 1218 mất ngày 1 tháng 4 năm 1277, là vị hoàng đế đầu tiên của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam, lên ngôi ngày 5 tháng 5 năm 1225 mở đầu nhà Trần trong sử Việt. Ông ở ngôi hơn 32 năm (1225 – 1258), làm Thái thượng hoàng trong 19 năm. Trần Cảnh sinh ra dưới thời kỳ nhà Lý còn tại vị, ông cùng tuổi với vị Nữ hoàng nhà Lý lúc bấy giờ là Lý Chiêu Hoàng. Ông được Chiêu Hoàng yêu mến, hay gọi vào vui đùa, Trần Cảnh khi ấy không nói năng gì nhưng khi về đều nói lại với chú họ là Trung Vũ Vương Trần Thủ Độ. Nhà Lý loạn cung đình thuở ấy đã tới đỉnh điểm. Vua Lý tuy có hai con gái thông minh, hiền hậu và rất giỏi nhưng không có con trai nối dõi, trong khi hoàng tộc nhà Lý lắm kẻ mưu mô kém đức dòm ngó ngôi báu. Nước Đại Việt thuở đó bên ngoài thì họa ngoại xâm từ đế quốc Nguyên Mông đang rình rập rất gần, bên trong thì biến loạn bùng nổ liên tục nhiều sự kiện rất nguy hiểm. Trần Thủ Độ nắm thực quyền chốn cung đình, nhận thấy Trần Cảnh cháu mình cực kỳ thông minh đỉnh ngộ, thiên tư tuyệt vời xứng là một minh quân, lại được Lý Chiêu Hoàng yêu mến nên đã sắp đặt hôn nhân giữa Trần Cảnh và Lý Chiêu Hoàng đám đặt cược việc làm vua với họa diệt tộc Trần nếu chọn lầm người. Sự kiện đó xảy ra vào ngày 31 tháng 12 năm 1225, đã chấm dứt triều đại nhà Lý đã tồn tại hơn 200 năm và khai sáng nhà Trần.
Lý Chiêu Hoàng tức Lý hoàng hậu vợ Trần Thái Tông trớ trêu thay sinh con nhưng con bị chết yểu ngay sau khi sinh, cho nên Trần Thái Tông không có người kế vị chính danh phận, trong lúc sự chống đối và chỉ trích cay độc của tôn thất nhà Lý do Hoàng Thái hậu cầm đầu lại đẩy lên cao trào rất nặng nề. Nhiều kẻ tôn thất mượn tiếng có con trai nối dõi dòm ngó cướp ngôi. Thuận Thiên công chúa là vợ của Trần Liễu khi ấy đang mang thai được 3 tháng. Năm 1237, Thái sư Trần Thủ Độ nắm thực quyền phụ chính đã ép cha của Trần Quốc Tuấn là Trần Liễu phải nhường vợ là Thuận Thiên công chúa (chị của Lý Chiêu Hoàng) thay làm Chính cung Hoàng hậu cho Trần Thái Tông, đồng thời giáng Lý hoàng hậu xuống làm công chúa. Việc này khiến Trần Thái Tông bỏ lên tu ở núi Yên Tử.
Người sau này đã chứng ngộ vận nước lâm nguy cường địch bên ngoài câu kết nội gián bên trong không thể không xử thời biến đặt vận mệnh “non sông đất nước Việt trên hết”. Người đã chấp nhận quay trở về “Nếu chỉ để lời nói suông cho đời sau, sao bằng đem thân mình đảm nhận trọng trách cho thiên hạ trước đã”. Trần Thái Tông đã chấp nhận sự sắp xếp của Triều đình.
Sau này, ông truyền ngôi cho Thái tử Trần Hoảng là con thứ, vào ngày 24 tháng 2 năm 1258 để lui về làm Thái thượng hoàng,(con trưởng Trần Quốc Khang vốn là con Trần Liễu, anh em cùng cha khác mẹ với Trần Quốc Tuấn). Trần Thái Tông được tôn làm Hiển Nghiêu Thánh Thọ Thái Thượng Hoàng Đế. Trần Hoảng lên ngôi tức Trần Thánh Tông. Tước vị và thông lệ Thái thượng hoàng của nhà Trần từ đấy đã trở thành truyền thống, vừa rèn luyện cho vị Hoàng đế mới cai trị đất nước càng sớm càng tốt vừa tránh được việc tranh giành ngôi báu giữa các con do chính danh sớm được định đoạt.
Trần Liễu gửi con là Trần Quốc Tuấn cho Thụy Bà công chúa mai danh ẩn tích tại chùa Thắng Nghiêm tìm minh sư luyện rèn văn võ. Sau đó ông dấy binh làm loạn ở sông Cái, cuối cùng bị thất thế, phải xin đầu hàng. Trần Thủ Độ toan chém nhưng Trần Thái Tông liều chết đưa thân mình ra ngăn cản buộc lòng Thủ Độ phải tự mình ném bảo kiếm xuống sông. Trần Liễu được tha tội nhưng quân lính theo ông làm phản đều bị giết hết và vua Thái Tông đổi ông làm An Sinh vương ở vùng đất Yên Phụ, Yên Tử thuộc tỉnh Quảng Ninh ngày nay.
Trần Quốc Tuấn từ 5 tuổi đã được minh sư rèn luyện tỏ ra và một vị nhân tướng lỗi lạc phi phàm lúc trở về sớm được Trần Thái Tông quý trọng đức độ tài năng trong số con cháu vương thất. Qua sự biến Trần Quốc Tuấn yêu thương công chúa Thiên Thành, là con gái của vua Trần Thái Tông, nhân lễ hội trăng rằm nửa đêm đã lẻn vào chỗ ở của công chúa và thông dâm với nàng. Thời nhà Trần đã có quy định, để tránh ngôi vua truyền ra ngoài, chỉ có người trong tộc mới được lấy nhau nên kết hôn cùng huyết thống là điều không lạ và chuyện “quái” ấy cũng ‘quái” như việc Trần Thái Tông lấy vợ Trần Liễu.
Lại oái oăm thay, người Trần Quốc Tuấn yêu say đắm là công chúa Thiên Thành, mà vua Trần Thái Tông năm 1251 đã đính ước gả cô cho Trung Thành Vương là con trai của Nhân Đạo Vương. Vua đã nhận sính lễ, thông báo với quần thần và đang tiệc cưới. Trần Quốc Tuấn nửa đêm trăng rằm đột nhập vào phòng riêng công chúa ở phủ Trung Thành Vương và đôi trai gái trẻ đồng lòng đến với nhau. Quốc Tuấn nói với công chúa Thiên Thành sai thị nữ đi gặp Công chúa Thụy Bà cấp báo với vua ngay trong đêm đó. Vua hỏi có việc gì, Thụy Bà trả lời:“Không ngờ Quốc Tuấn ngông cuồng càn rỡ, đang đêm lẻn vào chỗ Thiên Thành, Nhân Đạo đã bắt giữ hắn rồi, e sẽ bị hại, xin bệ hạ rủ lòng thương, sai người đến cứu”. Trần Thái Tông vội sai người đến dinh Nhân Đạo vương, vào chỗ Thiên Thành, thì thấy Trần Quốc Tuấn đã ở đấy. Hôm sau, Thụy Bà công chúa dâng 10 mâm vàng sống đến chỗ Trần Thái Tông xin làm lễ cưới Thiên Thành công chúa cho Trần Quốc Tuấn. Thái Tông bắt đắc dĩ phải gả công chúa cho ông và lấy 2000 khoảnh ruộng ở phủ Ứng Thiên để hoàn lại sính vật cho Trung Thành vương. Tháng 4 năm đó, Trần Liễu ốm nặng. Lúc sắp mất, Trần Liễu cầm tay Trần Quốc Tuấn, trăng trối rằng: “Con không vì cha lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được”. Trần Quốc Tuấn ghi để trong lòng, nhưng không cho là phải.
Câu chuyện Trần Quốc Tuấn yêu thương công chúa Thiên Thành và đã làm liều dám lấy tính mạng của mình làm như thể “cố tình phạm tội ngông cuồng trái nhân tình”, nhưng mấy ai thấu hiểu đó là sự lưa chọn sinh tử, phép thử tối cao cuối cùng của vị nhân tướng trước khi trao sinh mệnh đời mình cho Người tin yêu mình trong thực tiễn. Đó là phép biến Dịch của “Đạo làm tướng” “Chọn người”.
Trần Thái Tông và Trần Quốc Tuấn câu chuyện đêm trăng rằm để hiểu sâu hơn chiến công nhà Trần ba lần đánh thắng quân Nguyên. Trần Thái Tông, Trần Quốc Tuấn, Trần Thánh Tông với thực tiễn hiển hách ba lần đánh thắng quân Nguyên và “Vạn Kiếp tông bí truyền thư”, “Binh thư yếu lược” là kiệt tác muôn đời, ba đỉnh cao vọi của trí tuệ Việt Nam và nhân loại.

III. TRẦN THÁNH TÔNG MINH QUÂN
Trần Thánh Tông sinh ngày 12 tháng 10 năm 1240, mất ngày 3 tháng 7 năm 1290 là vị Hoàng đế thứ hai của nhà Trần, ở ngôi từ năm 1258 đến 1278 và làm Thái thượng hoàng từ năm 1278 đến năm 1290 lúc qua đời (hình Lăng Trần Thánh Tông ở Long Hưng, Thái Bình). Trần Thánh Tông là vua thánh nhà Trần: Vua nổi tiếng có lòng thương dân và đặc biệt thân thiết với anh em trong Hoàng tộc, điều hiếm thấy từ trước đến nay; Trần Thánh Tôngcó công rất lớn lúc làm Thái thượng hoàng đã cùng với con trai là vua Trần Nhân Tông lãnh đạo quân dân Đại Việt giành chiến thắng trong hai cuộc chiến cuối cùng chống lại quân đội nhà Nguyên sang thôn tính nước ta lần thứ hai năm1285 và lần thứ ba năm 1287; Nước Đại Việt suốt thời Trần Thánh Tônglàm vua và làm Thái Thượng hoàng là rất hưng thịnh, hùng mạnh, phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, văn hóa, giáo dục không để cho nhà Nguyên thôn tính.
Trần Thánh Tông cuộc đời và di sản hiếm thấy. Vua Trần Thánh Tông tên thật Trần Hoảng là con trai thứ hai của vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh), mẹ là Hiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu Lý thị, công chúa nhà Lý, con gái của Lý Huệ Tông và Linh Từ Quốc mẫu. Anh trai lớn của ông, Tĩnh Quốc đại vương Trần Quốc Khang tuy danh nghĩa là con lớn nhất, nhưng thực tế là con của Khâm Minh đại vương Trần Liễu. Như vậy, ông là Hoàng đích trưởng tử (con trai lớn nhất và do chính thất sinh ra) của Trần Thái Tông hoàng đế.
Vua Trần Thánh Tông sinh ngày 25 tháng 9 âm lịch, năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 9 (1240), và ngay lập tức được lập làm Hoàng thái tử, ngự ở Đông cung. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, trước khi Hiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu mang thai ông, Thái Tông hoàng đế nằm mơ thấy Thượng Đế trao tặng bà một thanh gươm báu.
Vua Trần Thánh Tông có vợ là Nguyên Thánh hoàng hậu Trần Thiều (?– 1287), con gái An Sinh Vương Trần Liễu, mới đầu phong làm Thiên Cảm phu nhân, sau phong lên làm Hoàng hậu. Năm 1278, Trần Nhân Tông tôn làm Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái hậu.
Vua Trần Thánh Tông có bốn con: 1) đích trưởng tử là Trần Khâm, tức Nhân Tông Duệ Hiếu hoàng đế, mẹ là Nguyên Thánh hoàng hậu; 2) Tá Thiên đại vương Trần Đức Việp (1265 – 1306), mẹ là Nguyên Thánh hoàng hậu. 3) Thiên Thuỵ công chúa, chị gái Nhân Tông, mất cùng ngày với Nhân Tông (3 tháng 11 âm lịch, 1308), lấy Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn, con trai Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, mẹ là Nguyên Thánh hoàng hậu;4) Bảo Châu công chúa, lấy con trai thứ của Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải, mẹ là Nguyên Thánh hoàng hậu.
Nhà Trần đánh bại quân Nguyên Mông lần thứ nhất năm 1257, vào ngày 24 tháng 12 năm Nguyên Phong thứ 7 (1257), Thái tử Trần Hoảng đã cùng với vua Trần Thái Tông ngự lâu thuyền mà kéo quân đến Đông Bộ Đầu, đập tan tác quân Nguyên Mông trong Trận Đông Bộ Đầu, buộc họ phải rút chạy và chấm dứt cuộc xâm lược Đại Việt.
Vua Trần Thái Tông nhường ngôi cho Thái tử Trần Hoảng ngày 24 tháng 2, năm 1258 (Nguyên Phong thứ 8). Vua Trần Thánh Tông đổi niên hiệu là Thiệu Long, xưng làm Nhân Hoàng, tôn vua chalàm Thái thượng hoàng, tôn hiệu là Hiển Nghiêu Thánh Thọ Thái Thượng Hoàng Đế .
Vua Trần Thánh Tông ở ngôi 21 năm, đất nước được yên trị . Vua nổi tiếng là vị hoàng đế nhân hậu, hòa ái đối với mọi người từ trong ra ngoài. Ông thường nói rằng: “Thiên hạ là của ông cha để lại, nên để anh em cùng hưởng phú quý chung”.Do vậy, các hoàng thân trong nội điện thường ăn chung cỗ và ngủ chơi chung nhà rất đầm ấm, chỉ khi có việc công, hay buổi chầu, thì mới phân thứ tự theo phép nước .
Tĩnh Quốc đại vương Trần Quốc Khang, trên danh nghĩa là con trưởng của vua Trần Thái Tông, nhưng thực ra là con trai của An Sinh đại vương Trần Liễu cùng Hiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu. Trần Quốc Khang tuy là con trưởng của vua Trần Thái Tông, nhưng xuất thân đặc biệt nên chịu mọi sự suy xét trong hoàng tộc. Sử cũ kể lại, có lần Trần Thánh Tông cùng với người anh cả là Trần Quốc Khang chơi đùa trước mặt Thái thượng hoàng. Thượng hoàng mặc áo bông trắng, Trần Quốc Khang múa kiểu người Hồ, Thượng hoàng bèn cởi áo ban cho. Vua Trần Thánh Tông thấy vậy cũng múa kiểu người Hồ để đòi thưởng áo bông. Quốc Khang bèn nói:Quý nhất là ngôi vua, tôi đã không tranh với chú hai rồi. Nay đức chí tôn cho tôi thứ nhỏ mọn này mà chú hai cũng muốn cướp sao?
Thượng hoàng Thái Tông cười nói với Quốc Khang:
Vậy ra con coi ngôi vua cũng chỉ như cái áo choàng này thôi à?
Thượng hoàng Thái Tông khen Quốc Khang, rồi ban áo cho ông. Trong Hoàng gia, cha con, anh em hòa thuận không xảy ra xích mích.] Vào tháng 9 năm 1269, Vua Trần Thánh Tông phong cho Trần Quốc Khang làm Vọng Giang phiêu kỵ Đô thượng tướng quân. Một lần khác, vào mùa xuân năm 1270, Trần Quốc Khang xây vương phủ hoành tráng tại Diễn Châu, vua Trần Thánh Tông bèn cho người đến xem. Hoảng sợ, Quốc Khang đành phải dựng tượng Phật tại nơi này – sau trở thành chùa Thông.
Vua Trần Thánh Tông rất quan tâm giáo dục, Trần Ích Tắc, em trai Trần Thánh Tông nổi tiếng là một người hay chữ trong nước được cử mở trường dạy học để các văn sĩ học tập. Danh nho Mạc Đĩnh Chi, người đỗ trạng nguyên đời Trần Anh Tông sau này cũng học ở trường ấy.
Thời vua Trần Thánh Tông nhân sự cũng được thay đổi. Ông xuống chiếu kén chọn văn học sĩ sung vào quan ở Quán và Các. Trước đó, theo quy chế cũ: “không phải người trong họ vua thì không được làm chức Hành khiển“. Nhưng bắt đầu từ đấy, nho sĩ văn học được giữ quyền bính làm hành khiển, như Đặng Kế làm Hàn lâm viện học sĩ, Đỗ Quốc Tá làm Trung thư sảnh trung thư lệnh, đều là nho sĩ văn học. Vua Trần Thánh Tông cho phép các vương hầu, phò mã họp các dân nghèo để khẩn hoang]. Vương hầu có điền trang bắt đầu từ đấy.
Năm 1262, vua Trần Thánh Tông xuống lệnh cho quan quân chế tạo vũ khí và đúc thuyền. Tại chín bãi phù sa ở sông Bạch Hạc, Lục quân và Thủy quân nhà Trần đã tổ chức tập trận. Vào tháng 9 (âm lịch) năm ấy, ông truyền lệnh cho rà soát ngục tù, và thẳng tay xử lý những kẻ đã đầu hàng quân xâm lược Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ nhất thời Nguyên Phong.
Vua Trần Thánh Tông còn cho Lê Văn Hưu tiếp tục biên soạn sách Đại Việt sử ký. Lê Văn Hưu đã làm được bộ sử sách gồm 30 quyển, chép từ đời Triệu Vũ Vương đến Lý Chiêu Hoàng. Việc biên tập bộ sử này được khởi đầu từ đời vua Trần Thái Tông, đến năm 1271 đời Thánh Tông mới hoàn thành.
Năm 1258, sau khi Nhà Trần đánh bại quân Nguyên Mông lần thứ nhất, Trần Thánh Tông sai sứ sang Nam Tống báo việc lên ngôi và được phong làm An Nam quốc vương. Mặc dù Nam Tống đã suy yếu trước sự uy hiếp của Mông Cổ, ông vẫn giữ quan hệ bang giao với Nam Tống ngoài ý nghĩa giao hảo nước lớn còn nhằm mục đích nắm tình hình phương bắc. Khi Thánh Tông sai sứ mang đồ cống sang, vua Tống cũng tặng lại các sản vật của Trung Quốc như chè, đồ sứ, tơ lụa; không những gửi cho Thánh Tông mà còn tặng cả sứ giả. Sau này khi Nam Tống bị nhà Nguyên đánh bại, phải rút vào nơi hiểm yếu, mới không còn qua lại với Đại Việt. Nhiều quan lại và binh sĩ Tống không thần phục người Mông đã sang xin nương nhờ Đại Việt. Trần Thánh Tông tiếp nhận họ, ban cho chức tước và cử người quản lý.
Năm 1260, hoàng đế nhà Nguyên sai Mạnh Giáp, Lý Văn Tuấn mang chiếu chỉ sang Đại Việt tuyên dụ, với yêu cầu hệ thống chính quyền Đại Việt phải theo lối hoạt động của Thiên triều, không được dấy binh xâm lấn bờ cõi. Vào năm Tân Dậu 1261, niên hiệu Thiệu Long thứ 4, vua Trần Thánh Tông được vua Mông Cổ phong làm An Nam Quốc Vương, lại được trao cho 3 tấm gấm tây cùng với 6 tấm gấm kim thục. Trần Thánh Tông duy trì lệ cống nhà Nguyên 3 năm 1 lần, mỗi lần đều phải cống nho sĩ, thầy thuốc, thầy bói và thợ thuyền mỗi hạng ba người, cùng với các sản vật như là sừng tê, ngà voi, đồi mồi, châu báu…
Vua nhà Nguyên lại đặt chức quan Darughachi tại Đại Việt để đi lại giám trị các châu quận Đại Việt; ý muốn can thiệp chính trị, tìm hiểu nhân vật, tài sản Đại Việt để liệu đường mà đánh chiếm. Thánh Tông bề ngoài tuy vẫn chịu thần phục, nhưng ông biết ý đồ của vua Mông, nên tiếp tục luyện binh dụng võ để chuẩn bị chiến tranh. Ông cho tuyển đinh tráng các lộ làm lính, phân làm quân và đô, bắt phải luyện tập luôn.
Năm 1271, Hốt Tất Liệt đặt quốc hiệu là Nguyên, bình định nốt miền nam Trung Quốc và dụ vua Đại Việt sang hàng, để khỏi cần động binh. Nhà Nguyên cứ vài năm lại cho sứ sang sách nhiễu và dụ vua Đại Việt sang chầu, nhưng vua Trần lấy cớ thoái thác.
Năm 1272, hoàng đế nhà Nguyên cho sứ sang lấy cớ tìm cột đồng trụ của Mã Viện trồng ngày trước, nhưng vua Thánh Tông sai quan sang nói rằng: cột ấy lâu ngày mất đi rồi, không biết đâu mà tìm nữa. Vua Nguyên bèn thôi không hỏi nữa.
Năm 1275, hoàng đế nhà Nguyên ra chiếu dụ đòi vua Đại Việt nộp sổ sách dân số, thu thuế khóa, trợ binh lực cho Thiên triều thông qua sự thống trị của quan Darughachi và đòi nhà vua phải đích thân tới chầu. Vua Thánh Tông sai sứ sang nói với hoàng đế nhà Nguyên rằng: Nước Nam không phải là nước Mường mán mà đặt quan giám trị, xin đổi quan Đại-lỗ-hoa-xích làm quan Dẫn tiến sứ.
Vua nhà Nguyên không cho, lại bắt vua Trần sang chầu. Thánh Tông cũng không chịu. Từ đấy vua nhà Nguyên thấy dùng ngoại giao để khuất phục nhà Trần không được, quyết ý cử binh sang đánh Đại Việt. Nguyên Thế Tổ cho quan ở biên giới do thám địa thế Đại Việt, Trần Thánh Tông cũng đặt quan quân phòng bị.
Theo sách “Các triều đại Việt Nam” của Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng, “Nhìn chung, vua Trần Thánh Tông thực hiện chính sách ngoại giao mềm dẻo nhưng rất kiên quyết, chằm bảo vệ danh dự của Tổ quốc, ngăn chặn từ xa mọi sự dòm ngó, tạo sự xâm lược của nhà Nguyên.“ Tuy nhiên, sau khi nhà Nguyên diệt Nam Tống (1279), Đại Việt càng đứng trước nguy cơ bị xâm lăng từ đế quốc khổng lồ này.
Mùa đông, ngày 22 tháng 10 năm 1278, sau một năm Thái Tông Thượng hoàng đế băng hà, Thánh Tông hoàng đế nhường ngôi cho con trai là Thái tử Trần Khâm, tức Trần Nhân Tông. Thánh Tông lên làm Thái thượng hoàng, với tôn hiệu là Quang Nghiêu Từ Hiếu Thái Thượng Hoàng Đế. Trên danh nghĩa là Thái thượng hoàng, nhưng Trần Thánh Tông vẫn tham gia việc triều chính.
Quan hệ hai bên giữa Đại Việt và Đại Nguyên căng thẳng và đến cuối năm 1284 thì chiến tranh bùng nổ. Thượng hoàng Thánh Tông cùng Nhân Tông tín nhiệm thân vương là Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, phong làm Quốc công Tiết chế chỉ huy quân đội trong nước để chống Nguyên Mông. Trong hai lần Chiến tranh với Nguyên Mông lần 2 và lần 3, thắng lợi có vai trò đóng góp của Thượng hoàng Thánh Tông.
Năm 1289, sau khi chiến tranh kết thúc, Thượng hoàng lui về phủ Thiên Trường làm thơ. Các bài thơ thường được truyền lại là: “Hành cung Thiên Trường”, “Cung viên nhật hoài cực”.
Ngày 25 tháng 5, năm Trùng Hưng thứ 6 (1290), Thượng hoàng băng hà tại Nhân Thọ cung, hưởng thọ 51 tuổi. Miếu hiệu là Thánh Tông (聖宗), thụy hiệu là Hiến Thiên Thế Đạọ Huyền Công Thịnh Đức Nhân Minh Va7n Vũ Tuyên Hiếu hoàng đế . Ông được táng ở Dụ Lăng, phủ Long Hưng (Tiến Đức, Hưng Hà, Thái Bình ngày nay).
Ngày nay ở trung tâm thành phố Hà Nội có phố mang tên Trần Thánh Tông.
Vua Trần Thánh Tông sùng đạo Phật, rất giỏi thơ văn, thường sáng tác thơ văn về thiền. Tác phẩm của Trần Thánh Tông có: Di hậu lục (Chép để lại cho đời sau), Cơ cầu lục (Chép việc nối dõi nghiệp nhà); Thiền tông liễu ngộ (Bài ca giác ngộ Thiền tông), Phóng ngưu (Thả trâu), Trần Thánh Tông thi tập (Tập thơ Trần Thánh Tông), Chỉ giá minh (Bài minh về sự cung kính)…Và một số thư từ ngoại giao, nhưng tất cả đều đã thất lạc, chỉ còn lại 6 bài thơ được chép trong Việt âm thi tập (5 bài) và Đại Việt sử ký toàn thư (1 bài) mà chúng tôi sẽ chép bổ sung vào cuối bài này.
Thơ Trần Thánh Tông giàu chất trữ tình, kết hợp nhuần nhị giữa tinh thần tự hào về đất nước của người chiến thắng, với tình yêu cuộc sống yên vui, thanh bình, và phong độ ung dung, phóng khoáng của một người biết tự tin, lạc quan. Trong thơ, ông đã xen nhịp ba của thơ dân tộc với nhịp bốn quen thuộc của thơ Đường, tạo nên một nét mới về nhịp điệu thơ và về thơ miêu tả thiên nhiên.
Trong sách Thơ văn Lý Trần, NXB Khoa học xã hội, 1977, có bài thơ Chân tâm chi dụng của Trần Thánh Tông:
Dụng của chân tâm …
Trần Thánh Tông
Dụng của chân tâm,
Thông minh tịnh mịch.
Không đến không đi,
Không tổn không ích.
Vào nhỏ vào to,
Mặc thuận cùng nghịch.
Động như hạc mây,
Tĩnh như tường vách.
Nhẹ tựa mảy lông,
Nặng như bàn thạch.
Trần trần trụi trụi,
Làu làu trong sạch.
Chẳng thể đo lường,
Tuyệt vô tung tích.
Nay ta vì ngươi,
Tỏ bày rành mạch.
Đại Việt Sử ký Toàn thư của nhà Hậu Lê ca ngợi Trần Thánh Tông “trung hiếu nhân thứ, tôn hiền trọng đạo, cha khai sáng trước, con kế thừa sau, cơ nghiệp nhà Trần được bền vững”, tuy nhiên trên quan điểm Nho giáo lại phê phán ông sùng đạo Phật “thì không phải phép trị nước hay của đế vương”. Sử gia Ngô Sĩ Liên ca ngợi công lao của ông: “Thánh Tông nối nghiệp Thái Tông, giữa chừng gặp giặc cướp biến loạn, ủy nhiệm cho tướng thần cùng với Nhân Tông giúp sức làm nên việc, khiến thiên hạ đã tan lại hợp, xã tắc nguy lại an. Suốt đời Trần không có việc giặc Hồ nữa, công to lắm.” Giáo sư Trần Văn Giàu luận về “Nhân cách Trần Nhân Tông” nhưng nói đầy đủ là hai vua Trần vì Thái Thượng hoàng Trần Thánh Tông là người tham gia và lãnh đạo xuyên suốt cả ba lần quân dân Đại Việt đánh thắng quân Nguyên năm 1258, 1285 và 1287: …”Tại nước Tàu lúc bấy giờ Triều đình nhà Tống rất hùng mạnh nhưng quân Nguyên Mông đã tràn xuống đánh thắn thần tốc, đến nỗi vua quan nhà Tống phải chạy ra biển và nhảy xuống biển tự vẫn. Tại Tây Á, Trung Á và một phần châu Âu cũng thua thảm hại , đến nỗi Giáo hoàng La Mã cũng lên tiếng sợ hãi. Trong lúc ấy Việt Nam so với phương Bắc thì quá nhỏ bé và quá nghèo yếu, thế mà Người dám không cho Nguyên Mông mượn đường xâm lược Chiêm Thành. Lại còn đánh bại ba lần Nguyên Mông xâm lược. Sau khi thắng giặc, Người lại lên núi sống. Người dám nghĩ, dám làm những việc không ai dám nghĩ chứ đừng nói đến làm !”
Trần Thánh Tông vua giỏi nhà Trần
xem tiếp: Trần Thánh Tông vua giỏi nhà Trần
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tran-thanh-tong-vua-gioi-nha-tran/

IV. TRÚC LÂM TRẦN NHÂN TÔNG
Trần Nhân Tông (1258-1308) là một trong những vị vua anh minh nhất của lịch sử Việt Nam. Người tên thật là Trần Khâm, vua Trần thứ ba (sau vua cha Trần Thánh Tông và trước vua Trần Anh Tông). Với 50 năm cuộc đời, vua Phật Trần Nhân Tông đã kịp làm được ít nhất năm việc lớn hiếm thấy và khó ai bì kịp ở mọi dân tộc và mọi thời đại: 1) Minh quân lỗi lạc, làm vua 15 năm (1278 – 1293) trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến hai lần đánh thắng quân Nguyên Mông là đội quân xâm lược hùng mạnh nhất thời đó; 2) Tổ sư thiền phái Trúc Lâm và Thái Thượng Hoàng 15 năm (1294-1306) là vua Phật Việt Nam. 3) Nhà văn hóa và nhà thơ kiệt xuất với kiệt tác thơ Thiền Trần Nhân Tông và thắng tích Trúc Lâm Yên Tử; 4) Người thầy chiến lược vĩ đại muôn đời của kế sách một chữ “đồng” “vua tôi đồng lòng, toàn dân đồng sức”, nhược thắng cường, yếu thắng mạnh, nước nhỏ thắng nước lớn, sự nghiệp mở nước và thống nhất non sông Việt bằng vương đạo, thuận thời, thuận người . 5) Nhà trị loạn kỳ tài đã hưng thịnh nhà Trần và cứu nguy cho nước Việt ở thời khắc quyết định, biến nguy thành an, biến những điều không thể thành có thể.
Kiệt tác thơ thiền đức Nhân Tông là đỉnh cao thơ Thiền thời Trần:
Cư trần lạc đạo phú
Đại Lãm Thần Quang tự
Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca
Đăng Bảo Đài sơn
Đề Cổ Châu hương thôn tự
Đề Phổ Minh tự thủy tạ
Động Thiên hồ thượng
Họa Kiều Nguyên Lãng vận
Hữu cú vô cú
Khuê oán
Lạng Châu vãn cảnh
Mai
Nguyệt
Nhị nguyệt thập nhất nhật dạ
Quỹ Trương Hiển Khanh xuân bính
Sơn phòng mạn hứng
I
II
Sư đệ vấn đáp
Tán Tuệ Trung thượng sĩ
Tảo mai
I
II
Tặng Bắc sứ Lý Tư Diễn
Tây chinh đạo trung (tái chinh Ai Lao)
Thiên Trường phủ
Thiên Trường vãn vọng
Tống Bắc sứ Lý Trọng Tân, Tiêu Phương Nhai
Tống Bắc sứ Ma Hợp, Kiều Nguyên Lãng
Trúc nô minh
Tức sự
I
II
Vũ Lâm thu vãn
Xuân cảnh
Xuân hiểu
Xuân nhật yết Chiêu Lăng
Xuân vãn
Lên non thiêng Yên Tử, khảo sát điền dã những chứng tích lịch sử văn hóa lưu dấu mãi với thời gian. “Soi sáng lại chính mình là phận sự gốc, chẳng từ nơi khác mà được.” (Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc.). Đức Nhân Tông viết về sự đạt ngộ với người thầy là Tuệ Trung Thượng Sĩ . “Nghe xong, tôi thông suốt được đường vào, bèn vén áo thờ Ngài làm thầy”. “Soi sáng lại chính mình” chứ không tìm kho báu ở đâu khác là trí tuệ siêu việt của vua Phật Trúc Lâm Yên Tử Trần Nhân Tông.

V. CHA CON HIẾN TỪ THÁI HẬU
Vua Trần Anh Tông (Trần Thuyên) có người em ruột là Trần Quốc Chẩn danh tướng Nhập nội Quốc Phụ Thượng Tể, cha ruột của Huy Thánh công chúa là Hiến Từ Thái Hậu. Cha và Con Hiến Từ Thái Hậu soi tỏ giai đoạn hai của nhà Trần sau thịnh thế đã kế tục và suy vi như thế nào.
Trần Quốc Chẩn (1281-1328) là một trong những danh tướng kiệt xuất của nhà Trần, tài đức vẹn toàn, hết lòng vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Trần Quốc Chẩn sinh ngày 29 tháng 1 năm Thiệu Bảo thứ 3 (tức 19 tháng 2 năm 1281). Ông là con trai thứ của vua Trần Nhân Tông, em ruột của Thái tử Trần Thuyên, sau là vua Trần Anh Tông. Sau khi Trần Nhân Tông nhường ngôi cho Thái tử Trần Thuyên, tức vua Trần Anh Tông, ông được phong là Huệ Vũ Đại vương khi mới 13 tuổi. Mặc dù tuổi còn nhỏ, nhưng ông rất được vua cha và vua anh yêu mến. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Thượng hoàng có lần ngự cung Trùng Quang, vua đến chầu, quốc công Quốc Tuấn đi theo. Thượng hoàng nói:”Nhà ta vốn là người hạ lưu (thủy tổ người Hiền Khánh), đời đời chuộng dũng cảm, thường xăm hình rồng vào đùi. Nếp nhà theo nghề võ, nên xăm rồng vào đùi để tỏ là không quên gốc”. Bấy giờ thợ xăm đã đợi mệnh ở ngoài cửa cung. Vua rình lúc Thượng hoàng quay nhìn chỗ khác, về ngay cung Trùng Hoa. Một lúc lâu, Thượng hoàng hỏi Quan gia đâu rồi, các quan tả hữu thưa là đã về cung Trùng Hoa. Thượng hoàng bảo: “Quan gia đã trốn rồi chăng? thì xăm cho Huệ Vũ Quốc Chẩn vậy”. Quốc phụ có xăm hình rồng ở đùi, mà về sau nối ngôi không xăm ở đùi nữa là bắt đầu từ Anh Tông. Năm Hưng Long thứ 10 (1302), ông được phong chức Nhập nội Bình chương, tương đương Tể tướng. Năm Hưng Long thứ 20 (1312), Chiêm Thành lấn chiếm biên giới phía nam Đại Việt. Anh Tông ngự giá thân chinh, đến phủ Lâm Bình, chia quân làm ba đường, sai Trần Quốc Chẩn theo đường núi, Trần Khánh Dư theo đường biển, đích thân vua tự dẫn sáu quân theo đường bộ; thủy bộ, cùng tiến đánh. Một lần quân Chiêm định tập kích ngự doanh, quân Trần Quốc Chẩn kịp thời cứu viện, phối hợp với Đoàn Nhữ Hài bao vây, bức hàng quân Chiêm Thành thắng lợi, quân Trần không tốn một mũi tên. Năm Đại Khánh thứ 5 (1318), vua Trần Minh Tông sai ông cùng tướng quân Phạm Ngũ Lão tiếp tục đi đánh dẹp quân Chiêm Thành thu được thắng lợi lớn, giữ yên bờ cõi quốc gia. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Trước đây, Anh Tông không khỏe, vua ngày đêm ở luôn ngoài cửa phòng ngủ của Thượng hoàng, mỗi khi vào thăm thì cùng đi với Quốc Chẩn. Vì Anh Tông tin cậy Quốc Chẩn hơn cả, định đem vua gửi gắm Quốc Chẩn, cho nên không cho vào thăm một mình, mà phải cùng đi với Quốc Chẩn, cốt để cho tình nghĩa vua tôi được khăng khít và không còn nghi ngại gì nữa“. Do có nhiều công lao với triều đình, năm Khai Thái thứ nhất (1324), Trần Quốc Chẩn được vua Trần phong chức: Nhập nội Quốc phụ Thượng tể – chức quan đầu triều coi giữ lục bộ Thượng Thư. Sử cũ còn ghi nhận Trần Quốc Chẩn không chỉ là người có tài trong việc cầm quân xung trận mà ông còn là người nổi tiếng đức độ, được các quan trong triều hết lòng nể phục. Ông là người được vua Trần Anh tông rất quý. Về sau vua Minh Tông lại lấy con gái của Quốc Chẩn phong làm Lê Thánh hoàng hậu, ông càng được tin dùng. Minh Tông giữ ngôi được 15 năm (từ năm 1314 đến năm 1329) tuổi đã cao mà chưa lập được Thái Tử. Quốc Chẩn có ý đợi Lê Thánh hoàng hậu sinh con trai thì mới lập. Lúc bấy giờ Cương Đông Văn Hiến Hầu (không rõ tên) là con của Tá thánh Trần Nhật Duật muốn đánh đổ Hoàng Hậu để lập Thái tử Vượng (sau là Trần Hiến Tông) mới đem của đút cho gia thần của Quốc Chẩn là Trần Nhạc 100 lạng vàng bảo Trần Nhạc vu cáo cho Quốc Chẩn có âm mưu làm phản. Vua cả tin cho là thật liền ra lệnh bắt giam ngay Quốc Chẩn vào chùa Tư Phúc ở kinh sư rồi đem việc ấy hỏi Thiếu bảo Trần Khắc Chung. Khắc Chung cùng cánh với Văn Hiến Hầu, lại cùng với mẹ thái tử Vượng Anh Tư nguyên phi Lê thị, đều là người Giáp Sơn (Kinh Môn) và đã từng làm thầy dạy thái tử Vượng, liền trả lời: “Bắt hổ thì dễ, thả hổ thì khó”. Minh Tông truyền bắt Quốc Chẩn phải tuyệt thực. Lê Thánh hoàng hậu khi vào thăm cha đã lấy áo nhúng nước mặc vào người rồi vắt ra cho cha uống. Trong khi đó, Anh Tư phu nhân muốn cho Huệ Vũ vương chết sớm để con mình được lập làm Thái tử, liền cho người mang nước tẩm độc cho Huệ Vũ vương uống, uống xong thì chết. Sau Quốc Chẩn chết, hưởng dương 47 tuổi. Cuối năm đó, Minh Tông lập Hoàng tử Trần Vượng làm Thái tử. Vài năm sau, vợ lẽ của Trần Nhạc ghen với vợ cả, tố cáo sự thật, đem việc Văn Hiến Hầu đút vàng tâu lên vua. Việc giao xuống ngục quan xét, Lê Duy là người cương trực đem xét hỏi ngay ngày hôm ấy. Trần Phẫu phải tội lăng trì (tức xẻo thịt từng miếng cho đến chết), nhưng chưa kịp hành hình thì gia nô của Thiệu Vũ (con Quốc Chẩn) đã xẻo thịt Trần Phẫu ăn sống gần hết. Văn Hiến Hầu tuy được tha tội chết, nhưng giáng làm thứ nhân, tước bỏ tên họ trong hoàng tộc. Trần Minh Tông lúc nào cũng bị ám ảnh bởi vụ án oan của cha vợ. Để sửa sai, nhà vua đã cho khôi phục chức tước, sai lập đền thờ Trần Quốc Đền Quốc phụ thờ ông nằm bên tả ngạn sông Kinh Thầy là một trong tám di tích thuộc “Chí Linh bát cổ” nổi tiếng được nhiều sử sách ghi nhận. Trước kia đền thuộc xã Kiệt Đặc, huyện Chí Linh nay thuộc thôn Nẻo, phường Chí Minh, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Đến năm Giáp Thân (1341), thời Trần Dụ Tông, vụ án Trần Quốc Chẩn được minh oan hoàn toàn. Thượng hoàng Minh Tông phục chức: Nhập nội Quốc Phụ Thượng Tể cho ông. Giết oan nhạc phụ, vua Trần Minh Tông làm bài thơ ân hận: Dạ vũ. Thu khí hòa đăng thất thự minh/ Bích tiêu song ngoại đệ tàn canh/ Tự tri tam thập niên tiền thác/ Khẳng bả nhàn sầu đối vũ thanh. Dịch nghĩa: Hơi thu và ánh đèn mờ đi trước ánh ban mai, Tàu chuối xanh ngoài cửa sổ tiễn canh tàn. Tự biết sai lầm của ta ba mươi năm trước, Đành ôm sầu ngồi nghe mưa rơi. Vũ Minh Am dịch thơ: Mưa đêm
Hừng sáng, đèn nhòa, nhạt khí thu,
Ngoài song tàu chuối tiễn đêm mờ.
Ba mươi năm trước ta lầm lỗi,
Ôm nỗi hận sầu lắng tiếng mưa.
Hiến Từ thái hậu là con gái của Huệ Vũ đại vương Trần Quốc Chẩn. Bà được thụ phong là Huy Thánh công chúa từ nhỏ. Huệ Vũ vương Trần Quốc Chẩn là con trai thứ của Trần Nhân Tông. Hiến Từ thái hậu gọi Trần Nhân Tông hoàng đế là ông nội, Trần Anh Tông là bác, Trần Minh Tông là anh họ, sau này là chồng (theo tục lệ vua chúa thời Trần cận giao để ngôi vua không truyền ra ngoài). Hiến Từ thái hậu là hoàng hậu của hoàng đế Trần Minh Tông, mẹ ruột của hoàng đế Trần Dụ Tông, Cung Túc vương Trần Nguyên Dục và Thiên Ninh công chúa Ngọc Tha. Bà được các hoàng đế Trần Hiến Tông, Trần Nghệ Tông, Trần Duệ Tông xem là mẹ đích và kính trọng. Bà có thân thế hiển hách bậc nhất trong các Hoàng hậu nhà Trần, cũng như trong các triều đại về sau, khi có họ hàng gần huyết thống với dòng chính thống Hoàng đế nhất.
Chuyện Hiến Từ thái hậu: Năm 1301, Anh Tông đã gả em gái mình là Thiên Trân công chúa cho Uy Túc công Trần Văn Bích. Năm 1309, công chúa mất, Uy Túc công lại lấy Huy Thánh công chúa về làm phu nhân. Sau đó, bà lại trở về nhà cha là Huệ Vũ vương, được sắp đặt chọn làm Hoàng hậu cho Minh Tông, không rõ bà ly hôn hoặc bị buộc phải bỏ Uy Túc công. Năm 1323, Minh Tông hoàng đế lúc này đã 23 tuổi, Huy Thánh công chúa được Minh Tông lấy làm Hoàng hậu, phong làm Lệ Thánh hoàng hậu. Năm 1328, Lệ Thánh hoàng hậu kết hôn với Minh Tông đã lâu mà vẫn chưa sinh hạ Hoàng tử kế thừa đại thống. Minh Tông muốn lập Hoàng tử Trần Vượng, con của Anh Tư phu nhân đang đắc sủng làm Thái tử, nhưng Huệ Vũ vương can ngăn. Từ trước đến nay, các Hoàng đế nhà Trần đều sinh ra từ các Hoàng hậu có dòng máu trong nội tộc. Tuy Minh Tông không phải con ruột của Bảo Từ hoàng thái hậu, mẹ sinh là Chiêu Từ hoàng thái hậu là con của một người ngoại tộc là Trần Bình Trọng, nhưng mẹ của Chiêu Từ là Thụy Bảo công chúa, con gái của Trần Thái Tông nên huyết thống vẫn còn. Anh Tư phu nhân vốn là con gái quan viên cấp thấp họ Lê, người Giáp Sơn, Thanh Hóa, dòng máu hoàn toàn khác xa hoàng tộc nên không thể lấy con của phu nhân làm Thái tử, dù đó là con trưởng của Minh Tông. Huệ Vũ vương can ngăn quyết liệt, Minh Tông cũng đành để yên chuyện mà thôi ý định nhưng trong lòng đã sớm buồn bực Huệ Vũ vương.

và hồ Trại Lốc ở Đông Triều 2019
(ảnh: http://nhatranodongtrieu.vn)
Khu di tích quốc gia đặc biệt nhà Trần tại Đông Triều gồm 18 điểm di tích chính: Thái miếu, đền An Sinh, chùa thượng Ngọa Vân, chùa trung Ngọa Vân, chùa Hồ Thiên, chùa Quỳnh Lâm, chùa Ngọc Thanh, lăng Tư Phúc, lăng Đồng Thái, Nguyên lăng, di tích Đá Chồng, am Mộc Cảo, nhà ga Cáp treo… Thái miếu nhà Trần là một trong những di tích quan trọng nằm trong quần thể Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt nhà Trần tại Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Thái miếu là chốn linh thiêng nhất, là nơi thờ cúng tổ tiên của nhà Trần và 14 vị vua Trần. Chính vì thế, nơi đặt Thái miếu (thường là ở quê gốc của đức Thái tổ) vẫn được coi là kinh đô thứ hai của triều Trần ; xem video HNP Đền An Sinh làng An Sinh huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh https://www.facebook.com/watch?v=789499666178005
… Sau nỗi oan ngất trời Huệ Vũ Vương Trần Quốc Chẩn bị Anh Tư phu nhân mẹ của thái tử Trần Vượng đầu độc chết, năm 1329, Minh Tông nhường ngôi cho Hoàng thái tử Trần Vượng, sử gọi là Trần Hiến Tông. Lệ Thánh hoàng hậu được tôn là Lệ Thánh Thái thượng hoàng hậu. Trần Hiển Tông làm Hoàng đế được 13 năm thì qua đời, không có con cái. Lúc này, Lệ Thánh hoàng hậu đã sinh Cung Túc vương Trần Nguyên Dục, Thiên Ninh công chúa Trần Ngọc Tha và Hoàng tử Trần Hạo. Trong số đó, Trần Hạo thông minh, nhanh nhẹn hơn cả nên được Trần Minh Tông chọn làm Hoàng đế kế vị, tức Trần Dụ Tông. Minh Tông vẫn giữ quyền điều hành đất nước.
Năm 1258, Thượng hoàng Minh Tông qua đời, Lệ Thánh hoàng hậu được tôn làm Tuyên Thánh hoàng thái hậu. Khi Minh Tông mất, bà muốn đi tu, nhưng nghe theo lời dặn cuối của Minh Tông, nên bà đã không thụ giới nhà Phật mà ở ngôi Thái hậu để kiềm chế những sai lầm của vua Dụ Tông, như việc Dụ Tông chút nữa là sát hại Thái úy Cung Tĩnh Đại vương Trần Nguyên Trác. Thái hậu đã ngăn cản vua giết Nguyên Trác vì tội “Nguyên Trác yểm bùa hại vua. Đại Việt Sử ký toàn thư có chép một giai thoại về bà: Thái hậu vốn người nhân hậu, có nhiều công lao giúp rập.
Trước kia, khi Minh Tông còn ngự ở Bắc Cung, có tên gác cổng bắt được con cá bống trong giếng Nghiêm Quang, trong mồm có ngậm vật gì, moi ra thì thấy có chữ, đó là bùa yểm, có ghi các tên Dục Tông, Cung Túc, Thiên Ninh (đều là các con đẻ của Hiến Từ). Tên gác cổng cầm lá bùa tâu lên vua. Minh Tông sợ lắm, truyền bắt hết các cung nhân, bà mụ, thị tỳ trong cung để tra hỏi.Thái hậu thưa: “Khoan đã, sợ trong đó có kẻ bị oan, thiếp xin tự mình bí mật xét hỏi đã”. Minh Tông nghe theo. Thái hậu sai người hỏi tên gác cổng rằng: “Gần đây, phòng nào trong cung mua cá bống?”. Tên gác cổng trả lời là thứ phi Triều Môn. Thái hậu nói cho Minh Tông biết. Minh Tông lập tức ra lệnh tra xét cho ra. Thái hậu tâu:“Đây là việc trong cung, không nên để hở ra ngoài. Thứ phi Triều Môn là con gái của Cung Tĩnh Vương, nếu để hở ra thì Quan gia sẽ sinh hiềm khích với Thái úy. Thiếp xin ỉm việc này đi không xét hỏi nữa!”. Minh Tông khen bà là người hiền. Đến khi Minh Tông băng, tướng quân Trần Tông Hoắc muốn tỏ ra trung thành với Dụ Tông, thêu dệt việc đó ra, làm Thiếu úy suýt nữa bị hại, nhờ Thái hoàng cố sức cứu đỡ mới thoát. Người bấy giờ ca ngợi bà là đã trọn đạo làm mẹ, tuy là phận con đích, con thứ không giống nhau, mà lòng nhân từ thì đối với con nào cũng thế, làm cho ân nghĩa vua tôi, anh em, cha con không một chút thiếu sót, từ xưa đến nay chưa có ai được như vậy. Người xưa có nói “Nghiêu Thuấn trong nữ giới”, Thái hậu được liệt vào hàng ấy. Bà từng hối tiếc về việc lập Nhật Lễ. Nhật Lễ ngấm ngầm đánh thuốc độc giết bà.”
Dương Nhật Lễ tên khác Trần Nhật Kiên là một vị vua nhà Trần không có miếu hiệu, còn gọi Hôn Đức công kế vị Trần Dụ Tông. Ông ở ngôi từ ngày 15 tháng 6 năm Kỷ Dậu (tức 18 tháng 7 năm 1369) đến ngày 13 tháng 11 năm Canh Tuất (tức 1 tháng 12 năm 1370). Ông chỉ đặt một niên hiệu Đại Định và ở ngôi hơn 1 năm thì bị Cung Định vương Trần Phủ truất ngôi. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, không rõ Dương Nhật Lễ sinh năm nào, ông vốn là con của kép hát Dương Khương. Mẹ ông là vợ Dương Khương, là một người múa hay lại có nhan sắc, do hay diễn Tây Vương Mẫu trong vở Vương Mẫu hiến bàn đào, bà được gọi thông dụng là Vương mẫu. Khi Vương Mẫu đã có mang ông nhưng đã bị Cung Túc vương Trần Nguyên Dục, anh cùng mẹ của Trần Dụ Tông lấy làm vợ. Khi ông sinh ra, Cung Túc vương Dục nhận làm con mình. Ngày 25 tháng 5 năm Kỷ Dậu (tức 29 tháng 6 năm 1369), Trần Dụ Tông băng hà. Trước khi mất, ông đã ban chiếu truyền ngôi cho Dương Nhật Lễ (trên danh nghĩa là con của người anh ruột của vua). Hiến Từ Thái hậu đồng ý di chiếu cho đón ông lên ngôi, đặt niên hiệu Đại Định và truy tặng Cung Túc vương là Hoàng thái bá. Cùng lúc này, sứ đoàn nhà Minh sang sắc phong cho Trần Dụ Tông tới Việt Nam. Nhật Lễ (tên ngoại giao với nhà Minh là Trần Nhật Kiên) xin được thụ phong nhưng sứ nhà Minh là Trương Dĩ Ninh không đồng ý. Nhật Lễ phải cử sứ là Đỗ Thuấn Khâm sang nhà Minh báo tang và cầu phong. Theo Đại Việt sử ký toàn thư ghi nhận, Đại Định Đế lên ngôi nhưng bỏ bễ công việc, ham chơi, rượu chè, cho đón cha ruột Dương Khương vào triều, giữ chức Lệnh thư gia, có ý đổi sang họ Dương khiến các quan trong triều bất bình. Hiến Từ Thái hậu, mẹ Dụ Tông tỏ ý hối hận việc lập Nhật Lễ. Nhật Lễ bèn ngầm đánh thuốc độc giết chết bà vào ngày 14 tháng 12 năm Kỷ Dậu (tức 12 tháng 1 năm 1370). Đêm ngày 20 tháng 9 năm Canh Tuất (tức 9 tháng 10 năm 1370), cha con quan Thái tể Cung Tĩnh vương Trần Nguyên Trác, Trần Nguyên Tiết và hai người con của Thiên Ninh công chúa, chị gái Dụ Tông đem người tôn thất vào thành định giết Đại Định. Đại Định Đế trèo qua tường, nấp dưới cầu mới. Mọi người lùng không thấy, giải tán ra về. Khi trời sắp sáng, Đại Định Đế vào cung, chia người đi bắt Nguyên Trác cùng 17 người chủ mưu và giết hết.
Anh khác mẹ của Trần Dụ Tông là Cung Định vương Trần Phủ (tức vua Trần Nghệ Tông), vì có con gái làm Hoàng hậu của Nhật Lễ, sợ vạ lây đến mình nên tránh ra trấn Đà Giang (tức Gia Hưng), ngầm hẹn với các em là Cung Tuyên vương Trần Kính, Chương Túc thượng hầu Trần Nguyên Đán, Thiên Ninh công chúa Ngọc Tha hội ở sông Đại Lại, phủ Thanh Hóa để dấy quân. Trần Kính giúp ông đảm nhận việc sắm sửa mọi vũ khí, trang bị quân đội. Khi ấy, Đại Định Đế Dương Nhật Lễ chuyên dùng thiếu úy Trần Ngô Lang mà không biết Ngô Lang đồng mưu với Trần Phủ. Mỗi khi sai quân tướng đi đánh bắt, Ngô Lang đều bí mật bảo họ theo Trần Phủ đừng về nữa. Rất nhiều lần sai các quân Nam, Bắc đi đánh, đều không một ai trở về. Do đó quân của Trần Phủ, Trần Kính mạnh thêm. Ngày 13 tháng 11 năm Canh Tuất (tức 1 tháng 12 năm 1370), Trần Phủ đến phủ Kiến Hưng, truất Nhật Lễ làm Hôn Đức công.
Ngày 15, Phủ lên ngôi, tức Trần Nghệ Tông. Ngày 21 tháng ấy, Trần Phủ cùng Trần Kính và Thiên Ninh công chúa dẫn quân về kinh, sai giam Nhật Lễ ở phường Giang Khẩu. Dương Nhật Lễ tới lúc đó mới biết mình bị Trần Ngô Lang phản bội. Trong khi bị giam giữ, ông lừa gọi Trần Ngô Lang đến gần rồi bóp cổ giết chết Trần Ngô Lang. Trần Nghệ Tông bèn lập tức hạ lệnh giết chết Dương Nhật Lễ và con ông là Liễu, rồi sai đem chôn ở núi Đại Mông. Nhật Lễ ở ngôi được hơn một năm, không rõ thọ bao nhiêu tuổi. Sai lầm lớn nhất của Nhật Lễ là định đổi sang họ Dương khiến tôn thất nhà Trần nắm quyền bính khắp trong nước xúm lại tìm cách lật đổ. Tần Thủy Hoàng trước đây cũng phải đối mặt với tiếng tăm về thân thế và cũng có những việc làm thô bạo, thất đức nhưng đã khôn khéo suốt đời không đổi sang họ Lã, giết luôn Lã Bất Vi người bị dị nghị là cha mình, và tìm cách đàn áp thẳng tay những ai có ý định khơi chuyện này để chống đối. Bởi thế Tần Thủy Hoàng giữ được ngôi vị trọn vẹn. Nhật Lễ mắc hàng loạt sai lầm nên nhanh chóng bị lật đổ.

VI. TRẦN DUỆ TÔNG HẬU TRẦN
Vua Trần Duệ Tông là vua thứ 9 của nhà Trần, tên húy là Trần Kính, là con thứ 11 của vua Trần Minh Tông, là em của ba vị vua: Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông và Trần Nghệ Tông. Ông sinh ngày 2 tháng 6 năm Đinh Sửu (1337); năm 1372 được vua anh là Trần Nghệ Tông nhường ngôi, ở ngôi 6 năm, ngày 24 tháng 1 năm Đinh Tỵ (1377) tử trận tại thành Đồ Bàn (Vijaya), thọ 41 tuổi. Vua Trần Duệ Tông là người có cá tính mạnh mẽ, mang hoài bão chấn hưng quốc gia. Khi Trần Nghệ Tông tránh loạn của Dương Nhật Lễ, mọi vũ khí, quân đội đều do Trần Kính đảm nhận, do vậy, vua Nghệ Tông đã truyền ngôi cho em. Năm 1372, sau khi được vua anh Trần Nghệ Tông nhường ngôi, ông để tâm lo toan việc trị nước, kén tướng luyện quân, đặt khoa thi, lấy người tài, đồng thời chú trọng đề cao ý thức dân tộc, bảo vệ thuần phong mỹ tục, biểu hiện ý thức tự lập, tự cường. Để làm được điều đó, ông lệnh cho quân dân không được mặc áo kiểu người phương Bắc, không bắt chước tiếng nói của các nước Chiêm (Chăm-pa), quy định về mẫu mã các loại thuyền, xe, kiệu, tán, nghi, trượng và y phục. Vào cuối thời Trần, lợi dụng tình hình Đại Việt suy yếu, quân Chăm-pa thường xuyên đem quân quấy phá vùng biên giới, thậm chí nhiều lần đánh chiếm Thăng Long. Vì quá nôn nóng trong việc tiêu diệt họa xâm lấn của Chăm-pa, Trần Duệ Tông đã thân chinh đi đánh Chăm-pa. Tháng Giêng năm 1377 khi cầm quân tiến vào thành Đồ Bàn (Vijaya) ông bị mắc kế phục binh của Chế Bồng Nga mà tử nạn tại thành Đồ Bàn (Bình Định). Cái chết của Duệ Tông là bước ngoặt lớn đối với nhà Trần thời hậu kỳ, Thượng hoàng Nghệ Tông nhu nhược, vốn hoàn toàn dựa vào ông nên khi ông mất đã hoàn toàn dựa vào Hồ Quý Ly, thế nước Đại Việt suy kém, quân Chăm-pa tự do hoành hành, tàn phá kinh đô Thăng Long. Cơ nghiệp nhà Trần từ đây suy sụp.

VII. HẬU TRẦN QUA THƠ ĐẶNG DUNG
Hồ Quý Ly cướp ngôi vua nhà Trần Triều đình nhà Minh bên Trung Quốc nắm lấy cơ hội dương lên ngọn cờ “hưng Trần, diệt Hồ” vin cớ đem 20 vạn quân sang đánh chiếm nước ta. Trần Ngỗi con thứ của vua Trần Nghệ Tông dấy binh nổi lên chống lại quân Minh để khôi phục nhà Trần, tháng 10 năm 1407 lên ngôi vua xưng là Giản Định Đế. Bấy giờ có quan Đại tri châu là Đặng Tất kéo quân đến hợp lực được phong làm Quốc Công. Tháng 6 năm 1408 Đặng Tất phá được tri phủ ngụy là Đặng Thế Căng ở của biển Nhật Lệ và núi An Đại Lệ Thủy. Tháng 12 lại đại phá quân Minh ở Bồ Cô, nhưng vua tin lời gièm của bọn hoạn quan nên đã giết Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Con của Đặng Tất là Đặng Dung và con của Nguyễn Cảnh Chân là Nguyễn Cảnh Dị căm phẩn vì cha không có tội mà bị giết nhưng không vì thù nhà mà bỏ việc nước . Hai người tìm minh chủ khác là Trần Quý Khoáng đón lên làm vua và tiếp tục chống quân Minh. Đặng Dung có kiệt tác “Cảm hoài” nói về thế sự buổi ấy và tâm sự của ông:
CẢM HOÀI
Đặng Dung
Việc đời bối rối tuổi già vay,
Trời đất vô cùng một cuộc say.
Bần tiện gặp thời lên cũng dễ,
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay.
Vai khiêng trái đất mong phò chúa,
Giáp gột sông trời khó vạch mây.
Thù trả chưa xong đầu đã bạc,
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.
Bản dịch Phan Kế Bính . Sách Văn đàn bảo giám (NXB Văn học, 2004) ghi người dịch là Trần Trọng Kim.
Nguồn:
1. Phan Kế Bính, “Đại Nam nhất thống chí”, Đông Dương tạp chí, số 116
2. Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, NXB Tân Việt, 1951
3. Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, Trung tâm học liệu xuất bản, 1968
Nguyên tác:
感懷【述懷】
世事悠悠奈老何,
無窮天地入酣歌。
時來屠釣成功昜,
運去英雄飲恨多。
致主有懷扶地軸,
洗兵無路挽天河。
國讎未報頭先白,
幾度龍泉戴月磨。
Cảm hoài [Thuật hoài]
Thế sự du du nại lão hà,
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời lai đồ điếu thành công dị,
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí chúa hữu hoài phù địa trục,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.
Nhà Trần trong sử Việt, một bài học sâu sắc.

VIII. TRẦN QUANG KHẢI THƠ THẦN
Bài thơ “ Tụng giá hoàn kinh sư “ nổi tiếng do Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải (1241-1294) sáng tác ngày 6 tháng 6 năm 1285: “Chương Dương cướp giáo giặc, Hàm Tử bắt quân thù. Thái bình nên gắng sức, Non nước ấy ngàn thu.“Tụng giá hoàn kinh sư nguyên văn chữ Hán 從 駕 還 京 奪 槊 章 陽 渡 擒 胡 鹹 子 關 太 平 宜 努 力 萬 古 此 江 山 phiên âm Hán Việt Đoạt sáo Chương Dương độ Cầm Hồ Hàm Tử quan Thái bình tu trí lực Vạn cổ thử giang san đươc thượng tướng thái sư Trần Quang Khải viết sau khi quân dân nhà Trần chiến thắng quân Nguyên lần thứ hai năm 1285. Bài thơ nói về cảm xúc một vị tướng trên đường theo xa giá vua Trần Nhân Tông và Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông trở về kinh đô, đồng thời ca ngợi đội quân nhà Trần trong việc bảo vệ non sông đất nước. Hiện có ba bản dịch, bản trên là của Trần Trọng Kim, bản khác của Ngô Tất Tố. và Trinh Đường] Bài thơ được đưa vào chương trình sách giáo khoa lớp 7, tập một. Trần Quang Khải thơ thần là sử thi tổng kết bài học Nhà Trần trong sử Việt có giá trị to lớn đặc biệt sâu sắc.
Trang thơ Trần Quang Khải trên Thi Viện của chủ bút Đào Trung Kiên đã đúc kết và có những bài sau: https://www.thivien.net/Tr%E1%BA%A7n-Quang-Kh%E1%BA%A3i/author-X3Oume1_mYQvTGcgMAhydQ. “Dưới triều Trần Thánh Tông (1258-1278), ông làm Tướng quốc thái uý, tước Đại vương; đến triều Nhân Tông (1279-1293) lại được thăng chức Thượng tướng thái sư. Cùng với Trần Quốc Tuấn, ông cũng là một nhân vật trọng yếu của vương triều, đã đóng góp nhiều công sức vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước đương thời. Trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông (1284-1285, 1287-1288), Quang Khải là một trong những người đóng vai trò chủ chốt. Ông có mặt ở nhiều chiến trường quan trọng và đã tham gia trận phản công lớn, đánh tan quân giặc ở Hàm Tử, Chương Cương giải phóng kinh thành Thăng Long.“ “Trần Quang Khải học rộng biết nhiều, chẳng những là một tướng cầm quân giỏi mà còn là một nhà ngoại giao có tài, một nhà thơ với những vần thơ “sâu xa lý thú”. Ông là một trong những tác gia tiêu biểu của văn học thời thịnh Trần. Trong thơ văn ông có thể tìm thấy một tinh thần yêu nước kiên cường, một tấm lòng gắn bó với con người và tạo vật, một khí phách anh hùng tiêu biểu cho dân tộc. Khi ông đi chiến trận, Trần Thánh Tông đã tặng lá cờ với hai câu thơ: Nhất đại công danh thiên hạ hữu, Lưỡng triều trung hiếu thế gian vô. (Công danh trọn một đời, thiên hạ còn có người như ông, Tấm lòng trung hiếu đối với hai triều vua thì thế gian không ai có.) Tác phẩm có tập thơ Lạc đạo, nhưng đã mất, hiện chỉ còn lại 11 bài.
- Đề Bạch Mã từ4
- Đề dã thự11
- Lưu Gia độ9
- Phúc Hưng viên6
- Tặng bắc sứ Sài Trang Khanh, Lý Chấn Văn đẳng4
- Tống bắc sứ Sài Trang Khanh3
- Tụng giá hoàn kinh sư10
- Xuân nhật hữu cảm kỳ 16
- Xuân nhật hữu cảm kỳ 25
Tuyển tập chung 10
Thơ văn Lý Trần tập II (1988)
- Đề Bạch Mã từ4
- Đề dã thự11
- Lưu Gia độ9
- Phúc Hưng viên6
- Tặng bắc sứ Sài Trang Khanh, Lý Chấn Văn đẳng4
- Tống bắc sứ Sài Trang Khanh3
- Tụng giá hoàn kinh sư10
- Xuân nhật hữu cảm kỳ 16
- Xuân nhật hữu cảm kỳ 25
Việt Nam bách gia thi (2005) – 越南百家詩
Tụng giá hoàn kinh sư10
Hoàng Kim (Đại Học Nông Lâm)22/12/2025 10:36 đã bình luận nhanh:
Kim Hoàng xin lạm thẩm bình: Tác giả thật sự: Bài thơ “Thượng Phụ Cựu Cư” (Chữ Hán: 上符舊居) là của Trần Quang Khải. Ông là một danh tướng nhà Trần, có nhiều đóng góp lớn cho đất nước. Nội dung bài thơ: Bài thơ mô tả lại cảnh phủ đệ cũ của Trần Thủ Độ, người có công lớn xây dựng nên nhà Trần, và là một vị Thượng Phụ. Sự nhầm lẫn: Có thể có sự nhầm lẫn giữa hai nhân vật cùng thời hoặc do tên gọi tương tự, dẫn đến việc gán nhầm bài thơ này cho Nguyễn Sưởng. Nguyễn Sưởng là một danh thần thời Trần, có sự nghiệp và thơ ca của riêng mình, nhưng không phải tác giả của bài thơ này. Vì vậy, khẳng định Nguyễn Sưởng là tác giả bài “Thượng Phụ Cựu Cư” là không chính xác.
Nguyên tác
尚父舊居
庭檜凌霜老欲鱗,
廢興幾閱世間人。
魚溝水急菰蒲暗,
馬捋堤平草木春。
四海安危存掌握,
兩朝揖遜繫經輪。
英雄如在箕裘絕,
麟閣丹青萬古新。
Thượng Phụ cựu cư
(Trần Quang Khải / hay ? Nguyễn Sưởng?)
Đình cối lăng sương lão dục lân,
Phế hưng kỷ duyệt thế gian nhân.
Ngư câu thuỷ cấp cô bồ ám,
Mã loát đê bình thảo mộc xuân.
Tứ hải an nguy tồn chưởng ác,
Lưỡng triều ấp tốn hệ kinh luân.
Anh hùng như tại cơ cầu tuyệt,
Lân các đan thanh vạn cổ tân.
Đọc Hiểu “Thượng Phụ cựu cư”
Nơi ở cũ của Vị Cha Già Kính Yêu
Vẹn kiếp càn khôn nổi vẩy lân,
Phế hưng trong cõi bậc danh nhân.
Cá câu nước lặng bình yên hạ,
Ngựa xích bờ đê cỏ mướt xuân.
Bốn biển an nguy còn cố chấp,
Hai triều bia đá tỏ kinh luân.
Anh hùng tuyệt đỉnh cầu đối thủ,
Tuần hoàn đổi mới vạn cổ tân.
Hoàng Kim xem thêm bài cuối trang https://hoangkimlong.wordpress.com/2025/12/22/hay-de-toi-doc-lai/. Hoàng Kim trong bài viết này, đã thẩm bình trên chứng cứ và chứng lý văn bản. Hoàng Kim cho rằng Tác giả thật sự: Bài thơ “Thượng Phụ Cựu Cư” (Chữ Hán: 上符舊居) là của Trần Quang Khải. Ông là một danh tướng nhà Trần, có nhiều đóng góp lớn cho đất nước. Nội dung bài thơ: Bài thơ mô tả lại cảnh phủ đệ cũ của Trần Thủ Độ, người có công lớn xây dựng nên nhà Trần, và là một vị Thượng Phụ. Sự nhầm lẫn Thượng Phụ Cựu Cư Trần Thủ Độ với Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn là có thật. Nên có thể có sự nhầm lẫn giữa hai nhân vật cùng thời hoặc do tên gọi tương tự, dẫn đến việc gán nhầm bài thơ này cho Nguyễn Sưởng. Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh văn bản và chất liệu sáng tác thì Nguyễn Sưởng là một danh thần thời Trần, có sự nghiệp và thơ ca của riêng mình, nhưng không phải tác giả của bài thơ này. Vì vậy, khẳng định Nguyễn Sưởng là tác giả bài “Thượng Phụ Cựu Cư” là không chính xác. Vậy nên xếp bài thơ trên vào cụm tác phẩm của Trang thơ Trần Quang Khải thì hợp lý hơn. Hoàng Kim đồng tình với cụ Vũ Bình Lục khi nhận định về đền thờ Trần Thủ Độ và các luận giải liên quan ở Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh cũng như nhiều tài liệu đã giải mã rõ ràng về nguồn gốc và quan hệ nghĩa tử của Thống sư Trần Thủ Độ với Nhà Trần, đã giải mã mối quan hệ ‘thanh mai trúc mã’ (青梅竹馬)của Thượng Phụ cùng Quốc Mẫu Trần Thị Dung là ‘thấy quái mà không quái” (lược sử Nhà Trần trong sử Việt, Hoàng Kim https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nha-tran-trong-su-viet/)
Nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục nói: “Ở núi Hồng Vân, huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh có ngôi chùa lớn. Bên cạnh chùa có ngôi đền cổ. Ban thờ giữa ngôi đền có treo bức hoành phi bốn chữ lớn (đại tự): TRẦN TRIỀU THƯỢNG PHỤ (Bậc Thượng Phụ của triều Trần). Lại còn có đôi câu đối: “Công đáo vu kim, bất đãn Trần gia nhị bách tải / Luận định thiên cổ kỳ tại, Nam thiên đệ nhất lưu”. Nghĩa là: “Công đức (của Ngài) để lại đến nay, không chỉ bó hẹp trong hai trăm năm của triều đại nhà Trần / Sau ngàn đời công luận đã định, Ngài xứng đáng được liệt vào bậc nhất dưới trời Nam”.Ấy vậy mà dân địa phương từ bao năm nay và ngay như cả vị sư trụ trì ngôi chùa vẫn bảo rằng đây là đền thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Họ không biết rằng, ngay ở đời vua Trần Minh Tông trị vì, nhà thơ, cựu quan chức triều đình là ông Nguyễn Sưởng đã có bài thơ chữ Hán THƯỢNG PHỤ CỰU CƯ, viết về quan Thượng Phụ Trần Thủ Độ rồi. Nguyễn Sưởng là thành viên của Thi Xã Bích Động ở Đông Triều, do Văn Huệ Vương Trần Quang Triều sáng lập. Đây chính là Thi đàn đầu tiên, rực rỡ nhất của nước Đại Việt ta. Thái sư Phụ chính Trần Thủ Độ sáng lập triều Trần. Ngài được suy tôn là Thượng Phụ. Thơ của Nguyễn Sưởng đã “Kể” rất rõ rồi đó, cớ sao vẫn nhầm lẫn đến thế? Đôi câu đối cầng nói rõ thêm. Với Hưng Đạo Đại Vương, công tích đã rõ ràng, làm gì còn phải đến “Sau ngàn đời công luận đã định” nữa? Người anh hùng được liệt vào bậc nhất dưới trời Nam ấy, chính là Thượng Phụ trần triều, Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ.”
MỘT SỰ NHẦM LẪN ĐÁNG YÊU ! Vũ Bình Lục Thưa quý bạn! Sự nhầm lẫn lịch sử cũng là sự thường tình. Có cái thông cảm được. Tuy nhiên, ở một số địa chỉ văn hoá, nhất là văn hoá tâm linh, chúng ta vẫn còn có nhiều sai sót không thể thông cảm được. Nó nằm ở đâu? Xin thưa rằng, nó nằm ở chỗ trách nhiệm của các cơ quan quản lý văn hoá, cụ thể hơn là các cơ quan quản lý các di sản văn hoá, từ trung ương đến địa phương. Tôi nói điều này, tất có nhiều vị quan chức không hài lòng, nhưng không thể không nói. Người xưa từng nói VĂN, SỬ TRIẾT BẤT PHÂN. Nghĩa là trong Văn có sử, có triết học và ngược lại.Các nhà nghiên cứu sử học nước ta ngày nay có cả bồ chữ, cả kho tư liệu lịch sử từ sách vở. Nhưng các bạn ấy không biết đến Văn chương. Vậy nên mới dẫn đến những hệ luỵ đáng phiền lòng. Nói thế đủ biết sử học không có văn chương, nó tai hại đến mức nào! Thế nên, nhà bác học Lê Quý Đôn mới phải viết sách QUẦN THƯ KHẢO BIỆN, tức khảo sát trong rừng sách, để biện giải, phản biện lịch sử, nhàm vén lên những khuất tất, những sai sót trong những khoảng mờ, khoảng tối của lịch sử. Tác phẩm của Lê Quý Đôn khiến các nhà sử học Trung Quốc, Triều Tiên phải ngả mũ kính chào. Lê Quý Đôn (gốc họ Lý nước Đại Việt) đã làm vẻ vang cho trí tuệ Đại Việt ta vậy!Tôi nói có gì chưa chuẩn, xin được lượng thứ! Đa tạ! Vũ Bình Lục Ảnh tư liệu Vũ Bình Lục: Đền thờ Trần Thủ Độ ở Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Nguồn trích dẫn : https://www.facebook.com/vu.binh.luc.2025/posts/pfbid02n71FtmratRGw8MWrkcsfi2JyDXwTsgpfXWSu3pjSiYzYvLxVicVf1G5tXdkLBZxG

LƯU GIA ĐỘ
Trần Quang Khải
Lưu Gia độ khẩu thụ tham thiên,
Hỗ tụng đông hành tích bạc thuyền.
Cựu tháp giang đình thu thuỷ thượng,
Hoang từ cổ trủng thạch lân tiền.
Thái bình đồ chí kỷ thiên lý
Lý đại quan hà kỷ bách niên.
Thi khách trùng lai đầu phát bạch
Mai hoa như tuyết chiếu tình xuyên.
Dịch nghĩa:
BẾN ĐÒ LƯU GIA
Bến đò Lưu Gia, cây cao ngất trời
Xưa phò giá sang đông, ta từng đỗ thuyền nơi đây.
Tháp cũ đình xưa ngất ngưởng bên dòng sông thu
Đền hoang mộ cổ thờ ơ trước con lân đá.
Bản đồ Thái Bình rộng mấy ngàn dặm,
Non sông nhà Lý trải hai trăm năm.
Khách thơ trở lại đầu đã bạc,
Hoa mai như tuyết chiếu xuống lòng sông thu buổi trời nắng.
Dịch thơ:
Lưu Gia cây cao ngất trời,
Bến xưa ta hộ giá Người sang Đông.
Tháp đình ngất ngưởng bên sông,
Đền hoang mộ cổ lân không đoái hoài.
Mênh mông phủ Thái rộng dài,
Non sông nhà Lý trải vài trăm năm.
Bạc đầu nay lại về thăm,
Hoa mai như tuyết sáng lòng sông thu.
(VŨ BÌNH LỤC dịch thơ, chú giải và lưu ảnh)
Tôi (Hoàng Kim) xin phép tác giả VBL được lưu ảnh và cẩn chép bài này để nhận được các nguồn chỉ giáo. Xin trân trọng cám ơn! Kim Hoàng (Hoàng Kim).

IX. PHO TƯỢNG NGỌC QUAN ÂM
Nhân Huệ Vương vẹn kiếp
Tỉnh thức càn khôn chốn đại ngàn
Ngọc lành vàng đá giữa lầm than
Hoàng Thành trọn vẹn tinh hoa tốt
Trúc Lâm gìn giữ lửa hương tàn
Vận chuyển thời cơ lưu vẹn kiếp
Mệnh nung tâm huyết chí bền gan
Nhờ ai lem luốc tròn duyên nghiệp
Đất cảm trời thương thấu kẻ hàn.
CỬA ÔNG
Cửa Ông Cẩm Thịnh Cẩm Phú Sơn
Lối cũ đường xưa nhớ tháng năm
Đền Cửa Ông nhớ Trần Quốc Tảng
Lùm Trần Thương hiểu Đức Quốc Công
Con làm viên đá bền Vạn Kiếp
Mẹ thức trời xanh vững Chính Trung
Kê Già ấp ủ nuôi khôn lớn
Mới thấm Vân Đồn một Cửa Ông.
Hoàng Kim Cây Lương Thực thơ cũ đọc lại
VĂN CHƯƠNG NGỌC CHO ĐỜI
Trần Khánh Dư hiệu là Nhân Huệ Vương, là một chính khách, nhà quân sự Đại Việt dưới thời đại nhà Trần. Trần Khánh Dư là con trưởng của thượng tướng Nhân Thành Hầu Trần Phó Duyệt.với Trần Thái Anh. Em trai của Trần Khánh Dư là Trần Lộng, người quan hệ rất mật thiết với Trần Kiện và Trần Ích Tắc với Tỉnh Quốc Công Trần Quốc Khang, mà Nhà Trần trong sử Việt không nhắc đến thì không thể biết rõ Trần Khánh Dư là cháu đích tôn của Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ, người mà khi còn sống, nắm thực quyền và là linh hồn của vương triều Trần. Nhiều uẩn khúc lịch sử thời Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ tới thời cha mẹ và chính bản thân Trần Khánh Dư là “Nghĩa Tử Nam” của vua Trần Thánh Tông, Trần Khánh Dư nghề võ là danh tướng kỳ tài, nghiệp Văn chương ngọc cho đời của ông lưu lại duy nhất một đoản văn lời Tựa và một bài thơ ‘Bán than’ tuyệt bút.
BÁN THAN
Trần Khánh Dư
Một gánh kiền khôn quẩy tếch ngàn
Hỏi chi bán đó, dạ rằng than
Ít nhiều miễn được đồng tiền tốt,
Hơn thiệt nài bao gốc củi tàn
Ở với lửa hương cho vẹn kiếp
Thử xem sắt đá có bền gan
Nghĩ mình lem luốc toan nghề khác
Nhưng sợ trời kia lắm kẻ hàn.

Tôi biết pho tượng Ngọc Quan Âm và định kể câu chuyện này theo trình tự bố cục chặt của lối viết khoa học, cô lập tách biệt chuyện nhỏ gọn gàng dễ hiểu, để có một món quà quê nhân mùa Rằm Đản Sinh gửi tới quý thầy bạn. Nhưng thật lạ lùng, không hiểu sao, có một nghiệp lực vô hình mạnh mẽ cuốn hút, khai mở mách bảo và khuyên tôi rằng hãy vừa noi theo lối cũ vừa cần có lối tiếp hợp mới.
Gỗ TẾCH rất tốt cho bán than, Chính trung sau dinh Thống Nhất có một cây gỗ Tếch,
Pho tượng Ngọc Quan Âm
Sáng mãi ngọc lưu ly
Bài đồng dao huyền thoại
Đường xuân đời quên tuổi
Ngày mới Ngọc cho đời

Hoàng Kim có bài thơ cảm khái Pho tượng Ngọc Quan Âm , Nhân Huệ Vương vẹn kiếp Cửa Ông Trần Quốc Tảng, nương vận bài thơ cổ Trần Khánh Dư bán than TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM #htn, #hoangkimlong, #banmai #vietnamxahoihoc, #htn365, #ana, #dayvahoc, #vietnamhoc, #cnm365, #cltvn, #vietcassava, #annhiên, #đẹpvàhay, https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-19-thang-4
Hoàng Kim tổng hợp biên soạn
(2006-2026) hiệu đính và bổ sung

HÃY ĐỂ TÔI ĐỌC LẠI
LÊN THÁI SƠN HƯỚNG PHẬT

CHIẾU ĐẤT Ở THÁI AN
Hoàng Long và Hoàng Kim***
Chiếu đất ở Thái An
Thế giới trong mắt ai
Trung Quốc một suy ngẫm
Thành tâm với chính mình
“Gió thổi Mạnh
khắp bốn phương
Mây cuộn bay…“ ****
Ta đến Núi Thái Sơn
Cùng Hoàng Long
Chiếu đất ở Thái An
Nhớ Ba Bài Học Lớn
Khoai Hoàng Long
Lúa Siêu Xanh GSR
Lên Thái Sơn Hướng Phật

Lên Thái Sơn Hướng Phật
Xưa Leo Vạn Lý Trường Thành
Viếng Lăng Đức Khổng Tử
Thăm Quê Hán Cao Tổ
Ngẫm Bài Học Tần Vương
Lên Đỉnh Thiên Cổ Sơn
Lên Trúc Lâm Yên Tử
Lên Việt Bắc điểm hẹn
Lên đỉnh Thiên Môn Sơn
Nay #Annhiên#Thungdung
Một gia đình yêu thương
Du lịch màn ảnh nhỏ
Chính Ngọ đoán Kinh Dịch

CHIẾU ĐẤT Ở THÁI AN
Hoàng Long và Hoàng Kim
Tỉnh thức lên Thái Sơn
Thung dung ngủ cội tùng
Chiếu đất ở Thái An
Đêm thiêng chào ngày mới
Ai uống rượu Hàm Hanh
Lòng tưởng nhớ Lỗ Tấn
Ta mang rượu Thái Sơn
Ngon xách về chẳng dễ
“Núi cao ta trồng
Đường rộng ta đi
Tuy đích chưa đến
Nhưng lòng hướng về”
Lên Thái Sơn hướng Phật
Về ngủ bên cội tùng
Trãi một cơn gió bụi
Thoáng chốc ba mươi năm (1996-2026)
(*) Luận Kinh Dịch Cụ Nguyễn
Hoàng Kim @hoangkimvn
Đắc Chính, Đắc Trung, Hiếu, Thiện, Lành
Vô Cầu, Vô Vọng, Lợi, Công, Danh
Đường Trần Thấu Tỏ Lời Thượng Cửu:
“Cứ làm điều phải mà không mong” *
* “Cứ làm điều phải mà không mong” Nguyễn Hiến Lê sao sáng đâ địch Quẻ Thiên Lôi trang 290 lấy ý của Tư MãThiên tâm đắc, Cụ Tư Mã Thiên là Thái Sử Công Thời Hán Vũ Đế. * Trang 290 Nguyễn Hiến Lê 1992 Kinh Dịch Đạo Của Người Quân Tử .
Kinh Dịch Dạy Thời Biến / Dạy và học ngày mới / Dạy Và Học Làm Người/ Dạy học nghề làm vườn/ Dạo chơi non nước Việt / Du lịch sinh thái Việt / Em Dặn Với Lời Thương/ Em ơi can đảm lên / Gõ ban mai vào phím
THÁI AN NÚI THÁI SƠN
Thái An là nơi trung tâm quần thể du lịch Thái Sơn. Tôi xách rượu Thái Sơn và khoai lang Hoàng Long (hình) định mang về Trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh để làm quà cho thầy bạn quý. Trong ảnh phía sau lưng tôi là gốc tùng nơi Hoàng Long và tôi đã nằm ngủ suốt đêm qua ngoài trời vì không thể thuê được nhà trọ. Trung Quốc luật lệ hiện thời yêu cầu khách ngoại quốc phải ngủ ở những khách sạn được phép tiếp nhận người nước ngoài nên người lái xe taxi tuy đã cố gắng chạy lòng vòng tìm kiếm suốt hơn 90 phút nhưng vẫn không thể giúp được. Tôi sau khi lên ga Thái An của đường sắt cao tốc Sơn Đông Bắc Kinh về cửa khẩu sân bay thì món đặc sản quý giá rượu Thái Sơn lại không được mang về. Mặc dầu chúng tôi có đầy đủ phiếu hàng giấy tờ cần thiết nhất để minh chứng rượu được mang đi chứ không phạm lỗi ‘mang chất lỏng lên máy bay’. Tôi đã cố gắng hết sức giải thích tôi là thầy giáo nông học Việt Nam từng tới Sơn Đông từ thuở xưa ba mươi năm trước và nay thăm lại chốn cũ, nhưng vẫn không thể mang rượu về. Tôi đã tặng lại số quà này cho các bạn hải quan ở cửa khẩu bên đó.
Kinh Dịch Dạy Thời Biến / Dĩ bất biến ứng vạn biến (“Dĩ bất biến ứng vạn biến” là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho cụ Huỳnh Thúc Kháng trước khi cụ sang Pháp dự hội nghị Fontainebleau vào ngày 31/5/1946. Ý nghĩa là lấy cái “bất biến” (nguyên tắc, mục tiêu cốt lõi không thay đổi) để ứng phó với cái “vạn biến” (thay đổi của tình hình), giữ vững độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ nhưng linh hoạt trong sách lược và phương pháp thực hiện. “Dĩ bất biến” (lấy cái không thay đổi): Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là các nguyên tắc và mục tiêu tối thượng như độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ, sự lãnh đạo của Đảng.
“Ứng vạn biến” (ứng phó với cái vạn biến): Là sự linh hoạt, mềm dẻo trong cách thức, sách lược, tùy theo thời cơ và điều kiện cụ thể, nhưng không bao giờ thay đổi mục tiêu cốt lõi đã đề ra. Bối cảnh: Bác Hồ đã nói với cụ Huỳnh Thúc Kháng câu này để ủy thác cụ cùng gánh vác công việc ở hậu phương khi mình đi xa, với mong muốn cụ giữ vững lập trường, nguyên tắc của Đảng và Nhà nước, nhưng cũng phải linh hoạt xử lý mọi vấn đề trong hoàn cảnh luôn biến động.
Lên Thái Sơn hướng Phật / “Đi đường biết mấy gian lao Núi cao rồi lại núi cao trập trùng Núi cao lên đến tận cùng Thu vào tầm mắt muôn trùng giang sơn”, Bài thơ “Đi đường” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt in trong tập thơ “Nhật ký trong tù”
https://www.youtube.com/embed/_ipLKCAM2xg?feature=oembed&version=3&rel=1&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&fs=1&hl=vi&autohide=2&wmode=transparent
TRƯƠNG LƯƠNG VÀ HÀN TÍN
Hiểu Binh Tiên Hàn Tín
Xem phim ngắn Hoài Âm
#An nhiên và #Thungdung
Thấm #Đá Vàng Trương Lương
Biết Bao Quát Tiêu Hà
Lường Mưu Kế Trần Bình
Dung Hoạt Đầu Lã Trĩ
Khoan Thứ Chung Ly Muội
Khảo chiến trận Hào Quang
Bữa tiệc yến Hồng Môn
Chiếu đất ở Thái An
Đêm lạnh nhớ Đào Công
Gốc Bồ Đề An Tĩnh
Xem phim ngắn Hoài Âm
Chính Trung Hiếu Thiện Lành
Giấc Nhàn Trời Chuyển Đông
ĐÁ VÀNG VỚI BAN MAI; CNM365 Tình yêu cuộc sống; Chính Trung Hiếu Thiện Lành; Lời biết ơn chân thành; Vĩnh Thanh Vân Rạch Giá (hình) Hoàng Long Ngọc Quan Âm; Đêm giao thời huyền diệu;#hoangkimlong, #vietnamxahoihoc, #cltvn, #dayvahoc, #ana, #BanMai, #htn365,#vietnamhoc, #Vietcassava; #htn, #cnm365; Em dăn và lời thương;Việt Nam con đường xanh; Nông nghiệp Việt trăm năm; Lúa siêu xanh Việt Nam; Cây Lương thực Việt Nam; Bài đồng dao huyền thoại; Thành tâm với chính mình; Thung dung vườn cổ tích; https://youtu.be/YlsthMwlxzA Cảm Ơn Đời Có Phước Thành Tâm Với Chính Mình https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana; https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-26-thang-2/&https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-26-thang-2;
Kim Notes lắng ghi chú:

Thầy bạn là lộc xuân Thầy Quyền thâm canh lúa : Người con đất Việt GSTS Mai Văn Quyền một nhà khoa học giản dị https://youtu.be/04FTsXu0B7Y?si=l5xrLMcroICxe6Ii &https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-quyen-tham-canh-lua/

Cây lương thực (Food Crops) là các loại cây trồng cung cấp lương thực thực phẩm chính, nguồn năng lượng và chất bột đường cacbohydrat chủ yếu cho con người trong khẩu phần ăn, bao gồm ngũ cốc (lúa, ngô, lúa mì), cây lấy củ (khoai tây, sắn, khoai lang), các loại đậu và hạt, trái cây, rau củ, đóng vai trò sống còn trong an ninh lương thực toàn cầu. Chúng được trồng để thu hoạch sản phẩm làm thức ăn trực tiếp, khác với cây công nghiệp hay cây thức ăn chăn nuôi, và thường có chu kỳ sống ngắn, phát triển mạnh mẽ. Lúa, bắp, sắn, khoai lang là bốn loại cây lương thực chính của Việt Nam. Cây lương thực – Wikipedia tiếng Việt
Dạy học nghề làm vườn (làm vườn/cảnh quan) là đào tạo kiến thức, kỹ năng thực hành trồng trọt, chăm sóc cây, thiết kế sân vườn, công viên, hướng tới chuyên gia nông nghiệp, nhà nghiên cứu, thiết kế cảnh quan, hay đơn giản là kỹ năng làm vườn bền vững cho cá nhân, gia đình, với nhiều cấp độ từ trường phổ thông đến đại học và các học viện chuyên biệt, tập trung vào thực tiễn và công nghệ mới

THƠ VUI NHỮNG NGÀY NHÀN
Hoàng Kim
“Chia tay lại giao ước
Nhớ phải gặp lần sau
Rồi nắm chặt tay nhau
Thân ái chào tạm biệt !”
Thơ Nguyen Que hay thiệt
Tài nhả ngọc phun châu
Bạn cũ xa đã lâu
Vẫn thấy gần ấm áp
Phạm Xuân Liêm Nam Mỹ
Mang chuông đánh nước người
Hinh Lâm Quang tốt tươi
Mặt lúc nào cũng sáng
Nguyễn Văn Toàn cụ lớn
Viện Đất khỏe muôn năm
Mai Quốc Hùng trẻ trung
Đà Nẵng răng còn cứng
Đinh Đức phong độ lắm
Dáng thẳng mặt ngời ngời
Nguyen Que trẻ mãi thôi
Nhờ thơ hay mà khỏe.
Thủ Đô mình đẹp thế
Nguyễn Khải nhớ mà thương
Láng chút nước Tràng An
Mới thành người Hà Nội
Vumanh Hai chưa tới
Ngắm ảnh nhớ bạn hiền
Thơ vui những ngày nhàn
Thầy bạn là lộc xuân
xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-la-loc-xuan/ và https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tho-vui-nhung-ngay-nhan/

ĐỪNG BAO GIỜ NGỪNG CỐ GẮNG
Thầy bạn là lộc xuân
Bảo tồn và phát triển tinh hoa di sản cho chính mình, gia đình, người thân, thầy bạn, quê hương và #vietnamhoc là niềm vui SOI SÁNG LẠI CHÍNH MÌNH lời dặn lại của đức Trúc Lâm Trần Nhân Tông, chứ không tìm ở đâu khác “Ở đời vui đạo , thả tùy duyên. Đói cứ ăn đi mệt ngủ liền. Kho báu trong nhà thôi tìm kiếm. Vô tâm, đối cảnh, hỏi chi THIỀN” (Cư trần lạc đao của Trần Nhân Tông, trích dẫn bởi Hoàng Kim, xem tiếp Thầy bạn là lộc xuân https://khatkhaoxanh.wordpress.com/2023/03/05/thay-ban-la-loc-xuan/
HÃY ĐỂ TÔI ĐỌC LẠI
Chào ngày mới tốt lành


ĐÁ VÀNG VỚI BAN MAI; CNM365 Tình yêu cuộc sống; Chính Trung Hiếu Thiện Lành; Trà sớm với Lão Nông: 10 dấu hiệu Ngôi nhà bạn ở Đang có Thần Phật hiện diện, càng ở càng giàu, phúc đức https://youtu.be/RYZsZ7GCDY0?si=u3gUN9X2KhtRLT_g
Núi Chứa Chan Xuân Lộc; Vườn Quốc Gia Cát Tiên; Một gia đình yêu thương; Mồng 3 Tết Nguyên Đán. Ngày Con Cháu nhớ Mẹ, Nhớ vầng trăng ngọn lửa ; Hoàng Thành Trúc Lâm Sáng; Đến với Tây Nguyên mới; Bài ca nhịp thời gian; Đường xuân đời quên tuổi; Chính Ngọ đoán Kinh Dịch; Chùa Một Cột Hà Nội; Việt Bắc Nhớ Bác Hồ; Lên Trúc Lâm Yên Tử; An vui cụ Trạng Trình; https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-31-thang-1/ & https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-31-thang-1; #hoangkimlong, #vietnamxahoihoc, #cltvn, #dayvahoc, #ana, #BanMai, #htn365,#vietnamhoc, #Vietcassava; #htn, #cnm365; Vườn Quốc gia Việt Nam; Du lịch sinh thái Việt; Tìm về đức Nhân Tông; Trúc Lâm Trần Nhân Tông; Lời Biết Ơn Hạnh Phúc; Nhớ Mãi Câu Chuyện Ảnh; Hãy lắng nghe chính mình; An vui cụ Trạng Trình;Nguyễn Du trăng huyền thoại, Thơ tặng mùa yêu thương; Bà Đen và Chứa Chan; Ai chợp mắt Tam Đảo; Hồ Long Vân Nhớ Người ; Hoàng Trung Trực đời lính; Núi Thần Đinh Quảng Bình; Đào Duy Từ Còn Mãi; #Nhàtôi; Chuyện sao Kim kỳ thú;Vận khí và vận mệnh; Thành tâm với chính mình; Những câu thơ lưu lạc; Phú Yên nôi lúa sắn; Lên Trúc Lâm Yên Tử; Trà sớm với Lão Nông; Thăm quê ngày chuyển năm; Quả tốt bởi nhân lành;Hà Nội mãi trong tim; Chùa Một Cột Hà Nội; Việt Bắc Nhớ Bác Hồ; Chợt gặp mai đầu suối & Bài ca nhịp thời gian https://youtu.be/_Bs4XcVufqY & Luyện Hòa Khí Điềm Tĩnh & #Thungdung & CNM365 Tình yêu cuộc sống ; Lắng nghe và suy ngẫm012345678910; Việt Nam chuyện phiếm đàm lắng đọng; 15 Dấu Hiệu Rất Quýhttps://youtu.be/RH2nww8wuRI?si=QmT0rKZiM1Qnr8aXDạy Học Hải Đăng Tri Thức; Về phố thương cháo nấm; Một vùng trời nhân văn; Đến Neva nhớ Pie Đại Đế; Truyện Pie Đại đế; Mark Zuckerberg và FB; Thầy Vũ trong lòng tôi; Dạy và học để làm;
Bài chọn lọc ngày 31 tháng 1: Chuyện ngày sinh của Thủy; #cnm365 #cltvn An nhiên; Ban mai chào ngày mới; May mắn bánh và hoa; Minh triết của đức Phật; Trường tôi nôi yêu thương; Thơ viết bên thác Iguazu; Ngọc phương Nam; Ngọc lục bảo Paulo Coelho; Kiệt tác của tâm hồn; 500 năm nông nghiệp Brazil; Biển Hồ Chùa Bửu Minh; Huyền Trang tháp Đại Nhạn Thông tin tại https://hoangkimvn.wordpress.com/ và http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlong và https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-31-thang-1/ và https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-31-thang-1/

Mồng Ba Tết Nhớ Mẹ Cha
Mẹ đi về cõi vĩnh hằng
Mồng Ba Tết sáu mốt năm qua rối
Thuở con thơ bé Mẹ ơi
Anh con giữa trận ngút trời đạn bom
Cha làm gà trống nuôi con
Sớm hôm tần tảo hoa thơm mộ Người
Bom thù xé nát tim côi
Thiện lương chẳng thể sống thời can qua.
Anh Hai thầy giáo nuôi nhà
Dắt hai em với mười ba lương còm
Tình thầy nghĩa bạn yêu thương
Năm năm “một bữa” biết ơn hòa đồng.
“Đêm Vu Lan nhớ bài thơ đi học
Thấm nhọc nhằn củ sắn củ khoai
Nhớ tay Chị gối đầu khi Mẹ mất
Thương lời Cha căn dặn học làm Người“
“Qua danh lợi hiểu vinh hiểu nhục
Trãi đói nghèo biết nghĩa biết ân”
Nhà mình gần ngã ba sông
Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình
Linh Giang sông núi hữu tình
Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con
“Chèo thuyền cho khuất bến Son
Để con khỏi chộ nước non thêm buồn”
Câu thơ quặn thắt lòng con
Mẹ Cha mất sớm, con còn trẻ thơ
Ra đi từ bấy đến chừ
Lặn trong sương khói bến đò sông quê
Ngày xuân giữ vẹn lời thề
Non sông mở cõi, tụ về trời Nam.
Ngày Xuân tôn kính dâng hương
Cháu con tề tựu con đường thiện nhân:
Không vì danh lợi đua chen
Công Cha nghĩa Mẹ quyết rén bản thân
Con cháu Hoàng Gia thành kính dâng hương Mẹ Cha Nội Ngoại




Tin nổi bật trong ngày Bản tin thời sự tiếng Việt VTV4
Đề án 1 triệu ha lúa: Đến lúc chuyển từ cam kết sang hành động
#cnm365 tích hợp thông tin từ nguồn Báo Nông nghiệp Việt Nam 30/01/2024: Theo Bộ trưởng Lê Minh Hoan, đã đến lúc phải chuyển đổi từ cam kết sang hành động để triển khai hiệu quả Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp.
Mỗi năm đào tạo 500.000 nông dân tham gia đề án 1 triệu ha lúa
Máy nông nghiệp Italia muốn đồng hành 1 triệu ha lúa chất lượng cao
Lập dữ liệu vùng trồng Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao
Những nhiệm vụ đầu tiên trong hành trình xây dựng 1 triệu ha lúa chất lượng cao
Chiều 30/1, Bộ NN-PTNT tổ chức buổi tọa đàm “Đối tác công – tư thúc đẩy đổi mới sáng tạo, triển khai Đề án 1 triệu ha lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp” dưới sự chủ trì của Bộ trưởng Lê Minh Hoan cùng sự tham dự của Đại sứ Singapore tại Việt Nam Jaya Ratnam, ông Paavo Eliste đại diện Ngân hàng Thế giới và bà Bevverley Postma, Giám đốc Điều hành Grow Asia.
Mục tiêu của Tọa đàm Đối tác công – tư thúc đẩy đổi mới sáng tạo, triển khai Đề án 1 triệu ha lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp là xác định cơ chế hữu hiệu để huy động sự tham gia của các bên chung tay xây dựng Mạng lưới Đổi mới sáng tạo lương thực, thực phẩm tại Việt Nam (FIHV) và thực hiện đề án 1 triệu ha lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp một cách hiệu quả.
Ngoài ra, tọa đàm cũng thảo luận về vai trò của các bên có liên quan và các tác nhân trong chuỗi lúa gạo và ghi nhận các ý kiến cũng như thống nhất kế hoạch hoạt động triển khai đề án 1 triệu ha lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long, cuối cùng là nêu ra các hành động ưu tiên trong ngắn hạn và dài hạn.
Tham dự chương trình tọa đàm có đại diện đồng trưởng Nhóm khối công và khối tư các nhóm ngành hàng PPP; CEO các tập đoàn, công ty đa quốc gia, doanh nghiệp nông nghiệp trong nước đang hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu lúa gạo…
Bộ trưởng Lê Minh Hoan chia sẻ, bên cạnh các nỗ lực từ phía các cơ quan Chính phủ để phát triển các chính sách mở, tạo ra môi trường thuận lợi để phát triển nông nghiệp xanh và bền vững, Việt Nam coi trọng vai trò tham gia và đồng hành của khu vực tư nhân, hỗ trợ của các đối tác quốc tế, các tổ chức quốc tế và khu vực, các tổ chức phi chính phủ, các cơ quan nghiên cứu và các chuyên gia trong nước và quốc tế.
“Hợp tác công – tư hiệu quả; và sự hỗ trợ từ quý vị sẽ là chìa khóa thành công cho Đề án”, người đứng đầu ngành nông nghiệp nhấn mạnh và khẳng định, đã đến lúc chuyển từ cam kết sang hành động.
Trao đổi tại tọa đàm, ông Lê Thanh Tùng, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ NN-PTNT) cho rằng, các địa phương đã có những nguồn lực tài chính và phi tài chính, điều cần làm hiện nay là tranh thủ nguồn lực đó, cùng với sự ủng hộ tại cơ sở để tăng cường tính liên kết của các HTX, đóng góp vào quá trình triển khai Đề án.
Trong khi đó, bà Cherie Tan, đại diện Bayer cho rằng, có 3 yếu tố quan trọng cần quan tâm là công nghệ, thị trường và chính sách để có được những thay đổi hiệu quả đối với các nông hộ nhỏ trong chuyển đổi ngành hàng lúa gạo.

Nhất trí cao với ý kiến của Bộ trưởng Lê Minh Hoan về việc chuyển từ cam kết sang hành động, ông Huỳnh Văn Thòn, Chủ tịch HĐQT CTCP Tập đoàn Lộc Trời nói các hành động này cần mạnh mẽ hơn, cụ thể hơn, sát với thực tế hơn để đem lại hiệu quả tốt hơn.
“Lộc Trời sẽ đem tất cả những gì đã làm và đang làm về canh tác giảm phát thải để đóng góp vào sự thành công của Đề án, vì mục tiêu xuyên suốt của chúng tôi là “Cùng nông dân phát triển bền vững”, ông Thòn nhấn mạnh và cho rằng Đề án là một cơ hội lớn cho ngành hàng lúa gạo khi tất cả đi cùng một hướng.
Bên cạnh tọa đàm, sự kiện chiều 30/1 cũng cung cấp thông tin về “Mạng lưới Kết nối đổi mới sáng tạo lương thực, thực phẩm” để hỗ trợ Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao và giảm phát thải (Đề án).
Trước bối cảnh ngành lúa gạo Việt Nam đang đứng trước rất nhiều thách thức, khó khăn và yêu cầu phải chuyển mình, Bộ trưởng Lê Minh Hoan nhấn mạnh: “Chúng tôi cần huy động các nguồn lực và tiến bộ kỹ thuật, một trong các công cụ quan trọng là Mạng lưới Đổi mới sáng tạo lương thực, thực phẩm tại Việt Nam (FIHV) được thành lập theo sáng kiến của Diễn đàn kinh tế Thế giới (WEF)”.
Mục tiêu của FIHV là liên kết các mạng lưới đổi mới trong nước và quốc tế nhằm thúc đẩy việc sử dụng công nghệ số để phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp thông minh. Bộ trưởng bày tỏ kỳ vọng, FIHV sẽ giúp mở rộng quy mô và đẩy nhanh quá trình chuyển đổi của ngành nông nghiệp Việt Nam nói riêng và nền kinh tế nói chung để trở thành một cường quốc nông sản thực phẩm “xanh”, bền vững và ít phát thải.
Hiện nay, vị thế của ngành lúa gạo Việt Nam đang được củng cố và nâng cao hơn bao giờ hết, không chỉ từ những con số ấn tượng về sản lượng và giá trị xuất khẩu mà còn thể hiện ở những phản hồi tích cực của người tiêu dùng thế giới về gạo Việt.
Lúa gạo là một trong những ngành có kinh ngạch xuất khẩu lớn, năm 2023 xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt hơn 8,1 triệu tấn, với kim ngạch gần 4,7 tỷ USD.
Theo Bộ trưởng Lê Minh Hoan, với yêu cầu của thị trường ngày càng cao, quy định của các nước nhập khẩu ngày càng nghiêm ngặt, chất lượng gạo phải được nâng cao, phải đảm bảo vệ sinh ATTP, phải tuân thủ trách nhiệm cộng đồng trong bảo vệ môi trường thông qua việc giảm thiểu sử dụng đầu vào sản xuất có nguồn gốc hóa học, sản xuất giảm phát thải.
Mạng lưới Đổi mới sáng tạo lương thực, thực phẩm tại Việt Nam (FIHV) được thành lập ngày 19/12/2023, với mục tiêu phát triển ngành lương thực, thực phẩm của Việt Nam theo hướng hiện đại có năng suất, chất lượng, hiệu quả, bền vững và sức cạnh tranh cao trên cơ sở tăng cường mối liên kết, hợp tác, chia sẻ các sáng kiến đổi mới sáng tạo và công nghệ hiện đại.
Trong sơ đồ phát triển, năm 2024 FIHV sẽ hoàn thiện mô hình tổ chức, năm 2025 tập trung vào Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp, sang năm 2026 sẽ mở rộng ra các đối tượng mới như cà phê, rau quả. Đến năm 2027 sẽ xây dựng được các mạng lưới FIHV cấp vùng và 2028 sẽ kết nối với các mạng lưới hiện có trên toàn cầu, như tại Châu Âu, Kenya, Ấn Độ, kết nối với mạng lưới của WEF (FAA, First Movers…).
Bạn đang đọc bài viết Đề án 1 triệu ha lúa: Đến lúc chuyển từ cam kết sang hành động tại chuyên mục Thời sự của Báo Nông Nghiệp Việt Nam. Mọi thông tin góp ý và chia sẻ với Báo Nông nghiệp Việt Nam xin vui lòng gửi về hòm thư baonongnghiepdientu@gmail.com hoặc số điện thoại, zalo: 0369024447.

NẮNG MỚI
Đường trần chí thiện vui chơi
An nhiên năm tháng cuộc đời thung dung
Cha con nối bước thanh nhàn
Thảnh thơi đồng rộng mái trường mến yêu …
*
Hạnh phúc đơn sơ sao đẹp thế
Ngắm hoa nhớ buổi nắng đông về
Yêu sao ngày mới chờ xuân tới
Ngày mới ta còn mãi miết đi.
Đạo đức niềm tin và lối sống
Nhớ lời Hưng Đạo dặn dò Vua
Đường xuân vui bạn quên ngày tháng
Nắng hửng ban mai gió mới về .
Hoàng Kim
Mục đích sau cùng của DẠY VÀ HỌC là năm vững bản chất sự vật, có lời giải đúng, và LÀM được việc

VỀ TRƯỜNG ĐỂ NHỚ THƯƠNG
Đại học Nông Lâm thật thích
Bạn thầy vui thật là vui
Sân Trường giảng đường ấm áp
Đường xuân phơi phới tuyệt vời
Hình như mọi người trẻ lại
Hình như người ấy đẹp hơn
Hình như tre già măng mọc
Nắng mai soi giữa tâm hồn.
Thầy bạn trong ngoài thiện nguyện
Về Trường chia sẻ động viên
Trang sách trang đời lắng đọng
Yêu thương bao cuộc đời hiền
Thầy bạn ngày vui hẹn gặp
Lời thương mong ước bình an
Tình khúc Nông Lâm ngày mới
Sức xuân Tự nguyện Lên đàng
Hoàng Kim
Gặp Mặt Thầy Cô Viên Chức Hưu Trí Khoa Nông Học Năm 2024 xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ve-truong-de-nho-thuong/











Kính chào thầy Phan Liêu / sư huynh Phạm Quang Khánh/ chung sức Viên Ngọc Nam/ người của rừng ngập mặn/ Lời thương vui họp mặt/ Thong thả ngày cuối năm.


Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh ngày 19 11 là ngày truyền thống thành lập của hai khoa song sinh Nông Lâm là Khoa Nông học & Khoa Lâm Nghiệp (tiền thân là Khoa Thủy Lâm, trước ngày Việt Nam thống nhất) xem tiếp Vườn Quốc gia Việt Nam https://hoangkimlong.wordpress.com/category/vuon-quoc-gia-viet-nam
Xuân Mới Sức Sống Mới
Trà sớm nhớ bạn hiền
Xuân mới sức sống mới
Hẹn uống rượu ngắm trăng
Vui đi dưới mât trời
Hoàng Kim @ Gửi Lâm Cúc
(Cảm tác thơ đề ảnh)
Hoa Mai Và Mùa Xuân
Nông Lâm chung mái ấm
Viên Ngọc Nam Hoàng Kim
Trường tôi nôi yêu thương
Vườn Quốc Gia Việt Nam.

Hoàng Kim @ Viên Ngọc Nam (ảnh hoa mai & chân dung)
Lời biết ơn chân thành

MỘT NIỀM TIN THẮP LỬA
Bất ngờ tôi nhận được bài thơ của Thầy Cô trong Khoa Nông Học quý mến gửi tặng. Tôi thật sự xúc động chỉ biết nói lời cảm ơn và tự hứa lòng mình là cố gắng hơn. Lòng tin của nhân dân và thầy bạn là tín danh đời người để gắng công cần kiệm liêm chính. Giữ gìn thành quả lao động tốt của đội ngũ quan trọng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Xin phép cô Ngọc được chép bài về Một niềm tin thắp lửa. https://hoangkimlong.eordpress.com/category/mot-niem-tin-thap-lua
Nhìn đàn em ngời niềm vui rạng rỡ.
Chợt thấy lòng rưng rưng.
Công việc nghề nông cực mà hạnh phúc.
Cố lên em nổ lực không ngừng !
Hột mồ hôi lắng vào hạt gạo
Câu ca ông bà theo suốt tháng năm
Thêm bữa cơm ngon cho người lao động
Nâng chén cơm thơm, qúy trọng người trồng.
Em ơi hãy học làm ruộng giỏi
Nghề nông thời nào cũng quý kỹ năng
Người dân khá hơn là niềm ao ước
Công việc này giao lại cho em.
Có một mùa xuân hạnh phúc
Ơn mẹ cha lam lũ sớm hôm
Thương con vạc gọi sao mai dậy sớm
Một niềm tin thắp lửa giữa tâm hồn.
Bước tiếp bước giữa trường đời gian khó
Học làm người lao động siêng năng
Rèn nhân cách vượt lên bao cám dỗ
Đức và Tài tử tế giữa Nhân Dân.
Lời tri ân Viện Trường quý thầy cô người thân bà con nông dân và bạn hữu nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam: “Bao năm Trường Viện là nhà. Lúa ngô khoai sắn đều là thịt xương. Một đời người một rừng cây. Thầy ươm giống tốt để mai thành rừng”


NẮNG BAN MAI NGÀY MỚI
Hoàng Kim
Sớm xuân cuối đêm lạnh
Tỉnh thức Hoa Bình Minh
Nắng Ban Mai ghé cửa
Cười nụ nhớ An Nhiên.
Thích chia cùng thiền sư
Giọt sương mai đầu nụ
bạch ngọc thích tánh tuệ
Trăng rằm thương mẹ hiền
Nắng Được Thì Cứ Nắng*
Giấc Mơ Lành Yêu Thương
Nắng Ban Mai Ngày Mới
Giác Tâm Bình Minh An.
Nắng ban mai ngày mới
Biển tỉnh lặng #annhiên
Mùa theo thời đi mãi
Xuân sớm lắng bình yên.…

TỪ HIẾU VỚI NGƯỜI HIỀN
Cảm ơn Thầy ngọn lửa
Cười lành vui dấn thân
Cầu Hiểu tới cầu Thương
Thơ từng ôm và Mặt trời từng hạt
Về quê lần trước ghé thăm đây
Cầu Hiểu cầu Thương níu bạn thầy
Thơ thiền Nhất Hạnh tìm gốc cũ
Mặt trời từng hạt chính nơi này.
Hoàng Kim “nhân sinh bách hạnh hiếu vi tiên” (cổ ngữ) Nhớ lần trước ra Huế đến thắp hương Nam Giao và chùa Từ Hiếu, cội nguồn của hiếu sinh. Lần khác có viếng thăm chúa Nguyễn Hoàng ở lăng Trường Cơ, tọa lạc tại xã La Khê, huyện Hương Trà, nay là làng La Khê, xã Hương Thọ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, và viếng thăm Thiên Thụ Sơn, vùng cây trên 2000 ha mà triều Nguyễn dày công mang kỳ hoa dị thảo cả nước về trồng ở chốn kinh kỳ để lưu dấu những hoài niệm. Nhớ lần sau cùng được hạnh ngộ Thầy
Bạch Ngọc Hoàng Kim đọc lại và suy ngẫm Thơ thiền Thích Nhất Hạnh; Trà Tì bánh và hoa; Từ Hiếu với người hiền; https://hoangkimvn.wordpress.com/2022/01/22/tu-hieu-voi-nguoi-hien/ Sự nhẫn nhục tuyệt đối https://youtu.be/jyaZuR3vj2o; Chùa Bửu Minh: một số hình ảnh của Lễ nhập kim quan của Trưởng lão Hòa thượng Thích Nhất Hạnh tại Tổ đình Từ Hiếu, Huế https://www.youtube.com/watch?v=t04xsspfQlM Bài phỏng vấn Thiền sư Thích Nhất Hạnh …Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã dặn dò …
Thật may mắn của những lần được uống trà ban mai tĩnh lặng tại Từ Hiếu, được lắng nghe những lời dạy thân thiết và những trang văn uyên áo của người Thầy, được tĩnh lặng chứng ngộ pháp môn “cười” và pháp môn “phật giáo dấn thân”. Đời trãi ngộ lắm, thấm thía lắm, sâu sắc lắm mới có được những bài thi kệ thật hiếm có, trân quý như ngọc cho đời “Sinh Tử, cầu Hiểu cầu Thương, Thơ từng ôm và Mặt trời từng hạt” “Đường xưa mây trắng” “Việt Nam Phật Giáo sử luận” “Thả một bè lau”
Đời người hiếm có những dịp may được cùng những người thân chọn về đây, nói chuyện về các điều tâm đắc và lắng nghe trang đời, trang sách, cổ vật trò chuyện Từ Hiếu với Người Hiền xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tu-hieu-voi-nguoi-hien/
Đêm thiêng tưởng nhớ Thầy.
#cnm365 #cltvn An nhiên

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim
“Thung dung cùng với cỏ hoa. Thỏa thuê đèn sách, nhẫn nha dọn vườn”. Cám ơn Trung Trung đã sửa lại câu thơ trên hay hơn và sâu sắc hơn “Thỏa thuê cùng với cỏ hoa.Thung dung đèn sách nhẫn nha dọn vườn”, mình đã sửa lại. Đó là triết lý nhân sinh “Ta về sống giữa thiên nhiên” của một đội ngũ các nhà khoa học xanh người thầy chiến sĩ đã chấp nhận trọn đời sống với ruộng đồng và chén cơm ngon của người dân. Tình yêu cuộc sống thể hiện trong ý tứ ‘thung dung’ đứng đầu câu thơ, lựa chọn cỏ hoa, thiên nhiên, chân quê làm khởi nghiệp. Sự nghiệp ấy gắn liền với cả một đời, một nghề, để sau này nhìn lại. “Xuân đi trăm hoa rụng, Xuân đến trăm hoa cười” ẩn chứa triết lý sâu sắc hơn là “Xuân đến trăm hoa cười, xuân đi trăm hoa rụng”. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491- 1585) “Thanh nhàn vô sự là tiên” trong bài thơ nôm “Chín mươi” có câu: “Chín mươi thì kể xuân đà muộn Xuân ấy qua thì xuân khác còn”. Tăng Quốc Phiên chống quân Thái Bình Thiên Quốc “càng đánh càng thua” nhưng trong bản tấu chương gửi vua thì ông đã quyết ý đổi lại là “càng thua càng đánh”. Việc “đánh thua” thì vẫn vậy nhưng ý tứ của câu sau mạnh hơn hẵn câu trước. Cám ơn bạn về ý THUNG DUNG, mình đưa ý này lên đầu dòng https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/
(*) Hình ảnh và chuyện vui chép trong ghi chú: Nhớ kỷ niệm một thời là hôm trước Viện trưởng Trần Thế Thông đưa Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Trìu lên thăm Hưng Lộc thì. ngay hôm sau đó, Pham Sy Tan và Đặng Kim Sơn lại cùng thầy Quyen Mai Van và ông Carangal lên Trung tâm Hưng Lộc trao đổi và bàn chuyện hợp tác phát triển Chương trình Hệ thống Canh tác Việt Nam. (Hình trên là GSTS V. R. Carangal IRRI, người áo đỏ, bìa trái, đang trao đổi trên đồng ruộng với GSTS Mai Văn Quyền IAS, thứ hai phải qua,, TS. Đặng Kim Sơn CLRRI & IPSARD, TS. Phạm Sĩ Tân, CLRRI và TS Hoàng Kim cùng bàn về sự hợp tác IRRI và Việt Nam trong chương trình liên kết nghiên cứu phát triển hệ thống canh tác). Tôi khi đó đã kể lại câu chuyện về ‘xếp’ Thông và cụ Trìu vừa lên thăm hôm qua, và trả lời Sơn, kể chuyện “Ấn tượng Borlaug và Hemingway” với sự đồng cảm thật sâu sắc. “Norman Borlaug nhà khoa học xanh”, “Lời Thầy dặn” thật thấm thía “Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”. Nhớ kỷ niệm một thời không thể nào quên. Đặng Kim Sơn hỏi : Cậu ấn tượng nhất chuyên gì trong chuyến đi học CIMMYT mới đây? Tôi cười nói :”Ấn tượng Borlaug và Hemingway” “Năm tháng ở CIMMYT” . Chuyện “Norman Borlaug nhà khoa học xanh” thầy tới thăm tôi ở nhà riêng là không thể quên. Tôi đọc bốn câu thơ cho thầy Quyen Mai Van, với các bạn Đặng Kim Sơn, Pham Sy Tan cùng nghe và, bất ngờ giáo sư V R Carangal rút bút ra ghi và nói lời đồng cảm.
Ngày 14 &15 tháng 7 là ngày đặc biệt. Hồi tưởng lại còn có hai câu chuyện khác. Đó là ngày Nhớ cụ Nguyễn Ngọc Trìu và Thầy bạn trong đời tôi của thời điểm này tại năm 1987.

Cụ Nguyễn Ngọc Trìu là một danh nhân (Cụ mất ngày 9/7/2016, đưa tang ngày 14/7/2016) Cụ Nguyễn Ngọc Trìu là một nhân cách lớn như nhà văn Nguyễn Tuân nhận xét: “Trìu làm lãnh đạo nhưng trước hết là một Con Người”. Hình trên là Bộ Trưởng Nguyễn Ngọc Trìu đến Trung tâm Hưng Lộc năm 1987 thăm thành tựu tiến bộ kỹ thuật “trồng ngô lai xen đậu ở vùng Đông Nam Bộ” và mô hình “nghiên cứu phát triển đậu rồng ở các tỉnh phía Nam”. Hai công trình này do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam giới thiệu, đã được Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn công nhận là tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp và được phát triển rộng rãi trong sản xuất, vang bóng một thời..

Cụ Nguyễn Ngọc Trìu là một chính khách lớn, có cuộc đời và sự nghiệp dường như là cụ Nguyễn Công Trứ của thời đại Hồ Chí Minh. Mọi người khi nhắc đến Cụ đều nhớ ngay đến vị Chủ tịch tỉnh Thái Bình sinh ở Tây Giang, Tiền Hải đã làm rạng ngời “quê hương 5 tấn”, nhớ ông Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp trí tuệ, xông xáo và rất biết lắng nghe, sau này làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phụ trách mảng Nông Lâm Ngư nghiệp và Đặc phái viên của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đối với vùng Nam Bộ. Cụ Trìu cũng là Chủ tịch Hội những người làm vườn Việt Nam, nơi tâm nguyện của ông được bạn thơ Thợ Rèn mến tặng’ “Danh vọng hão huyền như mây khói . Làm vườn cây trái để ngàn năm” .Cụ Nguyễn Ngọc Trìu là một nhân cách lớn như nhà văn Nguyễn Tuân nhận xét: “Trìu làm lãnh đạo nhưng trước hết là một Con Người”.
(

Cụ Nguyễn Ngọc Trìu cũng có đến thăm bạn học của tôi là Đinh Thế Lữ (Hoàng Kim với Pham Sy Tan học chung một lớp Trồng trọt 4, chung giường tầng giường dưới giường trên. Tôi học chung lớp Đinh Thế Lữ lớp Trồng trọt 10 sau khi bộ đội sáu năm và cùng chung lớp tiến sĩ với Đặng Kim Sơn, Mai Thành Phụng….Hình ảnh 3 từ trái qua phải: ô Nguyễn Quốc Tuấn PCT nguyên Viên trưởng Cây lương thực. Ô Ngô Thế Dân CT nguyên Thứ trưởng TT Bộ NN & PTNT, Bà Thanh, Ô Nguyễn Ngọc Trìu nguyên Bộ trưởng NN. PCT Hội đồng Bộ Trưởng (Phó Thủ Tướng CP). Ô Lữ. O Bùi Sỹ Tiếu PCT TT nguyên Bí thư TƯ Thái Bình Phó Trưởng Ban TW Đảng) Cụ Nguyễn Ngọc Trìu trước là Chủ tịch Hội Làm Vườn, sau mới đến GS Ngô Thế Dân. Nguồn: https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-cu-nguyen-ngoc-triu/

TA VỀ VỚI ĐỒNG XUÂN
Hoàng Kim
Người khôn về chốn đông người
Cái nhìn thì mỏng, cái cười thì nông
Ta vui ở lại ruộng đồng
Để gieo tục ngữ để trồng dân ca.
Thung dung cùng với cỏ hoa
Thỏa thuê đèn sách, nhẩn nha dọn vườn
Mặc ai tính thiệt so hơn
Bát cơm gạo mới vẫn thơm láng giềng
Thiên nhiên là thú thần tiên
Chân quê là chốn bình yên đời mình
Bạn hiền bia miệng anh linh
Thảnh thơi hưởng trọn ân tình thế gian
Nước trong ngập ánh trăng vàng
Ta ra cởi bỏ nhọc nhằn âu lo
Lợi danh một thực mười hư
Trăm điều ước vọng chỉ phù du thôi
Ung dung thanh thản cuộc đời
Tình quê bồi đắp về nơi sâu đằm
Ta về sống giữa thiên nhiên
Chọn tìm giống tốt đêm nằm chiêm bao.
xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/













Bài viết này liên quan tới thời điểm của các hình ảnh (1987-1991) Nhớ cụ Nguyễn Ngọc Trìu https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-cu-nguyen-ngoc-triu/ ; Nhớ kỷ niệm một thời xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

Nơi tình yêu bắt đầu (ảnh Phan Chí Quyết, bài Hoàng Kim)

ÔNG HỒ SÁU ĐỒNG NAI
(Trò chuyện với Lão Kiếm)
Lão yếu mình gầy may trí ổn
Cụ Nông Hồ Sáu đón xin từ
Thủy Nguyên Long Ngọc An vui khỏe
Thơ cổ Bình Minh #ana chơi.

* Trích Thơ Cụ Phan Khôi
** Nhật Lệ vàng rơi, ảnh Ruc Hung.


ĐẾN CHỐN THUNG DUNG
Hoàng Kim
Người rất muốn đi về trong tịch lặng
Quẳng lại sau lưng nhân thế muộn phiền
Ta đến chốn thung dung tìm hoa lúa
Rong chơi đường trần sống giữa thiên nhiên.
Tâm thanh thản buồn vui cùng nhân thế
Đời Đạo thịnh suy sương sớm đầu cành
Lòng hiền dịu và trái tim nhẹ nhõm
Kho báu chính mình phúc hậu an nhiên.
Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt (*)
Trăng rằm xuân lồng lộng bóng tri âm
Người tri kỷ cùng ta và năm tháng.
Giác Tâm con về còn trọn niềm tin.
VUI BƯỚC TỚI THẢNH THƠI
Hoàng Kim
Thăm người ngọc nơi xa, vùng tỉnh lặng,
Chốn ấy đồng xanh, người đã chào đời.
Nơi sỏi đá, giữa miền thiêng hoa cỏ,
Thiên nhiên an lành, bước tới thảnh thơi.
Sống giữa đời vui, giấc mơ hạnh phúc,
Cổ tích đời thường đằm thắm yêu thương.
Con cái quây quần thung dung tự tại,
Minh triết cuộc đời phúc hậu an nhiên.
Xuân Hạ Thu Đông, bốn mùa luân chuyển
Say chân quê ngày xuân đọc Trạng Trình
Ngày ra ruộng, đêm thì đọc sách.
Ngọc cho đời, giữ trọn niềm tin.

TA VỀ VỚi ĐỒNG XUÂN
Hoàng Kim
Người khôn về chốn đông người
Cái nhìn thì mỏng, cái cười thì nông
Ta vui về với ruộng đồng
Để gieo tục ngữ để trồng dân ca.
Thỏa thuê cùng với cỏ hoa
Thung dung đèn sách, nhẫn nha dọn vườn
Mặc ai tính thiệt so hơn
Bát cơm gạo mới vẫn thơm láng giềng
Thiên nhiên là thú thần tiên
Chân quê là chốn bình yên đời mình
Bạn hiền bia miệng anh linh
Thảnh thơi hưởng trọn ân tình thế gian
Nước trong ngập ánh trăng vàng
Ta ra cởi bỏ nhọc nhằn âu lo
Lợi danh một thực mười hư
Trăm điều ước vọng chỉ phù du thôi
Thung dung thanh thản cuộc đời
Tình quê bồi đắp về nơi sâu đằm
Ta vui hạnh phúc trăm năm
Chọn tìm giống tốt đêm nằm chiêm bao.

PHÚ YÊN NÔI LÚA SẮN
Hoàng Kim
Thông tin Sở Khoa học và Công nghệ Phú Yên, Hội nghị tổng kết hoạt động khoa học và công nghệ Phú Yên giai đoạn 2016-2020; Định hướng phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2021-2025. Sáng ngày 31/12/2021, tại TP Tuy Hòa, UBND tỉnh Phú Yên đã phối hợp với Sở KH&CN tổ chức hội nghị tổng kết hoạt động khoa học và công nghệ Phú Yên giai đoạn 2016-2020; Định hướng phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2021-2025. Hội nghị được tổ chức trực tiếp tại TP Tuy Hòa và kết nối trực tuyến đến các thị xã, huyện trong địa phương cùng đại diện Bộ KH&CN. Chủ trì Hội nghị là đồng chí Đào Mỹ, Phó Chủ Tịch UBND tỉnh Phú Yên và đồng chí Dương Bình Phú, Giám đốc Sở KH&CN, tham dự Hội nghị còn có ông Thân Ngọc Hoàng, Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển Khoa học và Công nghệ địa phương và đại diện lãnh đạo các Sở, Ban, Ngành, đơn vị, doanh nghiệp trong tỉnh; xem tiếp https://khcnpy.gov.vn/hoi-nghi-tong-ket-hoat-dong-khoa-hoc-va-cong-nghe-phu-yen-giai-doan-2016-2020-dinh-huong-phat-trien-ung-dung-khoa-hoc-cong-nghe-va-doi-moi-sang-tao-giai-doan-2021-2025/
Phú Yên nôi lúa sắn https://youtu.be/CKdEr4aS2NA là lời biết ơn chân thành bởi Hoàng Kim và đs. 2021. Hoàng Kim tham dự hội nghị theo giấy mời của Chủ tịch UBND Tỉnh Phú Yên. Chúng tôi lưu trích đoạn lúa sắn thuộc lĩnh vực kỹ thuật công nghệ trong phim của Đài Phát thanh và Truyền hình Phú Yên với Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp thực hiện tháng 12 năm 2021. Phim chiếu tại Hội nghị tổng kết hoạt động khoa học công nghệ giai đoạn 2016-2020, định hướng phát triển ứng dụng KHCN & ĐMST giai đoạn 2021-2025. https://www.youtube.com/embed/CKdEr4aS2NA?version=3&rel=1&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&fs=1&hl=vi&autohide=2&wmode=transparent Phú Yên nôi lúa sắn https://youtu.be/CKdEr4aS2NA

NẮNG MỚI
Hoàng Kim
Mưa ướt đất lành nắng mới lên
Đêm thương sương rụng nhắc ngoài hiên
Núi trùm mây khói trời chất ngất
Ngày tháng thung dung nhớ bạn hiền

Ban mai tỉnh thức chim kêu cửa
Hoa rắc bên song đẫm nước non
Ô hay gió mát hương trời biển
An giấc đêm ngon chí vẫn nồng …
THUNG DUNG CHÀO NGÀY MỚI
Hoàng Kim
Hoàng Gia Ngọc Phương Nam
Chốn vườn thiêng cổ tích
Thung dung chào ngày mới
Thanh nhàn cùng tháng năm
KHÁT KHAO XANH
Kim Hoàng
KHÔNG chuông nhỏ reo ngân
Hạc vàng khô chén ngọc
Không một vì sao đêm
Tim soi đường tiến bước
KHÔNG một trời khát vọng
Nước mắt chảy vào trong
Tận tâm chăm mầm sống
Thao thức mong tiếng lòng.
KHÔNG một cơn mưa nhỏ
Mồ hôi làm cơn mưa
Đời buông tay chẳng dễ
Trời xanh không phụ lòng
KHÁT khao xanh ước mơ
Đất cảm người thương mến
#Thungdung tròn giấc ngủ
Hoàng Thành rừng Trúc Lâm
ĐỢI MƯA
Khát khao ngóng sớm chờ trưa
Sắn trồng nửa tháng đợi mưa cháy lòng
Mía xơ xác khắp cánh đồng
Đất rang rẫy nóng, trời nồng nực oi.
Lúa non ruộng nứt nẻ rồi
Suối khô, hồ cạn, người người ngóng trông
Tiếng ve ngằn ngặt trưa nồng
Mấy khi tháng bảy lại mong mưa rào?
Thương mình, thương kẻ khát khao
Mưa ơi, ngóng đợi lặn vào giấc mơ.
*
Đời gừng cay muối mặn
Cha chăm tưới mỗi ngày
Mẹ siêng từng mầm sống
Con một đời rưng rưng
xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hanh-phuc-khat-khao-xanh/

MỘT GIA ĐÌNH YÊU THƯƠNG
Bảo tồn và phát triển
Một gia đình yêu thương
Việt Nam tổ quốc tôi
Bài học lớn muôn đời
Hoàng Gia Ngọc Phương Nam
Hậu duệ của mặt trời
Đất Mẹ vùng di sản
Hà Nội mãi trong tim
An Viên Ngọc Quan Âm
Đi Dưới Trời Minh Triết

#Annhiên
HOÀNG THẠCH CHÂN QUÂN TRUYỆN
Đá vàng thương củ sắn khoai
Nhớ bông hoa súng thắp hoài ao sen
Văn chương nết đất, thơ hiền
Lão Nông dạy học vững bền #Thungdung
*
Thầy Trao Gương Bạch Ngọc
Trăng Xuân Soi Đường Trần
Thiên Mệnh Sáng Sử Ký
Hoàng Gia Ngọc Phương Nam
Viên Minh Đêm Sương Giáng
Hạc Vàng Đón Người Thân
Vượt Trăm Năm Viên Mãn
Rằm Trọn Thời Thanh Minh
Thầy Cây Lương Thực Việt
Nghề Giáo Dưỡng Nhân Tâm
Nghiệp Vinh Danh Khoai Sắn
Lúa Ngô Thành Trúc Lâm
Thiền Sư Lão Nông Tăng
Khuyên giờ lành tỉnh thức
Noi theo dấu chân Bụt
#Thungdung và #annhiên
Hoàng Kim Vietnam my homeland
Văn chương nết đất. Trà sớm với Lão Nông
xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/một gia đình yeu-thuong.




Ngày giỗ Tổ Bà Hoàng Thị Thớc ngày 17 tháng Chạp nhằm ngày Tảo Mai (lặt là mai sáu ngày trước ngày Táo Quân lên Tết Trời) Ngày giỗ Tổ Ông Hoàng Nhụy ngày 20 tháng 7 âm lịch. Ngày giỗ Tổ Ông Trần Tươu ngày Tết Đoan Ngọ 5 tháng 5 âm lịch, Ngày giỗ Tổ Bà Mạc Thị Quynh ngày 10 tháng 2 âm lịch, xem Một gia đình yêu thương








(Văn Nghệ Quảng Minh tập 19 trang 66)
Ngày Giỗ Mạ
Hoàng Mạnh Tường
Con đi viếng Mạ Mạ ơi
Dĩa trầu cau cánh hoa tươi kính Người
Mấy chục năm Mạ đi rồi
Cây nhang nắm đất lệ rơi nhạt nhòa
Âm dương cách trở sơn hà
Nhìn lên di ảnh xót xa cõi lòng
Căn nhà ở lại quê hương
Mạ đi để nỗi nhớ thương đêm ngày
Nhìn từng ngọn cỏ gốc cây
Bóng hình của Mạ nơi này chốn kia
Tấm thân còm cõi nắng mưa
Khăn đen một chiếc sớm trưa đội đầu
Cả ngày bỏm bẻm nhai trầu
Bữa cơm con cá cọng rau đủ rồi
Một đời khó nhọc Mạ ơi
Một đời góa bụa không lời thở than
Hôm nay con cháu đủ đàn
Vẫn chưa trọn HIẾU một lần Mạ vui
Nhớ Mạ nước mắt tuôn rơi
Nhìn quanh một nẽo đất trời quạnh hiu.
Giỗ Mạ 12/5 Giáp Thìn
Thăm Mạ 22 tháng Chạp Giáp Thìn (nhằm ngày 21/1/2025)
Nhớ Ông Bà Cậu Mợ
Hoàng Kim
Minh Lễ thái hòa (*) Minh Lệ đây
Lời vàng bóng hạc lắng thơ hay
“Tổ tiên công đức muôn đời thịnh
Con cháu thảo hiền vạn kiếp vinh”
“Mạc Tộc dựng xây thiên kỷ tạc.
Hoàng Gia bồi đắp vạn đời ghi”
Chân thiện mỹ đức dày tâm sáng
Phước lộc thọ trí huệ anh minh.
(*) Một Gia Đình Yêu Thương Đá Vàng Với Ban Mai



BAN MAI CHÀO NGÀY MỚI
Tình yêu cuộc sống https://hoangkimlong.wordpress.com; Điểm nhấn cập nhật nổi bật #cnm365 https://cnm365.wordpress.com Minh Nga thăm Đồng Nai 20-21.3. 2023



HOÀNG GIA NGỌC PHƯƠNG NAM
Bạch Ngọc Hoàng Kim (kể chuyện ảnh, chương 1)
Gia đình chúng tôi Hoàng gia Ngọc phương Nam có bốn tộc Hoàng, Trần, Lê, Nguyễn. Bố tôi với bác tôi và người em gái bố đều rất nghèo. Bác tôi là thầy đồ nho dạy học chữ Tàu thuở tiếng Tây lên ngôi nên nhà sa sút. Cô tôi đi ở và lấy chồng Phong Nha Kẻ Bàng. Bố tôi lấy mẹ tôi cũng là người đi ở cho địa chủ và nghề của bố là chuyên chèo đò khuya chợ Mới chợ Troóc từ ngã ba nguồn Son tới Phong Nha và kịp về làm nông để nhận công điểm hợp tác xã. Bố chết bom năm 1968. Trần là họ mẹ, gốc gác họ Trần có từ thời vua Trần Dụ Tông chết trận khi đánh Chiêm Thành thì vợ vua không về Bắc nữa mà ở lại thành tộc Trần. Năm gia tộc ở Làng Minh Lệ là Trần, Hoàng, Trương, Nguyễn và Hoàng chi Mạc tộc, hậu duệ của mặt trời, viễn tỗ Mạc Đỉnh Chi và Thái tổ Mạc Đăng Dung . Cũng có thêm chi tiết của Mạc Cảnh Huống và Mạc Thị Gái nhưng sự kiểm chứng nguồn gốc Trần, Hoàng còn cần thêm thời gian. Lê là họ chị dâu cả Lê Thị Muôn của gia đình tôi là dân xứ biển ngoại hải Quảng Thuận gần Ba Đồn, cũng là họ chị dâu cả Lê Thị Nga của nhánh bà Trần em Làng Minh Lệ ở Hà Nội, tộc #nguyengia. . Nguyễn là họ vợ tôi và họ của chồng chị gái Hoàng Thị Huyền. “Chúng tôi sinh thành ở Quảng Bình… Nhà mình ở ngã ba sông.Rào Nan chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình. Nay thì đoàn tụ đất phương Nam. Gia đình chúng tôi đi như một dòng sông, gìn giữ nếp nhà chân chính nhân hậu;
xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/mot-gia-dinh-yeu-thuong-2 & https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoanggia & https://youtu.be/UwspPNJwge8
MỘT GIA ĐÌNH YÊU THƯƠNG
Bạch Ngọc Hoàng Kim (kể chuyện ảnh, chương 2)
Hoàng Ngọc Dộ khát vọng .Hoàng Ngọc Dộ (1937-1994) là nhà giáo. Ông quê ở xã Quảng Minh, huyện Quảng Trạch (nay là thị xã Ba Đồn), tỉnh Quảng Bình. Mẹ mất sớm. Nhà nghèo. Cha bị bom Mỹ giết hại. Ông đã nổ lực nuôi dạy các em vượt qua gian khổ, nghèo đói và chiến tranh để vươn lên trở thành những gia đình thành đạt và hạnh phúc. Gương nghị lực vượt khó hiếm thấy, ăn ngày một bữa suốt năm năm, nuôi hai em vào đại học với sự cưu mang của thầy bạn và xã hội đã một thời lay động sâu xa tình cảm thầy trò Trường Cấp Ba Bắc Quảng Trạch (Quảng Bình). Ông mất sớm, hiện còn lưu lại gần 100 bài thơ. Lời thơ trong sáng, xúc động, ám ảnh, có giá trị khuyến khích những em học sinh nhà nghèo, hiếu học. Anh Hai Hoàng Ngọc Dộ cũng là người Thầy dạy học đầu tiên cho Hoàng Kim: “Dặn con cháu khiêm nhu cần kiệm”; “Cảnh mãi đeo người được đâu em Hết khổ, hết cay, hết vận hèn Nghiệp sáng đèn giời đà chỉ rõ Rồi đây cay đắng chẳng buồn chen”;”Không vì danh lợi đua chen. Thù nhà nợ nước quyết rèn bản thân”; “Soi mặt mình trong gương không bằng soi mặt mình trong lòng người”; “Có những di sản tỉnh thức cùng lương tâm, không thể để mất vì không thể tìm lại“. Hoàng Ngọc Dộ Khát vọng https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoang-ngoc-do-khat-vong
KHÁT VỌNG
Hoàng Ngọc Dộ
Cảnh mãi theo người được đâu em
Hết khổ hết cay hết vận hèn
Nghiệp sáng đèn giời đà chỉ rõ
Rồi đây cay đắng chẳng buồn chen.
ÁNH SAO
Hoàng Ngọc Dộ
Bóng đêm trùm kín cả không trung
Lấp lánh phương Đông sáng một vừng
Mây bủa, mây giăng còn chẳng ngại
Hướng nhìn trần thế bạn văn chương.
LỜI NGUYỀN
Hoàng Ngọc Dộ
Không vì danh lợi đua chen
Thù nhà, nợ nước, quyết rèn bản thân!
Ước hẹn anh em một lời nguyền
Thù nhà đâu sá kể truân chiên
Bao giờ đền được ơn trung hiếu
Suối vàng nhắm mắt mới nằm yên.
CHÙM THƠ VỀ MẠ
Hoàng Ngọc Dộ
Chẵn tháng
Đã chẵn tháng rồi, ôi Mạ ôi!
Tuần trăng tròn khuyết đã hết rồi
Mà con không thấy đâu bóng Mạ
Thấy trăng vắng Mạ dạ bùi ngùi.
Năm mươi ngày
Năm mươi ngày chẵn thấm thoắt trôi
Mạ về cỏi hạc để con côi
Vầng trăng tròn trặn vừa hai lượt
Vắng Mạ, lòng con luống ngậm ngùi.
Đọc sách
Con đọc sách khuya không nghe tiếng Mạ
Nỗi tâm tư con nghĩ miên man
Lúc Mạ còn, con bận việc riêng con
Không đọc được để Mạ nghe cho thỏa dạ.
Nay con đọc, vắng nghe tiếng Mạ
Nỗi bùi ngùi lòng dạ con đau
Sách mua về đọc Mạ chẵng nghe đâu
Xót ruôt trẻ lòng sầu như cắt.
Mạ ơi Mạ, xin Mạ hãy nghe lời con đọc.
Buồn
Buồn khi rão bước đồng quê
Buồn khi chợp mắt Mạ về đâu đâu
Buồn khi vắng Mạ dạ sầu
Buồn khi mưa nắng giải dầu thân Cha
Buồn khi sớm tối vào ra
Ngó không thấy Mạ, xót xa lòng buồn.
CHIA TAY BẠN QÚY
Hoàng Ngọc Dộ
Đêm ngày chẳng quản đói no
Thức khuya dậy sớm lo cho hai người
Chăm lo văn sách dùi mài
Thông kim bác cổ, giúp đời cứu dân
Ngày đêm chẵng quản nhọc nhằn
Tối khuyên, khuya dục, dạy răn hai người
Mặc ai quyền quý đua bơi
Nghèo hèn vẫn giữ trọn đời thủy chung
Vận nghèo giúp kẻ anh hùng
Vận cùng giúp kẻ lạnh lùng vô danh
Mặc ai biết đến ta đành
Dăm câu ca ngợi tạc thành lời thơ
Hôm nay xa vắng đồng hồ
Bởi chưng hết gạo, tớ cho thay mày
Mày tuy gặp chủ tốt thay
Nhớ chăng hôm sớm có người tri ân.
THỨC EM DẬY
Hoàng Ngọc Dộ
Đã bốn giờ sáng
Ta phải dậy rồi
Sao mai chơi vơi
Khoe hào quang sáng
Ta kêu Kim dậy
Nó đã cựa mình
Vớ vẫn van xin
Cho thêm chút nữa.
Thức, lôi, kéo, đỡ
Nó vẫn nằm ỳ
Giấc ngủ say lỳ
Biết đâu trời đất
Tiếc giấc ngủ mật
Chẳng chịu học hành
Tuổi trẻ không chăm
Làm sao nên được
Đêm ni, đêm trước
Biết bao là đêm
Lấy hết chăn mền
Nó say sưa ngủ
Ta không nhắc nhủ
Nó ra sao đây
Khuyên em đã dày
Nó nghe chẳng lọt
Giờ đây ta quyết
Thực hiện nếp này
Kêu phải dậy ngay
Lay phải trở dậy
Quyết tâm ta phải
Cố gắng dạy răn
Để nó cố chăm
Ngày đêm đèn sách
Ta không chê trách
Vì nó tuổi thơ
Ta không giận ngờ
Vì nó tham ngủ
Quyết tâm nhắc nhủ
Nhắc nhủ, nhắc nhủ …
NẤU ĂN
Hoàng Ngọc Dộ
Ngày một bữa đỏ lửa
Ngày một bữa luốc lem
Ngày một bữa thổi nhen
Ngày một bữa lường gạo
Ngày một bữa tần tảo
Ngày một bữa nấu ăn.
(*) 5 năm cơm ngày một bữa
Trích: Khát vọng I Thi Viện
http://www.thivien.net/…/Kh%C3…/topic-jvbfrjspi2Y6S8b3jeqzpA

GỐC MAI VÀNG TRƯỚC NGÕ
Hoàng Kim
“Anh trồng gốc mai này cho em!” Anh cả của tôi trước khi mất đã trồng tặng cho tôi một gốc mai trước ngõ vào hôm sinh nhật con tôi. Cháu sinh đêm trước Noel còn anh thì mất lúc gần nửa đêm trăng rằm tháng giêng, trùng sinh nhật của tôi. Anh trò chuyện với anh Cao Xuân Tài bạn tôi trong khi tôi cùng vài anh em đào huyệt và xây kim tỉnh cho anh. Nhìn anh bình thản chơi với các cháu, tôi nao lòng rưng rưng. Chưa bao giờ và chưa khi nào tôi thấm thía những bài thơ về hoa mai cuối mùa đông tàn bằng lúc đó. Anh đi rằm xuân1994 do căn bệnh ung thư hiểm nghèo khi các con anh còn thơ dại.
Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết
Bài kệ “Cáo tật thị chúng” (Cáo bệnh với đệ tử) của thiền sư Mãn Giác (1052 – 1096) trong Thiền Uyển Tập Anh và lời bình của anh về nhân cách người hiền, cốt cách hoa mai đã đi thẳng vào lòng tôi:
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai.
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười
Trước mặt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai.
(Bản dịch của Ngô Tất Tố)
Khi Lâm Cúc và anh Đình Quang trao đổi về chủ đề hoa mai, mạch ngầm tâm thức trong tôi đã được khơi dậy như suối nguồn tuôn chảy.
Đêm qua sân trước một cành mai
Thiền sư Mãn Giác viết bài kệ “Cáo tật thị chúng” khi Người 45 tuổi, sau đó Người đã an nhiên kiết già thị tịch. Bài thơ kiệt tác vỏn vẹn chỉ có sáu câu, ba mươi tư chữ, bền vững trãi nghìn năm. Đối diện với cái chết, thiền sư ung dung, tự tại, thấu suốt lẽ sinh tử: Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết / Đêm qua sân trước một cành mai.
Lời thơ thanh thoát, giản dị một cách lạ lùng! Thực tế cuộc sống đã được hiểu đầy đủ và rõ ràng. Bản tính cuộc sống là hạnh phúc và đau khổ, vui vẻ và phiền muộn, sự thiếu hoàn thiện và luôn vô thường. Xuân đi trăm hoa rụng/ xuân đến trăm hoa cười/ trước mặt việc đi mãi/ trên đầu già đến rồi. Đó là qui luật muôn đời, hoa có tàn có nở, người có diệt có sinh. Hạnh phúc cuộc sống là phong thái luôn vui vẻ và sung sướng, thanh thản và thung dung, không lo âu, không phiền muộn. Sống với một tinh thần dịu hiền và một trái tim nhẹ nhõm.
Tình yêu cuộc sống thể hiện trong ý xuân và trật tự các câu thơ.“Xuân đi trăm hoa rụng/ xuân đến trăm hoa cười” ẩn chứa triết lý sâu sắc hơn là “Xuân đến trăm hoa cười, xuân đi trăm hoa rụng/”. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585) trong bài thơ nôm “Chín mươi” có câu: “Chín mươi thì kể xuân đà muộn/ Xuân ấy qua thì xuân khác còn”. Tăng Quốc Phiên chống quân Thái Bình Thiên Quốc “càng đánh càng thua” nhưng trong bản tấu chương gửi vua thì ông đã quyết ý đổi lại là “càng thua càng đánh”. Việc “đánh thua” thì vẫn vậy nhưng ý tứ của câu sau mạnh hơn hẵn câu trước.
Hoa mai là biểu tượng của mùa xuân, của sự may mắn, vui tươi và trường thọ. Cành mai ẩn tàng thông điệp của mùa xuân. Hoa mai vừa có cốt cách, vừa đẹp thanh nhã, vừa có hương thơm và nở sớm nhất trong các loại hoa xuân. Vì vậy, hoa mai đã được chọn để biểu hiện cho cốt cách thanh cao của người hiền. Hoa mai, hoa đào, hoa lê, hoa mận có nhiều loài với vùng phân bố rộng lớn ở nhiều nước châu Á nhưng chỉ riêng mai vàng là đặc sản của Việt Nam, trong khi mai trắng và hoa đào là phổ biến tại Trung Quốc, Nhật Bản, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc và các nước Trung Á.
Mai vàng hoa xuân của Tết Việt
Mai vàng là đặc sản Việt Nam. Hoa mai, hoa đào, bánh chưng là hình ảnh Tết cổ truyền của dân tộc Việt. Hoa mai là một trong bốn loài hoa kiểng quý nhất (mai, lan, cúc, trúc) của Việt Nam đặc trưng cho bốn mùa. Hoa mai gắn liền với văn hóa, đời sống, tâm linh, triết lý sống, nghệ thuật ứng xử, thơ văn, nhạc họa. Hiếm có loài hoa nào được quan tâm sâu sắc như vậy
“Nghìn dặm tìm anh chẳng gặp anh. Đường về vó ngựa dẫm mây xanh. Qua đèo chợt gặp mai đầu suối . Đóa đóa vàng tươi xuân thắm cành” (Hồ Chí Minh 1890-1969); “Đêm qua sân trước một nhành mai” (Mãn Giác 1052-1096) “Lâm râm mưa bụi gội cành mai” (Trần Quang Khải 1241-1294); Ngự sử mai hai hàng chầu chắp/ Trượng phu tùng mấy rặng phò quanh” (Huyền Quang 1254-1334); Quét trúc bước qua lòng suối/ Thưởng mai về đạp bóng trăng” (Nguyễn Trãi 1380-1442); “Cốt cách mai rừng nguyên chẳng tục”( Nguyễn Trung Ngạn 1289-1370); “Mai cốt cách, tuyết tinh thần” (Nguyễn Du 1765-1820) “Nhờ chúa xuân ưu ái/ Xếp đứng đầu trăm hoa/ Chỉ vì lòng khiêm tốn/ Nên hẵng nở tà tà” (Phan Bội Châu 1867-1940); “Mộng mai đình” (Trịnh Hoài Đức 1725-1825) ; “Non mai rồi gửi xương mai nhé/ Ước mộng hồn ta hóa đóa mai” (Đào Tấn 1845-1907); “Một đời chỉ biết cúi đầu vái trước hoa mai” (Cao Bá Quát 1809-1855) “Hững hờ mai thoảng gió đưa hương” (Hàn Mặc Tử 1912-1940) “Tìm em tôi tìm/ Mình hạc xương mai”(Trịnh Công Sơn 1939-2001),…
Gốc mai vàng trước ngõ. Rằm xuân lại nhớ anh. Cành mai rung rinh quả. Xuân sang lộc biếc cành. … Vườn nhà buổi sáng xuân nay. Nước xao tăm cá, mai đầy nắng xuân. Mẹ gà quấn quýt đàn con. Đất lành chim đậu, lộc xuân ân tình.

MẸ ĐI THANH THẢN CHÚNG CON NHỚ NGƯỜI
Hoàng Trung Trực kính nhớ Mẹ
Mẹ đi về chốn vĩnh hằng
Quên đi bao nỗi nhọc nhằn Mẹ ơi
Thế là Mẹ đã xa rồi
Vành khăn tang thấm nghĩa đời chúng con
Tháng ngày lời Mẹ chẳng còn
Mẹ đi thanh thản, chúng con nhớ người
Gần trăm năm sống với đời
Biết bao gian khổ cuộc đời Mẹ lo
Có ngày cơm chẳng đủ no
Vầng trăng trí tuệ Mẹ lo chu toàn
Cho con khôn lớn bình an
Vượt lên số mệnh, hiên ngang với đời
Kiến thức khoa học sáng ngời
Hiền tài giúp nước, giúp đời Mẹ ơi!

VIẾNG MỘ CHA MẸ
Thơ anh Hoàng Trung Trực
Dưới lớp đất này là mẹ là cha
Là khởi phát đời con từ bé bỏng
Là lời mẹ ru dịu dàng cánh võng
Là gươm đao cha một thuở đau đời
Hành trang cho con đi bốn phương trời
Là nghĩa khí của cha, là nhân từ của mẹ
Vẫn bầu sữa tinh thần không ngừng không nghỉ
Để hành trang cho con đi tiếp cuộc đời
Cuộc đời con bươn chãi bốn phương trời
Nay về lại nơi cội nguồn sinh trưởng
Dâng nén hương mà lòng hồi tưởng
Thuở thiếu thời dưới lồng cánh mẹ cha
“Ước hẹn anh em một lời nguyền
Thù nhà đâu sá kể truân chiên
Bao giờ đền được ơn trung hiếu
Suối vàng nhắm mắt mới nằm yên”.
xem tiếp Hoàng Trung Trực đời lính https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoang-trung-truc-doi-linh/

LỜI DÂNG NHỚ CỤ MẠ
Tổ tiên công đức muôn đời thịnh
Con cháu thảo hiền vạn kiếp vinh
Bắc Trung Nam Hải hai bầu sữa
Hoàng Trần Lê Nguyễn một con đường
Cụ Mạ chở che tròn Nam Bắc
Anh Em thân thiết suốt tháng năm
Làng Minh Lệ Quê Tôi Hoa Đất
Quảng Bình Đất Mẹ Ơn Người
HAI BÀ TRẦN LÀNG MINH LỆ
Quê hương Làng Minh Lệ, xã Quảng Minh, thị trấn Ba Đồn tỉnh Quảng Bình có hai bà Trần chị em ruột con ông cố Giản ((cậu em út Trần Qua mất sớm) Hai bà Trần sinh thành tổng cộng chín người con nay đều thành đạt hạnh phúc. Một gia đình yêu thương lưu truyện trong gia đình quyến thuộc nếp nhà chân chính cho con cháu bồi đắp điều lành lánh dữ để bảo tồn và phát triển bền vững. Bà Trần chị là Trần Thị Giản (1917-1964) lấy chồng là Hoàng Hữu Chư (1913-1968) chính chủ #hoànggia đã sinh thành chín người con, nhưng do nghèo đói và chiến tranh mà bốn người con không qua khỏi từ thuở nhỏ, chỉ dưỡng dục được năm người con, an cư lập nghiệp tại Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh. Tên gọi của năm người con của bà Trần chị gọi theo thứ bậc Nam Bộ không cần lưu danh là anh Hai, chị Ba, anh Tư, chị Năm và anh Sáu. Bà Trần em sinh thành bốn người con trai, đang an cư lập nghiệp tại thủ đô Hà Nội, gọi theo thứ bậc Việt Nam không lưu danh là anh Bảy, anh Tám, anh Chín, anh Mười,

MỪNG ĐÓN CẬU MẸ
Thơ em Nguyễn Hữu Khánh
Lòng Cậu Mẹ mênh mông như trời rộng
Phủ ấm cháu con suốt cả một đời
Và ngay cả khi Cậu Mẹ đã về Trời ![]()
Tròn 10 năm Cậu vân du * cùng Mẹ
Trong tâm tưởng con Cậu Mẹ vẫn về đây
Về với cháu con trong những dịp sum vầy
Như hôm nay, ngày gia đình họp mặt.
Trong vấn vít khói hương trầm thơm ngát
Con thấy Cậu vui, mắt miệng cùng cười
Bỏm bẻm nhai trầu như thường thấy trong đời
Mẹ ngồi đó nhìn cháu con trìu mến.
Con lại thấy ký ức xưa hiện đến
Chủ nhật cả nhà bên nồi canh chua đầu cá thật “to”
“Đặc sản” nhà mình thường là đầu, thủ, chân giò
Những thực phẩm ít gia đình muốn lấy
Nhưng nhà mình đông con, biết sao, đành vậy
Lấy loại nhiều xương khối lượng được nhân đôi
Nhọc nhằn nuôi 4 con khôn lớn thành người.
Khó khăn vượt qua rồi
Mong Cậu Mẹ giờ chỉ còn thanh thản tiếng cười
Nhà mình vững vàng hơn
Luôn mừng đón Cậu Mẹ về thăm
Các cháu con gắng học giỏi, làm chăm
Để thêm nhiều niềm vui dâng Cậu Mẹ.
Làn khói trầm vẫn vờn bay nhè nhẹ
Tỏa hương thơm ngan ngát trong nhà./.
* Vân du tiên cảnh cõi VĨNH HẰNG
Giỗ Cậu lần 10 – 10/10/2020 AL
Giỗ Mẹ Liên 4 -7 AL (nhằm ngày 11/8/2021)
Giỗ Mẹ Giản (chị ruột mẹ Liên) ngày 3 -1 Tết AL (Canh Thìn 1963)
Giỗ Cụ (chồng mẹ Giản) bị bom Mỹ giết hại ngày 29 -8 Mậu Thân AL (1968)

Bác Giáp & Ba của Honghoa Le cùng với Nga Lê và Tra Le & Ban lãnh đạo Đoàn chuyên gia QS 959 & CP 38 -TW bàn KH tác chiến … Tại chiến trường Lào… (Thông tin tích hợp tại Nga Lê, Một gia đình yêu thương & #cnm365 #cltvn 5 tháng 11

Một gia đình yêu thương. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/mot-gia-dinh-yeu-thuong/ Ngày nhớ Mẹ kính yêu, Nam Nguyen đang cảm thấy biết ơn cùng Nguyen Chien Thang và 10 người khác.
Mẹ tôi …. Nếu trên thế gian này có những người Phụ nữ sinh ra là để hy sinh tất cả cho Chồng, cho Con – thì một trong số đó là Mẹ tôi. Sự hy sinh vô bờ bến và không đòi hỏi, không điều kiện gì cả với Chồng, với các con. Chúng tôi lớn lên dưới sự chở che của Mẹ, không bị thúc ép về học hành, không bị yêu cầu phải là con ngoan, trò giỏi. Trong sự bao dung không lời của Mẹ, chúng tôi đọc được, hiểu được mình phải lớn lên, phải trưởng thành như những người có ích là việc đương nhiên. Mẹ dạy chúng tôi tính nhẫn nại, sự quan tâm đến người khác, tinh thần trách nhiệm với công việc, với mọi người xung quanh …. Tôi nhớ mãi thời những năm 70-80 thế kỷ trước, mặc dù để lo cho 4 cậu con trai tuổi ăn, tuổi ngủ là vô cùng vất vả. Nhưng Mẹ vẫn vui vẻ đón tiếp các cháu họ hàng từ quê hương ra học tập / công tác ở Hà Nội (Quê tôi ở Quảng Bình). Giữa Hà Nội (Hồ Đống Đa), mà cả nhà phải trồng rau muống & chăm lợn để có thêm thực phẩm cho GIa đình, nhưng Mẹ chưa bao giờ phàn nàn khi đón tiếp các cháu, con ở xa về. Nhà tôi luôn là trạm đón tiếp nhiệt tình & trung tâm của Họ hàng tại Hà Nội. Không ngần ngại khi chia sẽ cân gạo, gói quà cho hàng xóm, láng giềng xung quanh. Chúng tôi tự hào khi Bà con chòm xóm trường Nguyễn Ai Quốc X đều thể hiện sự yêu quý mỗi khi nói về Bà. Các cháu họ hàng thì luôn yêu quý, kính trọng Bà. Có thể chính vì vậy, mà cuộc sống của 4 AE tôi cũng được hanh thông hơn. Cổ nhân có câu “Phúc Đức tại Mẫu”, chắc là vậy.Mẹ tôi có mong ước lớn là có được 1 cô con gái, nhưng may mắn thay
, đứa em sau tôi lại là … con trai. Chú Thắng, để sau này tôi còn có thằng em để huấn luyện đánh nhau. Vì oánh lại các ông Anh là không lại được. Mẹ luôn để AE tôi tự xử, tự sắp đặt trật tự quyền lực trong 4 AE. Và chúng tôi đã sống vui, sống khỏe trong hòa bình mà không cần sự can thiệp của Bố Mẹ. Chúng tôi rất ân hận vì không được là con gái để chăm sóc Mẹ chu đáo hơn. Đặc biệt, mỗi khi Mẹ ốm là 4 ông con lộc ngộc cứ đi vòng quanh hỏi han, chứ không chải tóc, bóp chân bóp tay cho Mẹ như con gái được. Để bù đắp cho Mẹ, mấy AE tôi quyết định chỉ cần Bác cả đẻ con trai (nối dõi tông đường), còn 3 AE mỗi thằng 2 cô con gái cho Mẹ vui lòng
Chúng tôi biết rằng dù lớn đến đâu, ở cương vị nào trong xã hội, thì đối với Mẹ chúng tôi vẫn luôn bé nhỏ như ngày nào….Với các con dâu, Mẹ tôi đối xử bình đẳng và luôn bênh các con dâu so với con trai. Có thể Văn hoá ứng xử mỗi nhà mỗi khác, nhưng Mẹ tôi luôn lấy sự ấm cúng làm trọng, nên Bà không bao giờ bắt bẻ con dâu. Cái gì bỏ qua được là bỏ qua. Lấy cái lớn làm trọng. Mặt khác, có lẽ Mẹ tôi đã thấy trước là khi Mẹ nằm xuống thì với bản tính hiền lành, bao dung AE chúng tôi cũng nhường quyền quản lý gia đình cho Vợ….
Mẹ tôi khi thanh niên là 53 kg. Mà sau khi sinh, chăm sóc 4 đứa con trưởng thành và về già thì còn có 36 kg. Hình ảnh Bà lúc gần 80 tuổi, bỏm bẻm nhai trầu. quan sát chỉ đạo chị giúp việc chăm sóc Chồng cứ đọng mãi trong tôi. Thỉnh thoảng Bà còn ra ngồi quán Bia hơi ở Chợ Thái Hà nhâm nhi cốc Bia. Bà chỉ uống 1 cốc thôi. Hỏi thì Bà nói để xem XH có gì thay đổi, mới không. Có lẽ tôi hay đi nhậu với bạn bè cũng là do….. di truyền Xin được kính cẩn thắp nén nhang nhớ về Mẹ nhân ngày Giỗ thứ 17 giữa mùa Covid !(4/7/2004-4/7/2021)

















TIỄN EM VÀO TRẬN ĐÁNH
Hoàng Kim gửi Chiến Thắng
Tiễn em vào trận đánh
Tím một trời yêu thương
Chợt gặp mai đầu suối
Đêm mai là trăng rằm
Ngày mới lời yêu thương
Người vịn trời chấp sói
Ngôi sao mai chân trời
Giấc mơ lành yêu thương



Ngày giỗ của Tổ Bà ngày 17 tháng Chạp hôm nay nhằm ngày Tảo Mai (lặt là mai sáu ngày trước ngày Táo Quân lên Tết Trời) https://cnm365.wordpress.com/2024/01/27/cnm365-cltvn-27-thang-1/ xem thêm Một gia đình yêu thương



BAN MAI CHÀO NGÀY MỚI
Tình yêu cuộc sống https://hoangkimlong.wordpress.com; Điểm nhấn cập nhật nổi bật #cnm365 https://cnm365.wordpress.com Minh Nga thăm Đồng Nai 20-21.3. 2023



Minh Nga về Hà Nội “Không phụ lòng người lá và cây trải qua chặng đường toàn 34-35 độ C Về đến Hà Nội vẫn xanh tươi . Cám ơn quà xứ Nam. Quyết định đi vội không mang đủ quà Hà Nội cho mọi người. Nhưng Hà Nội có quà gì nhỉ ngoài không khí ô nhiễm và trái cây toàn có tẩm thuốc bảo quản hu hu. Hy vọng trồng được cây, sợ khó đây !!”
“Hôm qua đến thăm gia đình bác Trực lúc 4:30 chiều, tiếp đó thì đến nhà bác Huyền. Được gặp đầy đủ các anh chị và các cháu. Em Minh và Nga kết thúc một chuyến đi rất thành công cho dù thời gian còn chật hẹp! Thật xúc động khi được gặp lại các anh chị em và các cháu ở đất phương Nam sau nhiều năm! Được thấy các anh chị em và các cháu mọi việc đều ổn, Các anh chị tuy tuổi đã cao, sức khỏe có yếu đi, nhưng tinh thần vẫn lạc quan, vui vẻ, em thực sự rất mừng. Một lần nữa cám ơn hai bác Kim+Thủy và toàn bộ các anh chị em và các cháu ở Đồng Nai đã chu đáo giúp chúng em thực hiện được chuyến thăm đầy ý nghĩa này! Mong chúc cho đại gia đình ta sức khỏe dồi dào, làm ăn ngày càng tấn tới và cuộc sống hạnh phúc! Mong sớm gặp lại toàn thể các anh chị em và các cháu!”


AN VIÊN NGỌC QUAN ÂM
Bạch Ngọc Hoàng Kim (kể chuyện ảnh, chương 3)
Ngày mồng Ba Tết Tân Sửu 2021 là ngày giỗ Mẹ của gia đình chúng tôi trùng ngày Tình Yêu 14 tháng 2. Gia đình của các cháu Mai Xuân Trường & Hoàng Thị Hòa. Mai Hoàng Quỳnh, Mai Hoàng Sơn, Mai Hoàng Ánh giao cho chúng tôi một pho tượng lớn đức Mẹ Ngọc Quan Âm chạm khắc tuyệt đẹp trên gỗ quý gõ đỏ (hình), kết nối gia đình dòng họ tốt hơn Hoàng Gia Ngọc Phương Nam nơi hợp lưu sáu dòng họ Hoàng, Trần, Lê, Nguyễn, Mai Kuma (là dòng họ lớn ở Srilanka /Tích Lan nơi cháu Hoàng Thị Thảo về làm dâu như chuyện kể dưới đây.

Sri Lanka dấu chân Phật (hòn đá khiêm nhường) Cô dâu Việt Hoàng Thảo
Sri Lanka Buddha’s footprint (humble stone) Hoang Thao Vietnamese bride
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/kuma-dcj-va-hoang-thao/

Kuma DCj & Hoàng Thảo
Congratulations to Kuma DCj & Hoang Thao Sri Lanka and Vietnam
“Núi không cần cao, có tiên phật người lành là linh điạ. Nước không cần sâu,có suối nguồn thắng tích hẳn an nhiên”. xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/kuma-dcj-va-hoang-thao/

KUMA DCJ VÀ HOÀNG THẢO
Hoàng Gia mừng Hạnh Phúc
Nhớ tháng bảy mưa ngâu; Nhớ vầng trăng ngọn lửa; Hoàng Ngọc Dộ khát vọng; Kuma D Cj và Hoàng Thảo; Bài ca nhịp thời gian: Hạnh phúc https://youtu.be/_Bs4XcVufqY Remembering ‘mưa ngâu’ rainy July/ Miss the moon, the fire / Hoang Ngoc Do aspiration / Kuma D Cj and Hoang Thao/ Song of Time: Happiness

Kuma D Cj and Hoang Thao Kuma DCj là người Sri Lanka (đất nước Tích Lan),cha mẹ là giáo viên, nhà gần dấu chân Phật (hòn đá khiêm nhường), Kuma có hai chị gái, Kuma D Cj and Hoang Thao thương nhau và kết hôn ở Nhật khi Kuma học IT và Hoàng Thảo xuất khẩu lao động Việt Nam làm điều dưỡng viên tại Nhật từ nhiều năm trước.Chuyện đời là cảm động, xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/kuma-dcj-va-hoang-thao/
NHỚ THÁNG BẢY MƯA NGÂU
Hoàng Kim
Tháng Bảy mưa Ngâu
Trời thương chúng mình
Mưa giăng
Ướt đầm vạt áo
Bảy sắc cầu vồng
Lung linh huyền ảo
Mẹ thương con
Đưa em về cùng anh.
Chuyến xe tốc hành
Chạy giữa trăm năm
Chở đầy kỷ niệm
Chở đầy ắp tình em
Từ nơi chân trời
Góc biển
Chàng Ngưu hóa mình vào dân ca
Con ngựa, con trâu
Suốt đời siêng năng làm lụng.
Thương con gà luôn dậy sớm
Biết ơn con chó thức đêm trường.
Em ơi !
Những câu thơ ông bà gửi lại
Đã theo chúng mình đi suốt thời gian.
Tháng Bảy mưa Ngâu
Đầy trời mưa giăng giăng
Thương nàng Chức Nữ
Em là tiên đời thường
Đầy đặn yêu thương.

Remembering ‘mưa ngâu’ rainy July
Hoang Kim
Rainy July
God loves us
Rain falls
Wet dress shirt
Seven colors of the rainbow
Shimmering
Mother loves her child
Take me home with you.
Express ride
Running for a hundred years
Filled with memories
Filled with love
From the horizon
Sea corner
The Taurus man transforms himself into folk songs
Horse, buffalo
Hard work all his life.
Love the chicken that always gets up early
Grateful for the dog that stayed up all night.
Hey ’em ơi’ ‘anh ơi’ !
Poems sent by grandparents
Followed us the whole time.
“Mưa Ngâu” Rainy July
It’s full of rain “Ban Mai”
#cnm365 #cltvn July 7
I love you, Chuc Nu
I’m a normal fairy
Full of love.
see more …
Nhớ tháng bảy mưa ngâu;
Nhớ vầng trăng ngọn lửa;
Hoàng Ngọc Dộ khát vọng;
Kuma D Cj và Hoàng Thảo;
Bài ca nhịp thời gian: Hạnh phúc
https://youtu.be/_Bs4XcVufqY
Remembering ‘mưa ngâu’ rainy July/
Miss the moon, the fire /
Hoang Ngoc Do aspiration /
Kuma D Cj and Hoang Thao/
Song of Time: Happiness

Tháng Bảy mưa Ngâu
Nhớ thương ai góc biển chân trời
Những cuộc chia ly
Đong đầy nỗi nhớ …
Chiêm bao mơ về chuyện cũ
Khói sương mờ ký ức thời gian
Chốn nào chúng mình hò hẹn
Nơi em cùng anh xao xuyến yêu thương
Ngắm mưa Ngâu tháng Bảy
Mưa, mưa hoài, mưa mãi
Mưa trong lòng người
Nên mưa rất lâu…
Mưa rơi như dòng lệ trắng
Đất trời thương nối một nhịp cầu.
Em ơi
Lời tình tự của nghìn năm dân tộc.
Như sắc cầu vồng
Nối hai miền xa cách
Để xa nên gần
Vời vợi nhớ thương.
“Nhớ tháng Bảy mưa Ngâu” là bài thơ tình của Hoàng Kim viết tặng cho những đôi lứa yêu thương cách xa nhau và khát khao ngày gặp mặt. Bài thơ là chuyện tình cảm động Ngưu Lang Chức Nữ có trong dân gian Việt Nam. Truyện về nàng tiên Chức Nữ xinh đẹp, phúc hậu, nết na yêu thương chàng trai Ngưu Lang khôi ngô, hiền lành, chăm chỉ. Họ yêu nhau say đắm, bất chấp sự xa xôi nghìn trùng của cõi Trời và cõi Người. Cảm động trước tình yêu son sắt thủy chung của hai người, mỗi năm Trời Phật đã nối duyên cho họ găp nhau một lần vào tiết tháng Bảy mưa ngâu trước rằm Trung Thu tháng Tám. Đó là dịp Trời gom góp của nhà Trời và sự cần mẫn suốt năm của Ngưu Lang Chức Nữ để làm thành chiếc cầu vồng bảy màu nối liền đôi bờ thăm thẳm cho họ được gặp nhau. Muôn vạn con quạ, con cò, con vạc, bồ nông, ngỗng trời đã hợp lực ken kín cầu Ô Thước để giúp Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau. Những giọt nước mắt mừng tủi của hai người và sự cảm động của trời đất, chim muông đã hóa thành mưa ngâu.
HOÀNG GIA DÒNG HỌ THỨ SÁU
Nhớ tháng bảy mưa ngâu
Chuyện hiền vui trăm năm
Một gia đình yêu thương
Chim Phượng về làm tổ
Hoàng Kim kể chuyện Hoàng Gia mạch nguồn hợp lưu thứ sáu: (*) Kuma DCj và Hoàng Thảo tại ngày Lễ Thất tịch năm 2022 hợp ngày 4/8 Dương lịch. Kuma DCj là người Sri Lanka (đất nước Tích Lan), cha mẹ là giáo viên, nhà gần dấu chân Phật (hòn đá khiêm nhường), Kuma có hai chị gái, Kuma D Cj and Hoang Thao thương nhau và kết hôn ở Nhật khi Kuma học IT và Hoàng Thảo xuất khẩu lao động Việt Nam làm điều dưỡng viên tại Nhật từ nhiều năm trước. Chuyện đời là cảm động. Sri Lanka dấu chân Phật, hòn đá khiêm nhường (ảnh), một trong tám dấu tích di sản thế giới ở đất nước Tích Lan Sri Lanka, nơi một hậu duệ Hoàng Gia Mạc tộc chọn về làm dâu ngày nay. “Núi không cần cao, có tiên phật người lành là linh điạ. Nước không cần sâu,có suối nguồn thắng tích hẳn an nhiên”. xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/kuma-dcj-va-hoang-thao/

HẬU DUỆ CỦA MẶT TRỜI
Bạch Ngọc Hoàng Kim (kể chuyện ảnh, chương 4)
Cụ Hoàng Thúc Cảnh 102 tuổi năm 2023, tại ‘đôi lời giới thiêu’ tập di cảo “Hợp tuyển thơ Minh Sơn Hoàng Bá Chuân” 326 trang, lưu truyền trong gia đình & quyến thuộc đã viết : (trích …)

ĐỀN NGỌC SƠN HỒ GƯƠM
Minh Sơn Hoàng Bá Chuân
Tô điểm Hà Thành một hạt châu
Ấy hồ Lục Thủy tiếng từ lâu
Trăng vờn cổ thụ mây lồng nước
Tháp hướng trời xanh gió lộng cầu
Kiếm bạc hưng bang rùa vẫn ngậm
Bút son kiến quốc hạc đương chầu
Trùng trùng lá biếc hoa phơi gấm
Kìa tượng Vua Lê chót vót cao
1966
(Đã in trong tuyển tập Ngàn năm thương nhớ
NXB Hội Nhà Văn xuất bản năm 2004 nhân kỷ
niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội)

HÀ NỘI MÃI TRONG TIM
Đền Ngọc Sơn Hồ Gươm
Hoàng Thành ngọc cho đời
Tháp Bút viết trời xanh
Trăng rằm sen Tây Hồ
TỰ VỊNH VƯỢT BÁT TUẦN
Minh Sơn Hoàng Bá Chuân
Bát tuần đã trãi việc đời nhiều
Chân chính bao nhiêu phúc bấy nhiêu
Nhân hậu thói nhà in một nếp
Trung kiên việc nước đủ trăm chiều
Lòng son phơi phới vầng trăng dọi
Tóc bạc phơ phơ ngọn gió phiêu
Hôm sớm sân Lai (*) thêm sắc mới
Sum vầy con cháu tiếng vui reo !
Tưởng nhớ ngày của Ông 24 4 âm lịch; Hồn chính khí bốc lên ánh sáng, sáng choang ngoc đá giữa hoang tàn. Tâm nhân văn lắng đọng tinh hoa, hoa Đất hoa Người trong cõi Bụt. xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-ong-ba-cau-mo/

DÂNG CẢ TẤM LÒNG
Hoàng Thúc Cảnh
Năm mới cháu chắt tụ lại đây
Để nhớ công ơn của Tổ Bầy
Cùng với tổ tiên bao thế hệ
Xây nên Hoàng Mạc vững đời đời
Xiết bao cảm xúc trước từ đường
Kính dâng cậu mạ một nén hương
Đội ơn cậu mạ nơi tiên cảnh
Che chở chúng con ở hậu phương
Năm mới xin chúc cả mọi người
Bình an hạnh phúc vẹn mười mươi
Nhớ mãi lời khuyên ông để lại
Sống càng chân chính phúc càng dày.
TỰ HÀO
Hoàng Thúc Cảnh
Tự hào biết mấy phúc nhà ta
Một cây đại thụ tuổi trăm già
Hai cây chín chục hai cây tám
Năm cây chụm lại đẹp như hoa
CẢM HỨNG
Hoàng Thúc Cảnh
Một trăm linh một hạnh phúc thay
Lại may gặp hổ buổi xuân này
Quyết cùng hổ vượt Nam sơn ấy
Được rồng chào đón thật là hay
TỰ TÌNH
Hoàng Thúc Cảnh
Trần thế đến nay đoạn cuối cùng
Nghĩ lại thời qua cũng chạnh lòng
Công cha báo đáp còn chưa thỏa
Nợ nước đền ơn chỉ một lần
Xót tình chung thủy vì đứt mối
Cám cảnh ba sinh chẳng vẹn lòng
Dù đã tóc sương lưng còm cõi
Vẫn là chiếc bách giữa trời giang
VĂN NGHỆ QUẢNG MINH TẬP 18
Kính thưa quý vị và các bạn!
VĂN NGHỆ QUẢNG MINH TẬP 18, tiếp nối Văn Nghệ Quảng Minh tập 17, đang biên tập bài vở từ khắp nơi gửi về. Đối với các vị lão thành cách mạng lớn tuổi, những anh chị em không có điều kiện gửi bằng Email thì tôi sẽ đánh máy lại. Sau đây xin giới thiệu bài viết của cụ Hoàng Thúc Cảnh 102 tuổi, người đã có một thời ở an toàn khu Việt Bắc, và người từng ở Phủ Thủ Tướng, Phủ Chủ Tịch Hà Nội, tất cả là 38 năm. Chúng tôi xin giới thiệu 1 bài thơ và trích hồi ký của cụ để quý vị cùng các bạn tham khảo và chia sẻ.

HOÀNG THÚC CẢNH
MẤY LỜI DẶN LẠI CÁC EM
Rồi đây anh phải đi xa
Vài lời dặn lại gọi là tình thân
Hỡi các em bảy người như một
Cậu mẹ sinh nuôi dạy trưởng thành
Vào sinh ra tử bao phen
Rồi cùng tái ngộ thần tiên trên đời
Cảnh hàn vi bao giờ quên được
Nhớ mẹ cha bao buổi chia tay
Mấy lần nước mắt tuôn rơi
Nay anh về trước cho vui lòng già
Các em nhớ là gà một mẹ
Gắn bó nhau đến phút cuối cùng
Thuận hòa nhân nghĩa hiếu trung
Rộng lòng độ lượng Cậu cùng nêu cao
Hãy quên đi những lời chẳng đẹp
Những việc làm chẳng hợp lòng ta
Mới là vui vẻ tuổi già
Một mai thoát khỏi thật là nhẹ tênh
Mấy lời trước lúc chia tay
ĐƯỜNG TÔI ĐI
(Trích hồi ký cụ Hoàng Thúc Cảnh)
Tôi sinh ngày rằm tháng 8 âm lịch năm Nhâm Tuất (1922). Từ năm 1950, sau khi lên công tác tại An toàn khu Việt Bắc, để bảo mật nên lấy mật danh là Lê Phong và được dùng chính thức trong công văn giấy tờ, trong mối quan hệ với các cơ quan trong suốt thời gian công tác.
Từ năm 7 tuổi đến 13 tuổi, tôi học ở trường tiểu học Thọ Linh (chương trình 6 năm). Năm 1936 lúc 13 tuổi tôi học xong tiểu học. Muốn học lên cao đẳng tiểu học thì phải vào Huế. Đi học xa không có tiền nên phải ở nhà giúp bố mẹ làm ruộng, vào rừng chặt củi để về đun thổi, hoặc lượm hạt dẻ, hái sim về bán lấy tiền giúp gia đình. Những ngày nông nhàn và mùa nghỉ hè thì dạy thêm cho con em trong làng, trong họ, cùng thu nhập thêm. Đời sống lam lũ, chân lấm tay bùn, khép kín trong bốn bức tường nên rất tủi thân. Nhất là khi thấy mấy người trong xóm đi học xa về, quần áo bảnh bao, càng thêm tủi phận, nhiều lần vào chỗ khuất sau bàn thờ ngồi khóc. Vì vậy trong lòng nuôi ý chí là phải tìm cách đi học.
Với ý chí và quyết tâm học tập, tôi đã tìm cách thoát ly ra ngoài. May có người mách là có thầy giáo cũ tên là Trần Ngọc Mai dạy lớp 3 cho tới nay đang dạy trường An Cựu Huế. Tôi viết thư xin thầy làm gia sư và được thầy chấp nhận cho. Như vậy là tôi phải bỏ học ở nhà mất hai năm.
Tháng 9 năm 1938, tôi vào Huế vừa làm gia sư vừa học cao đẳng tiểu học. Năm 1942 thì tôi tốt nghiệp cao đẳng tiểu học. Làm gia sư có chỗ ăn học nhưng cũng rất vất vả vì nhà xa trường Thuận Hóa đến 4,5 cây số lại phải cuốc bộ. Thầy lại có 3 đứa con, đứa lên 7 đứa lên 9 và 11 tuổi nên chăm sóc cho 3 đứa hết cả thời giờ. Điện chưa có, dầu hỏa cũng hiếm phải dùng dầu lạc nên việc học hành rất vất vả.
Trường Thuận Hóa là một trường tư thục, do cụ Tôn Quang Phiệt (Sau này là Tổng thư ký Ủy ban Thường vụ Quốc hội), một tri thức tham gia cách mạng (Tân Việt và Cộng sản) bị bắt tù đày tha về, hợp tác cùng một số trí thức khác. Họ là những người tham gia cách mạng như Giáo sư Đào Duy Anh, Giáo sư Trần Đình Đàn, Giáo sư nhà văn Hoài Thanh, nhà giáo Trần Hữu Duẩn, thành lập ra không phải để mục đích kinh doanh mà chủ yếu để đào tạo, giáo dục thanh niên lòng yêu nước. Trong bốn năm học tập, các thầy giáo qua các bài giảng của mình, chủ yếu qua các bài học văn, học sử, học địa lý…khêu gợi lòng yêu nước của nhân dân ta, nêu gương các anh hùng dân tộc, các trận thắng to, đồng thời sự khổ nhục của các dân tộc khi bị nước ngoài xâm lược, đô hộ. Trong những năm đó, tôi còn được đọc một số bài thơ Cách mạng của đồng chí Tố Hữu. Vì vậy tôi cũng có phần được giác ngộ.
Như trên đã nói, được làm gia sư, yên ổn chỗ ăn ở để đi học, nhưng vì nhà xa trường lại mất nhiều thời giờ dạy các em, nên để việc học có kết quả, có điều kiện xin học bổng, tôi phải cố gắng rất nhiều. Nhất là trước những ngày thi học kỳ, có những lúc cả tháng trời, trưa nào cũng phải ở lại trường để ôn tập, có lúc ăn vài xu khoai sắn, có lúc nhịn đói. Vì vậy sau 3 năm dạy con thầy giáo cũ, đến năm thứ ta là năm phải thi tốt nghiệp tôi phải chuyển chỗ dạy và may mắn được dạy cho con cụ Nguyễn Học Sỹ, tức thi sỹ Nam Trân. Sự cố gắng đó đã đem lại cho tôi kết quả, cuối năm thứ tư đậu cao đẳng tiểu học. Thời bấy giờ đậu được bằng này rất khó vì phải thi bằng tiếng Pháp. Nhưng khi đã có bằng thì có thể làm giáo viên và các công sở, v.v…
Sau khi tốt nghiệp cao đẳng tiểu học, tôi nghỉ để có tiền nuôi các em ăn học. Cuối năm 1942 tôi thi đậu công chức. Đầu năm 1943, tôi được bổ nhiệm làm việc tại Phủ Thọ Xuân, nay là huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa. Thời bấy giờ phong trào Việt Minh ở Thanh Hóa rất sôi nổi. Thọ Xuân cũng là nơi phong trào Cách mạng sôi động. Nhiều cuộc biểu tình, rải truyền đơn, phá kho thóc của địa chủ xảy ra. Thực dân Pháp tổ chức nhiều cuộc vây ráp, bắt bớ, tra tấn cán bộ cách mạng rất dã man. Tôi rất khâm phục các chiến sỹ cách mạng và vô cùng căm thù bọn thực dân và lũ tay sai bán nước. Tôi bí mật liên hệ với các chiến sỹ cộng sản và được tham gia cách mạng cho đến ngày cướp chính quyền.
(Kỳ sau, chặng đường làm cách mạng ở chiến khu Việt Bắc, công tác ở Văn phòng Phủ Chủ tịch và Văn phòng Phủ Thủ tướng cho đến ngày nghỉ hưu)

HOÀNG THÚC CẢNH THƠ TRĂM TUỔI
cảm xúc sau buổi liên hoan
mừng thọ 100 tuổi
Hôm nay mười một tháng tư
Biết bao kỷ niệm được ghi trong lòng
Các em khắp cả Tây Đông
Cháu chắt Nam Bắc quây quần bên nhau
Chúc cho còn được sống lâu
Nhiều lần gặp nữa biết đâu mà lường
Nghe lời chúc cũng động lòng
Thương người còn sống , nhớ người đã xa
Cuộc đời nghĩ thật bao la
Nhờ ơn Tiên Tổ cao xa đỡ đầu
Mỗi lời ước hẹn ghi sâu…
Hoàng Thúc Cảnh

Sáu anh em ruột gia đình đến thăm đại tướng Võ Nguyên Giáp (1996). Từ trái sang: Hoàng Gia Cương, Hoàng Thúc Cảnh, bà Đặng Bích Hà, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cô Võ Hồng Anh, Hoàng Thúc Cẩn, Hoàng Thúc Tấn, Hoàng Thúc Tuệ, Hoàng Quý Thân.

Cậu Hoàng Thúc Cảnh 102 tuổi (2022), là Lão thành cách mạng, nguyên Cố vắn Văn phòng Chính phủ, huy hiệu 75 năm tuổi Đảng. Cậu Hoàng Gia Cương kính tặng anh ruột
Một trăm năm hiếu nghĩa vẹn toàn
Mười thập kỷ chính trung kiên định
MINH LỄ HAY MINH LỆ
Cụ Hoàng Thúc Cảnh
VĂN NGHỆ QUẢNG MINH số 16. Hoàng Minh Đức (chủ biên). Mở đầu xin giới thiệu bài viết đầu tiên của cụ Hoàng Thúc Cảnh, một cán bộ lão thành cách mạng, nguyên thư ký riêng của Chủ tịch Liên khu 4 HỒ TÙNG MẬU trong những năm chống Pháp. Cụ đã từng có 38 năm công tác ở Phủ Chủ tịch, người đã từng ở chiến khu Việt Bắc với Bác Hồ. Nhân dịp mừng thọ 100 tuổi và 75 năm tuổi Đảng cụ gửi về một chùm thơ và bài viết về tên làng của cụ. Sau đây xin giới thiệu cùng bạn đọc:Trao đổi ý kiến về tên thôn Minh Lễ hay Minh Lệ?
Tôi nhớ trong tập Văn nghệ Quảng Minh số 15 có nêu lại vấn đề tên làng Minh Lệ hay Minh Lễ?. Hai ý kiến đối lập nhau. Phần tôi nhận thấy cả 2 tên đều là chính thống nhưng sử dụng theo hoàn cảnh lịch sử (chữ viết) và tập quán nhân dân (tiếng nói).
Theo hoàn cảnh lịch sử: Phải công nhận tên thôn mới có từ thời Lê Hồng Đức – Lê Thánh Tôn lên làm vua và chỉnh đốn việc cai trị trong nước. Dưới đơn vị xã là thôn thuộc xã (đã có từ trước). Năm 1470, Trà Toàn, vua Chiêm Thành, cầu viện quân Tàu định sang đánh nước ta. Vua Lê Thánh Tôn biết vậy, huy động đại quân đánh Chiêm Thành, mở mang bờ cõi đến tận Bình Định, Khánh Hòa ngày nay. Chắc rằng trong lúc huy động quân, vua Lê Thánh Tôn huy động cả tướng quân Trương Hy Trọng tham gia và sau khi hồi kinh, trên đường về, Ngài đã cử tướng quân Trương Hy Trọng ở lại quản miền Bắc Bố chính. Thời bấy giờ chắc vùng Bắc quê ta còn hoang vu, nhân dân còn thưa thớt và quân Chiêm Thành thường xuyên quấy nhiễu. Do vậy lúc về nhiệm sở, tướng quân phải huy động nhân dân ở Hoan Châu (Nghệ An – Hà Tĩnh ngày nay) và cả ở quê Hải Dương đến khai khẩn lập nên làng xóm. Và khi đã khẩn được một vùng thì phải quy hoạch vùng đó thành từng thôn xã để thuận tiện cho việc cai trị và từ đó mỗi đơn vị đều có tên riêng. Công lao đánh giặc, xây dựng làng xã của tướng quân được ghi trên mộ Ngài “Bình Lồi Thiết xã”. Tôi tin rằng tên thôn ta là do Ngài đặt. Trong thời kỳ phong kiến cho đến thời Pháp đô hộ tất cả công văn giấy tờ của nhà nước và của nhân dân đều dùng chữ Hán.
Tên Minh Lễ: Tôi chắc rằng Tướng quân khi đặt tên cho thôn ta theo chữ Hán là 明 禮. Và 2 chữ đó được dùng mãi cho đến thời kỳ có chữ Quốc ngữ mới thôi.
Cha tôi trong thời kỳ làm việc cho chính quyền thôn, mỗi lần làm công văn giấy tờ gửi lên trên hoặc giúp cho nhân dân làm giấy tờ mua bán nhà đất, lúc viết tên thôn thì cha tôi viết 明 禮. Tôi đã nhờ tra cứu trong từ điển Hán Việt thì hai chữ này phiên âm là Minh Lễ. Vì vậy, đây là tên chính thức trong văn bản giấy tờ của thôn ta. (Trước đây tôi cũng có học chữ Hán nên hai chữ trên tôi không quên được).
Tên Minh Lệ: Ai cũng biết mỗi vùng có một giọng nói hoặc phát âm khác nhau. Cùng một ý nhưng nơi này phát âm thế này, nơi kia phát âm thế khác. Thí dụ: Ở miền Bắc gọi bố mẹ còn ở miền Nam ba má, ở miền Bắc gọi anh còn miền Nam gọi ảnh, yêng hoặc eng, ở miền Bắc gọi cảnh còn ở miền Nam gọi kiểng v.v… và v.v…..
Ở vùng ta cũng vậy nhưng phiên âm theo chữ quốc ngữ có dấu ngã thì khi đọc khi nói thường thành dấu nặng. Thí dụ: Tỉnh Hà Tĩnh đọc thành Hà Tịnh. Lễ nghĩa đọc thành lệ nghịa. Con muỗi đọc thành con mọi. Văn võ đọc thành văn vọ. v.v… và v.v….
Theo đó nguyên văn chữ Hán “Minh Lễ”, nhân dân ta đọc thành “Minh Lệ” (hơn nữa phát âm Minh Lệ nhẹ nhàng hơn Minh Lễ). Nó thông dụng từ đời này qua đời khác, đã trải qua hàng trăm năm nên đã trở thành một tên quen thuộc sử dụng trong đời sống hàng ngày của nhân dân. Như vậy danh từ Minh Lệ do nhân dân ta đặt ra, đã thành danh từ chính thức khi viết chữ quốc ngữ từ thời Pháp thuộc. Các văn bản viết bằng chữ quốc ngữ đều viết là Minh Lệ: ga Minh Lệ, cầu Minh Lệ, …và đến ngày nay thành chính thức trong văn bản của Đảng và chính quyền là Minh Lệ.
Chúng ta tự hào thôn ta có 2 tên, một tên là lịch sử và một tên là nhân dân. Ý nghĩa của hai danh từ trên tạp chí đã nói rõ. Mong nhân dân và con cháu chúng ta phát huy ý nghĩa tốt đẹp của hai danh từ đó, xứng đáng là con cháu của Đức Thành hoàng.
Hoàng Thúc Cảnh
xem tiếp https://www.facebook.com/minhduc.hoang.7315/posts/3246817635598758
NHỚ ÔNG BÀ CẬU MỢ
Hoàng Gia chi Phương Nam
kính mừng Ông Bà Cậu Mợ
Minh Lễ thái hòa (*) Minh Lệ đây
Lời vàng bóng hạc lắng thơ hay
“Tổ tiên công đức muôn đời thịnh
Con cháu thảo hiền vạn kiếp vinh”
“Mạc Tộc dựng xây thiên kỷ tạc.
Hoàng Gia bồi đắp vạn đời ghi”
Chân thiện mỹ đức dày tâm sáng
Phước lộc thọ trí huệ anh minh.
(*) Kim Notes lắng ghi chú Một gia đình yêu thương: Hoàng chi Mạc tộc có cụ Minh Sơn Hoàng Bá Chuân và cụ Nguyễn Thị Như Đồng sinh được bảy người con trai nay có các cụ lão thành Hoàng Thúc Cảnh, Hoàng Thúc Cẩn, Hoàng Thúc Tấn, Hoàng Quý Thận, Hoàng Gia Cương hẵn có biết thông tin liên quan. Chuyện về vua Hàm Nghi rất cần một chuyên khảo để thấu hiểu sâu sắc Việt Nam vận mệnh đất nước ở thời khắc lịch sử ấy. “Bông sen vàng” tiểu thuyết lịch sử của nhà văn Sơn Tùng, Nhà Xuất bản Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh V23/VN99/ 25/1241-99, từ trang 35 đến trang 99 đã lưu dấu những ẩn ngữ sự thật lịch sử quý giá ấy nhưng tiếc là chưa được giải mã đầy đủ. Làng Minh Lệ quê tôi Đất Mẹ vùng di sản có nhiều trầm tích lịch sử văn hóa về Nam /Bắc Bố Chánh của xứ Nghệ và xứ Thuận Hóa, Cao Biền trong sử Việt; Đá Đứng chốn sông thiêng, Nguồn Son nối Phong Nha; Bến Lội Đền Bốn Miếu, huyền tích Mạc Cảnh Huống, huyền thoại làng Trần thời hoàng hậu ở lại khi vua Trần Dụ Tông chết trận,.và bao chuyện khác của Quảng Bình đất và người; Bao nhân chứng và chứng tích lịch sử thời vua Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân để hiểu sâu sắc thêm bài thơ “Tưởng niệm” của Nguyễn Duy:”Mặt trời vẫn mọc đằng đông/ lăng minh quân vẫn dựng trong lòng người /bao triều vua phế đi rồi /người yêu nước chẳng mất ngôi bao giờ…Lớp hậu sinh thật lòng muốn được nghe chuyện kể … Chuyện về vua Hàm Nghi https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chuyen-ve-vua-ham-nghi

NẾP NHÀ ĐẸP VĂN HÓA
Bạch Ngọc Hoàng Kim kề chuyện ảnh chương Năm
“Nhân hậu thói nhà in một nếp / Chân chính bao nhiêu phúc bấy nhiêu”/ Một gia đình yêu thương/ Nếp nhà đẹp văn hóa/ Hoa Đất thương lời hiền / Nhà Trần trong sử Việt / Mạc triều trong sử Việt/ Nhớ Ông Bà Cậu Mợ / Trăng rằm sen Tây Hồ/ Trăng rằm vui chơi giăng. Nếp nhà là thói quen của một gia đình. Nguyễn Trãi có câu “Nên thợ, nên thầy nhờ có học/ No ăn, no mặc bởi hay làm”. Làm và Học là hoạt động sống cơ bản của con người để đáp ứng nhu cầu tối thiểu ăn mặc, yêu đương, nhà ở, đi lại, chăm sóc sức khỏe và chất lượng cuộc sống. Nếp nhà xét cho cùng là sự bảo tồn phát triển tự do của mỗi cá nhân gia đình và dòng họ. Soi thấu gia tộc là soi vào văn hóa lịch sử của sự kế thừa, phát triển và biến đổi.
Lời dặn của Thánh Trần
Tâm cơ của nếp nhà. Vạn Kiếp tông bí truyền thư của Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương, tác phẩm này còn gọi là Vạn Kiếp binh thư đã thất truyền.Bài tựa của Trần Khánh Dư trong cuốn sách này giải thích bí truyền đại sư là người thế nào: “Phàm người khéo cầm quân thì không cần bày trận, khéo bày trận thì không cần giao chiến, khéo giao chiến thì không thể thất bại, khéo thất bại thì không thương vong. Xưa kia, Cao Dao làm chức sĩ sư mà mọi người không dám trái mệnh, Văn Vương và Vũ Vương nhà Chu là bậc thầy về văn và về võ, ngấm ngầm sửa đức để khuynh loát quyền bính của nhà Thương mà lấy nghiệp vương. Đó đều có thể gọi là những người giỏi cầm quân, không cần bày trận vậy. Vua Thuấn múa lá mộc và lông trĩ mà họ Hữu Miêu tự mình tìm đến, Tôn Vũ nước Ngô đem mỹ nhân trong cung thử tập trận mà phía tây phá nước Sở hùng cường, phía Bắc ra uy với nước Tần nước Tấn, nổi tiếng khắp chư hầu. Đó đều có thể gọi là những người giỏi bày trận, không cần giao chiến vậy. Cho đến Mã Ngập nước Tấn dựa vào bát trận đồ chuyển đánh nghìn dặm, phá được Thụ Cơ Năng mà lấy lại Lương Châu. Thế gọi là người giỏi giao chiến không bao giờ thất bại vậy.Cho nên, trận nghĩa là bày ra, là khéo léo. Ngày xưa, vua Hiên Viên lập ra phép “tỉnh điền” để đặt binh chế, Gia Cát Lượng xếp đá bên sông để làm bát trận, Vệ công sửa lại làm trận Lục Hoa, Hoàn Ôn định ra trận Xà Thế, trước sau đều có trận đồ nổi tiếng, trình bày tuần tự, thành phép tắc rõ ràng. Nhưng người đương thời ít ai thông hiểu, muôn vàn đầu mối nhìn vào dường như rối loạn, chưa từng nắm được lẽ biến dịch bên trong. Ví như những phép tắc và suy luận của Lý Thuyên, người sau không ai hiểu nghĩa là gì. Vì thế, Quốc công ta bèn so sánh, kê cứu trận đồ và binh pháp của các nhà, tổng hợp lại thành một bộ sách. Tuy chép cả những điều chi tiết, nhưng người sử dụng thì nên bỏ bớt những chỗ rườm, tóm lấy thực chất. Rồi lấy năm hành ứng với nhau, chín cung câu với nhau, phối hợp cương và nhu, xoay vần chẵn và lẽ, không làm hỗn loạn âm dương và thần sát, phương lợi và sao tốt, hung thần và ác tướng, ba cát và năm hung, việc nào việc ấy thực phân minh rõ rệt. Quốc công lại còn thêm bớt với chiến thuật của thời Tam đại, nhờ đó trăm trận trăm thắng. Cho nên đương thời phía bắc làm cho Hung Nô phải sợ, phía tây làm cho Lâm Ấp phải kinh. Rồi ông đem sách này dạy bảo con em làm gia truyền, không tiết lộ cho người ngoài biết. Lại có lời dặn rằng: “Sau này con cháu và bề tôi phò tá của ta có học được bí thuật này thì nên lấy đầu óc sáng suốt, linh hoạt mà thực hành và sắp đặt nó, chứ không nên lấy đầu óc cứng nhắc, tối tăm mà cất giữ và lưu truyền. Nếu trái điều đó thì sẽ mang vạ vào thân, lại hại lây đến cả con cháu. Đó gọi là tiết lậu cơ trời vậy.” Bài tựa của Trần Khánh Dư cho Vạn Kiếp tông bí truyền thư, còn như sách Binh thư yếu lược mà người đời ngờ rằng bản thật đã bị cướp và thất lạc, đời sau chỉ có chân truyền lời này. Chùa Thắng Nghiêm (Hà Nội) nơi Trần Hưng Đạo lúc nhỏ tu học, là nơi Người hiển thánh. Ôi, đọc lại “Binh Thư Yếu lược” “Hịch Tướng Sĩ Văn” và Vạn Kiếp tông bí truyền thư, soi gương kim cổ, lắng nghe cuộc sống, đọc lại lời răn dạy nếp nhà là để biết sửa lỗi mình; Lời dặn của Thánh Trần
Ngày xuân đọc Trạng Trình
Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nói về phép xử thế của bậc hiền minh thuở thời thế nhiễu loạn, vàng lầm trong cát: ”Đạo trời đất là Trung Tân, vẹn toàn điều Thiện là Trung, không vẹn toàn điều Thiện thì không phải là Trung. Tân là cái bến, biết chỗ dừng lại là bến chính, không biết chỗ dừng lại là bến mê. Nghĩa chữ Trung chính là ở chỗ Chí Thiện.Trung Tân quán bi ký, 1543). Đạo ở mình ta lấy đạo trung/ Chớ cho đục, chớ cho trong (Thơ chữ Nôm, Bài số 104) Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ/ Người khôn, người đến chốn lao xao (Thơ chữ Nôm, Bài số 79). Làm việc thiện không phải vì công tích mà ở tấm lòng. Nay vừa sau cơn loạn lạc thì chẳng những thân người ta bị chìm đắm, mà tâm người ta càng thêm chìm đắm. Các bậc sĩ đệ nên khuyến khích nhau bằng điều thiện, để làm cho mọi người dấy nên lòng thiện mà tạo nên miền đất tốt lành. (Diên Thọ kiều bi ký, 1568) An nhàn, vô sự là tiên (Sấm ký)”. Người đời sau luận chuyện Lão Tử ‘dạy’ Khổng Tử: “Ngươi cứ nhìn vào trời đất mà hiểu Đạo của ta. Kìa, có trời thì có đất, có núi thì có sông, có cao thì có thấp, có dài thì có ngắn, có cương thì có nhu, có rỗng thì có đặc, có sáng thì có tối, có thẳng thì có cong… Mọi thứ đang dịch chuyển trong sự biến hóa vô cùng. Tự nhiên tự do nhưng có trật tự và cái lí của nó. Cao thì xa, thấp thì gần, dài thì yếu, ngắn thì mạnh, cương thì gãy, nhu thì dẻo, rỗng thì âm to, đặc thì câm. Mọi thứ trong trời đất gắn kết được nhờ khác biệt, không có chuyện giống nhau mà hợp lại được với nhau“. xem tiếp Ngày xuân đọc Trạng Trình
Nếp nhà đẹp văn hóa
Minh triết của đời người hạnh phúc là biết sống thung dung, phúc hậu, thanh thản, an nhiên tự tại, nhận ra kho báu vô giá của chính mình, không lo âu, không phiền muộn, sống với tinh thần dịu hiền và trái tim nhẹ nhõm. Hoàng Kim đúc kết tóm tắt về nếp nhà đẹp văn hóa xây dựng gia đình hạnh phúc, cần có phúc ấm gia đình với trí tuệ phúc hậu, minh triết, tận tâm, làm việc tự ý cẩn thận, lời nói là năng lực, im lặng là trí tuệ. Cụ Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm (trong sách Hoàng Niêm đất Hương Sơn, Nhà Xuất bản Thuận Hoá, năm 2007) là cha ruột của những người con danh tiếng GS Nguyễn Khắc Dương, GS Nhà văn hoá Nguyễn Khắc Viện, GS Nguyễn Khắc Phi, Nhà văn Nguyễn Khắc Phê, nhà giáo Nguyễn Thị Dư Khánh, qua bài viết “Cụ Hoàng Giáp dạy con” của Vu Gia đã chúng ta thấy nét đẹp văn hóa của một gia đình hạnh phúc. GS. Hoàng Ngọc Hiến có bài bình giảng rất hay về nếp nhà “Nên thợ, nên thầy” “No ăn, no mặc”. Ông Lê Quang Nhung ở Bến Tre có bài “Giữ lại nếp nhà” đã trao đổi thật thấm thía “Nếp nhà là cái ở sâu trong trái tim ta, là gốc rễ của con người nhưng do mải mê với cuộc sống, nhiều khi ta quên mất. Rất đồng tình với ai đó: Xã hội là nơi cho cá nhân phát triển, còn gia đình là nơi cá nhân hình thành tính cách, tâm hồn, tư duy, tài năng, đạo đức của con người. Vì vậy, xây dựng môi trường văn hóa từ gia đình phải là một mắc xích quan trọng trong quá trình giáo dục tính cách, tình cảm, tâm hồn, đạo đức, đặc biệt là cho giới trẻ. Tu được thân mới “tề gia”, rồi đến “trị quốc”, sau cùng là “bình thiên hạ”. Sắp xếp theo trình tự như vậy cũng có cái lý của người xưa.” Nhà văn Nguyễn Khải có bài viết “Nếp nhà” nói rõ quan niệm gia đình hạnh phúc qua lời kể của một bà cụ phúc hậu “Theo bà cụ, thời bây giờ có được vài trăm cây vàng không phải là khó, cũng không phải là lâu, nhưng có được một gia đình hạnh phúc phải mất vài đời người, phải được giáo dục vài đời. Hạnh phúc không bao giờ là món quà tặng bất ngờ, không thể đi tìm, mà cũng không nên cầu xin”. Bài này là suy nghiệm cá nhân về nếp nhà đẹp văn hóa

Hoàng Kim kính mừng thọ cậu Hoàng Thúc Cảnh vượt một trăm tuổi, cháu xin kể một mẫu chuyện nhỏ ân tình đã tạo nên sự đoàn tụ của Hoàng Gia như ngày nay : Năm 1977, cậu Hoàng Thúc Cảnh đã lên Đồn Lương, Việt Yên, Hà Bắc của Trường Đại học Nông nghiệp II Hà Bắc gặp thầy Hoàng Sỹ Oánh là Hiệu trưởng đầu tiên của Trường và nói: “Xin quý Thầy cho cháu Kim được chuyển trường vào Đại học Nông nghiệp 4 thành phố Hồ Chí Minh. Cháu Kim mồ côi cha mẹ từ nhỏ, cha bị bom Mỹ giết hại. Anh Trực của cháu trận mạc từ rất sớm và Kim đã xung phong nhập ngũ năm 1971 từ Trường Thầy. Cháu học giỏi lại trãi chiến đấu, nay được quý thầy quy hoạch học tập đào tạo ở Trường là thật mừng, nhưng mong quý Thầy chiếu cố hoàn cảnh của cháu thật thương tâm, trước đây cơm ngày một bữa suốt năm năm, nay anh em lưu tán. Gia đình ao ước lớn nhất là được tụ họp sau chiến tranh. Anh biết rõ tánh tôi ở gần gũi Bác Hồ và cụ Đồng, trọng tánh của các cụ mà chưa hề phiền lụy ai, nhưng riêng việc này nhờ anh chiếu cố cho cháu xin chuyển trường“. Thầy Đỗ Ánh Phó Hiệu trưởng và thầy Võ Hùng Trưởng Khoa Nông học đều cảm động và đồng tình. Hoàng Kim được chuyển trường khiến sau này cả gia đình chúng tôi có được cơ hội đoàn tụ đất phương Nam đó là nhờ đức nhân hậu, lòng yêu thương và tầm nhìn sáng suốt.

NHỚ ÔNG BÀ CẬU MỢ
Mai trắng tóc người cũng trắng trong
Đường trần lên thấu đỉnh cao phong
Hoàng gia Mạc tộc ngời tâm đức
Nhân hậu an nhiên chẳng thẹn lòng
Hoàng Kim
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-ong-bà-cau-mo/ — cùng với Hoàng Thúc Tấn, Hoàng Quý Thân và Hoàng Gia Cương

Hoàng Lan Phương cùng với Hoang Phuong Dung, Hoàng Gia Cương, Hoàng Tường.

“Hoàng Thúc Tấn viết: Cậu xem bài viết về Cao Biền của cháu thật sự là điều mới lạ đối với cậu. Nếu thực sự Cao Biền như cháu đã khảo cứu thì lịch sử nước ta hoàn toàn khác. Có đoạn nói mộ Cao Biền ở Tuy Hoà thì thời nhà Đường nước ta mới chỉ vẻn vẹn một phần của Bắc bộ. Cậu xem một số bài khảo cứu của cháu qua Faebook và rất vui và lý thú khi đọc. Cậu Tấn”
Kim Hoàng trả lời: cháu nhớ cậu cùng các cậu mợ kính yêu và người thân của các cháu. Cháu thật xúc động khi hình dung người cậu trên 85 tuổi đã viết cho cháu những lời chân tình này. Cháu về quê thắp hương cho người thân ‘Hoàng gia Mạc tộc’ và thấu hiểu sâu sắc ‘Cao cát Mạc sơn’ nhưng cháu chưa thể viết rõ hơn. Cháu xin lưu tại đây đường dẫn ‘Cao Biền trong sử Việt” https://hoangkimlong.wordpress.com/category/cao-bien-trong-su-viet/
1, Cháu trích chép kính cậu một ghi chú trong bài trên (5) Vạn Kiếp tông bí truyền thư (萬劫宗秘傳書) của Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương, tác phẩm này còn gọi là Vạn Kiếp binh thư đã thất truyền. Bài tựa của Trần Khánh Dư trong cuốn sách này giải thích bí truyền đại sư là người thế nào:
“Phàm người khéo cầm quân thì không cần bày trận, khéo bày trận thì không cần giao chiến, khéo giao chiến thì không thể thất bại, khéo thất bại thì không thương vong. Xưa kia, Cao Dao làm chức sĩ sư mà mọi người không dám trái mệnh, Văn Vương và Vũ Vương nhà Chu là bậc thầy về văn và về võ, ngấm ngầm sửa đức để khuynh loát quyền bính của nhà Thương mà lấy nghiệp vương. Đó đều có thể gọi là những người giỏi cầm quân, không cần bày trận vậy. Vua Thuấn múa lá mộc và lông trĩ mà họ Hữu Miêu tự mình tìm đến, Tôn Vũ nước Ngô đem mỹ nhân trong cung thử tập trận mà phía tây phá nước Sở hùng cường, phía Bắc ra uy với nước Tần nước Tấn, nổi tiếng khắp chư hầu. Đó đều có thể gọi là những người giỏi bày trận, không cần giao chiến vậy. Cho đến Mã Ngập nước Tấn dựa vào bát trận đồ chuyển đánh nghìn dặm, phá được Thụ Cơ Năng mà lấy lại Lương Châu. Thế gọi là người giỏi giao chiến không bao giờ thất bại vậy.Cho nên, trận nghĩa là bày ra, là khéo léo. Ngày xưa, vua Hiên Viên lập ra phép “tỉnh điền” để đặt binh chế, Gia Cát Lượng xếp đá bên sông để làm bát trận, Vệ công sửa lại làm trận Lục Hoa, Hoàn Ôn định ra trận Xà Thế, trước sau đều có trận đồ nổi tiếng, trình bày tuần tự, thành phép tắc rõ ràng. Nhưng người đương thời ít ai thông hiểu, muôn vàn đầu mối nhìn vào dường như rối loạn, chưa từng nắm được lẽ biến dịch bên trong. Ví như những phép tắc và suy luận của Lý Thuyên, người sau không ai hiểu nghĩa là gì. Vì thế, Quốc công ta bèn so sánh, kê cứu trận đồ và binh pháp của các nhà, tổng hợp lại thành một bộ sách. Tuy chép cả những điều chi tiết, nhưng người sử dụng thì nên bỏ bớt những chỗ rườm, tóm lấy thực chất. Rồi lấy năm hành ứng với nhau, chín cung câu với nhau, phối hợp cương và nhu, xoay vần chẵn và lẽ, không làm hỗn loạn âm dương và thần sát, phương lợi và sao tốt, hung thần và ác tướng, ba cát và năm hung, việc nào việc ấy thực phân minh rõ rệt. Quốc công lại còn thêm bớt với chiến thuật của thời Tam đại, nhờ đó trăm trận trăm thắng. Cho nên đương thời phía bắc làm cho Hung Nô phải sợ, phía tây làm cho Lâm Ấp phải kinh. Rồi ông đem sách này dạy bảo con em làm gia truyền, không tiết lộ cho người ngoài biết. Lại có lời dặn rằng: “Sau này con cháu và bề tôi phò tá của ta có học được bí thuật này thì nên lấy đầu óc sáng suốt, linh hoạt mà thực hành và sắp đặt nó, chứ không nên lấy đầu óc cứng nhắc, tối tăm mà cất giữ và lưu truyền. Nếu trái điều đó thì sẽ mang vạ vào thân, lại hại lây đến cả con cháu. Đó gọi là tiết lậu cơ trời vậy.”
Bài tựa của Trần Khánh Dư cho Vạn Kiếp tông bí truyền thư, còn như sách Binh thư yếu lược mà người đời ngờ rằng bản thật đã bị cướp và thất lạc. đời sau chỉ có chân truyền lời này.
2. Mạc triều trong sử Việt. Hoàng chi Mạc tộc và Cao Bằng . Tỉnh Cao Bằng có làng Đà Quận ở xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, từ thời Mạc đến nay hàng năm đều có Lễ hội chùa Đà Quận từ ngày 9 âm lịch đến rằm Nguyên tiêu tháng Giêng hàng năm để tảo mộ tổ tiên và dâng hương tưởng nhớ. Cao Bằng là đất sau cùng của nhà Mạc tiếp tục tồn tại hơn 100 năm sau khi nhà Mạc không còn triển vọng phục quốc mới nhập vào đất nhà Hậu Lê. Làng Đà Quận là làng dân Mạc theo hương linh Đà Quận Công Mạc Ngọc Liễn. Nhà Mạc tuân theo di nguyện của Mạc Ngọc Liễn danh tướng thái phó vua Mạc là không bao giờ vì dòng họ mình mà nồi da xáo thịt đưa ngoại viện vào giày xéo non sông. Mạc tộc lúc kế cùng lực kiệt đã đổi họ Mạc thành họ khác và lưu tán khắp mọi nơi trong cả nước, trong đó có Hoàng chi Mạc tộc Làng Minh Lệ và cho đến nay có Hoàng chi Mạc tộc đất phương Nam cũng là những người con xa xứ. Những ngày đầu xuân nay (2020) sau 428 năm (tính từ năm 1592 Cao Bằng thất thủ vì sự công phá của nhà Lê Trịnh), Việt sử ghi nhớ di nguyện tổ tiên, ‘Lời dặn sau cùng của Mạc Ngọc Liễn’ tại quốc sử Việt đối chiếu qua các thời viết về Mạc triều trong sử Việt: “Nay khí vận nhà Mạc đã hết, họ Lê lại trung hưng, đó là số trời. Dân ta là người vô tội mà khiến để phải mắc nạn binh đao, ai nỡ lòng nào! Chúng ta nên lánh ra ở nước khác, nuôi dưỡng uy lực, chịu khuất đợi thời, chờ khi nào mệnh trời trở lại mới làm được, chứ không thể lấy lực chọi với lực. Khi hai con hổ tranh nhau, tất phải có một con bị thương, không có ích gì cho công việc. Nếu thấy quân họ đến đây thì chúng ta nên tránh đi, chớ có đánh nhau với họ, cốt phòng thủ cẩn thận là chính; lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng”. Tác giả Trần Gia Phụng trong bài viết: “Những cuộc đổi họ lớn trong lịch sử” có đoạn bình luận về lời trăng trối của ông: “Đây không phải lời nói suông trong cảnh trà dư tửu hậu, nhưng đây là tâm huyết của một con người sắp nằm xuống trong cơn hoạn nạn cùng cực vì mất nước. Suốt trong lịch sử Việt Nam, chúng ta thường được nghe những lời nói của Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Đặng Dung, hào hùng như vó ngựa tổ tiên, nhưng ít khi được đọc những dặn dò như Mạc Ngọc Liễn – nhân bản, đầy tình tự dân tộc không khác gì lời ru êm ái trong những câu ca dao mộc mạc”.
3. Chuyện cổ tích người lớn “Người trồng cây hạnh người chơi, Ta trồng cây đức để đời về sau” Trong 8 đời chúa Nguyễn, không thấy ông nào làm điều gì thất đức. Ông nào cũng lo làm cho dân giàu nước mạnh. Lịch sử cuộc nam tiến đi từ Phú Yên đến Cà Mau-Châu Đốc chứng minh điều đó. Hậu thế đã được thừa hưởng biết bao phúc lợi từ sự nghiệp nam tiến đó! Có 3 ông chúa mang danh hiệu khác người: Chúa Sãi, chúa Hiền, chúa Ngãi. Nghe nôm na và thân tình biết mấy. Nếu cai trị mà không được dân thương mến và biết ơn thì làm chi có những cách gọi kém vương giả nhưng giàu tình cảm như thế? Có đến 4 ông chúa, ngoài tên và vương hiệu, lại tự xưng là đạo nhân, như Thiên Túng đạo nhân (chúa Minh Nguyễn Phúc Chu), Vân Tuyền đạo nhân (chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ) hay Từ Tế đạo nhân (Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát), Khánh Phủ đạo nhân (Định Vương Nguyễn Phúc Thuần). Đó cũng là một nét đặc biệt. Nhiều ông chúa xây chùa (chúa Tiên lập chùa Thiên Mụ, Long Hưng, Bảo Châu, Kính Thiên; chúa Hiền lập chùa Túy Vân) hay trùng tu chùa, đúc chuông, thỉnh sư giảng Pháp (chúa Minh). Có lẽ nhờ biết tu nhân tích đức mà Đức năng thắng số, Số bất cập đức nên tai qua nạn khỏi, như câu tục ngữ mà ông bà xưa thường nói để dạy khôn cho con cháu: Trời hại mới lo, người hại như phấn nhồi. Đó là nói nôm na, cho có vẻ chính xác và minh triết hơn thì đấy chính là nhân quả nghiệp báo”. Điều lạ lùng hơn cả trong Nam tiến của người Việt là liên minh Nguyễn Hoàng Mạc Cảnh Huống, Nguyễn Phúc Nguyên Mạc Thị là những uẩn khúc lịch sử chưa thể viết rõ.
xem tiếp Nhớ Ông Bà Cậu Mợ;https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-ong-bà-cau-mo/
Bát tuần tự vịnh
Minh Sơn Hoàng Bá Chuân
Bát tuần đã trãi việc đời nhiều
Chân chính bao nhiêu phúc bấy nhiêu
Nhân hậu thói nhà in một nếp
Trung kiên việc nước đủ trăm chiều
Lòng son phơi phới vầng trăng dọi
Tóc bạc phơ phơ ngọn gió phiêu
Hôm sớm sân Lai (*) thêm sắc mới
Sum vầy con cháu tiếng vui reo !
MẠC TRIỀU TRONG SỬ VIỆT .
Bạch Ngọc Hoàng Kim
Năm 1592 Cao Bằng thất thủ vì sự công phá của nhà Lê Trịnh. Hậu duệ nhà Mạc ngày nay sau 429 năm ghi nhớ lời dặn trăng trối sau cùng của Mạc Ngọc Liễn’ tại quốc sử Việt “Nay khí vận nhà Mạc đã hết, họ Lê lại trung hưng, đó là số trời. Dân ta là người vô tội mà khiến để phải mắc nạn binh đao, ai nỡ lòng nào! Chúng ta nên lánh ra ở nước khác, nuôi dưỡng uy lực, chịu khuất đợi thời, chờ khi nào mệnh trời trở lại mới làm được, chứ không thể lấy lực chọi với lực. Khi hai con hổ tranh nhau, tất phải có một con bị thương, không có ích gì cho công việc. Nếu thấy quân họ đến đây thì chúng ta nên tránh đi, chớ có đánh nhau với họ, cốt phòng thủ cẩn thận là chính; lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng”. Tác giả Trần Gia Phụng trong bài viết: “Những cuộc đổi họ lớn trong lịch sử” nhận xét “Đây không phải lời nói suông trong cảnh trà dư tửu hậu, nhưng đây là tâm huyết của một con người sắp nằm xuống trong cơn hoạn nạn cùng cực vì mất nước. Suốt trong lịch sử Việt Nam, chúng ta thường được nghe những lời nói của Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Đặng Dung, hào hùng như vó ngựa tổ tiên, nhưng ít khi được đọc những dặn dò như Mạc Ngọc Liễn – nhân bản, đầy tình tự dân tộc không khác gì lời ru êm ái trong những câu ca dao mộc mạc”. Tỉnh Cao Bằng ngày nay có làng Đà Quận ở xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, từ thời Mạc đến nay hàng năm đều có Lễ hội chùa Đà Quận từ ngày 9 âm lịch đến rằm Nguyên tiêu tháng Giêng hàng năm để tảo mộ tổ tiên và dâng hương tưởng nhớ. Cao Bằng là đất sau cùng của nhà Mạc tiếp tục tồn tại hơn 100 năm sau khi nhà Mạc không còn triển vọng phục quốc mới nhập vào đất nhà Hậu Lê. Làng Đà Quận là làng dân Mạc theo hương linh Đà Quận Công Mạc Ngọc Liễn. Nhà Mạc tuân theo di nguyện của Mạc Ngọc Liễn danh tướng thái phó vua Mạc là không bao giờ vì dòng họ mình mà nồi da xáo thịt đưa ngoại viện vào giày xéo non sông. Mạc tộc lúc kế cùng lực kiệt đã đổi họ Mạc thành họ khác và lưu tán khắp mọi nơi trong cả nước, trong đó có Hoàng chi Mạc tộc Làng Minh Lệ và cho đến nay có Hoàng chi Mạc tộc đất phương Nam cũng là những người con xa xứ.
CHUYỆN CỔ TÍCH NGƯỜI LỚN
Bạch Ngọc Hoàng Kim
Nam tiến của người Việt có sự liên minh giữa chúa Nguyễn Hoàng với Mạc Cảnh Huống, giữa chúa Nguyễn Phúc Nguyên và hoàng hậu Mạc Thị là những uẩn khúc lịch sử chưa thể viết rõ. “Người trồng cây hạnh người chơi, Ta trồng cây đức để đời về sau” Trong 8 đời chúa Nguyễn, không thấy ông nào làm điều gì thất đức. Ông nào cũng lo làm cho dân giàu nước mạnh. Lịch sử cuộc Nam tiến đi từ Phú Yên đến Cà Mau-Châu Đốc chứng minh điều đó. Hậu thế đã được thừa hưởng biết bao phúc lợi từ sự nghiệp Nam tiến đó..Có 3 ông chúa mang danh hiệu khác người: Chúa Sãi, chúa Hiền, chúa Ngãi. Nghe nôm na và thân tình biết mấy. Nếu cai trị mà không được dân thương mến và biết ơn thì làm chi có những cách gọi kém vương giả nhưng giàu tình cảm như thế? Có đến 4 ông chúa, ngoài tên và vương hiệu, lại tự xưng là đạo nhân, như Thiên Túng đạo nhân (chúa Minh Nguyễn Phúc Chu), Vân Tuyền đạo nhân (chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ) hay Từ Tế đạo nhân (Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát), Khánh Phủ đạo nhân (Định Vương Nguyễn Phúc Thuần). Đó cũng là một nét đặc biệt. Nhiều ông chúa xây chùa (chúa Tiên lập chùa Thiên Mụ, Long Hưng, Bảo Châu, Kính Thiên; chúa Hiền lập chùa Túy Vân) hay trùng tu chùa, đúc chuông, thỉnh sư giảng Pháp (chúa Minh). Có lẽ nhờ biết tu nhân tích đức mà Đức năng thắng số, Số bất cập đức nên tai qua nạn khỏi, như câu tục ngữ mà ông bà xưa thường nói để dạy khôn cho con cháu: Trời hại mới lo, người hại như phấn nhồi. Đó là nói nôm na, cho có vẻ chính xác và minh triết hơn thì đấy chính là nhân quả nghiệp báo”.

HOÀNG CHI MẠC TỘC LÀNG MINH LỆ
Bạch Ngọc Hoàng Kim
Cụ Hoàng Bá Chuân, bố của bảy người con trai ở câu chuyện ““Cuộc đoàn tụ bất ngờ của 5 anh em ngày giải phóng thủ đô““ là em ruột của bà ngoại tôi .Cậu ruột mẹ tôi, cụ Hoàng Bá Chuân, là dòng chính Hoàng chi Mạc tộc trong câu chuyện nêu trên. Cụ thường giáo huấn con cháu về nếp nhà phúc hậu văn hóa, và đã trao lại di thư: “Nhà tôi sinh được bảy người con/ Quyết chí chung tình với nước non/ Kháng chiến năm con đi khắp nước/ Lớn lên trai bé sẽ xung phong…” Cậu Cương ngọc trai bé của ông tôi, sau này cũng vào bộ đội Trung đoàn Thủ Đô (E102) Sư đoàn Quân Tiên phong (F308). Cậu Cương dần dà theo trọn đời nghề làm kỹ thuật vô tuyến điện nhưng cái nghiệp lắng đọng lại là thơ, theo dòng thời gian thao thức một tầm nhìn nhân văn sâu sắc, tài hoa, với một gia đình hạnh phúc, nếp nhà phúc hậu và văn chương đích thực. Hoàng chi Mạc tộc Làng Minh Lệ có một thuở đã lạc vào tai ách “Phố cụt”. Thật may mắn trước “Phố cụt” đã có “Phố khuya” để kịp bình tâm suy ngẫm, và sau “Phố cụt” “cùng tắc biến” là “Phố nối” hóa giải “Phố cụt”, tiếp “Phố cong Tam Đảo” và xuống đến đời thường “Đi trên phố nhỏ” bình yên của một vòng tròn nhân quả. Tôi đã tâm đắc để viết nên bài thơ “Thời gian lắng đọng người hiền.” trong sáng cà phê với CNM365

ĐI TÌM LỊCH SỬ BỊ QUÊN LÃNG
Bạch Ngọc Hoàng Kim kể chuyện chương sáu
Nam tiến của người Việt có sự liên minh giữa chúa Nguyễn Hoàng với viên phúc tướng Mạc Cảnh Huống, giữa chúa Nguyễn Phúc Nguyên và hoàng hậu Mạc Thị Gái là những uẩn khúc lịch sử nay chưa thể viết rõ. Lại.nhớ đến Vua Hàm Nghi và ông Nguyễn Thạc và chuyện Bà Đen Bài ca thời gian. Lịch sử Việt do sự chi phối của những yếu tố tất nhiên và ngẫu nhiên mà tạo nên bước ngoặt quyết định, đó âu là duyên nghiệp số phận của dân tộc liên quan cá nhân. Vua Hàm Nghi tên thật là Nguyễn Phúc Ưng Lịch hay là Nguyễn Phúc Minh, sinh ngày 3 tháng 8 năm 1871 mất ngày 4 tháng 1 năm 1943, niên hiêu là Hàm Nghi từ khi làm vua ngày 2 tháng 8 năm 1884 cho đến khi bị đày sang xứ Algérie ở Bắc Phi ngày 25 tháng 11 năm 1888. Vua là vị Hoàng đế thứ 8 của nhà Nguyễn. Việt Nam ngày nay xem ba vị vua Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân là các vua yêu nước chống Pháp trong thời kỳ Pháp thuộc. ông Trương Thạc là người Việt Nam duy nhất cuối cùng bên linh cữu vua Hàm Nghi. Ông Trương Thạc là chồng của mệ Phong họ Trần, chị gái đầu của bà ngoại tôi. Các cậu tôi trong Hoàng chi Mạc tộc làng Minh Lệ có quan hệ thế nào với Võ Nguyên Giáp ẩn số Chính Trung là chuyện dài nếp nhà đẹp văn hóa.Thời gian lắng đọng người hiền.

HOÀNG GIA CƯƠNG THƠ HIỀN
Bạch Ngọc Hoàng Kim
Hoàng Gia Cương là tác giả của chùm thơ (chữ tin đậm mà Hoàng Kim trích dẫn trên đây). Cụ có các tác phẩm chính: Thơ 1) Lặng lẽ thời gian, Nxb Thanh Niên 1997, 2) Lắng đọng Nxb Hội nhà văn, 2001, 3) Trong cõi vô biên Nxb Hội nhà văn 2005, 4) Trãi nghiệm với thời gian Nxb Hội nhà văn 2010, 5) Theo dòng thời gian Nxb Văn Học 2013; Truyện ký 6) Cổ tích cho mai sau Nxb QĐND 2006. Tác phẩm thơ văn của Hoàng Gia Cương có mặt trên 30 tuyển tập, tập thơ văn in chung. Anh Bu Lu Khin Nguyễn Quốc Toàn viết: “Trong số thơ của Hoàng Gia Cương bu tui thích nhất bài “Phố Cụt”. Cái cụt của con đường là biểu trưng cho cái bê tắc, cái cụt lủn của khát vọng của con người. Người ta bám vào ba cái phao cứu sinh là Phật, Chúa, và Tư bản luận của Mác nhưng tất cả cũng chỉ là cơn gió bay qua “Gió nồm rồi gió heo may. Lạc vào phố cụt Bụi bay mù trời!”. Gia đình Hoàng gia Mạc tộc “thập tam thế hậu” nhờ phúc ấm tổ tông và nếp nhà nét đẹp văn hóa mà có được sự hanh thông hạnh phúc tiếp nối.

LỜI DẶN CỦA THÁNH TRẦN
Bạch Ngọc Hoàng Kim
Vạn Kiếp tông bí truyền thư Tâm cơ của nếp nhà, của Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương. Tác phẩm này còn gọi là Vạn Kiếp binh thư đã thất truyền. Bài tựa của Trần Khánh Dư trong cuốn sách này giải thích bí truyền đại sư là người thế nào: “Phàm người khéo cầm quân thì không cần bày trận, khéo bày trận thì không cần giao chiến, khéo giao chiến thì không thể thất bại, khéo thất bại thì không thương vong. Xưa kia, Cao Dao làm chức sĩ sư mà mọi người không dám trái mệnh, Văn Vương và Vũ Vương nhà Chu là bậc thầy về văn và về võ, ngấm ngầm sửa đức để khuynh loát quyền bính của nhà Thương mà lấy nghiệp vương. Đó đều có thể gọi là những người giỏi cầm quân, không cần bày trận vậy. Vua Thuấn múa lá mộc và lông trĩ mà họ Hữu Miêu tự mình tìm đến, Tôn Vũ nước Ngô đem mỹ nhân trong cung thử tập trận mà phía tây phá nước Sở hùng cường, phía Bắc ra uy với nước Tần nước Tấn, nổi tiếng khắp chư hầu. Đó đều có thể gọi là những người giỏi bày trận, không cần giao chiến vậy. Cho đến Mã Ngập nước Tấn dựa vào bát trận đồ chuyển đánh nghìn dặm, phá được Thụ Cơ Năng mà lấy lại Lương Châu. Thế gọi là người giỏi giao chiến không bao giờ thất bại vậy.Cho nên, trận nghĩa là bày ra, là khéo léo. Ngày xưa, vua Hiên Viên lập ra phép “tỉnh điền” để đặt binh chế, Gia Cát Lượng xếp đá bên sông để làm bát trận, Vệ công sửa lại làm trận Lục Hoa, Hoàn Ôn định ra trận Xà Thế, trước sau đều có trận đồ nổi tiếng, trình bày tuần tự, thành phép tắc rõ ràng. Nhưng người đương thời ít ai thông hiểu, muôn vàn đầu mối nhìn vào dường như rối loạn, chưa từng nắm được lẽ biến dịch bên trong. Ví như những phép tắc và suy luận của Lý Thuyên, người sau không ai hiểu nghĩa là gì. Vì thế, Quốc công ta bèn so sánh, kê cứu trận đồ và binh pháp của các nhà, tổng hợp lại thành một bộ sách. Tuy chép cả những điều chi tiết, nhưng người sử dụng thì nên bỏ bớt những chỗ rườm, tóm lấy thực chất. Rồi lấy năm hành ứng với nhau, chín cung câu với nhau, phối hợp cương và nhu, xoay vần chẵn và lẽ, không làm hỗn loạn âm dương và thần sát, phương lợi và sao tốt, hung thần và ác tướng, ba cát và năm hung, việc nào việc ấy thực phân minh rõ rệt. Quốc công lại còn thêm bớt với chiến thuật của thời Tam đại, nhờ đó trăm trận trăm thắng. Cho nên đương thời phía bắc làm cho Hung Nô phải sợ, phía tây làm cho Lâm Ấp phải kinh. Rồi ông đem sách này dạy bảo con em làm gia truyền, không tiết lộ cho người ngoài biết. Lại có lời dặn rằng: “Sau này con cháu và bề tôi phò tá của ta có học được bí thuật này thì nên lấy đầu óc sáng suốt, linh hoạt mà thực hành và sắp đặt nó, chứ không nên lấy đầu óc cứng nhắc, tối tăm mà cất giữ và lưu truyền. Nếu trái điều đó thì sẽ mang vạ vào thân, lại hại lây đến cả con cháu. Đó gọi là tiết lậu cơ trời vậy.” Bài tựa của Trần Khánh Dư cho Vạn Kiếp tông bí truyền thư, còn như sách Binh thư yếu lược mà người đời ngờ rằng bản thật đã bị cướp và thất lạc, đời sau chỉ có chân truyền lời này. Chùa Thắng Nghiêm (Hà Nội) nơi Trần Hưng Đạo lúc nhỏ tu học, là nơi Người hiển thánh. Ôi, đọc lại “Binh Thư Yếu lược” “Hịch Tướng Sĩ Văn” và Vạn Kiếp tông bí truyền thư, soi gương kim cổ, lắng nghe cuộc sống, đọc lại lời răn dạy nếp nhà là để biết sửa lỗi mình; Lời dặn của Thánh Trần

NGÀY XUÂN ĐỌC TRẠNG TRÌNH
Bạch Ngọc Hoàng Kim
Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nói về phép xử thế của bậc hiền minh thuở thời thế nhiễu loạn, vàng lầm trong cát: ”Đạo trời đất là Trung Tân, vẹn toàn điều Thiện là Trung, không vẹn toàn điều Thiện thì không phải là Trung. Tân là cái bến, biết chỗ dừng lại là bến chính, không biết chỗ dừng lại là bến mê. Nghĩa chữ Trung chính là ở chỗ Chí Thiện.Trung Tân quán bi ký, 1543). Đạo ở mình ta lấy đạo trung/ Chớ cho đục, chớ cho trong (Thơ chữ Nôm, Bài số 104) Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ/ Người khôn, người đến chốn lao xao (Thơ chữ Nôm, Bài số 79). Làm việc thiện không phải vì công tích mà ở tấm lòng. Nay vừa sau cơn loạn lạc thì chẳng những thân người ta bị chìm đắm, mà tâm người ta càng thêm chìm đắm. Các bậc sĩ đệ nên khuyến khích nhau bằng điều thiện, để làm cho mọi người dấy nên lòng thiện mà tạo nên miền đất tốt lành. (Diên Thọ kiều bi ký, 1568) An nhàn, vô sự là tiên (Sấm ký)”. Người đời sau luận chuyện Lão Tử ‘dạy’ Khổng Tử: “Ngươi cứ nhìn vào trời đất mà hiểu Đạo của ta. Kìa, có trời thì có đất, có núi thì có sông, có cao thì có thấp, có dài thì có ngắn, có cương thì có nhu, có rỗng thì có đặc, có sáng thì có tối, có thẳng thì có cong… Mọi thứ đang dịch chuyển trong sự biến hóa vô cùng. Tự nhiên tự do nhưng có trật tự và cái lí của nó. Cao thì xa, thấp thì gần, dài thì yếu, ngắn thì mạnh, cương thì gãy, nhu thì dẻo, rỗng thì âm to, đặc thì câm. Mọi thứ trong trời đất gắn kết được nhờ khác biệt, không có chuyện giống nhau mà hợp lại được với nhau“. xem tiếp Ngày xuân đọc Trạng Trình; Hoàng Ngọc Dộ khát vọng (bài Ánh sao đêm) Hoàng Trung Trực đời lính (bài Trạng Trình) An vui cụ Trạng Trình

THỜI GIAN LẮNG ĐỌNG NGƯỜI HIỀN
Bạch Ngọc Hoàng Kim
Bình minh Yên Tử đầu tiên
Ánh Trăng khuya rọi khắp miền thế gian
Hoàng Gia thi tứ nồng nàn
Tình yêu cuộc sống muôn vàn yêu thương.
Câu thơ lắng đọng đời thường,
Mạ ơi xúc động lời thương dặn dò,
Cha tôi là một nhà Nho,
Tìm về nguồn cội, Chớm thu … tuyệt vời !
Cội nguồn Lũng Động, Cổ Trai,
Khí thiêng cõi Bắc nhớ nơi sinh thành,
Vua Thái tổ Mạc Đăng Dung,
Hoàng chi dòng đích lưu cùng nước non.
Phố Cụt, Phố nối, Phố cong,
Đi trong phố nhỏ một vòng nhân gian
Rùa ơi tôn bậc trí nhân
Để nền Văn hiến ngàn năm không nhòa.
Sáu mươi năm Mạ đi xa,
Mạ ơi tiếng vọng không là niềm riêng.
Thời gian lắng đọng người hiền.
Đông tàn xuân tới, bình minh rạng ngời.
NẾP NHÀ ĐẸP VĂN HÓA
Hoàng Kim
“Nhân hậu thói nhà in một nếp / Chân chính bao nhiêu phúc bấy nhiêu”/ Một gia đình yêu thương/ Nếp nhà đẹp văn hóa/ Hoa Đất thương lời hiền / Nhà Trần trong sử Việt / Mạc triều trong sử Việt/ Nhớ Ông Bà Cậu Mợ / Trăng rằm sen Tây Hồ/ Trăng rằm vui chơi giăng. Nếp nhà là thói quen của một gia đình. Nguyễn Trãi có câu “Nên thợ, nên thầy nhờ có học/ No ăn, no mặc bởi hay làm”. Làm và Học là hoạt động sống cơ bản của con người để đáp ứng nhu cầu tối thiểu ăn mặc, yêu đương, nhà ở, đi lại, chăm sóc sức khỏe và chất lượng cuộc sống. Nếp nhà xét cho cùng là sự bảo tồn phát triển tự do của mỗi cá nhân gia đình và dòng họ. Soi thấu gia tộc là soi vào văn hóa lịch sử của sự kế thừa, phát triển và biến đổi.
Phúc hậu thói nhà in một nếp
Minh triết của đời người hạnh phúc là biết sống thung dung, phúc hậu, thanh thản, an nhiên tự tại, nhận ra kho báu vô giá của chính mình, không lo âu, không phiền muộn, sống với tinh thần dịu hiền và trái tim nhẹ nhõm. Hoàng Kim đúc kết tóm tắt về nếp nhà đẹp văn hóa xây dựng gia đình hạnh phúc, cần có phúc ấm gia đình với trí tuệ phúc hậu, minh triết, tận tâm, làm việc tự ý cẩn thận, lời nói là năng lực, im lặng là trí tuệ. Cụ Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm (trong sách Hoàng Niêm đất Hương Sơn, Nhà Xuất bản Thuận Hoá, năm 2007) là cha ruột của những người con danh tiếng GS Nguyễn Khắc Dương, GS Nhà văn hoá Nguyễn Khắc Viện, GS Nguyễn Khắc Phi, Nhà văn Nguyễn Khắc Phê, nhà giáo Nguyễn Thị Dư Khánh, qua bài viết “Cụ Hoàng Giáp dạy con” của Vu Gia đã chúng ta thấy nét đẹp văn hóa của một gia đình hạnh phúc. GS. Hoàng Ngọc Hiến có bài bình giảng rất hay về nếp nhà “Nên thợ, nên thầy” “No ăn, no mặc”. Ông Lê Quang Nhung ở Bến Tre có bài “Giữ lại nếp nhà” đã trao đổi thật thấm thía “Nếp nhà là cái ở sâu trong trái tim ta, là gốc rễ của con người nhưng do mải mê với cuộc sống, nhiều khi ta quên mất. Rất đồng tình với ai đó: Xã hội là nơi cho cá nhân phát triển, còn gia đình là nơi cá nhân hình thành tính cách, tâm hồn, tư duy, tài năng, đạo đức của con người. Vì vậy, xây dựng môi trường văn hóa từ gia đình phải là một mắc xích quan trọng trong quá trình giáo dục tính cách, tình cảm, tâm hồn, đạo đức, đặc biệt là cho giới trẻ. Tu được thân mới “tề gia”, rồi đến “trị quốc”, sau cùng là “bình thiên hạ”. Sắp xếp theo trình tự như vậy cũng có cái lý của người xưa.” Nhà văn Nguyễn Khải có bài viết “Nếp nhà” nói rõ quan niệm gia đình hạnh phúc qua lời kể của một bà cụ phúc hậu “Theo bà cụ, thời bây giờ có được vài trăm cây vàng không phải là khó, cũng không phải là lâu, nhưng có được một gia đình hạnh phúc phải mất vài đời người, phải được giáo dục vài đời. Hạnh phúc không bao giờ là món quà tặng bất ngờ, không thể đi tìm, mà cũng không nên cầu xin”. Bài này là suy nghiệm cá nhân về nếp nhà đẹp văn hóa
Hoàng Kim kính mừng thọ cậu Hoàng Thúc Cảnh vượt một trăm tuổi, cháu xin kể một mẫu chuyện nhỏ ân tình đã tạo nên sự đoàn tụ của Hoàng Gia như ngày nay : Năm 1977, cậu Hoàng Thúc Cảnh đã lên Đồn Lương, Việt Yên, Hà Bắc của Trường Đại học Nông nghiệp II Hà Bắc gặp thầy Hoàng Sỹ Oánh là Hiệu trưởng đầu tiên của Trường và nói: “Xin quý Thầy cho cháu Kim được chuyển trường vào Đại học Nông nghiệp 4 thành phố Hồ Chí Minh. Cháu Kim mồ côi cha mẹ từ nhỏ, cha bị bom Mỹ giết hại. Anh Trực của cháu trận mạc từ rất sớm và Kim đã xung phong nhập ngũ năm 1971 từ Trường Thầy. Cháu học giỏi lại trãi chiến đấu, nay được quý thầy quy hoạch học tập đào tạo ở Trường là thật mừng, nhưng mong quý Thầy chiếu cố hoàn cảnh của cháu thật thương tâm, trước đây cơm ngày một bữa suốt năm năm, nay anh em lưu tán. Gia đình ao ước lớn nhất là được tụ họp sau chiến tranh. Anh biết rõ tánh tôi ở gần gũi Bác Hồ và cụ Đồng, trọng tánh của các cụ mà chưa hề phiền lụy ai, nhưng riêng việc này nhờ anh chiếu cố cho cháu xin chuyển trường“. Thầy Đỗ Ánh Phó Hiệu trưởng và thầy Võ Hùng Trưởng Khoa Nông học đều cảm động và đồng tình. Hoàng Kim được chuyển trường khiến sau này cả gia đình chúng tôi có được cơ hội đoàn tụ đất phương Nam đó là nhờ đức nhân hậu, lòng yêu thương và tầm nhìn sáng suốt.

HAI BÀ TRẦN LÀNG MINH LỆ
Bạch Ngọc Hoàng Kim
Họ Trần làng Minh Lệ gia đình chúng tôi, ông ngoại họ Trần lấy bà ngoại họ Hoàng của gia tộc nêu trên sinh được ba người con. Mẹ tôi là gái đầu đi ở cho nhà địa chủ từ nhỏ. Mẹ tôi sinh ba trai và hai gái. Cậu ‘Trần Qua’ là con trai thứ nhưng mất từ rất nhỏ. Dì tôi là gái út thoát li làm cách mạng từ rất sớm. Dì sinh bốn người con trai. Mẹ tôi mất sớm đúng ngày mồng Ba Tết Nguyên Đán năm 1964. Cha nói trong nước mắt: ‘Các con gọi chồng dì bằng cậu, bởi hiếm có ai chăm sóc chị dâu tận tụy như dượng của các con’. Cha bị bom Mỹ giết hại ngày 29 tháng 8 âm lịch năm 1968. Chúng con lớn lên dưới lồng cánh cưu mang của Dì Cậu và đại gia đình Trần Hoàng Lê Nguyễn..Trong vận mệnh của Tổ Quốc và Gia Đình, cha và cậu đã từng cầm súng, bảy con trai của mẹ và dì có năm đứa đã từng cầm súng
Tết ấm áp tình thân
Hoàng Kim
1
Tết ấm áp tình thân
Tình yêu Ngày của Mẹ
Ngọc Quan Âm Mai Hoàng
Chuyên nhiều năm còn kể (*)
2
Ta chung nhau một ban mai
Vui bên cha mẹ một trời nắng xuân
Ta chung nhau một trong ngần
Yêu thương sống giữa người thân ân tình.
3
Tết ấm áp tình thân chào ngày mới
Ai cũng vui thân thiết những câu chào
Sống phúc hậu tận tâm khỏe khoắn
Thế giới người hiền minh triết khát khao.















(Văn Nghệ Quảng Minh tập 19 trang 66)
Ngày Giỗ Mạ
Hoàng Mạnh Tường
Con đi viếng Mạ Mạ ơi
Dĩa trầu cau cánh hoa tươi kính Người
Mấy chục năm Mạ đi rồi
Cây nhang nắm đất lệ rơi nhạt nhòa
Âm dương cách trở sơn hà
Nhìn lên di ảnh xót xa cõi lòng
Căn nhà ở lại quê hương
Mạ đi để nỗi nhớ thương đêm ngày
Nhìn từng ngọn cỏ gốc cây
Bóng hình của Mạ nôi này chốn kia
Tấm thân còm cõi nắng mưa
Khăn đen một chiếc sớm trưa đội đầu
Cả ngày bỏm bẻm nhai trầu
Bữa côm con cá cọng rau đủ rồi
Một đời khó nhọc Mạ ơi
Một đời góa bụa không lời thở than
Hôm nay con cháu đủ đàn
Vẫn chưa trọn HIẾU một lần Mạ vui
Nhớ Mạ nước mắt tuôn rơi
Nhìn quanh một nẽo đất trời quạnh hiu.
Giỗ Mạ 12/5 Giáp Thìn
Thăm Mạ 22 tháng Chạp Giáp Thìn (nhằm ngày 21/1/2025)
Nhớ Ông Bà Cậu Mợ
Hoàng Kim


VƯỜN NHÀ SỚM MAI NAY
Mưa ướt đất lành nắng mới lên
Nhớ thương bạn tới thật bình yên
Tình thân ấm áp vui trò chuyện
Đời sống #annhiên giữa chốn hiền.
#Nhàtôi cá vàng tung tăng nước
Vườn mình súng tím gió hương trời
Bụt mọc ngọc hồng tươi hướng biển
Phật đài vi diệu mới thủy nguyên
Hoàng Kim
Vườn nhà sớm mai nay – YouTube & https://hoangkimlongwordpress.com/category/vuon-nha-som-mai-nay



LÃO NÔNG NGÀY ĐƯỢC MÙA
Minh triết sống phúc hậu
Một gia đình yêu thương
Mạc triều trong sử Việt
Nếp nhà đẹp văn hóa
xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chinh-ngo-doan-kinh-dich/

#phậtdượcsư #tretrúclâm
PHẬT DƯỢC SƯ
Nhớ Mẹ Cha Ông Bà Cậu Mợ
Thương Đức Độ Người Lành
Hiểu Thân Tâm An LẠC
Thấm Địa Tạng Dược Sư
Nhạc thiền tịnh tâm cho buổi sáng an lành & 9 phút mỗi sáng nạp tràn đầy năng lượng & Yêu thích sự bình an & Bí quyết sống thanh thản & 5 kiểu người càng sống càng có phước & 5 cách giao tiếp kỳ diệu với vũ trụ & 7 Dấu Hiệu Cho Thấy Bạn Không Phải Là NGƯỜI THƯỜNG & 8 KIẾP NẠN Bạn Đã VƯỢT QUA Mà Không Biết Dấu Hiệu Phước Báo Sắp Đến & 8 dấu hiệu tâm linh mạnh mẽ & 5 Dấu Hiệu Bạn Là Hậu Duệ Của Bồ Tát | Mang Căn Tu Từ Kiếp Trước Mà Không Biết & 9 DẤU HIỆU Bạn Có TRÍ TUỆ PHẬT ĐÀ Mà Không Nhận Ra | Thông Minh Khác Biệt Theo Lời Phật Dạy; Con xứng đáng với sự bình yên trong tâm mình . Tâm An
TÂM BỒ ĐỀ TU TÂP
#phậtdượcsư #tretrúclâm
Thấm Nhân Tình Thế Thái
Tâm Bồ Đề Tu Tập
An Trú Nội Tâm Mình
Khi có sự phỉ báng, nói xấu, sỉ nhục .. mà chúng ta nghe được, tuyệt đối không trách móc người. Lập tức phải phản tỉnh lại bản thân là mình có đúng như lời người ta nói hay không? Nếu như thực sự đúng như lời họ nói thì phải cải đổi, họ nhắc nhở ta, họ giáo huấn ta ở chỗ này, ta lập tức sửa sai lầm.
Ta phải cảm ơn họ, nhờ có họ ta mới nhìn lại lỗi ở bản thân. Biết được lỗi lầm của chính mình là giác ngộ, sửa được lỗi lầm của chính mình là tu hành.
Nếu như lời họ nói là vu oan cho ta, bản thân ta không có lỗi gì ta cũng phải cám ơn họ, vì họ đến tiêu Nghiệp chướng thay cho ta. Người mà vô duyên vô cớ bị người ta mắng, bị huy báng, bị sỉ nhục…về sau thường thường có đại Phước báo.
Nhẫn nhục là nền tảng của tâm thanh tịnh, giác ngộ rồi thì không có tham sân si, khi mê thì vẫn còn tham sân si.
Nếu như chúng ta khởi tâm oán hận thì Phước báo đó không còn. Sau này làm gì có Phước báo, điều này được ghi chép rất nhiều trong lịch sử, là thật không phải giả.
Cho dù chính bản thân mình không có thịnh vượng, thì con cháu sẽ thịnh vượng. Cho nên chúng ta phải tu nhẫn, chấp nhận bị vu oan, chấp nhận bị hiểu lầm, tuy không dễ với người phàm nhưng với người tu muốn đạt cảnh giới trên cao thì phải tu nhẫn nhục trước tiên.
Sau này Phước đó rất là lớn. Nhưng quan trọng tâm của chúng ta không được oán hận, dù là một chút mảy may thôi cũng không được khởi lên. Nếu khởi lên sân hận thì ngay lập tức công đức và phước đức đều bị tiêu tan do cái tâm sân hận mà ra. Vì sao nói có cả công đức trong đó, vì trong hoàn cảnh nghịch cảnh đó, bạn tu dưỡng được Nhẫn nhục ba la mật, mà không khởi tâm sân hận thì công đức của bạn liền có.
Nam Mô A Di Đà Phật



Đường đời duyên phận gặp nhau
Lối chung cõi phúc gắng câu thiện lành
Bình sinh may được gặp mình
Đoàn viên vận mệnh kết tình thiên thu
Tam sinh tam thế an hòa
Lắng kinh bát nhã thấm thơ tâm hồn
Hoàng Kim
tích hợp #ĐẹpvàHay #Annhiên #Tỉnhthức Pháp Thiện Yêu Thương Con Bằng Trí Tuệ odnstroeSp7ma311cg https://www.facebook.com/ Yeuthuongconbangtritue/ videos/811042370968437 với Việt Nam con đường xanh https://hoangkimlong.wordpress.com/category/viet-nam-con-duong-xanh/

Thủy khờ yêu gã Kim mơ
đức độ cần kiệm, thẩn thơ lụy tài
mặc ai ham hố chuyện trời
#Nhàtôi yêu thích trọn đời sắn khoai
lúa ngô mê mãi tháng ngày
#Thungdung đèn sách số dày #annhiên



Vu Lan Giáp Thìn 2024

Chính Trung Hiếu Thiện Lành
Một Gia Đình Yêu Thương
Vui Đi Dưới Mặt Trời
#cnm365 #TìnhYêuCuộcSống
#ĐáVàng Với #BanMai
Hoàng Kim

Chính Trung Hiếu Thiện Lành
Một Gia Đình Yêu Thương
Vui Đi Dưới Mặt Trời
#cnm365 #TìnhYêuCuộcSống
#ĐáVàng Với #BanMai
Biết Ơn Lời Thầm Lặng
Bài Học Đầu Đời Con
https://cnm365.wordpress.com & https://youtu.be/2cS7AQdf_To & Tâm Inamori Kawano Sách Quý https://youtu.be/ryRBFmn6b0c?si=m8w5lWnr9RRN_23T

#ana Na, Harry và chị Sóc học ngoại ngữ
https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana



TRÀ SỚM VỚI LÃO NÔNG
Dưỡng Sinh Thở Viết Tốt
Sắc Diện Trí An Tâm
Cụ Hoàng Vui Sống Khỏe
Soi sáng lại chính mình
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tra-som-voi-lao-nong/
THƯỢNG ĐỨC THƯƠNG NHÌN LẠI
Ta trở lại chân quê tình đất đỏ
Nhớ thương thầm gạo đỏ chốn rừng xanh
Lời trung hiếu trăm năm còn muốn kể (*)
Hoàng Thành ơi thăm thẳm đợi quay về
Kim Hoàng @nêu bật

LINH GIANG SÔNG QUÊ HƯƠNG
Nhà mình gần ngã ba sông
Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình
Linh Giang sông núi hữu tình
Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con
“Chèo thuyền cho khuất bến Son
Để con khỏi chộ nước non thêm buồn “
Câu ru quặn thắt đời con
Mẹ cha mất sớm, con còn trẻ thơ
Ra đi từ bấy đến chừ
Lặn trong sương khói bến đò sông quê
Ngày xuân giữ vẹn lời thề
Non sông mở cõi, tụ về trời Nam.
Hoàng Kim
HOME RIVER
Learning the attitude of water that goes like the river
My house is near a confluence
Rao Nan, Cho Moi, Nguon Son, Quang Binh
Linh River charming Mountain River
The place where I was born.
“Rowing far away the SON wharf
Not to see our village that makes me sadder “
Lullaby makes me heart- rending
My parents died early when I was a baby.
Leaving our village since then
Diving in smog from the wharf of our river
Keeping full oath in Spring days
When the country unify, we’ll live together in the South
English translation
by NgocphuongNam
LINH RIVER
Hoang Kim
Learning the attitude of water that goes like the river
By confluence sited is my home
Rao Nam, Cho Moi, Nguon Son, Quang Binh
Linh river of charming
That is place releasing a person
Rowing out of the Son
Let is the upset not involved in my mind
Such a sad lunlaby
Parents is dead left five child barren
Leaving home since then
Smog of wharf is driven my life
When Vietnam unified
The South chosen the homeland to live.
English translation
by Vu Manh Hai


https://hoangkimlong.wordpress.com/category/linh-giang-song-que-huong Linh Giang sông quê hương “Chèo thuyền cho khuất bến Son Để con khỏi chộ nước non thêm buồn” Cảm ơn anh Bu Nguyễn Quốc Toàn và anh Ruc Hung để thấm thía đọc lại Tỉnh thức cùng tháng năm Gia Cát Mã Tiền Khóa Thành tâm với chính mình https://youtu.be/t-el5mFWkjU để thấu hiểu vì sao Lưu Bị nhói trong tim thụp lạy tôn hiền tài nặng lòng Son đến vậy!



Đồng Nai Nôi Bồ Đề
ĐI NHƯ MỘT DÒNG SÔNG
Hoàng Kim
1
Linh Giang sông quê hương
Lời thề trên sông Hóa
Đá Đứng chốn sông thiêng
Đại Lãnh nhạn quay về.
2
Lời dặn của Thánh Trần
Minh triết Hồ Chí Minh
Thầy nghề nông chiến sĩ
Đồng xuân lưu dấu hiền
3
Chuyện đời tôi Hoàng Kim
Chín điều lành hạnh phúc
Chim Phượng về làm tổ
Chung sức trên đường xuân
4
Nguyễn Trãi Dục Thúy Sơn
Nguyễn Du trăng huyền thoại
Tô Đông Pha Tây Hồ
Nguyễn Hiến Lê sao sáng
5
Việt Nam con đường xanh
Cây Lương thực Việt Nam
Ngày xuân đọc Trạng Trình
Sóc Trăng Lương Định Của.
6
Dạo chơi non nước Việt
Về Nghĩa Lĩnh Đền Hùng
Lên Trúc Lâm Yên Tử
An Viên Ngọc Quan Âm
7
Trường tôi nôi yêu thương
Dấu xưa thầy bạn quý
Thầy bạn là lộc xuân
Thầy bạn trong đời tôi
8
Giấc mơ thiêng cùng Goethe
Châu Mỹ chuyện không quên
Ấn Độ địa chỉ xanh
Trung Quốc một suy ngẫm
9
Giấc mơ lành yêu thương
Cuối dòng sông là biển
Sự chậm rãi minh triết
Cây đời mãi tươi xanh


Hoa Đất Thương Lời Hiền
Việt Nam con đường xanh
Đường xuân theo chân Bác
Thầy nghề nông chiến sĩ
Đường Sống Đạo Làm Người
#vietnamhoc #phậtdượcsư #ĐáVàng #cnm365 #cltvn


TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM
Tổ Quốc Lùm Trần Thương *
Chính Trung Hiếu Thiện Lành
Một Gia Đình Yêu Thương
An Nhiên Vùng Thủy Kính
cnm365 Tình Yêu Cuộc Sống

LÙM TRẦN THƯƠNG TỔ ƠI
Tổ Ơi
Tổ Mai Danh Ẩn Tích
Lùm Trần*****
Chịu bao nhiêu
Khó nhọc
Để đền ơn
Tổ Quốc
Sự nghiệp
Minh Đức
Bao nhiêu
Xương máu
Ông cha
Bến Lội
Lệ Sơn
Rào Nan
Rú Cấm
Ma Ca
Đồng Hải
Nước mắt
Bậc anh hùng
Hậu Sinh
Đưa Cháu Con về
Thăm thẳm
Phương trời
Tưởng vọng




(*) Linh Giang sông quê hương
HỌC ĐI MÀ NHỚ MÃI
Hoàng Kim
Trên bục giảng mùa xuân
Chuyện nước phân cần giống
Nghề nhà nông hạt gạo
Chuyện đời không thể quên

Hồng Quang nhẹ bước đường CẬU HOÀNG CỦA CHÚNG TÔI Nhớ Ông Bà Cậu Mợ / Một Gia Đình Yêu Thương/ Nhân Hậu Nếp Nhà Quý/ Đức Độ Sáng Đời Thường/ Bình Sinh Ban Mai Hững/#Annhiên với #Thungdung/ Người nhàn vui thiện nghiệp/ https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-15-thang-3

Học đi em
Học đi mà nhớ mãi
Có một thời để nhớ
Có một thời để thương …
Linh Thủy làng Kim Linh
Thọ Linh đập Rào Nan
Đá Đứng chốn sông thiêng
Tích xưa và chuyện mới
Nghe nhạc Trịnh Công Sơn
Mẹ ở làng Thọ Linh
Chuyện cụ Nguyễn Tư Thoan
Khát vọng đập Rào Nan
Linh Giang sông quê hương
Quảng Bình với Trường Sơn
Quảng Bình đất và người
Đọc mà nước mắt chảy …
Thành Kính Tiễn Biệt Cụ /An Nhiên Chốn Thiện Lành/ Linh Giang Sông Quê Hương/ Lời Thương Làng Minh Lệ/ Địa Linh Sinh Nhân Kiệt/ Nhân Hậu Sống Bình An/ Tâm Sáng Bền Phúc Khí/ Cụ Lên Đường #ThungDung https://www.facebook.com/dung.hoangthi.5095 & https://hoangkimlong.wordpress.com/2025/03/19/linh-giang-song-que-huong/


xem tiếp: Hoa Đất của quê hương
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoa-dat-cua-que-huong/
Hoàng Kim Nguyễn Thị Thủy
Chuyên mục
- #cnm365
- #cnm365 #cltvn 1 tháng 1
- #cnm365 #cltvn 1 tháng 10
- #cnm365 #cltvn 1 tháng 11
- #cnm365 #cltvn 1 tháng 12
- #cnm365 #cltvn 1 tháng 2
- #cnm365 #cltvn 1 tháng 3
- #cnm365 #cltvn 1 tháng 4
- #cnm365 #cltvn 1 tháng 5
- #cnm365 #cltvn 1 tháng 6
- #cnm365 #cltvn 1 tháng 7
- #cnm365 #cltvn 1 tháng 8
- #cnm365 #cltvn 1 tháng 9
- #cnm365 #cltvn 10 tháng 1
- #cnm365 #cltvn 10 tháng 10
- #cnm365 #cltvn 10 tháng 11
- #cnm365 #cltvn 10 tháng 12
- #cnm365 #cltvn 10 tháng 2
- #cnm365 #cltvn 10 tháng 3
- #cnm365 #cltvn 10 tháng 4
- #cnm365 #cltvn 10 tháng 5
- #cnm365 #cltvn 10 tháng 6
- #cnm365 #cltvn 10 tháng 7
- #cnm365 #cltvn 10 tháng 8
- #cnm365 #cltvn 10 tháng 9
- #cnm365 #cltvn 11 tháng 1
- #cnm365 #cltvn 11 tháng 10
- #cnm365 #cltvn 11 tháng 11
- #cnm365 #cltvn 11 tháng 12
- #cnm365 #cltvn 11 tháng 2
- #cnm365 #cltvn 11 tháng 3
- #cnm365 #cltvn 11 tháng 4
- #cnm365 #cltvn 11 tháng 5
- #cnm365 #cltvn 11 tháng 6
- #cnm365 #cltvn 11 tháng 7
- #cnm365 #cltvn 11 tháng 8
- #cnm365 #cltvn 11 tháng 9
- #cnm365 #cltvn 12 tháng 1
- #cnm365 #cltvn 12 tháng 10
- #cnm365 #cltvn 12 tháng 11
- #cnm365 #cltvn 12 tháng 12
- #cnm365 #cltvn 12 tháng 2
- #cnm365 #cltvn 12 tháng 3
- #cnm365 #cltvn 12 tháng 4
- #cnm365 #cltvn 12 tháng 5
- #cnm365 #cltvn 12 tháng 6
- #cnm365 #cltvn 12 tháng 7
- #cnm365 #cltvn 12 tháng 8
- #cnm365 #cltvn 12 tháng 9
- #cnm365 #cltvn 13 tháng 1
- #cnm365 #cltvn 13 tháng 10
- #cnm365 #cltvn 13 tháng 11
- #cnm365 #cltvn 13 tháng 12
- #cnm365 #cltvn 13 tháng 2
- #cnm365 #cltvn 13 tháng 3
- #cnm365 #cltvn 13 tháng 4
- #cnm365 #cltvn 13 tháng 5
- #cnm365 #cltvn 13 tháng 6
- #cnm365 #cltvn 13 tháng 7
- #cnm365 #cltvn 13 tháng 8
- #cnm365 #cltvn 13 tháng 9
- #cnm365 #cltvn 14 tháng 10
- #cnm365 #cltvn 14 tháng 11
- #cnm365 #cltvn 14 tháng 12
- #cnm365 #cltvn 14 tháng 2
- #cnm365 #cltvn 14 tháng 3
- #cnm365 #cltvn 14 tháng 4
- #cnm365 #cltvn 14 tháng 5
- #cnm365 #cltvn 14 tháng 6
- #cnm365 #cltvn 14 tháng 7
- #cnm365 #cltvn 14 tháng 8
- #cnm365 #cltvn 14 tháng 9
- #cnm365 #cltvn 14 tháng 1
- #cnm365 #cltvn 15 tháng 10
- #cnm365 #cltvn 15 tháng 11
- #cnm365 #cltvn 15 tháng 12
- #cnm365 #cltvn 15 tháng 2
- #cnm365 #cltvn 15 tháng 3
- #cnm365 #cltvn 15 tháng 4
- #cnm365 #cltvn 15 tháng 5
- #cnm365 #cltvn 15 tháng 6
- #cnm365 #cltvn 15 tháng 7
- #cnm365 #cltvn 15 tháng 8
- #cnm365 #cltvn 15 tháng 9
- #cnm365 #cltvn 15 tháng 1
- #cnm365 #cltvn 16 tháng 10
- #cnm365 #cltvn 16 tháng 11
- #cnm365 #cltvn 16 tháng 12
- #cnm365 #cltvn 16 tháng 2
- #cnm365 #cltvn 16 tháng 3
- #cnm365 #cltvn 16 tháng 4
- #cnm365 #cltvn 16 tháng 5
- #cnm365 #cltvn 16 tháng 6
- #cnm365 #cltvn 16 tháng 7
- #cnm365 #cltvn 16 tháng 8
- #cnm365 #cltvn 16 tháng 9
- #cnm365 #cltvn 16 tháng 1
- #cnm365 #cltvn 17 tháng 10
- #cnm365 #cltvn 17 tháng 11
- #cnm365 #cltvn 17 tháng 12
- #cnm365 #cltvn 17 tháng 2
- #cnm365 #cltvn 17 tháng 3
- #cnm365 #cltvn 17 tháng 4
- #cnm365 #cltvn 17 tháng 5
- #cnm365 #cltvn 17 tháng 6
- #cnm365 #cltvn 17 tháng 7
- #cnm365 #cltvn 17 tháng 8
- #cnm365 #cltvn 17 tháng 9
- #cnm365 #cltvn 17 tháng 1
- #cnm365 #cltvn 18 tháng 1
- #cnm365 #cltvn 18 tháng 10
- #cnm365 #cltvn 18 tháng 11
- #cnm365 #cltvn 18 tháng 12
- #cnm365 #cltvn 18 tháng 2
- #cnm365 #cltvn 18 tháng 3
- #cnm365 #cltvn 18 tháng 4
- #cnm365 #cltvn 18 tháng 5
- #cnm365 #cltvn 18 tháng 6
- #cnm365 #cltvn 18 tháng 7
- #cnm365 #cltvn 18 tháng 8
- #cnm365 #cltvn 18 tháng 9
- #cnm365 #cltvn 19 tháng 1
- #cnm365 #cltvn 19 tháng 10
- #cnm365 #cltvn 19 tháng 11
- #cnm365 #cltvn 19 tháng 12
- #cnm365 #cltvn 19 tháng 2
- #cnm365 #cltvn 19 tháng 3
- #cnm365 #cltvn 19 tháng 4
- #cnm365 #cltvn 19 tháng 5
- #cnm365 #cltvn 19 tháng 7
- #cnm365 #cltvn 19 tháng 8
- #cnm365 #cltvn 19 tháng 9
- #cnm365 #cltvn 2 tháng 1
- #cnm365 #cltvn 2 tháng 10
- #cnm365 #cltvn 2 tháng 11
- #cnm365 #cltvn 2 tháng 12
- #cnm365 #cltvn 2 tháng 2
- #cnm365 #cltvn 2 tháng 3
- #cnm365 #cltvn 2 tháng 4
- #cnm365 #cltvn 2 tháng 5
- #cnm365 #cltvn 2 tháng 6
- #cnm365 #cltvn 2 tháng 7
- #cnm365 #cltvn 2 tháng 8
- #cnm365 #cltvn 2 tháng 9
- #cnm365 #cltvn 20 tháng 1
- #cnm365 #cltvn 20 tháng 10
- #cnm365 #cltvn 20 tháng 11
- #cnm365 #cltvn 20 tháng 12
- #cnm365 #cltvn 20 tháng 2
- #cnm365 #cltvn 20 tháng 3
- #cnm365 #cltvn 20 tháng 4
- #cnm365 #cltvn 20 tháng 5
- #cnm365 #cltvn 20 tháng 6
- #cnm365 #cltvn 20 tháng 7
- #cnm365 #cltvn 20 tháng 9
- #cnm365 #cltvn 20 tháng 8
- #cnm365 #cltvn 21 tháng 1
- #cnm365 #cltvn 21 tháng 10
- #cnm365 #cltvn 21 tháng 11
- #cnm365 #cltvn 21 tháng 12
- #cnm365 #cltvn 21 tháng 2
- #cnm365 #cltvn 21 tháng 3
- #cnm365 #cltvn 21 tháng 4
- #cnm365 #cltvn 21 tháng 5
- #cnm365 #cltvn 21 tháng 6
- #cnm365 #cltvn 21 tháng 7
- #cnm365 #cltvn 21 tháng 8
- #cnm365 #cltvn 21 tháng 9
- #cnm365 #cltvn 22 tháng 1
- #cnm365 #cltvn 22 tháng 10
- #cnm365 #cltvn 22 tháng 11
- #cnm365 #cltvn 22 tháng 12
- #cnm365 #cltvn 22 tháng 2
- #cnm365 #cltvn 22 tháng 3
- #cnm365 #cltvn 22 tháng 4
- #cnm365 #cltvn 22 tháng 5
- #cnm365 #cltvn 22 tháng 6
- #cnm365 #cltvn 22 tháng 7
- #cnm365 #cltvn 22 tháng 8
- #cnm365 #cltvn 22 tháng 9
- #cnm365 #cltvn 23 tháng 1
- #cnm365 #cltvn 23 tháng 10
- #cnm365 #cltvn 23 tháng 11
- #cnm365 #cltvn 23 tháng 12
- #cnm365 #cltvn 23 tháng 3
- #cnm365 #cltvn 23 tháng 4
- #cnm365 #cltvn 23 tháng 5
- #cnm365 #cltvn 23 tháng 6
- #cnm365 #cltvn 23 tháng 7
- #cnm365 #cltvn 23 tháng 8
- #cnm365 #cltvn 23 tháng 9
- #cnm365 #cltvn 24 tháng 1
- #cnm365 #cltvn 24 tháng 10
- #cnm365 #cltvn 24 tháng 11
- #cnm365 #cltvn 24 tháng 12
- #cnm365 #cltvn 24 tháng 2
- #cnm365 #cltvn 24 tháng 4
- #cnm365 #cltvn 24 tháng 5
- #cnm365 #cltvn 24 tháng 6
- #cnm365 #cltvn 24 tháng 7
- #cnm365 #cltvn 24 tháng 8
- #cnm365 #cltvn 24 tháng 9
- #cnm365 #cltvn 25 tháng 1
- #cnm365 #cltvn 25 tháng 10
- #cnm365 #cltvn 25 tháng 11
- #cnm365 #cltvn 25 tháng 12
- #cnm365 #cltvn 25 tháng 2
- #cnm365 #cltvn 25 tháng 3
- #cnm365 #cltvn 25 tháng 4
- #cnm365 #cltvn 25 tháng 5
- #cnm365 #cltvn 25 tháng 6
- #cnm365 #cltvn 25 tháng 7
- #cnm365 #cltvn 25 tháng 8
- #cnm365 #cltvn 25 tháng 9
- #cnm365 #cltvn 26 tháng 1
- #cnm365 #cltvn 26 tháng 10
- #cnm365 #cltvn 26 tháng 11
- #cnm365 #cltvn 26 tháng 12
- #cnm365 #cltvn 26 tháng 2
- #cnm365 #cltvn 26 tháng 3
- #cnm365 #cltvn 26 tháng 4
- #cnm365 #cltvn 26 tháng 5
- #cnm365 #cltvn 26 tháng 6
- #cnm365 #cltvn 26 tháng 7
- #cnm365 #cltvn 26 tháng 8
- #cnm365 #cltvn 26 tháng 9
- #cnm365 #cltvn 27 tháng 1
- #cnm365 #cltvn 27 tháng 10
- #cnm365 #cltvn 27 tháng 11
- #cnm365 #cltvn 27 tháng 12
- #cnm365 #cltvn 27 tháng 2
- #cnm365 #cltvn 27 tháng 3
- #cnm365 #cltvn 27 tháng 4
- #cnm365 #cltvn 27 tháng 5
- #cnm365 #cltvn 27 tháng 6
- #cnm365 #cltvn 27 tháng 7
- #cnm365 #cltvn 27 tháng 9
- #cnm365 #cltvn 28 tháng 1
- #cnm365 #cltvn 28 tháng 10
- #cnm365 #cltvn 28 tháng 11
- #cnm365 #cltvn 28 tháng 12
- #cnm365 #cltvn 28 tháng 2
- #cnm365 #cltvn 28 tháng 3
- #cnm365 #cltvn 28 tháng 4
- #cnm365 #cltvn 28 tháng 5
- #cnm365 #cltvn 28 tháng 7
- #cnm365 #cltvn 28 tháng 8
- #cnm365 #cltvn 28 tháng 9
- #cnm365 #cltvn 29 tháng 1
- #cnm365 #cltvn 29 tháng 10
- #cnm365 #cltvn 29 tháng 11
- #cnm365 #cltvn 29 tháng 12
- #cnm365 #cltvn 29 tháng 3
- #cnm365 #cltvn 29 tháng 4
- #cnm365 #cltvn 29 tháng 5
- #cnm365 #cltvn 29 tháng 6
- #cnm365 #cltvn 29 tháng 7
- #cnm365 #cltvn 29 tháng 9
- #cnm365 #cltvn 29 tháng 8
- #cnm365 #cltvn 3 tháng 1
- #cnm365 #cltvn 3 tháng 10
- #cnm365 #cltvn 3 tháng 11
- #cnm365 #cltvn 3 tháng 12
- #cnm365 #cltvn 3 tháng 2
- #cnm365 #cltvn 3 tháng 3
- #cnm365 #cltvn 3 tháng 4
- #cnm365 #cltvn 3 tháng 5
- #cnm365 #cltvn 3 tháng 6
- #cnm365 #cltvn 3 tháng 7
- #cnm365 #cltvn 3 tháng 8
- #cnm365 #cltvn 3 tháng 9
- #cnm365 #cltvn 30 tháng 1
- #cnm365 #cltvn 30 tháng 10
- #cnm365 #cltvn 30 tháng 11
- #cnm365 #cltvn 30 tháng 12
- #cnm365 #cltvn 30 tháng 3
- #cnm365 #cltvn 30 tháng 4
- #cnm365 #cltvn 30 tháng 5
- #cnm365 #cltvn 30 tháng 7
- #cnm365 #cltvn 30 tháng 8
- #cnm365 #cltvn 30 tháng 9
- #cnm365 #cltvn 31 tháng 1
#cnm365 #cltvn Nắng mới
https://cnm365.wordpress.com
Run away with me
Chuyên mục
- Chào ngày mới 1 tháng 1
- Chào ngày mới 1 tháng 10
- Chào ngày mới 1 tháng 11
- Chào ngày mới 1 tháng 12
- Chào ngày mới 1 tháng 2
- Chào ngày mới 1 tháng 3
- Chào ngày mới 1 tháng 4
- Chào ngày mới 1 tháng 5
- Chào ngày mới 1 tháng 6
- Chào ngày mới 1 tháng 7
- Chào ngày mới 1 tháng 8
- Chào ngày mới 1 tháng 9
- Chào ngày mới 10 tháng 1
- Chào ngày mới 10 tháng 10
- Chào ngày mới 10 tháng 11
- Chào ngày mới 10 tháng 12
- Chào ngày mới 10 tháng 2
- Chào ngày mới 10 tháng 3
- Chào ngày mới 10 tháng 4
- Chào ngày mới 10 tháng 5
- Chào ngày mới 10 tháng 6
- Chào ngày mới 10 tháng 7
- Chào ngày mới 10 tháng 8
- Chào ngày mới 10 tháng 9
- Chào ngày mới 11 tháng 1
- Chào ngày mới 11 tháng 10
- Chào ngày mới 11 tháng 11
- Chào ngày mới 11 tháng 12
- Chào ngày mới 11 tháng 2
- Chào ngày mới 11 tháng 3
- Chào ngày mới 11 tháng 4
- Chào ngày mới 11 tháng 5
- Chào ngày mới 11 tháng 6
- Chào ngày mới 11 tháng 7
- Chào ngày mới 11 tháng 8
- Chào ngày mới 11 tháng 9
- Chào ngày mới 12 tháng 1
- Chào ngày mới 12 tháng 10
- Chào ngày mới 12 tháng 11
- Chào ngày mới 12 tháng 12
- Chào ngày mới 12 tháng 2
- Chào ngày mới 12 tháng 3
- Chào ngày mới 12 tháng 4
- Chào ngày mới 12 tháng 5
- Chào ngày mới 12 tháng 6
- Chào ngày mới 12 tháng 7
- Chào ngày mới 12 tháng 8
- Chào ngày mới 12 tháng 9
- Chào ngày mới 13 tháng 1
- Chào ngày mới 13 tháng 10
- Chào ngày mới 13 tháng 11
- Chào ngày mới 13 tháng 12
- Chào ngày mới 13 tháng 2
- Chào ngày mới 13 tháng 3
- Chào ngày mới 13 tháng 4
- Chào ngày mới 13 tháng 5
- Chào ngày mới 13 tháng 6
- Chào ngày mới 13 tháng 7
- Chào ngày mới 13 tháng 8
- Chào ngày mới 13 tháng 9
- Chào ngày mới 14 tháng 1
- Chào ngày mới 14 tháng 10
- Chào ngày mới 14 tháng 11
- Chào ngày mới 14 tháng 12
- Chào ngày mới 14 tháng 2
- Chào ngày mới 14 tháng 3
- Chào ngày mới 14 tháng 4
- Chào ngày mới 14 tháng 5
- Chào ngày mới 14 tháng 6
- Chào ngày mới 14 tháng 7
- Chào ngày mới 14 tháng 8
- Chào ngày mới 14 tháng 9
- Chào ngày mới 15 tháng 1
- Chào ngày mới 15 tháng 10
- Chào ngày mới 15 tháng 11
- Chào ngày mới 15 tháng 12
- Chào ngày mới 15 tháng 2
- Chào ngày mới 15 tháng 3
- Chào ngày mới 15 tháng 4
- Chào ngày mới 15 tháng 5
- Chào ngày mới 15 tháng 6
- Chào ngày mới 15 tháng 7
- Chào ngày mới 15 tháng 8
- Chào ngày mới 15 tháng 9
- Chào ngày mới 16 tháng 1
- Chào ngày mới 16 tháng 10
- Chào ngày mới 16 tháng 11
- Chào ngày mới 16 tháng 12
- Chào ngày mới 16 tháng 2
- Chào ngày mới 16 tháng 3
- Chào ngày mới 16 tháng 4
- Chào ngày mới 16 tháng 5
- Chào ngày mới 16 tháng 6
- Chào ngày mới 16 tháng 7
- Chào ngày mới 16 tháng 8
- Chào ngày mới 16 tháng 8.
- Chào ngày mới 16 tháng 9
- Chào ngày mới 17 tháng 1
- Chào ngày mới 17 tháng 10
- Chào ngày mới 17 tháng 11
- Chào ngày mới 17 tháng 12
- Chào ngày mới 17 tháng 2
- Chào ngày mới 17 tháng 3
- Chào ngày mới 17 tháng 4
- Chào ngày mới 17 tháng 5
- Chào ngày mới 17 tháng 6
- Chào ngày mới 17 tháng 7
- Chào ngày mới 17 tháng 8
- Chào ngày mới 17 tháng 9
- Chào ngày mới 18 tháng 1
- Chào ngày mới 18 tháng 10
- Chào ngày mới 18 tháng 11
- Chào ngày mới 18 tháng 12
- Chào ngày mới 18 tháng 2
- Chào ngày mới 18 tháng 3
- Chào ngày mới 18 tháng 4
- Chào ngày mới 18 tháng 5
- Chào ngày mới 18 tháng 6
- Chào ngày mới 18 tháng 7
- Chào ngày mới 18 tháng 8
- Chào ngày mới 18 tháng 9
- Chào ngày mới 19 tháng 1
- Chào ngày mới 19 tháng 10
- Chào ngày mới 19 tháng 11
- Chào ngày mới 19 tháng 12
- Chào ngày mới 19 tháng 2
- Chào ngày mới 19 tháng 3
- Chào ngày mới 19 tháng 4
- Chào ngày mới 19 tháng 5
- Chào ngày mới 19 tháng 6
- Chào ngày mới 19 tháng 7
- Chào ngày mới 19 tháng 8
- Chào ngày mới 19 tháng 9
- Chào ngày mới 2 tháng 1
- Chào ngày mới 2 tháng 10
- Chào ngày mới 2 tháng 11
- Chào ngày mới 2 tháng 12
- Chào ngày mới 2 tháng 2
- Chào ngày mới 2 tháng 3
- Chào ngày mới 2 tháng 4
- Chào ngày mới 2 tháng 5
- Chào ngày mới 2 tháng 6
- Chào ngày mới 2 tháng 7
- Chào ngày mới 2 tháng 8
- Chào ngày mới 2 tháng 9
- Chào ngày mới 20 tháng 1
- Chào ngày mới 20 tháng 10
- Chào ngày mới 20 tháng 11
- Chào ngày mới 20 tháng 12
- Chào ngày mới 20 tháng 2
- Chào ngày mới 20 tháng 3
- Chào ngày mới 20 tháng 4
- Chào ngày mới 20 tháng 5
- Chào ngày mới 20 tháng 6
- Chào ngày mới 20 tháng 7
- Chào ngày mới 20 tháng 8
- Chào ngày mới 20 tháng 9
- Chào ngày mới 21 tháng 1
- Chào ngày mới 21 tháng 10
- Chào ngày mới 21 tháng 11
- Chào ngày mới 21 tháng 12
- Chào ngày mới 21 tháng 2
- Chào ngày mới 21 tháng 3
- Chào ngày mới 21 tháng 4
- Chào ngày mới 21 tháng 5
- Chào ngày mới 21 tháng 6
- Chào ngày mới 21 tháng 7
- Chào ngày mới 21 tháng 8
- Chào ngày mới 21 tháng 9
- Chào ngày mới 22 tháng 1
- Chào ngày mới 22 tháng 10
- Chào ngày mới 22 tháng 11
- Chào ngày mới 22 tháng 12
- Chào ngày mới 22 tháng 2
- Chào ngày mới 22 tháng 3
- Chào ngày mới 22 tháng 4
- Chào ngày mới 22 tháng 5
- Chào ngày mới 22 tháng 6
- Chào ngày mới 22 tháng 7
- Chào ngày mới 22 tháng 8
- Chào ngày mới 22 tháng 9
- Chào ngày mới 23 tháng 1
- Chào ngày mới 23 tháng 10
- Chào ngày mới 23 tháng 10.
- Chào ngày mới 23 tháng 11
- Chào ngày mới 23 tháng 12
- Chào ngày mới 23 tháng 2
- Chào ngày mới 23 tháng 3
- Chào ngày mới 23 tháng 4
- Chào ngày mới 23 tháng 5
- Chào ngày mới 23 tháng 6
- Chào ngày mới 23 tháng 7
- Chào ngày mới 23 tháng 8
- Chào ngày mới 23 tháng 9
- Chào ngày mới 24 tháng 1
- Chào ngày mới 24 tháng 10
- Chào ngày mới 24 tháng 11
- Chào ngày mới 24 tháng 12
- Chào ngày mới 24 tháng 2
- Chào ngày mới 24 tháng 3
- Chào ngày mới 24 tháng 4
- Chào ngày mới 24 tháng 5
- Chào ngày mới 24 tháng 6
- Chào ngày mới 24 tháng 7
- Chào ngày mới 24 tháng 8
- Chào ngày mới 24 tháng 9
- Chào ngày mới 25 tháng 1
- Chào ngày mới 25 tháng 10
- Chào ngày mới 25 tháng 11
- Chào ngày mới 25 tháng 12
- Chào ngày mới 25 tháng 2
- Chào ngày mới 25 tháng 3
- Chào ngày mới 25 tháng 4
- Chào ngày mới 25 tháng 5
- Chào ngày mới 25 tháng 6
- Chào ngày mới 25 tháng 7
- Chào ngày mới 25 tháng 8
- Chào ngày mới 25 tháng 9
- Chào ngày mới 26 tháng 1
- Chào ngày mới 26 tháng 10
- Chào ngày mới 26 tháng 11
- Chào ngày mới 26 tháng 12
- Chào ngày mới 26 tháng 2
- Chào ngày mới 26 tháng 3
- Chào ngày mới 26 tháng 4
- Chào ngày mới 26 tháng 5
- Chào ngày mới 26 tháng 6
- Chào ngày mới 26 tháng 7
- Chào ngày mới 26 tháng 8
- Chào ngày mới 26 tháng 9
- Chào ngày mới 27 tháng 1
- Chào ngày mới 27 tháng 10
- Chào ngày mới 27 tháng 11
- Chào ngày mới 27 tháng 12
- Chào ngày mới 27 tháng 2
- Chào ngày mới 27 tháng 3
- Chào ngày mới 27 tháng 4
- Chào ngày mới 27 tháng 5
- Chào ngày mới 27 tháng 6
- Chào ngày mới 27 tháng 7
- Chào ngày mới 27 tháng 8
- Chào ngày mới 27 tháng 9
- Chào ngày mới 28 tháng 1
- Chào ngày mới 28 tháng 10
- Chào ngày mới 28 tháng 11
- Chào ngày mới 28 tháng 12
- Chào ngày mới 28 tháng 2
- Chào ngày mới 28 tháng 3
- Chào ngày mới 28 tháng 4
- Chào ngày mới 28 tháng 5
- Chào ngày mới 28 tháng 6
- Chào ngày mới 28 tháng 7
- Chào ngày mới 28 tháng 8
- Chào ngày mới 28 tháng 9
- Chào ngày mới 29 tháng 1
- Chào ngày mới 29 tháng 10
- Chào ngày mới 29 tháng 11
- Chào ngày mới 29 tháng 12
- Chào ngày mới 29 tháng 2
- Chào ngày mới 29 tháng 3
- Chào ngày mới 29 tháng 4
- Chào ngày mới 29 tháng 5
- Chào ngày mới 29 tháng 6
- Chào ngày mới 29 tháng 7
- Chào ngày mới 29 tháng 8
- Chào ngày mới 29 tháng 9
- Chào ngày mới 3 tháng 1
- Chào ngày mới 3 tháng 10
- Chào ngày mới 3 tháng 11
- Chào ngày mới 3 tháng 12
- Chào ngày mới 3 tháng 2
- Chào ngày mới 3 tháng 3
- Chào ngày mới 3 tháng 4
- Chào ngày mới 3 tháng 5
- Chào ngày mới 3 tháng 6
- Chào ngày mới 3 tháng 7
- Chào ngày mới 3 tháng 8
- Chào ngày mới 3 tháng 9
- Chào ngày mới 30 tháng 1
- Chào ngày mới 30 tháng 10
- Chào ngày mới 30 tháng 11
- Chào ngày mới 30 tháng 12
- Chào ngày mới 30 tháng 3
- Chào ngày mới 30 tháng 4
- Chào ngày mới 30 tháng 5
- Chào ngày mới 30 tháng 6
- Chào ngày mới 30 tháng 7
- Chào ngày mới 30 tháng 8
- Chào ngày mới 30 tháng 9
- Chào ngày mới 31 tháng 1
- Chào ngày mới 31 tháng 10
- Chào ngày mới 31 tháng 12
- Chào ngày mới 31 tháng 3
- Chào ngày mới 31 tháng 5
- Chào ngày mới 31 tháng 7
- Chào ngày mới 31 tháng 8
- Chào ngày mới 4 tháng 1
- Chào ngày mới 4 tháng 10
- Chào ngày mới 4 tháng 11
- Chào ngày mới 4 tháng 12
- Chào ngày mới 4 tháng 2
- Chào ngày mới 4 tháng 3
- Chào ngày mới 4 tháng 4
- Chào ngày mới 4 tháng 5
- Chào ngày mới 4 tháng 6
- Chào ngày mới 4 tháng 7
- Chào ngày mới 4 tháng 8
- Chào ngày mới 4 tháng 9
- Chào ngày mới 5 tháng 1
- Chào ngày mới 5 tháng 10
- Chào ngày mới 5 tháng 11
- Chào ngày mới 5 tháng 12
- Chào ngày mới 5 tháng 2
- Chào ngày mới 5 tháng 3
- Chào ngày mới 5 tháng 4
- Chào ngày mới 5 tháng 5
- Chào ngày mới 5 tháng 6
- Chào ngày mới 5 tháng 7
- Chào ngày mới 5 tháng 8
- Chào ngày mới 5 tháng 9
- Chào ngày mới 6 tháng 1
- Chào ngày mới 6 tháng 10
- Chào ngày mới 6 tháng 11
- Chào ngày mới 6 tháng 12
- Chào ngày mới 6 tháng 2
- Chào ngày mới 6 tháng 3
- Chào ngày mới 6 tháng 4
- Chào ngày mới 6 tháng 5
- Chào ngày mới 6 tháng 6
- Chào ngày mới 6 tháng 7
- Chào ngày mới 6 tháng 8
- Chào ngày mới 6 tháng 9
- Chào ngày mới 7 tháng 1
- Chào ngày mới 7 tháng 10
- Chào ngày mới 7 tháng 11
- Chào ngày mới 7 tháng 12
- Chào ngày mới 7 tháng 2
- Chào ngày mới 7 tháng 3
- Chào ngày mới 7 tháng 4
- Chào ngày mới 7 tháng 5
- Chào ngày mới 7 tháng 6
- Chào ngày mới 7 tháng 7
- Chào ngày mới 7 tháng 8
- Chào ngày mới 7 tháng 9
- Chào ngày mới 8 tháng 1
- Chào ngày mới 8 tháng 10
- Chào ngày mới 8 tháng 11
- Chào ngày mới 8 tháng 12
- Chào ngày mới 8 tháng 2
- Chào ngày mới 8 tháng 3
- Chào ngày mới 8 tháng 4
- Chào ngày mới 8 tháng 5
- Chào ngày mới 8 tháng 6
- Chào ngày mới 8 tháng 7
- Chào ngày mới 8 tháng 8
- Chào ngày mới 8 tháng 9
- Chào ngày mới 9 tháng 1
- Chào ngày mới 9 tháng 10
- Chào ngày mới 9 tháng 11
- Chào ngày mới 9 tháng 12
- Chào ngày mới 9 tháng 2
- Chào ngày mới 9 tháng 3
- Chào ngày mới 9 tháng 4
- Chào ngày mới 9 tháng 5
- Chào ngày mới 9 tháng 6
- Chào ngày mới 9 tháng 7
- Chào ngày mới 9 tháng 8
- Chào ngày mới 9 tháng 9
- Nhớ kỷ niệm một thời
- Tình yêu cuộc sống

NẮNG MỚI
Hoàng Kim
Mưa ướt đất lành nắng mới lên
Đêm thương sương rụng nhắc ngoài hiên
Núi trùm mây khói trời chất ngất
Ngày tháng thung dung nhớ bạn hiền
Ban mai tỉnh thức chim kêu cửa
Hoa rắc bên song đẫm nước non
Ô hay gió mát hương trời biển
An giấc đêm ngon chí vẫn nồng …



“Vui chợp mắt dưới trời Tam Đảo”

CHUYỆN NGÀY SINH CỦA THỦY
Hoàng Kim
Âm lịch giao hòa dương lịch đây.
Đêm ba mươi Tết ấm men say.
Sao Kim sao Thủy hôm mai mọc
Trăng mẹ hiền soi nước biển đầy
— với Nguyễn Thị Thủy.

Nguyễn Thị Thủy: “Khi xưa, lúc còn nhỏ, mẹ thường kể ngày này là ngày sinh”

#CNM365 Tình yêu cuộc sống
Hoàng Kim chúc vui Thiện Lạc
Ta vui hòa nhịp thời gian
Thung dung nhàn giữa gian nan đời thường

THƠ VIẾT BÊN THÁC IGUAZU
Hoàng Kim
Thương em
Nước vùn vụt dội xuống
Sóng thình thịch cuộn lên
‘Thương tiến tửu’ Lý Bạch (2)
Ta thì thương nhớ em.
‘Tỉnh dạ tư’ thơ tiên
Người hiền trong suối bạc
Chiếu đất ở Thái An (3)
Vàng ròng lầm trong cát.
“Trên giường ánh trăng rọi,
Dưới đất như mờ sương.
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,
Cúi đầu nhớ cố hương.” (2)
“Thấy chăng ai
nước sông Hoàng trời tuôn
Trút băng ra
chẳng quay về được nữa.
Lại chẳng thấy
lầu cao gương trong thương đầu bạc
Sớm tựa tơ xanh, chiều nhuốm tuyết
Đời người thoải mái cứ thung dung
Chớ để chén vàng trơ trước nguyệt” (2)

Ta với chim quấn quýt
Giữa đất trời bình yên
Nhớ quê nhà thác nước
Bản Giốc và Ka Long
Bài học lớn lòng ta
Thương em và Điểm hẹn
Kiệt tác của tâm hồn
500 năm nông nghiệp.
Thác nước Iguazu (1)
Brazil Nam Mỹ
Di sản thiên nhiên đẹp
Thăm thẳm rừng nguyên sinh
Nước vùn vụt dội xuống
Sóng thình thịch cuộn lên
‘Thương tiến tửu’ Lý Bạch
Ta thì thương nhớ em.

CHIẾU ĐẤT Ở THÁI AN
Hoàng Kim
Tỉnh thức lên Thái Sơn
Thung dung ngủ cội tùng
Chiếu đất ở Thái An
Đêm thiêng chào ngày mới
Ai uống rượu Hàm Hanh
Lòng tưởng nhớ Lỗ Tấn
Ta mang rượu Thái Sơn
Ngon xách về chẳng dễ
“Núi cao ta trông
Đường rộng ta đi
Tuy đích chưa đến
Nhưng lòng hướng về”
Lên Thái Sơn hướng Phật
Về ngủ bên cội tùng
Trải một cơn gió bụi
Thoáng chốc ba mươi năm
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bai-ca-nhip-thoi-gian/
NGỌC PHƯƠNG NAM
Hoàng Kim
‘Quên tên cây
làm thuyền
Tận cùng nỗi cô đơn
– độc mộc!
Khoét hết ruột
Chỉ để một lần ngược thác
bất chấp đời
lênh đênh…‘ (4)
hứng mật đời
thành thơ
việc nghìn năm hữu lý
trạng Trình
đến trúc lâm
đạt năm việc lớn hoàng thành
đất trời xanh
Yên Tử (5)…
(1) Iguazu di sản thiên nhiên thế giới tuyệt đẹp giữa Brasil và Argentina tại rừng lớn nhất Nam Mỹ https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-ky-niem-mot-thoi (2) Lý Bạch nhà thơ Trung Quốc (3) Thái An điểm nhấn du lịch văn hóa bậc nhất Trung Quốc (4) thơ Trịnh Tuyên (5) Hoàng Kim họa đối; **) Hoàng Thành với 30 Hoàng Diệu Võ Miếu Việt Nam
EMBRAPA Brazil Bạn tôi ở nơi ấy
Science that transforms your life – Embrapa’s Institutional Video

The World’s Most Beautiful Waterfalls
NHỚ NGƯỜI
Hoàng Kim nhớ Đào Công
Đời trãi năm trăm năm Thương người hiền một thuở Hậu sinh về chốn cũ Thăm vườn thiêng thiên thu. Ngược gió đi không nản Rừng thông tuyết phủ dày Ngọa Long cương đâu nhỉ? Đầy trời hoa tuyết bay ! Lồng lộng vầng trăng rằm Một vườn thiêng cổ tích Người là ngọc cho đời Tháng năm còn nhớ mãi.
Hoàng Kim đã về dâng hương tưởng nhớ Đào Duy Từ ở đất Tùng Châu xưa. Tôi lần tìm theo những trang ghi chép cũ để thấu hiểu sự nhọc nhằn khởi nghiệp của bậc anh hùng và để thấy dấu ấn cùng với những ảnh hưởng lớn lao của Đào Duy Từ đối với mảnh đất này. Tôi may mắn thăm Đình Lạc Giao, Lũy Thầy và các nơi ở Quảng Bình, Thanh Hóa để chứng ngộ công đức của Người và cảm nhận.
Cám ơn gia tộc Đào Duy, phó giáo sư Đào Thế Anh, giáo sư Mai Văn Quyền, giáo sư Lê Văn Tố, phó giáo sư sử học Trương Minh Dục, thầy Dương Duy Đồng, thầy Nguyễn Minh Hiếu, em Nguyễn Thị Trúc Mai, em Phạm Văn Ngọc, một số người đã trực tiếp chứng kiến các khảo sát điền dã nông nghiệp lịch sử của tôi đã gợi ý cho tôi tiếp tục hoàn thiện bài viết này.
Đào Duy Từ (1572–1634) là quân sư danh tiếng của chúa Nguyễn Phúc Nguyên, bậc kỳ tài chính trị quân sự lỗi lạc, danh nhân văn hóa kiệt xuất, khai quốc công thần số một được thờ ở Thái Miếu của nhà Nguyễn. Hàng năm vào ngày 17 tháng 10 âm lịch (nhằm ngày 13 đến 23 tháng 11 dương lịch tùy theo từng năm) là ngày giỗ Đào Duy Từ. Ông bắt đầu thi thố tài năng từ năm 53 tuổi đến năm 62 tuổi thì mất. Đào Duy Từ chỉ trong 9 năm ngắn ngủi (1625-1634) đã kịp làm nên năm kỳ tích phi thường với nhiều hiền tài và di sản còn mãi với non sông. Mộ của cụ Đào Duy Từ nằm khiêm nhường giữa vườn sắn KM94 xanh tốt tại thôn Phụng Du, xã Hoài Hảo, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định . Đầu mộ của cụ là hai trụ đá lớn, đỉnh tạo dáng búp sen. Cuối mộ của cụ có một gốc cây cổ thụ, tán lẫn với rặng dừa. Thông tin tại Nhớ Người. Đào Duy Từ còn mãi với non sông https://hoangkimlong.wordpress.com/category/dao-duy-tu-con-mai-voi-non-song/; bảo tồn và phát triển chuyên mục tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlong và https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-23-thang-11/.
ĐÀO DUY TỪ THỜI THẾ VÀ SỰ NGHIỆP
Đào Duy Từ sinh năm 1572 ở làng Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ Tỉnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Thời ấy, Nguyễn Hoàng, chúa khởi nghiệp nhà Nguyễn, có quê tại huyện Tống Sơn (nay là huyện Hà Trung). Nhà thờ họ Nguyễn hiện ở đình Gia Miêu, xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Ông Nguyễn Hoàng là con thứ hai của ông Nguyễn Kim (tức Hữu vệ Điện tiền Tướng quân An Thanh hầu Nguyễn Hoằng Kim) cháu của ông Nguyễn Hoằng Dụ, chắt của ông Nguyễn Văn Lang, đều là các trọng thần của nhà Lê. Nguyên khi xưa ông Nguyễn Kim khởi nghĩa giúp nhà Lê đánh nhà Mạc đã lấy được đất Thanh Nghệ nhưng khi thừa thắng đem quân ra đánh Sơn Nam thì bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đánh thuốc độc chết, binh quyền giao lại cho con rể Trịnh Kiểm. Người anh của Nguyễn Hoàng là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm kiếm chuyện giết đi vì sợ đức độ và tài năng của hai anh em nhà vợ đoạt mất quyền mình. Nguyễn Hoàng sợ Trịnh Kiểm ám hại nên đã hỏi kế của Nguyễn Bỉnh Khiêm và được Trạng Trình bảo rằng “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”. Ông đã xin vào trấn thủ Thuận Hóa từ năm 1558.
Năm Đào Duy Từ ra đời thì Trịnh Kiểm vừa mới mất (1570) trao quyền lại cho Trịnh Cối để lo việc đánh dẹp. Trịnh Cối say đắm tửu sắc, tướng sĩ nhiều người không phục. Trịnh Tùng, con thứ của Trịnh Kiểm, đã rước vua Lê về đồn Vạn Lại và công khai chống lại anh ruột, Nhân lúc anh em họ Trịnh đánh nhau, Mạc Kính Điển cùng với các danh tướng Nguyễn Quyện, Mạc Ngọc Liễn đem 10 vạn quân vào đánh Thanh Hóa. Trịnh Cối liệu thế không địch nổi đã đầu hàng Mạc. Trình Tùng đưa vua về Đông Sơn, phòng ngự chắc chắn, liều chết cố thủ. Mâc Kính Điển đánh mãi không được, lâu ngày hết lương, phải rút quân về. Trình Tùng oai quyền vượt vua, Anh Tông lo ngại tìm cách giết Trịnh Tùng. Mưu việc không thành, vua sợ chạy vào Nghệ An, bị Trịnh Tùng lập vua mới Thế Tông Lê Duy Đàm bảy tuổi lên làm vua và cho người truy sát giết chết vua cũ. Suốt 10 năm 1573-1583 Trịnh Tùng cố thủ vững chắc Thanh Hóa. Sau khi Mạc Kính Điển mất (1579) thế lực hai bên thay đổi. Năm 1591, Trịnh Tùng cử đại binh đánh ra Thăng Long, bắt được Nguyễn Quyện, phá hào lũy và rút về Thanh Hóa. Vua Mạc Mậu Hợp say đắm vợ người, bạc đãi tướng sĩ, làm nát cơ nghiệp nhà Mạc. Tướng nhà Mạc là Văn Khuê về hàng nhà Lê. Trịnh Tùng đem đại binh trở lại Thăng Long, đánh tan quân Mạc, giết Mạc Mậu Hợp. Nhà Mạc mất ngôi. Con cháu nhà Mạc giữ đất Cao Bằng được ba đời nữa. Vua Lê chỉ còn trên danh nghĩa được cấp bổng lộc thượng tiến, thu thuế 1000 xã và 5000 lính túc vệ và chỉ thiết triều tiếp sứ. Mọi việc lớn nhỏ đều do chúa Trịnh điều hành. Họ Trịnh tôn Lê vì sợ nhà Minh sinh sự lôi thôi và sợ những kẻ chống đối lấy cớ phù Lê, hơn nữa họ Nguyễn có thế lực mạnh và họ Mạc còn đang giữ đất Cao Bằng.
Năm 1572, nhân lúc anh em Trịnh Cối, Trịnh Tùng đánh nhau, nhà Mạc đem quân đánh Thanh Hóa và cho một cánh thủy quân do tướng Lập Bạo chỉ huy đánh Thuận Hóa. Nguyễn Hoàng đã cho gái đẹp Ngô thị giả cách đưa vàng bạc đến cầu hòa, dụ Lập Bạo ra ái ân trên bãi biển vắng. Lập Bạo không đề phòng nên bị quân Nguyễn trong cát nổi lên giết chết. Quân Mạc bị đánh tan. Nguyễn Hoàng từ năm 1592 đến năm 1600, đã kéo quân ra Bắc giúp Trịnh diệt Mạc và lập được nhiều công to nhưng Trịnh Tùng luôn để ý đề phòng và Nguyễn Hoàng đã không thể có cớ gì để trở lại đất cũ. Năm 1600 nhân dịp đi đánh giặc, Nguyễn Hoàng đã theo đường biển về lại Thuận Hóa. Sợ họ Trịnh nghi ngờ, ông đã gả con gái Ngọc Tú cho Trịnh Tráng là con trai thứ của Trịnh Tùng. Năm 1613, Nguyễn Hoàng sắp mất, gọi người con thứ 6 là Nguyễn Phúc Nguyên vào dặn rằng: “Đất Thuận, Quảng này, bên bắc thì có núi Hoành Sơn, sông Linh Giang, bên nam có Hải Vân và núi Bì Sơn, thật là một nơi trời để cho người anh hùng dụng võ. Vậy ta phải thương yêu nhân dân, luyện tập quân sĩ để mà gây dựng cơ nghiệp về muôn đời”/ Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên nối nghiệp cha giữ đất phương Nam, theo đúng lời di huấn của cha “thương yêu nhân dân, luyện tập quân sĩ”, bên ngoài kính cẩn nhận chức do vua Lê phong cho, giữ hòa hiếu với anh rể Trịnh Tráng, nhưng bên trong đã ngầm súc tích nội lực, tỉnh táo đối phó với mưu mô giảo hoạt tìm mọi cách thôn tính, khống chế của họ Trịnh.
Đào Duy Từ với tầm nhìn xa rộng và nhãn quan chính trị sâu sắc đã nhận ra tình cảnh trớ trêu trên. Hình thái Lê Trịnh, Mạc, Nguyễn thời ấy thật giống như “Tam Quốc”: Họ Trịnh noi cách Tào Tháo mượn uy thiên tử để sai khiến chư hầu. Họ Mạc tuy sức cùng lực kiệt nhưng được nhà Minh hậu thuẫn Nhà Minh luôn rình đợi thời cơ để can thiệp vào nước ta như cách “giúp Trần, cầm Hồ” của triều trước. Họ Nguyễn giữ đất phương Nam chân chúa lô rõ, hiền tài theo về. Đào Duy Từ như Ngọa Long ở Long Trung ẩn nhẫn đợi thời. Ông chỉ quyết định vào Nam khi đã định rõ minh quân, danh tướng, chiến lược, sách lược các đối sách trước mắt và lâu dài của bàn cờ lớn.
Lịch sử ghi nhận rằng Đào Duy Từ có bố là Đào Tá Hán, trước làm lính cấm vệ trong triều Lê Trịnh, bị phạm húy khi làm thơ đã dám nói tên của chúa Trịnh Kiểm nên bị phạt đánh đòn và đuổi về nhà làm dân thường. Bố của ông sau trở thành kép hát nổi tiếng khắp vùng và kết duyên với bà Vũ Thị Kim Chi ở làng Ngọc Lâm. Đào Duy Từ được sinh ra ở làng Hoa Trai, khi ông lên 5 tuổi thì bố bị bệnh mất, người mẹ ở góa, tần tảo nuôi con ăn học. Theo luật lệ của triều đình bấy giờ thì con cái những người làm nghề ca xướng đều không được quyền thi cử. Bà Kim Chi tiếc cho tài học của con nên đã nhờ viên xã trưởng đổi họ Đào của con theo cha thành họ Vũ theo mẹ. Năm 1593 lúc Đào Duy Từ 21 tuổi, vào đời vua Lê Thế Tông (l567-1584) đã đỗ á nguyên tại kỳ thi Hương. Ông dự thi Hội thì bị viên xã trưởng mật báo và tố giác vì mẹ ông đã không chịu gian díu với hắn. Ông bị cấm thi vì trọng tội “gian lận trong thi cử”, bị giam giữ xét hỏi, trong khi mẹ ông ở nhà đã phẫn uất tự tử. Đào Duy Từ lấy vợ họ Cao ở Tống Sơn nên có quen biết chúa Nguyễn Hoàng từ trước. Đào Duy Từ đã rời quê hương vào Đàng Trong lập nghiệp khoảng năm 1622 đến 1625 khi ông đã 50- 53 tuổi. Đào Duy Từ vào Nam sau ba mươi năm trầm tĩnh đợi thời. Ứng xử của ông giống như Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nhẫn nại đợi thời cơ sau hai mươi năm mới ra lựa chọn triều Mạc và ra dự thi lập tức đoạt Trạng nguyên. Đào Duy Từ cũng chọn hướng vào Nam rất sâu sắc, có tính toán và đúng thời cơ. Đây không phải là một sự uất ức tầm thường mà là sự nhẫn nại của bậc trí giả, thời thế nhiễu loạn, vàng lầm trong cát mà thôi. Đào Duy Từ được Chúa Nguyễn trọng dụng, đã hết lòng giúp chúa Nguyễn đạt được năm kỳ tích lạ lùng và nổi bật ngời sáng trong lịch sử Việt Nam:
1) Giữ vững cơ nghiệp của chúa Nguyễn ở Đàng Trong chống cự thành công với họ Trịnh ở phía Bắc. Ông đã cùng các danh tướng Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến bày mưu định kế, luyện tập quân sĩ, xây đồn đắp lũy, tổ chức tuyến phòng ngự chiều sâu từ phía nam sông Linh Giang đến Lũy Trường Dục (ở huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình) và Lũy Thầy (từ cửa sông Nhật Lệ đến núi Đâu Mâu, Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình). Suốt thời Trịnh Nguyễn phân tranh kéo dài suốt 45 năm (1627-1672) đánh nhau cả thảy bảy lần, họ Trịnh thường mạnh hơn nhưng quân Nam tướng sĩ hết lòng, đồn lũy chắc chắn nên đã chống cự rất hiệu quả với quân Trịnh.
2) Mở đất phương Nam làm cho Nam Việt thời ấy trở nên phồn thịnh, nước lớn lên, người nhiều ra. Đào Duy Từ có duyên kỳ ngộ với tiên chúa Nguyễn Hoàng và chân chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Ông hết lòng phò vua giúp nước “cúc cung tận tụy đến chết mới thôi” như Ngọa Long Gia Cát Lượng Khổng Minh. Đào Duy Từ mang tâm nguyện và chí hướng lớn lao như vua Trần Thái Tông “Nếu chỉ để lời nói suông cho đời sau, sao bằng đem thân mình đảm nhận trọng trách cho thiên hạ trước đã”. Di sản của ông không chỉ là trước tác mà còn là triều đại.
3) Đào Duy Từ là bậc kỳ tài muôn thuở với những di sản còn mãi với non sông. Ông là nhà thực tiễn sáng suốt có tầm nhìn sâu rộng lạ thường. Ông đã đặt nền móng vững chắc cho triều Nguyễn, sửa sang chính trị, quan chế, thi cử, võ bị, thuế khóa, nội trị, ngoại giao gắn với hệ thống chính trị tiến bộ hợp lòng dân. Với tài năng tổ chức kiệt xuất của Đào Duy Từ, chỉ trong thời gian ngắn ngủi chín năm (1625-1634), ông đã kịp xây dựng được một định chế chính quyền rất được lòng dân. Triều Nguyễn sau khi Đào Duy Từ mất (1634) còn truyền được 8 đời (131 năm), cho đến năm 1735, khi Vũ Vương mất, thế tử chết, Trương Phúc Loan chuyên quyền, lòng người li tán, nhà Tây Sơn nổi lên chiếm đất Quy Nhơn, họ Trịnh lấy đất Phú Xuân, thì cơ nghiệp chúa Nguyễn mới bị xiêu đổ.
4) Tác phẩm “Hổ trướng khu cơ”; Nhã nhạc cung đình Huế, vũ khúc tuồng Sơn Hậu, thơ Ngọa Long cương vãn, Tư Dung vãn đều là những kiệt tác và di sản văn hóa vô giá cùng với giai thoại, ca dao, thơ văn truyền đời trong tâm thức dân tộc. Binh thư “Hổ trướng khu cơ” sâu sắc, thực tiễn, mưu lược yếu đánh mạnh, ít địch nhiều, là một trong hai bộ sách quân sự cổ quý nhất của Việt Nam (bộ kia là Binh thư yếu lược của Trần Hưng Đạo) ; Nhã nhạc cung đình Huế, vũ khúc, tuồng cổ Sơn Hậu gắn với di sản văn hóa Huế thành di sản văn hóa thế giới; Những giai thoại, ca dao truyền đời trong tâm thức dân tộc của lòng dân mến người có nhân. Ngay trong trước tác của ông cũng rất trọng gắn lý luận với thực tiễn. Binh thư “Hổ trướng khu cơ” gắn với những danh tướng cầm quân lỗi lạc một thời như Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến. Vũ khúc cung đình, tuồng cổ Sơn Hậu, thơ Ngọa Long cương vãn, Tư Dung vãn đều thể hiện tầm cao văn hóa.
5) Đào Duy Từ là người Thầy đức độ, tài năng, bậc kỳ tài muôn thuở của dân tộc Việt, người khai sinh một dòng họ lớn với nhiều hiền tài và di sản. Đào Duy Từ lúc đương thời đã gả con gái mình cho Nguyễn Hữu Tiến sau này là một đại tướng của nhà Nguyễn. Đào Duy Từ đã đem tài trí của mình cống hiến cho xã hội về nhiều lĩnh vực. Ông là một nhà quân sự tài ba, kiến trúc sư xây dựng lũy Trường Dục ở Phong Lộc và lũy Nhật Lệ ở Đồng Hới, thuộc tỉnh Quảng Bình, để chống lại các cuộc tấn công của quân Trịnh. Lũy Nhật Lệ còn gọi là lũy Thầy (vì chúa Nguyễn và nhân dân Đàng Trong tôn kính gọi Đào Duy Từ là Thầy). Lũy này được hoàn thành năm 1631, có chiều dài hơn 3000 trượng (khoảng hơn 12 km), cao 1 trượng 5 thước (khoảng 6 m), mặt lũy rất rộng (voi có thể đi lại được) cứ cách một quãng lại xây pháo đài để đặt súng thần công. Chiến lũy này có vị trí gần khe, dựa vào thế núi, chạy dài suốt cửa biển Nhật Lệ, trông giống hình cầu vồng, có tác dụng chặn được bước tiến của quân Trịnh trong hàng trăm cuộc giao tranh. Đương thời có các câu ca dao: Khôn ngoan qua cửa sông La/ Dù ai có cánh chớ qua lũy Thầy “Hữu trí dũng hề, khả quá Thanh Hà / Túng hữu dực hề, Trường lũy bất khả khoa”. Mạnh thì qua được Thanh Hà/ Dẫu rằng có cánh khôn qua lũy Thầy. Đường vô xứ Huế quanh quanh / Non xanh nước như tranh họa đồ/ Yêu anh em cũng muốn vô / Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang. Phá Tam Giang bây giờ đã cạn/ Truông nhà Hồ, Nội tán cấm nghiêm. Chùm thơ và giai thoại trên và dưới đây đã tồn tại lâu dài trong bia miệng người đời. Lời thơ đẹp, hợp logic tình tự dân tộc, mọi việc đều khớp đúng với sự kiện lịch

NHỚ NGƯỜI
Đêm muộn bâng khuâng về với Bác
Rưng rưng sen trắng nắng mai vàng
Trời xanh bảng lảng Người khuất nẻo
Hồ vơi đồng vắng tím niềm thương

NHỚ NGƯỜI
Hoàng Kim
Ngược gió đi không nản
Rừng thông tuyết phủ dày
Ngọa Long cương đâu nhỉ
Đầy trời hoa tuyết bay.

NGÀY MỚI NGỌC PHƯƠNG NAM
Hoàng Kim
Thương đồng hồ sinh học
Mọi ngày như một ngày
Nhắc thức dậy với con
Thung dung trên đường sáng
Nhớ ngôi sao thăm thẳm
Người xưa thanh thận cần
Ngày xuân đọc Trạng Trình
Đêm lạnh nhớ Đào Công
Đêm thiêng không nỡ ngủ
Bút hoa ý chảy nhanh
Lục Ngôn Mã Tiền Khóa
Xuất thần cùng Khổng Minh
Chúc đời nhàn thêm tuổi mới
Mừng ngày sống trọn tin yêu
Năm tháng đủ đầy tình nghĩa
Mới thương êm ấm lâu dài
Vui yêu xuân thêm tuổi thọ
Khoẻ người nhàn thích an nhiên.




BẠCH MAI SẮN TÂY NGUYÊN
Hoàng Kim
Bạch Mai sắn Tây Nguyên https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bach-mai-san-tay-nguyen/. Hoàng Kim chúc mừng BM Nguyễn sắn Tây Nguyên bảo tồn và phát triển bền vững. Một điển hình nghiên cứu (key study)

World’s Most Beautiful Waterfalls
EMBRAPA Brazil bạn tôi ở nơi ấy
Science that transforms your life ,Embrapa’s Institutional Video
Thơ viết ở thác Iguazu di sản thế giới thiên nhiên tuyệt đẹp giữa Brasil và Argentina.
MINH TRIẾT SỐNG PHÚC HẬU
Hoàng Kim
Bản chất cuộc sống là hạnh phúc và đau khổ, vui vẻ và phiền muộn, sự thiếu hoàn thiện và vô thường. Minh triết của đời người hạnh phúc là biết sống thung dung, phúc hậu, thanh thản, an nhiên tự tại, nhận ra kho báu vô giá của chính mình, không lo âu, không phiền muộn, sống với tinh thần dịu hiền và trái tim nhẹ nhõm.(xem tiếp Minh triết sống phúc hậu)

LỜI THẦY DẶN THUNG DUNG
Việc chính đời người chỉ ít thôi.
Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi.
Phúc hậu suốt đời làm việc thiện.
Di sản muôn năm mãi sáng ngời
Biết đủ sống thảnh thơi
Con em và cháu vững tay rồi
Đời an nhiên lòng thanh thản
Minh triết mỗi ngày dạy học vui.
Thung dung đời thoải mái
ban mai của riêng mình
giọt thời gian điểm ngọc
thanh nhàn khát khao xanh.
Hoàng Kim #cnm365 #Thungdung
TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM
#htn, #hoangkimlong, #banmai #vietnamxahoihoc, #htn365,#ana, #dayvahoc, #vietnamhoc, #cnm365, #cltvn, #vietcassava, #annhiên
CNM365 Tình yêu cuộc sống; Từ Hiếu với người hiền; Xuân Mới Sức Sống Mới (ảnh Lâm Cúc, thơ Hoàng Kim); Trường tôi nôi yêu thương; Về Trường để nhớ thương; Ban mai chào ngày mới; Thiên nhiên và bạn quý; Thung dung vườn cổ tích; Hoa Mai trong Tết Việt; Borlaug và Hemingway; Thế giới trong mắt ai; Chính Ngọ đoán Kinh Dịch; Thời biến nhớ người xưa; Trò chuyện với Yến Thanh; Núi Chứa Chan Xuân Lộc; Vườn Quốc Gia Cát Tiên; Một gia đình yêu thương; Nhớ vầng trăng ngọn lửa ; Hoàng Thành Trúc Lâm Sáng; Hoàng Ngọc Dộ Khát Vọng; Biển Hồ Chùa Bửu Minh; Đêm lạnh nhớ Đào Công; Đào Duy Từ còn mãi; Nông lịch tiết Đại Hàn; Dạo chơi non nước Việt; Đảo Hòn Khô Quy Nhơn; Đào Duy Từ còn mãi; Nắng ban mai ngày mới; Cuộc đời thành trang văn; Đêm Vu Lan; Hồ Long Vân Nhớ Người; Hoàng Trung Trực đời lính; Trần Công Khanh ngày mới; Biển Hồ Chùa Bửu Minh; Dạo chơi Chùa Thần Đinh; Làng Minh Lệ Quê Tôi; Núi Thần Đinh Quảng Bình; Thăm quê ngày chuyển năm; Hà Nội mãi trong tim; Chùa Một Cột Hà Nội; Việt Bắc Nhớ Bác Hồ; Lên Trúc Lâm Yên Tử; An vui cụ Trạng Trình; Hải Như thơ về Người; Vườn Quốc gia Việt Nam; Du lịch sinh thái Việt; Tìm về đức Nhân Tông; Trúc Lâm Trần Nhân Tông; Chớm Đông trên đồng rộng; Thơ dâng theo dấu Tagore; Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung; Hoàng Long cây lương thực; Bạch Mai sắn Tây Nguyên; Thơ viết bên thác Iguazu; Nhớ kỷ niệm một thời; Giấc mơ thiêng cùng Goethe; Giấc mơ lành yêu thương, Nguyễn Du trăng huyền thoại; Hồ Quang Cua gạo ST; Thầy bạn là lộc xuân; Thầy bạn trong đời tôi; Tô Đông Pha Tây Hồ; Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay; Lên Việt Bắc điểm hẹn; Ban mai chào ngày mới; Việt Nam con đường xanh; Nông lịch tiết Lập Đông; Lê Hùng Lân Hoa Tiên; Đời đừng thiếu mùa Đông; Sớm Đông; Nhớ cây thông mùa Đông; Đêm lạnh nhớ Đào Công; Thành tâm với chính mình; Gia Cát Mã Tiền Khóa; Việt Nam tâm thế mới; Việt Nam con đường xanh; Ban mai chợt tỉnh thức; Ngày mới Ngọc cho đời; Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung; Hoàng Long cây lương thực; Cây Lương Thực Food Crops; Vào Tràng An Bái Đính; Thăm Hoa Lư Cúc Phương; Thăm thẳm trời sông Thương; Nguyên Ngọc về Tây Nguyên; Nguồn Son nối Phong Nha; Ban Mai Ngọc Biển Vàng, Đi dưới trời minh triết; Bình sinh Hồ Chí Minh; Điểm hẹn chốn đồng tâm; Việt Nam tổ quốc tôi; Du lịch sinh thái Việt; Lớp 10A TT ĐHNN2 Hà Bắc; Lên Trúc Lâm Yên Tử; Đêm Yên Tử; Văn chương ngọc cho đời; Ai bảo chăn trâu là khổ? Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung; Hoàng Long cây lương thực; Ban mai chào ngày mới; Tỉnh thức cùng tháng năm; Sự chậm rãi minh triết; Lên Trúc Lâm Yên Tử; Trúc Lâm Trần Nhân Tông; Tìm về đức Nhân Tông; Chọn giống sắn Việt Nam; Câu chuyện ảnh tháng 12; Có một ngày như thế; Mười thói quen mỗi ngày; Chuyện thầy Lê Văn Tố; Giấc mơ lành yêu thương; 500 năm nông nghiệp Brazil; Vui bước tới thảnh thơi; Minh triết sống phúc hậu; Sự chậm rãi minh triết; Trúc Lâm Trần Nhân Tông; Tìm về đức Nhân Tông; Đi bộ trong đêm thiêng; Tỉnh thức; Thầy Quyền thâm canh lúa; Thầy Luật lúa OMCS OM; Hoàng Ngọc Dộ khát vọng; A Na tìm được Ngọc; TTC Group Sen vào hè; ĐHNN2 Hà Bắc nay và xưa; Lớp 10A TT ĐHNN2 Hà Bắc; Lên Trúc Lâm Yên Tử; Đêm Yên Tử; Văn chương ngọc cho đời; Ai bảo chăn trâu là khổ? Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung; Hoàng Long cây lương thực; Ban mai chào ngày mới; Tỉnh thức cùng tháng năm; Sự chậm rãi minh triết; Trúc Lâm Trần Nhân Tông; Tìm về đức Nhân Tông; Con nguyện làm Hoa Lúa; Chọn giống sắn Việt Nam; Hoàng Kim thơ cho con; Nếp nhà đẹp văn hóa; Thung dung chào ngày mới; Em ơi can đảm lên;Lời Thầy luôn theo em; Dạy và học ngày mới; Dạy và học để làm; Ngày mới trên quê hương; Nếp nhà đẹp văn hóa;Champasak ngã ba biên giới; Vạn Xuân nơi An Hải; Cao Biền trong sử Việt; Lúa Việt tới Châu Mỹ Hoàng Kim thơ cho con; Nếp nhà đẹp văn hóa; Vietnamese cassava today; Ngày mới lời yêu thương; Quảng Bình đất Mẹ ơn Người; Đồng xuân lưu dấu hiền; Quảng Tây nay và xưa; Người vịn trời chấp sói; Nguyễn Hàm Ninh Thầy Vua; Hoàng Thành Di sản thế giới tại Việt Nam, Trăng rằm vui chơi giăng; Giống khoai lang Việt Nam; Phú Yên nôi lúa sắn; Lời biết ơn chân thành; Bảo tồn và phát triển sắn; Nhà Trần trong sử Việt; Lời dặn của Thánh Trần; Lời thề trên sông Hóa; Ngày mới lời yêu thương; Ngày xuân đọc Trạng Trình; Ngày mới bình minh an; Lúa siêu xanh Việt Nam; Xuân ấm áp tình thân; Xanh một trời hi vọng; Vận khí và vận mệnh; Giấc mơ lành yêu thương; 24 tiết khí lịch nhà nông; Vui đi dưới mặt trời; Thầy bạn là lộc xuân; Sớm xuân đi tảo mộ; Ban mai trên sông Son; Quảng Bình đất Mẹ ơn Người; Hoàng Thành đến Trúc Lâm; Nguyễn Du trăng huyền thoại; Hoa Lúa; Nguyễn Du trăng huyền thoại; Lev Tonstoy năm kiệt tác, Học không bao giờ muộn; Xanh một trời hi vọng; Xuân ấm áp tình thân; Biển Hồ Chùa Bửu Minh; Giấc mơ lành yêu thương; 24 tiết khí nông lịch; Vui đi dưới mặt trời; Thầy bạn là lộc xuân; Hoàng Thành đến Trúc Lâm; Vận khí và vận mệnh; Xanh một trời hi vọng; Xuân ấm áp tình thân; Biển Hồ Chùa Bửu Minh; Giấc mơ lành yêu thương; #cltvn định hướng và giải pháp; Trầm tích ngọc cho đời; Vườn Quốc gia Việt Nam; Chị em với mái nhà xưa; Nhà Trần trong sử Việt; Đến với Tây Nguyên mới; Xuân ấm áp tình thân; Tảo mai nhớ đức Nhân Tông; Nhớ bạn hiền xóm núi; Hình như; Nhớ Viên Minh Hoa Lúa; Minh triết Hồ Chí Minh; Làng Minh Lệ quê tôi; Thượng Đức thương nhìn lại; Trường tôi nôi yêu thương; Lev Tonstoy năm kiệt tác; Viện Lúa Sao Thần Nông; Về miền Tây yêu thương; Thầy Luật lúa OMCS OM; Trầm tích ngọc cho đời; Vườn Quốc gia Việt Nam; Chị em với mái nhà xưa; Nhà Trần trong sử Việt; Xuân ấm áp tình thân; Tảo mai nhớ đức Nhân Tông; Nhớ bạn hiền xóm núi; Trung Quốc một suy ngẫm; Giống lúa siêu xanh Việt Nam; Giống lúa siêu xanh GSR90; Ta về với Linh Giang; Nếp nhà đẹp văn hóa; Nguyễn Du trăng huyền thoại, Giống lúa siêu xanh GSR65; Chung sức trên đường xuân; Thầy Ngoạn Hồ Núi Cốc; Gạo Việt và thương hiệu; Nguyễn Du trăng huyền thoại; Ta về với Linh Giang; Nếp nhà đẹp văn hóa; Câu chuyện ảnh tháng Một; Giấc mơ lành yêu thương; Linh Giang Đình Minh Lệ; Nguồn Son nối Phong Nha; Làng Minh Lệ quê tôi; Sông Thương. Giống lúa siêu xanh Việt Nam; Thế giới trong mắt ai; Biển Hồ Chùa Bửu Minh; Châu Mỹ chuyện không quên; Chuyện đời không thể quên; Sơn Tùng chuyện Bác Hồ; Hoa và Ong Hoa Người; Lúa siêu xanh Hòa Bình; Bài giảng Viên Long Bình; Nông lịch tiết Đại Hàn; 24 tiết khí nông lịch; Châu Văn Tiếp Phú Yên; Châu Mỹ chuyện không quên; Hoàng Thành đến Trúc Lâm; Tỉnh lặng với chính mình; Giác ngộ là tỉnh thức; Xuân sớm Ngọc Phương Nam; Việt Nam con đường xanh; Nếp nhà đẹp văn hóa; Giấc mơ lành yêu thương; Sớm xuân ngắm mai nở; Giống lúa siêu xanh Việt Nam; Bài giảng Viên Long Bình; Chiếu đất ở Thái An; Lev Tonstoy năm kiệt tác; Phục sinh giữa tối sáng; Martin Fregene xa mà gần; Cây táo bài ca thời gian; Học đi mà nhớ mãi; Tỉnh thức cùng tháng năm; Chọn giống sắn kháng CMD; Đại tuyết trên Hoàng Hà; Kim Dung trong ngày mới; Câu chuyện ảnh tháng Một; Ngày xuân đọc Trạng Trình; Về Trường để nhớ thương; Một vùng trời nhân văn; Nhớ thầy Phan Hoàng Đồng; Chiếu đất ở Thái An; Phục sinh giữa tối sáng; Nông lịch tiết Đại Hàn; Châu Mỹ chuyện không quên; Trời mưa qua Cồn Dưa; Từ Hiếu với người hiền; Gõ ban mai vào phím; Thơ xuân ngày giáp Tết; Kim Dung trong ngày mới; Đại tuyết trên Hoàng Hà; Đặng Thái Sơn đọc và ngẫm; Một vùng trời nhân văn; Trường tôi nôi yêu thương; Lời khuyên thói quen tốt; Về phố thương cháo nấm; #cnm365 #cltvn An nhiên; Thơ xuân ngày giáp Tết; Thầy Quyền thâm canh lúa; Thầy Vũ trong lòng tôi; Thầy Luật lúa OMCS OM; Đến Neva nhớ Pie Đại Đế; May mắn bánh và hoa; IAS đường tới trăm năm; Người lính cây sắn tuổi thơ; An lành xuân chạm nhớ; Đất trời mùa đoàn viên; Lời khuyên thói quen tốt; Bài đồng dao huyền thoại; Truyện Pie Đại đế; Cuối dòng sông là biển; Thơ xuân ngày giáp Tết; Về Trường để nhớ thương; Trường tôi nôi yêu thương; Sông Kỳ Lộ Phú Yên; Sớm Xuân; Hình như; Lev Tonstoy năm kiệt tác; Thơ thiền Thích Nhất Hạnh; Từ Hiếu với người hiền; Nhớ thầy Nguyễn Văn Hiệu; Một vùng trời nhân văn; Ngày xuân đọc Trạng Trình; Hoàng Thành đến Trúc Lâm; Walter Disney người bạn lớn; Trà Tì bánh và hoa; Nguyễn Du Hồ Xuân Hương; Mừng Văn nghệ Quảng Minh; Một vùng trời nhân văn; Minh triết của đức Phật; Môhamet và đạo Hồi; Vua Solomon sách khôn ngoan; Minh triết sống phúc hậu, Lời Thầy dặn thung dung. Nắng mới; Chuyện ngày sinh của Thủy; #An nhiên; May mắn bánh và hoa; Minh triết của đức Phật; Trường tôi nôi yêu thương; Thơ viết bên thác Iguazu; Ngọc phương Nam; Ngọc lục bảo Paulo Coelho; Kiệt tác của tâm hồn; 500 năm nông nghiệp Brazil; Biển Hồ Chùa Bửu Minh; Huyền Trang tháp Đại Nhạn.

Bài viết mới trên CNM365 Tình yêu cuộc sống
DẠY VÀ HỌC https://hoangkimvn.wordpress.com
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày
Video yêu thích
Thái Tuế tâm che chở, https://youtu.be/lzSaEmOCLxc; Vận La Hầu Kế Đô, Hạn Thiên Tinh rất nặng, Cẩn trọng và chăm lo Nhân sinh do tiền định, Bách hạnh hiếu vi tiên, Đường xuân đời quên tuổi, Việc chính thanh thận cần https://youtu.be/dXApBvgUNBQSecret Garden – Poéme

Chopin – Spring Waltz
Secret Garden – Bí mật vườn thiêng
Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter
Chia sẻ:
Đang tải…
#cnm365 #cltvn 10 tháng 210.02.2025Trong “#cnm365 #cltvn 10 tháng 2”
Chào ngày mới 30 tháng 130.01.2024Trong “Chào ngày mới 30 tháng 1”
Chào ngày mới 9 tháng 209.02.2025Trong “#cnm365” This entry was posted in #cnm365 #cltvn 31 tháng 1 and tagged #cnm365 #cltvn 31 tháng 1 by HoangKim, NgocphuongNam. Bookmark the permalink. Sửa
Bình luận về bài viết này
Tạo một blog miễn phí với WordPress.com.
Nâng cấp gói của bạn để xoá banner và mở khoá thêm nhiều

#cnm365 #cltvn 19 tháng 1
TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM
Ngày 19 tháng 1 năm 2026 Việt Nam Đại Hội 14 họp phiên trù bị. Giáo sư Viện sỹ Đào Thế Tuấn mất ngày 19 tháng 1 năm 2011 tại Hà Nội. Giáo sư Viện sĩ Đào Thế Tuấn là chuyên gia khoa học nông nghiệp hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, là người Thầy của đông đảo cán bộ lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu, giảng dạy và học sinh, sinh viên nông học, kinh tế nông nghiệp, phát triển nông thôn Việt Nam, người bạn thân thiết của nhà nông. Ngày 19 tháng 1 năm 1974, Hải quân Trung Quốc giành chiến thắng trong Hải chiến Hoàng Sa trước Hải quân Việt Nam Cộng hòa, và bắt đầu sự chiếm đóng hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa. Ngày 19 tháng 1 năm 1990, ngày mất Osho, thiền sư và bậc thầy tâm linh nổi tiếng người Ấn Độ (sinh năm 1931). Ngày 19 tháng 1 năm 1929, ngày mất Lương Khải Siêu, (1873 – 1929), nhà tư tưởng, giáo sư, chính khách, chủ báo và là nhà hoạt động chính trị lỗi lạc Trung Quốc thời cận đại;

HOÀNG TỐ NGUYÊN TIẾNG TRUNG
黄素源 (越南) Hoàng Tố Nguyên Việt Nam
Dạy và học tiếng Trung trực tuyến
#htn Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung https://hoangkimvn.wordpress.com/category/hoang-to-nguyen-tieng-trung/ và https://hoangkimlong.wordpress.com/tag/hoang-to-nguyen-tieng-trung. Tôn vinh giá trị Việt Bài học mới mỗi ngày

Điểm Nóng Thế Giới 19/01: 24H Kinh Hoàng, 1200 lính Ukraine xóa sổ – Nga chính thức ra đòn kết liễu; Vấn đề hôm nay 19/1: Vừa họp xong, châu Âu mở màn “phát súng” đầu tiên đáp trả Mỹ ở Greenland –QUỐC TẾ NÓNG 19/1: Quân đội Đức cấp tốc “cuốn gói” khỏi Greenland, “bỏ mặc” Đan Mạch trước sức ép Mỹ;Thế Giới 360: Đức – Pháp “cãi nhau” nảy lửa vì Ukraine, nội bộ châu Âu sắp tan rã? Tin tức thời sự quốc tế mới nhất ngày:18/1/2026|Tin Nóng Thế Giới 24h Qua |Podcast Việt Nam bản tin; Toàn cảnh quốc tế 18/1:Tên lửa “quái vật” từ Iran ồ ạt cập bến Nga; Ông Putin khiến cả NATO chấn động; Điểm nóng quốc tế 18/1: Đan Mạch ra đòn choáng váng với Ukraine, quyết kháng Mỹ đến cùng
VIỆT NAM TIN NỔI BẬT Ngày 19 tháng 1 năm 2026 Việt Nam Đại Hội 14 họp phiên trù bị. Hà Tiên làm được điều này giữa biển thế giới phải ngước nhìn Việt Nam Khởi Công Nhà Máy Chip Thủ tướng: Tiếp tục tinh gọn bộ máy Trung ương và địa phương; Quy mô GDP tăng 5 bậc, Việt Nam vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao; Những chính sách giáo dục mới chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2026;Tổng Bí thư: Phát huy trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới.

Việt Bắc Nhớ Bác Hồ (bài 1)
CHỢT GẶP MAI ĐẦU SUỐI
“Nghìn dặm tìm anh chẳng gặp anh/ Đường về vó ngựa dẫm mây xanh/ Qua đèo chợt gặp mai đầu suối/ Đóa đóa vàng tươi xuân thắm cành”. Tôi biết bài thơ “Qua đèo chợt gặp mai đầu suối” của Bác Hồ đăng trên báo khoảng năm 1970 do một chuyện ngẫu nhiên tình cờ nên nhớ mãi. Bài thơ kỳ lạ vì ẩn chứa nhiều triết lý sâu sắc không dễ thấy, vì nó là thơ của Bác Hồ mà ít thấy sách báo nào nhắc đến cho đến xuân 2013 đã trãi hơn sáu mươi ba năm.
Thuở ấy, tôi mới mười bảy tuổi, đã cùng người anh trai ra thăm đèo Ngang. Chúng tôi vừa đi xe đạp vừa đi bộ từ chân núi lên đến đỉnh đèo. Gần cột mốc địa giới hai tỉnh trên đỉnh đường xuyên sơn, cạnh khe suối ven đỉnh dốc sườn đèo có cây mai rừng rất đẹp. Chúng tôi đang thưởng ngoạn thì chợt gặp xe của bộ trưởng Xuân Thủy và xe của ông Nguyễn Tư Thoan bí thư tỉnh ủy Quảng Bình vừa tới. Họ đã xuống xe ngắm nhìn trời, biển, hoa, núi và bộ trưởng Xuân Thuỷ bình bài thơ trên.
Bộ trưởng Xuân Thủy là nhà ngoại giao có kiến thức rộng, bạn thơ của Hồ Chí Minh, giỏi dịch thơ chữ Hán. Ông cũng là người đã dịch bài thơ “Nguyên tiêu” nổi tiếng, nên khi tôi tình cờ được nghe lời bình phẩm trực tiếp của ông về bài thơ trên thì tôi đã nhớ rất lâu. Tôi cũng hiểu nghĩa rõ ràng cụm từ “Trung Nam Hải” từ dịp ấy.
Ba mươi năm sau, khi anh Gia Dũng sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu bài thơ “Tìm bạn không gặp” trong tập thơ “Ngàn năm thương nhớ” tuyển thơ một nghìn năm Thăng Long, Hà Nội. Bài thơ “Tầm hữu vị ngộ” của Bác do nhà Hán học nổi tiếng Phan Văn Các diễn nghĩa và dịch thơ. Nội dung tuy vẫn thế nhưng bản dịch mới, lời dịch sát nghĩa chữ Hán hơn so với bản tự dịch thoáng ý của chính Bác lại có khác MỘT chữ so với bài mà tôi được đọc và nghe bình trước đây. Đó là từ “nghìn dặm” được thay bằng từ “trăm dặm” (“bách lý tầm quân vị ngộ quân” thay vì “thiên lý tầm quân vị ngộ quân”). Bản dịch mới có lời ghi chú, nghe nói là của Bác. Bài thơ viết năm 1950 nhưng xuất xứ và cảm xúc thực sự của Người khi thăng hoa bài thơ nổi tiếng này thì nay vẫn còn để ngỏ.
Bác ra nước ngoài từ đầu năm 1950 đến đầu tháng Tư mới về nước theo hồi ức “Chiến đấu trong vòng vây” của đại tướng Võ Nguyên Giáp. Bác lúc đó đã sáu mươi tuổi, bí mật đi đến Bắc Kinh gặp chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc Mao Trạch Đông rồi đi luôn sang Matxcơva gặp đồng chí Stalin. Bác cũng đi tìm gặp đại tướng Trần Canh khi chuẩn bị chiến dịch Biên giới. Trong cơn lốc của các sự kiện, Bác khẳng định: “Tổng phản công của ta sẽ là một giai đoạn lâu dài. Rồi đây, có sự chi viện của Liên Xô và Trung Quốc về vật chất, vũ khí, trang bị, ta sẽ đỡ khó khăn hơn, nhưng giành được thắng lợi là phải do sức nỗ lực của chính bản thân ta quyết định”.
“Nghìn dặm” hay “trăm dặm”? “gặp bạn” hay “không gặp”? hoặc “gặp nhưng không gặp về cách làm”? Ngữ nghĩa của câu thơ “Bách lý tầm quân vị ngộ quân” khác hẳn với “thiên lý tầm quân vị ngộ quân”, đó là sự gặp gỡ một minh quân, một minh chủ, một chủ thuyết chứ không đơn giản là “Tìm bạn không gặp”. Dường như Bác đang đề cập một vấn đề rất lớn của định hướng chiến lược đối ngoại “phải biết tranh thủ thời cơ, tận dụng sự ủng hộ và chi viện quốc tế nhưng giành được thắng lợi là phải dựa vào sức mình là chính” . Nhiều sự kiện lịch sử hiện tại đã được giải mã nhưng còn nhiều ẩn ý sâu sắc trong thơ Bác cần được tiếp tục tìm hiểu, khám phá thêm. Những năm tháng khó khăn của cách mạng Việt Nam “chiến đấu trong vòng vây”; Những tổn thất và sai lầm trong cải cách ruộng đất do sự thúc ép từ phía Liên Xô và sự vận dụng không phù hợp kinh nghiệm của Trung Quốc; Quan hệ của nước nhỏ đối với các nước lớn. Nhiều điều tinh tế ẩn chứa trong thơ Bác.
Ý tứ trong bài thơ của Bác rất gần với với một bài thơ cổ của Trung Quốc thời nhà Tống: “Tận nhật tầm xuân bất kiến xuân/Mang hài đạp phá lãnh đầu vân/ Quy lai khước phá mai hoa hạ/ Xuân tại chi đầu vị thập phân”. Bài thơ tả một ni cô mang hài trèo đèo vượt núi cực khổ tìm xuân suốt ngày mà vẫn chẳng gặp xuân. Đến khi trở về mới thấy xuân đang hiện trên những cành mai trong vườn nhà.
Bác Hồ cũng vượt vòng vây phong tỏa, chịu nhiều gian khổ suốt bốn tháng ròng để tìm sự ủng hộ quốc tế cho cách mạng Việt Nam đang “chiến đấu trong vòng vây”. Trên đường về, qua đèo, Bác chợt gặp cây mai đầu suối và Bác đã ngộ ra được những vấn đề sâu sắc của phương pháp cách mạng. Đối diện với mặt trời đỏ “đông phương hồng, mặt trời lên” là mặt TRĂNG hiền hoà (rằm xuân lồng lộng trăng soi) và gốc MAI vàng cổ thụ bên SUỐI nguồn tươi mát (bên suối một nhành mai). Trăng, suối, hoa mai là những cụm từ quan trọng trong thơ Bác. Nó là triết lý ứng xử tuyệt vời của một nước nhỏ đối với các nước lớn trong quan hệ quốc tế phức tạp. Trời càng sáng, trăng càng trong, nước càng mát, mai càng nở rộ.
Ngày xuân, hiểu sâu thêm một bài thơ hay của Bác và góp thêm một tản văn về trăng, suối nguồn, hoa mai. Học minh triết trong quan điểm chiến lược của Bác “dựa vào sức mình là chính đồng thời tranh thủ thời cơ và sự ủng hộ quốc tế”. Trăng, suối nguồn, hoa mai là biểu tượng và đối sách quốc gia mà Bác nhắn gửi. Đó là phong thái thung dung, điềm tĩnh, bản lĩnh gan góc bất khuất, dám giành độc lập, giữ độc lập tự do để mưu cầu hạnh phúc cho dân, đám đánh và biết đánh thắng.
Hoàng Kim
Việt Bắc nhớ Bác Hồ (bài 1)
Việt Bắc nhớ Bác Hồ (bài 2)
QUA SÔNG THƯƠNG BẾN NHỚ
Tôi về Việt Bắc nhiều lần. Lần đầu là đợt tuyển quân ở Cao Bằng, Lạng Sơn năm 1972. Đơn vị chúng tôi là trung đoàn 568 đóng tại Lục Ngạn, Hà Bắc chuyên đào tạo quân tăng cường của sư đoàn 325 B đóng ở Tiên Yên, Quảng Ninh. Trước đó, tôi gia nhập quân đội tháng 9 năm 1971 ở Trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc cấp tốc huấn luyện ba tháng và hành quân ngay vào Nam qua sông Thương gửi về bến nhớ tham gia chiến dịch Quảng Trị:“Ta lại hành quân qua sông Thương/ Một đêm vào trận tuyến/ Nghe Tổ Quốc gọi lên đường! Mà lòng ta xao xuyến / …” xem tiếp
Anh Phạm Hồng năm 2013 là 85 tuổi, nguyên chính ủy trung đoàn 568 sau làm chính ủy sư đoàn 325B đã nhớ lại trong THƯ CỦA ANH PHẠM HỒNG 80 TUỔI NĂM 2008:
… “Xa em, càng nhớ những ngày này 35 năm trước, theo lệnh tổng động viên của Chủ tịch Nước, hàng chục vạn sinh viên của các trường đại học, cao đẳng trong cả nước đã xếp bút nghiên lên đường cùng cả nước “đánh cho Mỹ cút” như lời Bác Hồ dặn. Anh cùng đơn vị được đón em từ Trường Đại học Nông nghiệp cùng hàng ngàn anh em về huấn luyện chi viện chiến trường.
Biết em là con út, mới lớn lên đã sớm mồ côi cha mẹ, ngày chỉ được ăn một bữa, áo chỉ mặc một manh … mà đã có chí học hành thành sinh viên đại học, tình nguyện vào chiến trường đánh Mỹ! Anh và đồng đội để em cùng đơn vị vào miền Nam đánh vài trận rồi gọi ra ngay để có kinh nghiệm về đội huấn luyện, góp sức đào tạo hàng vạn tiểu đội trưởng “khuôn vàng thước ngọc” của phân đội nhỏ nhất trong quân đội ta. Hàng vạn tiểu đội trưởng từ đoàn 568 anh hùng đã phụ trách hàng vạn tiểu đội với hơn mười vạn quân đi khắp chiến trường chống Mỹ xâm lược…
Cùng lúc ấy, trong giai đoạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước năm 1972, đã có nhiều bạn sinh viên của em trong 81 đại đội vượt sông Thạch Hãn vào đánh giặc ở thành cổ Quảng Trị 81 ngày đêm… Sau này, cả nước và thế giới đều biết những người con “tiền trí thức” yêu quý của dân tộc và quân đội ta từ trường đại học hiên ngang đi thẳng ra chiến trường đánh Mỹ, trở thành những anh hùng bất tử với dòng Thạch Hãn:“Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ / Đáy sông còn đó bạn tôi nằm / Có tuổi thanh xuân thành sóng nước /Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm”.
Em cùng với những bạn trí thức ngày ấy đã xứng đáng với lòng tin yêu và truyền thống của đoàn 568 làm tốt nhiệm vụ đào tạo tiểu đội trưởng cho chiến trường, rồi học tiếp đại học, lấy bằng tiến sĩ, về làm giám đốc trung tâm nghiên cứu khoa học nông nghiệp, ngày đêm gắn bó với Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và duyên hải miền Trung. Nay em lại làm giảng viên đại học, góp phần đào tạo những kỹ sư, thạc sỹ, tiến sỹ của hơn 45 triệu nông dân đã đang nuôi sống cả xã hội và đi lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
Nhân năm mới, mừng hai em không ngừng tiến bộ và thành đạt trên con đường khoa học của mình, mừng hai cháu Nguyên Long nối tiếp truyền thống gia đình, luôn tiến bộ trưởng thành. Mong được đón các em và các cháu. Gửi các em những dòng tâm tình của anh trong trang thơ kèm đây nhân 80 mùa xuân”.
MỪNG TUỔI TÁM MƯƠI
Thấm thoát thoi đưa vừa ngoảnh lại
Xuân nay mình đã tám mươi tròn
Bốn tư năm lẻ đi đánh giặc
Hưu về tóc bạc vẫn lòng son
Nhớ buổi đầu vào Vệ quốc quân
Dối nhà đi họp đã hơn tuần
Kiểm tra sức khoẻ năm phòng huyện
Suýt bị trả về: chưa đủ cân!
Trận đầu bố trí ở Cầu Bây
Giáo búp đa sắc lẹm trong tay
Đợi địch tràn sang là xốc tới
“Đánh giáp lá cà” với giặc Tây.
Trận hai chặn Pháp ở cầu Ghềnh
Quê hương Bãi Sậy giáp Như Quỳnh
Với khẩu súng trường, viên đạn thép
Quần với thằng Tây cao lênh khênh
Trận ba được nhận khẩu tiểu liên
Với mười viên đạn một băng liền
Chặn giặc từ đầu đường “ba chín”
Thôn nghèo Yên Lịch dạ trung kiên!
Vừa đánh Tây vừa cõng thương binh
Vượt sông giá lạnh lúc bình minh
Máu đồng đội thấm đầy quân phục
Vẫn chẳng rời nhau nghĩa tử sinh!
Thế rồi hơn bốn chục mùa xuân
Chiến trường giục giã chẳng dừng chân
Theo anh Văn, ngọn cờ Quyết thắng
Bác Hồ cùng chúng cháu hành quân!
Cả đời mãi miết cuộc trường chinh
Ơn vợ, quê hương vẹn nghĩa tình
Tần tảo nuôi con, chăm cha mẹ
Vượt ngàn gian khó, giỏi mưu sinh!
Pháp Mỹ chạy rồi, nước chửa yên
Hai đầu biên giới lửa triền miên
Năm cha con lại cùng thắng giặc
Trên biên phía Bắc bảy năm liền.
Trở về đội ngũ cựu chiến binh
Cháu con đều tiến bộ, trưởng thành
Cùng anh em tiếp vun truyền thống
Chung tay làm rạng rỡ quê mình…
Sức mạnh nhân dân và đồng đội
Dựng làng văn hoá thật kiên trung
Vượt bao thử thách hai thời đại
Quê hương Tán Thuật xã anh hùng.
Tám chục tuổi đời vẫn thanh xuân
Sáu hai tuổi Đảng vẫn kiệm, cần
Liêm chính làm theo lời Bác day
Vinh nào bằng “công bộc nhân dân”
Mười tám năm qua hưu chẳng nghỉ
Đồng đội luôn về sum họp vui
Mọi việc làm đều cùng suy nghĩ
Đơm hoa, kết trái đẹp cho đời
Vui thay mình đang tới tám hai
Phía trước đường xuân vẫn rộng dài
Nước mạnh, dân giàu, nhà hạnh phúc
Ngẩng đầu thẳng bước tới tương lai.
Phạm Hồng
CCB nhà 8/17 Bạch Đằng Thành phố Hải Dương
Nguồn: Thư anh Phạm Hồng 80 tuổi năm 2008 http://yume.vn/hoangkimvietnam/article/thu-cua-anh-pham-hong-80-tuoi.35AD9DA7.html
Trần Quốc Vượng 2004. Lời tựa trong sách Trương Đình Tưởng chủ biên 2004. Địa chí văn hóa dân gian Ninh Bình. Nhà Xuất bản Thế Giới trang 7-10
Hồ Chí Minh 1969. Di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh Bản “Tuyệt đối bí mật” – Di chúc Bác sửa chữa năm 1968 Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Lời cám ơn
Khi viết tản văn này, tôi được chính ủy Phạm Hồng, sư trưởng Hoàng Trung Trực, đại tá nhà văn Bùi Văn Bồng bổ sung tư liệu, hình ảnh và thẩm định, trao đổi, đóng góp nhiều ý kiến sâu sắc.Nhà thơ Gia Dũng gửi bài thơ Việt Bắc của Trần Dần với những câu chuyện lịch sử không quên;, Chính ủy Phạm Hồng có bức thư và bài thơ xúc động lưu dấu ký ức E568, F325, F356, dưới đây. Đại tá Bùi Văn Bồng đã đăng bài trên trang do anh chủ bút, Ngày nay anh Phạm Hồng, Gia Dũng, Bùi Văn Bồng đã khuất. Bài viết này lưu dấu ghi ơn.
Hoàng Kim
Việt Bắc nhớ Bác Hồ (bài 2)

Việt Bắc nhớ Bác Hồ (bài 3)
MĂNG ĐEN VÀ ĐẮC TÔ
Hoàng Kim
Lớp 10ATT ĐHNN2 Hà Bắc năm 2022 vừa có chuyến Du lịch sinh thái Việt lên thăm bạn Tây Nguyên. Tỉnh thức trong tôi Măng Đen, Nhớ Đăk Tô Tân Cảnh. Thầy bạn trong đời tôi “Trận chiến hôm qua bạn góp máu hồng. Lớp học hôm nay bạn không trở lại. Trách nhiệm trong mình nhân lên gấp bội. Đồng đội ơi, tôi học cả phần anh”.
MĂNG ĐEN
Măng Đen
Ơi Măng Đen
Sương sớm
Rừng khuya
Thật khó quên
Chốn xưa
thăm thẳm
thời gian khó
Tỉnh thức
mà sao
ngấn lệ nhoèn …
NHỚ TÂN CÃNH ĐĂK TÔ
Ngựa già quanh máng cỏ
Nhớ hoài bao tháng năm
Người lính khoai sắn lúa
Đường xuân nuôi chí bền.
Hoàng Kim
Việt Bắc nhớ Bác Hồ (Bài 4)
NGƯỜI VỊN TRỜI CHẤP SÓI
Việt Bắc nhớ Bác Hồ (Bài 5)
BẢN GIỐC VÀ KA LONG
Việt Bắc nhớ Bác Hồ (Bài 6)
HỒ BA BỂ BẮC KẠN
Việt Bắc nhớ Bác Hồ (Bài 7)
LÊN VIỆT BẮC ĐIỂM HẸN
Việt Bắc nhớ Bác Hồ (Bài 8)
ĐỀN BÀ CHÚA THƯỢNG NGÀN
Việt Bắc nhớ Bác Hồ (Bài 9)
YÊN LÃNG HỒ CHÍ MINH

YÊN LÃNG HỒ CHÍ MINH
Nôi đất Việt yêu thương
Mỏ than Hồng giữ lửa
Thơ tình Hồ Núi Cốc
Yên Lãng Hồ Chí Minh

Đền Bà Chúa Thượng Ngàn
Chợt gặp mai đầu suối
Thanh trà Thủy Biều Huế
Mai Hạc vầng trăng soi
Cánh cò bay trong mơ
Một niềm tin thắp lửa
Giấc mơ lành yêu thương
Đồng xuân lưu dấu hiền
Hoàng Kim

THƠ TÌNH HỒ NÚI CỐC
Anh đến tìm em ở Bến Mơ
Một trời thu đẹp lắng vào thơ
Mênh mang mường Mán mình mong mỏi
Lấp loáng luồng Lưu lượn lững lờ
Núi Cốc chùa Vàng xao xuyến đợi
Sông Công đảo Cái ước mong chờ
Nham Biền, Yên Lãng uy nghi quá
Tam Đảo, Trường Yên dạ ngẫn ngơ.
Hoàng Kim
Hồ Núi Cốc là quần thể du lịch sinh thái thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên cách trung tâm thành phố 15 km về hướng Tây Nam theo lộ Đán -Tân Cương – núi Cốc. Nơi đây có núi Cốc, sông Công, hồ núi Cốc – vịnh Hạ Long, hồ trên núi – với diện tích mặt hồ khoảng 25 km2. Đền Hồ Chí Minh trên rừng Yên Lãng, đỉnh đèo De dưới là mỏ than núi Hồng giữ ngọn lửa thiêng, vùng huyền thoại chuyện tình yêu thương. Đảo Cái lưu dấu những cổ vật đặc biệt quý hiếm. Chùa Vàng và đền bà chúa Thượng Ngàn nổi tiếng. Đây là vùng đất địa linh của tam giác châu giữa lòng của vòng cung Đông Triều với dãy Tam Đảo có 99 ngọn Nham Biền chạy xuống Yên Tử , trường thành chắn Bắc (hướng kia là dãy Tản Viên 99 ngọn chạy dọc sông Đáy tới Thần Phù, Nga Sơn nối Trường Sơn tạo thế trường tồn và mở mang cho dân tộc Việt. Đây là vùng thiên nhiên trong lành, suối nguồn tươi trẻ, lưu dấu tích anh hùng, mỹ nhân trong vầng trăng, bóng nước giữa rừng …Nôi đất Việt yêu thương/ Mỏ than Hồng giữ lửa/ Thơ tình Hồ Núi Cốc / Yên Lãng Hồ Chí Minh/ Đền Bà Chúa Thượng Ngàn / Chợt gặp mai đầu suối/ Thanh trà Thủy Biều Huế/ Mai Hạc vầng trăng soi/ Cánh cò bay trong mơ/ Một niềm tin thắp lửa/ Giấc mơ lành yêu thương / Đồng xuân lưu dấu hiền
Những tác phẩm âm nhạc vượt thời gian Huyền thoại Hồ Núi Cốc, nhạc và lời Phó Đức Phương, trình bày Vũ Phong Vũ (bản khác NSƯT Thanh Hoà), Thanh Lam Tùng Dương ; Hồ trên núi, nhạc và lời Phó Đức Phương, trình bày Hồ Quỳnh Hương (bản khác NSƯT Anh Thơ); Thơ giao lưu Hồ Núi Cốc giữa những người bạn Mùa Thu Vàng, Hà Duy Tự, Trúc Nhã, LamCa07, Hoàng Kim… được giao hòa trong khung cảnh thiên nhiên lộng lẫy, kỳ thú này.
Chương trình Sắn Việt Nam cùng Chương trình Sắn Châu Á nhiều lần họp tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng đi khảo sát các vùng sắn ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái, … và đã có hai lần thăm Hồ Núi Cốc.
Lưu lại những ấn tượng khó quên về một vùng đất thiêng liêng của Tổ Quốc Việt Nam.




BÌNH SINH HỒ CHÍ MINH
Bình Sinh Đầu Ngẩng Tới Trời Xanh
Khuất núi hồn THƠM quyện đất lành
Anh hùng HỒ dễ nên nghiệp ấy
Tâm hồn bình dị CHÍ anh MINH
Hoàng Kim cuối tháng ba năm 2008, có nhận được của anh Phan Chí Thắng một lá thư, nguyên văn: “Gửi Hoàng Kim. Cách đây mấy ngày, trong một cuộc tiếp xúc nhiều người, tôi vô tình được nói chuyện với anh H., cháu nội người đỗ đầu khoa Hội cùng năm với cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Dì ruột của anh H. lấy anh cả của ông LĐT. Anh H. kể là được nghe trực tiếp từ ông LĐT về bài tứ tuyệt được thêu trên trướng do 5 nhà cách mạng lão thành Nga gửi đến tang lễ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chỉ nghe một lần mà anh H. thuộc lòng cho đến bây giờ, thật xứng danh cháu nội cụ Hội Nguyên. Tôi xin chép lại vào đây để Hoàng Kim tham khảo “Bình sinh đầu ngẩng tới trời xanh / Khuất núi hồn THƠM quyện đất lành / Anh hùng HỒ dễ nên nghiệp ấy / Tâm hồn bình dị CHÍ anh MINH ” Có vài điểm thắc mắc: 1. Làm sao mà các nhà cách mạng Nga lại làm được thơ tứ tuyệt? Hay là họ nhờ ai đó làm giúp theo ý họ? 2. Các chữ viết hoa trong bài tứ tuyệt được thêu chữ hoa, nghĩa là có dụng ý. Ba chữ là lấy từ trong “Hồ Chí Minh”. Còn chữ “Thơm” có phải đó cũng là tên hoạt động của Bác Hồ trong thời gian công tác cùng với 5 nhà cách mạng Nga kia? Hay là một tên gọi khác của Bác mà rất ít người biết? Sơ bộ như thế đã, các nhà nghiên cứu sẽ tìm câu trả lời.
Hoàng Kim đã trả lời: 1. Cám ơn thư của Anh. Em trao đổi sớm (2008) vì biết rằng đây là một vấn đề không dễ “giải mã” trong ít ngày nên cần chép ngay để lưu lại một điểm nhấn nghiên cứu. Nhiều sự thật lịch sử sẽ còn phải chờ đợi thêm một thời gian nữa mới có đủ thông tin. Cần đúng người, đúng việc, đúng liều lượng và đúng thời điểm. Với ước mong đi sâu tìm hiểu về một số nhân vật và địa danh lịch sử của dãi đất miền Trung, em đã tập hợp tư liệu tại chuyên trang “Chợt gặp mai đầu suối”.
2. Chữ “Thơm” và chữ “Hồ” trong câu thơ trên hình như có quan hệ đến Nguyễn Huệ (Hồ Thơm) và Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh). Cụ Hồ Sĩ Tạo (như là ông nội ruột của Hồ Chí Minh) với cụ Hồ Phi Phúc (cha của Nguyễn Huệ) hình như có quan hệ thân tộc. Có giả thuyết cho rằng tổ tiên nhà Tây Sơn vốn họ Hồ ở làng Hương Cái, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Họ theo chân chúa Nguyễn vào lập nghiệp miền Nam khi chúa Nguyễn vượt Lũy Thầy đánh ra đất Lê – Trịnh tới Nghệ An (năm 1655). Ông cố của Nguyễn Huệ tên là Hồ Phi Long (vào giúp việc cho nhà họ Đinh ở thôn Bằng Chân, huyện Tuy Viễn, tức An Nhơn) cưới vợ họ Đinh và sinh được một trai tên là Hồ Phi Tiễn. Hồ Phi Tiễn không theo việc nông mà bỏ đi buôn trầu ở ấp Tây Sơn, cưới vợ và định cư tại đó. Vợ của Hồ Phi Tiễn là Nguyễn Thị Đồng, con gái duy nhất của một phú thương đất Phú Lạc, do đó họ đổi họ của con cái mình từ họ Hồ sang họ Nguyễn của mẹ. Người con là Nguyễn Phi Phúc cũng chuyên nghề buôn trầu và làm ăn phát đạt. Nguyễn Phi Phúc có 8 người con, trong đó có ba người con trai: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ. Nguyễn Huệ sinh năm 1753 còn có tên là Hồ Thơm hay Quang Bình, Văn Huệ. Cụ Hồ rất trọng lịch sử nên giả thuyết cho rằng chữ “Thơm” có thể cũng là tên hoạt động của Bác Hồ trong thời gian công tác cùng với 5 nhà cách mạng Nga kia? Hay là một tên gọi khác của Bác mà rất ít người biết đều là có thể.
3. Câu thơ “Tâm hồn bình dị CHÍ anh MINH” em nhớ đến Bác và nhớ đến một người Thầy khác, đó là Norman Borlaug. (Mời đọc Borlaug và Hemingway Lời Thầy dặn thung dung). Cuộc đời Thầy cũng trong như ánh sáng. Thời gian và sự khen chê không làm xoá nhoà được dấu ấn nổi bật của Người. Norman Ernest Borlaug , sinh ngày 25 tháng 3 năm 1914, từ trần ngày 12 tháng 9 năm 2009 tại Texas, là nhà nông học Mỹ, nhà nhân đạo, người đoạt giải Nobel và ông được gọi là cha đẻ của Cuộc cách mạng Xanh. Ông là người đã nhận được đồng thời ba giải thưởng lớn Nobel Peace Prize, Presidential Medal of Freedom, Congressional Gold Medal vì những cống hiến đặc biệt cao quý cho nhân loại.
Ba năm trôi qua (2008-2011), nhiều tư liệu mới đã làm phong phú thêm nguồn nhận thức của chúng ta và đã có thêm tìm tòi mới về Bác. Hồ Chí Minh có thơ viết ở đền Trần và Bác đã dùng cụm từ “kẻ phi thường” để nói về Nguyễn Huệ và Công Uẩn trong hai câu “Nguyễn Huệ là kẻ phi thường” và “Công Uẩn là kẻ phi thường”. Điều chắc chắc là Bác biết rất rõ cụm từ “bậc phi thường” vì Bác là bậc Thầy về chữ nghĩa và rất cẩn trọng ngôn ngữ. Tại sao vậy? Đánh giá về Hồ Chí Minh hiếm câu nào hay hơn “Bình sinh đầu ngẩng tới trời xanh” và “Tâm hồn bình dị CHÍ anh MINH” nhưng kiến giải rõ hơn thì hình như vẫn cần thêm một thời gian nữa.
*
Bình sinh đầu ngẩng tới trời xanh! Báo cáo của Việt Nam gửi Quốc tế Cộng sản ngày 12 tháng 7 năm 1940 do Hồ Chí Minh soạn thảo là cẩm nang đón trước thời cơ “nghìn năm có một” của Tổng khởi nghĩa tháng 8 và Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945. Tài liệu tổng hợp, phân tích, đánh giá đầy đủ, toàn diện tình hình, sâu sắc hiếm thấy nhưng cực kỳ súc tích chỉ vắn tắt 12 trang. Đó là một trong số những thí dụ rõ nhất về thiên tài kiệt xuất của Hồ Chí Minh dám chớp thời cơ giành chính quyền và biết thắng. Hãy nghe Hồ Chí Minh phân tích tình thế: “Tóm lại, những điều kiện khách quan cho phép chúng tôi có hi vọng thành công. Song, lực lượng chủ quan- lực lượng của Đảng còn quá yếu. Như trên đã nói, một đảng mới mười tuổi lại trãi qua hai lần khủng bố lớn, số cán bộ có kinh nghiệm đấu tranh hiện còn đang rên xiết trong tù ngục, khiến đảng viên và quần chúng như “rắn mất đầu” không thể tận dụng cơ hội tốt “nghìn năm có một”. Chúng tôi liệu có khả năng làm thay đổi hoàn cảnh đó, khắc phục khó khăn đó, giúp Đảng hoàn thành sứ mạng lịch sử của nó hay không? Có. Chúng tôi nhất định không thể từ trong đánh ra. Chúng tôi chỉ có cách từ ngoài đánh vào. Nếu chúng tôi có được: 1) Tự do hành động ở biên giới; 2) Một ít súng đạn; 3) Một chút kinh phí; 4) Vài vị cố vấn thì chúng tôi nhất định có thể lập ra và phát triển một căn cứ địa chống Pháp, chống Nhật – đó là hi vọng thấp nhất. Nếu chúng tôi có thể mở rộng Mặt trận thống nhất các dân tộc bị áp bức, có thể lợi dụng mâu thuận giữa các nước đế quốc thì tiền đồ tươi sáng là có thể nhìn thấy được. Tôi rất hi vọng các đồng chí giúp tôi nhanh chóng giải quyết vấn đề này. 12.7.40.” (Hồ Chí Minh Toàn tập t. 3 tr. 162-174). Hơn nữa thế kỷ qua, HK đọc lại và suy ngẫm, càng đọc càng thấm thía thêm nhiều điều sâu sắc.
Theo chân người dẫn dường, tôi lưu lại dưới đây năm mẫu chuyện nhỏ, sự thật không là huyền thoại, về Chủ tịch Hồ Chí Minh
1

Nhà sàn của Bác Hồ
“Ngôi nhà sàn đơn sơ
Giữa thủ đô Hà Nội
Ngày lại ngày tiếp nối
Bác thênh thản xuống lên
Làm việc và chăm vườn
Cho cá ăn từng buổi
Di chúc 4 năm cuối
Bác đã viết tại đây“ (*)
2

Bác nghỉ chân Việt Bắc
Bác nghỉ chân sau mấy dặm ra đi
Rừng Việt Bắc chở che giây phút nghỉ
Chốn đất thiêng1 lưu lại thời trân quý
Bình Sinh Hồ Chí Minh Việt Nam
3

Yên Lãng Hồ Chí Minh
Bác đã hóa thân vào đất nước, quê hương
Tự chủ, tự tôn là máu thịt của chính mình
4

Đi dưới trời minh triết
Biển nhớ nơi nao Người lắng sóng
Bờ thương chốn cũ Bác trông thuyền
Bảo như trường kiếm xô sông dạt
Ninh Hải Thung Nham níu núi thiền *
5

Minh triết Hồ Chí Minh
“Ngủ thì ai cũng như lương thiện,
Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền;
Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn,
Phần nhiều do giáo dục mà nên”
(Nửa đêm, bản dịch của Nam Trân)
ảnh Bác Hồ với học sinh trường trung học Trưng Vương (Hà Nội) nǎm 1956 Ngành nghề ở Việt Nam lao động và việc làm, tác động rất sâu sắc đến đời sống văn hóa và xã hội. Minh triết Hồ Chí Minh trích dẫn lời dạy thấm thía của Bác trên Báo Thái Bình Từ triết lý giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh nghĩ về công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/minh-triet-ho-chi-minh
Việt Bắc nhớ Bác Hồ (Bài 10)
ĐÁ VÀNG VỚI BAN MAI

SOI SÁNG LẠI CHÍNH MÌNH
Đừng bao giờ ngừng cố gắng
Bảo tồn và phát triển tinh hoa di sản cho chính mình, gia đình, người thân, thầy bạn, quê hương và #vietnamhoc là niềm vui SOI SÁNG LẠI CHÍNH MÌNH lời dặn lại của đức Trúc Lâm Trần Nhân Tông, chứ không tìm ở đâu khác “Ở đời vui đạo , thả tùy duyên. Đói cứ ăn đi mệt ngủ liền. Kho báu trong nhà thôi tìm kiếm. Vô tâm, đối cảnh, hỏi chi THIỀN” (Cư trần lạc đao của Trần Nhân Tông, trích dẫn bởi Hoàng Kim, xem tiếp Thầy bạn là lộc xuân; xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/soi-sang-lai-chinh-minh và https://hoangkimlong.wordpress.com/category/trang-ram-ngoc-quan-am
ĐÁ VÀNG VỚI BAN MAI

TRĂNG RẰM NGỌC QUAN ÂM
Chẳng thể nào ngủ được đêm nay
Đêm Vu Lan mờ tỏ
Trăng rằm khuya lồng lộng giữa trời
Thăm thẳm một lời Người nói …
Mẹ cũ như ngôi nhà cũ
Chiếc áo mẹ mang bạc phếch tháng năm
Cha cũ như con thuyền cũ
Dòng sông quê hương thao thiết đời con
Anh chị cũ tình vẹn nghĩa
Trọn đời thương nhau lồng lộng trăng rằm
Em tôi hồn quê dáng cũ
Con cháu niềm vui thương thảo tháng năm.
Thầy bạn lộc xuân đầy đặn
Bài ca thời gian ngời ngợi trăng rằm.
Thắp đèn lên đi em
Đêm Vu Lan gặp bạn
Thương nhớ bài thơ cũ
Chuyện đời không nỡ quên …
Ngày mới và đêm Vu Lan
Vầng trăng Sao Hôm Sao Kim thân thiết.
Loanh quanh tìm tòi cái mới
Đêm Vu Lan thức về lại chính mình.
Trăng sáng lung linh, trăng sáng quá!
Đất trời lồng lộng một màu trăng
Dẫu đêm khuya vắng Người quên ngắm
Trăng vẫn là trăng, trăng vẫn rằm.

#cnm365 Tình Yêu Cuộc Sống
#Annhiên Và #Thungdung
Chính Trung Hiếu Thiện Lành
Đồng Nai Đất Và Người
Sông Sài Gòn Bến Nghé
Cây Lương Thực (Food Crops)
Nguyễn Du trăng huyền thoại
Việt Bắc nhớ Bác Hồ

Đậu rồng là Cây dược liệu vườn nhà, dễ trồng và thích nghi rộng ở Việt Nam. Giống đậu rồng Bình Minh phổ biến hiện nay (2026), dễ thu hái, bảo quản, và có nhiểu công dụng thưc tế xem thêm Đậu rồng nguồn Wikipedia Tiếng Việt và Thầy Tuấn trong lòng tôi https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-tuan-trong-long-toi/ Phần trích dẫn Đậu rồng có liên quan (1) Kim H.; Buresova, M, 1986. Growing winged bean on natural supports under the conditions of South Vietnam. In: Agricultura Tropica et Subtropica, Universitas Agriculturae Praga, No. 19; p. 225 – 236 En. Sum. En. 14 Ref. In CIAT 1990 National Bibliographies Cassava in Asia East and Southeast Asia, p. 416 ; 2) Buresova, M.; Kim, H.; Quyen, T.N.,1987. The economics og winged bean on manioc as natural supports under the conditions of South Vietnam. In: Agricultura Tropica et Subtropica, Universitas Agriculturae Praga, No. 20; p. 101 – 114 En. Sum. En.; Sk., Ru.,8 Ref. In: CIAT 1990 National Bibliographies Cassava in Asia East and Southeast Asia, p. 416; 3) Hoang Kim, M. Buresova, Tran Ngoc Quyen and Nguyen Van Chuong, 1988 Economic of Winged bean on Maize as natural support in South Vietnam. In: Agricultura Tropica et Subtropica, Universitas Agriculturae Praga, No. 21; p. 45 – 59 En. Sum. En.; Sk., Ru.,9 Ref.)
Đu Đủ, Cây dược liệu vườn nhà, dễ trồng và thích nghi rộng ở Việt Nam, là cây quen thuộc, vị thuồc quanh ta, trong đời sống hàng ngày. Cây Đu Đủ những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam Đõ Tát Lợi https://vnras.com/cay-du-du-nhung-cay-thuoc-va-vi-thuoc-viet-nam-do-tat-loi/, Cây đu đủ (Carica papaya L.) là vị thuốc quý trong Y học cổ truyền Việt Nam, sử dụng nhiều bộ phận như quả (xanh/chín), lá, hoa đực, nhựa và hạt để chữa bệnh đường ruột (giun sán), ho, tiêu hóa (khó tiêu, loét dạ dày), sốt xuất huyết, tim mạch, làm đẹp da, tăng tiết sữa mẹ và hỗ trợ điều trị nhiều chứng bệnh khác nhờ enzyme papain, carpain và nhiều vitamin, khoáng chất có lợi. Tuy nhiên, phụ nữ có thai cần cẩn trọng với đu đủ xanh, theo Cục An toàn thực phẩm và báo Sức khỏe & Đời sống. Tác dụng chữa bệnh của cây đu đủ |Vị thuốc quanh ta.
Hoàng Kim *

(*) Hoàng Kim Cây lương thực (Food Crops)
Cây Lương thực Việt Nam Chọn giống Cây Lương thực Dạy học nghề làm vườn Thầy Quyền thâm canh lúa
Tham khảo
Bài thuốc từ cây đu đủ , lương y Nguyễn Công Đức I Long An TV là kinh nghiệm quý https://youtu.be/IyiTuosro50?si=cRlSRFZDzywgeEZw,
Cây Đu Đủ có tác dụng gì | Vị thuốc quanh ta 24-6-2025 | Điện Biên TV https://youtu.be/_D8Ljzb0-H0?si=Q3gQeKb79RNFbYDz
Trồng đu đủ lùn thu 100 triệu/năm | VTC16
Tác dụng chữa bệnh của cây đu đủ |Vị thuốc quanh ta. ghi chú
1 Vote

#cnm365 #cltvn 31 tháng 1
TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM
Thác nước thiên nhiên tuyệt đẹp Iguazu di sản thế giới tại khu vực bảo tồn rừng lớn nhất Nam Mỹ giữa Brasil và Argentina (ảnh: Thơ viết bên thác Iguazu ). Ngày 31 tháng 1 năm 1542, Thác nước Iguazu được Alvar Núñez Cabeza de Vaca là chinh tướng người châu Âu lần đầu tiên khám phá. Thác nước Iguazu được UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm 1984 phía ranh giới vườn quốc gia Brazil và năm 1986 phía ranh giời vườn quốc gia Argentina. Ngày 31 tháng 1 năm 1856, Robert E. Lee danh tướng Hoa Kỳ trở thành đại tướng tư lệnh của Liên minh Miền Nam trong Nội chiến Hoa Kỳ; Ngày 31 tháng 1 năm 1958, Vành đai bức xạ Van Allen bí ẩn trên vùng biển Nam Đại Tây Dương, nơi thường xuyên xảy ra những sự biến đổi không gian và thời gian bí hiểm huyền thoại, khu vực này được phát hiện bởi nhà khoa học không gian người Mỹ James Van Allen
Thác nước Iguazu, di sản thế giới UNESCO (1984, 1986), là hệ thống thác nước lớn nhất thế giới với 275 thác, trải dài 2,7 km trên sông Iguazu giữa Argentina và Brazil. Nằm trong khu bảo tồn rừng mưa cận nhiệt đới lớn nhất Nam Mỹ, thác cao 60-80m, nổi bật với “Họng Quỷ” (Garganta del Diablo) và là 1 trong 7 kỳ quan thiên nhiên thế giới xem Laura nhà thám hiểm Thơ viết bên thác Iguazu
Lịch vạn niên LVN365 Lịch Am Duong nam 1789 https://baonghean.vn/am-duong-lich-nam-1789.htmll là công cụ tra cứu ngày âm/dương, giờ hoàng đạo và các ngày tốt (hoàng đạo, dựa trên âm dương ngũ hành. Ngày tốt thường được chọn để cưới hỏi, khai trương, động thổ nhằm mang lại sự suôn sẻ, hanh thông. Xem ngày tốt giúp tránh ngày xấu hắc đạo để công việc diễn ra thuận lợi. Các thông tin chính thường được cung cấp bao gồm:Ngày Hoàng Đạo: Ngày tốt lành, được các vị thần thiện hỗ trợ, thích hợp cho các việc quan trọng.Chi tiết ngày âm/dương: Tra cứu ngày, tháng, năm âm lịch và tương ứng với dương lịch, ví dụ ngày 16/7/2025 là ngày Thanh Long Hoàng Đạo. Giờ Hoàng Đạo: Khung giờ tốt trong ngày để tiến hành các công việc. Thông tin chi tiết khác: Bao gồm can chi, mệnh ngày, trực, sao, và các ngày kỵ cần tránh. Người dùng thường sử dụng lịch vạn niên này để kiểm tra các ngày tốt theo quan niệm dân gian,

Việt Nam Đất Và Người
Bình sinh Hồ Chí Minh
https://thoibaonganhang.vn/ban-do-34-tinh-thanh-moi-cua-viet-nam-vua-duoc-quoc-hoi-thong-qua-165676.html

ĐIỂM NHẤN MỚI CẬP NHẬT
Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì lễ công bố quyết định nhân sự cấp cao của Bộ Chính trị https://youtu.be/MGHlxq-0S7Q?si=rqwwaD-FrFXKSqU3Bản tin 30/1: Danh sách 13 đồng chí tham gia Ban Bí thư khoá XIV: Tin tức thời sự quốc tế mới nhất ngày: 30/1/2026 Trực Tiếp | Bản Tin Trưa 30/01: Phát Triển Tiềm Lực Khoa Học, Công Nghệ Quân Sự | QPVN Digital TRỰC TIẾP: CHIẾN SỰ NGA – UKRAINE Mới Nhất 30/1 | TOÀN CẢNH QUỐC TẾ Tổng Hợp | Điểm Nóng Thế giới Điểm nóng thế giới 30/1 Bản tin trưa 28/1: Tổng Bí thư Tô Lâm làm việc với Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cao Bằng VTV Bản Tin sáng HTV NewZ; Tâm điểm quốc tế 27/1 Việt Nam Bản tin thời sự tối 26/1: Toàn cảnh lễ đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào thăm chính thức Việt Nam; Không Ngờ NT Nga Lavrov Lại Nói Về Việt Nam Và Châu Âu Như Này | Kiến Thức Chuyên Sâu; Chấn động “cú quay xe” của ông Trump, cục diện ở châu Âu đảo chiều chao đảo Phong cách đối ngoại khó lường của Tổng thống Mỹ Donald Trump đang khiến các đồng minh thân cận nhất của Washington rơi vào trạng thái bất an; Mới nhất Hà Tiên tăng cường sà lan đá khổng lồ người người kéo dây, giới trẻ đi xem; Bất Ngờ Cầu Vượt Biển Hòn Khoai Dái 18 Km xuyên biển chưa từng có ở Việt Nam i Hồng Định Vlog; Vì Sao Việt Nam Tăng Tốc Hiện Đại Hóa Tây Nguyên? Góc Nhìn Chiến Lược Khu Vựci Luận Bàn Quân Sự; Yếu tố bí ẩn khiến Mỹ thua cuộc chiến tranh tại Việt Nam | Cuộc đọ sức của ý chí (tập 1/2) | VTV4 https://youtu.be/dMToE60KU0Q?si=UKfwZusVUKgx2KU3; Nguyễn Ái Quốc – Ẩn số từ nước Pháp – VTV Đặc biệt (English subtitles) https://youtu.be/eONB3Lx8iqk?si=p_TtTg6wyKE_OEkf ;

BÌNH SINH HỒ CHÍ MINH
Bình Sinh Đầu Ngẩng Tới Trời Xanh
Khuất núi hồn THƠM quyện đất lành
Anh hùng HỒ dễ nên nghiệp ấy
Tâm hồn bình dị CHÍ anh MINH

Sáng nay lúc 10:00 giờ ngày 30/1/2026 Chi Hội Phụ nữ kết hợp với Ban ct MTTQ KP1.
Thực hiện phát quà chăm lo tết cho 34 hộ khó khăn. Mỗi phần 500k ( quà 300k + lixì 200k ) tổng chi 17.000.000đ do mạnh thường quân ủng hộ.

ĐÁ VÀNG VỚI BAN MAI; CNM365 Tình yêu cuộc sống; Chính Trung Hiếu Thiện Lành; Trà sớm với Lão Nông; Núi Chứa Chan Xuân Lộc; Vườn Quốc Gia Cát Tiên; Một gia đình yêu thương; Nhớ vầng trăng ngọn lửa ; Hoàng Thành Trúc Lâm Sáng; Đến với Tây Nguyên mới; Bài ca nhịp thời gian; Đường xuân đời quên tuổi; Chính Ngọ đoán Kinh Dịch; Nông lịch tiết Lập Đông 24 tiết khí nông lịch xem vieo Than Tran @ nêu bật Hien NguyenminhhienNgười Quảng Sơn Kết nối yêu thương .
Học Việt Hóa Thơ Đường*
Hoa Đất Thương Lời Hiền
HOÀNG KIM THƠ ĐỒNG TÂM
Đồng tâm hiệp lực sắt nên kim *
Cam khổ bền lòng, động vẫn im
Thống Nhất đường xuân bền thế nước
Việt Nam đất Mẹ mãi trong tim
Chính Trung Hiếu Thiện Lành thời nổi
#annhiên #Thungdung biến chẳng chìm
Đá vàng với ban mai nắng mới
Mưa lành Lã Vọng biết đâu tìm
QUẢ TỐT BỜI NHÂN LÀNH
Trời xanh tỉnh lặng với thu không
Nhân quả ghi ơn quý vun trồng
Hạnh phúc đủ đầy nhờ tích đức
Hiếu trung trọn vẹn bởi tâm công
Nhìn ai dân mến vì chí thiện
Ngắm kẻ người chê bởi khác lòng
Ban mai ngày mới mừng biết đủ
Tình yêu cuộc sống rạng vừng đông.
Tựa Cây Để Nghỉ Ngơi
Nhàn hưởng lộc Trời dưới bóng tre
Chuối già đủ chín chốn chân quê
Mèo Chăm sưởi nắng thành nơi đến
Ngựa Quý phong sương thạo lối về
Quảng Trị Nam Gianh Người Minh Lệ
Đồng Nai Hưng Thịnh Đất Bồ Đề
#ĐáVàng Lùm Trần Thương #TreTrúcLâm
Khi mệt tựa cây để nghỉ ngơi.
HOÀNG KIM VUI BẠN HIỀN
Nghe Cổ Vật Nói Chuyện
Loạn Động Cơ Trời Triệt Nói Nhăng
An Tĩnh Thời Đất Mạch Thanh Long
Vợ Thôi Lo Lắng Chăm Ăn Ngủ
Con Bớt Phân Tâm Sóc Nhẹ Lòng
Thầy Vững Thân Tâm Bền Sử Ký
Bạn Quý #annhiên và #Thungdung
#cnm365 #tìnhyêucuộcsống
Ta với AI vui bớt luận bàn

CỤ NGUYỄN KHÔI NGƯỜI HIỀN
Tiếng Trung 21 Ngày
drnoSpeotsi012fu61f9l4tl521ờacc68422ggtifc07h 54m0021lm48641·
CHỮ CHỒNG CHỮ TẠO MỚI
(金) – Kim là kim loại, vàng. (金) – Kim, ba chữ kim tạo thành chữ Hâm (鑫)
Khi chồng ba chữ Kim lên nhau, ra được chữ Hâm (鑫) – giàu có, thịnh vượng.
Ba đống vàng mà không giàu mới là sự lạ.
(木) – Mộc là cây, cây cối.
Khi chồng ba chữ Mộc lên nhau, ra được chữ Sâm (森) – sum suê, rậm rạp.
Chữ Sâm đẹp cả về tượng hình và ý nghĩa. Nhiều người thích chữ này đến mức còn dùng sâm sâm 森森 để sum suê lại càng sum suê. Lắt léo chữ nghĩa: Từ lâm đến sâm
https://thanhnien.vn/lat-leo-chu-nghia-tu-lam-den-sam-185913093.htm
(水) – Thủy là nước, (水) – Thủy, ba chữ thủy tạo thành chữ Diểu (淼)
(火) – Hỏa là lửa.
Khi chồng ba chữ Hỏa lên nhau, ra được chữ Diễm (焱) – Tóe ra lửa.
Một Hỏa đã đủ nguy hiểm, ba Hỏa thì phải tóe ra lửa là đúng rồi. Có lẽ chỉ Bà La Sát ở Hỏa Diệm Sơn trong Tây Du Ký mới thích chữ Diễm (焱) – Tóe ra lửa.
(土) – Thổ là đất.
Khi chồng ba chữ Thổ lên nhau, ra được chữ Nghiêu (垚) – đống đất cao.
Đúng là hiền như đất, chồng ba đất lên nhau cũng chỉ tạo thành đống đất, không làm hại ai cả.
(祿) – Lộc là phúc lộc, tài lộc, bổng lộc và sự thịnh vượng, may mắn trong cuộc sống, là “Phúc-Lộc-Thọ” (福禄寿) trong văn hóa phương Đông, ước vọng một cuộc sống sung túc và đầy đủ. (祿) – Lộc chiết thư Hán Việt là 礻 彑 水 (Kỳ Kế Thủy) – ông thần đất, đầu heo, nước. Muốn có nhiều Lộc phải được ông thần đất phù hộ, sản vật nuôi trồng, và nhất là phải gần nơi có nhiều nước. Nguồn : https://macvuong.com/2102-2/
(原) – Nguyên, tiếng Việt nghĩa là cái gốc, cái ban đầu, lúc ban đầu
khi chống ba chữ Nguyên lên nhau, tạo thành chữ Nguyên (厵)
Danh từ cái gốc, cái ban đầu, lúc ban đầu ông giám đốc nguyên là bộ đội xuất ngũ nơi này nguyên là bãi đất hoang Đồng nghĩa: vốn Tính từ được giữ hoàn toàn như thế, không có gì khác đi, không có gì thay đổi cơm canh còn nóng nguyên số tiền vẫn nguyên Phụ từ (Khẩu ngữ) chỉ có như thế, không có gì thêm hoặc không có gì khác chỉ nguyên việc đó thôi cũng đủ rắc rối. yếu tố ghép trước để cấu tạo danh từ chỉ chức vụ, có nghĩa vốn là, trước đây không lâu đã từng làm, như: nguyên thủ tướng, nguyên bộ trưởng, v.v.. Đồng nghĩa: cựu
(龍) – Long là rồng,
khi chồng ba chữ Long sẽ có chữ Đạp (龘) – rồng bay nhanh.
“Long” trong tiếng Việt có nhiều nghĩa tùy ngữ cảnh: Danh từ chữ Hán (龍) nghĩa là rồng (tượng trưng vua chúa, sức mạnh) hoặc dùng trong tên gọi như “Long mạch” (phong thủy), (Danh từ tên riêng phổ biến Giống Khoai lang Hoàng Long, khi là Động từ nghĩa là Tôn sùng “long sư” 隆師 tôn kính thầy. Làm cho cao thêm. ◎Như: “long tị” 隆鼻 sửa mũi cho cao lên. ◇Chiến quốc sách 戰國策: “Tuy long Tiết chi thành đáo ư thiên, do chi vô ích dã” 雖隆薛之城到於天, 猶之無益也 (Tề sách nhất 齊策一) Tuy có nâng cao thành Tiết tới đụng trời, cũng vô ích. Tính từ (từ tiếng Anh) nghĩa là dài, lâu, xa; Đầy, nhiều, dày. ◎Như: “long trọng” 隆重 trọng thể, “đức long vọng trọng” 德隆望重 đức dày giá trọng.
Tính từ Hưng thịnh, hưng khởi. ◎Như: “hưng long” 興隆, “long thịnh” 隆盛.
9 Tính từ Sâu, thắm thiết. ◎Như: “long tình hậu nghị” 隆情厚誼 tình nghĩa thắm thiết.
10 (Tính) Cao, gồ lên. ◎Như: “long khởi” 隆起 nhô lên, “long chuẩn” 隆準 sống mũi cao.
Từ điển trích dẫn
1. (Danh) Họ “Long”.
2. (Danh) Phong thủy Long mạch
3. (Danh) Giống Khoai lang Hoàng Long
4. (Động) Tôn sùng. ◎Như: “long sư” 隆師 tôn kính thầy.
5. (Động) Làm cho cao thêm. ◎Như: “long tị” 隆鼻 sửa mũi cho cao lên. ◇Chiến quốc sách 戰國策: “Tuy long Tiết chi thành đáo ư thiên, do chi vô ích dã” 雖隆薛之城到於天, 猶之無益也 (Tề sách nhất 齊策一) Tuy có nâng cao thành Tiết tới đụng trời, cũng vô ích.
6. Tính từ (từ tiếng Anh) nghĩa là dài, lâu, xa;
7. (Tính) Đầy, nhiều, dày. ◎Như: “long trọng” 隆重 trọng thể, “đức long vọng trọng” 德隆望重 đức dày giá trọng.
8. (Tính) Hưng thịnh, hưng khởi. ◎Như: “hưng long” 興隆, “long thịnh” 隆盛.
9 (Tính) Sâu, thắm thiết. ◎Như: “long tình hậu nghị” 隆情厚誼 tình nghĩa thắm thiết.
10 (Tính) Cao, gồ lên. ◎Như: “long khởi” 隆起 nhô lên, “long chuẩn” 隆準 sống mũi cao.
Từ điển Thiều Chửu
① Ðầy ùn, đầy tù ụ, đầy đặn lại lớn lao. Vì thế nên cái gì lồi lên trội lên gọi là long khởi 隆起.
② Thịnh, dày. Như đức long vọng trọng 德隆望重 đức thịnh giá trọng.
③ Hậu. Như chí nghị long tình 摯誼隆情 nghĩa thiết tình hậu.
④ Long long 隆隆 ù ù, tiếng sấm động.
⑤ Tôn quý, cao nhất.
⑥ Lớn.
Từ điển Trần Văn Chánh
① Trọng thể, trọng hậu: 隆重 Long trọng;
② Hưng thịnh: 興隆 Hưng thịnh; 隆盛 Thịnh vượng;
③ Sâu, hậu, thắm thiết: 隆情厚誼 Tình nghĩa thắm thiết, nghĩa thiết tình hậu;
④ Gồ lên, lồi lên, u lên: 他碰得前額隆起一個大包 Trán anh ấy va u lên một cục to;
⑤ (văn) Cao quý, tôn quý, nổi tiếng, vẻ vang;
⑥ (văn) Lớn;
⑦【隆隆】long long [lóng lóng] (thanh) Ầm ầm: 雷聲隆隆 Sấm sét ầm ầm;
⑧[Lóng] (Họ) Long.
Từ điển Nguyễn Quốc Hùng
Tốt đẹp. Hưng thịnh — Phong phú, đầy đặn — To lớn — Ngọn núi nhỏ cao lên.
Tự hình 3 Dị thể 15 Chữ gần giống 1 Từ ghép 11 Một số bài thơ có sử dụng
(人) – Nhân là người.
Khi chồng ba chữ Nhân lên nhau, ra được chữ Chúng (众) – đông người.
Có lý và thú vị.
(手) – Thủ là tay.
Khi chồng ba chữ Thủ lên nhau, ra được chữ Vát (掱) – kẻ trộm, kẻ cắp.
Người bình thường chỉ có hai tay, cho nên ba tay đích thị là ăn trộm, ăn cắp rồi.
(日) – Nhật là ngày, mặt trời.
Khi chồng ba chữ Nhật lên nhau, ra được chữ Tinh (晶) – óng ánh, trong suốt.
Đúng quá, một Nhật đã là sáng rõ, thì ba Nhật phải ở cấp độ óng ánh.
(車) – Xa là xe.
Khi chồng ba chữ Xa lên nhau, ra được chữ Oanh (轟) – Ầm, oành, sầm sầm, xình xịch, tiếng một đoàn xe chạy.
Một Xa là xe thì ba Xa là đoàn xe, đoàn xe chạy tất nhiên phải ồn ào rồi. Chuẩn không cần chỉnh.
(力) – Lực là sức lực.
Khi chồng ba chữ Lực lên nhau, ra được chữ Hiệp
(劦) – Hợp sức của nhiều người lại để cùng làm việc gì đó.
Như vậy khi dùng “hiệp lực” trong tiếng Việt, có vẻ thừa chữ “lực” ?. Vì bản thân chữ “hiệp” là đã đủ nghĩa.
(言) – Ngôn là nói,
khi chồng ba chữ Ngôn lên nhau, sẽ có chữ Đạp (譶) – nói nhanh như bắn súng liên thanh. Chữ Đạp của ba chữ Ngôn (譶) đồng âm, nhưng khác nghĩa với chữ Đạp (龘) tạo bởi ba chữ Long (龍).
(女) – Nữ, là giới tính cái, phụ nữ, đàn bà, người con gái
khi chồng ba chữ nữ tạo thành chữ Gian (姦)
(人) – Nhân, là Người
khi chống ba chữ Nhân (人) tạo thành chữ Chúng (众)
Các nghĩa phổ biến của “Nhân”: con người: Người, nhân loại, nhân tài, nhân viên, nhân dân, nhân sinh, nhân vật. Lòng nhân ái/Đạo đức: Lòng thương người, đạo đức làm người (nhân đạo, nhân nghĩa, nhân từ, nhân phẩm). Hạt: Phần lõi bên trong quả (đào nhân, nhân trần). Phép tính/Toán học: Phép nhân (số nhân, số bị nhân). Nguyên nhân/Lý do: (Nguyên nhân, nhân quả, tác nhân). Nhân tiện/Dịp: Chỉ sự thuận tiện, có liên quan (nhân dịp năm mới, nhân khi lửa tắt). Tính cách/Phẩm chất: (Đọc văn biết người). Nguồn gốc và ý nghĩa sâu xa: Chữ “Nhân” (仁) ghép từ bộ “Người” (人) và bộ “Hai” (二), thể hiện mối quan hệ và sự tương tác giữa người với người, nhấn mạnh sự hòa hợp và tình thương
(口) – Khẩu, ba chữ khẩu tạo thành chữ Phẩm (品)
(手) – Thủ, ba chữ thủ tạo thành chữ Vát (掱)
(日) – Nhật, ba chữ nhật tạo thành chữ Tinh (晶)
(木) – Mộc, ba chữ mộc tạo thành chữ Sâm (森)
(火) – Hỏa, ba chữ hỏa tạo thành chữ Diễm (焱)
(土) – Thổ, ba chữ thổ tạo thành chữ Nghiêu (垚)
(車) – Xa, ba chữ xa tạo thành chữ Oanh (轟)
(力) – Lực, ba chữ lực tạo thành chữ Hiệp (劦)
(又) – Hựu, ba chữ hựu tạo thành chữ Nhược (叒)
(吉) – Cát, ba chữ cát tạo thành chữ Triết (嚞)
(子) – Tử, ba chữ tử tạo thành chữ Chuyển (孨)
(心) – Tâm, ba chữ tâm tạo thành chữ Tỏa (惢)
(毛) – Mao, ba chữ mao tạo thành chữ Thúy (毳)
(泉) – Tuyền, ba chữ tuyền tạo thành chữ Tuyền (灥)
(馬) – Mã, ba chữ mã tạo thành chữ Bưu (驫)
(牛) – Ngưu, ba chữ ngưu tạo thành chữ Bôn (犇)
(犬) – Khuyển, ba chữ khuyển tạo thành chữ Tiêu (猋)
(羊) – Dương, ba chữ dương tạo thành chữ Chiên (羴)
(魚) – Ngư, ba chữ ngư tạo thành chữ Tiên (鱻)
(田) – Điền, ba chữ điền tạo thành chữ Lũy (畾)
(白) – Bạch, ba chữ bạch tạo thành chữ Hiểu (皛)
(直) – Trực, ba chữ trực tạo thành chữ Súc (矗)
(石) – Thạch, ba chữ thạch tạo thành chữ Lỗi (磊)
(耳) – Nhĩ, ba chữ nhĩ tạo thành chữ Chiệp (聶)
(屮) – Triệt, ba chữ triệt tạo thành chữ Hủy (芔)
(虫) – Trùng, ba chữ trùng tạo thành chữ Trùng (蟲)
(言) – Ngôn, ba chữ ngôn tạo thành chữ Đạp (譶)
(貝) – Bối, ba chữ bối tạo thành chữ Bí (贔)
(隹) – Chuy, ba chữ chuy tạo thành chữ Tập (雥)
(風) – Phong, ba chữ phong tạo thành chữ Hu (飍)
Đọc thơ bên cây báng
Kinh Nhật Tụng Nguyễn Khôi
Càng đọc càng thấm thía
Hoa Đất thương lời hiền
Người Đình Bảng Nguyễn Khôi
“KINH NHẬT TỤNG
Nguyễn Khôi 85 Xuân
Tặng Nguyễn Đức Thìn
Càng ít người biết đến
Tính an toàn càng cao
Muốn yên thân thanh thản
Tránh xa chốn ồn ào .
Không câm nhưng chẳng nói
Không điếc mà chẳng nghe
Không đi vẫn lãng tử
Hoài trông cõi mịt mù .
Trong túi không bạc vàng
Thả hồn thơ lãng đãng
Cơm muối vừng, khoai lang
Thấy trong người khỏe khoắn.
Được nhiều thì mất lắm
Danh cao bộn thị phi
Ôm nhiều vai trĩu nặng
Xuôi tay chẳng còn gì .
Biển đời đang cuồn cuộn
Hòn cuội đáy biển sâu
Ngắm thỏa muôn trùng sóng
Lung linh đủ sắc màu “.
Cụ Khôi Trai Đình Bảng
Sức viết trãi vạn trang
Nhớ “SỐNG CHỤ SON SAO”
Đỉnh cao văn học Thái
Áng thơ hay tuyệt diệu
Lời dặn thật chân tình
“Đọc thơ bên cây báng”
Vui trọn mùa thanh minh.
Đọc Thơ Bên Cây Báng
Tiếng Trung Hâm Mốt Ngày
Trai Đình Bảng Cổ Pháp
Thái “Sống Chụ Son Sao”
Đại Thọ Kính Cụ Khỏe
#Annhiên và #Thungdung
Kim Hoàng (bố con) Hoang To Nguyen
https://hoangkimlong.wordpress.com/2026/01/17/cu-nguyen-khoi-nguoi-hien/

HOÀNG TỐ NGUYÊN TIẾNG TRUNG
黄素源 (越南) Hoàng Tố Nguyên Việt Nam
Dạy và học tiếng Trung trực tuyến
#htn Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung https://hoangkimvn.wordpress.com/category/hoang-to-nguyen-tieng-trung/ và https://hoangkimlong.wordpress.com/tag/hoang-to-nguyen-tieng-trung. Tôn vinh giá trị Việt Bài học mới mỗi ngày
Xây dựng học liệu mở #htn #vietnamxahoihoc #cnm365 #dayvahoc #vietnamhoc, #cltvn Việt Nam xã hội học (越南社会学; Vietnamese Sociology) Ngữ văn Việt Trung đối chiếu là môn học bảy bài Xã hội Việt Nam ngày nay; Nông nghiệp sinh thái Việt; Ngành nghề ở Việt Nam; Vùng sinh thái Việt Nam; Du lịch sinh thái Việt; Nước Việt Nam ngày nay; Việt Nam con đường xanh với 36 tiểu mục, là sách học Việt Trung.
Bài 1 Xã hội Việt Nam ngày nay có 5 tiểu mục:1.1 Việt Nam một khái quát; 1.2 Việt Nam con đường xanh; 1.3 Việt Nam tâm thế mới;1.4 Việt Nam sáng tạo KHCN; 1.5 Việt Nam dư địa chí Việt Nam xã hội học bách khoa mở 越南社会学开放百科全书 Vietnam Sociology Open Encyclopedia tích hợp thông tin mới trên cấu trúc Việt Nam xưa và nay để bổ sung Ngữ văn Việt Trung đối chiếu phục vụ học tập giảng dạy nghiên cứu
https://hoangkimlong.wordpress.com/ & https://cnm365.wordpress.com/ & https://exotrails.com/press

Hoàng Gia Minh Tiếng Trung #hgm365 Y2B5 https://youtu.be/-NHQBTSxie8
Hoàng Gia Minh Tiếng Trung #hgm365 Y2B6P1 https://youtu.be/0__1J87UJdE
Hoàng Gia Minh Tiếng Trung #hgm365 Y2B6P2 https://youtu.be/D8dygFvyOHM
Hoàng Gia Minh Tiếng Trung #hgm365 Y2LC7P1 https://youtu.be/UDgVkYwuxgE
Hoàng Gia Minh Tiếng Trung #hgm365 Y2LC7P2 https://youtu.be/XldVIISVbYM
Hoàng Gia Minh Tiếng Trung #hgm365 Y2LC8 https://youtu.be/6wt-WhZUXis
Hoàng Gia Minh Tiếng Trung #hgm365 Y2LC9 https://youtu.be/4FQm7MwAKd4
Hoàng Gia Minh Tiếng Trung #hgm365 Y2LC10 https://youtu.be/PfqycTl8kgc
Hoàng Gia Minh Tiếng Anh 119 #hgm365 https://youtu.be/-ptXByndF3I


H

HOÀNG TỐ NGUYÊN TIẾNG TRUNG
LAN TỎA GIÁ TRỊ VIỆT Bình Minh An ngày mới (ảnh dưới) ; Chuyện thầy Lê Văn Tố; #htn365 Hội thảo Tiếng Trung https://youtu.be/2NvBbXrtsWI ; Thành tâm với chính mình Gia Cát Mã Tiền Khóa; Nhà Trần trong sử Việt “Hãy canh gác cánh cửa tâm trí. Việc chúng ta trở thành thế nào chủ yếu được quyết định bởi những người chúng ta gặp, những sự kiện chúng ta tham gia, những cuốn sách chúng ta đọc, và lối sống mà chúng ta lựa chọn.” #cnm365 Tình Yêu Cuộc Sống


BÌNH MINH AN NGÀY MỚI
Cháu chơi gần gũi vườn nhà
Mẹ còn bận dạy, bố xa chưa về
Bồ Đề lối chính chân quê
#Thungdung hoa cỏ, lắng nghe lời lành
Suối Tiên vui Thảo Cầm Viên
Xuân Hòa phường mới *, Nam Gianh quê mình
Bình Minh An gắng học hành
Hưng Thịnh ngày mới #annhiên chốn hiền **
https://www.facebook.com/watch/?v=1566363074694004&rdid=oogvXujrdaBgSS6I

Học với chữ Hán Nôm
TIẾNG VIỆT LUNG LINH SÁNG
#cnm365 cập nhật mỗi ngày
Hoàng Kim
Tiếng Việt lung linh sáng
‘Muốn sang thì bắc cầu kiều‘
Chuyện đồng dao cho em
Bài đồng dao huyền thoại
Ca dao Việt “Cày đồng”
Mãn Giác thơ “Hoa Mai”
Tiếng Việt lung linh sáng
Thơ Việt ngoài ngàn năm
Trần Khánh Dư “Bán than”
Phạm Ngũ Lão Thuật Hoài
Nguyễn Trãi Dục Thúy Sơn
Đặng Dung thơ Cảm hoài.
Dân ca truyền di sản
Ca dao lọc tinh hoa
Đầu tiên tới cuối cùng
Học ăn và học nói
Kim Notes lắng ghi chú *
THƠ CỔ VÀ ĐI ĐƯỜNG
“Núi cao ta trông
Đường rộng ta đi
Dẫu chưa tới đích
Nhưng lòng hướng về“
(Thơ cồ: Kinh Thi)
Việt Bắc Nhớ Bác Hồ bài 1 đến bài 10
CHỢT GẶP MAI ĐẦU SUỐI
“Nghìn dặm tìm anh chẳng gặp anh/ Đườn…

#cnm365 Tình Yêu Cuộc Sống
#Annhiên Và #Thungdung
Chính Trung Hiếu Thiện Lành
Đồng Nai Đất Và Người
Sông Sài Gòn Bến Nghé
Cây Lương Thực (Food Crops)
Nguyễn Du trăng huyền thoại
Việt Bắc nhớ Bác Hồ
Lớp 10ATT ĐHNN2 Hà Bắc năm 2022 vừa có chuyến Du lịch sinh thái Việt điểm đến Việt Bắc nhớ Bác Hồ, Một số bạn lên thăm bạn Tây Nguyên, Phú Yên và một số ảnh tuyển chọn khác. Tỉnh thức trong tôi bài Măng Đen và Nhớ Đăk Tô Tân Cảnh



(*) Câu chuyện ngày hôm nay là tiếp nối chuyện cũ


















Nắng sớm, ảnh Đặng Hồng Kỳ

Đậu rồng là Cây dược liệu vườn nhà, dễ trồng và thích nghi rộng ở Việt Nam. Giống đậu rồng Bình Minh phổ biến hiện nay (2026), dễ thu hái, bảo quản, và có nhiểu công dụng thưc tế xem thêm Đậu rồng nguồn Wikipedia Tiếng Việt và Thầy Tuấn trong lòng tôi https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-tuan-trong-long-toi/ Phần trích dẫn Đậu rồng có liên quan (1) Kim H.; Buresova, M, 1986. Growing winged bean on natural supports under the conditions of South Vietnam. In: Agricultura Tropica et Subtropica, Universitas Agriculturae Praga, No. 19; p. 225 – 236 En. Sum. En. 14 Ref. In CIAT 1990 National Bibliographies Cassava in Asia East and Southeast Asia, p. 416 ; 2) Buresova, M.; Kim, H.; Quyen, T.N.,1987. The economics og winged bean on manioc as natural supports under the conditions of South Vietnam. In: Agricultura Tropica et Subtropica, Universitas Agriculturae Praga, No. 20; p. 101 – 114 En. Sum. En.; Sk., Ru.,8 Ref. In: CIAT 1990 National Bibliographies Cassava in Asia East and Southeast Asia, p. 416; 3) Hoang Kim, M. Buresova, Tran Ngoc Quyen and Nguyen Van Chuong, 1988 Economic of Winged bean on Maize as natural support in South Vietnam. In: Agricultura Tropica et Subtropica, Universitas Agriculturae Praga, No. 21; p. 45 – 59 En. Sum. En.; Sk., Ru.,9 Ref.)
Đu Đủ, Cây dược liệu vườn nhà, dễ trồng và thích nghi rộng ở Việt Nam, là cây quen thuộc, vị thuồc quanh ta, trong đời sống hàng ngày. Cây Đu Đủ những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam Đõ Tát Lợi https://vnras.com/cay-du-du-nhung-cay-thuoc-va-vi-thuoc-viet-nam-do-tat-loi/, Cây đu đủ (Carica papaya L.) là vị thuốc quý trong Y học cổ truyền Việt Nam, sử dụng nhiều bộ phận như quả (xanh/chín), lá, hoa đực, nhựa và hạt để chữa bệnh đường ruột (giun sán), ho, tiêu hóa (khó tiêu, loét dạ dày), sốt xuất huyết, tim mạch, làm đẹp da, tăng tiết sữa mẹ và hỗ trợ điều trị nhiều chứng bệnh khác nhờ enzyme papain, carpain và nhiều vitamin, khoáng chất có lợi. Tuy nhiên, phụ nữ có thai cần cẩn trọng với đu đủ xanh, theo Cục An toàn thực phẩm và báo Sức khỏe & Đời sống. Tác dụng chữa bệnh của cây đu đủ |Vị thuốc quanh ta.
Hoàng Kim *

(*) Hoàng Kim Cây lương thực (Food Crops)
Cây Lương thực Việt Nam Chọn giống Cây Lương thực Dạy học nghề làm vườn Thầy Quyền thâm canh lúa
Tham khảo
Bài thuốc từ cây đu đủ , lương y Nguyễn Công Đức I Long An TV là kinh nghiệm quý https://youtu.be/IyiTuosro50?si=cRlSRFZDzywgeEZw,
Cây Đu Đủ có tác dụng gì | Vị thuốc quanh ta 24-6-2025 | Điện Biên TV https://youtu.be/_D8Ljzb0-H0?si=Q3gQeKb79RNFbYDz
Trồng đu đủ lùn thu 100 triệu/năm | VTC16
Tác dụng chữa bệnh của cây đu đủ |Vị thuốc quanh ta.

“Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong” của nhà thơ Trần Kim Dung sẽ được Nhóm Bạn văn & Miền chữ tổ chức ra mắt vào sáng 18/1/2026.
Qúy Thơ Ca Điểm Hẹn
‘Bầu trời dưới đáy sông’
Trọng ‘muôn nỗi gần xa’
Hiền ‘những dấu chân thơ’
Cô Giáo Trần Kim Dung4
Sông Sài Gòn Bến Nghé5
Sử Thi Đất Thành Đồng6
Hoàng Kim
#cnm365 Tình Yêu Cuộc Sống chúc mừng chị Trần Kim Dung, Cảm ơn Nguyên Hùng bạn xứ Nghệ và Hội Thơ Nghệ Tĩnh Tại Thành Phố Hồ Chí Minh

Việt Bắc nhớ Bác Hồ (Bài 4)
NGƯỜI VỊN TRỜI CHẤP SÓI
Việt Bắc nhớ Bác Hồ (Bài 5)
BẢN GIỐC VÀ KA LONG
Việt Bắc nhớ Bác Hồ (Bài 6)
HỒ BA BỂ BẮC KẠN
Việt Bắc nhớ Bác Hồ (Bài 7)
LÊN VIỆT BẮC ĐIỂM HẸN
Việt Bắc nhớ Bác Hồ (Bài 8)
ĐỀN BÀ CHÚA THƯỢNG NGÀN
Việt Bắc nhớ Bác Hồ (Bài 9)
YÊN LÃNG HỒ CHÍ MINH

YÊN LÃNG HỒ CHÍ MINH
Nôi đất Việt yêu thương
Mỏ than Hồng giữ lửa
Thơ tình Hồ Núi Cốc
Yên Lãng Hồ Chí Minh

Đền Bà Chúa Thượng Ngàn
Chợt gặp mai đầu suối
Thanh trà Thủy Biều Huế
Mai Hạc vầng trăng soi
Cánh cò bay trong mơ
Một niềm tin thắp lửa
Giấc mơ lành yêu thương
Đồng xuân lưu dấu hiền
Hoàng Kim

THƠ TÌNH HỒ NÚI CỐC
Anh đến tìm em ở Bến Mơ
Một trời thu đẹp lắng vào thơ
Mênh mang mường Mán mình mong mỏi
Lấp loáng luồng Lưu lượn lững lờ
Núi Cốc chùa Vàng xao xuyến đợi
Sông Công đảo Cái ước mong chờ
Nham Biền, Yên Lãng uy nghi quá
Tam Đảo, Trường Yên dạ ngẫn ngơ.
Hoàng Kim
Hồ Núi Cốc là quần thể du lịch sinh thái thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên cách trung tâm thành phố 15 km về hướng Tây Nam theo lộ Đán -Tân Cương – núi Cốc. Nơi đây có núi Cốc, sông Công, hồ núi Cốc – vịnh Hạ Long, hồ trên núi – với diện tích mặt hồ khoảng 25 km2. Đền Hồ Chí Minh trên rừng Yên Lãng, đỉnh đèo De dưới là mỏ than núi Hồng giữ ngọn lửa thiêng, vùng huyền thoại chuyện tình yêu thương. Đảo Cái lưu dấu những cổ vật đặc biệt quý hiếm. Chùa Vàng và đền bà chúa Thượng Ngàn nổi tiếng. Đây là vùng đất địa linh của tam giác châu giữa lòng của vòng cung Đông Triều với dãy Tam Đảo có 99 ngọn Nham Biền chạy xuống Yên Tử , trường thành chắn Bắc (hướng kia là dãy Tản Viên 99 ngọn chạy dọc sông Đáy tới Thần Phù, Nga Sơn nối Trường Sơn tạo thế trường tồn và mở mang cho dân tộc Việt. Đây là vùng thiên nhiên trong lành, suối nguồn tươi trẻ, lưu dấu tích anh hùng, mỹ nhân trong vầng trăng, bóng nước giữa rừng …Nôi đất Việt yêu thương/ Mỏ than Hồng giữ lửa/ Thơ tình Hồ Núi Cốc / Yên Lãng Hồ Chí Minh/ Đền Bà Chúa Thượng Ngàn / Chợt gặp mai đầu suối/ Thanh trà Thủy Biều Huế/ Mai Hạc vầng trăng soi/ Cánh cò bay trong mơ/ Một niềm tin thắp lửa/ Giấc mơ lành yêu thương / Đồng xuân lưu dấu hiền
Những tác phẩm âm nhạc vượt thời gian Huyền thoại Hồ Núi Cốc, nhạc và lời Phó Đức Phương, trình bày Vũ Phong Vũ (bản khác NSƯT Thanh Hoà), Thanh Lam Tùng Dương ; Hồ trên núi, nhạc và lời Phó Đức Phương, trình bày Hồ Quỳnh Hương (bản khác NSƯT Anh Thơ); Thơ giao lưu Hồ Núi Cốc giữa những người bạn Mùa Thu Vàng, Hà Duy Tự, Trúc Nhã, LamCa07, Hoàng Kim… được giao hòa trong khung cảnh thiên nhiên lộng lẫy, kỳ thú này.
Chương trình Sắn Việt Nam cùng Chương trình Sắn Châu Á nhiều lần họp tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng đi khảo sát các vùng sắn ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái, … và đã có hai lần thăm Hồ Núi Cốc.
Lưu lại những ấn tượng khó quên về một vùng đất thiêng liêng của Tổ Quốc Việt Nam.




BÌNH SINH HỒ CHÍ MINH
Bình Sinh Đầu Ngẩng Tới Trời Xanh
Khuất núi hồn THƠM quyện đất lành
Anh hùng HỒ dễ nên nghiệp ấy
Tâm hồn bình dị CHÍ anh MINH
Hoàng Kim cuối tháng ba năm 2008, có nhận được của anh Phan Chí Thắng một lá thư, nguyên văn: “Gửi Hoàng Kim. Cách đây mấy ngày, trong một cuộc tiếp xúc nhiều người, tôi vô tình được nói chuyện với anh H., cháu nội người đỗ đầu khoa Hội cùng năm với cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Dì ruột của anh H. lấy anh cả của ông LĐT. Anh H. kể là được nghe trực tiếp từ ông LĐT về bài tứ tuyệt được thêu trên trướng do 5 nhà cách mạng lão thành Nga gửi đến tang lễ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chỉ nghe một lần mà anh H. thuộc lòng cho đến bây giờ, thật xứng danh cháu nội cụ Hội Nguyên. Tôi xin chép lại vào đây để Hoàng Kim tham khảo “Bình sinh đầu ngẩng tới trời xanh / Khuất núi hồn THƠM quyện đất lành / Anh hùng HỒ dễ nên nghiệp ấy / Tâm hồn bình dị CHÍ anh MINH ” Có vài điểm thắc mắc: 1. Làm sao mà các nhà cách mạng Nga lại làm được thơ tứ tuyệt? Hay là họ nhờ ai đó làm giúp theo ý họ? 2. Các chữ viết hoa trong bài tứ tuyệt được thêu chữ hoa, nghĩa là có dụng ý. Ba chữ là lấy từ trong “Hồ Chí Minh”. Còn chữ “Thơm” có phải đó cũng là tên hoạt động của Bác Hồ trong thời gian công tác cùng với 5 nhà cách mạng Nga kia? Hay là một tên gọi khác của Bác mà rất ít người biết? Sơ bộ như thế đã, các nhà nghiên cứu sẽ tìm câu trả lời.
Hoàng Kim đã trả lời: 1. Cám ơn thư của Anh. Em trao đổi sớm (2008) vì biết rằng đây là một vấn đề không dễ “giải mã” trong ít ngày nên cần chép ngay để lưu lại một điểm nhấn nghiên cứu. Nhiều sự thật lịch sử sẽ còn phải chờ đợi thêm một thời gian nữa mới có đủ thông tin. Cần đúng người, đúng việc, đúng liều lượng và đúng thời điểm. Với ước mong đi sâu tìm hiểu về một số nhân vật và địa danh lịch sử của dãi đất miền Trung, em đã tập hợp tư liệu tại chuyên trang “Chợt gặp mai đầu suối”.
2. Chữ “Thơm” và chữ “Hồ” trong câu thơ trên hình như có quan hệ đến Nguyễn Huệ (Hồ Thơm) và Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh). Cụ Hồ Sĩ Tạo (như là ông nội ruột của Hồ Chí Minh) với cụ Hồ Phi Phúc (cha của Nguyễn Huệ) hình như có quan hệ thân tộc. Có giả thuyết cho rằng tổ tiên nhà Tây Sơn vốn họ Hồ ở làng Hương Cái, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Họ theo chân chúa Nguyễn vào lập nghiệp miền Nam khi chúa Nguyễn vượt Lũy Thầy đánh ra đất Lê – Trịnh tới Nghệ An (năm 1655). Ông cố của Nguyễn Huệ tên là Hồ Phi Long (vào giúp việc cho nhà họ Đinh ở thôn Bằng Chân, huyện Tuy Viễn, tức An Nhơn) cưới vợ họ Đinh và sinh được một trai tên là Hồ Phi Tiễn. Hồ Phi Tiễn không theo việc nông mà bỏ đi buôn trầu ở ấp Tây Sơn, cưới vợ và định cư tại đó. Vợ của Hồ Phi Tiễn là Nguyễn Thị Đồng, con gái duy nhất của một phú thương đất Phú Lạc, do đó họ đổi họ của con cái mình từ họ Hồ sang họ Nguyễn của mẹ. Người con là Nguyễn Phi Phúc cũng chuyên nghề buôn trầu và làm ăn phát đạt. Nguyễn Phi Phúc có 8 người con, trong đó có ba người con trai: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ. Nguyễn Huệ sinh năm 1753 còn có tên là Hồ Thơm hay Quang Bình, Văn Huệ. Cụ Hồ rất trọng lịch sử nên giả thuyết cho rằng chữ “Thơm” có thể cũng là tên hoạt động của Bác Hồ trong thời gian công tác cùng với 5 nhà cách mạng Nga kia? Hay là một tên gọi khác của Bác mà rất ít người biết đều là có thể.
3. Câu thơ “Tâm hồn bình dị CHÍ anh MINH” em nhớ đến Bác và nhớ đến một người Thầy khác, đó là Norman Borlaug. (Mời đọc Borlaug và Hemingway Lời Thầy dặn thung dung). Cuộc đời Thầy cũng trong như ánh sáng. Thời gian và sự khen chê không làm xoá nhoà được dấu ấn nổi bật của Người. Norman Ernest Borlaug , sinh ngày 25 tháng 3 năm 1914, từ trần ngày 12 tháng 9 năm 2009 tại Texas, là nhà nông học Mỹ, nhà nhân đạo, người đoạt giải Nobel và ông được gọi là cha đẻ của Cuộc cách mạng Xanh. Ông là người đã nhận được đồng thời ba giải thưởng lớn Nobel Peace Prize, Presidential Medal of Freedom, Congressional Gold Medal vì những cống hiến đặc biệt cao quý cho nhân loại.
Ba năm trôi qua (2008-2011), nhiều tư liệu mới đã làm phong phú thêm nguồn nhận thức của chúng ta và đã có thêm tìm tòi mới về Bác. Hồ Chí Minh có thơ viết ở đền Trần và Bác đã dùng cụm từ “kẻ phi thường” để nói về Nguyễn Huệ và Công Uẩn trong hai câu “Nguyễn Huệ là kẻ phi thường” và “Công Uẩn là kẻ phi thường”. Điều chắc chắc là Bác biết rất rõ cụm từ “bậc phi thường” vì Bác là bậc Thầy về chữ nghĩa và rất cẩn trọng ngôn ngữ. Tại sao vậy? Đánh giá về Hồ Chí Minh hiếm câu nào hay hơn “Bình sinh đầu ngẩng tới trời xanh” và “Tâm hồn bình dị CHÍ anh MINH” nhưng kiến giải rõ hơn thì hình như vẫn cần thêm một thời gian nữa.
*
Bình sinh đầu ngẩng tới trời xanh! Báo cáo của Việt Nam gửi Quốc tế Cộng sản ngày 12 tháng 7 năm 1940 do Hồ Chí Minh soạn thảo là cẩm nang đón trước thời cơ “nghìn năm có một” của Tổng khởi nghĩa tháng 8 và Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945. Tài liệu tổng hợp, phân tích, đánh giá đầy đủ, toàn diện tình hình, sâu sắc hiếm thấy nhưng cực kỳ súc tích chỉ vắn tắt 12 trang. Đó là một trong số những thí dụ rõ nhất về thiên tài kiệt xuất của Hồ Chí Minh dám chớp thời cơ giành chính quyền và biết thắng. Hãy nghe Hồ Chí Minh phân tích tình thế: “Tóm lại, những điều kiện khách quan cho phép chúng tôi có hi vọng thành công. Song, lực lượng chủ quan- lực lượng của Đảng còn quá yếu. Như trên đã nói, một đảng mới mười tuổi lại trãi qua hai lần khủng bố lớn, số cán bộ có kinh nghiệm đấu tranh hiện còn đang rên xiết trong tù ngục, khiến đảng viên và quần chúng như “rắn mất đầu” không thể tận dụng cơ hội tốt “nghìn năm có một”. Chúng tôi liệu có khả năng làm thay đổi hoàn cảnh đó, khắc phục khó khăn đó, giúp Đảng hoàn thành sứ mạng lịch sử của nó hay không? Có. Chúng tôi nhất định không thể từ trong đánh ra. Chúng tôi chỉ có cách từ ngoài đánh vào. Nếu chúng tôi có được: 1) Tự do hành động ở biên giới; 2) Một ít súng đạn; 3) Một chút kinh phí; 4) Vài vị cố vấn thì chúng tôi nhất định có thể lập ra và phát triển một căn cứ địa chống Pháp, chống Nhật – đó là hi vọng thấp nhất. Nếu chúng tôi có thể mở rộng Mặt trận thống nhất các dân tộc bị áp bức, có thể lợi dụng mâu thuận giữa các nước đế quốc thì tiền đồ tươi sáng là có thể nhìn thấy được. Tôi rất hi vọng các đồng chí giúp tôi nhanh chóng giải quyết vấn đề này. 12.7.40.” (Hồ Chí Minh Toàn tập t. 3 tr. 162-174). Hơn nữa thế kỷ qua, HK đọc lại và suy ngẫm, càng đọc càng thấm thía thêm nhiều điều sâu sắc.
Theo chân người dẫn dường, tôi lưu lại dưới đây năm mẫu chuyện nhỏ, sự thật không là huyền thoại, về Chủ tịch Hồ Chí Minh
1

Nhà sàn của Bác Hồ
“Ngôi nhà sàn đơn sơ
Giữa thủ đô Hà Nội
Ngày lại ngày tiếp nối
Bác thênh thản xuống lên
Làm việc và chăm vườn
Cho cá ăn từng buổi
Di chúc 4 năm cuối
Bác đã viết tại đây“ (*)
2

Bác nghỉ chân Việt Bắc
Bác nghỉ chân sau mấy dặm ra đi
Rừng Việt Bắc chở che giây phút nghỉ
Chốn đất thiêng1 lưu lại thời trân quý
Bình Sinh Hồ Chí Minh Việt Nam
3

Yên Lãng Hồ Chí Minh
Bác đã hóa thân vào đất nước, quê hương
Tự chủ, tự tôn là máu thịt của chính mình
4

Đi dưới trời minh triết
Biển nhớ nơi nao Người lắng sóng
Bờ thương chốn cũ Bác trông thuyền
Bảo như trường kiếm xô sông dạt
Ninh Hải Thung Nham níu núi thiền *
5

Minh triết Hồ Chí Minh
“Ngủ thì ai cũng như lương thiện,
Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền;
Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn,
Phần nhiều do giáo dục mà nên”
(Nửa đêm, bản dịch của Nam Trân)
ảnh Bác Hồ với học sinh trường trung học Trưng Vương (Hà Nội) nǎm 1956 Ngành nghề ở Việt Nam lao động và việc làm, tác động rất sâu sắc đến đời sống văn hóa và xã hội. Minh triết Hồ Chí Minh trích dẫn lời dạy thấm thía của Bác trên Báo Thái Bình Từ triết lý giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh nghĩ về công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/minh-triet-ho-chi-minh
Việt Bắc nhớ Bác Hồ (Bài 10)
ĐÁ VÀNG VỚI BAN MAI

SOI SÁNG LẠI CHÍNH MÌNH
Đừng bao giờ ngừng cố gắng
Bảo tồn và phát triển tinh hoa di sản cho chính mình, gia đình, người thân, thầy bạn, quê hương và #vietnamhoc là niềm vui SOI SÁNG LẠI CHÍNH MÌNH lời dặn lại của đức Trúc Lâm Trần Nhân Tông, chứ không tìm ở đâu khác “Ở đời vui đạo , thả tùy duyên. Đói cứ ăn đi mệt ngủ liền. Kho báu trong nhà thôi tìm kiếm. Vô tâm, đối cảnh, hỏi chi THIỀN” (Cư trần lạc đao của Trần Nhân Tông, trích dẫn bởi Hoàng Kim, xem tiếp Thầy bạn là lộc xuân; xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/soi-sang-lai-chinh-minh và https://hoangkimlong.wordpress.com/category/trang-ram-ngoc-quan-am
ĐÁ VÀNG VỚI BAN MAI

TRĂNG RẰM NGỌC QUAN ÂM
Chẳng thể nào ngủ được đêm nay
Đêm Vu Lan mờ tỏ
Trăng rằm khuya lồng lộng giữa trời
Thăm thẳm một lời Người nói …
Mẹ cũ như ngôi nhà cũ
Chiếc áo mẹ mang bạc phếch tháng năm
Cha cũ như con thuyền cũ
Dòng sông quê hương thao thiết đời con
Anh chị cũ tình vẹn nghĩa
Trọn đời thương nhau lồng lộng trăng rằm
Em tôi hồn quê dáng cũ
Con cháu niềm vui thương thảo tháng năm.
Thầy bạn lộc xuân đầy đặn
Bài ca thời gian ngời ngợi trăng rằm.
Thắp đèn lên đi em
Đêm Vu Lan gặp bạn
Thương nhớ bài thơ cũ
Chuyện đời không nỡ quên …
Ngày mới và đêm Vu Lan
Vầng trăng Sao Hôm Sao Kim thân thiết.
Loanh quanh tìm tòi cái mới
Đêm Vu Lan thức về lại chính mình.
Trăng sáng lung linh, trăng sáng quá!
Đất trời lồng lộng một màu trăng
Dẫu đêm khuya vắng Người quên ngắm
Trăng vẫn là trăng, trăng vẫn rằm.

ĐI ĐƯỜNG
Hồ Chí Minh
“Đi đường mới biết gian lao,
Núi cao rồi lại núi cao trập trùng;
Núi cao lên đến tận cùng,
Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non”.
xem tiếp Học với chữ Hán Nôm các mẫu chuyện văn hóa tại chuyên mục Tiếng Việt lung linh sáng https://hoangkimlong.wordpress.com/2022/02/20/tieng-viet-lung-linh-sang/ tích hơp Hán Nôm Hội Quán
Trần Thanh Liêm
Người đóng góp nổi bật · dpnotsSero14ah9g9ch6ahhf atail2mt154pc08ft142l5imú989a760m0u ·
SƯU TẦM BÀI VIẾT HAY :
高山仰止
景行行止
(詩經)
CAO SƠN NGƯỠNG CHỈ
CẢNH HÀNH HÀNH CHỈ
(Thi kinh)
DỊCH NGHĨA :
Núi cao để ngưỡng trông, đường lớn để bước đi.
GIẢI NGHĨA :
Đức hạnh cao thượng như núi cao, khiến người đời phải ngước nhìn và kính trọng
Hành vi trong sáng, chính trực như con đường lớn thênh thang, là khuôn mẫu để người khác noi theo mà bước đi.
Câu này được dùng để tán dương và biểu lộ lòng ngưỡng mộ đối với các bậc thánh hiền, anh hùng, hoặc những người có công đức lớn, phẩm chất đáng kính.
(Câu này được viết tại cổng đền thờ các vị Vua Hùng tại Phú Thọ)

#htn365 BÌNH MINH AN TRUNG ANH
#hga365 @hoangkimvn https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana
#htn365 ChineseRd YCT1B7 Ôn Luyện Viết Bài 7 https://youtu.be/0bsJf9zOpSo
#htn365 ChineseRd YCT1B6 Ôn Luyện Viết Bài 6 https://youtu.be/9upRnNMH-NY
#htn365 ChineseRd YCT1B5 Ôn Luyện Viết Bài 5 https://youtu.be/6tY9-lrkwj8
#htn365 ChineseRd YCT1B4 Ôn Luyện Viết Bài 4 https://youtu.be/V815Fn3eLRg
#htn365 ChineseRd YCT1B3 Ôn Luyện Viết Bài 3 https://youtu.be/tLqgc2tm15M
#htn365 ChineseRd YCT1B2 Ôn Luyện Viết Bài 2 https://youtu.be/oz0eI3MibcE
#htn365 ChineseRd YCT1B1 Ôn Luyện Viết Bài 1 https://youtu.be/92fHc_bCmIY

TÔ ĐÔNG PHA TÂY HỒ
Tô Nguyễn đêm vui thú bạn hiền
Lúa sắn ngày chăm lo lớp trẻ
Thầy chiến sĩ trầm tích sử ký
Bạn nhà nông đúc kết tinh hoa.
TẬP DỊCH THƠ HÁN CỔ : TÔ ĐÔNG PHA TÂY HỒ Nuôi con ai chẳng muốn thông minh Ai ngỡ thông minh mãi hại mình Chi muốn con ta vô tư mãi #Thungdung làm người tốt #annhiên Hoàng Kim @hoangkimvn https://hoangkimvn.wordpress.com/

Chào ngày mới 13 tháng 7
CẢM ƠN ĐỜI CÓ PHƯỚC
Người có phước không phải ai cũng biết và biết trân trọng. Nam Mô A Di Đà Phật Cảm nhận Lời Vàng. https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-13-thang-7/ và https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-13-thang-7/;
#cnm365 #cltvn 13 tháng 7 Mừng ngày đức Quán Thế Âm Bồ Tát thành đạo 29 6 âm lịch https://thanhnien.vn/ngay-via-bo-tat-quan-the-am-thanh-dao-196-am-lich-tu-bi-hy-xa-la-gi-185250713075414839.htm & https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-12-thang-7/ & https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-12-thang-7/ #ana I DẠY VÀ HỌC

TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM
#htn, #hoangkimlong, #BanMai #vietnamxahoihoc, #htn365,#ana, #dayvahoc, #vietnamhoc, #cnm365, #cltvn #Vietcassava
“Quá cảnh trần gian mượn áo Người
Mặc vào ngộ nhận áo là Tôi” …
THUNG DUNG ĐỜI QUÊN TUỔI
Sống giữa thiên nhiên vẹn kiếp Người
Đời tâm thành ý thánh an Tôi
Chính trung hiếu thiện lành phước hậu
Giấc mơ hiền bước tới thảnh thơi
AN VIÊN NGỌC PHƯƠNG NAM
Tỉnh thức càn khôn chốn đại ngàn
Ngọc lành vàng đá giữa lầm than
Hoàng Thành trọn vẹn tinh hoa tốt
Trúc Lâm gìn giữ lửa hương tàn
Vận chuyển thời cơ lưu vẹn kiếp
Mệnh nung tâm huyết chí bền gan
Nhờ ai lem luốc tròn duyên nghiệp
Đất cảm trời thương thấu kẻ hàn.
tích hợp đối họa Bán than Trần Khánh Dư & Pháp Thiện Duyên Lành Phật Pháp tại #cnm365#cltvn 12 tháng 7 Chào ngày mới 12 tháng 7
BÁN THAN
Trần Khánh Dư
Một gánh kiền khôn quẩy tếch ngàn
Hỏi chi bán đó, dạ rằng than
Ít nhiều miễn được đồng tiền tốt,
Hơn thiệt nài bao gốc củi tàn
Ở với lửa hương cho vẹn kiếp
Thử xem sắt đá có bền gan
Nghĩ mình lem luốc toan nghề khác
Nhưng sợ trời kia lắm kẻ hàn.
Pháp Thiện cùng với Duyên Lành Phật Pháp.
Spnoedtosr41m906183m1c6u4a2tcm0 1a500la083 c6:84 fôllH7ql6ú2 ·

Chánh Kinh;
Tại Sàvatthi.
✓ Rồi Thiên tử Màgha, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Màgha nói với Thế Tôn bài kệ:
Sát vật gì được lạc?
Sát vật gì không sầu?
Có một pháp loại gì,
Ngài tán đồng sát hại,
Tôn giả Gotama?
(Đức Thế Tôn)
Sát phẫn nộ được lạc,
Sát phẫn nộ không sầu,
Phẫn nộ với độc căn,
Với vị ngọt tối thượng.
Pháp ấy bậc Thánh Hiền,
Tán đồng sự sát hại.
Sát pháp ấy không sầu,
Này Hiền giả Thiên nhân.
III. Màgha (S.i,47) (Tạp 49.16 Ma-khứu, Ðại 2,360c) (Biệt Tạp 15.11, Ðại 2,478c)
Trích Tương Ưng Bộ Kinh
Samyutta Nikaya
HT. Minh Châu dịch Việt
Tập I – Thiên Có Kệ
[02] Chương II
Tương Ưng Thiên Tử
-ooOoo-
Source;
https://www.budsas.org/uni/u-kinh-tuongungbo/tu1-02.htm
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật nguồn Duyên Lành Phật Pháp

#ana
#hgb 110 Hoàng Gia Bình Tiếng Anh 110 https://youtu.be/Bi2Bb4hBK3M

BÌNH MINH AN NGÀY MỚI
Một gia đình yêu thương
Trường học hướng ban mai
Sống #Annhiên #Thungdung
Bồ Đề Nôi Hạnh Phúc
Đường xuân đời quên tuổi
Tỉnh thức cùng tháng năm.
Ngọc Long ChineseRd cnm365
Ngọc Long ChineseRd cnm365 14 Chuẩn YCT 1 https://youtu.be/HlaCJgEHKK8
Ngọc Long ChineseRd cnm365 13 ÔN TẬP HSK https://youtu.be/AljzKWvchtg
Ngọc Long ChineseRd cnm365 12 HSK1 B11- 20 https://youtu.be/HCTs9GsriQU
Ngọc Long ChineseRd cnm365 11 HSK1 B 1 10 https://youtu.be/wXcqCQtLIU4
BÌNH MINH AN TRUNG ANH

Chào ngày mới 19 tháng 5
Ngày 19 tháng 5 năm 1890 là ngày sinh của Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (mất năm 1969); Ngày 19 tháng 5 năm 1941 Một hội nghị của Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh, theo đề xuất của Hồ Chí Minh; Ngày 19 tháng 5 năm 1959 Thành lập đơn vị vận tải quân sự chiến lược trên tuyến Đường mòn Hồ Chí Minh.
Bài chọn lọc ngày 19 tháng 5: Minh triết Hồ Chí Minh; Thầy dẫn đường của tôi; Con đường xanh yêu thương; Ngọc Phương Nam ngày mới; Một nếp nhà văn hóa, Một gia đình yêu thương; Một niềm vui ngày mới; Suy ngẫm từ núi Xanh; A Na bà chúa Ngọc; Tím một trời yêu thương; Thế sự bàn cờ vây; Học không bao giờ muộn; Pho tượng Ngọc Quan Âm; Trời mưa trong mắt ai; Chuyện ngậm ngãi tìm trầm; Nơi một trời thương nhớ; Ngọc Phương Nam ngày mới; Giống khoai lang Việt Nam; Giống khoai lang HL518; Giống khoai lang HL491; Giống khoai Hoàng Long;Thông tin tại https://hoangkimvn.wordpress.com/ và http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlong và https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-19-thang-5/;

MINH TRIẾT HỒ CHÍ MINH
Hoàng Kim
Tôi viết minh triết Hồ Chí Minh theo chính kiến và nhận thức của riêng mình. 19 tháng 5 là ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng là ngày thành lập Việt Minh, ngày khai sinh đường Hồ Chí Minh trong lịch sử. Chuỗi ba sự kiện lớn này đóng mốc son ngày 19 tháng 5 vào lịch sử Việt Nam và Thế giới đối với nền độc lập của nước Việt Nam ngày nay và sự nghiệp thống nhất Tổ quốc Việt Nam. Bác Hồ trọn đời minh triết. Bài viết này chỉ đề cập ba ý: Việt Nam Hồ Chí Minh là biểu tượng Việt; Bác Hồ nói đi đôi với làm, có lý có tình, mẫu mực đạo đức; Bác Hồ thực tiễn, quyền biến, năng động, rất ít trích dẫn. Tôi bổ sung hai sử liệu chọn lọc: Thư gửi Nguyễn Ái Quốc của Phan Châu Trình (bàn về phương pháp “ngọa ngoại chiêu hiền, đãi thời đột nội” (ngồi ở nước ngoài kêu gọi người tài giỏi, đợi thời để xông vào trong nước) với thông tin nhiều năm chiêm nghiệm Bước ngoặt lịch sử chiến tranh Đông Dương, sự thấu hiểu vì sao không có được giải pháp hợp tác khác hơn sự thật lịch sử đã xảy ra giữa Hồ Chí Minh với Bảo Đại, Trần Trọng Kim, Ngô Đình Diêm, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Trường Tam khi hình thành nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của nước Việt Nam mới
1. Việt Nam Hồ Chí Minh là biểu tượng Việt
Bác Hồ là biểu tượng của thế giới người hiền, là tinh hoa văn hóa Việt gốc và văn hóa tương lai.
Giáo sư Trần Văn Giàu trong bài viết Nhân cách lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luận về bảy phẩm chất nhân cách mà cũng là minh triết của Bác Hồ được con dân nước Việt và thế giới ngợi ca. Đó là : Ưu tiên đạo đức, Tận tụy quên mình, Kiên trì bất khuất, Khiêm tốn giản dị, Hài hòa kết hợp, Thương, quý người, nâng đỡ con người, thấu tình đạt lý, Yêu thiên nhiên, hòa hợp với thiên nhiên. Giáo sư Trần Văn Giàu kết luận: “Xin mượn ý của một nhà báo ở châu Đại Dương để tạm kết chủ đề luận về nhân cách Hồ Chủ tịch: Người ta không thể trở thành một Cụ Hồ Chí Minh, nhưng ở Cụ Hồ, mỗi người có thể học một số điều làm cho mình trở thành tốt hơn”.
Bác sĩ Vũ Đình Tụng đã kể câu chuyện Bức thư huyết lệ trong hàng vạn chuyện đời thường về Bác Hồ, xin được trích nguyên văn.
” 8 giờ đêm – một đêm tháng Chạp năm 1946 – bác sĩ Vũ Đình Tụng phải mổ một trường hợp chiến thương quá đặc biệt và rất đau lòng: một chiến sĩ “sao vuông” rất trẻ, tuy vết thương nặng, đạn xé tung cả một khúc ruột mà miệng vẫn mỉm cười, cái nụ cười quá quen thuộc và thân thương đối với bác sĩ. Anh tự vệ Thủ đô ấy, người chiến sĩ gan góc ấy lại chính là Vũ Văn Thành, con trai út của bác sĩ.
Suốt ngày hôm ấy, tôi đã phải mổ cưa gắp đạn và khâu vết thương cho hàng chục chiến sĩ nhưng đến trường hợp con tôi, thần kinh tôi căng lên một cách kinh khủng. Mấy người giúp việc khuyên tôi nên nghỉ tay, nhưng tôi vẫn cố kìm mình để giữ bình tĩnh gắp mảnh đạn cuối cùng trong thân thể người con. Xong việc, tôi loạng choạng rời khỏi bàn mổ.
Các bác sĩ và những người giúp việc đã cố gắng nhiều, nhưng vết thương do quân thù gây ra quá nặng đã cướp đi mất Thành, con trai của tôi, anh của Thành là Vũ Đình Tín, tự vệ chiến đấu cũng vừa bị mất sau ngày Tổng khởi nghĩa, tôi đau đớn đến bàng hoàng.
Một buổi chiều trời rét lắm, sau đêm Nôen cuối cùng ở bệnh viện Bạch Mai, bị bom đạn tàn phá, vào lúc tôi mổ xong một ca thương binh nhẹ thì bác sĩ Trần Duy Hưng, lúc bấy giờ giữ chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ trân trọng trao cho tôi một bức thiếp của Hồ Chủ tịch. Tôi cảm động quá. Mới đầu tôi cứ ngỡ là một mệnh lệnh mới của Người. Nhưng thật không ngờ, đó lại là một bức thư riêng đầy tình cảm lớn lao của Bác chia đau thương với gia đình tôi. Khi đó, Bác gọi tôi là “Ngài”.
“Thưa Ngài,
Tôi được báo cáo rằng: con giai Ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc.
Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột.
Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước – Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi, tinh thần họ luôn luôn sống với non sông Việt Nam.
Họ là con thảo của Đức Chúa, họ đã thực hiện cái khẩu hiệu: Thượng đế và Tổ quốc. Những thanh niên đó là anh hùng dân tộc. Đồng bào và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên ơn họ.
Ngài đã đem món quà quý báu nhất là con của mình, sẵn sàng hiến cho Tổ quốc. Từ đây, chắc Ngài sẽ thêm ra sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà thì linh hồn cháu ở trên trời cũng bằng lòng và sung sướng.
Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn Ngài, và gửi Ngài lời chào thân ái và quyết thắng.
Tháng 1-1947
Hồ Chí Minh”
Đọc xong bức thư, tôi thấy bàng hoàng. Bác bận trăm công nghìn việc, thế mà Bác vẫn nghĩ đến tôi, một gia đình đang có cái tang đau lòng như hàng vạn gia đình khác.
Tôi thấy nỗi đau thương và sự hy sinh của gia đình mình trở thành nhỏ bé trong cái tình thương mênh mông và sự hy sinh cao cả của Bác đối với cả dân tộc. Tôi nhủ mình sẽ phải làm tốt công việc để xứng đáng với sự hy sinh của các con và khỏi phụ lòng Bác.
Sau đó, tôi theo Bác lên Việt Bắc – căn cứ thần thánh của cách mạng Việt Nam. Từ một người thầy thuốc của xã hội cũ, một giáo dân ngoan đạo, tôi đã trở thành một người thầy thuốc tốt, một Bộ trưởng Bộ Thương binh xã hội của nước Việt Nam mới.
Vũ Đình Tụng kể, Lê Thân ghi, theo báo Nghệ An, tháng 9-1994
Tổ chức UNESCO tại kỳ họp Đại hội đồng lần thứ 24 ở Paris năm 1987 đã tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa“ do các đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Người trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, nghệ thuật, và Người đã dành cả cuộc đời mình cho sự giải phóng nhân dân Việt Nam, đóng góp cho cuộc đấu tranh chung vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của các dân tộc.
19 tháng 5 là ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là ngày thành lập Việt Minh và khai sinh đường Hồ Chí Minh trong lịch sử. Hành trình đến tự do hạnh phúc của dân tộc Việt đã trãi qua giành độc lập dân tộc và đấu tranh thống nhất Tổ quốc trong cuộc trường chinh thế kỷ . Minh triết của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp đấu trang giải phóng dân tộc và thống nhất Tổ quốc quy non sông vào một mối. Những việc khác Bác có Di chúc để lại cho đời sau. Công lao và những biến đổi phần sau không thể và không nên quy hết về Người. Có một số uẩn khúc đời người cần có đủ tư liệu mới đánh giá đầy đủ.
Bác Hồ có bài thơ “Chơi chữ” rất lạ vào những ngày đầu khởi lập nước Việt Nam mới.Đó t là một kỳ thư, kinh Dịch độc đáo, một luận giải sứ mệnh và tự đánh giá của Bác:
Chơi chữ
Hồ Chí Minh
(Bản dịch của Nam Trân):
Người thoát khỏi tù ra dựng nước,
Qua cơn hoạn nạn, rõ lòng ngay;
Người biết lo âu, ưu điểm lớn,
Nhà lao mở cửa, ắt rồng bay!
Nguyên tác:
Tù nhân xuất khứ hoặc vi quốc,
Hoạn quá đầu thì thuỷ kiến trung;
Nhân hữu ưu sầu ưu điểm đại,
Lung khai trúc sản, xuất chân long.
折字
Chiết tự
Chơi chữ
囚人出去或為國
患過頭時始見 忠
人有憂愁優點大
籠開竹閂出真龍
Chiết tự là một hình thức phân tích chữ Hán ra từng bộ phận để thành những chữ mới, có ý nghĩa khác với ý nghĩa ban đầu. Theo lối chiết tự, bài thơ này còn có nghĩa đen như sau: chữ tù (囚) bỏ chữ nhân (人), cho chữ hoặc (或) vào, thành chữ quốc (國). Chữ hoạn (患) bớt phần trên đi thành chữ trung (忠). Thêm bộ nhân (人) đứng vào chữ ưu (憂) trong “ưu sầu” thành chữ ưu (優) trong “ưu điểm”. Chữ lung (籠) bỏ bộ trúc đầu (竹) thành chữ long (龍).
2. Bác Hồ nói đi đôi với làm, có lý có tình, mẫu mực đạo đức
Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng chuyên nghiệp, mẫu mực về đạo đức cách mạng, là tấm gương sáng về tự học suốt đời. Người nói: “Học ở đâu? Học ở trường, học trong sách vở, học lẫn nhau và học ở dân“. Người luôn nói và làm đi đôi., học không biết mỏi, dạy không biết chán.
Bác viết: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo của Jêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Jêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có ưu điểm chung đó sao? Họ đều mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu hạnh phúc cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, tôi tin rằng họ nhất định sống chung với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm một người học trò nhỏ của các vị ấy..” Trích “Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo và tín ngưỡng”, NXB Khoa học xã hội, H.1996, trang 152. (Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng).
Nói và làm của Hồ Chí Minh điều gì cũng minh triết và thiết thực. Từ bài “Tâm địa thực dân” viết ở Pháp năm 1919 đến “Tuyên ngôn độc lập” năm 1945. Từ “Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” năm 1945 đến “Lời kêu gọi sau khi hội nghị Giơnevơ thành công” năm 1954. Từ “Lời phát biểu trong buổi đón tiếp Ủy ban Quốc tế” năm 1954 sau cuộc chiến tranh Đông Dương tàn khốc và dai dẳng 8,9 năm đến “Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh” công bố năm 1969 lúc cuộc chiến tranh Việt Nam đang ở giai đoạn dữ dội và ác liệt nhất. Việc làm nào, lời nói nào của Bác Hồ đều là nói đi đôi với làm, là khuôn vàng thước ngọc của đạo đức cách mạng “cần, liêm, chính, chí công vô tư“. Trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất Tổ Quốc, tự do và hạnh phúc của dân. Người viết: “Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng nếu nước được độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” Tư tưởng xuyên suốt của Người là “Việc gì lợi cho dân , ta phải hết sức làm. Việc gì hại cho dân ta phải hết sức tránh” “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi” “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”
Hồ Chí Minh có nhiều bài chuyên bàn về đạo đức và đạo đức cách mạng. Đó là các bài “Đạo đức công dân” (1-1955), Đạo đức cách mạng (6-1955; 12-1958), “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (2-1969). Người chủ trương phát triển văn hóa gắn liền với đời sống mới, kêu gọi thực hành đời sống mới trong mọi lĩnh vực, mọi tầng lớp và trong từng con người. Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: ” Đời sống mới không phải là cái gì cũ cũng bỏ hết không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ. Cái gì cũ mà không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý…; Cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm …; Cái gì mới mà hay thì ta phải làm”
3. Bác Hồ thực tiễn, quyền biến, năng động, rất ít trích dẫn
Ông Trường Chinh nói với ông Hà Đăng khi chiêm nghiệm về phong cách văn chương của chủ tịch Hồ Chí Minh: Bác Hồ rất ít trích dẫn. Lúc đầu tôi cũng cho là ngẫu nhiên. Về sau, hỏi trực tiếp, Bác nói: Mác, Ang ghen, Lê Nin nói rất đúng. Nhưng hoàn cảnh Mác, Ang ghen, Lê Nin hoàn toàn khác hoàn cảnh của chúng ta. Vậy nên muốn nói gì, trước hết phải hiểu cho thật rõ điều mà các vị ấy muốn nói, nói cho phù hợp với hoàn cảnh của mình, cho dân mình dễ hiểu. Do đó, Bác viết bằng sự suy nghĩ của mình. Bác rất ít trích dẫn”. (Hà Đăng 2002. Trường Chinh, người anh cả trong làng báo. Trong sách: Trường Chinh, một nhân cách lớn, một nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam. Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, trang 320). Ông Trường Chinh là một trong những người làm việc lâu nhất, thường xuyên nhất với Bác. Những chắt lọc và nhận xét trên đây chắc chắn là điều cần cho chúng ta suy ngẫm.
“Bác viết bằng sự suy nghĩ của mình. Bác rất ít trích dẫn” đó là phong cách văn chương của Hồ Chí Minh. Những người thông hiểu lịch sử, văn hóa, hiểu sâu các điển cố văn chương, chuyện hay tích cổ sẽ có thể chỉ ra vô số những điều trùng khớp của những lời hay ý đẹp từ xa xưa đã được Bác vận dụng một cách hợp lý hợp tình trong thời đại mới. Bác là người chú trọng ngôn ngữ giản dị, ngắn gọn, dễ hiểu, có tính thuyết phục cao, có nhịp điệu. Một thí dụ nhỏ như câu: “Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào/ Học tập tốt, lao động tốt/ Đoàn kết tốt, kỹ luật tốt/ Giữ gìn vệ sinh thật tốt/ Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm” là câu sáu chữ có nhịp điệu như câu thơ cổ.
Bác Hồ nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Suốt đời Bác làm hai việc chính là kiến tạo Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) thành một mặt trận rộng rãi “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công thành công, đại thành công” thực hiện “kế sách một chữ đồng” giành độc lập dân tộc và mở đường thống nhất Việt Nam.
Bác Hồ thật đúng là: “Bình sinh đầu ngẩng tới trời xanh. Khuất núi hồn THƠM quyện đất lành. Anh hùng HỒ dễ nên nghiệp ấy. Tâm hồn bình dị CHÍ anh MINH”.
Một số vĩ nhân còn lầm lẫn và khuyết điểm vào một thời điểm nào đó trong đời, riêng Bác Hồ thì chưa tìm thấy. Tôi cố gắng làm một người học trò nhỏ của Bác, học sự minh triết “dĩ công vi thượng”, tâm đức, quyền biến, năng động. Học làm người phúc hậu, thực việc, nói đi đôi với làm, chắt lọc tinh hoa lý luận và thực tiễn để vận dụng linh hoạt, sáng tạo, và thích hợp vào đời sống của mình.
Hồ Chí Minh trọn đời minh triết.
Hoàng Kim
(*) Bài viết Minh triết Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 132 năm (1890 – 2022) ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh

NHỮNG NGƯỜI THẦY DẪN ĐƯỜNG
Trường học hướng ban mai
Việt Nam con đường xanh
Giấc mơ lành yêu thương
Kiến tạo bản sắc NLU *
“Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Lời Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong “Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, ngày 15-9-1945.

VIỆT NAM TỔ QUỐC TÔI
Việt Nam
một điểm sáng
trên bản đồ thế giới
Người Việt
Tiếng Việt
Nông nghiệp Việt
Văn hiến Việt
Hồn Việt
Việt Nam tổ quốc tôi
ĐƯỜNG XUÂN THEO CHÂN BÁC
Con nguyện làm Hoa Lúa
Thầy nghề nông chiến sĩ
Đường xuân theo chân Bác
Giấc mơ lành yêu thương

Nông nghiệp Việt trăm năm
Hành trình Nông nghiệp Việt
Kỷ Nguyên Giải Phóng 1945 1975
Kỷ Nguyên Đổi Mới 1975 2025 **
Chính Trung Hiếu Thiện Lành
Tỉnh thức cùng tháng năm
Một gia đình yêu thương
Soi sáng lại chính mình

#cnm365 Tình Yêu Cuộc Sống
DẠY VÀ HỌC #cltvn #Vietnamhọc
Thầy bạn là lộc xuân
Bảo tồn và phát triển
Bồ Đề Nôi Hạnh Phúc
#Annhiên #Thungdung
Bảy bài học cuộc sống
Bài học lớn muôn đời

MINH TRIẾT SỐNG PHÚC HẬU
Phúc hậu thói nhà in một nếp
Chân chính bao nhiêu phúc bấy nhiêu *
Thành tâm với chính mình
Lời vàng giữ sức khỏe
Biết mình và biết người
Đường xuân đời quên tuổi
Minh triết Hồ Chí Minh
Việt Nam con đường xanh
Nguyễn Du trăng huyền thoại
An vui cụ Trạng Trình
Thái Tông và Hưng Đạo
Trần Thánh Tông minh quân
Trúc Lâm Trần Nhân Tông
Trần Quang Khải thơ thần
Bác học Phan Huy Chú
Lê Quý Đôn tinh hoa
Kim Dung trong ngày mới
Miên Thẩm thầy thơ Việt
Tô Đông Pha Tây Hồ
Nhân Huệ Vương vẹn kiếp
Đặng Dung thơ Cảm hoài
Thơ dâng theo dấu Tagore
Thơ Pushkin bình minh Nga
Lý Bạch thơ trăng sáng
Đỗ Phủ thơ mưa lành
Hữu Ngọc văn hóa Việt
Hoàng Gia Cương thơ hiền
Cụ Đỗ rộng đường xuân
Hồ Long Vân Nhớ Người
TRƯỜNG TÔI NÔI YÊU THƯƠNG
Thầy bạn là lộc xuân
Em ơi can đảm lên
Hoàng Ngọc Dộ khát vọng
Lời Thầy luôn theo em
Nhớ thầy Tôn Thất Trình
Sóc Trăng Lương Định Của
Thầy Quyền thâm canh lúa
Thầy Vũ trong lòng tôi
Thầy Tuấn kinh tế hộ
Thầy Norman Borlaug
Thiền Sư Lão Nông Tăng
Thầy lúa Bùi Bá Bổng
Thầy nghề nông chiến sĩ
Lúa siêu xanh Việt Nam
Ngô Việt Nam ngày nay
Tiến bộ giống sắn Việt Nam
Giống khoai lang Việt Nam
Nông nghiệp Việt trăm năm
Chương mục tiêu quốc gia
Nông nghiệp sinh thái Việt
Nông nghiệp công nghệ cao
Việt Nam sáng tạo KHCN
Phát triển nông thôn mới
Vườn Quốc gia Việt Nam
Trường tôi nay và xưa

TRƯỜNG HỌC HƯỚNG BAN MAI
Theo chân người dẫn đường
Chuyển đổi số nông nghiệp
Thiên nhiên với con người
Soi sáng lại chính mình
Thầy Hiếu Đêm Giáng Sinh
Thầy Dương Thanh Liêm
Thầy Xuân canh tác lúa
Phạm Văn Bên Cỏ May
Thầy bạn là lộc xuân
Một niềm tin thắp lửa
Đi dưới trời minh triết
Xanh một trời hi vọng
Vui đi dưới mặt trời …

(*) NÔNG NGHIỆP VIỆT TRĂM NĂM Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, thầy Trần Đình Lý đề nghị tôi viết bài ” Những người dẫn đường”. Ngày Quốc Tế Lao Động, Hoàng Kim xin phép thầy Lý giới hạn ‘có lý có tình’ cho riêng mình “Những người Thầy dẫn đường” bằng thơ vui yêu thích, với mỗi câu là một đường dẫn tỉnh thức, cảm nhận tâm đắc cá nhân. Hình ảnh và bài viết là tâm trạng người đã hưu trí vui Trà sớm với Lão Nông, xin vui lòng lượng thứ. Thầy bạn có hứng thú xin mời đọc thêm ghi chú tại các đường dẫn. Hoàng Kim @ nêu bật (Nguyên Thủy Kim Long Ngọc) https://youtu.be/SK61QIncOkk & https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nhung-nguoi-thay-dan-duong
(**) Việt Nam Kỷ Nguyên Mới Hành trình nông nghiệp Việt từ 8/5/1946 đến nay được chia thành ba phân kỳ: 1) Kỷ nguyên Giải Phóng 1945- 1975, 2) Kỷ Nguyên Đổi Mới 1975-2025; 3) Việt Nam Kỹ Nguyên Mới (2025 – ngày mới) theo TS Lê Hưng Quốc Báo Nông nghiệp Việt Nam, tương thích Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm trong Lễ kỷ niệm 50 năm đất nước thống nhất https://youtu.be/SK61QIncOkk
(***) Bài viết Những người Thầy dẫn đường nhân kỷ niệm 135 năm (1890 – 2025) ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. TRƯỜNG HỌC HƯỚNG BAN MAI Nông Nghiệp Việt Trăm Năm (1925-2025). Hành trình nông nghiệp Việt trải ba phân kỳ : 1)Từ ngày thành lập Viện Khảo Cứu Đông Dương/ Viện Khảo Cứu Sài Gòn 1925 đến năm 1975 (Kỹ Nguyên Khai Phóng, có Kỷ Nguyên Giải Phóng 1945-1975, khi Chủ Tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945, khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, đến ngày 8/5/1946 ký sắc lệnh số 62 thành lập Nha Nông Chính trực thuôc Bộ Canh Nông ở miền Bắc, là tiền thân của các ngành chủ lực Nông Lâm … ngày nay; Ở miền Nam Việt Nam Bô Cải Cách Điền Địa Việt Nam Cộng Hòa thành lập Trường, Khoa Canh Nông ngày 19/5/1955, là tiền thân của Trường Đại Học Nông Lâm TP HCM); 2) Từ 30/4/1975 đến 30/4/ 2025 là Kỷ Nguyên Đổi Mới; 3) Từ 1/5/2025 đến nay là Việt Nam Kỷ Nguyên Mới Nông Nghiệp Gắn Kết Tài Nguyên Môi Trường thành chuỗi giá trị sản phẩm OCOP các ngành hàng kinh tế văn hóa xã hôi ngôn ngữ du lịch Việt . KIẾN TẠO BẢN SẮC NÔNG LÂM vừa là mục tiêu vừa là đông lực chủ đạo để bảo tồn và phát triển thích hợp bền vững. Chúc Mừng Trường NLU Thật Tuyệt Vời truyền thống rất vẻ vang, thành tựu đáng tự hào, giải pháp thật nền tảng. Trường Học Hướng Ban Mai
Việt Nam 34 tỉnh thành 2025 I TTXVN
Hoàng Gia An Ngày Mới
ANA TÌM ĐƯỢC NGỌC
Mẹ Cùng Con Ngày Lễ
Chơi Dạy Học Với Na
Kiến Tha Lâu Đầy Tổ
Hạt Gạo Ngọc Nhà Ta
https://youtu.be/IEqSQVloF10
TÂM AN NGAY LÚC NÀY
Bài pháp an tâm rất quan trọng https://youtu.be/msFiVuO_O-Y #tâmbồđề Tâm Từ Bi Chánh Niệm Dạy Và Học Mỗi Ngày https//hoangkimvn.wordpress.com/category/ana
HOÀNG GIA AN TIẾNG ANH
#hga 208 Hoàng Gia An Tiếng Anh 208 https://youtu.be/zQIuXq4i-bY
TÂM AN NGAY LÚC NÀY
Bài pháp an tâm rất quan trọng https://youtu.be/msFiVuO_O-Y #tâmbồđề Tâm Từ Bi Chánh Niệm Dạy Và Học Mỗi Ngày https//hoangkimvn.wordpress.com/category/ana

Nhạc thiền tịnh tâm cho buổi sáng an lành & 9 phút mỗi sáng nạp tràn đầy năng lượng & Yêu thích sự bình an & Bí quyết sống thanh thản & 5 kiểu người càng sống càng có phước & 5 cách giao tiếp kỳ diệu với vũ trụ & 7 Dấu Hiệu Cho Thấy Bạn Không Phải Là NGƯỜI THƯỜNG & 8 KIẾP NẠN Bạn Đã VƯỢT QUA Mà Không Biết 🙏 Dấu Hiệu Phước Báo Sắp Đến & 8 dấu hiệu tâm linh mạnh mẽ & 5 Dấu Hiệu Bạn Là Hậu Duệ Của Bồ Tát | Mang Căn Tu Từ Kiếp Trước Mà Không Biết & 9 DẤU HIỆU Bạn Có TRÍ TUỆ PHẬT ĐÀ Mà Không Nhận Ra | Thông Minh Khác Biệt Theo Lời Phật Dạy; Con xứng đáng với sự bình yên trong tâm mình . Tâm An Chia sẻ https://youtu.be/klxG-FEBk5c
TÂM BỒ ĐỀ TU TÂP
#phậtdượcsư #tretrúclâm
Thấm Nhân Tình Thế Thái
Tâm Bồ Đề Tu Tập
An Trú Nội Tâm Mình
Khi có sự phỉ báng, nói xấu, sỉ nhục .. mà chúng ta nghe được, tuyệt đối không trách móc người. Lập tức phải phản tỉnh lại bản thân là mình có đúng như lời người ta nói hay không? Nếu như thực sự đúng như lời họ nói thì phải cải đổi, họ nhắc nhở ta, họ giáo huấn ta ở chỗ này, ta lập tức sửa sai lầm.
Ta phải cảm ơn họ, nhờ có họ ta mới nhìn lại lỗi ở bản thân. Biết được lỗi lầm của chính mình là giác ngộ, sửa được lỗi lầm của chính mình là tu hành.
Nếu như lời họ nói là vu oan cho ta, bản thân ta không có lỗi gì ta cũng phải cám ơn họ, vì họ đến tiêu Nghiệp chướng thay cho ta. Người mà vô duyên vô cớ bị người ta mắng, bị huy báng, bị sỉ nhục…về sau thường thường có đại Phước báo.
Nhẫn nhục là nền tảng của tâm thanh tịnh, giác ngộ rồi thì không có tham sân si, khi mê thì vẫn còn tham sân si.
Nếu như chúng ta khởi tâm oán hận thì Phước báo đó không còn. Sau này làm gì có Phước báo, điều này được ghi chép rất nhiều trong lịch sử, là thật không phải giả.
Cho dù chính bản thân mình không có thịnh vượng, thì con cháu sẽ thịnh vượng. Cho nên chúng ta phải tu nhẫn, chấp nhận bị vu oan, chấp nhận bị hiểu lầm, tuy không dễ với người phàm nhưng với người tu muốn đạt cảnh giới trên cao thì phải tu nhẫn nhục trước tiên.
Sau này Phước đó rất là lớn. Nhưng quan trọng tâm của chúng ta không được oán hận, dù là một chút mảy may thôi cũng không được khởi lên. Nếu khởi lên sân hận thì ngay lập tức công đức và phước đức đều bị tiêu tan do cái tâm sân hận mà ra. Vì sao nói có cả công đức trong đó, vì trong hoàn cảnh nghịch cảnh đó, bạn tu dưỡng được Nhẫn nhục ba la mật, mà không khởi tâm sân hận thì công đức của bạn liền có.
Nam Mô A Di Đà Phật
https://youtu.be/n70FAAvsAM4 Trà sớm với Lão Nông Chào ngày mới 2 tháng 5 https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-2-thang-5/ & #cnm365 https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana

THỦY KIM LỜI GHI NHỚ https://youtu.be/BLCX3-bgGMI #cnm365 #cltvn 10 tháng 4 (năm Nhâm Dần 2022 là ngày 10 tháng 4 dương lịch. DI HUẤN LƯU GIA PHẢ #hoanggia #ngocphuongnam #phậtdượcsư, #hgb; hgb365; Hoàng Gia Bình ngày mới, #hgm Hoàng Gia Minh Tiếng Anh; Hoàng Gia An ngày Mới, #hga; #ana https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana #htn #ngoclong lưu ngày 10 tháng 4 năm 2022 mỗi năm đọc lại, bổ sung (năm nhuận Quý Mẹo 2023 ngày 10 tháng 3 âm lịch trùng ngày 29 tháng 4; năm Tân Tỵ 2025 ngày 13 tháng 3 ăm lịch là ngày 10 tháng 4);

AN VUI CỤ TRẠNG TRÌNH
Thảnh thơi chơi cùng cụ Trạng
Thanh nhàn cùng với tháng năm
Bà và cháu vui chuyện bé
Thầy thì thong thả nấu cơm …
Ngày mới trông thời đoán tiết
Xuân vui trước ngõ chưa tàn
Phải đợi Hạ về Thu tới
Mới hòng Đông đến Xuân sang
Mùa xuân lộc vừng thay lá
Cây đời mầm mới thêm xanh
Nắng sớm ấm dấn trước ngõ
Tiếng chim ríu rít đầy vườn
Ban mai vui cùng cụ Trạng
An nhàn vô sự là tiên (*) .
https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana/

@hoangkimvn nhắn Xuân Liêm đọc Xuân Ba trên Dân Việt và Làng Việt xưa và nay: Cụ Ông Lê Huy Ngọ” Rừng cũng nhiều, biển cũng nhiều, làm sớm chiều mà dân vẫn đói “GS Hà Huy Tấn” Nghĩ cho khá, hiểu cho khá, dẹp đấu đá Thanh Hóa sẽ giầu ”
AN VUI CỤ TRẠNG TRÌNH
Thảnh thơi chơi cùng cụ Trạng
Thanh nhàn cùng với tháng năm
Bà và cháu vui chuyện bé
Thầy thì thong thả nấu cơm …
Ngày mới trông thời đoán tiết
Xuân vui trước ngõ chưa tàn
Phải đợi Hạ về Thu tới
Mới hòng Đông đến Xuân sang
Mùa xuân lộc vừng thay lá
Cây đời mầm mới thêm xanh
Nắng sớm ấm dấn trước ngõ
Tiếng chim ríu rít đầy vườn
Ban mai vui cùng cụ Trạng
An nhàn vô sự là tiên (*) .
https://youtu.be/_SbQfvZP_Q0 An vui cụ Trạng Trình THANH MINH TIẾT THÁNG BA https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana

AN VUI CỤ TRẠNG TRÌNH
Ngày mai chẳng đợi ra sao nữa.
Dù có ra sao cũng chẳng sao.
Ký Tế xong rồi còn Vị Tế
Vàng đá bình minh cứ dãi dầu
@hoangkimvn trả lời bạn vừa ghé thăm “phước tại tâm điền,…”
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-15-thang-1/
SƯƠNG TAN THỜI NẮNG XUÂN
Em đừng e sương giá
Nắng lên là sương tan
Hãy làm cây thông đứng
#Thungdung trên đỉnh ngàn
Xưa chuyển mùa dậy sớm
Đêm lạnh nhớ Đào Công
Rằm Vu Lan thăm thẳm
Trăng Đông soi giữa lòng
Nay Bích Tỵ Hoàng Kim
Ngư Dương thời Ký Tế
Tiều Phu thương Tô Nguyễn
An vui cụ Trạng Trình

Trà Sớm Với Lão Nông
Đường xuân đời quên tuổi
https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-15-thang-1/
@nêu bật Kim Hoàng & Nguyen Thanh Binh



Thungdung nhàn cõi phước
#Annhiên hưởng lộc trời
Lão Trang vui phong thủy
Bồ Đề dạo non tiên
Sớm mai ngắm mai nở
Ngày mới Ngọc cho đời
Chín điều lành hạnh phúc
An vui cụ Trạng Trình
Nhớ Cụ chín mươi thôi nấn ná
‘Bó củi, cần câu, trốn nước non’
Thương Bác tám hai đành bớt việc
Thế giới mắt ai thấm thía lòng
Hoàng Kim @ Thăm Suy niệm mỗi ngày tích hợp tại https://hoangkimlong.wordpress.com/category/an-vui-cu-trang-trinh &

(*) “Liên Mậu Kỷ Canh Tân
Can qua sinh sát biến”
“Bốc đắc Càn thuần quái
Sơ cửu thoái tiềm long
Ngã bát thế chi hậu
Can qua khởi trùng trùng
BAN MAI CHÀO NGÀY MỚI
An vui cụ Trạng Trình
Những trang văn đọc lại
Qua sông tới Cát Tiên
Khi đàn sếu bay qua

Suy Niệm Mỗi Ngày
oestoSdprn01i4l7f g0fờia1053ihu2020i69i23i6315fg961gcutg2405 ·
CẢNH GIỚI CAO NHẤT
Cảnh giới cao nhất của đời người là: Dù bận rộn cũng không nói nhầm lời, trong cục diện hỗn loạn không nhìn lầm người, gặp tình huống phức tạp không đi nhầm đường.
Cảnh giới cao nhất của cuộc sống là: Thường hay qua lại với người hơn mình, lúc rảnh rỗi thì hội ngộ người tao nhã, mỗi ngày đều có thời gian dành cho người thân thương.
Cảnh giới cao nhất của sự nghiệp là: Hết lòng yêu thích công việc mình đang làm; nuôi dưỡng gia đình mạnh khỏe và vui vẻ; bản thân luôn lạc quan, không làm điều gì để phải hối hận.
Cảnh giới cao nhất của kỷ luật là: Không công lao thì không nhận bỗng lộc, không giúp đỡ thì không viện lý lẽ, không năng lực thì không đòi chức tước.
Cảnh giới cao nhất của vinh dự là: Dù bạn đã rời xa, mọi người vẫn không thôi nhắc về những “truyền thuyết” có mặt bạn.
Cảnh giới cao nhất trong tình bạn là: Dù lâu ngày không liên lạc, trong lòng vẫn có nhau. Lúc gặp lại không có cảm giác cách xa vì đôi bên vẫn giữ quan niệm chung về các giá trị vật chất và tinh thần.
Cảnh giới cao nhất trong tình yêu là: Tuy tóc đã bạc phơ, vẫn nắm chặt tay nhau như ngày đầu lưu luyến. Trải qua bao sóng gió, càng trân trọng và gắn bó nhau hơn.
Cảnh giới cao nhất của linh hồn là: Cất tiếng khóc chào đời khi sinh ra và có thể mỉm cười vĩnh biệt lúc rời xa…
Trích Làm Mới Vườn Tâm
Suối Thông sưu tầm và biên dịch
#vietnamhoc #cltvn #cnm365 #Thungdung 598 An Vui Cụ Trạng Trình. Bạch Ngọc Kim Hoàng nhân đọc lại #Thungdung, càng thấy tâm đắc lời dặn của cụ Trang Trình: “Làm việc thiện không phải vì công tích mà ở tấm lòng. Nay vừa sau cơn loạn lạc thì chẳng những thân người ta bị chìm đắm, mà tâm người ta càng thêm chìm đắm. Các bậc sĩ đệ nên khuyến khích nhau bằng điều thiện, để làm cho mọi người dấy nên lòng thiện mà tạo nên miền đất tốt lành. (Diên Thọ kiều bi ký, 1568). Vẹn toàn điều Thiện là Trung, không vẹn toàn điều Thiện thì không phải là Trung. Tân là cái bến, biết chỗ dừng lại là bến chính, không biết chỗ dừng lại là bến mê… Nghĩa chữ Trung Chính là ở chỗ Chí Thiện. (Trung Tân quán bi ký, 1543).
“Tôi nhớ lời nói chuyện của đại tướng ở Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam. Cụ nói: “Quảng Bình quê tôi người dân gọi khoai lang là sâm người nghèo. Quê tôi trước có giống khoai lang ăn rất ngon nhưng dài ngày. Nay thứ đặc sản ấy đã dần khó kiếm vì nhiều năm dân cần khoai cao sản ngắn ngày“. Chúng tôi vì nhờ có câu nói cảnh tỉnh chân tình ấy mà suốt đời làm nghề chọn giống sắn khoai năng suất cao, vẫn thiết tha bảo tồn và phát triển giống khoai ngon, sắn ngon. Chúng tôi cũng thấu hiểu rằng mình đừng nên cố chấp với những cái mới còn sai sót mà phải cố gắng bảo tồn tích hợp nhiều cái quý, cái tốt. Chính Trung và Trung Tân là biết tích hợp, biết sai thì phải sửa sai cho bằng được cái lỗi ấy nhưng phải tích hợp được cái mới cái tốt để luôn vươn tới mãi” (Hoàng Kim lời tâm đắc)
Lành thay! ‘GIỮ GIỚI”
Hôm nọ, trò chuyện với bạn thân về hành giả Thích Minh Tuệ, tôi nói rằng, miệt mài theo dõi những thông tin về Ngài nay đã xấp xỉ hai tháng, mình nhận ra rằng đạo Phật theo cách của Ngài chỉ gói gọn trong hai chữ : “GIỮ GIỚI.”.
Giới trong đạo như Luật trong đời. Giới và Luật song hành xã hội thật sự văn minh và hạnh phúc nhiều hơn.
Luật tất nhiên phải giữ nghiêm minh.
Giới tùy theo khả năng, có 5 giới cho đại chúng. Có 8 giới, 10, giới đến 250 giới cho tất cả. Tùy sức, tùy hoàn cảnh, tùy công việc, tùy nhân duyên mà giữ. Giữ được 1 giới cũng là hạnh phúc nhiều lắm rồi. “Giữ được một giới thì Phật trong tâm đã xuất hiện rồi.”
Hôm nay, đọc trên mạng thấy lời tâm sự của anh Long, người có 20 tiệm ăn 0 đồng khắp đất nước và cả bên Ấn độ, dành cho người nghèo, hôm qua, anh Long đến Gia Lai đảnh lễ lần thứ 2 với Thầy và Thầy Thích Minh Tuệ nói với anh Long rằng :”TỪ THIỆN CÓ LỚN CỠ NÀO CŨNG KHÔNG BẰNG TỪ THIỆN CHO CHÍNH MÌNH GIỚI”.
Tôi tạm cắt nghĩa câu của Thầy là : PHẢI LUÔN LUÔN NHẮC NHỞ BẢN THÂN GIỮ GIỚI”.
Lành thay! GIỮ GIỚI, trò chuyện với một người bạn quý, tôi càng tâm đắc thêm ! Thế giới trong mắt ai. An vui cũ Trạng Trình. Những trang văn đọc lại; xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/an-vui-cu-trang-trinh/
Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585) là nhà giáo, nhà tiên tri, nhà thơ triết lý, nhà văn hoá lớn của thời Lê -Mạc, bậc kỳ tài yêu nước thương dân, xuất xử hợp lý, hợp thời, sáng suốt. Bài tựa về Trạng Trình của tiến sĩ Vũ Khâm Lân có vị trí trọng yếu để tìm hiểu thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tác phẩm được viết năm 1743 cho tập gia phả dòng họ Trạng Trình sau khi cụ Trạng đã mất khoảng 158 năm. Áng văn xuất sắc này là viên ngọc rất quý của người xưa để hiểu và đánh giá đúng về thân thế và sự nghiệp của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Hoàng Kim duyên may sưu tầm được một số sách và tư liệu quý về Người, đã tuyển chọn và biên soạn thư mục CNM365 “Ngày xuân đọc Trạng Trình” để hàng năm bổ sung hoàn thiện, hổ trợ dạy và học gồm: 1) Nguyễn Bỉnh Khiêm tìm trong gia phả; 2) Nguyễn Bỉnh Khiêm trên bách khoa thư; 3) Sấm Trạng Trình bản A 262 câu ; 4) Biển Đông vạn dặm giang tay giữ; 5) Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm; 6) Thầy bạn Nguyễn Bỉnh Khiêm; 7) Hậu duệ và học trò Trạng Trình; 8) Giai thoại về Trạng Trình; 9) Nguyễn Bỉnh Khiêm trí tuệ bậc Thầy.
Vũ Khâm Lân còn có tên là Vũ Khâm Thận, sinh năm 1702 tại làng Ngọc Lặc, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Ông đỗ tiến sĩ năm 1727 làm quan đến chức Tham tụng, Ngự Sử đài, tước Ôn Quận công. Bài tựa này được chép trong quyển “Công Dư Tiệp Ký” (Những chuyện ghi nhanh trong lúc rãnh việc quan) của Vũ Phương Đề, cuốn 3, tờ 166- 175. Quyển “Công Dư Tiệp Ký” là của Vũ Phương Đề do vậy có người nghi vấn tác giả bài tựa này là Vũ Phương Đề, sinh năm 1697, người làng Mộ Trạch, huyện Đường An, nay là Bình Giang, Hải Dương, đỗ tiến sĩ năm 1736. Căn cứ trên văn bản thì tác giả “Bài tựa” này là của Vũ Khâm Lân mà Vũ Phương Đề là người chép lại. “Bài tựa” này tuyển chọn từ trích dẫn của nhà nghiên cứu Phạm Đan Quế năm 2000. Bản dịch tại quyển “Bạch Vân Quốc ngữ Thi tập” của Nguyễn Quân, nhà xuất bản Sống Mới – Sài Gòn năm 1974. Đây là một văn bản quý đã trải qua sự sàng lọc của thời gian 277 năm (1743- 2020). Nguồn tư liệu chuẩn mực, tin cậy với những dẫn liệu chọn lọc và xác thực, lời văn chặt chẽ, súc tích, khoáng đạt.
NGUYỄN BỈNH KHIÊM TÌM TRONG GIA PHẢ
Bài tựa Nguyễn Công Văn Đạt phổ ký Tiến sĩ Vũ Khâm Lân viết năm 1743
Trích Gia phả dòng họ Trạng Trình
Nguyễn Văn Đạt) tự Hành Phủ, đạo hiệu là Bạch Vân cư sĩ, người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương. Tiên tổ ngày xưa tu nhân, tích đức nhiều, nay không thể khảo cứu được, chỉ biết từ đời cụ tổ được tập phong Thiếu bảo Tư Quận công, cụ bà được phong Chính phu nhân Phạm Thị Trinh Huệ. Nguyên trước các cụ lập gia cư ở nơi có núi sông bao bọc hợp với kiểu đất của Cao Biền, tay phong thủy trứ danh đời Đường.
Phụ thân cụ Trạng được tặng phong tước Thái bảo Nghiêm Quận công, mỹ tự là Văn Định, đạo hiệu là Cù Xuyên tiên sinh. Cụ Văn Định học rộng, tài cao, có đức tốt và đã có lần sung chức Thái học sinh đời Lê.
Thân mẫu cụ Trạng được phong tặng tước Từ Thục phu nhân. Bà là người làng An Tử Hạ, huyện Tiên Minh cũng thuộc tỉnh Hải Dương, con gáí quan Thượng thư Bộ Hộ Nhữ Văn Lân. Bà thông minh, học rộng, văn hay, lại tinh thông tướng số. Ngay đời Hồng Đức (niên hiệu vua Lê Thánh Tôn), bà đã đoán trước rằng vận mệnh nhà Lê chỉ bốn mươi năm nữa là suy đồi khó gỡ. Bà có chí hướng muốn phò vua giúp nước như một bậc trượng phu nên chỉ chịu kết duyên khi gặp người trai vừa ý. Bà kén chồng đến ngót hai mươi năm, cho đến khi gặp ông Văn Định là người có tướng sinh quý tử, mới thành lập gia thất.
Sau khi lấy ông Văn Định, có lần qua bến đò Hàn thuộc sông Tuyết (sông thuộc làng Cổ Am) gặp một chàng thanh niên khác, bà nhìn người này và ngạc nhiên than rằng “lúc trước không gặp, ngày nay sao đến đây làm gì?”. Bọn theo hầu không hiểu nghĩa gì, cầm roi toan đánh đuổi chàng thanh niên ấy, bà cản lại và hỏi tên họ. khi được biết, bà buồn rầu hối hận đến cả mấy năm trời. Người thanh niên ấy không ai khác hơn là Mạc Đăng Dung, Thái Tổ của nhà Mạc sau này.
Bỉnh Khiêm sinh năm Hồng Đức thứ 21 (tức năm Tân Hợi 1491), lúc nhỏ có vóc dáng kỳ vĩ, chưa đầy một năm đã nói sõi. Một hôm vào buổi sáng sớm, Văn Định được bế cậu trên tay, bỗng thấy cậu nói ngay rằng: “Mặt trời mọc ở phương Đông” ông lấy làm lạ. Xem đó đủ biết con người khác thường, từ lúc thơ ấu đã có vẻ khác thường.
Năm Bỉnh Khiêm được bốn tuổi, thân mẫu dạy cậu học các bài chính nghĩa của Kinh, Truyện (tức các bài chính của các sách Tứ Thư, Ngũ Kinh). Bà dạy bằng cách khi ru, khi hát, nhưng dạy đến đâu cậu thuộc lòng đến đó. Cũng vào khoảng năm ấy, về thi ca, Bỉnh Khiêm đã thuộc vanh vách đến cả mấy chục bài quốc âm (thơ Nôm)…
… Trong tám năm ở triều, tiên sinh dâng sớ hạch tội mười tám kẻ lộng thần, xin đem ra chém để làm gương, bởi vì bản tâm. Tiên sinh chỉ muốn trăm họ được an vui, những người tàn tật mù lòa được hành nghề hát xướng bói toán nhưng rồi thấy người con rể là Phạm Dao ỷ thế lộng hành, tiên sinh sợ liên lụỵ đến mình nên cáo quan về nghỉ. Năm ấy là năm Quảng Hòa thứ hai (1542) đời Hiến Tông nhà Mạc, tiên sinh mới 52 tuổi.
Treo mũ về quê, tiên sinh dựng am Bách Vân ở phía đông làng và vẫn lấy biệt hiệu là Bạch Vân cư sĩ. Tiên sinh bắc hai chiếc cầu là Nghinh Phong và Trường Xuân để hóng mát, đồng thời dựng một cái quán ở bến sông Tuyết gọi là Trung Tân quán, hiện nay quán này còn tấm bia đá làm di tích để lại.
Ngoài ra, tiên sinh còn tu bổ chùa chiền. Tiên sinh thường cùng các lão tăng đàm luận và thường khi thả thuyền dạo chơi Kim hải hay Úc hải để xem người đánh cá. Các chỗ danh lam thắng cảnh như Yên Tử, Ngọa Vân, Kinh Chủ, Đồ Sơn, nơi nào tiên sinh cũng chống gậy trèo lên, thừa hứng ngâm vịnh, có khi quên cả sớm chiều. Mỗi khi ngắm cảnh non cao chót vót, rừng rậm xanh rờn, gió động rì rào, chim ca thánh thót, tiên sinh lại hớn hở tự đắc, phiêu phiêu như một vị lục địa thần tiên (thần tiên ở thế gian).
Thời gian tiên sinh dưỡng lão ở quê hương, tiên sinh không tham dự quốc chính nhưng nhà Mạc vẫn kính như bậc thầy. Mỗi khi có việc trọng đại, vua Mạc thường sai quan về hỏi hoặc mời lên kinh đô nói chuyện. Tiên sinh dâng lên ý kiến được bổ ích rất nhiều. Mỗi lần lên kinh, xong việc, tiên sinh lại xin về, triều đình ân cần lưu lại, thế nào cũng không được. Sau tiên sinh được nhà Mạc xếp vào hạng đệ nhất công thần, phong tước Trình Tuyền hầu, rồi thăng dần tới tước Lại bộ Thượng thư, Thái phó, Trình Quốc công. Ông bà hai đời cũng được truy tặng chức tước, ba người vợ và bảy người con cũng được thứ tự phong hàm.
Năm Cảnh Lịch thứ ba (1555) đời Mạc Tuyên Tôn (Mạc Phúc Nguyên) Thư Quốc công Nguyễn Thiến (người làng Khoa Hoạch, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông) cùng con trai là Quyện và Miễn (cũng đọc Mồi) về hàng quốc triều (nhà Lê), tiên sinh làm bài thơ gửi cho Thiến trong có câu: Cố ngã tồn cô duy nghĩa tại/ Tri quân xử biến khởi cam tâm (Ta giúp con côi vì nghĩa trọng/ Ông khi xử biến khá cam lòng); Lại có câu: “Vận chuyển nhất chu ly phục hợp/ Tràng giang khởi hữu hạn đông nam (Vận chuyển một vòng tan lại hợp/ Trường giang đâu có hạn đông nam). Thiến xem thơ, trong lòng cảm thấy bứt rứt. Quyện là viên tướng có tài, luôn luôn lập được chiến công. Mạc Phúc Nguyên lấy làm lo ngại sai vời tiên sinh lên hỏi kế. Tiên sinh tâu: “Cha Quyện với hạ thần là chỗ bạn chí thân ngày trước, có lúc đã ở tại nhà thần, nay ra trấn thủ Thiên Trường, đang ở vào tình thế bán tín bán nghi nay muốn bắt lại, thật chẳng khó gì, cũng như thò tay vào túi để móc một vật gì ra thôi”. Tiên sinh nói đoạn, xin Mạc Phúc Nguyên giao cho một trăm tráng sĩ, sai đi phục sẵn trên bắc ngạn, rồi tiên sinh gửi thư mời Quyện sang bên thuyền uống rượu để gặp và nói chuyện tâm tình. Quyện nhận lời ngay; thừa lúc quá say, phục binh nổi dậy, bắt cóc đem về nam ngạn. Quyện cảm động quá khóc nức nở. Tiên sinh dẫn Quyện theo lại nhà Mạc và sau đó trở thành một danh tướng lừng lẫy. Nhờ đó nhà Mạc duy trì được mấy chục năm nữa.
Trong thời gian ấy, đức Thế Tổ (tức Trịnh Kiểm) nhà chúa Trịnh đã dấy nghĩa binh, thanh thế vang dội khắp xa gần; trong trận giao tranh ở cửa biển Thần phù, Khiêm Vương Mạc Kính Điển (con thứ của Mạc Đăng Doanh) thua to. Thừa thắng, đức Thế tổ tiến binh theo đường núi phía tây ra tiến đánh Kinh Bắc, trong ngoài nơm nớp lo sợ. Nhà Mạc nhờ tiên sinh hiến kế rất nhiều, mới ổn định được tình thế lúc ấy.
Năm Diên Thành thứ 8 (1585) đời Mạc Mậu Hợp, tiên sinh lâm bệnh. Vua Mạc sai sứ đến thăm và hỏi kế quốc sự. Tiên sinh trả lời: Sau này nước nhà có bề gì thì đất Cao Bằng tuy nhỏ cũng thêm được vài đời (Tha nhật quốc sự hữu cố/Cao Bằng tuy thiểu, khả diên sổ thế). Qủa nhiên, cách bảy năm sau, nhà Mạc mất, các chúa nhà Mạc như Càn Thống, Long Thái, Thuận Đức, Vĩnh Xương rút lên Cao Bằng cũng còn giữ được hơn 70 năm, nghĩa là sau ba, bốn đời mới hoàn toàn bị diệt. Xem đó thấy lời dự đoán của tiên sinh rất nghiệm.
Ngày 28 tháng 11 (âm lịch) năm ấy, tiên sinh tạ thế, hưởng thọ 95 tuổi, học trò tôn hiệu là Tuyết Giang Phu tử. Phần mộ ở trên một mô đất khá cao trong làng…
Năm Thuận Bình thứ tám (1556) vua Lê Trung Tông băng, không hoàng nam nối ngôi, đức Thế Tổ (Trịnh Kiểm) do dự không biết lập ai, hỏi trạng nguyên Phùng Khắc Khoan, cũng không quyết định nổi, mới sai ngầm đem lễ vật ra tận Hải Dương hỏi tiên sinh. Tiên sinh không trả lời, chỉ quay lại bảo các gia nhân rằng: – Vụ này lúa không được mẩy, chỉ tại thóc giống không tốt, vậy hãy đi tìm giống cũ mà gieo mạ. …
Nói xong, tiên sinh xe ra chùa, bảo các chú tiểu quét dọn và thắp nhang, ngoài ra không đã động gì đến chuyện khác, và đó là cái thâm ý tỏ ra cho biết “cứ việc thờ Phật thì sẽ có oản ăn”. Trạng Bùng thấy thế, hiểu ý, xin từ giả. Qua lời kể lại, đức Thế Tổ hiểu ngay, nên đón vua Anh Tôn về lập, tình hình nội bộ mới trở lại bình thường.
Trong thời gian ấy, Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng là con trai thứ Lâm Huân Tĩnh Vương (Nguyễn Kim) đương ở trong tình thế nguy ngập, sợ không thoát khỏi tay Trịnh Kiểm, thân mẫu ông, người làng Phạm Xá, huyện Tứ Kỳ, với tiên sinh là chỗ đồng hương, nên trước cảnh ấy, sai người bí mật về làng nhờ tiên sinh chỉ giúp con trai bà một lối sống. Sứ giả đặt gói bạc nén trước mặt, rồi chắp tay lạy mãi.
Tiên sinh thấy sứ giả cố năn nỉ nhưng vẫn không đáp, rồi đứng phắt dậy, cầm gậy thủng thẳng bước ra sau vườn. Đến chỗ núi non bộ (giả sơn) do mười tảng đá xanh xếp thành một dãy quanh co, tiên sinh thấy trên núi có bầy kiến đang men đá leo lên, đứng ngắm một lúc, mỉm cười đọc:
Hoành Sơn nhất đái, khả dĩ dung thân
Sứ giả hiểu ý trở về thuật lại, Nguyễn Hoàng liền nghĩ ra kế, xin vào trấn thủ Quảng Nam, đến nay con cháu còn hùng cứ một phương.
Trong lúc ngày thường, có lần tiên sinh cùng người học trò là Bùi Thời Cử bói dịch trúng quẻ Càn, thế mà tiên sinh dự đoán “chỉ sau tám đời cuộc can qua nổi dậy”. Sau đúng như thế. Lời đoán của tiên sinh quả thật thần diệu vậy.
Riêng số học trò của tiên sinh thì đông không biết bao nhiêu mà kể. Những người có danh vọng lừng lẫy của bản triều (nhà Lê) như Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Dữ và Trương Thời Cử đều là những người nhờ sự dạy dỗ của tiên sinh.
Nhắc đến Phùng Khắc Khoan khi còn theo học, bỗng một đêm tiên sinh đến thẳng nhà trọ, gõ cửa bảo: “Gà gáy rồi, sao chưa dậy nấu cơm, còn nằm ỳ ngủ vậy?”. Khắc Khoan hiểu ý, vội thu xếp hành lý, tìm đường vào Thanh Hóa, nhưng lại ẩn nơi nhà Nguyễn Dữ, người đã soạn bộ “Truyền kỳ mạn lục”. Bộ này được thành một tác phẩm “thiên cổ kỳ bút” là một phần lớn nhờ sự phủ chính rất nhiều của tiên sinh.
Xem đó thì thấy tiên sinh đối với bản triều (nhà Lê) cũng có góp phần đào tạo một số nhân tài vậy.
Tôi thấy tiên sinh là người lòng dạ khoáng đạt, tư chất cao siêu, sử dụng sự hồn nhiên, không chút cạnh góc, ai hỏi thì nói không thì thôi, đã nói câu gì là câu ấy không xê không dịch. Tiên sinh ở nơi thôn dã, vui với cúc tùng, hơn mười năm trời vẫn không quên nước.
Văn chương của tiên sinh thường bộc lộ cái tấc dạ ưu thời mẫn thế, không cần điêu luyện mà tự nhiên, giản dị mà lưu loát, thanh đạm mà ý vị, câu câu đều có chỗ ngụ ý răn đời. Thơ Quốc âm của tiên sinh có nhiều, trước đã soạn thành một tập gọi là Bạch Vân Quốc ngữ Thi tập, có cả ngàn bài nhưng nay chỉ còn độ hơn trăm. Thơ Hán tự cũng nhiều nhưng cũng thất lạc, tôi xem cũng đều thấy chứa những ý nghĩa thanh cao và siêu thoát. Thí dụ câu tiên sinh tự thuật chí hướng mình:
Cao khiết thùy vi thiên hạ sĩ An nhàn ngã thị địa trung tiên (Cao khiết ai là thiên hạ sĩ An nhàn ta chính địa trung tiên)
Nói về gia đình thì tiên sinh có ba vợ:
Bà vợ cả người họ Dương, hiệu Từ Ý, quê tỉnh Hải Dương, người cùng huyện, là con gái quan Hình Bộ Thị lang Dương Đức Nhan.
Bà thứ hai, người họ Nguyễn, hiệu Như Tĩnh
Bà thứ ba hiệu Vi Tĩnh, cùng người họ Nguyễn
Tiên sinh có tất cả mười hai người con, gồm bảy người trai, năm người gái. Con trưởng lấy hiệu Hàn Giang Cư sĩ, được tập ấm phong hàm Trung Trinh đại phu, sau làm quan đến chức Phó hiến. Con thứ hai là Túy An tiên sinh được phong hàm Triều Liệt đại phu, tước Quảng Nghĩa hầu. Con thứ ba hàm Hiển Cung đại phu, tước Xuyên Nghĩa bá. Con thứ tư hiệu Thuần Phu, hàm Hoằng Nghị đại phu, tước Quảng Đô hầu. Con thư năm là Thuần Đức, tước Bá Thư hầu (không thấy ghi người con thứ bảy). Mấy người này đều có quân công cả.
Sau đó, Hàn Giang sinh ra Thiết Đức, Thiết Đức sinh Đạo Tiến, Đạo Tiến sinh Đạo Thông. Đạo Thông sinh Đăng Doanh. Đăng Doanh sinh Thời Đương. Thời Đương lúc này đã 65 tuổi, sinh được ba người con trai, đều là cháu tám đời của tiên sinh vậy.
Năm Vĩnh Hựu nguyên niên (Ất Mão 1735 đời Lê Ý Tôn) người trong làng vì nhớ thịnh đức của tiên sinh nên đã dựng hai đền thờ này. Người hàng tổng cũng nhớ ơn đức, xuân thu hai kỳ đến tế lễ. Người trong họ của tiên sinh là Nguyễn Hữu Lý sợ sau này gia phả thất lạc có soạn lại một quyển và nhờ tôi viết cho bài tựa.
Tôi đây là người đất Hồng Châu, nghĩa là cùng quê với tiên sinh, nhưng nay đã cách 190 năm rồi, còn biết gì để viết.
Lúc thơ ấu, tôi cũng thường được nghe các bậc phụ huynh nói chuyện tiên sinh, nhưng cũng chỉ biết đại khái là cụ Trạng Trình thôi. Sau nhân những buổi bình luận về tiên hiền với các quan đại phu, tôi có thêm ít nhiều nên ước có dịp thuận tiện sẽ về tận quê quán của tiên sinh để tìm hiểu cho tường. Ước mãi chưa được vì cứ luôn luôn bị việc quan bó buộc.May thay! Năm Tân Dậu niên hiệu Cảnh Hưng (1741 đời Lê Hiển Tôn) tôi vâng mệnh đổi đi Hồng Châu, nhận thấy cùng với nơi nhà cũ tiên sinh chỉ trong gang tấc, tới lui dễ dàng, nhưng lại vì việc quân ngũ quá bề bộn nên mãi đến mùa xuân năm sau, tức năm Nhâm Tuất, trong khi vâng mệnh đi bối đắp đê sông Nhị Hà, mới thực hiện được ý định nói trên.
Đến quê hương của tiên sinh, tôi tìm đến nền quán Trung Tân, coi tấm bia cũ, nhưng nét chữ đã quá mờ, không sao đọc nổi. Tôi vào đền thờ bái yết, nhân tiện hỏi người cháu bảy đời là Nguyễn Thời Đương để xem hành trạng nhưng cũng không thâu thập được gì. Hỏi thăm các bô lão thì sau cơn binh lửa cũng chẳng còn ai biết; duy chỉ có viên hương ấp là Trần Bá Quang biết sơ qua về mấy việc cũ. Ông này ôn lại cho nghe bài phú quốc âm tức bài văn bia quán Trung Tân và đưa cho một bản lục ít bài thơ của tiên sinh. Nhân tiện tôi hỏi đến những di tích của cầu Trường Xuân, cầu Nghinh Phong rồi đi thăm nơi vườn cũ, tới nơi chỉ thấy ba gian nhà lá. Thời Đương và con cháu hơn mười người cũng ở căn nhà đó.
Tôi nhìn quang cảnh đã sinh lòng hoài cảm, lại trông bốn phía càng bồi hồi nữa. Này phía bên tả trước mặt là một cái đầm và bốn năm cái vũng, tất cả độ vài trăm mẫu, bề sâu chỉ độ hơn trượng, chỗ đứt chỗ nối, chỗ thắt chỗ phình, khi thì yên lặng, khi nắng vàng tỏa, phải chăng đây chính là chỗ kiểu đất Nghiễn trì thủy ảnh (mặt hồ nghiên, ánh nước long lanh) có khí thiêng chung đúc để sinh ra một đại nhân vậy?
Do đó tôi ngâm vịnh thẩn thơ, chẳng muốn dời chân. Ôi! Tôi muốn vì tiên sinh viết bài tựa quyển Gia phả, nhưng ngặt vì việc quân khẩn cấp, còn phải gác bút để đeo gươm, thành thử phải đợi ngày khác nữa.
Năm Quý Hợi (1743 đời Lê Hiển Tôn) khoảng mùa Đông, tôi vâng mệnh đi dẹp bọn thuỷ khấu ở vùng Đồ Sơn, nhân lúc đóng quân trên bờ sông Tuyết, lại đến yết kiến đền thờ của tiên sinh. Bọn Thời Đường cho tôi xem quyển Gia phả và nói : Trước đây đã trãi bao phen loạn lạc, chẳng còn quyển nào, sau họ mới sưu tầm được mấy trang rách, trong đó chỉ biên tên họ tiền nhân, ngoài ra chẳng có gì khác cả. Vì thế tôi phải thâu nhặt ý kiến nhiều người, rồi hợp với những điều mắt thấy tai nghe để viết nên bài tựa. Còn việc sưu tầm những bài thơ của tiên sinh, xếp thành thiên, đóng thành tập, để lưu lại cho đời sau thì xin nhường phấn các vị cao minh khác.
Than ôi Phượng Hoàng, Kỳ Lân, đâu phải những vật thường thấy trong vũ trụ xưa nay, mà có thì chúng phải hiện ở những chỗ như vườn nhà Đường (vua Nghiêu) sân nhà Nhu (vua Thuấn) mới là điềm tốt lành. Như tiên sinh đã có sẵn tư chất thông tuệ lại thâm hiểu đạo học thánh hiền, ví phỏng gặp thời để thi thố sở học thì chắc sẽ tạo ra được cảnh trị bình, biến đổi được thói ở trọc phù bạc ra lễ nghĩa văn minh. Khá tiếc thay, một người có tài đức phù tá Vương nghiệp lại sinh giữa thời đại bá giả, khiến cho sở học không áp dụng được gì. Tuy nhiên, dùng thì làm, bỏ thì ẩn, sự đắc dụng hay không, đối với tiên sinh cũng chẳng quan trọng gì. Tôi rất hâm mộ điểm ấy của tiên sinh. Tiên sinh sinh trưởng trên đất nhà Mạc, có lúc thử ra làm quan để thi hành sở học thì cũng là việc bắt chước việc Khổng Phu Tử xưa đi ra mắt Công Sơn Phất Nhiễu; rồi khi thấy không thể giúp được, vội bỏ đi thì lại muốn theo trí sáng của Trương Tử Phòng theo gót Xích Tùng Tử xưa.
Nay tôi đọc những thi văn còn lại của tiên sinh, cũng chẳng khác nào được nghe tiếng reo ngọc khua vàng, sáng sủa như thái dương, rực rỡ như mây màu, thơ thái như cái phong vị tắm nước sông Nghi rồi lên hóng mát ở Vũ vu của Tăng Điểm ngày trước, và cái phong độ yêu sen thích lan của các tiên nho xưa. Đồng thời cũng như thấy tiên sinh và được bái kiến tiên sinh ở chỗ đang ngồi dạy học vậy.
Ngoài ra, tiên sinh lại là người tinh thông Lý học, thấu triệt họa phúc, biết rõ dĩ vãng và tương lai, cả trăm đời sau chưa chắc đã có ai hơn được.
Ôi ! Thiên hạ xưa nay, các bậc quân vương và hiền giả thiếu gì nhưng sống thì phú quý vinh hoa còn khuất, hỏi thời gian sau, đã có mấy ai được người đời nhắc đến. Còn tiên sinh, nay con cháu đã bảy tám đời mà gần thì sĩ phu, dân thứ còn xem như sao Đẩu trên trời, cho cách nghìn năm cũng còn mường tượng như mới buổi sớm nào; xa thì sứ giả Thanh triều là Chu Xán khi nói đến nhân vật Lĩnh Nam cũng có câu “An Nam lý học hữu Trình Tuyền” (về môn lý học nước Nam có ông Trình Tuyền) rồi chép vào sách để truyền lại bên Tàu. Như thế, đủ biết tiên sinh là người rất mực của nước ta về thời đại trước vậy
NGUYỄN BỈNH KHIÊM TRÊN BÁCH KHOA THƯ
Hoàng Kim khởi thảo mục https://vi.wikipedia.org/wiki Nguyễn Bỉnh Khiêm, Wikipedia Tiếng Việt. đã trên chục năm, nay qua nhiều biến đổi nhờ sự hiệu đính bổ sung của nhiều thức giả.
Nguyễn Bỉnh Khiêm, huý là Văn Đạt, tự Hanh Phủ, hiệu Bạch Vân cư sĩ, thường gọi là Trạng Trình Tuyết Giang phu tử, là nhà giáo, nhà tiên tri, nhà thơ triết lý, nhà văn hoá lớn nhất thời Lê -Mạc, bậc kỳ tài yêu nước thương dân, xuất xử hợp thời, hợp lý, sáng suốt, nhân vật lịch sử ảnh hưởng nhất Việt Nam thế kỷ 16. Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm1491 ở Vĩnh Bảo, mất ngày 28 tháng 11 năm 1585, mẹ và bố là Nhữ Thị Thục và Nguyễn Văn Định.
Nguyễn Bỉnh Khiêm có ba người vợ với 12 người con, trong đó có 7 người con trai, con trai trưởng là Nguyễn Văn Chính.; Sau khi ông đậu Trạng nguyên khoa thi Ất Mùi năm 1535 và làm quan dưới triều Mạc được phong tước Trình Tuyền Hầu rồi thăng tới Trình Quốc Công, dân gian quen gọi ông là Trạng Trình. Ông là nhà hiền triết phương Đông, nhà tiên tri số một Việt Nam, được sĩ phu, dân thứ xem như sao Đẩu trên trời, cho cách nghìn năm cũng còn mường tượng như mới buổi sớm nào; xa thì sứ giả Thanh triều là Chu Xán khi nói đến nhân vật Lĩnh Nam cũng có câu “An Nam lý học hữu Trình Tuyền” (về môn lý học nước Nam có ông Trình Tuyền) rồi chép vào sách để truyền lại bên Tàu theo nhận định của tiến sĩ Vũ Khâm Lân trong Bài tựa Nguyễn Công Văn Đạt phổ ký viết năm 1743 trích Gia phả dòng họ Trạng Trình. Ông trao lại kiệt tác kỳ thư Sấm Trạng Trình sau 500 năm đến nay đã giải mã được các dự báo thiên tài chuẩn xác đến lạ lùng. Đạo Cao Đài sau này đã phong thánh cho ông và suy tôn ông là Thanh Sơn đạo sĩ hay Thanh Sơn chân nhân. Nguyễn Bỉnh Khiêm là danh sĩ tinh hoa, hiền tài muôn thuở của người Việt, dân tộc Việt và nhân loại.
SẤM TRẠNG TRÌNH BẢN A 262 CÂU (*)
Đọc Sấm ký Nguyễn Bỉnh Khiêm
Hoàng Kim sưu tầm, tuyển chọn, biên soạn và giới thiệu
trên Danh nhân ngày 1 tháng 2 năm 2008.
Sấm ký Nguyễn Bỉnh Khiêm, hay còn gọi là Sấm Trạng Trình, là những lời tiên tri của Nguyễn Bỉnh Khiêm về các biến cố chính của dân tộc Việt trong khoảng 500 năm, từ năm 1515 đến năm 2015. Đây là các dự báo thiên tài, hợp lý, tùy thời, tự cường, hướng thiện và lạc quan theo lẽ tự nhiên “thuận thời thì an nhàn, trái thời thì vất vả”. “Trạng Trình đã nắm được huyền cơ của tạo hóa” (lời Nguyễn Thiếp – danh sĩ thời Lê mạt). “An Nam lý học hữu Trình Tuyền” (lời Chu Xán sứ giả của triều Thanh). Vua Phật Trần Nhân Tông (1258-1308) là người trước thời Nguyễn Bỉnh Khiêm, rất coi trọng phép biến Dịch. Người đã viết trong “Cư trần lạc đạo”: “Kinh Dịch xem chơi, yêu tính sáng yêu hơn châu báu. Sách Nhàn đọc giấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim”. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm với “Sấm ký”, “Bạch Vân Am thi văn tập”,“Thái Ất thần kinh”, “huyền thoại và di tích lịch sử” đã lưu lại cho dân tộc Việt Nam và nhân loại một tài sản văn hoá vô giá. Sấm ký gắn với những giai thoại và sự thật lịch sử hiện đã được giải mã, chứng minh tính đúng đắn của những quy luật- dự đoán học trong Kinh Dịch và Thái Ất thần kinh”. Đến nay đã có 36 giai thoại và sự thật lịch sử về Sấm Trạng Trình đã được giải mã mà chúng tôi sẽ lần lượt đăng trong các bài nghiên cứu tiếp theo.
Sấm Trạng Trình bản A 262 câu là bản trích từ sách “Thành ngữ, điển tích, danh nhân từ điển” (tập 2) của Trịnh Văn Thanh – Sài Gòn – 1966. Đây là bản phù hợp nhất với bản tiếng Hán Nôm lưu tại Thư viện Khoa học Xã hội ( trước đây là Viện Viễn Đông Bác Cổ) và lưu tại Thư viện Quốc gia Hà Nội.; Sấm Trạng Trình gồm 14 câu “cảm đề” và 248 câu “sấm ký”. Tài liệu liên quan hiện có ít nhất ba dị bản, Trong số 20 văn bản, có 7 bản tiếng Hán Nôm lưu tại Thư viện Khoa học Xã hội và Thư viện Quốc gia Hà Nội và 13 tựa sách quốc ngữ về sấm Trạng Trình xuất bản từ năm 1948 đến nay. Bản Sấm Trạng Trình tiếng quốc ngữ phát hiện sớm nhất có lẽ tại Bạch Vân Am thi văn tập in trong Quốc Học Tùng Thư năm 1930 nhưng hiện nay sách này vẫn chưa tìm được.
CẢM ĐỀ
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Thanh nhàn vô sự là tiên
Năm hồ phong nguyệt ruổi thuyền buông chơi
Cơ tạo hoá
Phép đổi dời
Đầu non mây khói tỏa
Mặt nước cánh buồm trôi
Hươu Tần mặc kệ ai xua đuổi
Lầu Hán trăng lên ngẫm mệnh trời
Tuổi già thua kém bạn
Văn chương gửi lại đời
Dở hay nên tự lòng người cả
Nghiên bút soi hoa chép mấy lời
Bí truyền cho con cháu
Dành hậu thế xem chơi.
Nước Nam từ họ Hồng Bàng
Biển dâu cuộc thế, giang sơn đổi dời
Từ Đinh, Lê, Lý, Trần thuở trước
Đã bao lần ngôi nước đổi thay
Núi sông thiên định đặt bày
Đồ thư một quyển xem nay mới rành
Hoà đao mộc lạc,
Thập bát tử thành.
Đông A xuất nhập
Dị mộc tái sinh.
Chấn cung xuất nhật
Đoài cung vẫn tinh.
Phụ nguyên trì thống,
Phế đế vi đinh.
Thập niên dư chiến,
Thiên hạ cửu bình.
Lời thần trước đã ứng linh,
Hậu lai phải đoán cho minh mới tường.
Hoà đao mộc hồi dương sống lại
Bắc Nam thời thế đại nhiễu nhương.
Hà thời biện lại vi vương,
Thử thời Bắc tận Nam trường xuất bôn
Lê tồn, Trịnh tại,
Lê bại, Trịnh vong.
Bao giờ ngựa đá sang sông,
Thì dân Vĩnh Lại quận công cả làng.
Hà thời thạch mã độ giang.
Thử thời Vĩnh Lại nghênh ngang công hầu.
Chim bằng cất cánh về đâu?
Chết tại trên đầu hai chữ quận công.
Bao giờ trúc mọc qua sông,
Mặt trời sẽ lại đỏ hồng non Tây.
Đoài cung một sớm đổi thay,
Chấn cung sao cũng sa ngay chẳng còn.
Đầu cha lộn xuống chân con,
Mười bốn năm tròn hết số thời thôi.
Phụ nguyên chính thống hẳn hoi,
Tin dê lại phải mắc mồi đàn dê.
Dục lòng chim chích u mê,
Thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm.
Để loại quỷ bạch Nam xâm,
Làm cho trăm họ khổ trầm lưu ly
Ngai vàng gặp buổi khuynh nguy
Gia đình một ở ba đi dần dần.
Cho hay những gã công hầu,
Giầu sang biết gửi nơi đâu chuyến này.
Kìa kìa gió thổi lá rung cây
Rung Bắc, rung Nam, Đông tới Tây
Tan tác kiến kiều an đất nước
Xác xơ cổ thụ sạch am mây.
Lâm giang nổi sóng mù thao cát,
Hưng địa tràn dâng hóa nước đầy.
Một ngựa một yên ai sùng bái?
Nhắn con nhà vĩnh bảo cho hay.
Tiền ma bạc quỷ trao tay
Đồ, Môn, Nghệ, Thái dẫy đầy can qua,
Giữa năm hai bẩy mười ba,
Lửa đâu mà đốt tám gà trên mây.
Rồng nằm bể cạn dễ ai hay,
Rắn mới hai đầu khó chịu thay,
Ngựa đã gác yên không người cưỡi
Dê không ăn lộc ngoảnh về Tây.
Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu
Gà kia vỗ cánh chập chùng bay
Chó nọ vẫy đuôi mừng thánh chúa
Ăn no ủn ỉn lợn kêu ngày.
Nói cho hay khảm cung ong dậy,
Chí anh hùng biết đấy mới ngoan
Chữ rằng lục, thất nguyệt gian
Ai mà giữ được mới nên anh tài.
Ra tay điều độ hộ mai
Bấy giờ mới rõ là người an dân
Lọ là phải nhọc kéo quân,
Thấy nhân ai chẳng mến nhân tìm về.
Phá điền than đến đàn dê
Hễ mà chuột rúc thì dê về chuồng
Dê đi dê lại tuồn luồn
Đàn đi nó cũng một môn phù trì
Thương những kẻ nam nhi chí cả
Chớ vội sang tất tả chạy rong
Học cho biết chữ cát hung
Biết phương hướng đứng chớ đừng lầm chi
Hễ trời sinh xuống phải thì
Bất kỳ nhi ngộ tưởng gì đợi mong.
Kìa những kẻ vội lòng phú quý
Xem trong mình một tí đều không
Ví dù có gặp ngư ông
Lưới dăng đâu dễ nên công mà hòng
Khuyên những đấng thời trung quân tử
Lòng trung nghi nên giữ cho mình
Âm dương cơ ngẫu hộ sinh
Thái Nhâm, Thái Ất trong mình cho hay.
Chớ vật vờ quen loài ong kiến
Hư vô bàn miệng tiếng nói không.
Ô hô thế sự tự bình bồng
Nam Bắc hà thời thiết lộ thông
Hồ ẩn sơn trung mao tận bạch
Kình ngư hải ngoại huyết lưu hồng.
Kê minh ngọc thụ thiên khuynh bắc
Ngưu xuất lam điền nhật chính đông
Nhược đãi ưng lai sư tử thượng
Tứ phương thiên hạ thái bình phong
Ngỡ may gặp hội mây rồng
Công danh rạng rỡ chép trong vân đài
Nước Nam thường có thánh tài
Sơn hà đặt vững ai hay tỏ tường?
So mấy lề để tàng kim quỹ
Kể sau này ngu bỉ được coi
Đôi phen đất lở, cát bồi
Đó đây ong kiến, dậy trời quỷ ma
Ba con đổi lấy một cha
Làm cho thiên hạ xót xa vì tiền
Mão Thìn Tí Ngọ bất yên
Đợi tam tứ ngũ lai niên cùng gần.
Hoành Sơn nhất đái
Vạn đại dung thân
Đến thời thiên hạ vô quân
Làm vua chẳng dễ, làm dân chẳng lành.
Gà kêu cho khỉ dậy nhanh
Phụ nguyên số đã rành rành cáo chung
Thiên sinh hữu nhất anh hùng
Cứu dân độ thế trừ hung diệt tà.
Thái Nguyên cận Bắc đường xa
Ai mà tìm thấy mới là thần minh
Uy nghi dung mạo khác hình
Thác cư một góc kim tinh non đoài
Cùng nhau khuya sớm chăn nuôi
Chờ cơ mới sẽ ra đời cứu dân
Binh thư mấy quyển kinh luân
Thiên văn địa lý, nhân dân phép màu
Xem ý trời ngõ hầu khải thánh
Dốc sinh ra điều đỉnh hộ mai
Song thiên nhật nguyệt sáng soI
Thánh nhân chẳng biết thì coi như tường
Thông minh kim cổ khác thường
Thuấn Nghiêu là trí, Cao Quang là tài
Đấng hiên ngang nào ai biết trước
Tài lược thao uyên bác vũ văn
Ai còn khoe trí khoe năng
Cấm kia bắt nọ hung hăng với người.
Chưa từng thấy nay đời sự lạ
Chốc lại mòng gá vạ cho dân
Muốn bình sao chẳng lấy nhân
Muốn yên sao lại bắt dân ghê mình?
Đã ngu dại Hoàn, Linh đời Hán
Lại đua nhau quần thán đồ lê
Chức này quyền nọ say mê
Làm cho thiên hạ khôn bề tựa nương
Kẻ thì phải thuở hung hoang
Kẻ thì bận của bổng toan, khốn mình
Cửu cửu càn khôn dĩ định
Thanh minh thời tiết hoa tàn
Trực đáo dương đầu mã vĩ
Hồ binh bát vạn nhập Tràng An
Nực cười những kẻ bàng quang
Cờ tam lại muốn toan đường chống xe
Lại còn áo mũ xun xoe
Còn ra xe ngựa màu mè khoe khoang.
Ghê thay thau lẫn với vàng
Vàng kia thử lửa càng cao giá vàng
Thánh ra tuyết tán mây tan
Bây giờ mới sáng rõ ràng nơi nơi.
Can qua, việc nước bời bời
Trên thuận ý trời, dưới đẹp lòng dân
Oai phong khấp quỷ kinh thần
Nhân nghĩa xa gần bách tính ngợi ca
Rừng xanh, núi đỏ bao la
Đông tàn, Tây bại sang gà mới yên
Sửu Dần thiên hạ đảo điên
Ngày nay thiên số vận niên rành rành.
Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh
Can qua xứ xứ khổ đao binh
Mã đề dương cước anh hùng tận
Thân dậu niên lai kiến thái bình
Sự đời tính đã phân minh
Thanh nhàn mới kể chyện mình trước sau
Đầu thu gà gáy xôn xao
Mặt trăng xưa sáng tỏ vào Thăng Long.
Chó kêu ầm ỉ mùa đông
Cha con Nguyễn lại bế bồng nhau đi
Lợn kêu tình thế lâm nguy
Quỷ vương chết giữa đường đi trên giời
Chuột sa chỉnh gạo nằm chơi
Trâu cày ngốc lại chào đời bước ra
Hùm gầm khắp nẽo gần xa
Mèo kêu rợn tiếng, quỷ ma tơi bời.
Rồng bay năm vẻ sáng ngời
Rắn qua sửa soạn hết đời sa tăng
Ngựa hồng quỷ mới nhăn răng
Cha con dòng họ thầy tăng hết thời
Chín con rồng lộn khắp nơi
Nhện giăng lưới gạch dại thời mắc mưu
Lời truyền để lại bấy nhiêu
Phương đoài giặc đã đến chiều bại vong
Hậu sinh thuộc lấy làm lòng
Đến khi ngộ biến đường trong giữ mình
Đầu can Võ tướng ra binh
Ắt là trăm họ thái bình âu ca
Thần Kinh Thái Ất suy ra
Để dành con cháu đem ra nghiệm bàn
Ngày thường xem thấy quyển vàng
Của riêng bảo ngọc để tàng xem chơi
Bởi Thái Ất thấy lạ đời
Ấy thuở sấm trời vô giá thập phân
Kể từ đời Lạc Long Quân
Đắp đổi xoay vần đến lục thất gian
Mỗi đời có một tôi ngoan
Giúp chung nhà nước dân an thái bình
Phú quý hồng trần mộng
Bần cùng bạch phát sinh
Hoa thôn đa khuyển phệ
Mục giã giục nhân canh
Bắc hữu Kim thành tráng
Nam hữu Ngọc bích thành
Phân phân tùng bách khởi
Nhiễu nhiễu xuất đông chinh
Bảo giang thiên tử xuất
Bất chiến tự nhiên thành
Rồi ra mới biết thánh minh
Mừng đời được lúc hiển vinh reo hò
Nhị Hà một dải quanh co
Chính thực chốn ấy đế đô hoàng bào
Khắp hoà thiên hạ nao nao
Cá gặp mưa rào có thích cùng chăng?
Nói đến độ thầy tăng mở nước
Đám quỷ kia xuôi ngược đến đâu
Bấy lâu những cậy phép màu
Bây giờ phép ấy để lâu không hào
Cũng có kẻ non trèo biển lội
Lánh mình vào ở nội Ngô Tề
Có thầy Nhân Thập đi về
Tả hữu phù trì, cây cỏ thành binh
Những người phụ giúp thánh minh
Quân tiên xướng nghĩa chẳng tàn hại ai
Phùng thời nay hội thái lai
Can qua chiến trận để người thưởng công
Trẻ già được biết sự lòng
Ghi làm một bản để hòng giở xem
Đời này những thánh cùng tiên
Sinh những người hiền trị nước an dân
Này những lúc thánh nhân chưa lại
Chó còn nằm đầu khải cuối thu
Khuyên ai sớm biết khuông phù
Giúp cho thiên hạ Đường, Ngu ngỏ hầu.
Cơ tạo hoá phép mầu khôn tỏ,
Cuộc tàn rồi mới tỏ thấp cao.
Thấy sấm từ đây chép vào
Một mảy tơ hào chẳng dám sai ngoa.”
BIỂN ĐÔNG VẠN DẶM GIANG TAY GIỮ
Biển Đông vạn dặm giang tay giữ. Đất Việt muôn năm vững thái bình” và thông điệp ngoại giao của cụ Trạng Trình nhắn gửi con cháu về lý lẽ giữ nước: “Muốn bình sao chẳng lấy nhân / Muốn yên sao lại bắt dân ghê mình. Điều lạ trong câu thơ là dịch lý, ẩn ngữ, chiết tự của cách ứng xử hiện thời. Bình là hòa bình nhưng bình cũng là Tập Cận Bình. Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam là sự thật hiển nhiên, khó ai có thể lấy mạnh hiếp yếu, cưỡng tình đoạt lý để mưu toan giành giật, cho dù cuộc đấu thời vận và pháp lý trãi hàng trăm, hàng ngàn năm, là “kê cân – gân gà” mà bậc hiền minh cần sáng suốt. “Cổ lai nhân giả tri vô địch, Hà tất khu khu sự chiến tranh” Từ xưa đến nay, điều nhân là vô địch, Cần gì phải khư khư theo đuổi chiến tranh. “Quân vương như hữu quang minh chúc, ủng chiếu cùng lư bộ ốc dân” Nếu nhà vua có bó đuốc sáng thì nên soi đến dân ở nơi nhà nát xóm nghèo.”Trời sinh ra dân chúng, sự ấm no, ai cũng có lòng mong muốn cả”; “Xưa nay nước phải lấy dân làm gốc, nên biết rằng muốn giữ được nước, cốt phải được lòng dân”. Đạo lý, Dịch lý, Chiết tự và Ẩn ngữ Việt thật sâu sắc thay !
Trung Hoa có câu chuyện phong thủy. Núi Cảnh Sơn. Jǐngshān, 景山, “Núi Cảnh”, địa chỉ tại 44 Jingshan W St, Xicheng, Beijing là linh địa đế đô. Cảnh Sơn là Núi Xanh, Green Mount, ngọn núi nhân tạo linh ứng đất trời, phong thủy tuyệt đẹp tọa lạc ở quận Tây Thành, chính bắc của Tử Cấm Thành Bắc Kinh, trục trung tâm của Bắc Kinh, thẳng hướng Cố Cung, Thiên An Môn. Trục khác nối Thiên Đàn (天坛; 天壇; Tiāntán, Abkai mukdehun) một quần thể các tòa nhà ở nội thành Đông Nam Bắc Kinh, tại quận Xuanwu. Trục khác nối Di Hòa Viên (颐和园/頤和園; Yíhé Yuán, cung điện mùa hè) – là “vườn nuôi dưỡng sự ôn hòa” một cung điện được xây dựng từ thời nhà Thanh, nằm cách Bắc Kinh 15 km về hướng Tây Bắc. Một hướng khác nối Hải Nam tại thành phố hải đảo Tam Sa, nơi có pho tượng Phật thuộc loại bề thế nhất châu Á. Tam Sa là thành phố có diện tích đất liền nhỏ nhất, tổng diện tích lớn nhất và có dân số ít nhất tại Trung Quốc. Theo phân định của chính phủ Trung Quốc, Tam Sa bao gồm khoảng 260 đảo, đá, đá ngầm, bãi cát trên biển Đông với tổng diện tích đất liền là 13 km². Địa giới thành phố trải dài 900 km theo chiều đông-tây, 1800 km theo chiều bắc-nam, diện tích vùng biển khoảng 2 triệu km². Đó là đường lưỡi bò huyền bí. Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam nằm trên trục chính của sự thèm muốn này.
Ngày xuân đọc Trạng Trình. Lạ lùng thay hơn 500 trước Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dự báo điều này và sứ giả Thanh triều là Chu Xán khi nói đến nhân vật Lĩnh Nam cũng có câu “An Nam lý học hữu Trình Tuyền” (về môn lý học nước Nam có ông Trình Tuyền) rồi chép vào sách để truyền lại bên Tàu.
CỰ NGAO ĐỚI SƠN
Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm Bích tầm tiên sơn triệt đế thanh Cự ngao đới đắc ngọc hồ sinh Đáo đầu thạch hữu bổ thiên lực Trước cước trào vô quyển địa thanh Vạn lý Đông minh quy bá ác Ức niên Nam cực điện long bình Ngã kim dục triển phù nguy lực Vãn khước quan hà cựu đế thành Dịch nghĩa: CON RÙA LỚN ĐỘI NÚI Nước biếc ngâm núi tiên trong tận đáy Con rùa lớn đội được bầu ngọc mà sinh ra Ngoi đầu lên, đá có sức vá trời Bấm chân xuống, sóng cuồn cuộn không dội tiếng vào đất Biển Đông vạn dặm đưa về nắm trong bàn tay Muôn năm cõi Nam đặt vững cảnh trị bình Ta nay muốn thi thổ sức phù nguy Lấy lại quan hà, thành xưa của Tổ tiên. Dịch thơ: CON RÙA LỚN ĐỘI NÚI Núi tiên biển biếc nước trong xanh Rùa lớn đội lên non nước thành Đầu ngẩng trời dư sức vá đá Dầm chân đất sóng vỗ an lành Biển Đông vạn dặm dang tay giữ Đất Việt muôn năm vững trị bình Chí những phù nguy xin gắng sức
Cõi bờ xưa cũ Tổ tiên mình.(Bản dịch thơ Nguyễn Khắc Mai)
THƠ VĂN NGUYỄN BỈNH KHIÊM
Bốn tác phẩm tuyển chọn
DƯỠNG SINH THI
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Tích khí, tồn tinh, cánh dưỡng thần
Thiểu tư, qủa dục, vật lao thân.
Thực thôi ban bảo, vô kiêm vị,
Tửu chỉ tam phân, mạc quá tần
Mỗi bả hý ngôn, đa thủ tiếu,
Thường hàm, lạc ý, mạc sinh xân
Nhiệt viêm, biến trá, đô hưu vấn
Nhiệm ngã tiêu dao qúa bách xuân
Dịch thơ
Giữ khí, gìn tinh, lại dưỡng thần
Ít lo, ít muốn, ít lao thân.
Cơm nên vừa bụng, đừng nhiều vị,
Rượu chỉ vài phân, chớ qúa từng.
Miệng cứ câu đùa, vui miệng mãi,
Bụng thường nghĩ tốt, bụng lâng lâng.
Bốc đồng, biến trá, thôi đừng hỏi,
Để tớ tiêu dao đến tuổi trăm.
(Bản dịch của GS. Lê Trí Viễn)
NHÀN (Thơ Nôm, bài 73)
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao.
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
Rượu đến cội cây, ta sẽ nhắp
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.
CHÍN MƯƠI (Thơ Nôm, bài 29)
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Tóc đã thưa, răng đã mòn,
Việc nhà đã phó mặc dâu con.
Bàn cờ, cuộc rươu, vầy hoa cúc
Bó củi, cần câu, trốn nước non.
Nhàn được thú vui hay nấn ná,
Bữa nhiều muối bể chứa tươi ngon
Chín mươi thì kể xuân đà muộn
Xuân ấy qua thì xuân khác còn.
NGUYỄN BỈNH KHIÊM: MẶT TRỜI MỌC Ở PHƯƠNG ĐÔNG
Vẹn toàn điều Thiện là Trung, không vẹn toàn điều Thiện thì không phải là Trung. Tân là cái bến, biết chỗ dừng lại là bến chính, không biết chỗ dừng lại là bến mê… Nghĩa chữ Trung chính là ở chỗ Chí Thiện. (Trung Tân quán bi ký, 1543)
Làm việc thiện không phải vì công tích mà ở tấm lòng. Nay vừa sau cơn loạn lạc thì chẳng những thân người ta bị chìm đắm, mà tâm người ta càng thêm chìm đắm. Các bậc sĩ đệ nên khuyến khích nhau bằng điều thiện, để làm cho mọi người dấy nên lòng thiện mà tạo nên miền đất tốt lành. (Diên Thọ kiều bi ký, 1568).
Hoành Sơn nhất đái, khả dĩ dung thân
(Nguyễn Bỉnh Khiêm nói với sứ giả của Đoan Quận công Nguyễn Hoàng)
Cao Bằng tuy thiểu, khả diên sổ thế
(Nguyễn Bỉnh Khiêm nói với sứ giả của vua Mạc)
Lê tồn Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong
(Nguyễn Bỉnh Khiêm nói về mối quan hệ giữa vua Lê và chúa Trịnh)
Tứ bách niên tiền, chung phục thuỷ / Thập tam thế hậu, dị nhi đồng
(Nguyễn Bỉnh Khiêm viết về con cháu họ Mạc)
Hồng Lam ngũ bách niên thiên hạ / Hưng tộ diên trường ức vạn xuân
(Nguyễn Bỉnh Khiêm viết về thời vận mới của nước Việt)
Cổ lai quốc dĩ dân vi bản / Đắc quốc ưng tri tại đắc dân
(Thơ chữ Hán, Cảm hứng)
Cổ lai nhân giả tư vô địch / Hà tất khu khu sự chiến tranh
(Thơ chữ Hán)
Tất cánh dục cầu ngô lạc xứ / Tri ngô hậu lạc tại tiên ưu
(Thơ chữ Hán, Ngụ hứng)
Có thuở được thời mèo đuổi chuột / Đến khi thất thế kiến tha bò
(Thơ Nôm, Bài 75)
Thớt có tanh tao ruồi đậu đến / Ang không mật mỡ kiến bò chi
(Thơ Nôm, Bài 53)
Hoa càng khoe nở, hoa nên rữa / Nước chứa cho đầy, nước ắt vơi
(Thơ Nôm, Bài 52)
Thế gian biến cải vũng nên đồi / Mặn nhạt chua cay lẫn ngọt bùi
(Thơ Nôm, Bài 77)
Làm người hay một chớ hay hai / Chớ cậy rằng hơn, chớ cậy tài
(Thơ Nôm, Bài 65)
Làm người chớ thấy tài mà cậy / Có nhọn bao nhiêu lại có tù
(Thơ Nôm, Bài 11)
Làm người có dại mới nên khôn / Chớ dại ngây si, chớ quá khôn
(Thơ Nôm, Bài 94)
Chớ cậy rằng khôn khinh rẻ dại / Gặp thời, dại cũng hoá ra khôn
(Thơ Nôm, Bài 94)
Thuở khó dẫu chào, chào cũng lảng/ Khi giàu chẳng hỏi, hỏi thời quen
(Thơ Nôm, Bài 5)
Đạo ở mình ta lấy đạo trung / Chớ cho đục, chớ cho trong
(Thơ Nôm, Bài 104)
https://youtu.be/_SbQfvZP_Q0 An vui cụ Trạng Trình THANH MINH TIẾT THÁNG BA https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana

#hga 190 Hoàng Gia An tiếng Anh 190 https://youtu.be/Vp0myGo0dig
@hoanggiaan20170 seconds ago https://youtu.be/_Uem1OmWNQ Tỉnh Thức Cùng Tháng Năm/ Bồ Đề Nôi Hạnh Phúc https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana

HỌC LÀM NGƯỜI
HỌC ĂN HỌC NÓI HỌC HỎI
Chính Trung Hiếu Thiện Lành
Một Gia Đình Yêu Thương
Vui Đi Dưới Mặt Trời
#cnm365 #TìnhYêuCuộcSống
Ngọc Long Lâm Thành Phước
Bình Minh An Ngày Mới
Nguyên Thủy Kim Liêm Hiển
#ĐáVàng Với #BanMai
Biết Ơn Lời Thầm Lặng
Bài Học Đầu Đời Con
https://cnm365.wordpress.com & https://youtu.be/2cS7AQdf_To & Tâm Inamori Kawano Sách Quý https://youtu.be/ryRBFmn6b0c?si=m8w5lWnr9RRN_23T

Trà Sớm Với Lão Nông https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tra-som-voi-lao-nong/

HOÀNG TỐ NGUYÊN TIẾNG TRUNG
#htn365 https://youtu.be/i9VVmW8eJJ8 https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana VẬN MỆNH MỘT NGƯỜI TỐT hiển lộ trên khuôn mặt https://youtu.be/KWa4PEyt9TQ?si=FYvq5ALAFAkZY9u9 & https://youtu.be/Xm8VYVJ4umc?si=CmqJ_u8iSZpuNZth & Kinh Dịch Ngọc Trí Tuệ https://youtu.be/LXpzkhsSaNk?si=zJbXjXkK6GEpm5kW & https://youtu.be/H02l9puur04?si=nUTSKE5llnUxKlUl & https://youtu.be/XbsZEXMSV34?si=FfuItKii9eTn4zFj & https://youtu.be/W_p3-jeNZ_E?si=VCIEAasm1MkSwfMv & https://youtu.be/ebZmqzqqEig?si=kyCM3J3eMLEG1Pph
#hgb365 14 Bình Minh An Tiếng Trung 14A https://youtu.be/WQazg52lkwI

CẢM ƠN ĐỜI CÓ PHƯỚC
Đức Độ Và An Nhiên
Phước Tình Yêu Cuộc Sống
Nam Ông Giấc Mộng Hiền
Tâm An Nhiên Thung Dung
Sống Thiện Lành Vui Khỏe
Gia Đình Thầy Bạn Quý
Tình Tiền Đủ Thảnh Thơi
Đời Phúc Hậu Lạc Quan
Chính Trung Hiếu Thiện Lành
Trí Tuệ Người Tôn Trọng
Từ Bi Thấu Khoan Dung
Nhân Duyên Thời Phục Sinh
Bồ Đề Nôi Hạnh Phúc
#cnm365 Bạch Ngọc Hoàng Kim https://youtu.be/YlsthMwlxzA
Bồ Đề Nôi Hạnh Phúc https://youtu.be/F82cmvejJMY; https://youtu.be/M1KLBBEH3CQ Ngẫm Quán Trà Đời https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana
Chúc mừng Ngày Tình Yêu, bản tình ca bền vững với thời gian. Ngày 14 tháng 2 là Ngày Valentine (hay còn gọi là Lễ tình nhân) một biểu tượng nổi tiếng khắp thế giới. Ngày này năm xưa. Ngày 14 tháng 2 năm 1918, lịch Gregory, bộ lịch mới do Giáo hoàng Grêgôriô XIII đưa ra vào năm 1582 Liên Xô bắt đầu sử dụng sau cách mạng tháng 10 Nga và đã được sử dụng rộng rãi tới ngày nay. Ngày 14 tháng 2 năm 2005, tên miền của Youtube được kích hoạt, Youtube hiện là trang web chia sẻ video lớn nhất thế giới;
Bài chọn lọc ngày 14 tháng 2: Xuân sớm Ngọc Phương Nam; Nắm chặt tay anh đi em; Giấc mơ lành yêu thương; Bài ca yêu thương; Biển nhớ Trịnh Công Sơn; Cần Thơ Bùi Hữu Nghĩa; Ngôi sao mai chân trời; Tết ấm áp tình thân; Nhớ Mẹ Cha; Hoàng Ngọc Dộ khát vọng; Hoàng Trung Trực đời lính; Đường xuân đời quên tuổi Thông tin tại https://hoangkimvn.wordpress.com/ và http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlong và https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-14-thang-2/ và https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-14-thang-2/

Bồ Đề Nôi Hạnh Phúc /Nam Ông Giấc Mộng Hiền https://youtu.be/bIm3ZYIOc6Y Nhạc Thiền Tâm An Lành https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana

Chúc Ngày Mới Vui Khỏe Biết Im Lâng Nói Chậm; Luyện Tâm Thiện Lời Vàng; Bồ Tát Tướng Tâm Sinh; Tướng Mạo Tùy Tâm Chuyển; Nhân Duyên Thời Phục Sinh; Soi sáng lại chính mình; Bồ Đề Nôi Hạnh Phúc; Tri Tâm Thuật Cổ Nhân https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana
Minh triết tâm an 16 hơi thở chánh niệm; Nhà tôi tình yêu cuộc sống; Hoàng Gia Bình tiếng Anh; VẬN MỆNH MỘT NGƯỜI TỐT HAY XẤU ĐỀU HIỂN LỘ TRÊN KHUÔN MẶT | THUẬT CỔ NHÂN; QUY LUẬT NHÂN QUẢ CÒN MẠNH HƠN PHONG THỦY GẤP TRĂM LẦN | THUẬT CỔ NHÂN https://youtu.be/gXPz6QUv3QQ?si=5myX6KytYLCwVkRl; TRI TÂM THUẬT https://youtu.be/E1gPCRvrCxg?si=lnMf0P9RF7a5ywjK; HÒA HỢP VỚI CHÍNH MÌNH https://youtube.com/shorts/fGShOMuO1-w?si=0OLPa-Oz4NkA0EF0; BIẾT ƠN ĐỜI CÓ PHÚC

Nam Ông Giấc Mộng Hiền
VĨNH THẠNH VÂN RẠCH GIÁ
Thánh Liễu đèo Ngang dạo
Toàn Chân nhẹ gót Tiên
Trầm Hương bền sử ký
Nam Ông* giấc mộng hiền
Hoàng Long Ngọc Phương Nam
Ước an bình may mắn . Tks
*Mạc tộc Lâm môn độ
May thiện lành đường xuân

NHÀ TÔI GIẤC MƠ XANH
Giấc mơ lành yêu thương
Gốc mai vàng trước ngõ
Chim Phượng về làm tổ
Hoa Lúa giữa Đồng Xuân
Minh triết sống phúc hậu
Ngày xuân đọc Trạng Trình
Thầy bạn trong đời tôi
Đêm trắng và bình minh
Cách mạng sắn Việt Nam
Giống khoai lang Việt Nam
Lúa siêu xanh Việt Nam
Nông nghiệp sinh thái Việt
Chọn giống sắn Việt Nam
Nhớ Viên Minh Hoa Lúa
CNM365 Tình yêu cuộc sống
Thầy bạn là lộc xuân
Hoàng Kim
câu chuyện cuộc đời tại 14 đường dẫn ở https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nha-toi-giac-mo-xanh & https://hoangkimlong.wordpress.com/category/mot-gia-dinh-yeu-thuong-2 & https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoanggia & https://youtu.be/UwspPNJwge8

Nguyễn Thị Thủy Hoàng Gia An
ÔNG BÀ VÀ CON CHÁU
Ông bà dạy cháu học
Lời hát ru chuyện đời
Có vàng vàng chẳng hay phô
Có con có cháu trầm trồ dễ nghe
Bà dạy cháu ăn nói
Ăn sạch thì sống lâu
Nói lành thì phước lớn
Lời nói không mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau
Ông và cháu trốn tìm
Học chuyện đời tìm kiếm:
Trăm năm ai chớ quên ai
Chỉ thêu nên gấm, sắt mài nên kim
Cháu và ông làm bài
Tô màu và đố chữ:
Vàng trắng xanh tím đỏ
An nhàn vô sự là Tiên
Bài đồng dao huyền thoại
Ngày mới Ngọc cho đời
Ông bà và con cháu
Một gia đình yêu thương
Cầu Trời Nối Mẹ Cha Xưa
Cầu trời nối mẹ cha xưa
Mưa dày thấm đất, nắng thưa thấu trời
Lời thương giao cảm lòng người
Ngày Cha Mẹ suốt trọn đời trong con.
https://youtu.be/7rKsYZYhp-U Thời Giao Mùa Huyền Diệu
xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/cau-troi-noi-me-cha-xua/. Thông tin tích hợp tại Tình thức cùng tháng năm #htn#ana#Thungdung, #dayvahoc, #vietnamhoc, #đẹpvàhay, #cnm365 , #cltvn ; https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ong-ba-va-con-chau/ & https://cnm365.wordpress.com/category/cnm365-cltvn-14-thang-2/

BỒ ĐỀ NÔI HẠNH PHÚC
Ngọc Phương Nam Bồ Đề Nôi Hạnh Phúc
Mẹ Thiên Nhiên Trời Đất Nước An Bình
Chính Trung Hiếu Thiện Lành Đức Độ
Tâm Hiền Hòa Phúc Hậu Bạn Cùng Ta
Thơ sâu như biển trời quan tái
TRÀ SỚM VỚI LÃO NÔNG
Tây Tiến AI VỮNG BƯỚC TỰ HÀO
Đường xuân đời quên tuổi gian lao
Điểm hẹn chim ưng về tổ ấm
Thăm thẳm trời sông Thương khát khao
Hoàng Kim
#Thungdung 568
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bai-ca-nhip-thoi-gian/
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bo-de-noi-hanh-phuc

THẾ GIỚI TRONG MẮT AI
Vườn nhà sớm mai nay
Trong vùng lành sinh khí
Một gia đình yêu thương
Đường xuân vui biết đủ
An nhiên giữa đời thường
Nguyễn Thị Thủy Hoàng Kim
tích hợp #Nhàtôi Cảm ơn bác Đăng Bui chúc phúc
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bo-de-noi-hanh-phuc/

TRÒ CHUYỆN VỚI LÃO NÔNG
Chơi cùng cháu con #ana DẠY HỌC
Nhàn với cỏ hoa #thungdung GIA ĐÌNH
Đi vừa sức mình #đávàng NGƯỜI THÂN
Ngủ khỏe giấc ngon #banmai THẦY BẠN
Vừa đủ phước đức thấm thía AN NHIÊN
Vừa đủ sức khỏe đừng cầu SỐNG THỌ
Vừa đủ tình tiền không phiền NẶNG NỢ
Vừa đủ yêu thương chẳng lụy ÂN TÌNH
https://hoangkimvn.wordpress.com/2025/02/10/ana/

HOÀNG TỐ NGUYÊN TIẾNG TRUNG
黄素源 (越南) Hoàng Tố Nguyên Việt Nam
Dạy và học tiếng Trung trực tuyến
#htn Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung https://hoangkimvn.wordpress.com/category/hoang-to-nguyen-tieng-trung/ và https://hoangkimlong.wordpress.com/tag/hoang-to-nguyen-tieng-trung. Bài học mới mỗi ngày https://hoangkimvn.wordpress.com/
Xây dựng học liệu mở #htn #vietnamxahoihoc #cnm365 #dayvahoc #vietnamhoc, #cltvn Việt Nam xã hội học (越南社会学; Vietnamese Sociology) Ngữ văn Việt Trung đối chiếu là môn học bảy bài Xã hội Việt Nam ngày nay; Nông nghiệp sinh thái Việt; Ngành nghề ở Việt Nam; Vùng sinh thái Việt Nam; Du lịch sinh thái Việt; Nước Việt Nam ngày nay; Việt Nam con đường xanh với 36 tiểu mục, là sách học Việt Trung.
Bài 1 Xã hội Việt Nam ngày nay có 5 tiểu mục:1.1 Việt Nam một khái quát; 1.2 Việt Nam con đường xanh; 1.3 Việt Nam tâm thế mới;1.4 Việt Nam sáng tạo KHCN; 1.5 Việt Nam dư địa chí Việt Nam xã hội học bách khoa mở 越南社会学开放百科全书 Vietnam Sociology Open Encyclopedia tích hợp thông tin mới trên cấu trúc Việt Nam xưa và nay để bổ sung Ngữ văn Việt Trung đối chiếu phục vụ học tập giảng dạy nghiên cứu
DẠY VÀ HỌC https://hoangkimvn.wordpress.com Việt Nam học; Học tiếng Trung và tiếng Việt 学中越文 Tổng quan về Kinh tế Xã hội và Văn hóa Việt Nam 越南社会经济和文化概述, Cây Lương thực Việt Nam; CNM365; Tình yêu cuộc sống
Tiếng Trung Kim Hân Online Tự Học Tiếng Hoa Giáo Trình Chuẩn HSK 1-6
https://www.chinesescholarshipcouncil.com/vi/
(*) Hội thảo khoa học Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao tiếng Trung Quốc từ lý thuyết đến thực tiển, thành phố Hồ Chí Minh 21-22 tháng 8 năm 2024 xem tiếp https://cn.sggp.org.vn/

Ông Bà Và Con Cháu
Ông Bà dạy cháu học
Lời hát ru chuyện đời
Có vàng vàng chẳng hay phô
Có con có cháu trầm trồ dễ nghe
Bà dạy cháu ăn nói
Ăn sạch thì sống lâu
Nói lành thì phước lớn
Lời nói không mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau
Ông và cháu trốn tìm
Học chuyện đời tìm kiếm:
Trăm năm ai chớ quên ai
Chỉ thêu nên gấm, sắt mài nên kim
Cháu và ông làm bài
Tô màu và đố chữ:
Vàng trắng xanh tím đỏ
An nhàn vô sự là Tiên
Bài đồng dao huyền thoại
Ngày mới Ngọc cho đời
Ông bà và con cháu
Một gia đình yêu thương
xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/cau-troi-noi-me-cha-xua Thông tin tích hợp tại Tình thức cùng tháng năm #htn #ana #Thungdung, #dayvahoc, #vietnamhoc, #đẹpvàhay, #cnm365 , #cltvn;
Hoàng Tố Nguyên tiếng Trung Tọa đàm Quốc tế MỚI

TRƯỜNG HỌC HƯỚNG BAN MAI
Bác Nhã học thức uyên bác, phẩm hạnh đoan chính.
Bát Nhã Tâm Kinh Trí Tuệ Trợ Duyên Phật Tánh
Hiếu học ‘Biển học vô bờ Siêng năng là bến’

Học ăn và học nói
Đầu tiên đến cuối cùng
Ca dao lọc tinh hoa
Dân ca truyền di sản

MĂNG NHÀ SỚM THU NAY
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng Người” ngày 13 tháng 9 năm 1958 tại lớp học chính trị của giáo viên cấp II, cấp III toàn miền Bắc. “Kế một năm, chi bằng trồng lúa, Kế 10 năm, chi bằng trồng cây. Kế trọn đời, chi bằng trồng Người”. “Trồng một, gặt một, ấy là lúa. Trồng một, gặt mười, ấy là cây, Trồng một, gặt trăm, ấy là Người.”. Kế một năm, chi bằng trồng lúa, Kế 10 năm, chi bằng trồng cây. Kế trọn đời, chi bằng trồng Người, Trồng một, gặt một, ấy là lúa. Trồng một, gặt mười, ấy là cây, Trồng một, gặt trăm, ấy là Người. ” Ngôn chí Gia Cát Mã Tiền Khóa, trích ý của Không Minh xưa,Thành tâm với chính mình https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thanh-tam-voi-chinh-minh/
Câu chuyện đầu năm mới
NAM ÔNG GIẤC MƠ HIỀN

Nam Ông Giấc Mộng Hiền
VĨNH THẠNH TÂN RẠCH GIÁ
Thánh Liễu đèo Ngang dạo
Toàn Chân nhẹ gót Tiên
Trầm Hương bền sử ký
Nam Ông* giấc mộng hiền
Hoàng Long Ngọc Phương Nam
Ước an bình may mắn . Tks
*Mạc tộc Lâm môn độ
May thiện lành đường xuân

“Cày đồng” sớm mai nay
TIẾNG VIỆT LUNG LINH SÁNG
Ca dao Việt “Cày đồng”
Mãn Giác thơ “Hoa Mai”
Thơ Việt ngoài ngàn năm
Tiếng Việt lung linh sáng
Bài đồng dao huyền thoại
Quốc Công đạo làm tướng
Tiết Chế đức dụng nhân
Lời dặn của Thánh Trần
Lời khuyên thói quen tốt
Phạm Ngũ Lão Thuật Hoài
Trần Khánh Dư “Bán than”
Nguyễn Trãi Dục Thúy Sơn
‘Muốn sang thì bắc cầu kiều‘
Chuyện đồng dao cho em
Hoàng Kim

TIẾNG TRUNG BÌNH MINH AN
Ông bà cha mẹ #annhiên vui
Con cháu #thungdung sống
Cậu với cháu an bình miền cổ tích
Thanh nhàn dạy học và vui chơi
https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana







Ngày giỗ của Tổ Bà Hoàng Tộc Hoàng Thị Thớc ngày 17 tháng Chạp nhằm ngày Tảo Mai (lặt là mai sáu ngày trước ngày Táo Quân lên Tết Trời) Hoàng Nhụy ngày 20 tháng 7 âm lịch https://cnm365.wordpress.com/2024/01/27/cnm365-cltvn-27-thang-1/ Ngày giỗ của Tổ Ông Trần tộc Trần Tươu ngày Tết Đoan Ngọ 5 tháng 5 âm lịch, Hoàng Thị Quynh ngày 10 tháng 2 âm lịch, xem thêm Một gia đình yêu thương















A Na bà chúa Ngọc
A Na Bình Minh An
Hoàng Gia Bình sinh ngày 29 tháng 3 năm 2011
Hoàng Gia Minh sinh ngày 22 tháng 2 năm 2014
Hoàng Gia An sinh ngày 23 tháng 2 năm 2017














Chị Sóc cùng Harry, Na
Giữa trời xanh tuyết trắng
Có hoa đào hồng thắm
Núi Phú trời bình yên

Chi Sóc là cô Tiên
Giữa một vùng cổ tích
A Na tìm được Ngọc
Harry vui thích cười.

Tuổi Ngọc sáng đất trời
Vô tư đầy sung sướng
Chị Hai mừng khôn lớn
Em nhớ hoài tuổi hoa

Chị với em ngắm hoa
Lung linh vườn cổ tích
Sóc, anh Harry mai học
Na và Ngoại ngoan nghe.






BÀ CHÁU BƯỞI TÂN TRIỀU

Cậu với cháu an nhiên miền cổ tích
Vui chọn cho mình dạy học bình yên
https://youtu.be/QS1KJ-THo-w Tiếng Trung Bình Minh An 19 1 2024 https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana
#Ban mai chào ngày mới
Tỉnh thức cùng tháng năm
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/dep-va-hay-hoc-mai/
Cảm ơn ĐẸP và HAY
Ảnh và bài tuyệt đẹp

HOÀNG TỐ NGUYÊN TIẾNG TRUNG
黄素源 (越南) Hoàng Tố Nguyên Việt Nam
Dạy và học tiếng Trung trực tuyến
#htn #vietnamxahoihoc #cnm365 #dayvahoc #vietnamhoc, #cltvn Việt Nam xã hội học (越南社会学; Vietnamese Sociology) Ngữ Văn Việt Trung Anh đối chiếu Xã hội Việt Nam ngày nay; Nông nghiệp sinh thái Việt; Ngành nghề ở Việt Nam; Vùng sinh thái Việt Nam; Du lịch sinh thái Việt; Nước Việt Nam ngày nay; Việt Nam con đường xanh https://hoangkimvn.wordpress.com/tag/hoang-to-nguyen-tieng-trung & https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoang-to-nguyen-tieng-trung/

XÃ HỘI VIỆT NAM 越南社会
Hoàng Tố Nguyên
#htn #vietnamxahoihoc #vietnamhoc #cnm365 https://hoangkimvn.wordpress.com

#cattien Vườn Quốc Gia Cát Tiên

TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM
#htn, #hoangkimlong, #BanMai #vietnamxahoihoc, #htn365,#ana, #dayvahoc, #vietnamhoc, #cnm365, #cltvn #Vietcassava

THƠ VỀ MẸ
Hoàng Long
Thuở cỏn con, con nằm bên mẹ
Đầu rúc vào lòng, con ấm lắm mẹ ơi
Con thương mẹ đêm ngày tần tảo
Thức đêm dài mẹ may áo cho con
Gió đồng nội trưa hè nắng nóng
Mẹ ngồi khom nhổ cỏ một mình
Mưa đêm lạnh mẹ ngồi lo lắng
Lo cho con yên giấc cơn đau
Con vui sướng khi được ôm lưng mẹ
Mỗi lần mẹ về với chị em con
Đem cho con muôn điều hạnh phúc
Mẹ vẫn luôn nghĩ về chúng con
Thuở thiếu thời con không nghe lời mẹ
Để mỗi lần mẹ đánh con đau
Tuổi nhỏ bồng bột chưa biết nghĩ
Giờ lớn khôn con cố học hành
Con sẽ bay cao bay xa mãi
Tìm đến ánh sáng của tương lai
Tìm ra người bạn con mong ước
Giữ mãi hình mẹ ở trong con
Đảm việc nhà lo toan việc nước
Xây gia đình giữ hạnh phúc cho con
Con muốn tìm, muốn gặp người bạn đó
Người bạn như mẹ, mẹ của con
Xa cha mẹ, chúng con lên thành phố
Nhớ tuổi thơ mẹ nhắc con học hành
Mẹ làm lụng chúng con mong giúp mẹ
Nhưng mẹ chỉ cười “học đi con”
Mẹ đã cho con nhiều hạnh phúc
Dạy cho chúng con biết điều hay
Mẹ cũng chăm con từng giấc ngủ
Mỗi lần con về bên mẹ, mẹ ơi!
Con muốn ở bên mẹ như thuở bé
Cảm nhận tình thương mẹ dành cho con
Thoải mái từng giờ trong hạnh phúc
Bên mẹ, gia đình, giấc ngủ ngon.

THƠ CHO CON
Hoàng Kim
Thương yêu tặng con Hoang Long nhân ngày sinh
Con!
Thân thương một tiếng gọi
Hạnh phúc bật nên lời
Lòng Cha bồi hồi
Sung sướng gọi:
Con!
Cha đi công tác xa
Mong đợi Con, từng ngày chờ thư Mẹ
Thư đến!
Con ra đời!
Cha run lên vì mừng
Thao thức suốt đêm
Không ngủ
Bạn bè vây quanh Cha
Trân trọng niềm vui thiêng liêng
Nâng cốc chúc Cha
Hạnh phúc!
Tiếng Con ngọt ngào môi Cha
Dào dạt lòng Cha vỗ mãi
Có Con
Nối cuộc đời Cha
Gấp đôi
Có Con
Đan giữa cuộc đời
Hạnh phúc
Con là sợi dây máu thịt
Yêu thương gắn Mẹ và Cha
Có Con
Cha thấy cuộc đời ý nghĩa hơn
Cuộc sống – Tình yêu – Sự nghiệp
Hai Con là hai con mắt
Cửa sổ tâm hồn Cha
Dẫu đời Cha nhiều chông gai
Trái chín cuộc đời vẫn ngọt
Con là giấc mơ trong trẻo
Là ban mai tươi vui
Là viên ngọc trao đời
Là hương hoa hạnh phúc
Ước vọng cuộc đời Cha
Có Con đi nối con đường sự nghiệp
Con đứng trên vai Cha
Vươn tới những chân trời mơ ước
Hai Con
Hai viên ngọc
Chị con và Con
Mẹ con dịu hiền hơn
Mẹ con đảm đang hơn
Cha bớt vụng về mỗi việc làm nho nhỏ
Con trở thành ngọn lửa
Sưởi ấm lòng Mẹ Cha
Khi mỗi ngày khó khăn
Trong trẻo tiếng Con
Mẹ Cha hết mệt
Con là niềm vui lớn nhất
“Con hơn Cha nhà có phúc”
Cha mong dồn cho Con.
Lớn lên
Con sẽ hỏi Cha
Sao Cha đặt tên Con là Hoàng Long?
Con ơi!
Tên Con là khúc hát yêu thương
Của lòng Cha Mẹ
Cha Mẹ thương nhau
Vì qúy trọng những điều ân nghĩa
Sự nghiệp và tình yêu
Những ngày gian khổ
Cùng nghiên cứu củ sắn, củ khoai
Con là giống khoai Hoàng Long
Tỏa rộng nhiều vùng đất nước
Dẫu không là trái thơm qủa ngọt
Nhưng là niềm vui người nghèo
Để Cha nhớ về quê hương
Khoai sắn bốn mùa vất vả
Để Cha nhớ những ngày gian khổ
Năm năm
Cơm ngày một bữa
Khoai sắn không phụ lòng
Để Cha nhớ về
Lon khoai nghĩa tình
Nắm khoai bè bạn
Gom góp giúp Cha ăn học
Khi vào đời
Cha gặp Mẹ con
Cho nên:
Cha muốn Con
Trước khi làm những điều lớn lao
Hãy biết làm củ khoai, củ sắn
Hãy hướng tới những người lao động
Nhớ quê nghèo cắt rốn, chôn rau
Lớn lên
Con sẽ hỏi cha
Sao Cha đặt tên con Hoàng Long?
Long là rồng
Con là đậu rồng
Là công trình thứ hai Mẹ Cha nghiên cứu
Mẹ con chọn hạt
Cha gieo nên con
Vất vả gian nan
Hứa hẹn một mùa gặt hái
Con là tháng ngày mong đợi
Là niềm vui đóng góp cho đời
Từ hạt đậu củ khoai
Cha Mẹ trao Con sự nghiệp
Cha nhớ câu đối trăm năm
Về một gia đình hạnh phúc
“Sáng khoai, trưa khoai, tối khoai
ngày khoai ba bữa
Cha đỗ, mẹ đỗ, con đỗ
đều đỗ cả nhà”
Chị con và Con
Là mong ước
Của Mẹ và Cha
Lớn lên
Con sẽ hỏi Cha
Sao Cha đặt tên con Hoàng Long?
Long là rồng
Nghĩa mẹ tạo nền
Công cha xây móng
Trước mắt con là sông dài, biển rộng
Ước mong con bay lên
Con hãy đi đến cùng
Mục đích của con
Làm được những điều cao cả
Hãy cố gắng không ngừng
Kiên gan
Bền chí
Ước mơ và hiện thực
Hôm nay và mai sau
Nghị lực là thước đo cuộc đời
Hai chữ đầu tiên Con học làm người
Phải học hai điều NHÂN NGHĨA
Cha mong Con lớn lên
Ít nếm trãi khó khăn, vất vả
Nhưng đừng bao giờ quên
Những ngày đói khổ
Thời thơ ấu của Cha
Mồng Ba tháng Giêng ngày mất của Bà
Hai mươi tháng Mười ngày ông Mỹ giết
Ngày mà cửa nhà tan nát
Đói nghèo Bác dắt dìu Cha
Tuổi thơ thì bắt ốc, mò cua
Lớn một chút trồng khoai, dạy học
Qua danh lợi hiểu vinh, hiểu nhục
Trãi đói nghèo biết nghĩa, biết ân
Phan Thiết là nơi Mẹ đã sinh Con
Ông Bà ngoại nuôi cho Con khôn lớn
Tuổi thơ của Con lớn trong yên ấm
Tao nôi êm ả, thanh bình
Ru cho Con “uống nước nhớ nguồn”
Khi con lớn đừng quên điều HIẾU THẢO
Cha say viết về Con
Kể về Con
Thơ cho Con
Cô bác vây quanh Cha
Gật gù
Thông cảm
Thơ chắp mối
Từng vần,
Từng mảng
Câu thơ chưa chỉnh lời
Nhưng tứ thơ
Dồn dập
Bối hồi
Hạnh phúc lớn
Trong lòng Cha
Ngân mãi
BAN MAI CHÀO NGÀY MỚI
Hoàng Kim
An vui cụ Trạng Trình
Thung dung đời quên tuổi
Chín điều lành hạnh phúc
Ngày mới bình minh an

Thăm Quê Ngày Chuyển Năm
Hoàng Kim, Hoàng Long & Hoàng Minh Hải
Ngày cuối năm về quê
Dâng hương kính tổ tiên
Bái tạ hồn núi sông
Con cháu mừng ấm cội.
Phước lành đón năm mới
Khoan dung chuyện trái lòng
Đèn Trời soi nghiệp thiện
Tỉnh thức đức hiếu trung.
Trọn đời theo chân Bác
Đường xuân không nản lòng
Giấc mơ lành hạnh phúc
Thành tâm với chính mình.
Nhớ mãi lời căn dặn
Xuân mới ghi trong lòng
Kính dâng Người thấu hiểu
Tâm tình Con ước mong…







QUẢNG BÌNH ĐẤT MẸ ƠN NGƯỜI
Quảng Bình đất Mẹ ơn Người
Tổ tiên cát bụi nhiều đời thành quê
Đinh ninh như một lời thề
Trọn đời trung hiếu để về dâng hương
Lòng son trung chính biết ơn
Quê hương chung đúc khí thiêng Quảng Bình
Về quê kính nhớ Tổ tiên
Mừng vui giữa chốn bạn hiền người thân
Đất trời ngày mới thanh tân
Thung dung thăm hỏi ân cần níu chân.
Đường xuân như một dòng sông
Việt Nam thống nhất thác ghềnh đến nơi.
Hồn chính khí bốc lên ánh sáng
Sáng choang ngọc đá giữa hoang tàn’.
Tâm nhân văn lắng đọng tinh hoa
Hoa Đất Hoa Người trong cõi Bụt

ĐÁ ĐỨNG CHỐN SÔNG THIÊNG
Hoàng Kim
Con về Đá Đứng Rào Nan
Cồn Dưa Minh Lệ của làng quê hương
Linh Giang chảy giữa vô thường
Đôi bờ thăm thẳm nối đường tử sinh.
Quê hương sông núi hữu tình
Chính trung phúc hậu đinh ninh lời nguyền
Không vì danh lợi đua chen
Thù nhà nợ nước quyết rèn bản thân
Ân tình nắm đất quê hương
Công Cha nghĩa Mẹ lời thương dặn dò
Đinh ninh như một lời thề
Trọn đời trung hiếu để về dâng hương







Chúc Mừng Năm Mới Hạnh Phúc
Cả Nhà Ấm Áp Niềm Vui😍😍😍
Xuân Sớm Đón Ngày Đoàn Tụ
Hương Quê Thân Thiết Tuyệt Vời!
https://cnm365.wordpress.com/2024/01/01/cnm365-cltvn-1-thang-1/








Thành Tâm Với Chính Mình
Mười bốn năm xuống núi
Nhớ ngày lên non thiêng
Thương lời Thầy tỉnh thức
#Thungdung một giấc thiền.
Ai dấn thân khổ lụy
Ta ước tròn nhân duyên
Công quả lành phước thiện
Đức lớn nuôi chí bền.
Long Hồ thư sinh lão
Phượng Các học sĩ thần
Hoàng Phủ Chân Quân Truyện
Thành Ý Bền Nghiệp Duyên
Non Xanh Chùa Trấn Quốc
Hồ Rào Đá Thần Đinh
Tề Pháp Kim Long Đỉnh
Bát Trận Đồ Trúc Lâm
Gió Lộng Xoay Thái Cực
Thánh Linh Chuông Trống Trời
Tam Tuyến Bắc Đẩu Trận
Thiên An Dấu Huyền Môn
Sắn Khoai Ngon Cõi Bụt
Mình Về Đây Dâng Hương
Lều Tranh Bên Chùa Núi
#Annhiên Vui Đời Thường

Dạo Chơi Chùa Thần Đinh
Hoàng Long và Hoàng Kim
xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nui-than-dinh-quang-binh thông tin tích hợp tại TỈNH THỨC CÙNG THÁNG NĂM #htn, #hoangkimlong, #banmai #vietnamxahoihoc, #htn365, #ana, #dayvahoc, #vietnamhoc, #cnm365, #cltvn #Vietcassava, https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thanh-tam-voi-chinh-minh & Trích dẫn và trích đoạn video/phim 3Kingdom Thành tâm với chính mình
Thông suối đạo lý LỜI ANH DẶN KHIÊM NHU CẦN KIỆM Hoàng Ngọc Dộ Khát Vọng
Phim Việt Nam ngày nay tầm lịch sử văn hóa, cần DẠY VÀ HỌC kỹ phim 3Kingdom
Khiêm tốn và lịch sự, đó mới là đạo kết giao
Kiến An năm thứ 13, Lưu Chương, Ích Châu mục, phái Trương Tùng tới gặp Tào Tháo, bàn về chuyện liên minh. Không ngờ bị từ chối phũ phàng, Trương Tùng lập tức chuyển hướng, tới Kinh Châu tìm Lưu Bị.
Khi Trương Tùng tới Kinh Châu, Lưu Bị nồng nhiệt tiếp đãi, đích thân ra nghênh đón. Thấy Lưu Bị vô cùng khiêm tốn, Trương Tùng rất nhanh buông bỏ phòng bị, bàn về chuyện liên minh.
Trong cả quá trình, Lưu Bị luôn lắng nghe rất chăm chú, còn ghi chép cẩn thận lại từng lời Trương Tùng nói. Trương Tùng cảm thán: “Tào Tháo ngạo mạn, con người Lưu Hoàng Thúc khiêm tốn, là một vị minh chủ hiếm có.”

Lãnh đạo khiêm tốn, quý như ngọc. Họ buông xuống được thân phận của mình, kìm nén sự kiêu ngạo, không xem người khác thấp kém hơn mình, càng không tỏ ra mình hơn người.
Vương Dương Minh từng nói: người khiêm tốn luôn khiến người khác cảm thấy như làn nước mùa xuân, khiến người ta cảm thấy mình được tôn trọng.
Có người nhận xét về Lưu Bị rằng ông là “người có tài, lấy được lòng dân, không bao giờ để người khác thấy mình kém cỏi”. Thuật xưng vương của ông không phải là tấn công và cướp bóc lãnh thổ, cũng không phải là âm mưu, mà là thu phục lòng dân và tập hợp sức mạnh của nhân dân.
Những người có nhân cách đẹp, có tầm nhìn xa là những người đáng để kết giao.







https://hoangkimvn.wordpress.com/category/ana












































Học với chữ Hán Nôm
TIẾNG VIỆT LUNG LINH SÁNG
#cnm365 cập nhật mỗi ngày
Hoàng Kim
Tiếng Việt lung linh sáng
‘Muốn sang thì bắc cầu kiều‘
Chuyện đồng dao cho em
Bài đồng dao huyền thoại
Ca dao Việt “Cày đồng”
Mãn Giác thơ “Hoa Mai”
Tiếng Việt lung linh sáng
Thơ Việt ngoài ngàn năm
Trần Khánh Dư “Bán than”
Phạm Ngũ Lão Thuật Hoài
Nguyễn Trãi Dục Thúy Sơn
Đặng Dung thơ Cảm hoài.
Dân ca truyền di sản
Ca dao lọc tinh hoa
Đầu tiên tới cuối cùng
Học ăn và học nói
xem tiếp Đọc 18 đường dẫn liên quan các mẫu chuyện văn hóa tại chuyên mục Tiếng Việt lung linh sáng https://hoangkimlong.wordpress.com/2022/02/20/tieng-viet-lung-linh-sang/ tích hơp Hán Nôm Hội Quán
SƯU TẦM BÀI VIẾT HAY
易經) 智慧
Trần Thanh Liêm
Người đóng góp nổi bật · ndpsooeSrtf3m40hg4iil395ờ3725i400ia2a781ut81hfl3ilg0af5l0 61 ·
靜中 . 藏了 一个 個爭字 。
穩中・藏了一個急字。
Xem thêm Tỉnh táo trong an bình, điềm tĩnh trong vội vã, tự chăm sóc trong bận rộn, và sáng suốt trong nhẫn nhịn.
DỊCH NGHĨA :
Trí tuệ từ Kinh Dịch.
. Trong chữ “Tĩnh” (靜), ẩn chứa chữ “Tranh” (爭).
.Trong chữ “Ổn” (穩), ẩn chứa chữ “Cấp” (急).
.Trong chữ “Mang” (忙), ẩn chứa chữ “Vong” (亡).
.Trong chữ “Nhẫn” (忍), ẩn chứa chữ “Đao” (刀).
. Càng Tranh đấu, lòng càng cần phải Tĩnh (yên).
.Càng Nóng vội, lòng càng cần phải Ổn (vững).
.Càng Bận rộn, càng cần phải chăm sóc tốt cho bản thân.
.Càng Nhẫn nhịn, càng cần phải nhìn rõ sự thể.
Đoạn văn này sử dụng phương pháp triết học Đông phương, phân tích cấu tạo và ý nghĩa đối lập của các chữ Hán để rút ra lời khuyên về tu dưỡng tâm tính, là một lời nhắc nhở sâu sắc về việc cân bằng đối lập trong cuộc sống:
(I Ching) Trí tuệ
Im lặng . Giấu một từ tranh cãi.
Ổn định ・giấu một từ khẩn cấp.
Bận rộn ・giấu một từ chết
Bao dung . Giấu chữ dao
Càng đánh nhau càng phải im lặng
Koshi-kyu/Shin-etsu Yanshi
Càng bận càng chăm sóc bản thân
Bạn càng chịu đựng, bạn càng nhìn tình huống.
PHIÊN ÂM :
I Ching wisdom Dạ Kinh Trụ Tuệ.
Im lặng, che giấu một lời.
T ĩnh trung, t ường liễu nh ất c á Tranh t ự.
Ổn định, giấu một lời khẩn cấp.
Ổn trung, tàng liễu nhất cá Cấp tự.
Bận rộn, giấu một từ chết.
Mang trưng, tử liễu nhựt c á Vong tử
Trong sự kiên nhẫn, giấu một chữ dao.
Nhẫn trung, từ liễu nhượng c á Đào tự.
Càng chiến đấu, trái tim càng bình tĩnh.
Việt tranh, tâm việt yếu tĩnh.
Càng gấp gáp, trái tim càng vững vàng.
Việt cấp, tâm việt yếu ổn.
Càng bận rộn, bạn càng chăm sóc bản thân.
Việt mang, việt y ếu chi ếu cố hảo tự k ỷ.
Càng kiên nhẫn, càng rõ ràng.
Việt nhẫn, việt yếu khán thanh sự thái.

TÔ ĐÔNG PHA TÂY HỒ
Tô Nguyễn đêm vui thú bạn hiền
Lúa sắn ngày chăm lo lớp trẻ
Thầy chiến sĩ trầm tích sử ký
Bạn nhà nông đúc kết tinh hoa.
Tập Dịch Thơ Hán Cỗ :
TÔ ĐÔNG PHA TÂY HỒ
Nuôi con ai chẳng muốn thông minh
Ai ngỡ thông minh mãi hại mình
Chi muốn con ta vô tư mãi
#Thungdung làm người tốt #annhiên
Hoàng Kim @hoangkimvn nêu bật
THƠ HÁN CỔ :
Trần Thanh Liêm Người đóng góp nổi bật · erotsSopnd8f1i02fha6868ờg21795aa65g m3061701iacg1htfc0l04cf1 ·
Tẩy nhi hí tác 洗兒戲作 • Làm đùa chơi nhân con chẵn tháng
Thơ » Trung Quốc » Bắc Tống 北宋, Liêu 遼 » Tô Thức 蘇軾。
☆☆☆☆☆
人皆養子望聰明。
Nhân giai dưỡng tử vọng thông minh
我被聰明誤一生。
Ngã bị thông minh ngộ nhất sinh.
惟愿孩兒愚且魯,
Duy nguyện hài nhi ngu thả lỗ,
無災無難到公卿。
Vô tai vô nạn đáo công khanh.
DỊCH NGHĨA :
Mọi người sinh con đều mong con thông minh,
Ta vì thông minh mà lỡ dở cả đời.
Chỉ nguyện con ta ngu dốt và vụng về,
Không tai không nạn được làm đến công khanh.
*Tẩy Nhi Hí Tác (洗兒戲作): Tức là “Bài thơ viết chơi nhân dịp tắm trẻ”. Đây là bài thơ Tô Thức viết khi con trai út Tô Quá (蘇過) ra đời.
Khi Tô Thức viết bài thơ này, ông đã trải qua tai ương sinh tử của “Vụ án thơ Ô Đài” (乌台诗案), bị biếm đi Hoàng Châu, sau đó chào đón sự ra đời của con trai út là Tô Quá (蘇過). “Tắm trẻ” (洗兒) vốn là chuyện vui mừng, nhưng ông lại nhìn thấy quá khứ của chính mình trong tiếng khóc. Ba chữ “thông minh lầm” (聰明誤) ẩn chứa bài học “người nói vô tội, người nghe lấy đó làm răn” (言者無罪,聞者足戒); lời cầu nguyện “ngu dốt và vụng về” (愚且魯) chứa đựng sự hèn mọn “mong giữ được tính mạng trọn vẹn giữa thời loạn” (苟全性命於亂世). Lời khẩn cầu trong “Bài thơ tắm trẻ” (洗兒詩) này không phải là tuyên bố tiêu cực trốn tránh thế tục, mà là sự tỉnh táo sau khi trải qua bao sóng gió, khiến cho căn nhà tranh ở Hoàng Châu của ông đều trở thành chốn Thiền phòng để chiêm nghiệm nhân sinh.
DỊCH THƠ :
Nuôi con ai cũng muốn thông minh,
Đâu biết thông minh để luỵ mình.
Chỉ ước con ta ngu lại ngốc,
Thong dong an hưởng lộc công khanh.
Phật Tử Sơn Nam Theo dõi 高山必有高山治 Ý NGHĨA CỦA CÂU NÓI “ CAO SƠN TẤT HỮU CAO SƠN TRỊ” Câu nói chính xác là “Cao nhân tất hữu cao nhân trị”. Câu này có nghĩa là trong bất kỳ lĩnh vực nào, luôn có người giỏi hơn mình, vì vậy không nên tự mãn hay cho rằng mình là người giỏi nhất. Nghĩa đen: Núi cao thì có núi cao hơn trị. Lời khuyên: Câu này khuyên con người ta phải luôn giữ sự khiêm tốn và không ngừng học hỏi, bởi vì luôn có những người có trình độ cao hơn mình.
*
Văn vô sơn thủy phi kỳ khí,
Nhân bất phong sương vị lão tài!
Nghĩa là:
Văn không sông núi, không cao diệu,
Người chẳng phong sương, khó rạng tài!
Trần Bích San
*
Dạy và Học làm Người
Dạy và Học để Làm
Chính Trung Hiếu Thiện Lành
Một gia đình yêu thương

Chanthienmykhoandung Anchanhngoigocchanh
Chân Thiện Mỹ Khoan Dung
Ăn chanh ngồi gốc chanh *
Chính Trung Hiếu Thiển Lành
Nhớ Bài Ca Giữ Nước
Học với chữ Hán Nôm
TIẾNG VIỆT LUNG LINH SÁNG
Hoàng Kim
*Ăn chanh ngồi gốc cây chanh/ Chăm cội, chăm cành, chăm lá, chăm bông/ Vì người người chẳng phụ công/ Yêu người người sẽ vui lòng yêu ta”. Nhớ bài ca giữ nước Tiếng Việt lung linh sáng
Thần an mỹ hão
Cảm tình chi mỹ tại ư Dung
(giữ khi gìn tinh lại dưỡng thần THẦN AN Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm dung đẹp)
Thần an mỹ hảo
Chân thiện mỹ
Nhân tình chi mỹ tại ư thiện.
Học tập chi mỹ tại ư ngộ
Vì nhân chi mỹ tại ư xả.
Bằng hữu chi mỹ tại ư thành
Cảm tình chi mỹ tại ư Dung

LÝ BẠCH THƠ TRĂNG SÁNG
Hoàng Kim
Thi Tiên Lý Bạch “Tĩnh dạ tứ” thật tuyệt vời !
TĨNH DẠ TỨ 靜夜思
Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh
Lý Bạch
Đầu giường ánh trăng rọi,
Mặt đất như phủ sương.
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,
Cúi đầu nhớ cố hương.”
(Bản dịch của Nam Trân)
*
Ngắm vầng trăng cổ tích
Ngắm dấu chân thời gian
Lý Bạch thơ trăng sáng
Nguyễn Trãi Dục Thúy Sơn,
Trần Tử Ngang thơ Người
Trần Khánh Dư “Bán than”
Phạm Ngũ Lão Thuật Hoài,
Mạnh Hạo Nhiên xuân hiểu
Đặng Dung thơ Cảm hoài
Đỗ Phủ thơ mưa lành
Ca dao Việt “Cày đồng”
Mãn Giác thơ “Hoa Mai”
Tứ quý hoa bốn mùa
Tự do ngời tâm đức
Chỉ tình yêu ở lại
Văn chương ngọc cho đời
Nguyên tác Tĩnh dạ tứ Lý Bạch,
dịch nghĩa và một số bản dịch chọn lọc
靜夜思
Tĩnh dạ tứ
Sàng tiền minh nguyệt quang,
Nghi thị địa thượng sương.
Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương.
Dịch nghĩa
Đầu giường trăng sáng soi,
Ngỡ là sương trên mặt đất.
Ngẩng đầu nhìn vầng trăng sáng,
Cúi đầu lại thấy nhớ quê nhà.
Thuở nhỏ, Lý Bạch thường lên đỉnh núi Nga Mi ở quê nhà ngắm trăng. Từ năm 25 tuổi, ông đã xa quê và xa mãi. Bởi vậy, cứ mỗi lần thấy trăng là nhà thơ lại nhớ tới quê nhà.
Đầu giường ánh trăng rọi,
Mặt đất như phủ sương.
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,
Cúi đầu nhớ cố hương.
(bản dịch của Nam Trân)
Nguồn: Thơ Đường (tập II), NXB Văn học, 1987
Trông trăng dọi trước giường
Những ngỡ đất mù sương
Ngẩng đầu nhìn trăng tỏ
Cúi đầu nhớ cố hương
(bản dịch của Lê Nguyễn Lưu)
Nguồn: Đường thi tuyển dịch, NXB Thuận Hoá, 1997
Đầu giường trăng tỏ rạng
Đất trắng ngỡ như sương
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Cúi đầu nhớ cố hương.
Giường khuya trăng chiếu bời bời
Sương rơi phủ đất ngỡ đời chiêm bao
Ngẩng đầu trăng sáng trên cao
Cúi đầu ngấn lệ nghẹn ngào… cố hương.
(hai bản dịch của Hải Đà)
Đêm nay trăng sáng rọi đầu giường
Mặt đất hình như phủ kín sương?
Ngẩng mặt nhìn trời, trăng sáng quá
Cúi đầu suy ngẫm nhớ quê hương
Vốn thạo nghề cầy cấy
Tính khí hơi ẩm ương
Nay vào chơi com.net
Đua đòi chút văn chương
(Bản dịch và tự thán của Lão Nông)
Lý Bạch vọng Lư Sơn 李白 望廬山
Nguồn Thi Viện Đào Trung Kiên https://www.thivien.net/ & https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ly-bach-tho-trang-sang/
Trần Thanh Liêm
Người đóng góp nổi bật · Sotsdoneprlt91i6i2mghi64437 ifgf91u0fmmacugf7m474c3ug478ccờu ·
Vọng Lư sơn bộc bố 望廬山瀑布 • Xa ngắm thác núi Lư
Thơ » Trung Quốc » Thịnh Đường 盛唐 » Lý Bạch 李白。
日照香爐生紫煙,
Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên,
遙看瀑布掛前川。
Dao khan bộc bố quải tiền xuyên.
飛流直下三千尺,
Phi lưu trực há tam thiên xích,
疑是銀河落九天。
Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên.
DỊCH NGHĨA :
Mặt trời chiếu xuống đỉnh Hương Lô sinh ra màu khói tía,
Từ xa nhìn thác nước treo như con sông trước mặt.
Bay chảy thẳng xuống từ ba nghìn thước,
Ngỡ là Ngân Hà rơi khỏi chín tầng mây.
*Khi Lý Bạch viết bài thơ này, đó chính là thời kỳ đỉnh cao của盛唐 (Thịnh Đường). Tâm cảnh của ông, như thác nước này, thư thái, khai phóng và bừng nở, vừa có cái hào khí “rút kiếm lìa nước” (rút kiếm ra đi khắp thiên hạ), lại vừa có sự tự tin “mắt nhìn bốn biển.” Quá trình “Ngắm thác nước” (Vọng Lư Sơn Bộc Bố) cũng là sự phóng chiếu tinh thần của ông: làn khói tía phiêu diêu là sự lãng mạn của ông, tiếng gầm vang của thác nước là khí phách của ông, và sự kỳ ảo của Ngân Hà là trí tưởng tượng của ông. Sự “ngắm” này không chỉ là xem cảnh, mà còn là cuộc đối thoại với thiên nhiên, khiến thác nước Lư Sơn trở thành minh chứng tuyệt vời nhất cho khí chất “Thi Tiên” của ông.
DỊCH THƠ :
1.Hương Lô nắng dọi khói hồng xây,
Xa trước dòng sông thác Bộc đầy.
Bay thẳng xuống ba nghìn thước thẳm,
Ngỡ sông Ngân tuột chín tầng mây.
2.Nắng Hương Lô, khói vẽ vòng
Xa nhìn dòng thác trước sông phơi bày
Thác ba nghìn thước khói bay,
Ngỡ sông Ngân tuột khỏi mây chín tầng.
Thơ cổ odeSnopsrt66tt80mc874ui58lờ5mc35 ggu0lt593gh0u97ghihu1tgh003 ·
https://www.thivien.net/V%C6%B0%C6%A1ng-B%E1%BB%99t/Giang-%C4%91%C3%ACnh-d%E1%BA%A1-nguy%E1%BB%87t-t%E1%BB%91ng-bi%E1%BB%87t-k%E1%BB%B3-2/poem-uWOsKqnomagy-dK4o1s66w
Giang đình dạ nguyệt tống biệt kỳ 2
_ Vương Bột_ Đường
亂煙籠碧砌,
飛月向南端。
寂寂離亭掩,
江山此夜寒。
Phiên âm:
Loạn yên lung bích thế,
Phi nguyệt hướng nam đoan.
Tịch tịch ly đình yểm,
Giang sơn thử dạ hàn.
Dịch nghĩa:
Khói sóng bao phủ lên bậc thềm bằng đá xanh,
Mặt trăng dần dần chuyển về hướng nam.
Sau phút chia ly, trong vắng vẻ hiu quạnh, ngôi đình càng khuất dần.
Đêm nay, núi sông sao mà lạnh lẽo đến vậy.
Hoàng Kim dịch thơ
Vương Bột trăng tiễn biệt 2
Loạn yên khói vương đá
Trăng an tỏ hướng nam
Đình trưởng mờ khuất bóng
Sông núi tiễn lạnh lùng
Phim hay Hàn Sở Tranh Hùng Tập 28 https://youtu.be/iDWeeHcEcLo?si=DZhMI77UTNmlB2Yo

VỀ NGHĨA LĨNH ĐỀN HÙNG
Hoàng Kim
Đền thiêng trên Nghĩa Lĩnh.
Giếng ngọc dưới trời Nam.
Chén cơm truyền con cháu.
“Vạn cổ thử giang san”

Chữ PHẠN: Cơm
Viên Mai ‘Tùy Viên thi thoại’ “vịnh hoài’ (Tỏ chí của lòng mình) có hai câu thơ thơ :Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch /Lập thân tối hạ thị văn chương (Mỗi bữa không quên ghi thẻ trúc,/Lập thân thấp nhất ấy văn chương).
Học với chữ Hán Nôm, Nhiều từ tiếng Việt có gốc Hán tự, với sự chiết tự mới hiểu sâu sắc ý tứ và ngữ nghĩa. Lập thân tối thượng thị công đức. Lập thân tối hạ thị văn chương Lập thân cao nhất là công đức, thấp nhất là văn chương. Sống trên đời cần nhất là học làm Người “nợ ai thì phải trả” “đời có trả có vay” “Đã ăn cơm của ai thì không được phản lại người đó”. Đó là luật Nhận Quả. Tối thượng (cao nhất) là lập được Công Đức với Nước với Dân vì ơn Dân lộc Nước.Tối hạ (thấp nhất) là văn chương trong ý nghĩa học làm Người. Đời cần và đủ ba việc ấy.
Văn bản dịch khác của hai câu thơ trên diễn đạt lối khác vẫn không thay đổi ý nghĩa của hai câu trên Mỗi bữa ăn không quên nghĩ đến ghi thẻ trúc Lập thân nhỏ bé nhất là làm văn chương.
Cụ Phan Bội Châu, hiền tài dân tộc Việt, đã.diễn đạt sự nhận thức của Cụ về hai câu thơ đó qua bốn câu thơ của chính Cụ:”Công ở non sông thiêng tấc dạ /Thân nhờ bút mực quá hèn trai./Khuya sớm những mong ghi sử sách / Lập thân hèn nhất ấy văn chương.“.
Tiếc thay, học tiếng Việt ngày nay, có người chê ‘Học với chữ Hán Nôm’ chiết tự là cổ điển, Thực ra, muốn hiểu đúng chân thiện mỹ chữ Việt tiếng Việt có nguồn gốc Hán Nôm cần thấu hiểu chiết tự. Tiếng Việt lung linh sáng https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tieng-viet-lung-linh-sang/

Chữ TUỆ (慧 )
Chữ TUỆ (慧 ) trong “Trí tuệ” hay “thông tuệ” chiếu theo lục thư là chữ hình thanh kết cấu trên dưới. Chữ này gồm chữ TUỆ 彗 (cái chổi, quét) bên trên và bộ TÂM 心 (trái tim, tấm lòng) bên dưới hội hợp lại mà thành. Người Trung Quốc cổ đại quan niệm thậm chí ngộ nhận rằng trái tim thay vì bộ não là trung tâm của cơ thể con người, trong tiếng Hán bộ TÂM chủ đạo về suy nghĩ , tình cảm và tư duy nên dễ hiểu khi 心 là thành tố biểu nghĩa chính của chữ 慧 . Trong cấu tạo chữ TUỆ (慧) ngoài bộ 心 sự xuất hiện của chữ 彗 không chỉ đóng vai trò chỉ âm đơn thuần mà còn chứa đựng một dụng ý cao thâm của các vị cao nhân học giả ngày xưa, nếu tâm không tốt, còn nhiều bụi bặm dơ bẩn, không dùng cái chổi để quét dọn sạch sẽ, thì làm sao có tuệ? TUỆ (慧) gồm chữ tâm 心 và chữ 彗 thể hiện ý nghĩa quét dọn bụi bẩn, nghĩa là tâm trong sạch thì trí sẽ minh mẫn. Một khi tâm niệm không trong sạch thì trí tuệ sẽ gặp trở ngại. Đó là điều mà người trí thức cần phải lưu ý. Sách Luận ngữ cũng bàn về người trí thức rằng: “Hành kỉ hữu sỉ, sứ vu tứ phương, bất nhục quân mệnh”. Câu này có nghĩa là một người trí thức phải biết chú ý tới hành vi của bản thân, có ý thức trách nhiệm, biết hổ thẹn khi làm điều sai trái và luôn lo sợ nhân cách, phẩm chất của bản thân mình bị vấy bẩn.
Trong ngôn ngữ hàng ngày, ta thường nói đến từ “trí tuệ” và thường hiểu đơn giản trí tuệ là hiểu biết và kiến thức. Trong Phật giáo cũng dùng từ Trí Tuệ (cũng dùng “trí huệ”). Nhưng Trí hay Tuệ trong Đạo Phật có nghĩa sâu hơn, bao hàm sự thấu hiểu có tính chân lý và tính trực tiếp. Tiếng Việt không có từ nào khác hơn và thích hợp hơn để dịch chữ Tuệ trong kinh điển đạo Phật, mặc dù nó có nghĩa khác hơn. Tóm lại, ta có thể định nghĩa từ “Trí Tuệ” của Đạo Phật qua một số thuộc tính của nó, ví dụ: sự thấu hiểu, trực tiếp, đúng và hợp chân lý, có thể phát triển theo thời gian và sự tu tập v.v…. Trí Tuệ có nguồn cội giống như kiến thức, nhưng khác với kiến thức, nó là một năng lực hiểu biết trực tiếp không thông qua ngôn ngữ, khái niệm hay lý luận.
Trong khi Tuệ của đời thường (sự hiểu biết) nhằm mục đích phục vụ cuộc sống thế gian, thì Tuệ hay “trí huệ” (âm khác của Đạo Phật nhằm mục đích giúp cho con người vượt thoát khỏi thế gian và những cái hữu hạn của nó. Tuệ, trong Đạo Phật, nhằm giúp người tu vượt lên cõi nhân gian, vươn tới những cõi giới cao hơn, hoặc thậm chí vượt qua tất cả các cõi giới để đạt được tự do tuyệt đối!
Giải thích về nội hàm chữ ” Tuệ ” quả là Tuệ ” thật… Trong các đại điện hoặc tiền điện của các Phật tự cổ xưa, người ta thường dễ nhận thấy một tấm hoành với nội dung ” Duy TUỆ thị nghiệp ” Đó là một quan niệm ” Đời sống tu hành, TUỆ chính là sự nghiệp ” không mất sau khi rời thế gian, giúp hành giả tiệm ngộ hoặc đốn ngộ liễu đạt chân lý giải thoát… (Đặng Quốc Bảo bình chú giải của Nguyễn Xuyến)

Chữ THỨ (恕), bao dung, khoan dung
chữ “Thứ” (恕), do chữ “Như” (如) và chữ “Tâm” (心) hợp thành, nghĩa là tha thứ, bao dung. Chữ “Như” ghép với chữ “Tâm” mang ý nghĩa là để cho trái tim gần với trái tim, để tâm mình gần với tâm người, tâm người cũng như tâm mình.
Trong Luận Ngữ, Khổng Tử đã hai lần nhắc đến chữ Thứ.
Một lần là Khổng Tử nói với Tăng Sâm: “Này Sâm, đạo của ta chỉ có một lẽ mà thông suốt hết tất cả”. Tăng Sâm thưa “Vâng”. Khi Khổng Tử ra rồi, các môn sinh khác hỏi Tăng Sâm: “Thầy muốn nói gì vậy?”. Tăng Sâm đáp: “Đạo của thầy chỉ có một lẽ Trung Thứ mà thôi”.
Một lần khác là khi Tử Cống hỏi: “Thưa thầy, có một chữ nào có thể dẫn dắt hành xử trọn đời không?”. Khổng Tử đáp: “Có lẽ là chữ Thứ chăng? Cái gì mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác”.
Người có lòng nhân, luôn khoan dung, tha thứ cho kẻ khác thì sẽ chẳng bao giờ làm những điều ích kỷ lợi thân mà tổn hại cho người. Con người sống trên cõi đời chật chội, những chuyện va vấp là điều thường tình, ai chẳng có lúc phạm lỗi, mắc sai lầm? Cho nên trong quan hệ giữa người với người, cần suy xét thận trọng, để lòng mình gần gũi với lòng người, đặt mình vào địa vị đối phương mà suy nghĩ thì tự nhiên sẽ khoan thứ.

Chữ SINH 生
Chữ SINH 生 có khá nhiều quan điểm về nguồn gốc hình thành:. Thứ nhất, chữ SINH 生 là chữ Hội ý kết cấu đan xen, bao gồm bộ NHÂN 人 (con người) và bộ THỔ 土 hợp lại mà thành. Tính chất hội ý của chữ SINH 生 là con người sinh ra và lớn lên từ đất. Trong truyền thuyết về Nữ Oa tạo ra con người (nữ thần thủy tổ của thần thoại Trung Quốc) và “Sáng thế ký” của người Công giáo có một điểm chung là “đắp đất tạo người”, Con người được tạo ra từ đất. Điều này làm rõ quan điểm của người xưa, con người sinh ra từ cát bụi, sau này chết đi cũng trở về cát bụi.
Quan điểm thứ hai căn cứ vào hình dạng chữ cổ. Từ giáp cốt văn đến triện văn, chữ 生 được biểu thị là hình ảnh một mầm cây mọc lên trên mặt đất, nét phẩy xuất hiện sau này biểu trưng cho chiếc lá cây, cũng có thể hiểu là hướng mà cây phát triển sẽ là hướng lên trên. Nghĩa gốc của từ này chỉ cây cỏ sinh trưởng trên mặt đất. Ngoài ra chữ “sinh” còn có nghĩa là sản sinh, sáng tạo và nuôi dưỡng.
Trong thư pháp chữ Khải, chữ “sinh” (生) bên trên là “nhân” (人), bên dưới là “thổ” (土), “con người ở trên mặt đất” nghĩa là sinh. Con người sau khi chết đi thì an vị dưới đất, không thể ở trên mặt đất được. Vậy thì nơi ở của người sống nên là ở trên mặt đất, nơi có ánh Mặt trời, nếu ở lâu trong căn phòng dưới mặt đất hoặc dưới gầm cầu, đường hầm thì sẽ mang đến âm khí u ám, không có lợi cho sức khỏe.
Nếu nhìn từ góc độ khác, theo lý luận của Đạo gia, trong không gian vũ trụ mà xã hội nhân loại tồn tại này, hết thảy vạn vật đều do âm dương Ngũ hành tạo thành, vật chất cấu thành thân thể người cũng không phải ngoại lệ. “Thổ” đứng vị trí thứ năm trong ngũ hành, cho nên đối với sinh mệnh ở cảnh giới rất cao mà nói, thân thể người chính là đất, con người sống ở thế gian chính là bị chôn vùi trong đất, “sinh” đối với con người lại chính là “tử” trong mắt của các sinh mệnh cao tầng, con người đến thế gian chính là đi vào cõi chết. Câu nói của Lão Tử “xuất sinh nhập tử” (sinh ra là chết đi) chính là có hàm nghĩa như vậy.
Cho nên con người chỉ có cách duy nhất là khắc khổ tu luyện trong chính Pháp đại Đạo, dũng mãnh tinh tấn, cuối cùng ra khỏi Ngũ hành, mới có thể rời xa cõi chết, bước vào cuộc sống vĩnh hằng.

MƯỜI BỐN CÁI NHẤT TRONG CUỘC ĐỜI
Kẻ thù lớn nhất trong cuộc đời là bản thân mình
Thất bại lớn nhất trong cuộc đời là tính kiêu ngạo
Sự lừa dối lớn nhất trong cuộc đời là sự thiếu hiểu biết
Nỗi buồn lớn nhất trong cuộc đời là lòng ghen tị
Sai lầm lớn nhất trong cuộc đời là tự bỏ rơi mình
Tội lỗi lớn nhất trong cuộc đời là tự lừa dối bản thân
Điều đáng tiếc nhất trong cuộc đời là hạ thấp lòng tự trọng
Sự ngưỡng phục lớn nhất trong cuộc đời là phấn đấu hướng thiện
Sự phá sản lớn nhất trong đời là nổi tuyệt vọng
Của cải lớn nhất trong cuộc đời là sức khỏe
Món nợ lớn nhất trong cuộc đời là nhân tình
Món quà lớn nhất của cuộc sống là sự tha thứ
Thiếu sót lớn nhất của cuộc đời là từ bi và trí tuệ
Niềm an ủi lớn nhất trong cuộc đời là sự rộng lượng.
NHÂN SINH THẬP TỨ TỐI
Nhân sinh tối đại đích địch nhân thị tự kỷ
Nhân sinh tối đại đích thất bại thị tự đại
Nhân sinh tối đại đích khi phiến thị vô trí
Nhân sinh tối đại đích bi ai thị tật đố
Nhân sinh tối đại đích thác ngộ thị tự khí
Nhân sinh tối đại đích tội quá thị tự khi
Nhân sinh tối đại đích khả liên thị tự ty [1]
Nhân sinh tối đại đích bội phục thị tinh tiến [2]
Nhân sinh tối đại đích phá sản thị tuyệt vọng
Nhân sinh tối đại đích tài phú thị kiện khang
Nhân sinh tối đại đích trái vụ thị nhân tình [3]
Nhân sinh tối đại đích lễ vật thị khoan thứ
Nhân sinh tối đại đích khuyết khiếm thị bi trí
Nhân sinh tối đại đích hân uý thị bố thí
人生十四最
人生最大的敵人是自己
人生最大的失敗是自大
人生最大的欺騙是無智
人生最大的悲哀是嫉妒
人生最大的錯誤是自棄
人生最大的罪過是自欺
人生最大的可憐是自卑
人生最大的佩服是精進
人生最大的破產是絕望
人生最大的財富是健康
人生最大的債務是人情
人生最大的禮物是寬恕
人生最大的缺欠是悲智
人生最大的欣慰是布施

TRUNG HIẾU và ĐỨC NHÂN
Trung Hiếu trì gia viễn
Đức Nhân xử thế trường
(Lấy Trung Hiếu làm nền tảng gia đình mãi mãi, Đem Đức Nhân để đối đãi với đời lâu dài).Cụ Lạc Bần nói: Chữ “trì” 持 (bộ thủ) viết nhầm sang chữ “đặc” 特 (bộ ngưu). Thật đáng tiếc.

Chữ TẢO TẦN
Nguồn gốc hai chữ “TẢO TẦN”
(theo Đỗ Dương, Học với chữ Hán Nôm)
“Tảo tần” là một từ để chỉ đức tính đảm đang, chịu thương chịu khó, thường là của phụ nữ. Nhưng nguồn gốc của từ này là như thế nào?
“Tảo tần”, chữ Hán viết là “藻蘋” (zǎo píng), trong đó:
– TẢO 藻 là rong rêu, chỉ chung các thứ cỏ mọc ở dưới nước. Như “hải tảo” 海藻 là rong biển.
– TẦN 蘋 còn đọc với âm “bình”, là rau lục bình nổi trên mặt nước, ta thường gọi là bèo.
Như vậy, “tảo tần” là rau tảo và rau tần. Người xưa dùng rau tảo và rau tần để dâng lên cúng tổ tiên. Hái rau tảo và rau tần là việc chuyên trách của người phụ nữ xưa. Rau tần thường mọc hoang dại bên bờ suối, còn tảo thì sinh trưởng trong lòng suối như các loại rong, cả hai đều không dễ mà hái được. Do đó người vì đạo hiếu với tổ tiên mà lặn lội đi tìm rau tảo rau tần là người đảm đang, đáng khen ngợi.
Trong bài “Thái Tần” 采蘋 trong Kinh Thi cũng có viết rằng:
于以采蘋?Vu dĩ Thái Tần,
南澗之濱。Nam gián chi tân
于以采藻?Vu bỉ Thái Tảo
于彼行潦。Vu bỉ hàng lạo
Dịch nghĩa:
Đi hái rau Tần,
bên bờ khe phía nam,
đi hái rau Tảo,
bên lạch nước kia.
Dịch thơ:
Để mà đi hái rau tần,
Núi nam hay mọc ở gần bờ khe.
Tảo kia ta hái luôn về,
Bên đường nước chảy dầm dề sau mưa.
Hai câu thơ trên ca ngợi người “vợ hiền dâu thảo”, chăm chỉ hái rau Tần, rau Tảo về làm cỗ cúng tổ tiên. Trong truyền thống văn hóa Trung Quốc, “Tảo Tần” tượng trưng cho đức tính siêng năng, chịu khó, hay lam hay làm của người phụ nữ.
Tóm lại, từ phong tục cổ về thờ cúng, “tảo tần” trở thành từ chỉ chung sự đảm đang, rồi theo thời gian nghiêng về nét nghĩa chịu thương chịu khó, lo toan việc nhà trong cảnh sống khó khăn của người phụ nữ.

HUẤN MÔNG TAM TỰ KINH DIỄN CA
Dịch giả: Thanh Sơn Thủy
NXB Cổ Học Tùng Thư 1963
112 trang Giá 150k miễn ship
Sách dạy trẻ ba chữ một bằng văn vần
Phiên âm dịch nghĩa từng chữ
Giải nghĩa từng câu
Dịch ra văn vần từng bài
Sách không hẳn là do thánh nhân làm ra, nhưng nó là kết tinh của sách vở thánh hiền truyền lại. Chỉ hơn một ngàn chữ mà nêu ra đủ trọng tâm các vấn đề: Từ bản tính sơ sinh “tính tương cận, Tập tương viễn” đến giáo pháp, giáo đạo “Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri lý”, Tu tề, Hiếu đễ, từ bản thân đến vạn vật, vụ trụ: Tam tài, tam quang, tam cương, ngũ hành, ngũ nghĩa, ngũ thường… Tứ thư, Ngũ kinh, gương chuyên cần, đạo xử thế… còn lược kê cả những diễn biến lịch sử Trung Quốc từ Phục Hy, Thần nông đến Minh, Thanh….
Sách vỡ lòng được biên soạn như vậy thật quá chu đáo, dù không học nhiều, nhưng với 1000 chữ, khi nắm vững được nghĩa lý, cũng khả dĩ cho con người có một khái niệm vững chắc về cuộc sống, về đạo đời, là mẫn mực sáng giá cho mãi đến ngày nay.
Như đã nói trên, Tam Tự Kinh là sách học vỡ lòng cho trẻ thời xưa, nhưng ngày nay cũng rất hữu ích cho những ai muốn học chữ Hán, do đó tác giả cho tái bản tập Tam Tự Kinh của học giả Đoàn Trung Còn (vì xét ra phần dịch nghĩa và chú thích khá phong phú). Đồng thời để đáp ứng cho nhu cầu học Hán Nôm đang trên đà phát triển mạnh, Tác giả cho in thêm phần chữ Nôm bên chữ Hán để tiện việc học tập.
———
Bản in lại theo nguyên gốc, chỉ còn vài bộ
Quý vị mua sách nhắn: Tên sách, địa chỉ, điện thoại, họ tên người nhận để được chuyển sách miễn phí tận nhà.
Lh 0973534413 (theo Đỗ Dương, Học với chữ Hán Nôm)
Chữ 撟 (KIỀU) : cong lên, uốn lên

Muốn sang thì bắc cầu kiều
TIẾNG VIỆT LUNG LINH SÁNG
ảnh và ghi chú Ruc Hung
lời bình của Hoàng Kim
1. Hán tự tồn tại khoảng 30 chữ KIỀU lận, nhưng trong đó chỉ 4 chữ có nghĩa liên quan / kết hợp được với chữ CẦU (cầu kiều) mà thôi:
– 撟 (kiều) : cong lên, uốn lên
– 喬 (kiều): cao
– 嬌: (kiều): mềm mại, đẹp
– 橋: (kiều): cây cầu
2. Trong câu ca dao ” Muốn sang thì bắc CẦU KIỀU…” hiện chưa rõ người ta dùng chữ KIỀU nào trong số 4 chữ Hán trên phối hợp với chữ CẦU (cầu kiều) để minh định đó là cây cầu gì (cao, cong, đẹp, mềm mại…)? Và do vậy tranh luận còn… liên miên!
3. Lợi dụng người ta mãi tranh luận, Ruchung tôi dùng “đại” chữ 撟 (kiều) với nghĩa “cong lên, uốn lên” để chỉ cây CẦU KIỀU trong stt của mình mà không hề sợ ai…phản biện cả! Mà trực quan cũng thấy có đoạn cong lên thật.
4. Hehe!
Lời bình của Hoàng Kim
Ruc Hung nói chuyện cầu kiều
Kiều ba mươi nghĩa, cầu kiều là ‘uốn lên’
Hồ Tĩnh Tâm thơ “NhaTrang” (*)
‘Núi trườn, biển uốn’, biển và em một vần
“Núi trườn xuống biển, núi lừng lững
Biển uốn chân trời, biển mênh mông
Nha Trang chiều xuống khoe sương tím
Anh chẳng khoe em dại dột lòng” (*)

CA DAO VIỆT CÀY ĐỒNG
Hoàng Kim
Ngẫm thơ ngoài ngàn năm; Ca dao Việt “Cày đồng” và Mãn Giác thơ “Hoa Mai” đều là những viên ngọc quý, tuyệt hay, xếp hàng đầu Thơ Việt ngoài ngàn năm. Trần Khánh Dư “Bán than”, Phạm Ngũ Lão “Thuật Hoài“, Nguyễn Trãi “Dục Thúy Sơn“, Đặng Dung thơ “Cảm hoài” là các bài thơ nổi tiêng đã trên bảy trăm tuổi, sánh với các kiệt tác Đỗ Phủ thơ ‘mưa lành‘; Lý Bạch thơ ‘trăng sáng‘, Mạnh Hạo Nhiên ‘xuân hiểu‘; Trần Tử Ngang thơ Người; Trà sớm nhớ bạn hiền, tôi chép tặng bạn Những bài thơ hay, xúc động, ám ảnh, mà tôi yêu thích và thường đọc lại. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ngam-tho-ngoai-ngan nam/
Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thảnh hót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.
xem tiếp Ca dao Việt “Cày đồng” lời bình chọn lọc và những kiệt tác thơ hay https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ca-dao-viet-cay-dong/
Cụ Nguyễn Quốc Toàn là “Lão Quán Lục Vân Tiên”,“mọt sách đền văn học, ngày 5 tháng 4 lúc 14:59 có bài viết DỊCH HAY PHÓNG TÁC ?? nguyên văn như sau:
1- Trong số ca dao Việt Nam nói về nghề nông và giá trị hạt gạo thì bài: “Cày đồng đang buổi ban trưa. Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày. Ai ơi! bưng bát cơm đầy. Dẻo thơm một hột, đắng cay muôn phần” có mặt trong nhiều tuyển tập, như: • Tục ngữ ca dao dân ca VIỆT NAM của Vũ Ngọc Phan (1). • Tục ngữ ca dao VIỆT NAM của Hồng Khánh – Kỳ Anh sưu tầm biên soạn (2), • Ca dao VIỆT NAM do Bích Hằng tuyển chọn (3). Các tác giả của ba tập sách trên tuyệt nhiên không có chú thích gì về bài ca dao đó, làm người đọc đinh ninh là ca dao Việt Nam. Nhà phê bình danh tiếng Hoài Thanh cũng yên trí “đó là một trong những bài ca dao hay nhất của xứ ta từ trước” (4).*** .
2- Thực ra bài ca dao “Cày đồng đang buổi ban trưa…” là của Tàu, chưa rõ ai là tác giả. Một số bảo của Lí Thân, (李紳,772 – 846) người Vô Tích tỉnh Giang Tô, số khác cho là của Nhiếp Di Trung (聶夷中, 837 – 884) người Hà Đông. Có điều lạ, trong “Toàn Đường thi” (全唐詩) (5) bốn câu trên được xếp vào ngũ ngôn tứ tuyệt vừa để ở mục Nhiếp Di Trung vừa để ở mục Lí Thân. ***
3- Tui tìm thấy bản chữ Hán bài ca dao trên trong bộ “Đường thi tuyển dịch” của ông Lê Nguyễn Lưu gồm hai tập, kê cứu 1409 bài thơ của 173 nhà thơ Tàu. Lí Thân ở trang 1097, với hai bài thơ Cổ phong kỳ1 và Cổ phong kỳ 2. Dưới đây là bài Cổ phong kỳ 1 tui đang bàn tới 古風其一鋤禾日當午汗滴禾下土誰知 盤中餐粒粒 皆辛苦* Phiên âm Thơ Cổ phong Bài 1 Sừ hòa nhật đương ngọ Hãn trích hòa hạ thổ Thùy tri bàn trung xan Lạp lạp giai tân khổ *** Ông Lê Nguyễn Lưu dịch xuôi:Cày xới lúa đang lúc giữa trưa Mồ hôi giọt xuống đất dưới cây lúa Ai nghỉ đến bữa cơm dọn trong mâm Mỗi hột đều chứa nỗi đắng cay gian khổ Và ông Lưu dịch thơ:Cấy lúa giữa ban trưa Mồ hôi ngoài ruộng đổ Ai hay một bát cơm Hạt hạt đầy tân khổ*** Để thấy dịch giả Lê Nguyễn Lưu vừa lúng túng vừa tiền hậu bất nhất trong cách dịch của mình, tui phân tích hai chữ sừ (鋤) và hòa (禾) trong câu thứ nhất “sừ hòa nhật đương ngọ”.- Sừ (鋤) có hai trạng thái diễn đạt. Khi là danh từ, sừ (鋤) chỉ cái cuốc. Ví dụ Nguyễn Trãi nói với bạn là Hữu Nhân: 他年淽溪約, 短笠荷春鋤 : “Tha niên Nhị Khê ước, Đoản lạp hạ xuân sừ”, nghĩa là: Năm nào hẹn về Nhị Khê đội nón lá, vác cuốc đi làm vụ xuân”. Khi là động từ, sừ (鋤) chỉ sự cuốc, như cuốc đất cuốc cỏ.- Hòa (禾) là lúa chưa tuốt ra khỏi bông, chưa cắt ra khỏi rơm rạ. Kinh thi có câu: Thập nguyệt nạp hòa giá 十月納禾稼 Tháng mười thu vào thóc lúa.*** Nếu căn cứ vào tự dạng chữ Hán thì sừ hòa (鋤禾) phải dịch là cuốc lúa, nhưng cuốc lúa là sự vô lý nên ông Lưu thay cuốc bằng “cày” và thêm vào chữ “xới” thành ra “cày xới lúa đang lúc giữa trưa”. Ý dịch giả là người nông dân cày xới cỏ giữa những hàng lúa. Điều đó dẫn đến sự thậm vô lý khác. Là lúa (禾=hòa) đã chắc hạt, đợi tuốt ra khỏi bông cớ sao còn phải cày cỏ. Khi dịch ra thơ, học giả Lê Nguyên Lưu tùy tiện bỏ cuốc lúa,cày lúa, mà gọi là “cấy lúa giữa ban trưa” ***
Một nông dân Việt (hoặc một nhà thông thái Việt) nào đó thấy “sừ hòa nhật đương ngọ” có cái gì đó không ổn, nên dựa vào ý thơ để sáng tác thành một tác phẩm khác theo thể thơ lục bát truyền thống Việt, ai đọc vào cũng hiểu và thuộc nằm lòng ngay.
CA DAO VIỆT .***
Tiếc là cho đến nay chưa thấy một học giả nào tìm ra thân thế người phóng tác thiên tài đó. Chỉ biết là bốn câu ca dao trên đã thuộc về tài sản dân ca Việt Nam trong các tuyển tập. —————————–
(1) Nxb Khoa học xã hội Hà Nội 1971
(2) Nxb Đà Nẵng 2007
(3) Nxb Văn hóa Thông tin 2011
(4) http://www.thivien.net/viewwriting.php?ID=250
(5) huynhchuonghung.com
Bộ sách Đường thi tuyển dịch của Lê Nguyễn Lưu
Cụ Nguyễn Quốc Toàn còn nói thêm: Có một sự thực ta phải chấp nhận, hàng ngày ta nói và viết đã dùng đến 80% âm Hán Việt. May mắn là chúng ta vẫn là người Việt của nước Việt Nam.
Anh Ruc Hung có hai nhận xét thật tuyệt vời xin được chép lại :
1. Bài ca dao “Cày đồng…” từ lâu đã được nhiều học giả, nhiều tờ báo, trang Web…trong nước cùng xác định là có nguồn gốc từ bài thơ Đường “Mẫn nông (憫農)” của Trung Quốc rồi bác ạ. Trước sau đã có rất nhiều bản dịch bài “Mẫn nông” sang tiếng Việt và tất cả các bản dịch này đều gắn với tên dịch giả, chỉ duy nhất bản dịch “Cày đồng…” phiên bản ca dao mà bác NQT đang bàn là khuyết danh mà thôi. Tuy nhiên, điều lạ lùng là vượt lên tất cả, chính bản dịch khuyết danh phiên bản ca dao này mới là bản được nhiều thế hệ người Việt biết đến và ngưỡng mộ nhất, thậm chí còn đinh ninh đó là sản phẩm cổ phong bản địa và quyết không rời nó, dù sau này nhiều người đã biết nguyên tác có nguồn gốc ngoại lai! Tại sao vậy? Đó là một câu chuyện dài…Hình dung rằng, bản dịch thoạt đầu được TRUYỀN KHẨU bằng TIẾNG VIỆT trong dân gian, trải thời gian, được nhiều thế hệ tác giả vô danh kế tiếp chỉnh sửa, gọt dũa, đồng sáng tạo theo phong cách dân gian mà thành bản dịch hoàn chỉnh hơn, rất THOÁT, rất HAY, rất THUẦN VIỆT so với nguyên tác. Khi người Việt chưa có chữ viết, cũng như bao tác phẩm sáng tạo dân gian khác, bài “Cày đồng…” tồn tại trong ký ức cộng đồng và TRUYỀN KHẨU trong nhân gian cho đến khi các nhà sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian bắt gặp/nghe được, ghi chép lại, văn bản hoá vào công trình sưu tầm, nghiên cứu của mình và từ đó bài “Cày đồng…” trở thành một đơn vị trong dòng văn học dân gian (văn học trước khi có chữ viết) Việt Nam. Thế nên, không thể, thậm chí không cần đi tìm tác giả bản dịch bài “Cày đồng…” nữa, bởi bài thơ đã được sáng tạo lại, được dân gian hoá.
2. Vì lý do lịch sử, lý do tiếp xúc, tiếp biến văn hoá, không riêng gì bài ca dao “Cày đồng…” mà còn nhiều thể loại văn học dân gian Việt Nam khác cũng ảnh hưởng văn học Trung Quốc, nhưng không ai đặt vấn đề xem xét lại, hoặc gỡ bỏ khỏi kho tàng văn học dân gian nước nhà, bởi nó đã được Việt hoá cao độ và ăn sâu vào đời sống văn học, văn hoá, giao tiếp của người Việt. Chẳng hạn như trong hệ thống thành ngữ Việt Nam có không ít thành ngữ Trung Quốc được dịch và dân gian hoá (Việt hoá) để dùng (mà các nhà nghiên cứu cho là tương đồng):- Y cẩm dạ hành / Áo gấm đi đêm.- Cô thụ bất thành lâm / Một cây làm chẳng nên non.- Diệp lạc quy căn / Lá rụng về cội.- Gia miếu bất linh / Bụt chùa nhà không thiêng- Bão noãn tư dâm dật / No cơm ấm cật dậm dật khắp nơi- Bất cộng đái thiên / Không đội trời chung-….
Hoàng Kim có một câu hỏi nghi vấn: “Sáng tác Việt hay dịch?” Ví như “Tết Việt và Tết Trung” là xuất phát từ “Tiết Lập Xuân” hướng chính Đông của Việt Thường La Bàn Việt.
MÃN GIÁC THƠ “HOA MAI”
Hoàng Kim và Hoàng Long
Ca dao Việt “Cày đồng” “Mản Giác thơ “Hoa Mai” Tiếng Việt lung linh sáng. Thơ Việt ngoài ngàn năm. Mãn Giác thơ Hoa Mai là bài thơ tuyệt hay thơ ngoài ngàn năm sau bài thơ “Ca dao Việt “Cày đồng” mà chúng tôi đã giới thiệu kỳ trước.
HOA MAI
(Mãi Giác 1052 – 1096)
“Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai.
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
Gốc mai vàng trước ngõ Rằm xuân lại nhớ anh. Cành mai rung rinh quả. Xuân sang lộc biếc cành. … Vườn nhà buổi sáng mai nay. Nước xao tăm cá vườn đầy nắng xuân. Mẹ gà quấn quýt đàn con. Đất lành chim đậu lộc xuân ân tình; xem tiếp Gốc mai vàng trước ngõ; Hoa Mai trong Tết Việt; Mãn Giác thơ “Hoa Mai” https://hoangkimlong.wordpress.com/category/man-giac-tho-hoa mai

SỚM HÈ LÍU RÍU XUÂN
Hoàng Kim
Suốt đời chuyên việc chính
Bạn hữu thường Nông dân {*)
Thầy nghề nông chiến sĩ
Ngày mới vui Cày đồng (**)
2
Hoa lộc vùng đỏ thắm
Sớm mai líu ríu xuân
Trà thơm thương người Ngọc
Ban mai xa mà gần
3
Sớm mai líu ríu mưa xuân
Trời như mát lạnh, nắng gần mờ sương
Thung dung nhàn giữa đời thường
An vui cụ Trạng Trình quên việc đời.
4
Sớm xuân ngắm mai nở
Nhớ ai thời thanh xuân
Thương bạn đêm đông lạnh
Thắp đèn lên đi em
5
Vui đi dưới mặt trời
Giấc mơ lành yêu thương
Trà sớm thương người hiền
Chín điều lành hạnh phúc
Lời thương cùng tháng năm
Trân trọng Ngọc riêng mình
Bài ca nhịp thời gian
Chọn giống sắn Việt Nam
xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/som-he-liu-riu-xuan
(*) NÔNG DÂN
Nguyễn Sĩ Đại
Có người nói: Nông dân không tư tưởng
Nông dân làm cản trở bánh xe lăn…
Tôi đã thấy nông dân suốt một đời làm lụng
Nuôi cái ăn chung trên mảnh đất khô cằn
Tôi đã thấy trên chiến trường ngã xuống
Những nông dân áo lính máu tươi ròng
Chết: tưới đất; sống: ngày cày xới đất
Không bổng lộc nào theo đến lũy tre xanh.
Tôi đã thấy những xích xiềng phong kiến
Cái trói tay của công hữu màu mè
Mấy chục năm kéo người xa ruộng đất
Mấy chục năm ròng cái đói vẫn ghê ghê…
Nghèo chữ quá nên trọng người hay chữ
Bóp bụng nuôi con thành ông trạng, ông nghè
Sáu mươi tuổi, mẹ lội bùn cấy hái
Ông trạng áo dài, ông trạng ly quê
Dẫu năm khó, không quên ngày chạp
Nhớ người xưa con cháu quây quần
Vâng, có thể nông dân nhiều hủ tục
Nhưng không yêu được họ hàng, yêu chi nổi nhân dân!
Tôi đã thấy thằng Bờm và mẹ Đốp
Còn sống chung với Bà Kiến, Chí Phèo
Con gà mất chửi ba ngày quyết liệt
Con gái gả chồng, cả xóm có trầu vui
Tôi đã thấy đổ mồ hôi, sôi nước mắt
Từ hạt lúa gieo mầm đến cấy hái phơi phong
Dăm bảy tạ, vài trăm nghìn một vụ
Bữa tiệc xoàng của mấy xếp là xong!
Có miếng ngon nông dân dành đãi khách
Thờ Phật, thờ Tiên, thờ cả rắn, cả rồng
Cả tin quá, tin cả dì ghẻ ác
Nhưng sống chết mấy lần, nợ quyết trả bằng xong!
Nông dân sống lặng thầm như đất
Có thể hoang vu có thể mùa màng
Xin chớ mất, chớ mất niềm tin sai lạc
Chín phần mười đất nước nông dân…
(**) CA DAO VIỆT ‘CÀY ĐỒNG’
Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hột đắng cay muôn phần
xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/…/som-he-liu-riu-xuan/

Về Nghĩa Lĩnh Đền Hùng
Lên non thiêng Yên Tử
Đến Kiếp Bạc Côn Sơn
Vào Tràng An Bái Đính
Thăm Trường xưa Hà Bắc
Nhớ Linh Giang quê hương
Động Thiên Đường tuyệt đẹp
Biển Nhật Lệ Quảng Bình
Đất Mẹ vùng di sản
Nguồn Son nối Phong Nha
Biển xanh kề núi thẳm
Mừng bạn về Quê choa
ĐỀN HÙNG ( Hi Cương,Việt Trì, Phú Thọ)
NƠI HỘI TỤ KHÍ THIÊNG SÔNG NÚI

Nguồn: Về Nghĩa Lĩnh Đền Hùng (Hoàng Kim)
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ve-nghia-linh-den-hung

HỌC VỚI CHỮ HÁN NÔM
Tiếng Việt lung linh sáng
Tự học chiết tự 1.146 chữ Nho
https://youtu.be/DUo6OlWFNP4
Hoàng Kim
Học không bao giờ muộn
Lời dặn của Thánh Trần
Chính Ngọ đoán Kinh Dịch
Ngày xuân đọc Trạng Trình
Mười thói quen mỗi ngày
Gia Cát Mã Tiền Khóa
Chín điều lành hạnh phúc
Bài ca nhịp thời gian
Đọc 10 đường dẫn ẩn ngữ tâm đắc trong bài Chuyện cổ tích người lớn Học với chữ Hán Nôm https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoc-voi-chu-han-nom/ Tiếng Việt lung linh sáng https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tieng-viet-lung-linh-sang/ và Mười thói quen mỗi ngày https://hoangkimlong.wordpress.com/category/muoi-thoi-quen-moi-ngay/
Đỗ Nguyên Hán Nôm ( Học với chữ Hán-Nôm )
16 tháng 4 lúc 04:56 ·
ĐỈNH CAO CHIẾT TỰ 8 CHỮ HÁN ĐỂ THẤY ĐƯỢC TRÍ TUỆ CỦA CỔ NHÂN.
1. Đạo (道)
Chữ “Đạo” (道) bắt đầu bằng hai nét phết (丷) tượng trưng cho Âm – Dương, cùng với chữ “Nhất” (一) tạo thành ‘Âm Dương hợp nhất’.
Bên dưới là chữ “Tự” (自), trên dưới kết hợp lại tạo thành chữ “Thủ” (首) là khởi thủy, ban đầu, đứng đầu. Vũ trụ cũng bắt nguồn từ một thứ nguyên thủy nhất rồi mới sinh ra vạn sự vạn vật. Kinh Dịch viết: “Dịch có Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái, Bát Quái sinh Ngũ Hành”, từ ngũ hành ấy mà vạn vật mới xuất sinh.
Bên trái chữ Đạo là bộ “Sước” (辶) nghĩa là chạy, bước đi, biểu thị sự vận chuyển không ngừng. Như vậy, bên trong Đạo đã bao hàm cả Âm và Dương, tĩnh và động, động thì không ngừng sinh hóa, tĩnh thì thanh tịnh vô vi.
2. Dương (陽)
Chữ Dương bên trái có bộ “Phụ” (阝) tức là núi đất, bên phải có chữ “Nhật” (日) đứng trên chữ “Nhất” (一), tạo thành hình ảnh mặt trời mọc. Bên dưới là chữ “Vật” (勿) mang ý nghĩa vạn sự vạn vật được mặt trời chiếu sáng.
Chữ “Dương” (陽) thường đi liền với chữ “Âm” (陰) tạo thành hai mặt đối lập. Bởi có Dương và Âm, nên mới có sáng và tối, ngày và đêm, nóng và lạnh, thiện và ác, tốt và xấu, trong và đục… Từ Thái Cực mà sinh ra hai khí Âm Dương, Dương phát tán còn Âm thì tụ hội, cho nên Âm Dương bổ sung và tương trợ cho nhau, đặc tính trái ngược nhau nhưng không tương hại, tương khắc mà tương hòa, tương sinh mà tương diệt.
3. Chính (正)
Chữ “Chính” (正) nghĩa là ngay chính, bao gồm chữ “Nhất” (一 – một, duy nhất) và chữ “Chỉ” (止 – dừng lại).
Chữ “Nhất” biểu thị rằng bề ngoài và nội tâm cần phải thống nhất với nhau. Chữ “Chỉ” cho thấy làm việc phải thích hợp và biết dừng lại đúng lúc. Phải có đầy đủ cả hai yếu tố trên thì mới thành bậc chính nhân quân tử, là người ngay thẳng, chính thường mà không thiên lệch. Có câu nói rằng: “Bất thiên tả, bất thiên hữu, bất bạo động”, cho nên “Chính” nghĩa là không nghiêng phải, không nghiêng trái, không bị lay động.
Trong chữ Chính có một chữ “Nhất” ở trên và một chữ “Nhất” ở dưới, ở giữa là nét thẳng đứng. Điều đó cho thấy con người hành xử cần có trên có dưới, nghiêm chỉnh ngay thẳng, không thiên lệch lên trên cũng không thiên lệch xuống dưới, trên dưới hợp nhau, hài hòa, ngay thẳng, không cúi đầu khom lưng, không a dua xu nịnh. Người như thế sao có thể nói là không Chính đây?
4. Quý (愧)
Chữ “Quý” (愧) nghĩa là hổ thẹn, bao gồm bộ “Tâm” (忄) là tim, và chữ “Quỷ” (鬼) nghĩa là ma quỷ. Con người ai cũng có hai mặt thiện và ác, có Phật tính và ma tính, có thiện tâm và ma tâm. Nếu thiện tâm làm chủ thì đó là người tốt, còn nếu ma tâm làm chủ thì chẳng phải đó sẽ là người xấu sao?
Có câu cổ ngữ rằng: “Không làm việc hổ thẹn với lòng mình thì không sợ ma quỷ gọi cửa”. Người làm những việc xấu xa, lừa người hại người, thì cũng chính là trong tâm sinh ma quỷ, không cần ma quỷ gọi cửa thì anh ta cũng không thể sống thoải mái thanh thản được.
Người xưa nói: “Ngẩng mặt không hổ thẹn với Trời, cúi đầu không tủi thẹn với Đất”. Như vậy, làm người thì tâm chí cần phải quang minh lỗi lạc, không nên làm điều gì hổ thẹn với lương tâm mà để lại nỗi ân hận suốt đời.
Chữ nghĩa của người xưa luôn hàm súc, phong phú và sâu sắc. Thông qua chữ “Quý”, cổ nhân muốn nhắn nhủ chúng ta rằng làm người phải thẳng thắn chân thật không lừa dối thì trong tâm mới không có ma quỷ.
5. Thính (聽)
Chữ “Thính” (聽) nghĩa là lắng nghe, bao gồm bộ “Nhĩ” (耳 – tai), bộ “Vương” (王 – vua), chữ “Thập” (十 – mười), chữ “Mục” (目 – mắt), chữ “Nhất” (一) và chữ “Tâm” (心).
Nếu ghép các bộ này vào nhau chúng ta sẽ hiểu được hàm ý mà người xưa muốn gửi gắm: Khi lắng nghe một ai đó, chúng ta phải khiến người ấy cảm thấy mình quan trọng như một vị vua (chữ Vương), và lắng nghe bằng đôi tai của mình (bộ Nhĩ). Đồng thời chúng ta còn phải dồn mọi ánh nhìn và sự chú ý tới họ (chữ Thập, chữ Mục). Nhưng như vậy vẫn chưa đủ, điều quan trọng nhất là phải dành trọn trái tim để cảm nhận những điều họ nói (chữ Nhất, Tâm). Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể lắng nghe trọn vẹn những thông điệp mà họ muốn truyền tải, mới biết cách thấu hiểu và trân trọng người khác.
6. Thứ (恕)
Chữ “Như” (如) và chữ “Tâm” (心) hợp lại thành chữ “Thứ” (恕), nghĩa là tha thứ, bao dung. Chữ “Như” ghép với chữ “Tâm” mang ý nghĩa là để cho trái tim gần với trái tim, để tâm mình gần với tâm người, tâm người cũng như tâm mình.
Trong Luận Ngữ, Khổng Tử đã hai lần nhắc đến chữ Thứ.
Một lần là Khổng Tử nói với Tăng Sâm: “Này Sâm, đạo của ta chỉ có một lẽ mà thông suốt hết tất cả”. Tăng Sâm thưa “Vâng”. Khi Khổng Tử ra rồi, các môn sinh khác hỏi Tăng Sâm: “Thầy muốn nói gì vậy?”. Tăng Sâm đáp: “Đạo của thầy chỉ có một lẽ Trung Thứ mà thôi”.
Một lần khác là khi Tử Cống hỏi: “Thưa thầy, có một chữ nào có thể dẫn dắt hành xử trọn đời không?”. Khổng Tử đáp: “Có lẽ là chữ Thứ chăng? Cái gì mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác”.
Người có lòng nhân, luôn khoan dung, tha thứ cho kẻ khác thì sẽ chẳng bao giờ làm những điều ích kỷ lợi thân mà tổn hại cho người. Con người sống trên cõi đời chật chội, những chuyện va vấp là điều thường tình, ai chẳng có lúc phạm lỗi, mắc sai lầm? Cho nên trong quan hệ giữa người với người, cần suy xét thận trọng, để lòng mình gần gũi với lòng người, đặt mình vào địa vị đối phương mà suy nghĩ thì tự nhiên sẽ khoan thứ.
7. Dung (容)
Chữ “Dung” (容) gồm bộ “Miên” (宀) nghĩa là mái nhà, chữ “Bát” (八) nghĩa là số 8, chữ “Nhân” (人) nghĩa là người, và chữ “Khẩu” (口) nghĩa là miệng. Kết hợp lại, chữ Dung giống như một căn nhà tuy chật chội nhưng vẫn chứa được “8 người”. Đây cũng chính là nói đến tấm lòng: chỉ cần luôn bao dung rộng mở thì có thể đón nhận được muôn người.
Ở một khía cạnh khác, “bát nhân” cũng là tám kiểu người mà chúng ta cần phải bao dung: “Thân nhân” (người thân), “Hữu nhân” (người bạn), “Lộ nhân” (người qua đường), “Ái nhân” (người vợ, chồng), “Lân nhân” (người hàng xóm), “Ác nhân” (người xấu), “Cừu nhân” (người thù địch) và “Ngu nhân” (người ngu ngốc).
8. Tín (信)
Chữ “Tín” (信) gồm chữ “Nhân” (亻) là người và chữ “Ngôn” (言) là lời nói. Con người cần phải có trách nhiệm với lời nói của mình, lời đã nói ra mà không thực hiện thì sao có thể giữ được chữ “Tín” đây?
Nho giáo cho rằng, Tín là một trong Ngũ Đức: “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín”. Trong Luận Ngữ có câu: “Nhân nhi vô tín, bất tri kì khả dã. Đại xa vô khẩu, tiểu xa vô ngột, kì hà dĩ hành chi tai?“, đại ý là nếu con người không giữ chữ Tín, cũng giống như một cỗ xe lớn không có đoạn gỗ chốt nối giữa càng xe và ách xe, xe sẽ không thể chạy được.
Vào thời Xuân Thu, có một người nước Ngô tên Quý Chát lần đầu tiên đi sứ sang nước Tần, đi ngang qua phía bắc của Từ quốc. Vua của nước Từ rất thích bảo kiếm của Quý Chát, nhưng không nói ra. Trong lòng Quý Chát biết điều đó nhưng vì vẫn phải đi sứ sang nước khác nên chưa thể tặng cho vua nước Từ được. Sau đó khi ông đi sứ xong và quay trở lại Từ quốc thì quốc vương nước Từ đã băng hà. Thế là ông liền cởi bỏ bảo kiếm xuống và treo trên cái cây trước mộ của đức vua. Tùy tùng của ông hỏi: “Thưa tướng quân, vua Từ quốc đã băng hà rồi, thì thanh bảo kiếm này còn phải tặng ai nữa?”. Quý Chát trả lời: “Không phải như ngươi nghĩ là xong đâu, ban đầu trong lòng ta đã quyết định tặng bảo kiếm cho ông ấy, sao mà có thể vì việc ông ấy đã mất rồi mà đi ngược lại với lời hứa của mình chứ!”.
Trong Sử ký – Quý Bố, Loan Bố liệt truyện có câu: “Đắc thiên lượng hoàng kim, bất như đắc quý bố nhất nặc” (Được trăm lạng vàng cũng không bằng một lời hứa của Quý Bố). Thời Hán Sở phân tranh, Quý Bố là tùy tướng của Hạng Võ, là một người rất coi trọng chữ Tín. Mỗi khi ông đã hứa hẹn với ai điều gì thì không bao giờ thất hứa. Cho nên người đời xem lời hứa của Quý Bố rất có giá trị, ví là quý hơn cả trăm nén vàng vậy. Người đời sau nói: “Lời hứa đáng giá ngàn vàng“, đều có ý chỉ lời hứa có giá trị vô cùng to lớn.
Nguồn : st

LỜI THƯƠNG
Hoàng Kim
Ta đi về chốn trong ngần
Để thương sỏi đá cũng cần có nhau.
Học với chữ Hán Nôm
Tiếng Việt lung linh sáng
Mỗi ngày một chữ mới
PHẠN nối Thực với Phản
“Đã ăn cơm của ai
thì không được phản lại người đó”
xem tiếp https://hoangkimvn.wordpress.com/2022/04/23/hoc-voi-chu-han-nom/
https://www.youtube.com/embed/DUo6OlWFNP4?feature=oembedT học chiết tự 1146 chữ Nho https://youtu.be/DUo6OlWFNP4

LỜI THƯƠNG CÙNG THÁNG NĂM
Hoàng Kim
Lời ru vui giữa đời thường
Lời yêu
Lời nhớ
Lời thương
Lời chờ ,,,
Lời trầm tĩnh, lời mơ hồ
Lời sâu sắc luận, lời thơ thẩn buồn
Đồng xuân ấm nắng thái dương
Nhớ ngôi sao mọc sớm hôm từng trời
Yêu thương tiếng Việt một đời
Học ăn học nói thành người có nhân
Cuộc đời thoáng chốc trăm năm
Lời thương còn lại …
Tri âm lâu bền !
xem tiếp 9 bài thơ Lời thương https://hoangkimlong.wordpress.com/category/loi-thuong/

#vietnamhoc
NHÀ TÔI CHIM LÀM TỔ
Hoàng Kim
Thích quá đi.
Nhà tôi có chim về làm tổ
Cây bồ đề cuối vườn
Cò đêm về trắng xóa.
Gốc me cho con
Xanh non màu lá
Ong đi rồi về
Sóc từng đàn nhởn nhơ.
Cây sơ ri ba mẹ trồngLúc con tuổi còn thơNay như hai mâm xôiTròn đầy trước ngõ.
Cây mai Bác trồng
Bốn mùa hoa thương nhớ
Trúc xanh từ non thiêng Yên Tử
Trúc vàng ân nghĩa Đào Công.
Em ơi!
Hôm nay trên cây lộc vừng
Chim phượng về làm tồ
Mẹ dạy con tập bay
Sao mà đẹp thế !
Đá vàng trao hậu thế
Người hiền noi tiếng thơm …
xem tiếp
Đá vàng trao hậu thế
Người hiền noi tiếng thơm …
xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nha-toi-chim-lam-to/
(*) Vui sống giữa thiên nhiên; Năm đặc điểm nhà phong thủy tốt https://www.facebook.com/tuvinhansinh/videos/614699602550232/

CHIM PHƯỢNG VỀ LÀM TỔ
Hoàng Kim
Chim Phượng Hoàng đất vườn nhà tôi là một chuyện may mắn. Vườn nhà tôi có cặp chim Trĩ (Phương Hoàng đất) về làm tổ sinh ra bầy chim trĩ con tuyệt đẹp. Những cây cao trong vườn có cò, chào mào, sáo sậu, yến, …và sóc về nhiều. Chim hót đủ giọng và sóc chuyền cành thật vui. Tổ chim Trĩ trên cây lộc vừng trước cửa nhà tôi bị gió lớn hất xuống sân. Con chim Trĩ non mới nở được nhà tôi cho vào một chiếc rỗ con treo lên cây để chim bố mẹ hàng ngày có thể cho ăn. Tối đó đi Phú Yên về, tôi rọi đèn ra thăm, trăng 16 đã hơi muộn. Chim non cánh vẫn còn ngắn… Sáng ra, nghe tiếng líu ríu của bố mẹ, hai con chim Phượng sà xuống lần lượt cho con ăn và gù rất lạ như là khuyến khích con bay lên. Chim Trĩ non thốt nhiên bật dậy nhảy lên thành rỗ. Sau khi lấy đà, nó bay vù qua nơi chảng ba của cây lộc vừng với sự háo hức lạ. Sau đó bổ nhào xuống cây sơn và đậu vững vàng như một con chim thành thục. Cặp Phượng Hoàng đất chuyền cành trên cây me cho con, có bộ lông đẹp, xanh mướt như ngọc và đều hót vang. Con chim non rướn mình bay lên khóm mai và cũng líu ríu. Nó đã tự tin và học đang bay. Nó đậu chắc trên cây mai và chịu mưa gió mạnh suốt đêm. Tôi lo lắng hai ba lần ra soi đèn vẫn thấy chim đậu chắc trên cây chịu mưa gió. Tôi bỗng nhớ lời Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn: “Chim Hồng hộc bay được cao và xa là nhờ sáu cái trụ lông cánh, nếu không khác gì chim thường”.













Phượng hoàng đất là Chim trĩ ( Buceros bicornis) là loài chim quý hiếm, với các loại trĩ đỏ, trĩ xanh và trĩ đen. Trong dân gian nó được ẩn dụ với loài chim phượng hoàng cao quý rất hiếm thấy, một trong tứ linh (long , ly, quy phượng), mà nếu ai gặp được thì rất may mắn. Theo Truyền thuyết về chim phượng hoàng thì Phượng hoàng là biểu thị cho sự hòa hợp âm dương , biểu tượng của đức hạnh và vẻ đẹp duyên dáng, thanh nhã . Phượng Hoàng xuất hiện ở nơi nào thì nơi đó được mừng là đất lành, thịnh vượng, và điềm lành. Rồng và Phượng (hoàng) là biểu tượng cho hạnh phúc vợ chồng, hòa hợp âm dương và thường được trang trí, chúc phúc trong các đám cưới ở Trung Quốc, Việt Nam và nhiều nước châu Á. Theo Kim Anh nguồn VN Express thì Phượng hoàng đất ở Tràng An là loài Buceros bicornis, loài to nhất trong họ hồng hoàng, được phát hiện thấy tại một số khu rừng ở Tràng An Ninh Bình. Ở phương Nam, trong điều kiện đồng bằng tôi bất ngờ gặp loài chim trĩ lông xanh đen (ảnh minh họa) là loài nhỏ hơn nhưng vẫn rất đẹp và quý mà tôi chưa có điều kiện để tra cứu kỹ ở Sinh vật rừng Việt Nam.
NGÀY QUỐC TẾ HẠNH PHÚC VÀ 18 LÔNG CHIM
Hoàng Kim
Ngày Quốc tế Hạnh phúc 20 tháng 3 là ngày được Liên Hợp quốc chọn tôn vinh niềm hạnh phúc của nhân loại. Mục tiêu của sự tôn vinh này không chỉ mang ý nghĩa biểu tượng mà còn là ngày của hành động, nỗ lực nhiều hơn để đem lại hạnh phúc tốt hơn cho người người trên trái đất.
Ngày Quốc tế Hạnh phúc được lấy từ ý tưởng của Vương quốc Bhutan là được đánh giá là nước có chỉ số hạnh phúc cao dựa trên các yếu tố như sức khỏe, tinh thần, giáo dục, môi trường, chất lượng quản lý và mức sống của người dân. Từ những năm đầu tiên của thập kỷ 70 thế kỷ XX, Bhutan là quốc gia đã ghi nhận vai trò của hạnh phúc quốc gia hơn là thu nhập quốc gia bằng việc thực thi mục tiêu tổng hạnh phúc quốc gia thay vì tổng sản phẩm quốc nội. Họ cho rằng nhu cầu về Ngày Hạnh phúc này là đối với tất cả quốc gia và con người trên toàn thế giới để có những bước vượt lên trên sự khác biệt giữa các nước và con người trên toàn thế giới, và liên kết, đoàn kết toàn nhân loại.
Ngày Quốc tế Hạnh phúc còn khởi nguồn từ nhu cầu về một cách tiếp cận tăng trưởng kinh tế cân bằng, hợp tình hợp lý hơn, nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững, xóa nghèo và phấn đấu vì hạnh phúc và sự thịnh vượng cho tất cả mọi người và xuất phát từ nguyện vọng mỗi người hãy chọn cho mình một quan niệm đúng về hạnh phúc, quan tâm đến vấn đề cốt lõi nhất trong sự tồn tại là làm sao tìm được thật nhiều niềm vui trong cuộc sống, làm lan tỏa những điều tốt đẹp nhất trên khắp hành tinh xanh.
Ngày này được Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon chính thức công bố tại một hội nghị của Liên hợp quốc từ vào ngày 28 tháng 6 năm 2012. Việc Liên hợp quốc chọn ngày 20 tháng 3 là Ngày Quốc tế Hạnh phúc xuất phát từ nguyên nhân đây là ngày đặc biệt trong năm, khi mặt trời nằm ngang đường xích đạo, nên trong ngày này có độ dài ngày và đêm bằng nhau và người ta cho đó là biểu tượng cho sự cân bằng, hài hòa của vũ trụ.[3] Cũng là biểu tượng của sự cân bằng giữa âm và dương, giữa ánh sáng và bóng tối, giữa ước mơ và hiện thực từ đó ngày này được cho là sẽ truyền tải thông điệp rằng cân bằng, hài hòa là một trong những chìa khóa để mang đến hạnh phúc.[4]
Ban Ki-moon cũng tranh thủ nhân đó kêu gọi công dân tất cả các nước cam kết giúp đỡ những người xung quanh, thúc đẩy sự phát triển bền vững và toàn diện của nhân loại bằng tình yêu thương làm lan tỏa hạnh phúc và giúp chúng ta xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn để khi tham gia làm việc thiện, bản thân chúng ta cũng nhận lại những điều tốt lành.[3]
Ngày xuân phân, chúng tôi thành công với lúa siêu xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu, năng suất cao chất lượng tốt trên đồng ruộng. Tôi trở về nhà đúng ngày quốc tế hạnh phúc (*) và may mắn nhặt được18 lông chim trong đó có 9 lông chim trĩ rãi rác ở dưới gốc bồ đề, khóm trúc, vườn mai, khế, vú sữa … Thật đúng là sự may mắn an nhiên và niềm vui tình yêu cuộc sống. 20 tháng 3 năm 2014 ngày quốc tế hạnh phúc, với gia đình tôi là ngày xuân phân may mắn. Nhà tôi có chim về làm tổ. Tôi nhặt được 18 lông chim trong đó có 9 lông chim trĩ dưới gốc Cây bồ đề nhà tôi ra lá non sau khi Thăm siêu lúa xanh ở Phú Yên. (Ành HK)

NƠI VƯỜN THIÊNG CỔ TÍCH
Hoàng Kim
Anh đưa lối em vào
Khu vườn thiêng cổ tích
Nơi trời đất giao hòa
Ong làm mật yêu hoa
Lá non đùa nắng mới
Nhạc đồng xuân thung dung
Đắm say hòa quyện
Ban mai mù sương sớm
Trời xanh trong như ngọc
Nơi cá nước chim trời
Vui với thú an nhiên…
Nơi khoảng lặng đất trời
Khu cổ tích vườn thiêng
Gốc mai vàng trước ngõ
Giấc mơ lành yêu thương
Nguyễn Thị Thủy Hoàng Kim

Cây bồ đề nhà tôi ra lá non
Học với chữ Hán Nôm
Khiếu Năng Tĩnh Thi Viện
HÁN NÔM HỘI QUÁN
Trần Thanh Liêm · odnprotsSe2t n:c4g5660l7mh f19ffu1u4 03lcág74f131túlu 4hct1g ·
THƠ VIỆT CỔ Tĩnh Giang
Trúc vịnh 竹詠 • Vịnh cây trúc
Thơ » Việt Nam » Nguyễn » Khiếu Năng Tĩnh
☆☆☆☆☆
君子藩籬立有群,
Quân tử phiên ly lập hữu quần
喚晴驅雨手長伸。
Hoán tình khu vũ thủ trường thân.
造端夫婦先求得,
Tạo đoan phu phụ tiên cầu đắc,
家國從來保重臣。
Gia quốc tòng lai bảo trọng thần.
DỊCH NGHĨA :
Người quân tử như hàng rào che chắn, luôn sống có hội có phường (trúc mọc thành khóm, biểu trưng cho sự đoàn kết).
Có khả năng hô mưa gọi gió (ngụ ý người có tài năng, có tầm ảnh hưởng lớn), tay luôn duỗi dài để giúp đời.
Việc bắt đầu đạo làm người phải từ đạo vợ chồng (đạo đức gia đình là gốc), cần phải đạt được điều đó trước tiên.
Từ xưa đến nay, nhà và nước luôn được bảo vệ bởi những người bề tôi trung kiên, trọng yếu.
*Bài thơ mượn hình ảnh cây trúc để nói về người quân tử và đạo trị gia, trị quốc.
Cây trúc dẻo dai, ngay thẳng chính là hình ảnh của những vị đại thần làm trụ cột cho đất nước.
DỊCH THƠ :
Quân tử kề vai đứng tựa rào,
Tay dài vẫy gió gọi mưa cao.
Đạo đời phu phụ cần xây trước,
Gia quốc muôn đời dựa hiền hào.
1. Bản dịch của Tĩnh Giang Thơ Việt Cổ
Quân tử biên cương có bạn bầy,
Đuổi mưa gọi tạnh vươn dài tay,
Ban đầu chồng vợ người đều có,
Tự cổ nước nhà thần trọng thay!
2. Bản dịch của Lương Trọng Nhàn.
#tretrúclâm rào dậu #Thungdung
Che mưa ngăn nắng dưỡng măng non
Vợ chồng con cái gia đình ổn
Nước nhà trọng trách biết chăm lo.
3. Bản dịch của Hoàng Kim #ana

Bồ Đề Nôi Hạnh Phúc
Đá Vàng Với Ban Mai
Khoai sắn thương ngày cũ
Thơ dâng tặng cho đời.


ÂN TÌNH ĐẤT PHƯƠNG NAM
Cho ta về lại ngày xưa
Thấm năm tháng con thơ và nhiệm vụ
Phượng đỏ nhớ nhọc nhằn gạo đỏ
Ân tình đất phương Nam
Thăm thẳm trời sông Thương
Thương câu thơ lưu lạc
“Hoành Linh vô gia huynh đệ tán”
Tổ Quốc Gia Đình bước qua thời lửa đạn
Một gia đình yêu thương
Hoàng Kim
Trà sớm với Lão Nông
ĐÁ VÀNG VỚI BAN MAI CNM365 Tình yêu cuộc sống

Nhà có phong thủy tốt căn bản nhìn vào 5 đặc điểm này 1) Chim ong về làm tổ. 2) Ánh sáng vào tràn đầy 3) Kiến trúc vững kiên cố 4) Cửa chính hướng phong quang 5) Nhà vườn luôn sạch đẹp https://www.facebook.com/tuvinhansinh/videos/614699602550232/

Đồng Nai Nôi Bồ Đề
ĐI NHƯ MỘT DÒNG SÔNG
Hoàng Kim
1
Linh Giang sông quê hương
Lời thề trên sông Hóa
Đá Đứng chốn sông thiêng
Đại Lãnh nhạn quay về.
2
Lời dặn của Thánh Trần
Minh triết Hồ Chí Minh
Thầy nghề nông chiến sĩ
Đồng xuân lưu dấu hiền
3
Chuyện đời tôi Hoàng Kim
Chín điều lành hạnh phúc
Chim Phượng về làm tổ
Chung sức trên đường xuân
4
Nguyễn Trãi Dục Thúy Sơn
Nguyễn Du trăng huyền thoại
Tô Đông Pha Tây Hồ
Nguyễn Hiến Lê sao sáng
5
Việt Nam con đường xanh
Cây Lương thực Việt Nam
Ngày xuân đọc Trạng Trình
Sóc Trăng Lương Định Của.
6
Dạo chơi non nước Việt
Về Nghĩa Lĩnh Đền Hùng
Lên Trúc Lâm Yên Tử
An Viên Ngọc Quan Âm
7
Trường tôi nôi yêu thương
Dấu xưa thầy bạn quý
Thầy bạn là lộc xuân
Thầy bạn trong đời tôi
8
Giấc mơ thiêng cùng Goethe
Châu Mỹ chuyện không quên
Ấn Độ địa chỉ xanh
Trung Quốc một suy ngẫm
9
Giấc mơ lành yêu thương
Cuối dòng sông là biển
Sự chậm rãi minh triết
Cây đời mãi tươi xanh

Thương Kim Thiết Vũ Môn
NHỚ NÚI
Một gia đình yêu thương
Bà Đen Gia Ninh Trần
Tre rồng sông Kỳ Lộ
Thương Kim Thiết Vũ Môn

Cây Lương Thực Food Crops
CÂY LƯƠNG THỰC VIỆT NAM
Cây lương thực (Food crops) là nhóm cây trồng mà sản phẩm dùng làm lương thực cho người, nguồn thức ăn chính về năng lượng (tinh bột, đường) cacbohydrat và chất dinh dưỡng thiết yếu trong khẩu phần ăn. Chúng bao gồm các loại ngũ cốc (lúa, ngô, lúa mì, yến mạch), củ/rễ (khoai tây, khoai lang, sắn), các loại đậu/hạt (đậu nành, đậu phộng, đỗ), và cả trái cây/rau quả, đóng vai trò quan trọng trong an ninh lương thực toàn cầu, với các loại phổ biến nhất thế giới là lúa, ngô, lúa mì, khoai tây và sắn. CÂY LƯƠNG THỰC VIỆT NAM lúa, ngô (bắp), sắn, khoai lang là bốn loại cây lương thực chính Cây lương thực (Việt Nam) – Wikipedia tiếng Việt
- Lúa (Oryza sativa): Cây ngũ cốc quan trọng nhất, cung cấp gạo, là nguồn lương thực chính cho hơn một nửa dân số thế giới, đặc biệt là ở châu Á.
- Ngô (Bắp): Một cây ngũ cốc quan trọng trên thế giới, dùng làm lương thực và thức ăn gia súc.
- Sắn (Khoai mì): Cây trồng lấy củ giàu tinh bột, quan trọng ở các vùng nhiệt đới.
- Khoai lang: Củ có thể dùng làm lương thực, cung cấp năng lượng.
- Cao lương (Sorghum): Ngũ cốc quan trọng thứ 5 thế giới sau lúa, lúa mì, ngô, đại mạch.
- Kê (Setaria): Hạt nhỏ, được sử dụng làm lương thực.
- Nguồn cung cấp năng lượng: Cung cấp tinh bột và năng lượng chính cho khẩu phần ăn con người.
- Giá trị toàn cầu: Lúa và ngô là những cây lương thực có tầm quan trọng toàn cầu, được trồng và tiêu thụ rộng rãi.
- Phân biệt với lương thực khác: Ngũ cốc (hạt) có độ bền cao hơn trái cây có tinh bột và củ, phù hợp cho công nghiệp và dự trữ.
- Vùng trọng điểm: Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long.
- Vụ mùa: Miền Bắc có vụ chiêm và vụ mùa; miền Nam có vụ đông xuân, hè thu và vụ ba.

Một số sản phẩm Cây Lương thực Việt Nam thương hiệu Nông Lâm được nghiên cứu phát triển, trồng phổ biến trong sản xuất những năm qua, là lời biết ơn chân thành của các tác giả với Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 70 năm ngày thành lập (19/11/1955-19/11/2025), 80 năm Ngành Nông Nghiệp Việt Nam (1945-2025) với thầy bạn và đông đảo nông dân. Bài viết này giới thiệu một số đúc kết tư liệu liên quan Dạy và Học Cây Lương thực Việt Nam giúp bạn đọc tiện theo dõi. Cây Lương thực Việt Nam #cltvn
Hoàng Kim CNM365 Tình yêu cuộc sống
DẠY VÀ HỌC https://hoangkimvn.wordpress.com
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày
Mỗi sáng nạp tràn đầy năng lượng & Yêu thích sự bình an & Bí quyết sống thanh thản & 5 kiểu người càng sống càng có phước & 5 cách giao tiếp kỳ diệu với vũ trụ & 7 Dấu Hiệu Cho Thấy Bạn Không Phải Là NGƯỜI THƯỜNG & 8 KIẾP NẠN Bạn Đã VƯỢT QUA Mà Không Biết Dấu Hiệu Phước Báo Sắp Đến & 8 dấu hiệu tâm linh mạnh mẽ & 5 Dấu Hiệu Bạn Là Hậu Duệ Của Bồ Tát | Mang Căn Tu Từ Kiếp Trước Mà Không Biết & 9 DẤU HIỆU Bạn Có TRÍ TUỆ PHẬT ĐÀ Mà Không Nhận Ra | Thông Minh Khác Biệt Theo Lời Phật Dạy; Con xứng đáng với sự bình yên trong tâm mình . Tâm An
Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365 Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn, Kim on Facebook, Kim on Twitter














































































































































































































































































































