Thành phố đẹp bên bờ biển xanh

DaNang

Hoàng Kim

Tôi đến thăm anh
Thành phố đẹp
Bên bờ biển xanh
Núi biếc thông xanh
Thảm cỏ xanh non
Lộng lồng gương trong
Thung dung đồng xuân, biển xanh
Soi trời xanh Tổ Quốc
Giấc mơ xuân

Những cây cầu nối đôi bờ thương nhớ
Dãy dãy ngôi nhà mới xây cao vút
Linh ứng đất trời lòng người
Vượng khí non sông

Ước biển lặng, trời yên
Chim câu nhởn nhơ bay
Cây thông xanh
Rặng liễu mềm
Hoa xuân đơm nụ
Trẻ em tung tăng đến trường
Cụ già dạo chơi thong thả
Bầu trời xanh mênh mông …

Tôi đến thăm anh
Lặng ngắm cánh đồng xanh
Và dãy núi anh hùng.

Tôi ở nơi xa
vùng quê nghèo nàn
vất vả,
Chốn thị thành
xa lạ,
với tôi
chưa kịp hiểu nhiều.
Nhưng tôi biết rõ một điều
Anh đã sống hết mình cho quê hương anh
cho đồng bào anh
cần thiết cho thời đại của anh
nên cuộc đời ghi công anh
Người dân ghi trong tim
và truyền trong bia miệng
Êm như nhung
Ấm như nắng
Mềm như nước
Sắc như dao
Nhẹ như hơi thở
Ngọt như khúc dân ca

Lòng tôi bồi hồi
Thấm hiểu câu thơ ông Trứ:
“Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông”

Anh còn đó
cùng bạn hiền
bia miệng
lòng người
và lưu dấu
với quê hương.

Video nhạc tuyển
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính
dạy và học 
hoangkim, hoangkimvietnam, Hoàng Kim,
foodcrops.vnKim LinkedInKimFaceBook

Nguyễn Bá Thanh, giấc mơ xuân

NguyenBaThanh

Ông Nguyễn Bá Thanh là Trưởng Ban Nội chính Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông mất ngày 13 tháng 2 năm 2015. Lễ viếng cử hành chính thức lúc 14h30 ngày 14 tháng 2. Lễ truy điệu lúc 9h30 ngày 18-2-2015 (tức 30 Tết), sau đó sẽ an táng tại nghĩa trang quê nhà tại xã Hòa Tiến huyện Hòa Vang TP. Đà Nẵng, theo thông báo của gia đình trên báo Tuổi trẻ.

Ông Nguyễn Bá Thanh sinh ngày 8 tháng 4 năm 1953, quê ở xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng. Sau khi tốt nghiệp Đại học Nông nghiệp Hà Nội, ông được phân công về địa phương làm cán bộ nông nghiệp, thăng dần đến Chủ nhiệm Hợp tác xã Hòa Nhơn và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 13 tháng 2 năm 1980. Năm 1996, ông được cử giữ chức Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Đà Nẵng đầu tiên sau khi chia tách tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, và giữ chức vụ này trong 7 năm, qua các đời Bí thư Thành ủy Đà Nẵng là các ông Trương Quang Được, Phan Diễn, Nguyễn Đức Hạt. Năm 2003, ông được bầu vào chức vụ Bí thư Thành ủy Đà Nẵng, thay người tiền nhiệm Nguyễn Đức Hạt được điều động làm Phó trưởng ban Thường trực Ban tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Không lâu sau đó, ông cũng được bầu vào chức vụ Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố Đà Nẵng. Ông là đại biểu Quốc hội Việt Nam khoá IX, XI và XII. Ngày 28 tháng 12 năm 2012, Bộ Chính trị đã ban hành các quyết định về việc thành lập Ban Nội chính Trung ương và Ban Kinh tế Trung ương; các quyết định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của hai ban này. Đồng thời, Bộ Chính trị cũng ban hành Quyết định 655 phân công ông Nguyễn Bá Thanh, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng giữ chức Trưởng ban Nội chính Trung ương. Ngày 10 tháng 9 năm 2014, báo RFA theo tin một bác sĩ cho biết ông Thanh đã bị “bị nhiễm phóng xạ và cần phải ghép tủy”, vì vậy phải sang một bệnh viện ở Hoa Kỳ điều trị. Tại bệnh viện của Hoa Kỳ cũng đưa ra kết quả chẩn đoán trùng khớp với chẩn đoán của bệnh viện C Đà Nẵng là nhiễm độc phóng xạ. 20g30 tối 9 tháng 1 năm 2015, chuyên cơ y tế chở ông Nguyễn Bá Thanh từ bệnh viện của Hoa Kỳ trở về tới sân bay Đà Nẵng. 21h cùng ngày, ông Thanh được chuyển tới khoa Ung bướu Bệnh viện Đà Nẵng trong sự chào đón của người dân. Đến 13 giờ ngày 13 tháng 2 năm 2015, ông đã trút hơi thở cuối cùng tại nhà riêng, sau khi được đưa từ Bệnh viện Đà Nẵng về nhà, kết thúc hơn nửa năm điều trị bệnh rối loạn sinh tủy ở Singapore, Mỹ và Việt Nam.

Ông Nguyễn Bá Thanh là chính khách được nhiều người mến mộ Ông có bản lĩnh, niềm tin và ước mơ vươn tới. Công luận và sự thật lịch sử sẽ còn có nhiều người nói và viết về ông. Chuyên trang Nguyễn Bá Thanh Wikipedia Tiếng Việt sẽ cập nhật nhiều thông tin mới về ông.

Xin thắp nén hương tưởng niệm và chia buồn cùng gia đình.

Nguyễn Bá Thanh, giấc mơ xuân.

Hoàng Kim
(Nguồn: DẠY VÀ HỌC)

Đọc tiếp

Chào ngày mới 14 tháng 2

Video yêu thích
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính 
hoangkim, hoangkimvietnam, Hoàng Kim, foodcrops.vnKim LinkedInKimFaceBook

Hồ Ngọc Đại, đọc và suy ngẫm

HoNgocDai1

HỌC MỖI NGÀY. Những trang blog “Học mỗi ngày”  “Đọc lại và suy ngẫm” của Hoàng Kim bị NetAdForce http://netadforce.com/ tồi tệ chiếm dụng để quảng cáo (!). Tôi buộc phải đăng “Học mỗi ngày” tại đây. Tôi nhớ giáo sư Hồ Ngọc Đại và bài nói chuyện ấn tượng của ông về  tính đơn nhất, sự không thể thay thế của con người mà tự an ủi : Mình lập trang khác mà không sợ sự ăn cắp. Điều đáng sợ là đánh mất chính mình, nếu mình vẫn là mình thì sự khuất tất không thể che ánh sáng sự thật, sự tử tế và tình yêu cuộc sống.

Giáo sư Hồ Ngọc Đại là chuyên gia khoa học giáo dục, giám đốc của Trung tâm Công nghệ Giáo dục (CGD). Ông năm nay 78 tuổi, sinh ngày 3 tháng 4 năm 1936 tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.  Ông là con rể của cố Tổng Bí thư Lê Duẩn. Năm 1968 ông theo học ngành Tâm lý học tại Liên Xô. Năm 1976 hoàn thành luận văn Tiến sĩ về Những vấn đề tâm lý trong giảng dạy Toán học hiện đại cho học sinh cấp 1. Năm 1978, ông sáng lập ra Trung tâm Công nghệ Giáo dục và dành hầu như trọn đời cho khát vọng thực nghiệm công nghệ giáo dục, công nghệ phát triển con người, cả về lý thuyết lẫn thực tiễn. Ông có nhiều sách chuyên đề về tâm lỳ học đã xuất bản.  Ôngđược trao Giải thưởng Phan Châu Trinh năm 2009.

Hồ Ngọc Đại qua Wikipedia tiếng Việt được biết đến như một nhà giáo dục cấp tiến có nhiều công trình cải cách giáo dục mà điển hình là hệ thống trường thực nghiệm do ông chủ trương trong nhiều năm qua. Quan điểm của giáo sư Hồ Ngọc Đại là “Cần có một nền Giáo dục mới. Một nền Giáo dục buộc phải mới tận nguyên lý của nó. Một nền Giáo dục tất yếu phải trở thành sự cứu nguy cho dân tộc, nơi trẻ em là những Anh hùng Thời đại. Và một nền Giáo dục không bị thần bí hóa bằng lời hô hào “sáng tạo” suông. Mà là một nền Giáo dục công nghệ hóa, có thể triển khai theo cái mẫu được các nhà khoa học tạo ra bằng thực nghiệm”. Theo giáo sư Hồ Ngọc Đại thì  ông hạnh phúc nhất khi học trò trường thực nghiệm được trang bị một “đầu óc vũ trang” chứ không phải “đầu óc chất đầy” và ông đã tình nguyện đem cả cuộc đời với học vấn tiến sĩ để “đánh cược” với nền giáo dục truyền thống hiện tại.

Hai bài viết mới đáng lưu ý của GS Hồ Ngọc Đại là: “Nếu nền giáo dục làm đúng thì 15 năm sau chúng ta có một dân tộc khác” và ” Cải cách giáo dục phải tập trung vào đạo đức và chất lượng “.

Giáo sư Nguyễn Tiến Dũng có loạt bài “Phản biện GS Hồ Ngọc Đại về giáo dục” và giáo sư Nguyễn Minh Thuyết “Tiếp tục phản biện Giáo sư Hồ Ngọc Đại về giáo dục“. Theo GS. Nguyễn Minh Thuyết  thì lý luận giáo dục của GS. Hồ Ngọc Đại  có thể tóm tắt  như sau:

1. Đối tượng của giáo dục ngày nay là trẻ em hiện đại. Giáo dục phải đưa đến cho các em những thành tựu mới mẻ nhất của khoa học là hệ thống khái niệm khoa học hiện đại.

2. Khái niệm khoa học là cái không thể chiếm lĩnh được bằng con đường định nghĩa. Dạy khái niệm khoa học cho học sinh có nghĩa là phân giải khái niệm ra thành một chuỗi thao tác để chiếm lĩnh khái niệm. Quy trình chiếm lĩnh khái niệm trong nhà trường diễn ra theo bốn bước: hành động bằng tay (trên vật thật, rồi trên vật thay thế), hành động bằng lời nói (nhắc lại hành động bằng tay thành lời nói to, sau đó thành lời nói nhỏ, rồi lời nói không thành tiếng), mô hình hoá (đúc rút chuỗi thao tác thành mô hình) và cụ thể hoá (luyện tập trên những vật liệu mới).

3. Quy trình thành mỗi khái niệm cũng như toàn bộ chương trình giáo dục phải phù hợp với quá trình phát triển của nhận thức là đi từ trừu tượng đến cụ thể. Đây cũng chính là con đường phát triển của bản thân khái niệm.

4. Về mặt tổ chức thực hiện, từ chương trình môn học đến mỗi bài học, tiết học cụ thể đều phải được thiết kế bởi những nhà chuyên môn trình độ cao. Giáo viên chỉ đóng vai trò người thi công những bản thiết kế đó; sự sáng tạo của họ không có giá trị đáng kể. Nhưng trong quan hệ thầy – trò thì người thiết kế là giáo viên, còn người thi công là học sinh (mặc dù vậy, người thi công loại này được xem là nhân vật trung tâm của giáo dục).

góp thêm một góc nhìn trong “mối quan tâm chung của nhiều người về việc chọn đường đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam”.

Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết nhấn mạnh: “Giáo dục Việt Nam bên cạnh những thành tựu không hề nhỏ cũng còn tồn tại rất nhiều bất cập, yếu kém, cần nhanh chóng được khắc phục. Trên con đường đổi mới, có thể có rất nhiều quan điểm, nhiều cách tiếp cận khác nhau và việc trao đổi, tranh luận giữa những người quan tâm, giữa các nhà khoa học là rất đáng trân trọng”. Những ý kiến trao đổi này góp thêm những góc nhìn trong “mối quan tâm chung của nhiều người về việc chọn đường đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam”

Tôi tâm đắc với ý kiến này.

Hồ Ngọc Đại, đọc lại và suy ngẫm.

Hoàng Kim

 

:

“NẾU NỀN GIÁO DỤC LÀM ĐÚNG THÌ 15 NĂM SAU
CHÚNG TA CÓ MỘT DÂN TỘC KHÁC”

Báo điện tử Tầm nhìn

Bách khoa toàn thư mở viết về GS Hồ Ngọc Đại như sau: Ông là một nhà khoa học giáo dục , một nhà tổ chức thực tiễn hoạt động giáo dục, một nhà giáo tràn đầy nhiệt huyết , hết lòng vì sự nghiệp giáo dục , trước hết là giáo dục tuổi thơ và một nền công nghệ hóa giáo dục , một người chịu thua tất cả chỉ để được công nghệ giáo dục. Ông cho rằng: “Cần có một nền giáo dục mới. Một nền giáo dục buộc phải mới tận nguyên lý của nó. Một nền giáo dục tất yếu phải trở thành sự cứu nguy cho dân tộc, nơi trẻ em là những “Anh hùng thời đại”. Và một nền giáo dục không bị thần bí hóa bằng lời hô hào “sáng tạo” suông, mà là một nền giáo dục công nghệ hóa, có thể triển khai theo cái mẫu được các nhà khoa học tạo ra bằng thực nghiệm”. Chuẩn bị bước vào một năm học mới,  GS Hồ Ngọc Đại chia sẻ:

“Nếu nền giáo dục làm đúng thì 15 năm sau chúng ta có một dân tộc khác”

Năm nay đã gần 80 tuổi, có thể nói ông đã dành tâm huyết cả đời mình cho ngành giáo dục. Có những công trình ông viết từ gần 40 năm trước giờ mới được công nhận, đưa vào giảng dạy. Vậy trong con mắt của ông, nền giáo dục của chúng ta đứng ở đâu so với thế giới?

– Nếu so với thế giới, nền giáo dục của chúng ta quá lạc hậu. Tôi có thể nói thế này: Vào thời điểm này từ cuộc sống, tất cả các ngành, các nghề của con người và xã hội đã biến đổi rất lớn so với cách đây 15-20 năm, nhưng nghiệp vụ sư phạm của chúng ta thì từ nửa thế kỷ nay không thay đổi gì cả. Thậm chí còn tệ hại hơn trước vì trước là thầy giảng, trò ghi nhớ nhưng bây giờ là thầy đọc, trò chép.

Bộ GDĐT đã nhận thức được điều đó nên trong những năm gần đây đã đưa ra hàng loạt phương án đổi mới giáo dục như 10+2 hoặc 9+3, hoặc các phương án đổi mới SGK, đổi mới kỳ thi… đó cũng là cách đổi mới đấy chứ?

– Với lực lượng hiện nay tôi không tin là làm được bởi bản chất vẫn là xào xáo cái hiện có. Người ta thay ngôn từ này bằng ngôn từ khác cho khéo léo hơn, lọt tai hơn nhưng bản chất không thay đổi gì vì tư duy và trình độ không có gì thay đổi giống như cái cày chìa vôi thì dù cải tiến bằng trời nó vẫn là cái cày chìa vôi. Cuộc đời tồn tại bằng sự vật vì vậy muốn cải tiến thì hãy cải tiến từ sự vật, từ cuộc sống chứ không phải bằng ngôn từ.

 Giáo sư Hồ Ngọc Đại

Vậy theo GS, việc đổi mới phải từ đâu?

– Muốn đổi mới thì phải nhìn nhận lại tư duy triết học về giáo dục bởi tư duy hiện nay về giáo dục là tư duy triết học học trò, triết học thi cử, triết học sách giáo khoa mà đáng lẽ ra phải có cái nhìn triết học bác học. Vấn đề nữa là tâm lý học giáo dục rồi mới đến khoa học chuyên ngành.

Vấn đề triết học bác học về giáo dục là gì ạ?

– Đó là anh phải nhìn nhận đối tượng giáo dục mà bắt đầu từ trẻ em là cái gì? Quan điểm của tôi  về trẻ em thế này:“Trẻ em là mỗi người tự sinh ra nó” bố mẹ sinh ra con là cho nó cái hình hài vật chất, còn quá trình lớn lên là nó tự sinh ra nó. Vì vậy vai trò của giáo dục ở đây là định hướng để họ phát triển và làm cho người nào trở thành chính con người ấy, chứ không phải trở thành người khác.

Vậy có nghĩa là quá trình giáo dục là quá trình hướng cho đứa trẻ tự hoàn thiện mình?

– Đúng vậy. Chúng ta phải giáo dục sao cho trẻ em tiếp thu được nền văn minh xã hội, phải tổ chức để người học tiếp nhận được điều đó. Tôi vẫn muốn nhấn mạnh về việc ưu tiên giáo dục mầm non bởi đây là giai đoạn hình thành nhân cách của trẻ. Ưu tiên trẻ con là ưu tiên dân tộc, vì tương lai dân tộc. Nếu nền giáo dục này mà lành mạnh và làm đúng thì tôi tin 10-15 năm nữa chúng ta sẽ có một dân tộc khác. Phương pháp của tôi là dạy cho trẻ tự làm lấy hết mọi việc, khi con trẻ  biết tự làm lấy mọi việc thì sẽ tự tin. Khi đã tự tin thì sẽ tự trọng. Nếu một đất nước mà công dân đất nước đó ai cũng tự tin và tự trọng thì đất nước đó vĩ đại lắm. Muốn như thế thì phải đổi mới căn bản trong giáo dục. Nếu làm được thì  10-15 năm nữa chúng ta có một dân tộc khác, một dân tộc đầy tự tin và tự trọng.

Nền giáo dục toàn lý thuyết như  vậy có phải là nguyên nhân để đất nước ta có một số lượng tiến sĩ, cử nhân vô cùng lớn, nhưng những công trình nghiên cứu của những tiến sĩ này đều không thể đưa vào áp dụng trong thực tế, cử nhân thì không biết làm việc ?

– Đúng là nền giáo dục của chúng ta đã đẻ ra một hệ thống tiến sĩ “từ chữ sang chữ, từ sách sang sách”. Cái gọi là công trình khoa học của tiến sĩ ấy là chép từ sách này sang sách khác, hoàn toàn là những bản photocopy lẫn nhau. Đây là trò chơi chữ nghĩa, trò chơi trong phòng thi, trò chơi trong phòng kín giữa những nhóm người với nhau  chứ không phải từ cuộc đời mà ra. Cử nhân cũng vậy, ra trường không biết làm việc không biết một nghề gì cụ thể. Tôi cho rằng nếu muốn cải cách giáo dục hiệu quả thì việc cải cách đó phải từ cuộc đời mà ra.

Xin trân trọng cảm ơn GS!

Trích ý kiến của GS Hồ Ngọc Đại
Nguồn Lao Động


CẢI CÁCH GIÁO DỤC PHẢI TẬP TRUNG VÀO ĐẠO ĐỨC VÀ CHẤT LƯỢNG

Dành gần cả cuộc đời cho giáo dục, đến nay, với tôi hai chữ đạo đức và chất lượng luôn luôn trở thành nỗi niềm trăn trở. Bởi lẽ, thiếu nó, thì ngành giáo dục ở mọi thời đại sẽ khó có bước phát triển theo đúng nghĩa.

Giáo dục Việt Nam – góc nhìn từ quá khứ

IMG_7790
Giáo sư Hồ Ngọc Đại
Trong thời kỳ chiến tranh, mặc dù đời sống vật chất vô cùng gian khổ, điều kiện học tập hết sức thiếu thốn, những lớp học mái tranh liếp nứa trong những cánh rừng heo hút đã đào tạo được một thế hệ thanh niên sau này hầu hết đều trở thành rường cột trong nhiều ngành khoa học ở nước ta cho tới nay.

Thành công lớn nhất của nền giáo dục cũ ở nước ta theo tôi là đã bồi dưỡng được lòng ham hiểu biết cho người học. Đã có một lớp trí thức ở ta dù bằng cấp rất khiêm tốn nhưng là những tài năng thực sự trên nhiều lĩnh vực. Những tấm gương của thầy cô giáo, những người được nể trọng trong làng xã từ những ông Cử, cụ Nghè cho tới ông hương sư là mẫu mực về sự hiểu biết, tấm gương về cách cư xử hợp đạo lý, trụ cột của các gia đình tử tế được mọi người ngưỡng mộ cũng là động lực thôi thúc lòng ham học của mỗi người khi được cắp sách tới trường. Người ta tiếp bước truyền thống coi “nhân bất học bất tri lý”, học để mở mang tầm nhìn, học để sống cho ra con người.

Dẫn chứng trên để thấy rằng, giáo dục của thời đại trước tuy thiếu thốn nhiều về điều kiện vật chất nhưng vẫn tạo ra được những con người chuẩn mực đạo đức, những nhân tài lừng danh cho mọi thời đại.

Soi xét hiện tại

Thế nhưng, điều đáng buồn là từ sau cải cách ruộng đất, thang bậc giá trị trong giáo dục đã thay đổi. Bởi lẽ, mục đích học tập hiện nay chỉ đơn giản là bằng cấp, cùng với một số “thủ tục” tất yếu sẽ thành công.

Đơn cử, trong giáo dục đại học, người học chỉ quan trọng làm sao tốt nghiệp để có tấm bằng, còn người dạy học cốt sao đào tạo được nhiều. Vậy nên, dù có trình độ cử nhân hay thạc sĩ, thì tỷ lệ thất nghiệp vẫn chiếm một tỷ lệ không nhỏ vì muốn làm được nghề đã được đào tạo, người học cần được đào tạo lại, nghĩa là sau ba bốn năm học, thời gian và tiền của trở thành “nước lã ra sông”- như vậy là, giáo dục đang xa rời với chất lượng nguồn nhân lực và nhu cầu của xã hội.

Trên thực tế, trẻ em nước ta tới trường không phải để được tạo điều kiện phát huy những năng lực cá nhân mà để dần thành thạo “nghệ thuật diễn”. Sắp tới trường, các em đã được cha mẹ dạy cho cách “diễn”, “diễn” để làm đẹp lòng thầy cô, “diễn” để cha mẹ được đẹp mặt với thiên hạ vì con là học sinh giỏi, là học sinh của các trường chuyên lớp chọn. Và rồi, bài học đầu tiên của mỗi học sinh ngay từ cấp tiểu học cũng là học cách “diễn”. Từ “diễn” khai giảng tới “diễn” vẻ “tự nguyện” tham gia vào các lớp học thêm do thầy cô tổ chức… Vì thế, tôi thật sự không mấy ngạc nhiên khi theo kết quả điều tra mới đây ở VN, người có trình độ học vấn càng cao, tỷ lệ gian dối càng nhiều, từ khoảng 20% ở tiểu học lên tới 80% ở đại học.

Cải cách tương lai?

Thực tế trên cho thấy, muốn giải quyết nền giáo dục hiện tại thì phải tập trung vào hai vấn đề đó là: giáo dục đạo đức xã hội cho người học ngay từ ngày bắt đầu tới trường (cấp tiểu học) và định hướng nghề nghiệp trong tương lai (ở bậc đại học). Nghĩa là, giáo dục phải gắn liền với trách nhiệm đạo đức xã hội và chất lượng nguồn nhân lực.

Trước hết, phải thay đổi việc dạy đạo đức trong nhà trường, bởi đây là vấn đề mấu chốt để chấn hưng giáo dục. Chúng ta thường nói trí, thể, mỹ phải đi liền với nhau. Rõ ràng đạo đức bao giờ cũng được đặt lên trước. Không phải ngẫu nhiên mà trong hầu hết các trường học đều có câu “Tiên học lễ, hậu học văn”, nghĩa là học sinh phải học lễ nghĩa trước, sau đó mới học văn hóa. Vì thế, vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh là một vấn đề hết sức quan trọng”.

Theo chuẩn mực quốc tế, thì uy tín và năng lực đào tạo của mỗi trường ĐH, được đánh giá qua tỉ lệ SV tốt nghiệp có việc làm, có khả năng làm tốt công việc và đặc biệt là làm đúng ngành nghề được đào tạo. Do vậy, muốn đạt được mục tiêu này, người học cần phải đạt chuẩn đầu ra, có đầy đủ các kiến thức và kỹ năng cần thiết của ngành nghề được đào tạo, có khả năng nhanh chóng đáp ứng và thích nghi với thực tiễn công việc, với những tiến bộ nhanh chóng của khoa học – công nghệ. Thế nhưng, bản thân cá nhân người học sẽ không tự quyết định được yếu tố này mà theo tôi sẽ có 3 yếu tố quan trọng nhất tác động tới vấn đề này, đó là giáo trình, giáo viên và kỹ năng nghề.

Cụ thể, về giáo trình phải đảm bảo hướng dẫn cho học sinh từ kiến thức tới kỹ năng học áp dụng trong thực tế như thế nào với nền kinh tế nơi học sinh đang sống và phát triển. Đối với đội ngũ giáo viên phải đảm bảo về chất lượng giảng dạy. Ví dụ như trường Đại học London, giáo viên phải là người dạy tiếng Anh bản ngữ để đảm bảo đúng chất Anh. Về kỹ năng nghề phải linh hoạt và phát triển, không chỉ dạy những cái đã biết mà phải dạy những cái kỹ năng ngành nghề đó yêu cầu để đáp ứng nhu cầu xã hội. Đặc biệt, khi phát triển khung cấu trúc chương trình thì phải tìm giá trị, nhu cầu mới để tái trúc lại chương trình cho phù hợp thực tế. Ba yếu tố này, phải được thực hiện đồng bộ vì mỗi yếu tố đều có liên quan chặt chẽ đến nhau như cùng trên một trận chiến không thể tách rời. Ví dụ như ăn mặc đẹp nhưng đi đôi giày cũ sẽ làm lệch lạc hình ảnh.

Tôi được biết, ở nước Anh, họ có một ban kiểm định chất lượng hoạt động độc lập, không thuộc tổ chức quản lý tiền của Chính phủ. Ban kiểm định này sẽ phụ trách về chất lượng giảng dạy của các trường. Chất lượng họ đo được là họ dựa trên chất lượng trải nghiệm của các trường đó và chất lượng của sinh viên sau khi ra trường. Thường để đánh giá đúng chất lượng của một trường đại học thì trường đó phải hoạt động khoảng 5 năm.

Với trường ĐH London (UoL) thì Ban kiểm định này đánh giá cả hoạt động ngoài nước Anh và cả trong nước Anh. Cụ thể, họ giám sát cả về chất lượng bằng của sinh viên học tại Anh hay học tại Việt Nam sẽ phải tương đương nhau. Các chương trình của British University Vietnam (ĐH Anh Quốc VN – BUV) cũng được đánh giá và kiểm soát dựa trên hệ thống này.

Do vậy, nếu giáo dục đại học của VN cũng làm được như họ- nghĩa là gắn giáo dục với chất lượng nguồn nhân lực đào tạo thì bức tranh về nền giáo dục của VN sẽ có nhiều điểm sáng hơn.

Thay lời kết cho bài viết, tôi muốn nói rằng, để nền giáo dục của VN phát triển theo đúng nghĩa và hội nhập cùng cộng đồng thế giới, thì giáo dục phải được gắn liền với vấn đề giáo dục đạo đức và định hướng nghề nghiệp (nghĩa là chất lượng nguồn nhân lực).

Minh Châu

CẦN SỰ NỔI LOẠN CỦA TƯ DUY GIÁO DỤC
Giáo sư Hồ Ngọc Đại
Cần sự nổi dậy của tư duy giáo dục

Loạn trường đại học, loạn giáo sư, loạn tiến sỹ… là thực trạng buồn của giáo dục Việt Nam. Thế nhưng, cái cần “nổi loạn” nhất là sự nổi loạn của tư duy thì lại trì trệ, lại không dám, chỉ biết cam chịu – GS. TSKH Hồ Ngọc Đại bày tỏ.

Niên học 2007-2008 kết thúc với khá nhiều ấn tượng đáng ghi nhận. Ngành giáo dục, sau nhiều năm bê trễ và luẩn quẩn có vẻ như đã tìm được hơi thở mới. Hàng loạt các phong trào “Hai không”, “Bốn không” đã thu được những thành quả nhất định. Các kỳ thi đã diễn ra nghiêm túc hơn, đặc biệt là kỳ thi đại học. Gần đây nhất, việc Bộ GD-ĐT cho in 3 cuốn đính chính sai sót trong SGK đã thể hiện tinh thần cầu thị, nhìn thẳng vào sự thật.

Tuy nhiên, trên tinh thần khoa học, thẳng thắn và xây dựng, không ít nhà chuyên môn cho rằng cách làm giáo dục theo kiểu phong trào nối tiếp phong trào như hiện nay sẽ khó đem lại hiệu quả lâu dài như mong muốn bởi phong trào chỉ mang lại hiệu quả trong những thời điểm nhất định. Hình như giáo dục của ta vẫn đang loay hoay với một tư duy giáo dục quen cam chịu, không dám “nổi loạn”.

Dân trí đã có cuộc trò chuyện với một nhà giáo dục nói dai, nói mãi, nói nhiều nhưng cũng là người nói đúng, nói trúng, nói quyết liệt và thẳng thắn đến mức nhiều khi “nghịch nhĩ” – GS. TSKH Hồ Ngọc Đại.

Thiếu lý luận giáo dục

Cách đây không lâu, khi trả lời phỏng vấn chúng tôi, TS Chu Hảo nói đại ý rằng, giáo dục của chúng ta lại đang đi vào bất cập như đã từng bất cập, rằng giáo dục chưa được bắt đúng “bệnh” và những thành công hiện nay là thành công của cách làm phong trào và không bền vững. Ông có đồng ý với nhận xét này?

Tôi xin được thay 2 chữ: Bất cập = Thất bại.

Có lẽ trong văn cảnh này thì bản chất của hai từ trên không khác nhau nhiều lắm. Nó cũng chỉ là cách nói “nhiều” với “không ít” thôi. Tuy nhiên, vì sao các ông lại có nhận xét bi quan thế?

Tôi không bi quan, hiện tại nó đang như thế. Có lẽ câu cần hỏi là vì sao lại vẫn cứ để cho điều đó xảy ra?

Vâng, cứ cho là như thế, theo ông thì nguyên nhân sâu xa của nó là gì?

Đó là vì chúng ta làm giáo dục bằng kinh nghiệm, bằng thói quen, bằng mò mẫm, thậm chí không loại trừ bằng lợi ích của một nhóm người mà không xây dựng cho mình một nền tảng lý luận để phát triển giáo dục. Vì không có lý thuyết nên không có cách làm thực tiễn phù hợp với lý thuyết đó. Và do đó, không biết phải bắt đầu từ đâu, thực hiện điều đó như thế nào.

Trẻ em đang cần một nền giáo dục khác

Trước khi từ giã thế kỉ 20, chúng ta đã cố gắng hoàn thiện một nền tảng lý thuyết về giáo dục cho thế kỉ 21. Thế nhưng đã bước sang thế kỉ mới 8 năm rồi mà ông vẫn nói là vẫn chưa biết bắt đầu từ đâu?

Khi chuẩn bị việc đó, chúng ta vẫn là con đẻ của thế kỉ 20 đi lo công việc của thế kỉ 21. Đó là một sai lầm. Phải coi thế kỉ 20 ra đi như một kẻ đột tử mà không thể “ăn bám” vào nó thêm nữa. Do đó, thế kỉ 21 phải tự lo liệu thân mình. Đây là hai thế kỉ hoàn toàn khác nhau về bản chất. Những đứa trẻ của thế kỉ 21 không phải là những đứa trẻ của thế kỉ 20.

Chúng đi xe hiện đại, sử dụng điện thoại di động hiện đại, sử dung intenet siêu tốc và máy vi tính hiện đại. Ngay cả đồ chơi và trò chơi chúng cũng không còn chơi những đồ chơi và trò chơi của các thế kỉ trước. Do đó, chúng rất cần được hưởng nền giáo dục hiện đại, nội dung hiện đại, phương pháp hiện đại thì ngược lại, chúng đang bị “nhốt” trong cái lồng quá cũ và được “nhồi nhét” kiến thức theo phương cách cũ. Tóm lại, trẻ em hôm nay cần một nền giáo dục khác.

“Nền giáo dục khác” là nền giáo dục như thế nào?

Một nền giáo dục có lý thuyết, không mò mẫm, không đối phó, không lừa dối, dù lừa dối người khác hay tự lừa dối chính mình. Tiếc thay có nhiều điều tỉnh táo thì lại đang được thực hiện một cách ngông cuồng!

Ngông cuồng. Đó là những điều gì vậy?

Loạn trường đại học, loạn giáo sư, loạn tiến sỹ… Cái cần “nổi loạn” nhất là sự nổi loạn của tư duy thì lại trì trệ, lại không dám, chỉ biết cam chịu.

Bằng đại học “cỏ đồng ta”

Cái mà ông nói là “nổi loạn tư duy” cụ thể ở đây là cái gì vậy?

Là thay đổi cách học và nội dung cần học, đặc biệt là ở tiểu học và đại học.

Tại sao lại đặc biệt ở tiểu học và ở đại học?

Đó là hai bậc học hoàn toàn khác nhau về mục đích. Nếu bậc học tiểu học là cơ hội cuối cùng để duy trì, gìn giữ bản sắc dân tộc thì ở bậc đại học lại là cơ hội đầu tiên để hòa nhập, hội nhập quốc tế. Một chương trình tiểu học không cần phải giống nước nào và cũng không cần nơi nào công nhận thì ngược lại, chương trình đại học phải là chương trình quốc tế và bằng cấp phải được thế giới thừa nhận. Một bằng tốt nghiệp đại học chỉ dùng ở “tiêu thụ nội địa” là một bằng đại học “trâu ta ăn cỏ đồng ta”, chỉ có sức để kéo cày chìa vôi thôi.

Vô trách nhiệm là tội ác

Ông là người cả đời đi dạy tiểu học nên ông đặt vấn đề quá lớn về cấp tiểu học này chăng?

Tôi xin nói lại, không phải cả đời mà tính đến nay, tôi mới có 54 năm làm nghề sư phạm thì 40 năm gắn bó với tiểu học và tôi rất hiểu bậc học này. Đây mới là bậc học liên quan đến từng gia đình, toàn xã hội nên đòi hỏi phải có nghiệp vụ sư phạm tinh tế nhất, hiệu quả nhất, chặt chẽ nhất. Ở đây, đúng là đúng mãi mãi mà sai là sai mãi mãi, không thể sửa chữa sai lầm. Thiếu trách nhiệm, “bôi bẩn” những trang đầu đời của trẻ em là tội ác.

Theo ông, cần phải “bôi” cái gì lên trang giấy ấy? Hay nói cách khác, yêu cầu cụ thể ở từng lớp bậc tiểu học là gì?

Ví dụ lớp một là đọc thông, viết thạo, nắm vững luật chính tả, không thể tái mù. Đối với lớp hai viết thành câu, lớp ba không bao giờ viết sai câu. Thật vô lý khi 5 – 6 tuổi đã nói rất sõi, rất tinh tế, nhưng đến hết đại học vẫn viết sai chính tả. Viết sai tiếng mẹ đẻ là một điều sỉ nhục.

Sẽ sớm có sự thay đổi

Vừa qua trên Diễn đàn Dân trí, rất nhiều giảng viên trẻ rời bỏ giảng đường để đi tìm một môi trường khác mà theo họ, không chỉ là đồng lương. Ông giải thích gì về hiện tượng này?

Tôi có theo dõi diễn đàn này và thấy những người ra đi đều có lý của họ. Tôi trân trọng họ vì họ dám thể hiện quan điểm của mình. Một nền đại học là rao giảng, là bằng cấp, là đối phó… là vì những mục đích cá nhân đương nhiên là một môi trường bê trễ.

Quả là từ nhiều năm nay, nền giáo dục chưa bao giờ làm yên lòng dư luận xã hội, thậm chí chưa bao giờ không được coi là vấn đề bức bách. Theo ông, tình trạng này liệu còn kéo dài?

Không, không thể chịu được nữa rồi. Cuộc sống đã quá bí bách, không thể chịu được với thực trạng giáo dục, nên dứt khoát chỉ vài ba năm tới, sẽ có sự thay đổi lớn. Khi đó, những đòi hỏi chính đáng từ cuộc sống sẽ đủ sức mạnh vượt qua những lợi ích cục bộ, những lợi ích tạm thời của một nhóm người để giáo dục phát triển.

Nếu vài ba năm tới, giáo dục có một cuộc cách mạng thực sự và đem lại thành công sẽ là điều rất vui nhưng giả sử không có điều đó?

Thì sẽ là bi kịch lớn và giả sử có được thành công thì cũng vẫn là bi kịch, bởi đáng lẽ giáo dục, đào tạo phải lĩnh ấn tiên phong, đi trước, dự đoán trước những đòi hỏi của xã hội mà bây giờ mới làm chạy theo, đuổi theo, lẽo đẽo theo. Nói vậy thôi, muộn còn hơn không.

Tôi chỉ là người cảm nhận được hơi thở thời đại

Thưa giáo sư Hồ Ngọc Đại, cách đây tròn 30 năm (1978), khi đó Nghị quyết 14 của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục vừa ra đời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng có hỏi ông và khi đó, ông đã nói là sẽ thất bại. Giờ đây, ông lại nói về những bi kịch của giáo dục Việt Nam. Ông là người bi quan hay bởi cái tính thích nói khác người?

Tôi luôn luôn dựa trên những luận cứ khoa học. Tôi không bi quan, không lạc quan mà cũng không bao giờ cho mình được phép nói khác những điều mình thu nhận được. Cũng xin nhắc lại rằng nhận định của tôi 30 năm trước đã hoàn toàn chính xác và trên thực tế, rất tiếc là công cuộc cải cách giáo dục đã thất bại. Còn những gì tôi nói hôm nay là thực tế đang diễn ra ở ngay ngày hôm nay ở mọi lớp học, cấp học, mọi trường, mọi lớp.

Ông là người hay nói những điều “nghịch nhĩ”, thậm chí có người còn cho là gàn. Phải chăng vì là con rể của cố Tổng bí thư Lê Duẩn nên ông tự cho mình cái quyền gàn đó?

Ông Lê Duẩn đã mất cách đây 22 năm và 22 năm qua đầy biến động. Tôi là con đẻ của thời đại, cảm nhận được hơi thở của thời đại và cũng dám bỏ qua những lợi ích tầm thường để đi theo tiếng gọi của thời đại. Tiếc nỗi tôi đã 72 tuổi, cái quỹ thời gian không còn nhiều…

Nếu như được yêu cầu góp ý cho giáo dục hiện nay, ông sẽ nói điều gì?

Như anh Chu Hảo nói, không thể cải cách giáo dục bằng phong trào và làm phong trào nhiều như thế là đủ rồi. Nói “không” với cái xấu, cái ác là cần thiết nhưng quan trọng không phải là những cái “không” mà làm ra một cái “có”; trên cơ sở cái “có”, hãy tập trung vào xây dựng một chiến lược phát triển giáo dục cho thế kỉ 21. Đừng chần chừ! Mất thời gian là mất tuyệt đối!

Xin cám ơn giáo sư!

Bùi Hoàng Tám
(Thực hiện)
Theo Dân Trí

Video yêu thích
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính 
hoangkim, hoangkimvietnam, Hoàng Kimfoodcrops.vnKim LinkedIn, KimFaceBook

 

 

CNM365 Chào ngày mới

Binh Minh Yen Tu

Binh Minh Yen Tu

CNM365. Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy, ta có thêm ngày mới để yêu thương. CNM365 là sự tiếp nối của trang chào ngày mới 365 ghi lại những sự kiện nổi bật, điểm nhấn 365 ngày trong năm, tình yêu cuộc sống. Bài mới nhất bấm vào đây

Vị trí của Campuchia

CNM365 Chào ngày mới 07 tháng 1
. Wikipedia Ngày này năm xưa. Sự kiện nổi bật: Ngày Chiến thắng diệt chủng ở Căm pu chia;  Năm 1979 – Quân đội Việt Nam đánh chiếm thủ đô Phnôm Pênh của Campuchia, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Campuchia Pol Pot và chính quyền Campuchia Dân chủ tẩu thoát.
Sự kiện khác: Ngày 7 tháng 1: Mùa Giáng sinh (lịch Julius) Nhiều giáo hội Chính thống giáo Đông phương như ở Nga, Gruzia vẫn sử dụng lịch Julius để định ngày này, cho nên lễ Giáng sinh của họ ứng với ngày 7 tháng 1 theo lịch Gregorius. Theo lịch phụng vụ Công giáo, trước lễ Giáng Sinh là 4 tuần Mùa Vọng, và sau lễ Giáng Sinh là Mùa Giáng sinh (“12 ngày mùa Giáng Sinh”); Năm 555 – Quân Tây Ngụy chiếm kinh đô Giang Lăng của Lương, bắt giữ Lương Nguyên Đế và giao ông cho Tiêu Sát. Năm 1610 –  Galileo Galilei lần đầu tiên quan sát thấy bốn vệ tinh: Ganymede, Callisto (hình), IoEuropa. Năm 2003 – Tại San Francisco, Steve Jobs công bố rằng Apple phát triển được trình duyệt web riêng của họ, mang tên Safari   (xem tiếp)


Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính 
hoangkim vietnam, hoangkim, hoangkimvietnam, Hoàng Kim, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, foodcrops.vnCassava in Vietnam, VietnamAfricaCassavaRice, Khát khao xanh, DayvahocHọc mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Câu chuyện ảnh, 5 phút thư giản, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con

Công việc này trao lại cho em !

Hoa Nông Học thơm hương hoa lộng lẫy Hoa Người

Hoa Nông Học thơm hương hoa lộng lẫy Hoa Người


NGỌC PHƯƠNG NAM
Nhìn đàn em ngời niềm vui rạng rỡ. Chơt thấy lòng rưng rưng. Công viêc  nghề nông cực mà hạnh phúc. Cố lên em nổ  lực không ngừng . Hột mồ hôi lắng vào hạt gạo. Câu ca ông bà theo suốt tháng năm. Thêm bữa cơm ngon cho người lao động.  Nâng chén cơm thơm, qúy trọng người trồng. Em ơi hãy học làm ruộng giỏi. Nghề nông thời nào cũng quý kỹ năng. Người dân khá hơn là niềm ao ước Công việc này trao lại cho em. Chùm ảnh sinh viên Nông học ngày ra Trường và hai bài thơ Ơn Thầy, Lớp học trên đồng.



ƠN THẦY

Hoàng Kim

Cha ngày xưa nuôi con đi học
Một nắng hai sương trên những luống cày
Trán tư lự, cha thường suy nghĩ
Phải dạy con mình như thế nào đây?

Cha mất sớm, bom thù rung mặt đất
Cái chết giằng cha ra khỏi tay con
Mắt cha lắng bao niềm ao ước
Vẫn lo cho con đến phút cuối cùng

Giặc giết cha, cha chưa kịp thấy
Tương lai con đi, sự nghiệp con làm
Cha có biết, luống cày cha bỏ dỡ
Cha ngã xuống rồi trao lại tay con

Trên luống cày này, đường cày con vững
Bởi có dáng thầy thay bóng cha xưa
Hiểu mảnh đất máu đào cha nhuộm đỏ
Thôi thúc tim con học tập phút giờ …

LỚP HỌC TRÊN ĐỒNG

Trò đứng trên bờ
Thầy cày dưới ruộng
Roi rói đất lật lên
Thẳng tắp từng hàng từng luống …

Buổi đầu chưa quen đường cày đâu vững
Thầy nắn tay cầm, thầy sửa dáng đi
Trán lấm tấm mồ hôi, trời thì lạnh giá
Nhưng mọi người đều học say mê

Thầy dạy con muốn đường cày đẹp
Phải vững tay cày và thẳng mắt trông
Bước đĩnh đạc, đường hoàng, ngay ngắn
Dóng trâu đi đúng lối, thẳng đường

Con hiểu thầy bày từng lời cặn kẽ
Đâu chỉ dạy cày, thầy dạy đức cho con
Nuôi mục đích trước sau như một
Việc tốt đưa ra, quyết vượt tới cùng …

NỐI NGHIỆP

– Các em học hiểu không?
– Hiểu lắm!
– Em nào ra cày?
Muôn cánh tay giơ lên …

Luống cày chạy băng băng
Đất lành sôi sự sống
Từng hàng, từng hàng lật lên
Áo mới thay dần mặt ruộng

Thầy trò say mê mãi
Dưới ruộng trò cày
Trên bờ thầy hớn hở
Đường cày càng vững vàng hơn…

* * *

Nhìn đàn em ngời niềm vui rạng rỡ.
Chơt thấy lòng rưng rưng.
Công viêc  nghề nông cực mà hạnh phúc.
Cố lên em nổ  lực không ngừng !

Hột mồ hôi lắng vào hạt gạo.
Câu ca ông bà theo suốt tháng năm.
Thêm bữa cơm ngon cho người lao động.
Nâng chén cơm thơm, qúy trọng người trồng.

Em ơi hãy học làm ruộng giỏi.
Nghề nông thời nào cũng quý kỹ năng.
Người dân khá hơn là niềm ao ước
Công việc này trao lại cho em.

Biển Đông và sông Mekong

VIỆT NAM TỔ QUỐC TÔI. Biển Đông Việt Nam và sông Mekong là những điểm chính trong quan hệ quốc tế của Việt Nam khi mở cửa nhìn ra thế giới. Tình hình biển Đông có gì mới Sông Mekong thông tin tổng hợp 2014b là góc tư liệu của bạn. Kỳ này chúng ta tiếp cận Tư liệu bản đồ chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa – Phần 1 (FB Trần Đức Anh Sơn); Tư liệu bản đồ chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa – Phần 2  (FB Trần Đức Anh Sơn). Các bản đồ cổ Việt Nam nhất quán khẳng định Hoàng Sa – Trường Sa thuộc về Việt Nam. Bản đồ cổ Trung Quốc cũng nhất quán ghi nhận hai quần đảo này không liên quan gì đến cương giới, lãnh thổ Trung Quốc. Điều này, một lần nữa được xác nhận bởi hàng trăm bản đồ Trung Quốc do các nước phương Tây xuất bản từ đầu thế kỷ XVI đến thập niên 80 của thế kỷ XX.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


TƯ LIỆU BẢN ĐỒ CHỨNG MINH CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM
ĐỐI VỚI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA


Trần Đức Anh Sơn

Bài viết sau đây của tôi là bài tổng hợp những bài viết trước đó về bản đồ cổ chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa trong những năm qua, có bổ sung thêm tư liệu mới. Bài này đã in 2 kỳ trên tạp chí PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI ĐÀ NẴNG (Số 57 và 58 – Tháng 9 và tháng 10/2014). Tạp chí in có hạn, nhưng có nhiều người gửi mail xin quá. Vậy nên tôi đề nghị ai cần thì vào địa chỉ: www.dised.danang.gov.vn để tải bản pdf về đọc nhé. Nếu ai làm biếng tải về từ địa chỉ trên thì có thể đọc ở đây.

(Kỳ 1)

Bản đồ cổ là một trong những nguồn tư liệu quan trọng chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa. Chúng tôi đã tiếp cận và thu thập hàng trăm bản đồ liên quan đến chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bao gồm: bản đồ do nhóm nghiên cứu đề tài Fond tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với huyện đảo Hoàng Sa – Thành phố Đà Nẵng sưu tầm; bản đồ do kỹ sư Trần Thắng (Việt kiều ở bang Connecticut, Hoa Kỳ) sưu tầm và hiến tặng; bản đồ do tôi sao chụp từ các văn khố, thư viện ở Hoa Kỳ, Nhật Bản và châu Âu trong thời gian tham gia đoàn làm phim Biển đảo Việt Nam – Nguồn cội tự bao đời trong năm 2013.

Ngoài ra, chúng tôi cũng tiếp nhận thông tin và hình ảnh các bản đồ được công bố trong các biên khảo, bài nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Từ đó chúng tôi đã tập hợp thành một fond tư liệu bản đồ nhằm chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa. Fond tư liệu bản đồ này gồm bốn thư mục:

– Các bản đồ biên soạn và xuất bản ở Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa;
– Các bản đồ biên soạn và xuất bản ở phương Tây từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa;
– Các bản đồ biên soạn và xuất bản ở Trung Quốc từ đầu Công nguyên đến đầu thế kỷ XX chứng minh quần đảo Hoàng Sa không thuộc về Trung Quốc;
– Các bản đồ biên soạn và xuất bản ở phương Tây từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XX chứng minh quần đảo Hoàng Sa không thuộc về Trung Quốc.

I. BẢN ĐỒ CỔ VIỆT NAM CHỨNG MINH CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA

Ngoài các thư tịch cổ do các nhà nước phong kiến Việt Nam và các bậc thức giả đương thời biên soạn, xác nhận quá trình xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa (và quần đảo Trường Sa), còn có nhiều bản đồ, địa đồ, dư đồ… được soạn vẽ trong các thế kỷ XVI – XIX xác nhận Hoàng Sa nằm trong cương vực nước ta. Đó là những bản đồ hành chính quốc gia, bản đồ các tỉnh thành do nhà nước tổ chức soạn vẽ, cùng những địa đồ, dư đồ… trong các tác phẩm sử học, địa dư, địa phương chí… do các học giả đương thời biên soạn.

Trên những bản đồ, địa đồ, dư đồ… này, quần đảo Hoàng Sa được vẽ hoặc ghi tên bằng chữ Nôm như: 罢葛鐄, 𡓁葛鐄, 罷葛鐄, 罷吉鐄, 罷吉黄, 罷割鐄 (đều đọc là Bãi Cát Vàng), 罢沙鐄 (Bãi Sa Vàng), 葛鐄處 (Cát Vàng xứ), 𡑱鐄 (Cồn Vàng)…; hoặc bằng chữ Hán như: 黃沙 (Hoàng Sa), 黃沙洲 (Hoàng Sa châu), 黃沙渚 (Hoàng Sa chử), 黃沙處 (Hoàng Sa xứ), 大長沙 (Đại Trường Sa), 萬里黃沙 (Vạn Lý Hoàng Sa), 萬里長沙 (Vạn Lý Trường Sa)…, nằm ở ngoài khơi vùng biển miền Trung Việt Nam ngày nay.

Những bản đồ cổ Việt Nam vẽ vào các thế kỷ XVII – XVIII chủ yếu là bản đồ khổ ngang theo lối vẽ bản đồ truyền thống của Trung Hoa, có cách thể hiện phương vị là: phương tây ở phía trên, phương đông ở phía dưới, phương bắc ở bên phải và phương nam ở bên trái. Trên những bản đồ khổ ngang này, hình vẽ hoặc địa danh Hoàng Sa thường được thể hiện ở phía dưới bản đồ. Phía trên bản đồ thường có phần chú dẫn bằng chữ Hán miêu tả hình thế núi sông, diễn giải vị thế, diên cách các địa phương và địa danh được đề cập trên bản đồ. Tiêu biểu cho những bản đồ khổ ngang này là tờ bản đồ vẽ xứ Quảng Nam trong Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư do Đỗ Bá (tự là Công Đạo) vẽ vào năm 1686.

Sang thế kỷ XIX, lối vẽ bản đồ khổ ngang truyền thống vẫn được tiếp tục. Tuy nhiên, từ cuối thế kỷ XVIII có nhiều kỹ sư, công binh, chuyên gia quân sự người Pháp tham gia vào lực lượng của Nguyễn Ánh trong cuộc chiến tranh Nguyễn – Tây Sơn. Có lẽ họ là những người đã du nhập kỹ thuật vẽ bản đồ khổ dọc với các phương pháp đo đạc và định vị hiện đại hơn của phương Tây vào Việt Nam. Sau khi triều Nguyễn thành lập (1802), những chuyên gia người Pháp này vẫn còn phục vụ cho các vua Gia Long (1802 – 1820), Minh Mạng (1820 – 1841)… Vì thế, kỹ thuật vẽ bản đồ đã có những thay đổi căn bản vào thời Nguyễn, mà kết quả là sự ra đời của tấm bản đồ Đại Nam nhất thống toàn đồ vào năm 1838 đời Minh Mạng. Đây là bản đồ hành chính đầu tiên của nước ta được vẽ theo khổ dọc, với phương bắc ở trên, phương nam ở dưới, phương đông ở bên phải và phương tây ở bên trái. Trên bản đồ này, hình vẽ Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa xuất hiện ở bên phải bản đồ, tương tự như trên các bản đồ Việt Nam sau này.

Bản đồ đầu tiên của Việt Nam có đề cập Hoàng Sa được ghi nhận cho đến thời điểm này, là tờ bản đồ xứ Quảng Nam trong Toản tập An Nam lộ do Đỗ Bá biên soạn vào đời Chính Hòa (1680 – 1705). Đây là bản đồ khổ ngang truyền thống. Bản đồ có ghi ba chữ Nôm Bãi Cát Cá Vàng ở phía dưới, nằm trong vùng biển ngoài khơi phủ Quảng Ngãi thuộc xứ Quảng Nam lúc bấy giờ.

Năm 1686, Đỗ Bá biên soạn Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư [1] theo lệnh của chúa Trịnh, trên cơ sở hiệu chỉnh và chú dẫn những địa đồ, bản đồ nước ta được soạn vẽ từ thế kỷ XV và những bản đồ trong Toản tập An Nam lộ của ông. Trong toản tập này có tờ bản đồ vẽ hình thế huyện Bình Sơn (phủ Quảng Ngãi, xứ Quảng Nam) và vùng biển phía đông huyện này. Đây cũng là tờ bản đồ khổ ngang, phía trên có phần chú dẫn bằng chữ Hán viết về Bãi Cát Vàng, là hòn đảo nằm ở phía đông huyện này. Chú dẫn miêu tả khoảng cách từ đất liền đi đến Bãi Cát Vàng và hoạt động của đội Hoàng Sa thời chúa Nguyễn trị vì Đàng Trong:

“…Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển, từ cửa biển Đại Chiêm đến cửa Sa Vinh. Mỗi lần có gió tây nam thì thuyền buôn các nước đi ở phía trong trôi giạt ra đây; gió đông bắc thì thuyền buôn chạy phía ngoài cũng trôi giạt vào đây, đều bị chết đói hết cả. Hàng hóa đều vứt bỏ nơi đây. Họ Nguyễn [2] mỗi năm vào tháng cuối đông, họ Nguyễn đưa 18 chiếc thuyền đến đây thu nhặt hàng hóa, của cải, phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn. Từ cửa Đại Chiêm vượt biển đến đây [mất] một ngày rưỡi, từ cửa Sa Kỳ đến đây [mất] nửa ngày…” (Bản đồ 1). Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư của Đỗ Bá đã được sao chép lại vào thế kỷ XIX, riêng các bản đồ thì được tô thêm màu sắc. Tờ bản đồ có miêu tả về Bãi Cát Vàng cũng được tô màu, nhưng hình vẽ và chú dẫn về Bãi Cát Vàng vẫn không thay đổi (Bản đồ 2).

Ngoài Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, còn có một số tập bản đồ được soạn vẽ trong thế kỷ XVIII, trong đó có các tờ bản đồ vẽ xứ Quảng Nam hoặc phủ Quảng Ngãi, có miêu tả, ghi danh hoặc chú dẫn về Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa) là đảo thuộc về nước ta thuở ấy. Đó là các bản đồ trong: Thiên Nam lộ đồ do Nhữ Ngọc Hoàn biên soạn vào năm 1771; Giáp Ngọ niên bình Nam đồ do Đoan Quận công Bùi Thế Ðạt biên soạn trong các năm 1774 – 1775; Thiên hạ bản đồ (khuyết danh) biên soạn vào thời Lê, sao lục vào thời Nguyễn (Bản đồ 3); An Nam hình thắng đồ phụ Nam Bắc xứ đồ (khuyết danh) biên soạn vào cuối thế kỷ XVIII… Các bản đồ này đều là bản đồ khổ ngang, phần dưới vẽ bản đồ, phần trên ghi chú dẫn, miêu tả về Bãi Cát Vàng, nội dung tương tự như chú dẫn trên tờ bản đồ vẽ huyện Bình Sơn trong Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư của Đỗ Bá.

Sang thế kỷ XIX, các tờ bản đồ khổ ngang có miêu tả hoặc ghi các địa danh: Bãi Cát Vàng, Cát Vàng xứ, Hoàng Sa… tiếp tục được soạn vẽ hoặc sao chép từ thư tịch cổ thời Lê. Đáng chú ý là những bản đồ trong các tác phẩm sau:

– Thiên tải nhàn đàm do Đàm Thận Hữu biên soạn vào năm Gia Long thứ 9 (1810) có ba tờ bản đồ đều có tên là Quảng Nam tam phủ cửu huyện: bản đồ thứ nhất có vẽ hòn đảo ở ngoài khơi phủ Quảng Ngãi và chú thích 沙金堆俗号罢吉鐄 (Sa Kim đồi tục hiệu Bãi Cát Vàng: Cồn cát vàng, tục gọi là Bãi Cát Vàng) (Bản đồ 4 – Bản đồ này không load được ở đây); bản đồ thứ hai cũng vẽ hòn đảo ở ngoài khơi phủ Quảng Ngãi, ghi tên Nôm là 葛鐄處 (Cát Vàng xứ) (Bản đồ 5); bản đồ thứ ba cũng vẽ hòn đảo ở ngoài khơi phủ Quảng Ngãi, ghi tên Nôm là 罢葛鐄 (Bãi Cát Vàng) (Bản đồ 6).

– Nam Việt bản đồ (khuyết danh) biên soạn vào thế kỷ XIX, có tờ bản đồ vẽ hình thế hai phủ Thăng Hoa và Quảng Ngãi và vùng biển ngoài khơi hai phủ này. Phía trên tờ bản đồ này có chú dẫn bằng chữ Hán miêu tả khoảng cách từ đất liền đến hòn đảo nằm ở ngoài khơi phủ Quảng Ngãi, tên Nôm là 罢葛鐄 (Bãi Cát Vàng) và các đặc điểm địa lý, sản vật của đảo này (Bản đồ 7).

– An Nam dư địa chí biên soạn vào thế kỷ XIX, có tờ bản đồ vẽ hình thế nước ta từ Bắc vào Nam. Trên bản đồ này có vẽ hòn đảo tên là 黃沙渚 (Hoàng Sa chử: bãi Hoàng Sa) ở ngoài khơi phủ Thừa Thiên (Bản đồ 8).

Ngoài ra còn có một số bản đồ khổ ngang khác, đều có tên là Bản quốc địa đồ vẽ hình thế nước ta từ Bắc chí Nam, xuất hiện trong nhiều tác phẩm biên soạn vào thế kỷ XIX như:
– Khải đồng thuyết ước do Phạm Vọng biên soạn vào năm 1853, tiến sĩ Ngô Thế Vinh nhuận sắc, khắc in vào năm 1881 dưới triều Tự Đức (1848 – 1883) dùng làm sách giáo khoa bậc tiểu học. Trong sách này có in hình Bản quốc địa đồ, trên đó có vẽ hòn đảo tên là 黃沙渚 (Hoàng Sa chử: bãi Hoàng Sa) nằm ở ngoài khơi vùng biển miền Trung (Bản đồ 9). 

Việc đưa bản đồ có ghi địa danh Hoàng Sa vào sách giáo khoa tiểu học cho thấy triều Nguyễn rất coi trọng chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và giáo dục ý thức chủ quyền đó đối với thế hệ trẻ đương thời.

– Nam Việt địa dư trích lục là tập biên khảo về địa lý các tỉnh nước ta thời Nguyễn. Trong biên khảo này cũng có tờ bản đồ tên là Bản quốc địa đồ, trên đó có vẽ hòn đảo tên là 黃沙渚 (Hoàng Sa chử: bãi Hoàng Sa) nằm ở ngoài khơi vùng biển miền Trung (Bản đồ 10).

– Nam Việt địa đồ quốc hiệu sơn thủy bảo hóa cựu lục là tập biên khảo và địa đồ, khảo quốc hiệu nước ta qua các đời, niên hiệu của triều vua và núi sông tiêu biểu của cả nước. Tập biên khảo này cũng có tờ bản đồ tên là Bản quốc địa đồ, trên đó có vẽ hòn đảo tên là 黃沙渚 (Hoàng Sa chử: bãi Hoàng Sa) nằm ở ngoài khơi vùng biển miền Trung (Bản đồ 11).

Thành tựu lớn nhất trong việc soạn vẽ bản đồ thời Nguyễn là sự ra đời tấm bản đồ Đại Nam nhất thống toàn đồ vào năm 1838 (Bản đồ 12 và Bản đồ 13). Những ghi chép trong các bộ chính sử thời Nguyễn như: Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Minh Mạng chính yếu… đều cho biết các vua Gia Long và Minh Mạng đã ra lệnh cho bộ Công hàng năm phái người ra khảo sát các đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa ở ngoài Biển Đông, xác định vị trí các đảo, ghi lên bản đồ đem về dâng trình cho nhà vua. Những chuyến đi này đã cung cấp các dữ liệu quan trọng về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để Vệ Giám thành tập hợp đưa vào bản đồ hành chính chính thức, ghi nhận hai quần đảo này là những thực thể địa lý thuộc chủ quyền của nước ta đương thời.

Ngoài ra, trong phần dẫn của bài thơ Vọng kiến Vạn Lý Trường Sa [3] do tiến sĩ Lý Văn Phức (1785 – 1849), Hữu tham tri bộ Lễ và Quyền Thủy sư kinh kỳ thời Nguyễn cảm tác, có chép việc các vua đầu triều Nguyễn đã thuê những thủy thủ dày dạn kinh nghiệm và các phương tiện kỹ thuật hiện đại của phương Tây, trực tiếp dẫn dắt binh thuyền của triều đình đi ra Biển Đông khảo sát, đo đạc, vẽ bản đồ. Kết quả của những chuyến khảo sát biển đảo thường xuyên và liên tục này là sự ra đời của Đại Nam nhất thống toàn đồ. Đây là tấm bản đồ khổ dọc đầu tiên của nước ta, và là bản đồ cập nhật nhiều thông tin mới có độ chính xác khá cao về biển đảo Việt Nam đương thời. Trên bản đồ này hình thế nước ta được thể hiện gần giống với hình thế Việt Nam trên các bản đồ do các nước phương Tây xuất bản trong các thế kỷ XVII – XIX, với đường bờ biển phía đông cong hình chữ S và hình vẽ hai quần đảo 黃沙 (Hoàng Sa) và 萬里長沙 (Vạn Lý Trường Sa) trong vùng biển nước ta. Đây là bản đồ hành chính đầu tiên của triều Nguyễn có sự phân biệt giữa quần đảo Hoàng Sa với quần đảo Trường Sa, dù bên ngoài hai quần đảo này vẫn còn một đường vẽ đứt đoạn bao quanh cả hai quần đảo trong một thực thể chưa được tách biệt rõ ràng. Ngoài ra, vua Minh Mạng còn cho biên soạn và ấn hành tập Địa đồ vẽ bản đồ các tỉnh của nước Đại Nam dưới triều Minh Mạng, trong đó, có tờ bản đồ vẽ hai dải đảo được định danh là Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa.

Vua Thiệu Trị (1841 – 1847) tiếp tục sự nghiệp soạn vẽ bản đồ của tiền triều bằng việc hoàn thiện và xuất bản bộ Đại Nam toàn đồ. Đây là tập bản đồ nước ta vẽ bằng nhiều màu, gồm một bản đồ toàn quốc và bản đồ các tỉnh trong nước. Đại Nam toàn đồ cũng là bản đồ khổ dọc, kế tục thành tựu vẽ bản đồ theo kỹ thuật phương Tây, trên đó có ghi tên 72 cửa biển từ Bắc vào Nam và các đảo ngoài khơi của Việt Nam, bao gồm cả 黃沙 (Hoàng Sa) ở ngoài khơi vùng biển miền Trung (Bản đồ 14).

Dưới triều Tự Đức (1848 – 1883), triều đình ấn hành tập bản đồ Nam Bắc kỳ hội đồ trên cơ sở chỉnh lý Đại Nam nhất thống toàn đồ đời Minh Mạng và cập nhật, bổ sung nhiều địa danh của nước ta, cả trong đất liền lẫn ngoài hải đảo, trong đó có Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa.
Nhìn chung, các bản đồ thời Nguyễn đã đánh dấu một bước tiến mới trong kỹ thuật vẽ bản đồ, chuyển từ kiểu vẽ bản đồ khổ ngang truyền thống sang kiểu vẽ bản đồ khổ dọc với kỹ thuật đo vẽ hiện đại hơn, hình thế quốc gia trên các bản đồ này cũng gần sát với thực tế hơn.

Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là dù được vẽ theo cách truyền thống hay hiện đại, thì các bản đồ Việt Nam có niên đại vào các thế kỷ XVII – XIX luôn có hình vẽ hoặc có tên quần đảo Hoàng Sa bằng chữ Nôm hoặc chữ Hán, cho dù đó là những bản đồ do nhà nước ấn hành, hay là những địa đồ, dư đồ… đính kèm trong các biên khảo của các học giả. Điều này chứng tỏ quần đảo Hoàng Sa (và quần đảo Trường Sa) là phần lãnh thổ không thể tách rời của Việt Nam trong hàng trăm năm qua và các nhà nước phong kiến cũng như các học giả, trí thức Việt Nam trong các thế kỷ XVII – XIX chưa bao giờ sao nhãng ý thức chủ quyền quốc gia đối với hai quần đảo này.

II. BẢN ĐỒ CỔ PHƯƠNG TÂY CHỨNG MINH CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA

Trong các thế kỷ XVI – XX, các nhà hàng hải, nhà phát kiến địa lý, nhà bản đồ học… ở phương Tây đã biên soạn và xuất bản nhiều bản đồ về châu Á và khu vực Đông Nam Á, trong đó có nhiều bản đồ ghi nhận chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa (và quần đảo Trường Sa).

Từ thế kỷ XVI, các nhà hàng hàng hải Bồ Đào Nha trong hành trình khám phá thế giới và tìm kiếm thị trường từ đã đi qua Biển Đông để đi tới các nước Đông Bắc Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Cao Ly…. Họ đã ghi chép và vẽ bản đồ các đảo và quần đảo trong vùng biển này và đặt tên cho chuỗi đảo nằm ở ngoài khơi vương quốc Đàng Trong là Pracel (hay Parcel) và gọi nhóm đảo lớn nhất nằm ở cực bắc Pracel là I. des baixos Cachina [4] hay I. da Pracell.[5] Họ cũng gọi vùng bờ biển ở phía tây, đối diện với Pracel là Costa da Pracel (Bờ biển Hoàng Sa). Quần đảo mà người Bồ Đào Nha gọi là Pracel chính là nhóm đảo mà người Việt đương thời gọi là Bãi Cát Vàng hay Hoàng Sa, còn Costa da Pracel là vùng duyên hải miền Trung Việt Nam, trải dài từ cửa biển Đại Chiêm ở Hội An (Quảng Nam) đến cửa biển Sa Kỳ (Quảng Ngãi).

Như vậy là từ thế kỷ XVI, các nhà hàng hải người Bồ Đào Nha đã ghi nhận mối quan hệ mật thiết giữa quần đảo Pracel (hay Parcel) với vương quốc Đàng Trong nằm ở bờ biển phía tây quần đảo này. Nói cách khác là họ thừa nhận các quần đảo ấy thuộc về vương quốc Đàng Trong. Sự thừa nhận ấy càng rõ ràng hơn trên hàng loạt bản đồ được công bố ở châu Âu và Bắc Mỹ trong các thế kỷ XVII – XX, khi nhận thức về Biển Đông và các đảo trong vùng biển này của người phương Tây ngày càng phong phú và sát thực. Rất nhiều bản đồ do các nước phương Tây xuất bản trong các thế kỷ này đều gọi chuỗi đảo nằm giữa Biển Đông, tương ứng với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam ngày nay, là Parcels / Paracels / Paracel Islands và vùng bờ biển Trung Trung Bộ của Việt Nam là Costa da Pracel / Coste de Parcels. “Đó là cách mặc nhiên thế giới công nhận Hoàng Sa và Trường Sa đích thực thuộc chủ quyền của Việt Nam ít nhất từ 5 thế kỷ nay”.[6]

Những bản đồ sớm nhất xuất bản ở phương Tây có miêu tả Hoàng Sa có lẽ là hai bản đồ do người Bồ Đào Nha vẽ vào năm 1560: một bản đồ do Bartholomen Velho vẽ và bản đồ còn lại do João de Lisboa vẽ.[7] Trên hai bản đồ này đều có hình vẽ một chuỗi đảo dài và cong như một lưỡi dao đối diện với bờ biển miền Trung Việt Nam ngày nay. Cực bắc chuỗi đảo này vẽ một nhóm đảo tương ứng với vị trí của quần đảo Hoàng Sa và ghi tên là I. bas do Pracell (Bãi ngầm Hoàng Sa). Cực nam là hòn đảo có tên là Pulo Ceciss, chính là Cù Lao Thu (đảo Phú Quý).

Tiếp đến là tờ bản đồ Cabo Comorim, Japao, Moluco e Note in Atlas [8] (Bản đồ 15) nằm trong bộ bản đồ thế giới gồm 8 bức do Fernão Vaz Dourado, người Bồ Đào Nha, vẽ năm 1571. Trên bản đồ này cũng vẽ một chuỗi đảo nằm ở ngoài khơi vùng biển Đàng Trong, hình tựa lưỡi dao thẳng cạnh, không cong như hình vẽ chuỗi đảo trên hai bản đồ của Bartholomen Velho và João de Lisboa. Phía bắc chuỗi đảo này là cụm đảo có tên là I. des baixos Cachina (Bãi ngầm Giao Chỉ). Điểm cuối ở phía nam là đảo Pulo Sissi (Cù Lao Thu).[9] Phía tây chuỗi đảo này các hòn đảo ven bờ biển Đàng Trong, được định danh là P. Champello (Cù Lao Chàm), P. Cotao (Cù Lao Ré), P. Cambiz (Cù Lao Xanh). Như vậy là từ năm 1571, Fernão Vaz Dourado đã phân biệt I. des baixos Cachina (Bãi ngầm Giao Chỉ, tức là quần đảo Hoàng Sa) với các đảo ven bờ như Cù Lao Chàm, Cù Lao Ré, Cù Lao Xanh…

Năm 1576, Fernão Vaz Dourado công bố thêm một bản đồ vẽ khu vực Đông Nam Á [10] (Bản đồ 16), trên đó cũng có hình vẽ chuỗi đảo ở ngoài khơi vùng biển Đàng Trong tương tự như hình vẽ trên bản đồ Cabo Comorim, Japao, Moluco e Note in Atlas 1571. Tuy nhiên tên của quần đảo Hoàng Sa trên bản đồ này ghi là I. da Pracell, không phải là I. des baixos Cachina như trên bản đồ do ông công bố năm 1571.

Trong thập niên 90 của thế kỷ XVI có thêm nhiều bản đồ công bố ở phương Tây có liên quan đến quần đảo Hoàng Sa như các bản đồ của: Barthlomen Lasso, Van Langren, Linschoten, Petrus Plancius…

Barthlomen Lasso có hai bản đồ vẽ vào các năm 1590 và 1592 – 1594. Trên hai bản đồ này quần đảo Pracel được vẽ như hình lưỡi dao dài ở Biển Đông, bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và những đảo nhỏ khác ở phía nam. Vùng bờ biển phía tây ghi nhiều địa danh như: Varella (Mũi Nạy, tức mũi Đại Lãnh), Pulo Cambi (Cù Lao Xanh), Pulo Cantão (Cù Lao Ré, tức đảo Lý Sơn) Sinoa (Thuận Hóa)… Đặc biệt, vùng bờ biển giáp với Pulo Cantão được ghi trên bản đồ là Costa de Pracel (Bờ biển Hoàng Sa). Điều này chứng tỏ vào cuối thế kỷ XVI, các nhà vẽ bản đồ phương Tây đã ghi nhận “một sự liên hệ nào đó về mặt địa lý giữa vùng biển tỉnh Quảng Ngãi, Cù Lao Ré và quần đảo Paracels”.[11]

Bản đồ Insullae Moluccae do Petrus Plancius (1552 – 1622)[12] vẽ năm 1592 (Bản đồ 17). Quần đảo Hoàng Sa trên bản đồ này cũng được gọi là Pracel, bao gồm cả Hoàng Sa, Trường Sa và một số đảo ở phía nam Biển Đông. Bờ biển đối diện với Pracel ở phía tây cũng được gọi là Costa da Pracel. Riêng cụm đảo ở phía bắc chuỗi đảo này thì được ghi danh là Doa Tavaquero thay cho các tên gọi I. des baixos Cachina hay I. da Pracell như trên các bản đồ của người Bồ Đào Nha

Năm 1595, hai anh em người Hà Lan là Van Langren đã công bố tấm bản đồ vẽ rất toàn diện và chi tiết về khu vực Đông Á (Bản đồ 18). Trên bản đồ này cũng có vẽ chuỗi đảo hình lưỡi dao ở ngoài khơi vùng biển Đàng Trong, với cụm đảo ở cực bắc tên là I. de Pracel, còn vùng bờ biển đối diện ở phía tây có tên là Costa de Pracel. Hình vẽ chuỗi đảo này không dài và cong như trên các bản đồ trước đó, mà chỉ giới hạn trong phạm vi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời có sự phân biệt rõ ràng với các đảo ven bờ và các đảo ở phía nam. Điều này cho thấy đến thời điểm này thì nhận thức về Hoàng Sa và Trường Sa của người phương Tây đã sát với thực tế hơn so với trước đó. “Có thể nói rằng, bản đồ Van Langren đã đánh dấu sự chuyển giao thế thượng phong ở Biển Đông từ các nhà hàng hải Bồ Đào Nha sang các nhà hàng hải Hà Lan”.[13]

Bản đồ do Linschoten công bố năm 1599 có lẽ là bản đồ cuối cùng của các nhà hàng hải phương Tây trong thế kỷ XVI có vẽ quần đảo Hoàng Sa.[14] Bản đồ này xác nhận những điều đã được thể hiện trên bản đồ của anh em Van Langren nhưng chi tiết hơn. Ba đảo ven bờ được ghi tên lên bản đồ này là Polo Cecir (Cù Lao Thu) ở cực nam, bãi đá Pracel đi qua phía đông Polo Cambir (Cù Lao Xanh) và Pulo Ampelo (Cù Lao Chàm). Tận cùng ở phía bắc là các đảo ngoài khơi nằm ngang hàng với Pulo Ampelo ở gần bờ.[15]

Thế kỷ XVII ở phương Tây xuất hiện thêm nhiều bản đồ có hình vẽ quần đảo quần đảo Hoàng Sa với các tên gọi: Parcels, Paracels, Paracel Islands… và ghi nhận mối liên hệ giữa quần đảo này với lãnh thổ Việt Nam lúc đó. Đó là các bản đồ: Insulæ Indiæ Orientalis Praæcipuæ (do Jodocus Hondius thực hiện năm 1606), India Orientalis (do Jodocus Hondius thực hiện năm 1613) (Bản đồ 19), Asia noviter delineata (do Willem Janszoon Blaeu thực hiện năm 1617), Asia (do John Speed thực hiện năm 1626), Asia (do John Speed thực hiện năm 1626), India Orientalis (do Gerard Mercator thực hiện năm 1630), Insulæ Indiæ Orientalis (do Jodocus Hondius thực hiện năm 1632), bản đồ khuyết danh (do Pedro Berthelot vẽ năm 1635), Asia (do Herman Moll thực hiện năm 1636), Carte de l’Asie (do Van Lochem thực hiện năm 1640), India quæ Orientalis dicitur, et Insvlæ Adiacentes (do Willem Janszoon Blaeu thực hiện năm 1645), Indiæ Orientalis Nova Desriptio (do Janssouius thực hiện năm 1645), Tabula Indiæ Orientalis (do F. De Wit thực hiện năm 1662), Indiæ Orientalis (do Visscher thực hiện năm 1680), Carte du Royaume de Siam et des pays circonvoisins (do P. du Val thực hiện năm 1686), The East Indies in trong tập du ký của W. Dampier xuất bản năm 1688…[16] Quần đảo Pracel / Parcel / Paracels trên những bản đồ này thường được vẽ gộp cả Hoàng Sa và Trường Sa, và bắt đầu vẽ dịch lên phía bắc, gần đúng với vị trí thực tế của hai quần đảo này. Một số bản đồ ghi tên quần đảo Hoàng Sa là I. de Pracel như các bản đồ của Janssouius (1645), của F. De Wit (1662) của Visscher (1680); là Island Pracell như bản đồ của Thornton (1669); là Shoales of Pracel như bản đồ của W. Dampier (1688).

Thế kỷ XVIII có thêm nhiều bản đồ vẽ khu vực Biển Đông và quần đảo Hoàng Sa được công bố ở phương Tây. Đó là các bản đồ: L’ Asia (do Dressée thực hiện năm 1700), Carte des Costes de l’Asie sur l’ocean contenant les bancs isles et costes & c. (do Alexis Hubert Jaillot thực hiện năm 1720), India Orientalis (do Seutter thực hiện năm 1720), A Map of the Continental of the East-Indie (do Herman Moll thực hiện năm 1736), Carte de l’Asia (do Homann Heirs thực hiện năm 1744), Carte de Costes de Cochinchine, Tunquin et partie de celles de la Chine (do Kaart van de Kusten thực hiện năm 1754), Seconde partie de la carte d’Asie (do Jean Baptiste d’Anville thực hiện năm 1752), A New and Elegant Imperial Sheet Atlas (do Robert Laurie xuất bản năm 1794), East Indies (do Thomas Salmon thực hiện năm 1767), Karte von dem Morgenlændichen Ocean oder dem Indischen Meere (do Jacques Nicolas Bellin thực hiện khoảng năm 1770), Carte generale des Indes orientales et des Islles Adiacentes (do Mariette xuất bản năm 1790), Carte Hydro-Geographique des Indes Orientales (do M. Bonne xuất bản năm 1791)…

Đáng chú ý là bản đồ Carte de Costes de Cochinchine, Tunquin et partie de celles de la Chine do Kaart van de Kusten thực hiện năm 1754 (Bản đồ 20). Trên bản đồ này, mặc dù bao quanh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vẫn còn đường viền hình lưỡi dao, và tên chung của hai quần đảo này là Le Paracel, nhưng các đảo thuộc hai quần đảo này đã được vẽ tách rời và đã phân biệt Les Lunettes (nhóm Nguyệt Thiềm) ở phía đông với các đảo còn lại ở phía tây của quần đảo Hoàng Sa.

Tấm bản đồ in trong cuốn Neptune Oriental của A. de Manneviletle xuất bản năm 1775, được đánh giá là “đã có nhiều tiến bộ so với các bản đồ của các nhà hàng hải Bồ Đào Nha, tuy nhận thức vẫn chưa có những thay đổi cơ bản” [17], do lẽ trên bản đồ này có đoạn ghi chú mô tả khá rõ về quần đảo Hoàng Sa: “Paracels là một bãi đá lớn, trải rộng ra từ bắc xuống nam ở ngoài khơi bờ biển xứ Đàng Trong. Phần lớn các bản đồ đều ghi là chiều dài của nó khoảng chừng 92 dặm, từ 12010’ đến 16045’ vĩ độ Bắc, còn chiều rộng của nó khoảng chừng 20 dặm. Trong vài năm gần đây, người ta đã nhận biết rằng không gian này đã chứa chất đầy nhiều hòn đảo to nhỏ khác nhau, với những bãi cát và bãi đá ở rất nhiều nơi”.[18]


Thế kỷ XIX ghi nhận sự xuất hiện ngày càng nhiều bản đồ liên quan đến chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngoài những bản đồ của Pháp, Đức, Bỉ… thời kỳ này xuất hiện nhiều bản đồ của Anh và Hoa Kỳ, đánh dấu sự trỗi dậy của hai cường quốc này trong việc chinh phục các đại dương trên thế giới. Tiêu biểu là các bản đồ: An Accurate map of the East Indies (do Thomas Banke xuất bản tại London năm 1805), Chart of the East India Islands (do Longman Hurst Rees & Orme Paternoster Row xuất bản tại Anh năm 1808), A New Map of the East India Isles (do J. Carry thực hiện năm 1811), East India Isles (do John Thomson thực hiện năm 1817), East India Islands (do Samuel Walker xuất bản tại Hoa Kỳ năm 1834), An Nam đại quốc họa đồ (do Giám mục Jean Louis Taberd thực hiện năm 1838), Ost-Indien (do Stieler’s Hand-Atlas xuất bản tại Đức năm 1870), Map of Indo- China (do Scottish Geographica Magazine xuất bản tại Anh năm 1886), Asia (do McNally & Company’s xuất bản tại Hoa Kỳ năm 1887), Siam and the Malay Archipelago (do The Times Atlas, Printing House Square xuất bản tại Anh năm 1896). Trên các bản đồ này luôn có hình vẽ quần đảo Hoàng Sa với các tên gọi là I. de Paracel, Paracels, Paracel Islands, I. Ciampa (đảo Champa).[19]

Đặc biệt, có hai bản đồ khẳng định chắc chắn quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam được xuất bản trong nửa đầu thế kỷ XIX. Đó là bản đồ Partie de la Cochinchine (Bản đồ 21) trong bộ Atlas Universel (6 tập) do nhà địa lý học người Bỉ Philippe Vandermaelen biên soạn, xuất bản tại Bruxelles (Bỉ) vào năm 1827 và An Nam đại quốc họa đồ do Giám mục Jean Louis Taberd vẽ (Bản đồ 22), in trong từ điển Latin – Annam xuất bản năm 1838.

Bản đồ Partie de la Cochinchine là tờ bản đồ số 106 trong tập 2 (Asie)   của bộ Atlas Universel. Bản đồ này vẽ vùng bờ biển miền Trung Việt Nam kéo dài từ vĩ tuyến 12 đến vĩ tuyến 16, gồm các vùng: Bink-Kang (Bình Khang, tên cũ của tỉnh Khánh Hòa), có các địa danh: Carmraigne havre (cảng Cam Ranh), Nhiatrang (Nha Trang); Quin-Hone (Quy Nhơn), có các địa danh: Phuyen havre (cảng Phú Yên), Cambir B. (Cù Lao Xanh, nay là xã đảo Nhơn Châu ở thành phố Quy Nhơn), P. Quinhone (Quy Nhơn), Batangan (mũi Ba Làng An, Bình Sơn, Quảng Ngãi)… ở trên đất liền và ven bờ biển. Bản đồ còn thể hiện một chuỗi đảo ven biển, bắt đầu từ các đảo thuộc vịnh Cam Ranh ở phía nam, chạy lên phía bắc với hơn 20 hòn đảo lớn nhỏ và kết thúc bằng quần đảo Cham Collac ou Champella (Cù Lao Chàm) ở ven biển Quảng Nam.

Điểm quan trọng nhất là ở phần chính của bản đồ có hình vẽ quần đảo Paracels nằm trong vùng biển có vĩ độ từ 160 đến 170, kinh độ từ 1090 đến 1110, gồm các đảo: I. Pattles (đảo Hoàng Sa), I. Dccan (đảo Duncan, tức đảo Quang Hòa), Tree I. (đảo Cây), I. Lincoln (đảo Lincoln), Triton (nhóm đảo Tri Tôn), Rocher au dessus de l’eau (khu vực Đá Bông Bay). Vị trí các đảo, đá, nhóm đảo… thuộc quần đảo Paracels trên bản đồ này là tương đối chính xác so với tọa độ thực tế hiện nay.

Bên phải hình vẽ quần đảo Paracels là ô hình chữ nhật ghi dòng chữ Empire d’An-nam (Đế chế An Nam) giới thiệu tóm tắt về vương quốc An Nam bằng tiếng Pháp, theo từng tiểu mục: Phisique (Hình thế), Politique (Thể chế chính trị), Statistique (Thống kê) và Minéralogie (Khoáng vật).

Cách đặt tên bản đồ là Partie de la Cochinchine, việc thể hiện các địa danh trên đất liền, các đảo ven bờ biển và quần đảo Paracels ở ngoài khơi vùng biển Việt Nam cùng với việc giới thiệu vương quốc An Nam trên bản đồ, cũng như việc xếp tờ bản đồ này vào nhóm bản đồ miêu tả hình thế và vị trí địa lý của Việt Nam đương thời trong bộ Atlas Universel chứng tỏ tác giả bộ atlas này đã thừa nhận Paracels là một phần lãnh thổ của đế chế An Nam lúc đó. Tờ bản đồ này lại nằm trong bộ bản đồ thế giới do một nhà địa lý học của phương Tây biên soạn từ đầu thế kỷ XIX, được Viện Địa lý Hoàng gia Bỉ xuất bản chính thức nên có giá trị khoa học và giá trị pháp lý rất cao.

Cũng lưu ý thêm rằng, từ thế kỷ XVI các nhà địa lý và nhà hàng hải phương Tây, đầu tiên là những người Bồ Đào Nha, đã vẽ bản đồ vùng biển Hoàng Sa và đã định danh Pracel (hay Parcel, Paracels) trên bản đồ để chỉ cụm đảo mà người Việt gọi là Bãi Cát Vàng hay Hoàng Sa. Đồng thời, họ cũng định danh vùng bờ biển đối diện với quần đảo Pracel (Parcel, Paracels) ở phía tây là Costa de Pracel / Coste de Paracels (Bờ biển Hoàng Sa). Tuy nhiên vào thời điểm này, vị trí Paracels trên các bản đồ phương Tây cũng như vị trí quần đảo Hoàng Sa trên bản đồ cổ Việt Nam chưa được thể hiện chính xác về tọa độ. Paracels theo cách hiểu của người phương Tây cũng như quần đảo Hoàng Sa người Việt lúc đó bao gồm cả quần đảo Trường Sa ngày nay, thậm chí cả một số đảo gần bờ ở vùng biển Nam Trung Bộ. Song với tấm bản đồ Partie de la Cochinchine thì các đảo ven bờ như: Cham Collac ou Champella (Cù Lao Chàm), Cambir B. (Cù Lao Xanh), P. Canton ou Cacitam (Cù Lao Ré, đảo Lý Sơn)… đã có sự phân biệt rạch ròi với Paracels (quần đảo Hoàng Sa) ở giữa Biển Đông.
Sau Philippe Vandermaelen, trong cuốn từ điển Latinh – Annam xuất bản năm 1838, Giám mục Jean Louis Taberd công bố tờ bản đồ có tên ghi bằng ba ngôn ngữ: Hán – Quốc ngữ – Latin: 安南大國畫圖 / An Nam đại quốc họa đồ / Tabula Geografica Imperii Anamiciti. Trên bản đồ này có vẽ 9 dấu chấm nhỏ tượng trưng cho quần đảo Hoàng Sa, có tọa độ gần đúng với thực tế, kèm theo dòng chú thích “Paracel seu Cát Vàng” (Paracel tức là Cát Vàng). Trong bài viết Note on the Geography of Cochin China in trên tập san The Journal of the Asiatic Society of Bengal (Vol. 6, Part II) xuất bản năm 1837, Giám mục Taberd đã viết: “Paracel, hay Pracel, tức là Hoàng Sa – Cồn Vàng, thuộc về Cochin China (Việt Nam)”, đồng thời khẳng định vào năm 1816, vua Gia Long đã cho người đến cắm cờ và tuyên bố chủ quyền trên quần đảo này mà không gặp bất cứ ai tranh chấp với ông về việc này.

Cùng với bản đồ Partie de la Cochinchine của Philippe Vandermaelen, bản đồ An Nam đại quốc họa đồ của Jean Louis Taberd đã khẳng định Paracels chính là Cát Vàng hay quần đảo Hoàng Sa và thuộc về Việt Nam. Đây là bằng chứng để bác bỏ ý kiến của học giới Trung Quốc khi họ cho rằng Paracels chính là Xisha qundao (Tây Sa quần đảo) và thuộc về Trung Quốc. Còn quần đảo Hoàng Sa mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền chỉ những đảo nhỏ ven bờ như Cù Lao Chàm, Cù Lao Ré… không liên quan gì đến Paracels.
 Như vậy, ngoài những sự kiện lịch sử đã được chứng thực, cùng với các nguồn tư liệu thành văn được ghi chép bởi nhiều ngôn ngữ khác nhau, thì những tấm bản đồ cổ của phương Tây đã chứng minh từ gần năm thế kỷ trước, Việt Nam đã xác lập chủ quyền quốc gia đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Điều này được ghi nhận trên những tấm bản đồ do nhà bản đồ học, các nhà hàng hải, các nhà phát kiến địa lý phương Tây soạn vẽ và công bố trong các thế kỷ XVI – XIX. Đây chính là nguồn tư liệu quý, góp phần khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

CHÚ THÍCH

[1]. Tập tài liệu này còn có tên là Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, lưu trữ trong một số thư viện ở Việt Nam, Nhật Bản, Pháp… và được ghép chung với nhiều tập bản đồ khác nhau như: Hồng Đức bản đồ, Toản tập An Nam lộ, Giáp Ngọ niên bình Nam đồ…
[2]. Chỉ các chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
[3]. Dẫn theo: Nguyễn Quang Ngọc, “Hoàng Sa Trường Sa: Những trang sử được viết bằng máu”, Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội, số 275, tháng 7/2011.
[4]. Địa danh I. des baixos Cachina xuất hiện trên bản đồ Cabo Comorim, Japao, Moluco e Note do Fernão Vaz Dourado, người Bồ Đào Nha, vẽ năm 1571.
[5]. Địa danh I. do Pracell xuất hiện trên bản đồ do Fernão Vaz Dourado vẽ năm 1576.
[6]. Nguyễn Đình Đầu, Giới thiệu một số bản đồ cổ thềm lục địa và hải đảo Việt Nam, http://www.viet-studies.info.
[7]. Bản đồ này nằm trong tập tài liệu chép tay, tựa là Livro da Marinharia, gồm 20 tờ bản đồ và 254 trang văn bản (ký hiệu PT-TT-CRT-166) đang lưu trữ tại Văn khố Quốc gia Bồ Đào Nha (Arquivo Nacional da Torre do Tombo) ở Lisbon. Về sau, bản đồ này được chép lại trong cuốn Peregrination của giáo sĩ kiêm nhà hàng hải người Bồ Đào Nha F.M. Pinto nên nhiều người thường tưởng nhầm F.M. Pinto là tác giả bản đồ này, trong khi nhiều người khác thường gọi bản đồ này là “bản đồ Livro da Marinharia”. Điều này cũng không chính xác vì trong tập tài liệu Livro da Marinharia có đến 24 bản đồ vẽ nhiều vùng khác nhau trên thế giới.
[8]. Bản đồ này (ký hiệu PT-TT-CRT-165-m0008) đang lưu trữ tại Văn khố Quốc gia Bồ Đào Nha ở Lisbon.
[9]. Tên của Cù Lao Thu trên các bản đồ phương Tây viết khác nhau, tùy từng thời điểm và tùy từng ngôn ngữ: Pulo Ceciss, Pulo Sissi, Pulo Cecir de Mer, Pullo Sissir do Mar…
[10]. Bản đồ này (ký hiệu PT-TT-CRT-165-m0009) đang lưu trữ tại Văn khố Quốc gia Bồ Đào Nha. Ngoài ra còn có tờ bản đồ tương tự, tái bản vào năm 1843 (ký hiệu il-171_0034_29_t0) đang lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Bồ Đào Nha ở Lisbon.
[11]. Nguyễn Thừa Hỷ, “Quần đảo Paracels và các nhà hàng hải Bồ Đào Nha trong thế kỷ XVI”. In trong: Nguyễn Văn Kim (Chủ biên), Người Việt với biển, Nxb Thế Giới, Hà Nội, 2011, tr. 469.
[12]. Petrus Plancius là tên Latin của nhà địa lý học người Bỉ Pieter Platevoet. Ông là một trong những thành viên sáng lập Công ty Đông Ấn Hà Lan (V.O.C), đã vẽ hơn 100 bản đồ nhiều khu vực khác nhau trên thế giới. Petrus Plancius cũng là người thực hiện tờ bản đồ quy mô về châu Á có tên là Exacta & accurata delinatio… regionibus China, Cauchinchina, Camboja, sive Champa, Syao, Malacca, Arracan & Pegu trong cuốn sách nổi tiếng Itinerario của Jan Huygen van Linschoten, xuất bản năm 1596.
[13]. Nhận xét của PGS.TS. Nguyễn Thừa Hỷ trong bài “Quần đảo Paracels và các nhà hàng hải Bồ Đào Nha trong thế kỷ XVI”, Sách đã dẫn, tr. 469.
[14]. Bản đồ này đã được giới thiệu trong cuốn Nordenskiold-Périphis, được giới thiệu trong bài nghiên cứu “Note sur I’histoire de la Cartographie Indochinoise” của M.Cl. Maitre in trong tập Atlas de Chabert-Gallois, xuất bản ở Hà Nội và Hải Phòng năm 1909).
[15], [16], [18]. Dẫn theo: Nguyễn Thừa Hỷ “Quần đảo Paracels và các nhà hàng hải Bồ Đào Nha trong thế kỷ XVI”, Sách đã dẫn, tr. 469, 479, 489.
[17]. Đánh giá của PGS.TS. Nguyễn Thừa Hỷ trong bài “Quần đảo Paracels và các nhà hàng hải Bồ Đào Nha trong thế kỷ XVI”, Sách đã dẫn, tr. 489.
[19]. Trên bản đồ Carte de l’Asia do Homann Heirs vẽ năm 1744, hình vẽ quần đảo Hoàng Sa cũng được gộp chung với quần đảo Trường Sa và ghi tên là I. Ciampa, nghĩa là “đảo (thuộc) Ciampa”. Ciempa hay Campa là tên các nước phương Tây lúc bấy giờ gọi xứ Đàng Trong, do họ cho rằng đây là đất cũ của vương quốc Champa.

Ghi chú: Các bản đồ từ 1 đến 14 (trừ bản đồ 13) giới thiệu ở đây được trích dẫn từ sách “Một số tư liệu Hán Nôm về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa và một số vùng biển của Việt Nam ở Biển Đông” do Viện Nghiên cứu Hán Nôm xuất bản năm 2014. Những bản đồ còn lại trong bài này thuộc Fond tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với huyện đảo Hoàng Sa – Thành phố Đà Nẵng do TĐAS chủ trì thực hiện.

Trần Đức Anh Sơn

TƯ LIỆU BẢN ĐỒ CHỨNG MINH CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM
ĐỐI VỚI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA


Trần Đức Anh Sơn


(Kỳ 2)

III. BẢN ĐỒ CỔ TRUNG QUỐC CHỨNG MINH QUẦN ĐẢO HOÀNG SA KHÔNG THUỘC CHỦ QUYỀN CỦA TRUNG QUỐC

Kể từ khi bắt đầu tranh chấp với chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam vào năm 1909, chính quyền và học giới Trung Quốc bắt đầu tìm kiếm những tư liệu thư tịch và bản đồ cổ của Trung Quốc có liên quan đến địa lý và lịch sử Biển Đông, Hoàng Sa và Trường Sa để chứng minh quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, mà họ gọi là Xisha qundao (Tây Sa quần đảo) và Nansha qundao (Nam Sa quần đảo) thuộc về Trung Quốc.

Tuy nhiên, cả thư tịch cổ và bản đồ cổ mà họ trích cứu từ thời Tần – Hán cho đến thời Minh – Thanh, dài ngót 2.000 năm, đều phản ánh một sự thật là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chưa bao giờ thuộc về Trung Quốc như họ đã tuyên bố trong mấy chục năm qua.

Đối với nguồn tư liệu bản đồ, nhiều học giả Việt Nam và quốc tế đã dày công nghiên cứu hàng trăm bản đồ quốc gia, dư đồ, địa đồ của các địa phương ở phía nam Trung Quốc do chính quyền và các học giả Trung Quốc soạn vẽ và công bố từ thời Tần – Hán (đầu Công nguyên) cho đến thời Trung Hoa Dân quốc (nửa đầu thế kỷ XX) đều xác nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam không hề xuất hiện trên bản đồ Trung Quốc. Những bản đồ do triều đình phong kiến và các học giả Trung Quốc soạn vẽ từ thời Minh trở về trước thì: hoặc là ghi nhận đảo Hải Nam là cực nam của Trung Quốc và không thể hiện hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm trong cương vực Trung Quốc, hoặc có ghi nhận hai quần đảo này bằng các tên gọi Vạn Lý Trường Sa, Thiên Lý Thạch Đường… nhưng chú dẫn đó là những đảo thuộc “Phiên quốc” (nước ngoài). Nói cách khác bản đồ cổ Trung Quốc khẳng định hai quần đảo này không thuộc về nước này.

Dưới thời nhà Thanh (1644 – 1911), việc vẽ bản đồ quốc gia và bản đồ các tỉnh của Trung Quốc rất được các vị hoàng đế của triều đại này chú trọng. Bấy giờ Trung Quốc đã áp dụng kỹ thuật đo vẽ bản đồ tiên tiến của phương Tây và đã đạt được những tiến bộ quan trọng trong khảo sát, đo vẽ và in ấn bản đồ của Trung Quốc. Năm 1708, hoàng đế Khang Hi sử dụng các giáo sĩ Dòng Tên đến từ phương Tây để tiến hành khảo sát, đo vẽ bản đồ trên toàn cõi Trung Hoa. Sau gần 10 năm thực hiện thì công việc hoàn thành với kết quả là sự ra đời bộ bản đồ Hoàng dư toàn lãm đồ (皇輿全覽圖) vào năm 1717.[20] Đây là bộ bản đồ công phu và hoàn chỉnh nhất về cương giới Trung Quốc cho đến thời điểm bấy giờ do nhà Thanh chính thức ấn hành. Bản đồ có tỉ lệ từ 1: 4000.000 đến 1: 5000.000, in khắc gỗ có 28 tờ bản đồ, có cả bản đồ Mông Cổ và Mãn Châu, nhưng không có bản đồ Tân Cương và Tây Tạng.[21] Trên bộ bản đồ này, cương vực phía đông nam của Trung Quốc thực sự chấm dứt ở đảo Hải Nam.

Năm 1728, nhà Thanh xuất bản bộ bách khoa thư Cổ kim đồ thư tập thành (古今圖書集成)[22] một vạn quyển, trong đó tập hợp 216 bản đồ là toàn đồ và bản đồ các tỉnh của Trung Quốc trong suốt diễn trình lịch sử của đế chế này. Vậy nhưng, trong tập bách khoa thư đồ sộ này hoàn toàn không có bản đồ nào ghi nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc.[23] Quyển 1 trong mục Chức phương điển (Sách điển chế về địa đồ các đơn vị hành chính) của bộ bách khoa thư này có các bản đồ: Chức phương tổng bộ đồ, Quảng Đông cương vực đồ, Quỳnh Châu phủ cương vực đồ, là những bản đồ vẽ về phần lãnh thổ phương nam của Trung Quốc đến đời Khang Hi (1661 – 1722) nhà Thanh, đều không ghi nhận các quần đảo xa hơn đảo Hải Nam.[24] Ngoài ra, sách Quảng Đông lịch sử địa đồ tập khi trích in lại địa đồ từ sách Quảng Đông thông chí biên soạn đời Gia Tĩnh (1522 – 1566) triều Minh thì phần hải đảo của Trung Quốc chỉ giới hạn ở Quỳnh Châu (tức đảo Hải Nam).[25]

Ngoài các bản đồ trong bộ Hoàng dư toàn lãm phân đồ và trong bách khoa thư Cổ kim đồ thư tập thành, còn có nhiều bản đồ do nhà Thanh hoặc do chính quyền các tỉnh ở Trung Quốc xuất bản chính thức, không hề ghi nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tiêu biểu là các bản đồ: Hoàng dư toàn lãm phân tỉnh đồ (皇與全覽分省圖) ấn hành khoảng năm 1717, Nhị kinh thập bát tỉnh tổng đồ (二京十八省圖) (Bản đồ 23) và Quảng Đông toàn đồ (廣東全圖) (Bản đồ 24) trong sách Thanh nhị kinh thập bát tỉnh cương vực toàn đồ (清二京十八省疆域全圖) ấn hành năm 1850, Hoàng dư toàn đồ (皇輿全圖) ấn hành năm 1899, 廣東省 (Quảng Đông tỉnh) trong sách Địa dư đồ khảo (地與圖考) (Bản đồ 25) ấn hành đời Quang Tự (1875 – 1908), Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ (皇朝直省地與全圖) ấn hành năm 1904 (Bản đồ 26), Đại Thanh đế quốc (大清帝國) trong sách Thanh đại địa đồ tập (清大地圖集) ấn hành năm 1905, Đại Thanh đế quốc (大清帝國) (Bản đồ 27) và Quảng Đông tỉnh (廣東省) trong sách Đại Thanh đế quốc toàn đồ (大清帝國全圖) ấn hành năm 1908; Trung Hoa dân quốc phân tỉnh tân đồ (中華民國分省新圖) (Bản đồ 28)… Điểm chung của các bản đồ này là cương giới cực nam của Trung Quốc luôn dừng lại ở đảo Hải Nam.

Mặt khác, sách Hải quốc đồ chí do Ngụy Nguyên biên soạn vào năm 1842 có in bức địa đồ Đông nam dương các quốc diên cách đồ (東南洋各國延隔圖)[26], trên đó có vẽ khá chi tiết hai quần đảo Vạn Lý Trường Sa và Thiên Lý Thạch Đường, là hai quần đảo mà học giới Trung Quốc ngày nay cho là Xisha qundao và Nansha qundao và nhận “vơ” là của Trung Quốc, thì tác giả sách này lại xác nhận hai quần đảo này nằm ngoài cương vực Trung Quốc như cách đặt tên địa đồ này.[27]

Đặc biệt, từ năm 1908 đến năm 1933, triều đình nhà Thanh và sau đó là Chính phủ Trung Hoa Dân quốc đã tổ chức đo đạc, biên soạn và xuất bản bốn atlas[28] rất quy mô và công phu, theo kỹ thuật vẽ bản đồ của phương Tây, tập hợp các bản đồ hành chính và bản đồ bưu chính tất cả tỉnh thành của Trung Quốc để phát hành ra thế giới. Đó là các atlas:

– Atlas of the Chinese Empire / 中國地圖 [29] xuất bản bằng tiếng Anh năm 1908. Atlas này gồm một bản đồ tổng thể (Index Map) (Bản đồ 29) vẽ lãnh thổ Trung Quốc và 22 bản đồ các tỉnh của Trung Quốc. Các bản đồ đều có kích thước 31 cm x 41 cm. Ðây là atlas do phái bộ truyền giáo The China Inland Mission có trụ sở ở Thượng Hải (Trung Quốc) biên soạn và in ấn với sự trợ giúp kỹ thuật của một người Anh tên là Edward Stanford. Đây cũng là bộ atlas đầu tiên theo kiểu phương Tây được xuất bản ở Trung Quốc, và được phát hành với sự giúp đỡ của Tổng cục Bưu chính nhà Thanh.

– Complete Atlas of the China / 中國全圖[30] xuất bản bằng tiếng Anh năm 1917. Đây là ấn phẩm tái bản của Atlas of the Chinese Empire / 中國地圖, cũng bao gồm toàn đồ nước Trung Quốc (Bản đồ 30) và 22 bản đồ các tỉnh, in cùng kích thước, hình thức, màu sắc như Atlas of the Chinese Empire / 中國地圖.

– Atlas Postal de Chine / 中華郵政與圖[31] / Postal Atlas of China do Tổng cục Bưu chính thuộc Bộ Giao thông của Trung Hoa Dân quốc xuất bản tại Nam Kinh năm 1919. Atlas được in bằng ba thứ tiếng Trung – Anh – Pháp, gồm một bản đồ tổng thể (Bản đồ 31) và 46 bản đồ các tỉnh của Trung Quốc. Các bản đồ đều có kích thước 61 cm x 71 cm.

– Atlas Postal de Chine / 中華郵政與圖 / Postal Atlas of China, cũng do Tổng cục Bưu chính thuộc Bộ Giao thông của Trung Hoa Dân quốc xuất bản tại Nam Kinh vào năm 1933. Đây là ấn phẩm tái bản có bổ sung của Atlas Postal de Chine / 中華郵政與圖 / Postal Atlas of China xuất bản lần đầu vào năm 1919. Atlas này cũng in bằng ba thứ tiếng Trung – Anh – Pháp, gồm một bản đồ tổng thể (Bản đồ 32) và 29 bản đồ các tỉnh của Trung Quốc, bao gồm cả Tây Tạng và Mông Cổ. Các bản đồ trong atlas này đều có kích thước 61 cm x 71 cm. Tấm bản đồ số 23 trong atlas này là bản đồ tỉnh Quảng Đông và đảo Hải Nam, nhưng do kích thước atlas hạn chế nên đảo Hải Nam được in ở góc trái phía trên tấm bản đồ tỉnh Quảng Đông.[32]

Các atlas nói trên là sản phẩm của chương trình thiết lập bản đồ do nhà Thanh đề ra vào năm 1906 và được chính phủ Trung Hoa Dân quốc kế tục vào các năm sau đó. Các bản đồ vẽ chi tiết ở từng tỉnh, thể hiện rõ các con đường vận chuyển thư từ, công văn trong các tỉnh thành của Trung Quốc bấy giờ. Nơi nào không thuộc lãnh thổ Trung Quốc thì không được thể hiện trên các bản đồ trong atlas. Vì thế mà cương giới cực nam của Trung Quốc trong các atlas này luôn chỉ giới hạn đến đảo Hải Nam, không hề có hình vẽ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Cuối các atlas này đều có phần Index rất chi tiết, liệt kê các địa danh của Trung Quốc từ cấp hương, trấn đến cấp phủ, tỉnh và kinh sư nhưng không có địa danh nào tên là Xisha qundao hay Nansha qundao. Điều này chứng tỏ cho đến khi nhà Thanh ấn hành Atlas of the Chinese Empire / 中國地圖 vào năm 1908 và sau đó Chính quyền Trung Hoa Dân quốc tái bản Complete Atlas of the China / 中國全圖 vào năm 1917, đồng thời tiếp tục biên soạn và xuất bản Atlas Postal de Chine / 中華郵政與圖 / Postal Atlas of China vào các năm 1919 và 1933, thì hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, mà Trung Quốc gọi là Xisha qundao và Nansha qundao, vẫn nằm ngoài cái gọi là “chủ quyền lịch sử” phi pháp do họ mới bịa ra trong mấy chục năm trở lại đây.

Tóm lại, bản đồ hành chính quốc gia và bản đồ các địa phương của Trung Quốc từ thời Trung Hoa Dân quốc trở về trước đều không vẽ các đảo nằm ở phía nam đảo Hải Nam mà chỉ giới hạn cương vực Trung Quốc trong phạm vi phía bắc vĩ tuyến 18, và do vậy, không hề có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên các bản đồ này. Sử sách Trung Quốc cũng chép việc các quan lại nhà Thanh thường dùng các chữ 海角天涯 (hải giác thiên nhai)[33] để chỉ trấn Tam Á, huyện Nhai tức là vùng đất phía nam tỉnh Hải Nam ngày nay.[34] Ở trấn Du Lâm, cực nam của đảo Hải Nam ngày nay vẫn còn các tảng đá tự nhiên rất lớn, được cư dân địa phương coi là danh thắng của vùng này. Trên tảng đá đẹp nhất ở sát biển có khắc các đại tự 天涯 (thiên nhai) và 海闊天空 (hải khoát thiên không).[35]

Như vậy, từ thư tịch, đến bản đồ cổ do Trung Quốc xuất bản từ trước đến nay, cũng như những dấu tích ở trên thực địa đều nhất quán xác nhận rằng, cương giới cực nam của Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc chủ quyền của Việt Nam, không thuộc chủ quyền Trung Quốc như họ đang yêu sách phi lý và hung hăng tranh chấp như hiện nay.

IV. BẢN ĐỒ CỔ TRUNG QUỐC DO PHƯƠNG TÂY XUẤT BẢN CHỨNG MINH QUẦN ĐẢO HOÀNG SA KHÔNG THUỘC CHỦ QUYỀN CỦA TRUNG QUỐC

Chiều ngày 28.3.2014, trong tiệc chiêu đãi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhân chuyến thăm của ông này đến Cộng hòa Liên bang Đức, Thủ tướng nước chủ nhà, bà Angela Merkel, đã tặng một tấm bản đồ cổ vẽ lãnh thổ Trung Quốc (Ảnh gần cuối). Tấm bản đồ có tên là China Proper (Trung Quốc đích thực), do nhà bản đồ học người Pháp Jean-Baptiste Bourguignon d’Anville vẽ, dựa trên các cuộc khảo sát địa lý do các nhà truyền giáo Dòng Tên thực hiện ở Trung Quốc trước đó, và được một nhà xuất bản ở Đức xuất bản năm 1735 (Bản đồ 33).

Sự kiện này gây chú ý của giới truyền thông quốc tế bởi tấm bản đồ Trung Quốc mà Thủ tướng Đức Merken tặng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình là tấm bản đồ không thể hiện các khu vực Tây Tạng, Tân Cương và Mãn Châu Lý thuộc về lãnh thổ Trung Quốc. Các đảo Hải Nam và Đài Loan có trên bản đồ nhưng được tô màu khác với màu của lãnh thổ Trung Quốc. Quần đảo Senkaku / Diaoyu (Điếu Ngư) mà Trung Quốc đang yêu sách chủ quyền với Nhật Bản cũng không được thể hiện là lãnh thổ của Trung Quốc. Và tất nhiên, quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam cũng không hề có trên bản đồ này. Báo chí quốc tế bình luận đây là “cái tát ngoại giao” đối với Chủ tịch Tập và là một thông điệp mà Thủ tướng Merkel muốn gửi đến nhà lãnh đạo tối cao của Trung Quốc nhằm phản ứng chính sách tranh chấp chủ quyền tham lam và phi lý mà Trung Quốc đang theo đuổi một cách hung hãn.[36]


Thật ra, bản đồ China Proper của Jean-Baptiste Bourguignon d’Anville, xuất bản năm 1735 không có Senkaku, Hoàng Sa và Trường Sa… chỉ là một trong số hàng trăm bản đồ cổ do các nước phương Tây xuất bản, vẽ lãnh thổ Trung Quốc mà không có các quần đảo này.
Trong fond tư liệu bản đồ thuộc đề tài Fond tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với huyện đảo Hoàng Sa – Thành phố Đà Nẵng có 20 bản đồ Trung Quốc, xuất bản ở phương Tây từ đầu thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XX, đều vẽ lãnh thổ Trung Quốc tương tự bản đồ China Proper của Jean-Baptiste Bourguignon d’Anville. 

Ngoài ra còn có 50 bản đồ khác vẽ lãnh thổ Trung Quốc không hề có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Điểm chung của những bản đồ này là cương giới Trung Quốc luôn được tô khác màu, hoặc được giới hạn bằng những đường kẻ đậm nét để phân biệt với cương giới của các nước láng giềng và cương giới Trung Quốc luôn chỉ giới hạn đến cực nam của đảo Hải Nam mà thôi. Đó là các bản đồ sau:


1. The Kingdom of China, do Vintage China Orient Map (Anh) ấn hành năm 1626.
2. Qvangxi, do Jacob Van Meurs (Hà Lan) thực hiện năm 1665.
3. L’Empire da la Chine, do Geographe ordinaire du Roi, Avec Privilege (Pháp) ấn hành năm 1751.
4. China, do Thomson’s New General Atlas ấn hành tại Edinburgh (Anh) năm 1815.
5. China, do A Gerneral Atlas, Fielding Lucas Jr.’s ấn hành tại Baltimore (Hoa Kỳ) năm 1823.
6. China, do The General Gazeteer Geographical Dictionary ấn hành tại Berwick (Anh) năm 1823.
7. China, do Maps of the Diffusion of Useful Knowledge, Baldwin & Cradock ấn hành tại London (Anh) năm 1834.
8. China, do Tanner’s Universal Atlas, Henry S. Tanner ấn hành tại Philadelphia (Hoa Kỳ) năm 1836.
9. China and Burma, do Illustrations by A.H.Wray – Engraved by J.B. Allen & J. Rapkin ấn hành tại London (Anh) năm 1851.
10. China, do Family Atlas, Johnson & Browning ấn hành tại New York (Hoa Kỳ) năm 1860.
11. Asia, do Mitchell’s Modern Atlas, E.H. Butler ấn hành tại Philadelphia (Hoa Kỳ) năm 1867.
12. China and Japan, do The Atlas of The World, Johnsons Atlas, ấn hành tại New York (Hoa Kỳ) năm 1869.
13. China Proper, do The National Encyclopedia, William Mackenzie, ấn hành tại London (Anh) năm 1880.
14. China, Korea and Japan, do London Geographical Institute ấn hành tại London (Anh) năm 1880.
15. Chinese Empire and Japan, do Blackie & Son ấn hành tại London (Anh) năm 1880.
16. China, do Encyclopedia Britannica, W & A.K Johnston ấn hành tại London (Anh) năm 1881.
17. Map of Southern China, do Royal Geographical Society ấn hành tại London (Anh) năm 1882.
18. China, do John Murray ấn hành tại London (Anh) năm 1883.
19. China, do Cram’s Atlas ấn hành tại Chicago (Hoa Kỳ) năm 1885.
20. China and Japan, do Royal Atlas, W. & A. K. Johnston ấn hành tại Edinburgh (Anh) năm 1888.
21. China, do Handy Reference Atlas ấn hành tại Edinburg (Anh) năm 1888
22. China, Burma, Siem and Annam, do Atlas of the World, Bacon’s Geographical Establishment ấn hành tại London (Anh) năm 1891.
23. China, do International Cyclopedia, Dodd, Mead & Company, Buffalo ấn hành tại New York (Hoa Kỳ) năm 1891.
24. China, do Atlas of Universal Geography, Edward Stanford ấn hành tại London (Anh) năm 1892.
25. China, do Columbian Atlas of the World, Hunt & Eaton ấn hành tại New York (Hoa Kỳ) năm 1893.
26. Ubersichtskarte von China und Japan, do Hand-Atlas, Verlag Von Velhagen & Klasing ấn hành tại Leipzig (Đức) năm 1893.
27. China, do The World Wide Atlas, W & A.K Johnston ấn hành tại London (Anh) năm 1893.
28. China and Tibet, do Harmsworth Atlas and Gazeteer ấn hành tại London (England) năm 1895.
29. China and Japan, do The Century ấn hành tại London (Anh) năm 1895.
30. China and Japan, do Edinburgh Geographical Institute ấn hành tại Westminster (Anh) năm 1896.
31. Chine et Corée, do Nouvel Atlas Illustre Geographie Universelle ấn hành tại Paris (Pháp) năm 1896.
32. China Empire and Japan, do Citizen’s Atlas of the World ấn hành tại London (Anh) năm 1898.
33. Chinese Empire, do Cram Atlas, George F. Cram ấn hành tại Chicago (Hoa Kỳ) năm 1899.
34. China and Japan, do Keith Johnson’s General Atlas ấn hành tại London (Anh) năm 1899.
35. Map of China, do G.W. Bacon Company ấn hành tại London (Anh) năm 1900.
36. Route Map Showing Journey from St Petersburg to Gulf of Tongking do Harper & Brothers ấn hành tại London (Anh) năm 1900.
37. Southern China and Adjoining Countries, do Harper & Brothers ấn hành tại London (Anh) năm 1900.
38. Asia, do Crowell & Kirkpatrick ấn hành tại Ohio (Hoa Kỳ), năm 1901.
39. China, Manchuria, Mongolia and Korea, do Dodd, Mead & Company, Buffalo ấn hành tại New York (Hoa Kỳ) năm 1903.
40. China, Eastern Part, do Encyclopedia Britannica 10th Edition ấn hành tại London (Anh) năm 1903.
41. Chinese Empire, do Business Atlas, Rand McNally ấn hành tại Chicago (Hoa Kỳ) năm 1904.
42. China, do Universal Geography, Edward Stanford ấn hành tại London (Anh) năm 1904.
43. China, do Cassell and Company ấn hành tại London (Anh) năm 1910.
44. China and Japan, do Cassell’s Atlas, Edinburgh Geographical Institute ấn hành tại London (Anh) năm 1910.
45. China, Siam and Annam, do Bacon’s Popular Atlas of The World ấn hành tại London (Anh) năm 1912.
46. China, do Stieler’s Hand-Atlas ấn hành tại London (Anh) năm 1912.
47. Empire of China and Japan, do The Century Atlas and Gazeteer of The World ấn hành tại London (Anh) năm 1912.
48. China, do Atlas of the World ấn hành tại London (Anh), năm 1914.
49. Asia Eastern Part, do Complete Atlas of the World ấn hành tại New York (Hoa Kỳ) năm 1919.
50. China Political, do The Time Atlas, Edinburgh Geographical Institute ấn hành tại London (Anh) năm 1920.
51. China, do The Atlas of The World, Allace Scott ấn hành tại London (Anh) năm 1921.
52. China, do The Times Atlas, Edinburgh Geographical Institute ấn hành tại London (Anh) năm 1922.
53. China Political, do The Times Atlas, Edinburgh Geographical Institute ấn hành tại London (Anh) năm 1922.
54. Ostasien, do Meyer Gross Hand-Atlas ấn hành tại Leipzig (Đức) năm 1928.
55. Ostasien, do Minerva Atlas Hand-Atlas fuer das Deutsche Volk ấn hành tại Leipzig (Đức) năm 1928.
56. China and Dependencies, do Hammond’s Loose Leaf Atlas ấn hành tại New York (Hoa Kỳ) 1929.
57. China, do United China Relief ấn hành năm 1930.
58 Eastern China, do London Geographical Institute ấn hành tại London, (Anh) năm 1934.
59. Asie Politique, do Atlas Universel de Geographie, Librairie Hachette ấn hành tại Paris (Pháp) năm 1937.
60. China and Japan, do Commercial Atlas, Rand McNally ấn hành tại Chicago (Hoa Kỳ) năm 1942.
61. China, do National Geographic Magazine ấn hành tại Washington (Hoa Kỳ) năm 1945.
62. China and Japan, do C.S. Hammond & Company ấn hành tại New York (Hoa Kỳ) năm 1947.
63. Chine, do Nouveau Dictionnaire Encyclopédique, Librairie Larousse ấn hành tại Paris (Pháp) năm 1948.
64. China Coast and Korea, do National Geographic Magazine ấn hành tại Washington (Hoa Kỳ) năm 1953.
65. The War with Japan, do Frederick A Praeger ấn hành tại New York (Hoa Kỳ), năm 1959.
66. China, do National Geographic Magazine ấn hành tại Washington (Hoa Kỳ) năm 1965.
67. Fuels and Power, do Bureau of Mines, Department of Interior ấn hành tại Hoa Kỳ năm 1975.
68. China, do Johnson Map (Hoa Kỳ) ấn hành năm 1979.
69. Oil and gas map of China do Petroleum News SE Asia ấn hành tại Hong Kong năm 1979.
70. The Peoples of China, do National Geographic Society ấn hành tại Washington (Hoa Kỳ) năm 1980.

Tóm lại, cùng với thư tịch cổ, bản đồ cổ Việt Nam do Việt Nam và nhiều bản đồ liên quan đến Việt Nam do các nước phương Tây xuất bản trong các thế kỷ XVI – XIX đều khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, hoặc ghi nhận Việt Nam có mối liên hệ mật thiết với hai quần đảo này từ rất lâu trong lịch sử. Cùng với các nguồn thư tịch liên quan, các bản đồ này là nguồn tư liệu bổ sung những thông tin xác thực, có giá trị lịch sử và pháp lý chứng minh chủ quyền lâu đời của Việt Nam đối với hai quần đảo này cũng như nhiều vùng biển đảo khác của Việt Nam.

Trong khi đó, những bản đồ do chính Trung Quốc xuất bản trong gần 2.000 năm qua thì: hoặc là không ghi nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc, hoặc trực tiếp hay gián tiếp ghi nhận hai quần đảo này thuộc về Giao Chỉ quốc, Giao Châu, An Nam quốc…, là những danh xưng mà sử liệu Trung Hoa gọi nước ta trước đây. Điều này cho thấy trong khi các bản đồ cổ Việt Nam nhất quán khẳng định Hoàng Sa – Trường Sa thuộc về Việt Nam, thì bản đồ cổ Trung Quốc cũng nhất quán ghi nhận hai quần đảo này không liên quan gì đến cương giới, lãnh thổ Trung Quốc. Điều này, một lần nữa được xác nhận bởi hàng trăm bản đồ Trung Quốc do các nước phương Tây xuất bản từ đầu thế kỷ XVI đến thập niên 80 của thế kỷ XX. 

Anh Son Tran Duc's photo.

 

CHÚ THÍCH
[20]. Vũ Quang Việt, “Bản đồ nhà Thanh do hoàng đế Khang Hi sai vẽ xác định cương vực của Trung Quốc chấm dứt ở đảo Đải Nam”, http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai…/201431_VuQuangViet.pdf.
[21]. Do kết quả đo vẽ khu vực Tân Cương không chính xác nên bản đồ hai khu vực này chưa hoàn thành. Đến năm 1719, hai khu vực Tân Cương và Tây Tạng mới được đưa vào Hoàng dư toàn lãm đồ. Tập bản đồ này còn được tái ấn vào năm 1721 (tỉ lệ 1:1.200.000), gồm 32 tờ. Dẫn theo: Vũ Quang Việt, “Bản đồ nhà Thanh do hoàng đế Khang Hi sai vẽ xác định cương vực của Trung Quốc chấm dứt ở đảo Đải Nam”. http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai…/201431_VuQuangViet.pdf. Truy cập ngày 10.7.2014.
[22]. Cổ kim đồ thư tập thành là bách khoa thư của triều Thanh, 5.020 tập, gồm các minh họa và trước tác từ thời thượng cổ đến thời kỳ đầu triều đại này. Bộ bách khoa thư được khởi soạn dưới triều Khang Hi, hoàn tất năm 1726 và khắc in năm 1728 dưới triều Ung Chính (1723 – 1735). Bộ sách gồm 800.000 trang, 100 triệu chữ, ghi chép từ các hiện tượng tự nhiên, địa lý, lịch sử, văn chương đến bộ máy nhà nước của các triều đại Trung Quốc. Số lượng bản in năm 1728 là 60 bản. Dẫn theo: Vũ Quang Việt, “Bài đã dẫn”. Truy cập ngày 10.7.2014.
[23], [24], [25], [27]. Dẫn theo: Phạm Hoàng Quân, “Tây Sa và Nam Sa trong sử liệu Trung Quốc”, Ngày 11.12.2007, http://www.nguyenthaihocfoundation.org/…/hsts_tsns_suTrungH…. Truy cập ngày 22.12.2009.
[26]. Đông nam dương các quốc diên cách đồ: Bản đồ về sự thay đổi địa giới của các nước ở biển đông nam.
[28]. Atlas là tập bản đồ theo một chủ đề nào đó, chẳng hạn: bản đồ hành chính, bản đồ tự nhiên, bản đồ bưu chính…
[29]. 中國地圖: Trung Quốc địa đồ.
[30]. 中國全圖: Trung Quốc toàn đồ.
[31]. 中華郵政與圖: Trung Hoa bưu chính dư đồ.
[32]. Bốn atlas này do kỹ sư Trần Thắng ở bang Connecticut (Hoa Kỳ) phát hiện vào năm 2012. Ông Trần Thắng đã mua Atlas of the Chinese Empire / 中國地圖 (xuất bản năm 1908) và Atlas Postal de Chine / 中華郵政與圖 / Postal Atlas of China (xuất bản năm 1919) gửi về tặng cho Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế – Xã hội Đà Nẵng. Riêng Atlas Postal de Chine / 中華郵政與圖 / Postal Atlas of China (tái bản năm 1933) thì do UBND huyện Hoàng Sa, thành phố Đà Nẵng bỏ tiền mua. Ba atlas này hiện đang được lưu giữ tại thành phố Đà Nẵng. Complete Atlas of the China / 中國全圖 hiện vẫn do một nhà sưu tập bản đồ ở Hoa Kỳ sở hữu.
[33]. Hải giác thiên nhai nghĩa là “góc biển, chân trời”, cũng có khi viết là Thiên nhai hải giác nghĩa là “chân trời góc biển”, ý nói đó là nơi “cùng trời cuối đất”, tức là phần tận cùng của đất nước Trung Quốc.
[34]. Theo: Địa lý song khẩu, Đương Án xuất bản xã, 1988. Dẫn theo: Phạm Hoàng Quân, “Bài đã dẫn”. Truy cập ngày 22.12.2009.
[35]. Hải khoát thiên không nghĩa là “biển rộng vô bờ”. Tôi được ông Lê Hiếu Hữu, một người Việt đã đi du lịch tới Du Lâm (Hải Nam, Trung Quốc) năm 2007, tặng bức ảnh chụp tảng đá có khắc dòng chữ này (Ảnh cuối cùng). Xem: https://www.facebook.com/photo.php….
[36]. Xem thông tin về sự kiện này tại các link sau:
http://tuoitre.vn/…/qua-ban-do-nhay-cam-cua-thu-tuong-merke…; http://time.com/…/angela-merkel-xi-jinping-china-germany-m…/; http://www.foreignpolicy.com/…/…/01/merkel_map_message_china; http://www.smh.com.au/…/angela-merkels-historical-china-map…
Ghi chú: Các bản đồ từ 23, 24, 27 dùng trong bài này là do ThS Chử Đình Phúc (VASS) cung cấp. Bản đồ 25 do nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn công bố trên báo Thanh Niên. Các bản đồ 28 – 30 do kỹ sư Trần Thắng trao tặng cho Viện Nghiên cứu Phát triển KT-XH Đà Nẵng.

Trần Đức Anh Sơn

GÓC TƯ LIỆU CỦA BẠNcập nhật bởi Hoàng Kim

Tình hình biển Đông có gì mới

HOCMOINGAY. Tình hình biển Đông có gì mới. 14.11.2014.  Hội nghị cấp cao ASEAN – Trung Quốc (VTV); Trung Quốc đề xuất hiệp ước hữu nghị với ASEAN (TT);  ASEAN và Trung Quốc cùng đảm bảo tự do hàng hải ở Biển Đông (Zing); Indonesia cảnh giác với Trung Quốc ở Biển Đông (Tin Tức);  Mỹ muốn thắt chặt thêm quan hệ với ASEAN trong chiến lược xoay trục (RFI);  Thượng đỉnh Đông Á: Trung Quốc tung chiêu mới về Biển Đông (RFI); Ấn Độ không ngần ngại nêu tranh chấp Biển Đông tại Thượng đỉnh Đông Á (RFI);Thủ tướng VN: ‘Biển Đông vẫn phức tạp’ (BBC);  Thủ tướng yêu cầu giữ nguyên trạng Biển Đông (VNN); Thủ tướng: Cần có tầm nhìn dài hạn trong phát triển ở Đông Á (TTXVN); Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh trả lời về kết quả hội nghị cấp cao ASEAN (VOV).

H1 
 
Thủ tướng tham dự các Hội nghị Cấp cao ASEAN với các đối tác (TGVN);  Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng gặp chính thức Tổng thống Obama; Tổng Thống Obama muốn thắt chặt quan hệ với Việt Nam (VOA);  Hoa Kỳ sửa đổi chính sách xuất khẩu vũ khí sang Việt Nam (VOA); 
 
Tư liệu bản đồ chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa – Phần 1 (FB Trần Đức Anh Sơn); Tư liệu bản đồ chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa – Phần 2  (FB Trần Đức Anh Sơn); Mao Trạch Đông và Biển Đông Việt Nam (Điểm chính blog Hoàng Kim).
 
BÀI LIÊN QUAN
Biển Đông Việt Nam và Sông Mekong
(thông tin tổng hợp)
 

Tình hình biển Đông có gì mới ?



Biển Đông và  đường lưỡi  bò
vẫn là  chủ  đề  nóng và động thái còn diễn biến phức tạp. Đây chỉ mới là sự khởi đầu của cuộc chiến pháp lý về chủ quyền trên biển Đông. Phía Trung Quốc đã chuẩn bị dư luận trong nước trên 60 năm (1950- 2011) về đường lưỡi bò “chuỗi ngọc trai của đất mẹ Trung Quốc” và đã  thực hành “lấn dần từng bước”, “đặt trước việc đã rồi”, chọn thời cơ thích hợp đưa “đường lưỡi bò” thành vấn đề đang tranh chấp. Trung Quốc hiện đang hối thúc Việt Nam sớm đồng thuận theo cách “chủ quyền thuộc tôi, gác bỏ tranh chấp, cùng nhau khai thác, lấy tiền đổi đất, đất đổi hòa bình”.  Phía Việt Nam tiếp tục khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa sự thật lịch sử hiển nhiên và hoàn toàn có đủ căn cứ pháp lý; Quan điểm chính thống của Đảng và Nhà nước Việt Nam là hướng dư luận vào sự ứng xử phù hợp, kiềm chế, không có những hành động tự phát, không tham gia vào những hoạt động không chính thống, đảm bảo nguyên tắc không làm phức tạp thêm tình hình giải quyết tranh chấp. Bản tuyên cáo đặc biệt do một số nhân sĩ, trí thức khởi xướng về việc nhà cầm quyền Trung Quốc liên tục có những hành động gây hấn xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam trên Biển Đông ngày 25 tháng 6 hiện có 1164 người tham gia ký tên. Quan điểm của những người  ký tuyên cáo coi việc giải quyết vấn đề biển Đông trong hòa bình thuộc trách nhiệm của Chính phủ nhưng điều đó không có nghĩa người dân không được quyền tiếp tục thể hiện thái độ của mình; Tuyên cáo đề cao ý chí, nguyện vọng và sức mạnh của toàn dân. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn dân. Vì vậy bên cạnh biện pháp chính trị, quân sự và ngoại giao, biện pháp đấu tranh hiệu quả nhất vẫn là phải dựa vào sức mạnh của toàn dân tộc. Vấn đề biển Đông đòi hỏi sự bản lĩnh và trí tuệ, sáng suốt và kiên trì, thế và lực của toàn dân tộc, sự ủng hộ quốc tế, sự minh bạch thông tin và phổ biến sâu rộng kịp thời cho dân chúng biết các vấn đề liên quan đến tranh chấp biển Đông.


TIN NỔI BẬT

Lần đầu tiên, một bản phân tích kỹ lưỡng về bức Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam (Huu Nguyen). Bài này được đăng trên Đại đoàn kết ngày 20 tháng 7 năm 2011. (xem tiếp)

Sông Mekong thông tin tổng hợp 2014b

 

NGỌC PHƯƠNG NAM. Lưu vực sông Mekong là điểm nhấn địa chính trị – kinh tế – văn hoá – xã hội rất quan trọng của châu Á. Đó là nguồn sống, nguồn tài nguyên và nôi văn hoá, văn minh phương Đông của nhiều cộng đồng dân tộc. Thời gian gần đây có nhiều tài liệu quan tâm sâu sắc đến khu vực này, trong đó đáng chú ý nhất là các bài: Lưu vực sông Mekong địa bàn thách đố của Hoa Kỳ ; Mực nước sông Mekong xuống thấp nhất trong 30 năm; Sông Mekong và Biển Đông hai cái gai trong quan hệ Việt Trung; Dòng sông Mekong bị bức tử nguy cơ cận kề.

Thông tin gần đây là cuộc họp thượng đỉnh lần thứ hai của Hội đồng Sông Mekong từ ngày 2 đến ngày 5 tháng Tư năm 2014 tại thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả phản ảnh tại bài viết “Hiệp Định Mekong 1995 đang tan vỡ” của Phan Minh Long; Trước đó có thông tin Diễn đàn nhân dân với chủ đề “Dòng sông Mekong trong tương lai: Mối quan tâm của người dân về phát triển thủy điện” ngày 1 tháng 8 năm 2013 tại thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang. Kết quả phản ảnh tại bài viết “Thích ứng với biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long sẽ thất bại vì đập thủy điện”.

(xem tiếp)

Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính 
hoangkim vietnam, hoangkim, hoangkimvietnam, Hoàng Kim, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, foodcrops.vnCassava in Vietnam, VietnamAfricaCassavaRice, Khát khao xanh, DayvahocHọc mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Câu chuyện ảnh, 5 phút thư giản, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con

Lương Định Của, con đường lúa gạo

Giáo sư Nông học Lương Định Của, anh hùng lao động

Giáo sư Nông học Lương Định Của, anh hùng lao động

Giáo sư bác sĩ Nông học Lương Định Của, anh hùng lao động, giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học kỹ thuật, cuộc đời và sự nghiệp còn mãi với thời gian, với con đường lúa gạo Việt Nam đang tỏa rộng nhiều vùng đất nước kết nối lớp lớp những dâng hiến lặng lẽ tôn vinh hạt ngọc Việt. Cây lúa Việt Nam nửa thế kỷ nhìn lại (1975-2014) có tốc độ tăng năng suất vượt 1,73 lần so với thế giới. Thành tựu này có cống hiến hiệu quả của nhà bác học nông dân Lương Định Của ở chặng đường đầu của nước Việt Nam mới.

Lương Định Của cuộc đời và sự nghiệp

Giáo sư Lương Định Của (Quốc – 梁定国) sinh ngày 16 tháng 8 năm 1920 tại xã Đại Ngãi, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng, Theo văn bia gia đình thì ông nội của giáo sư là Lương Đức Ngãi, bà nội là Trịnh Thị Xuân, cha là Lương An Hùng và mẹ là Huỳnh Thị Có. Ông Lương Định Của lên Sài Gòn học xong tú tài và đã du học ở Hương Cảng (y học) rồi Thượng Hải (kinh tế) trước khi được học bổng của chính phủ Nhật Bản, sang Nhật năm 1942, được nhập ngang vào học năm thứ ba tại Trung tâm Nghiên cứu Nông học Nhiệt đới thuộc Trường Đại học Quốc gia Kyushu. Năm 1945 ông cưới vợ là bà Nobuko Nakamura (中村信子) người Nhật.  Năm 1946, ông chuyển sang Trường Đại học Quốc gia Kyoto và được cấp bằng tiến sỹ nông học ở Nhật Bản. Năm 1954, ông cùng gia đình về Sài Gòn. Sau đó tập kết ra Bắc, làm Phó Giám Đốc Học Viện Nông Lâm Hà Nội , giảng dạy di truyền giống ở Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội (nay là Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam) và làm Viện trưởng Viện Cây Lương thực và Cây thực phẩm.

Giáo sư Lương Định Của là người có công lớn trong giáo dục đào tạo, Thầy đã huấn luyện được  nhiều thế hệ học trò trở thành cán bộ đầu đàn trong các lĩnh vực khoa học nông nghiệp với nhiều người xuất sắc. Giáo sư Lương Định Của đã chọn tạo được nhiều giống cây trồng nông nghiệp nổi tiếng một thời như Giống lúa Nông nghiệp I lai tạo từ giống Ba thắc (Sóc Trăng – Nam Bộ) với Kun Ko (Nhật Bản) là giống lúa sớm đi vào sản xuất trên đồng ruộng Việt Nam từ những năm 60 của thế kỷ trước. Sau đó là nhiều giống mới mang tên  “giống bác sĩ Của” như lúa chiêm 314 (lai giữa dòng Đoàn Kết và Thắng Lợi), NN75-1 (lai giữa giống 813 với NN1), NN8-388 (chọn giống từ IR8), lúa mùa Saisubao, lúa xuân sớm NN75-5, giống dưa lê, cà chua, khoai lang, dưa hấu không hạt, chuối, rau, táo…  cùng với những ứng dụng tiến bộ kĩ thuật tam bội thể, tứ bội thể, chất kích thích sinh trưởng. Giáo sư đề xướng mô hình canh tác “bờ vùng, bờ thửa” “cấy nông tay thẳng hàng” “đảm bảo mật độ” được hàng chục triệu nông dân áp dụng trên diện rộng, tạo ra cuộc cách mạng trong nông nghiệp.

Cuộc đời của giáo sư là tấm gương sáng của một trí thức lớn dấn thân vì đại nghĩa, sống thanh đạm, giản dị, say mê, tận tuỵ với sự nghiệp trồng người và nghiên cứu khoa học tạo giống cây trồng, cải tiến kỹ thuật canh tác để mang lại đời sống tốt hơn cho người dân.

Giáo sư Lương Định Của được bầu là đại biểu Quốc hội các khoá 2, 3, 4, 5, được phong danh hiệu Anh hùng Lao động và Huân chương Lao động Hạng Nhất năm 1967 và được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ đợt 1 năm 1996.

Nhiều con đường, mái trường Việt Nam mang tên Thầy. Năm 2006, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã lập Giải thưởng Lương Định Của để hằng năm trao tặng cho những thanh niên có thành tích đặc biệt xuất sắc trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, công nghệ nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới.

LuongDinhCua3

GS Lương Định Của mất ngày 28 tháng 12 năm 1975, mai táng tại Nghĩa Trang Thành phố Hồ Chí Minh. Vợ của giáo sư, bà Nobuko Nakamura, sống cùng gia đình con trai cả Lương Hồng Việt ở thành phố Hồ Chí Minh.

Đến Long Phú, Sóc Trăng bạn sẽ gặp con đường Trường Khánh - Đại Ngãi nối  vựa lúa chất lượng ngon và năng suất cao nhất nước.

Đến Long Phú, Sóc Trăng bạn sẽ gặp con đường Trường Khánh – Đại Ngãi nối vựa lúa chất lượng ngon và năng suất cao nhất nước.

Con đường lúa gạo

Cuộc đời và sự nghiệp của nhà bác học nông dân Lương Định Của còn mãi với thời gian, với con đường lúa gạo Việt Nam đang tỏa rộng nhiều vùng đất nước kết nối lớp lớp những dâng hiến lặng lẽ tôn vinh hạt ngọc Việt.  Cây lúa Việt Nam nửa thế kỷ nhìn lại (1975-2014) Năm 2013 năng suất lúa gạo Việt Nam đạt 5,57 tấn/ ha so với năm 1975 là 2,11 tấn/ ha, gia tăng 3,46 tấn/ ha. Năm 2013 năng suất lúa gạo thế giới đạt 4,48 tấn/ ha so năm 1975 là 2,49 tấn/ ha gia tăng 1,99 tấn/ ha. Tốc độ tăng năng suất lúa Việt Nam vượt gấp 1,73 lần so với thế giới. Thành tựu này có cống hiến hiệu quả của nhà bác học nông dân Lương Định Của ở chặng đường đầu của nước Việt Nam mới.

Hoàng Kim

Lương Định Của, cuộc đời và sự nghiệp
Lương Định Của, quê hương và dòng họ
Lương Định Của, những năm tháng tuổi trẻ
Lương Định Của, luồng gió từ Hà Nội
Lương Định Của, nhà bác học nông dân
Lương Định Của, chính khách giữa lòng dân
Lương Định Của, thầy bạn và học trò
Ông bà Của, cổ tích giữa đời thường

Xem tiếp:
Bùi Huy Đáp, lúa xuân Việt Nam

Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính 
hoangkim vietnam, hoangkim, hoangkimvietnam, Hoàng Kim, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, VietnamAfricaCassavaRice, Khát khao xanh, DayvahocHọc mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 2 271 other followers

%d bloggers like this: