Những bạn tốt của nông dân trồng sắn châu Á

CNM365. TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. 365 chuyện kể mỗi ngày. Những bạn tốt của nông dân trồng sắn châu Á.

The good friend of cassava farmers in Asia

Tiến sĩ Joe Tohme, tiến sĩ Reinhardt Howeler, tiến sĩ Chareinsuk Rojanaridpiched và tiến sĩ Claude Fauquet. Những bạn tốt của nông dân trồng sắn châu Á. (Ảnh:CIAT blog)
Chúc mừng từ Việt Nam đến những bạn tốt của nông dân trồng sắn châu Á.
Greetings from Vietnam to the good friend of cassava farmers in Asia.

Danh dự cho những đóng góp lớn an ninh lương thực ở Đông Nam Á.

CIAT Blog, 19 tháng 1, 2016

Tác giả: bình luận. 
Người dịch: Hoàng Kim

Hai nhà khoa học có một lịch sử lâu dài hợp tác với CIAT đã được vinh danh vì những đóng góp đối với giống sắn được trồng rộng rãi nhất trên thế giới, giờ đây đã canh tác phổ biến 60 đến 75 phần trăm tổng diện tích sắn ở Thái Lan và Việt Nam, một cây trồng chính an ninh lương thực và nguồn thu nhập cho khắp vùng Đông Nam Á.

Tại Hội nghị Cây Có củ Toàn cầu kéo dài một tuần ở Nam Ninh, Trung Quốc từ ngày 18 đến 22 tháng 1 năm 2016, Tiến sĩ Chareinsuk Rojanaridpiched, nguyên giáo sư, nhà di truền chọn giống, thầy Hiệu trưởng  Đại học Kasetsart Thái Lan và Tiến sĩ Reinhardt Howeler, nhà khoa học đất nổi tiêng, với hơn 20 năm kinh nghiệm tại Châu Á, đã nhận được Giải thưởng Vàng Cây Sắn.

Tiến sĩ Chareinsuk Rojanaridpiched nhận được Giải thưởng Vàng Cây Sắn cho việc phát triển giống sắn Kasetsart 50 (KU 50, tên gọi ở Việt Nam là KM94), hiện canh tác trên 1 triệu ha ở Thái Lan và Việt Nam, cũng như trong khu vực rộng lớn của Indonesia, Campuchia, Philippines và Lào.

Tiến sĩ Reinhardt Howeler đã được công nhận cho những đóng góp của ông trong việc cải thiện hoạt động quản lý đất. Ông đã làm việc trực tiếp với nông dân các nước châu Á để đảm bảo việc áp dụng rộng rãi các giống sắn mới bao gồm KU 50, và những cây trồng luân xen canh với sắn, để quản lý đất sắn và cây trồng bền vững hơn, dẫn đến sản lượng và thu nhập trang trại cao hơn .

“Tôi đã rất may mắn được làm việc với các nhà nghiên cứu và cán bộ khuyến nông và nông dân làm việc chăm chỉ để áp dụng giống mới và thực hành được cải thiện, dẫn đến sản lượng cao hơn và nâng cao đáng kể đời sống của người nông dân,” Tiến sĩ Reinhardt nói.

Tien si Chareinsuk Rojanaridpiched va tien si Reinhardt Howeler . -

Tiến sĩ Chareinsuk Rojanaridpiched (trái), Tiến sĩ Reinhardt Howeler (phải).

“Sự hài lòng lớn nhất khi thấy công việc mình làm có một tác động trên hành tinh trong việc giúp người dân cải thiện cuộc sống của họ. Nhận Giải thưởng Vàng Cây Sắn vinh dự lớn một dấu hiệu cho thấy giá trị làm việc với nông dân để đạt được an ninh lương thực lớn hơn và cải thiện sinh kế đã được công nhận là mục tiêu cuối cùng sứ mệnh của chúng tôi

Câu chuyện về cây sắn châu Á từ củ sắn đến sự giàu

Sắn (Manihot esculenta) là một nguồn carbohydrate cho hơn 500 triệu người trên toàn cầu. Nó được xếp hạng thứ sáu trong số các loại cây trồng giàu năng lượng và được sản xuất như là một cây trồng chủ lực ở châu Phi, châu Á và châu Mỹ la tinh, chiếm tỷ lệ tương ứng là 53%, 33% và 14% sản lượng sắn toàn cầu.Cây sắn ngày nay tại vùng Đông Nam Á, là nguồn sinh kế cho khoảng 40 triệu hộ nông dân chủ yếu là người nghèo có diện tích canh tác ít hơn năm ha. Sắn là cây trồng chịu được khắc nghiệt, khô hạn, nắng nóng, và có thể phát triển trên đất nghèo dinh dưỡng của vùng cao với đầu tư thấp.

Trong những năm 1990, sản lượng sắn đình trệ phần lớn là do vòng xoáy đi xuống của nhu cầu tại các thị trường thức ăn chăn nuôi châu Âu cho sắn và bột viên. Sản lượng sắn chững lại hoặc giảm sút, và cố gắng để cải thiện các giống địa phương đã không thành công như là một kết quả của việc thiếu đa dạng di truyền cây sắn ở châu Á.

Mặc dù trong thực tế sắn là nguồn quan trọng của năng lượng và an ninh lương thực tại vùng Đông Nam Á, đặc biệt cho các hộ nông dân nghèo người dân tộc thiểu số, nhưng so với các cây nông sản khác như lúa, ngô thì việc cải thiện sắn nhiều nhà nghiên cứu bị bỏ quên.

Tuy nhiên, Tiến sĩ Chareinsuk Rojanaridpiched và các đồng nghiệp tại Trường Đại học Kasetsart và Bộ Nông nghiệp Thái Lan, vẫn kiên trì để phát triển rất thành công giống sắn KU 50, công bố vào năm 1992. Họ đã sử dụng một giống sắn địa phương Thái Lan thích nghi rất tốt để lai tạo với một giống sắn có nền tảng di truyền tốt, được chọn từ ngân hàng nguồn gen giống sắn CIAT ở Colombia, nơi có bộ sưu tập giống cây sắn lớn nhất thế giới, để đạt được tiến bộ di truyền cao hơn bản vẽ chuyên môn nguồn vật liệu  tại địa phương.

Khai thác sự đa dạng về nguồn gen ở châu Mỹ Latinh, các nhà nghiên cứu đã đánh giá, thực hiện nhiều thu thập, lai tạo và trao đổi nguồn gen với ngân hàng gen của CIAT, nơi có tổng cộng 6.592 mẫu giống sắn có từ 28 quốc gia, bao gồm 883 kiểu gen của các loài hoang dã, được bảo tồn bằng cách sử dụng kỹ thuật in vitro.

Họ cải thiện các giống sắn có tiềm năng để đáp ứng nhu cầu ở châu Á: năng suất củ tươi  và hàm lượng tinh bột cao hơn; kháng bệnh được cải thiện và khả năng thích ứng môi trường. Đến năm 2002, các nhà lai tạo giống sắn châu Á đã phát hành hơn 50 giống sắn cải tiến bao gồm KU 50 trong chín quốc gia, với những lợi ích đáng kể cho người trồng sắn, tăng gần gấp đôi năng suất củ tươi.

Song song đó, Tiến sĩ Reinhardt Howeler làm việc với các nhà nghiên cứu, cán bộ khuyến nông và nông dân ở Trung Quốc, Việt Nam, Indonesia, Thái Lan, Campuchia, Lào và Đông Timor, để cải thiện quản lý độ phì của đất, thực hành chống xói mòn cho sắn và tăng cường việc khảo nghiệm, trình diễn của nông dân cải thiện giống.

Điều này liên quan đến việc tiến hành các thử nghiệm đơn giản với nông dân trên cánh đồng của họ, cùng với các nhà nghiên cứu địa phương, các cán bộ khuyến nông, để lựa chọn và quản lý thực hành cho chính điều kiện của mình. Hàng ngàn nông dân đã được học về giống sắn mới, thực hành hiệu quả hơn cách trồng sắn thông qua việc tham gia vào ngày thăm đồng, các khóa đào tạo và thăm chéo, cũng như từ các tài liệu quảng cáo, và từ các cuộc phỏng vấn đài phát thanh và truyền hình.

Công việc này đã dẫn đến việc áp dụng rộng rãi các giống sắn cải tiến, thực hành quản lý đất và cây trồng mới, góp phần đáng kể vào việc tăng năng suất nhanh chóng ở châu Á trong 15 năm qua. Ước tính sự gia tăng tổng thu nhập hàng năm của người nông dân trồng sắn ở châu Á do năng suất sắn cao hơn trong năm 2009, so với năm 1994, đạt hơn 1,75 tỷ đô la Mỹ.

Châu Á là nhà kinh doanh sắn hàng đầu hiện nay

Thái Lan và Việt Nam hiện là nhà xuất khẩu sắn hàng đầu thế giới. Thái Lan và Indonesia sản xuất sắn lớn nhất của khu vực. Với tốc độ tăng trưởng dân số nhanh chóng và mở rộng đô thị, sử dụng sắn cũng mở rộng sang thị trường thích hợp. Ví dụ như trong các sản phẩm ít béo, hoặc sản phẩm không có gluten thấp; Đó là  một cơ hội rất lớn cho nông dân sản xuất nhỏ, những người cung cấp hầu hết sắn.

Người ta ước tính rằng thu nhập tích lũy của người trồng sắn ở Thái Lan từ KU 50, từ năm 1993 đến năm 2011, tổng cộng đạt 1,56 tỷ đô la. Những lợi ích kinh tế quốc gia đầu tư sản xuất và xuất khẩu sắn tiếp tục cải thiện. Riêng Việt Nam, xuất khẩu sắn hiện tại mỗi năm thu khoảng 1,3 -1,5 tỷ đô la Mỹ .

Ngày nay, 48 giống sắn có nguồn gốc từ CIAT liên quan đến các chương trình giống sắn quốc gia đã được trồng trên hơn 40 phần trăm tổng diện tích sắn canh tác của khu vực. Theo ước tính năm 2015, việc áp dụng các giống sắn cải tiến kết quả từ nghiên cứu liên quan đến CIAT và các đối tác quốc gia đã đạt gần 100% ở Thái Lan và hơn 90% ở Việt Nam.

Honor for major food security contributions in Southeast Asia

19 January, 2016 by (comments)

Two scientists with a long history of collaboration with CIAT have been honored for contributions towards the world’s most widely grown cassava variety – now grown by 60 to 75 percent of all cassava farmers in Thailand and Vietnam – and a key food security crop and source of income throughout Southeast Asia.

At the week-long World Congress on Root and Tuber Crops in Nanning, China this week, Dr. Chareinsuk Rojanaridpiched, formerly of Kasetsart University in Thailand, and CIAT emeritus Dr. Reinhardt Howeler, a soil scientist with more than 20 years of experience in Asia, received the Golden Cassava Award.

Dr. Chareinsuk Rojanaridpiched recived the award for developing the cassava variety Kasetsart 50 (KU 50), cultivated on more than 1 million hectares in Thailand and Vietnam, as well as in large areas of Indonesia, Cambodia, the Philippines and Lao PDR.

Dr. Reinhardt Howeler was recognized for his contributions towards improving soil management practices. He worked directly with farmers throughout the region to ensure widespread adoption of new varieties including KU 50, as well as better crop and soil management, leading to higher yields and farm income.

“I have been very lucky to have worked with researchers and extension workers and farmers who worked hard to adopt new varieties and improved practices, resulting in higher yields and considerable improvements in farmers’ livelihoods,” said Dr. Reinhardt.

“The greatest satisfaction comes from seeing that your work is having an impact on the ground in helping people improve their lives. Receiving the Golden Cassava Award is a great honor and an indication that the value of working with farmers in order to achieve greater food security and improved livelihoods is being recognized as the ultimate goal of our mission.”

The story of cassava in Asia, from root to riches

Cassava (Manihot esculenta) is a carbohydrate source for more than 500 million people globally. It ranks sixth among crops for calorific contribution and is produced as a staple crop in Africa, Asia and South America – accounting for 53%, 33% and 14% of global production, respectively.

Today in Southeast Asia, the crop supports an estimated 40 million mostly poor farmers with less than five hectares. The crop tolerates stress, drought, heat, and can grow in poor soil in marginal upland environments with minimal investment.

During the 1990s, cassava production stagnated largely due to a downward spiral in demand in European animal feed markets for cassava chips and pellets. Cassava yields also stagnated or declined, and attempts to improve local varieties were not successful as a result of lacking cassava genetic diversity in Asia.

Despite the fact that cassava is a vital source of calories and food security in Southeast Asia, especially among poor ethnic minorities, many researchers neglected cassava improvement in favor of other staples such as rice and maize.

Yet, Dr. Chareinsuk Rojanaridpiched and colleagues at Kasetsart University and the Department of Agriculture in Thailand, persevered to develop the highly successful cassava variety KU 50, released in 1992. They used a very well adapted local Thai cassava variety, crossed with one with a genetic background from CIAT’s genebank in Colombia – the largest cassava germplasm collection in the world – to achieve this, drawing on local breeding expertise.

Tapping this diversity of germplasm in Latin America, the researchers evaluated, made many crosses and exchanged germplasm with CIAT’s genebank, where a total of 6,592 accessions from 28 countries, including 883 genotypes of wild species, are conserved using in vitro techniques.

They improved varieties with potential to meet demands in Asia: higher fresh root yields and starch content; improved disease resistance and environmental adaptability. By 2002, Asian breeders had released more than 50 improved varieties including KU 50 in nine countries, with considerable benefits for cassava growers, almost doubling fresh root yields.

In parallel, Dr. Reinhardt Howeler worked with researchers, extension agents and farmers in China, Vietnam, Indonesia, Thailand, Cambodia, Lao PDR and East Timor, to improve soil fertility management and erosion control practices for cassava and enhance the adoption by farmers of improved varieties.

This involved conducting simple trials with farmers in their fields, with local researchers and extension workers, to select and manage practices for their own conditions. Thousands of farmers learned about new, more efficient practices of cultivating cassava through participation in field days, training courses and cross visits, as well as from brochures, and from radio and television interviews.

The work led to widespread adoption of improved varieties and new soil and crop management practices, contributing significantly to rapid yield increases in Asia in the last 15 years. Estimated increases in annual gross income of cassava farmers in Asia due to higher cassava yields in 2009, compared to 1994, were estimated at more than US$1.75 billion.

Asia is today’s leading cassava trader

Thailand and Vietnam are now the world’s leading cassava exporters, with Thailand and Indonesia the region’s biggest producers. With rapid population growth and urban expansion, use of cassava also extends into niche markets, for example in low fat and gluten-free products – a huge opportunity for smallholder farmers, who supply most cassava.

It’s estimated that income accumulated by cassava growers in Thailand from KU 50, between 1993 and 2011, totaled US$1.56 billion dollars. The national economic benefits of investment in cassava production and export continue to improve. In Vietnam alone, cassava currently fetches between 1.3-1.5 billion US$ annually in exports.

Today, 48 CIAT-related cassava varieties in national breeding programs are planted on more than 40 percent of the region’s total cassava-growing area. According to 2015 estimates, the adoption of improved varieties resulting from research involving CIAT and national partners has reached nearly 100% in Thailand and over 90% in Vietnam.

Source: Honor for major food security contributions in Southeast Asia

See more:


        Chúc mừng Năm mới 2016 vui khỏe hạnh phúc

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube
Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Nguyễn Du là bậc anh hùng

NguyenDu

CNM365. TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. 365 chuyện kể mỗi ngày. Nguyễn Du là bậc anh hùng; Nguyễn Du 250 năm nhìn lại; Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa; Nguyễn Du hiền tài lỗi lạc. Đó là loạt bài viết về nhân cách và trí tuệ Nguyễn Du. Từ xưa chính sử và công luận đã nhìn nhận Nguyễn Du là đại thi hào danh nhân văn hóa thế giới. Đến nay sử liệu của chính sử và dã sử được hệ thống hóa theo niên biểu Nguyễn Du (1766 – 1820) đã soi thấu nhiều góc khuất, làm bừng sáng chân dung kẻ sĩ, vàng lầm trong cát, vượt lên vinh nhục bản thân và dòng họ, để lại ngọc cho đời. Di sản của Nguyễn Du là thực tiễn và trước tác, với trí tuệ nhân văn, tầm nhìn mưu lược, “gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo“. Sự thật lịch sử là:  “Nguyễn Du 15 năm lưu lạc” đã hé lộ; “Nguyễn Du Hồ Xuân Hương” mối tình thủy chung đầy đặn, hình tượng Từ Hải và Kiều; So với võ công của Nguyễn Huệ, nhân văn của Nguyễn Du qua thơ “Kỳ Lân mộ” tại “Bắc Hành tạp lục” là kiệt tác văn chương, thấu tình đạt lý, sức mạnh như một đạo quân, đã làm thay đổi chính sách của  vua Thanh và danh tướng Phúc Khang An tổng đốc Lưỡng Quảng, thay vì báo thù rửa hận cho Tôn Sĩ Nghị, đã giữ hòa hiếu lâu dài với Việt Nam. Nguyễn Du là bậc anh hùng quốc sĩ, kỳ tài hiếm có của dân tộc Việt.Nguyễn Du là bậc anh hùng. Và việc Nguyễn Du chống lại Nguyễn Huệ nên đã bị giam lõng ở Nghệ An, có phải lý do đã hé lộ trong bài thơ này? Nguyễn Du đã gác tình nhà không mưu tự lập để đặt chữ hiếu với dân với nước lên trên hết. Nguyễn Du đã toàn tâm toàn ý giúp Nguyễn Ánh trong chuyến đi Chánh sứ lần ấy, với Bắc Hành tạp lục là một sử luận, áng văn ngoại giao xuất sắc nhất từ xưa đến nay, đủ làm cho vua Càn Long nể phục, tự tay viết bức đại tự mến tặng mà không dám dòm ngó đất phương Nam nữa. Nguyễn Du là quốc sĩ, đặt Nhân dân Tổ quốc trên hết. Văn chương Nguyễn Du kiệt tác là vậy.

KỲ LÂN MỘ

Nguyễn Du

Phương Chi Yên Đệ người thế nào?
Cướp ngôi của cháu, đồ bất nhân.
Mỗi khi nổi giận giết mười họ,
Cổn to vạc lớn hại trung thần
Năm năm giết người hơn trăm vạn
Xương chất thành núi máu chảy tràn
Nếu bảo thánh nhân Kỳ Lân xuất
Buổi ấy sao không đi về Nam?

Nguyên văn chữ Hán

Hà huống Yên Đệ hà như nhân
Đoạt điệt tự lập phi nhân quân
Bạo nộ nhân sinh di thập tộc
Đại bỗng cự hoạch phanh trung thần
Ngũ niên sở sát bách dư vạn
Bạch cốt thành sơn địa huyết ân
Nhược đạo năng vị Thánh nhân xuất
Đương thế hà bất Nam du tường?

Bên lề chính sử

… “Đêm tháng Sáu (Nhâm Tuất 1802) đất trời Thăng Long thật mát mẻ… tại một căn nhà nhỏ gần hồ Giám, Nguyễn Du không hề chợp mắt. Người bạn cũ (Đặng Trần Thường) ngạc nhiên khi biết Nguyễn còn sống và càng vui hơn khi biết anh được triệu ra làm quan. Lấy cớ đi đường xa mệt, Nguyễn đi nghĩ sớm, nhưng Nguyễn đâu có ngủ. Đêm nay, dân Thăng Long nhiều người bày hương án ra đường đón Gia Long. Mười ba năm trước (năm Kỷ Dậu 1789) cũng chính những người dân này cũng bày hương án đầy đường mừng Nguyễn Huệ. Hai kẻ thù của nhau đều được họ đón tiếp nồng hậu. Phải lòng dân quay trở theo thời cuộc, ai chiến thắng thì tung hô người đấy, hay lòng dân sau buổi đầu rực rỡ của triều đại Quang Trung đã sớm chán ngán vì sự hà khắc của sự thống trị và cảnh anh em “nồi da nấu thịt” mà ra đón mừng Gia Long? Trong thất vọng, họ hi vọng được gặp vua hiền. Và rồi họ có sớm thất vọng không? Chẳng biết được. Chỉ biết lòng Nguyễn chán ngán. Kết thúc mười năm ăn nhờ ở đậu nơi quê vợ (?) năm năm theo phường săn Ngàn Hống (?), không ràng buộc vào danh lợi, không màng bổng lộc, lòng Nguyễn nguội lạnh công danh, thì giờ lại triệu ra đây để làm quan, để khom lưng quỳ gối trước một ngai vàng mới. Tất cả chỉ tại cái thằng xảo quyệt Đặng Trần Thường. Khi Quang Trung Nguyễn Huệ ra Bắc phế bỏ nhà Lê, ta bảo nó cùng ta chiêu mộ lực lượng đánh lại Tây Sơn thì nó không nghe, đi gặp Ngô Thì Nhậm để kiếm chỗ vinh thân. Bị Ngô Thì Nhậm khinh ghét, nó mới cùng ta đi khắp vùng Hải Dương, Thăng Long tìm người nghĩa khí. Thế nhưng nhà Lê chẳng có bề tôi nào có nghĩa, toàn phường sợ chết nằm im, hắn lại lôi kéo ta vào Nam theo Nguyễn Ánh. “Ngoài này không chốn dung thân, làm gì rồi cũng là thằng cùng đinh thôi. Làm đấng nam nhi phải có quyền lực. Có quyền lực là có tất cả. Phải vào Nam thôi”. Ta không tin cái thằng tráo trở ấy. Chán cảnh người trong một nước đâm chém nhau, ta vùi đầu vào trang sách. Khi Nguyễn Huệ đột ngột chết, ta vào Phú Xuân để kéo Nễ huynh ra khỏi con thuyền Tây Sơn đang chìm dần, thì hắn theo Nguyễn Đình Đắc vào cửa biển Cần Giờ dâng mình cho Nguyễn Ánh. Giờ thì hắn đã là Tán lý Quân vụ. Khi hắn dẫn binh ra lấy Nghệ An một cách dễ dàng thì hắn tiến cử ta với Gia Long. ta đã nói với hắn để cho ta ở lại làm một Hồng Sơn liệp hộ xa chốn cửa quyền, hắn nhất thiết không cho”

… Đặng Trần Thường đưa Nguyễn vào gặp Gia Long. Vừa bước vào cửa chưa kịp cúi chào  thì Hoàng thượng đã vui vẻ chỉ vào chiếc ghé nạm xà cừ:
– Khanh ngồi đi. …
– Trẫm nghe Tán lý Đặng Trần Thường nói nhiều về khanh. Xuân Quận công có những người con thật tài năng. Nguyễn Nễ cũng khá lắm, biết tùy thời mà ứng biến. Khanh ẩn mình, chịu nhiều gian truân, giữ niềm trung với tiên triều là rất quý. Nay ta tạm giao khanh về làm tri huyện Phù Dung cho quen việc, sau ta sẽ giao cho khanh những việc lớn hơn. Được chứ? Vì giang sơn và gia tộc, khanh cố làm cho tốt.
Nguyễn thưa:
– Đội ơn Hoàng thượng.
Sau buổi ấy, ngài lấy Nguyễn Duy Hợp làm Thị trung học sĩ lãnh chức Hiệp trấn Kinh Bắc, Lê Duy Đản làm Kim hoa điện trực sĩ lãnh chức Hiệp trấn Lạng Sơn. Lê Huy Trầm, Ngô Xiêm, Nguyễn Đình Tứ làm Thái hòa điện học sĩ, Phan Thích, Vũ Trinh làm Thị trung học sĩ, một số được củ làm tri huyện. Ba mươi hai học trò Bắc Hà được ghi tên chờ bổ dụng.
Đêm đó Nguyễn và Nễ về nhà Vũ Trinh. Bên bàn rượu, Vũ Trinh nâng chén:
– Mười bốn năm rồi, chúng ta mới được đồng ẩm bên nhau. Xin nâng chén chúc đại huynh và hiền đệ mạnh khỏe, hoạn lộ công thành, mừng chúng ta gặp được minh quân, anh hùng cái thế.
Nễ nâng chén. Nguyễn nâng theo.”Vũ Trinh đang rất vui”. Nguyễn nghĩ thế và chợt nhớ Đoàn Nguyễn Tuấn. Mười ba năm trước, trên Phong Nguyệt sào, một đêm trăng cũng như đêm nay, cùng tam nhân bàn chuyện xuất xử . Đàn Nguyễn Tuấn cũng rất vui. Nễ huynh hăng hái ra, con ta không ra. Hôm nay,  tam nhân nhập thế, nhị huynh hăng hái, còn ta”… Vũ Trinh vui quá hỏi Nễ:
-Mấy lâu nay được gần Hoàng thượng, huynh thấy thế nào?
Ta rất mừng, không ngờ Hoàng thượng lại rộng lượng đến thế. Khi ngài chiếm Phú Xuân, nghĩ mình sẽ chết, ta bèn viết bản điều trần nói rõ thịnh suy của các triều đại là ở mệnh trời còn ta chỉ muốn làm việc cho dân yên. Hoàng thượng khen và tin dùng cho ta ở cạnh ngài. Còn La Sơn phu tử, ngài cũng an ủi cho về nghỉ. Giờ đây chúng ta ra phụng sự ngài là phải.
Nhìn sang Nguyễn. Nễ hiểu lòng chú em yêu vân đầy giông bão “Chú ta vẫn luôn có suy nghĩ khác người và luôn sâu sắc hơn mình”, Nễ hỏi:
-Hiền đệ nghĩ sao?
Nguyễn yên lặng một lúc rồi chậm rãi nói:
– Qua những việc may mắn trong cuộc đời của Nguyễn vương, rồi đến việc Hooa2ng đế Quang Trung đột ngột băng hà thì biết mệnh trời đã trao vào tay họ Nguyễn Gia Miêu. Nay non sông một mối nhưng dân tình hơn ba trăm năm binh đao khốn khổ quá rồi, mình ra gánh vác là phải. Còn Hoàng thượng có rộng lượng không thì cũng chưa rõ. Cái điều rõ nhất là ngài không tin chúng ta: Ba người nắm quyền sinh sát ở Bắc thành là ba kẻ có công đánh đổ Tây Sơn giúp ngài giành ngai vàng, còn chúng ta chỉ là những bề tôi cần để giúp việc, để chứng tỏ triều đại mới quý Lê triều, còn có tin sĩ phu ở Thăng Long không thì chưa rõ. Những võ quan công thầnđược giao quyền sẽ cậy quyền , còn chúng ta tốt, xấu, sống, chết vẫn nằm trong tay họ và chỉ cách nhau một gang tấc mà thôi. Số phận dân chúng nằm trong tay những kẻ võ biền , không hiểu sẽ ra sao?
Vũ Trinh nhìn Nguyễn cười:
– Cậu quá lo xa. Trước mắt Hoàng thượng chưa hiểu chúng ta thì phải thế. Sáng nay, Hoàng thượng gặp bọn anh , ngài rất ân cần , tin tưởng và ban thưởng cho rất hậu nữa. 
Nguyễn nhìn Vũ Trinh: dưới ánh đèn, nét mặt tràn đầy tự tin. Nguyễn định nói: ” Anh rể ơi. Chưa làm được gì mà đã ban phát bỗng lộc thì đó là sự mua chuộc, chưa tin tưởng và cả sự coi thường nữa. Đối với vua chúa sự ban thưởng vàng bạc và ban cho giải lụa hay chén thuốc độc là rất gần nhau”. Thế nhưng, sợ không khí buổi gặp gỡ hiếm hoi này mất vui. Nguyễn nhìn Trinh và Nễ mỉm cười:
– Có thể em nghỉ xa quá, nhưng sao em vẫn không an. Còn Nễ huynh đã hơn ba tháng sống gần Hoàng thượng, huynh nghĩ sao?
Nễ nhìn Nguyễn và Tring- người em ruột và người em rể, không ngờ chú em mình lại nghĩ sâu xa như vậy. Những điều Nguyễn nói chính là tâm sự nặng nề của Nễ bấy lâu. Hơn ba tháng qua, chứng kiến sự biến đổi nhanh chóng của thế cục. Nễ vừa mừng vừa sợ. Gia Long điều binh nhanh chóng, quyết đoán không khác gì cựu hoàng đế Quang Trung nhưng xử xự thì khôn lường. Nguyễn Huệ làm cho Nễ tin phục còn ngài làm cho Nễ sợ. Nễ thấy những bước đường còn lại của mình thật chông chênh. Và những bước đi của hai  người em của mình, một em rễ một em ruột, không hiểu sẽ ra sao? Nể nói:
– Điều chú Bảy nghỉ là đúng. Chúng ta phải rất cẩn trọng. Hoàng thượng có chí, điều quân rất quyết đoán, tài ba nhưng xử sự thì lạ lắm, không lường được. Bắt được con Nguyễn vương là Nguyễn Quang Cương, Nguyễn Quang Tự, Nguyễn Quang Diện vẫn cấp cho tiền bạc, cứ tưởng là được tha, nào ngờ sau đó đưa Nguyễn Quang Cương về Bình Định, Nguyễn Quang Tự, Nguyễn Quang Diện về Gia Định bố cáo cho dân chúng rồi hành hình. Chém vua Cảnh Thịnh nhưng lại lấy Hoàng hậu Lê Thị Ngọc Bình. Triều thần can thì tuyên bố “Cơ nghiệp của nó ta còn chiếm được , còn vợ nó ta không lấy được sao?”. Rồi đến việc đào mộ, bổ săng Nguyễn Vương phơi thây, xé xác lăng trì ba mươi mốt con trai con gái của Ngài, thì thật quá lắm!
Vũ Trinh nói:
– Sát phu đoạt phụ là chuyện không nên, nhưng việc trả thù xưa nay quân vương nào chả thế. Vả lại, Nguyễn Huệ cũng đã sai đô đốc Nguyễn Văn Ngũ phá lăng hoàng khảo Nguyễn Phúc Noãn, vứt hài cốt xuống vực.
Nguyễn trầm ngâm:
– “Ái nữ chi tâm, nhân giai hữu chi”, người đẹp thì ai chẳng thích, gặp trang quốc sắc thiên hương, trượng phu xiêu lòng xưa nay đâu hiếm. Còn điều đó có ảnh hưởng đến quốc sự hay không thì phải đợi xem. Có thể ông ta mê sắc dục , mà cũng có thể ông ta muốn an ủi lôi kéo con cháu nhà Lê. Nếu đúng vậy thì ông ta là kẻ ghê gớm, sẵn sàng bất chấp chê khen can ngăn của cận thần chỉ cốt đạt mục đích lớn của mình.
Vũ Trinh ngạc nhiên nhìn Nguyễn: “mười lăm năm dâu bể, qua bao nỗi đắng cay đã làm cho cậu em vợ thay đổi biết bao. Không còn vẻ ngang tàng tài tử mà trở nên già dặn, thận trọng hơn và cả nhút nhát nữa. Thế nhưng đằng sau mái đầu bạc ấy, phải nhìn nhận cậu ta có những ý nghĩ sắc sảo” Hai người im lặng chờ đợi Nguyễn nó hết ý ủa mình. Nguyễn tiếp:
– Còn chuyện trả thù anh em Tây Sơn đúng là chuyện thường tình, nhưng trả thù đến thế thì quá độc ác. Qua việc này thì thấy ngài cũng như bao kẻ khác mà thôi (Nguyễn định dùng chữ “tầm thường” như bao kẻ khác nhưng kịp rút lại).” …

Trên đây là trích dẫn một số đoạn trong Chương 1, trang 15 – 25,  tác phẩm “Nguyễn Du”, tiểu thuyết lịch sử của nhà văn, nhà giáo Nguyễn Thế Quang. Bên lề chính sử nhưng tra cứu đối chiếu các sự kiện, tư liệu là hoàn toàn khớp đúng với chính sử, đồng thời cũng thể hiện phù hợp với tính cách và số phận của các nhân vật lịch sử.

Yên Đệ

Yên Đệ Minh Thành Tổ là một nhân vật lịch sử nổi bật của Trung Quốc. Sử gia Trung Quốc cho đến nay vẫn gọi ông là Vĩnh Lạc Đế hay Vĩnh Lạc đại đế. Ông được coi là vị Hoàng đế kiệt xuất nhất của triều đại nhà Minh, và là một trong các Hoàng đế kiệt xuất nhất trong lịch sử của Trung Quốc. Thời kỳ của ông về sau được ca ngợi gọi là Vĩnh Lạc thịnh thế, khiến nhà Minh phát triển đỉnh cao về quyền lực trong lịch sử. Nguyễn Du qua tác phẩm “Kỳ Lân mộ” trong Bắc Hành tạp lục, đã mắng thẳng Yên Đệ Minh Thành Tổ  không phải là minh quân. Kẻ bá đạo có thể giành được ngai vàng, thắng được cuộc chiến, xô lệch lịch sử, cướp được nước người, xóa được di sản, nhưng không thể đoạt được lòng người chân thiện mỹ, bia miệng muôn đời vẫn lưu tiếng xấu.

Yên Đệ Minh Thành Tổ Vĩnh Lạc Đế, có tên thật là Chu Đệ, sinh năm 1360 tại Nam Kinh chết năm 1424 , là con trai thứ tư của Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương và Hiếu Từ Cao hoàng hậu Mã thị. Chu Đệ khi sinh thì cha ông là Chu Nguyên Chương đang dấy binh chống lại nhà Nguyên trên đà sụp đổ. Chu Đệ trở thành hoàng tử nhà Minh khi Chu Nguyên Chương xưng đế năm 1368 với niên hiệu Hồng Vũ. Ông được Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương phong làm Yên Vương nên tục danh gọi là Yên Đệ. Ông cướp ngôi của cháu và tự lập làm vua, là vị hoàng đế thứ 3 của nhà Minh, tại vị từ năm 1402 đến năm 1424, tổng cộng 22 năm. Ông  chỉ dùng một niên hiệu Vĩnh Lạc, nên sử gia gọi ông là Vĩnh Lạc Đế.

Yên Đệ khi làm Yên Vương đóng đô ở Bắc Bình (nay là Bắc Kinh). Sau một loạt chiến dịch thành công chống quân Mông Cổ, ông bắt đầu củng cố quyền lực của mình ở phía bắc và tiêu trừ đại tướng Lam Ngọc cùng với  các đối thủ. Lam Ngọc vốn là một danh tướng chỉ đứng sau Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân là các danh tướng khai quốc của nhà Minh.  Lam Ngọc vốn được ví như Vệ Thanh nhà Hán, Lý Tĩnh nhà Đường do có công đánh dẹp người Mông Cổ, mở rộng bờ cõi nhưng do tài năng kiệt xuất oai lấn Chu Nguyên Chương nên Chu Đệ dùng kế hiểm, vu oan cho Lam Ngọc mưu phản. Chu Nguyên Chương cho lực lượng an ninh nội vụ Cẩm Y Vệ vào cuộc, bắt giữ cả nhà Lam Ngọc rồi tru di chín họ cùng 2 vạn người. Thái tử Chu Tiêu mất đi một người ủng hộ hùng mạnh, còn Chu Đệ thì không còn đối thủ trong quân đội nhà Minh ở phía bắc. Đây cũng là tiền đề để Chu Đệ cướp ngôi sau này, khi triều đình không còn danh tướng nào so được với ông.

Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương sau khi mất, người kế vị là Minh Huệ Đế cháu nội của Chu Nguyên Chương. Minh Huệ Đế là con trai thứ hai của Chu Tiêu Ý Văn thái tử (1355-1382) với bà phi họ Lã . Ông là người hiếu học, tính hiếu thảo. Do cha và anh trai ông là Chu Hùng Anh đã mất trước khi Chu Nguyên Chương qua đời cho nên Chu Nguyên Chương lập ông làm người kế vị vào tháng 9 năm 1382. Đến năm 1396, Chu Nguyên Chương cho lập Đông cung vương phủ. Minh Huệ Đế khi còn là hoàng thái tôn, từng dâng biểu đề nghị Minh Thái Tổ cho sửa 73 điều của Luật Hồng Vũ vì ông cho rằng các điều này quá ư nghiêm khắc. Tháng 5 nhuận năm 1398, Chu Nguyên Chương bị bệnh mất, Minh Huệ Đế lên ngôi, đóng đô ở Nam Kinh. Ông thay đổi chính sách của ông mình, giảm bớt hình phạt nghiêm khắc, tha nhiều tù nhân và áp dụng chính sách triệt phiên nhằm tập trung quyền lực về trung ương. ăm 1398, Minh Huệ Đế lên ngôi, Chu Đệ mang quan quân từ Bắc Bình về Nam Kinh viếng cha, Minh Huệ Đế đã sai người chặn lại ở Hoài An bắt Chu Đệ phải quay về Bắc Bình với lý do ba vị vương tử con ông đã được tân hoàng giữ lại thủ hiếu giùm ông. Chu Đệ khóc ầm lên mà nói rằng: “Cùng là cốt nhục chí thân, sao lại làm nhục ta quá vậy?“. Chu Đệ sau khi về nhà thì giả ốm và không lâu sau thì  “phát điên” để bảo toàn cho ba người con trai của ông và tránh chính sách triệt phiên.

Yên Đệ đã lật đổ cháu trai Minh Huệ Đế trong một cuộc nội chiến đẫm máu, vốn bất lợi cho ông vào thời gian đầu, khi ba con trai của ông (Chu Cao Sí, Chu Cao Hú, Chu Cao Toại) còn ở Nam Kinh. Nhưng đến lúc Minh Huệ Đế thấy Chu Lệ sai sứ qua lại với thái độ mềm mỏng, cho rằng Chu Lệ thần phục nên thôi không giữ các con Chu Lệ nữa, thì tháng 7 âm lịch năm 1399, Yên Đệ khởi binh làm phản. Ban đầu, quân triều đình chiếm ưu thế nhưng do  Chu Nguyên Chương trước đó đã lạm sát công thần nên Minh Huệ Đế không còn tướng giỏi cầm quân. Yên Đệ lại là một danh tướng dày dạn chiến trận, vì vậy cán cân lực lượng sau đó ngả về phía Yên Đệ. Tháng 4 năm 1402, quân triều đình thua trận tại Hoài Bắc, quân của Yên Đệ Chu Lệ thừa thắng vượt qua sông Hoài Hà tiến về Trường Giang. Trong chiến sự, vai trò của Chu Cao Hú – một người con của Yên vương được Huệ Đế thả về – có đóng góp rất lớn. Yên Đệ Chu Lệ giành được ngai vàng vào cuối năm 1402.

Yên Đệ đã bắt đầu triều đại của mình bằng cách hợp pháp hóa việc lên ngôi xóa bỏ lịch sử toàn bộ thời gian trị vì của người cháu và thiêu hủy hay sửa đổi tất cả các tài liệu có liên quan đến tuổi thơ và cuộc nổi loạn của mình. Điều này dẫn đến việc thanh trừng vô số quan viên ở Nam Kinh và ban thẩm quyền đặc biệt ngoài vòng pháp luật cho chính sách bí mật của hoạn quan và nội chính. Ông nối tiếp chính sách tập trung của Chu Nguyên Chương, tăng cường thể chế của đế quốc và thành lập thủ đô mới tại Bắc Kinh. Ông cho cải cách khoa cử và  theo đuổi chính sách đối ngoại bành trướng với nhiều chiến dịch quy mô lớn chống lại quân Mông Cổ, đồng thời tăng cường sự ảnh hưởng và cường thịnh của nhà Minh đối với khu vực Đông ÁĐông Nam Á. Vĩnh Lạc Đế thành lập một hạm đội hùng hậu do Trịnh Hòa điều khiển. Trịnh Hòa (13711433) đã dẫn hạm đội xuống Bắc nước Úc, qua bán đảo Ả Rập và có tài liệu cho rằng Trịnh Hòa qua tận châu Mỹ. Hoàng đế còn cho sửa và mở lại Đại Vận Hà và vào khoảng năm 1407 đến năm 1420, trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng Tử Cấm Thành. Dưới thời ông, các học giả đương thời đã hoàn thành công trình đồ sộ Vĩnh Lạc đại điển.

Yên Đệ xô lệch lịch sử bằng cách xóa bỏ hồ sơ thời cai trị của Minh Huệ Đế nhập vào thời kỳ Minh Thái Tổ. Tất cả các đại thần và gia đình họ cùng những kẻ thù  tiềm năng trên hai vạn người đều bị hành hình. Người anh trai cả đã mất của Chu Đệ là Chu Tiêu, vốn được Huệ Đế truy phong làm hoàng đế cũng bị ông giáng xuống làm Ý Văn Thái tử. Một quan viên trung thành của Huệ Đế là Phương Hiếu Nhụ, vốn được coi là bậc đại nho đương thời, không chịu quy hàng Chu Đệ khi Nam Kinh đã bị công phá, còn miệt thị ông là đồ phản tặc. Chu Đệ giận lắm, muốn giết ông nhưng đã bị một người thân tín là hòa thượng Đạo Diễn khuyên can: “Nay giết Nhụ thì tiệt hết cái nòi đọc sách trong thiên hạ, vậy còn ai dám ra sức vì bệ hạ?”. Chu Đệ nghe theo, sai người bắt Phương Hiếu Nhụ viết một đạo chiếu thư giả của Thái Tổ để hợp pháp hóa việc kế vị của mình vì Hiếu Nhụ là người đứng đầu bách quan, bù lại sẽ cho Hiếu Nhụ giữ lại chức quan cùng với tăng thêm bổng lộc, dù rằng chính Hiếu Nhụ là người ra các kế sách triệt phiên, dẫn đến cái chết của người em ruột của Thành Tổ. Phương Hiếu Nhụ nhận lấy giấy bút rồi viết lên bốn chữ to: “Yên tặc soán vị”. Chu Đệ xem xong hận ông lắm nhưng vẫn tiếc, cho đòi ông đến rồi hỏi: “Ngươi không sợ bị tru di chín họ sao?”. Phương Hiếu Nhụ đáp lại: “Tru di mười họ thì đã làm sao?”. Chu Đệ không nhịn nữa, sai người bắt hết thân tộc chín họ của Phương Hiếu Nhụ, lại bảo rằng: “Đã thế thì gom hết môn sinh, bạn bè, hàng xóm của nó lại cho đủ mười họ”, tổng cộng hơn nghìn người đều bị hành quyết. Đây là việc “Tru di thập tộc” nổi tiếng, trước chưa từng có, sau không xuất hiện, làm nổi bật sự tàn bạo của Chu Đệ.

Yên Đệ cướp nước Đại Việt, xóa sạch di sản, thực hiện sự đồng hóa triệt để, với các chính sách hết sức thâm độc và tàn bạo. Với chiêu bài giúp đỡ nước yếu, tăng cường sự ảnh hưởng của nhà Minh đối với khu vực Đông ÁĐông Nam Á, Yên Đệ đã gây chia rẽ Đại Việt với Chiêm Thành tạo cớ gây hấn liên tục từ phương Nam. Với âm mưu nham hiểm “phù Trần diệt Hồ”, năm 1406, Hoàng đế Vĩnh Lạc chính thức đáp lại các thỉnh cầu từ Trần Thiêm Bình – người xưng là dòng dõi nhà Trần đã bị nhà Hồ lật đổ năm 1400. Tuy nhiên khi trở về nước, Trần Thiêm Bình và tướng lĩnh, quân đội nhà Minh đi cùng đã bị quân nhà Hồ đánh bại và bủa vây. Tướng Hoàng Trung phải nhượng bộ xin giao nộp Trần Thiêm Bình cho nhà Hồ bắt giết để được mở đường rút quân về nước. Minh Thành Tổ đã đem hai đạo quân xâm lược Đại Ngu, đánh bại nhà Hồ năm 1407, sau đó thực hiện âm mưu đồng hóa nước Việt một cách lâu dài.

Yên Đệ Minh Thành Tổ đã cho người đốt hết những sách vở, phá hủy những bia đá có khắc văn tự của người Việt, bắt những thợ thủ công có tay nghề cao người Việt thiến đi rồi đưa về Trung Quốc để phục dịch, đàn áp thảm khốc, sưu cao thuế nặng, Nguyễn Trãi đã khẳng định những tội ác mất nhân tính này  trong “Bài cáo bình Ngô”:

Vừa rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,
Để trong nước lòng dân oán hận.
Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ,
Bọn gian tà bán nước cầu vinh.
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế,
Gây binh kết oán trải hai mươi năm.
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu, nước độc.
Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng,
Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán ;
Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa.
Nặng nề những núi phu phen,
Tan tác cả nghề canh cửi.
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.
Lẽ nào trời đất dung tha,
Ai bảo thần nhân chịu được?

Nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại các bộ máy xâm lược nhà Minh. Minh Thành Tổ đã điều các tướng Mộc Thạnh, Trương Phụ sang dẹp các cuộc khởi nghĩa này do Trần NgỗiTrần Quý Khoáng lãnh đạo.  Sau khi họ Trần thất bại, vào đầu năm 1418 một cuộc nổi dậy lớn do Lê Lợi khởi xướng. Năm 1424 nghĩa quân Lam Sơn đã chiếm lại gần như toàn bộ vương quốc đúng lúc Yên Đệ chết. Năm 1427, Minh Tuyên Tông đã chính thức thừa nhận nền độc lập của Việt Nam với điều kiện Đại Việt chấp nhận làm chư hầu và phải cống nạp người vàng tượng trưng cho Liễu Thăng bị giết ở ải Chi Lăng mỗi lần đi sứ.

Kỳ Lân mộ

Kỳ Lân mộ là kiệt tác của Nguyễn Du trong Bắc Hành tạp lục. Tác phẩm được Nguyễn Du chính thức công bố vào năm Quý Dậu (1813) khi ông là Chánh sứ của đoàn sứ thần của Nguyễn Ánh sáng thông hiếu với nhà Thanh năm Gia Long thứ 12 và Gia Khánh thứ 17. “Kỳ Lân mộ” lấy từ điển tích đã được ghi trong chính sử:  “Năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1406) có con Kỳ Lân xuất hiện ở Nam Dương. Quan trấn sai mang lên Bắc Kinh dâng Minh Thành Tổ. Nào ngờ đến đây Kỳ Lân chết. Viên quan sai chôn ở đây và lập bia để ghi lại chuyện đó. Mộ bị mưa gió san phẳng còn lại tấm bia này.”

Nguyễn Du thực ra đâu phải đến năm 1813 mới lên Bắc Kinh “Nghêu ngao vui thú yên hà / Mai là bạn cũ, hạc là người thân” mà từ sau năm 1787, khi Nguyễn Du cùng với Nguyễn Đăng Tiến và Nguyễn Quýnh, khởi nghĩa chống Tây Sơn tại Tư Nông thất bại, Vũ Văn Nhậm tha cho đi không giết. Cả ba lên đường đi Vân Nam. Nguyễn Du đi nhiều nơi ở Trung Quốc. Nguyễn Du tham gia trong các sứ đoàn Tây Sơn, sứ đoàn Nguyễn Ánh trước đó, vì Nguyễn Du có anh ruột là Nguyễn Nễ và anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn có vị trí trọng yếu trong đoàn. Bắc Hành tạp lục nhiều bài viết trong thời gian mười lăm năm lưu lạc, Truyện Kiều cũng vậy. Chuyến đi sứ của Nguyễn Du năm 1813 chỉ là sự hệ thống hóa, hợp thức hóa tác phẩm mà thôi. Nguyễn Du đã gặp vua Càn Long trước năm 1813. Ông đã được tặng bức đại tự Hồng Sơn liệp hộ trước đó.

Nguyễn Du là bậc anh hùng.

Hoàng Kim

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Phan Khôi nắng được thì cứ nắng

PhanKhoi

CNM365. TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. 365 chuyện kể mỗi ngàyNgày 6 tháng 10 năm 1887 là ngày sinh của cụ Phan Khôi, “nắng được thì cứ nắng“, “ngự sử văn đàn Việt“, nhà báo, học giả nổi tiếng Việt Nam (mất ngày 16 tháng 1 năm 1959). Thích bài thơ của cụ Nắng được thì cứ nắng: “Nắng chiều đẹp có đẹp. Tiếc tài gần chạng vạng. Mặc dù gần chạng vạng. Nắng được thì cứ nắng “. Thăm cô cháu xinh đẹp tài hoa Nguyễn Tuyết Hạnh của nhà triết học, bần thần về bài thơ hay. Chợt nhớ bài thơ của cụ Hoàng Thừa Ngạn, bố vợ  Khổng Minh Gia Cát Lượng: “Một đêm gió lạnh lùng, Muôn dặm mây đỏ ối. Bời bời hoa tuyết bay, Nước non hình sắc đổi, Ngẩng mặt trông trên trời, Tưởng là rồng ngọc chọi, Vây mai tua tủa bay, Một lát khắp bốn cõi, Cưỡi lừa qua cầu con, Than vì mai gầy cỗi.” . Lưu lại điểm nhớ Sông Thương này để viết bài …

Hoàng Kim

Dạy và học Tình yêu cuộc sống
 

        Chúc mừng Năm mới 2016 vui khỏe hạnh phúc

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

 


Chúc mừng Viện KHKTNN Miền Nam
90 năm  (1925-2015) xây dựng và phát triển  

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Tổng thống Obama lời nhắn sau cùng

Obama1

CNM365. TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. 365 chuyện kể mỗi ngày. Tổng thống Obama lời nhắn sau cùng. Tổng thống Barack Obama đọc Thông điệp Liên bang cuối cùng trong nhiệm kỳ của mình trước lưỡng viện Quốc hội Mỹ vào lúc 21h ngày 12/1/2016 (giờ Mỹ), tức 9h sáng 13/1/2016 giờ Việt Nam. Vị tổng thống này và bài viết này, tôi tin rằng, sẽ có nhiều người còn đọc lại. Sáu điểm nhấn đủ chuyển tải một thông điệp mạnh mẽ. Dấu ấn Obama tốt đẹp. Obama lời nhắn sau cùng xuất sắc.  Cảm ơn Obama.

Toàn văn Thông điệp Liên bang cuối cùng của Tổng thống Mỹ Barack Obama

Tổng thống Barack Obama đọc Thông điệp Liên bang cuối cùng trong nhiệm kỳ của mình trước lưỡng viện Quốc hội Mỹ vào lúc 21h ngày 12/1 (giờ Mỹ), tức 9h sáng 13/1 giờ Việt Nam.

LTS: Tính đến nay, ông Obama đã đọc 6 bản Thông điệp Liên bang (State of the Union), cùng một bài phát biểu có hình thức tương tự trước Quốc hội Mỹ sau khi trở thành ông chủ Nhà Trắng không lâu.

Trong 2 nhiệm kỳ, ông đã đề ra nhiều chính sách, thực hiện các báo cáo sâu rộng về tầm nhìn quốc gia của ông, cũng như không ít lần thách thức Quốc hội để thông qua các đạo luật.

Trong Thông điệp cuối cùng ngày hôm nay, ông nhìn lại những vấn đề được nêu ra trước đây, cùng những gì đã thực hiện và chưa thực hiện trong các lĩnh vực đó.

Dưới đây, chúng tôi xin gửi tới quý độc giả toàn văn Thông điệp Liên bang 2016 của Tổng thống Mỹ Barack Obama.

Giáo sư-Tiến sĩ Báo chí Truyền thông, Đại học Tổng hợp Messiah, Mỹ
Edward Arke
Theo tôi, Tổng thống cần nhắc tới vấn đề an ninh nội địa trong bài thông điệp liên bang của mình. Dù biết rằng Mỹ là nơi an toàn hơn nhiều địa điểm khác trên thế giới, rất nhiều công dân Mỹ đang bất an trước những mối đe dọa bạo lực gần đây. Mối đe dọa từ khủng bố là đương nhiên, nhưng quan trọng hơn, mà lại ít được nói đến hơn, là mối đe dọa từ chính những người đồng hương, và việc sử dụng vũ khí bừa bãi của họ.

Thưa ngài Chủ tịch Hạ viện, Ngài Phó Tổng thống, các Nghị sĩ Quốc hội, và toàn thể người dân nước Mỹ:

Đêm nay đánh dấu năm thứ 8 tôi đứng tại đây để tổng kết về tình hình nước Mỹ. Và trong Thông điệp Liên bang lần cuối này, tôi sẽ cố gắng nói ngắn gọn hơn. Vì tôi biết rất nhiều người trong số các bạn đang nôn nóng muốn xong nhanh để trở lại Iowa lắm rồi (bang Iowa là địa điểm diễn ra đợt bầu cử sơ bộ đầu tiên của mùa tranh cử Tổng thống 2016 – PV).

Tôi hiểu điều đó bởi mùa bầu cử đang diễn ra, và trong lúc này, kì vọng về những thành tựu chúng ta sẽ đạt được trong năm nay không nhiều. Nhưng, thưa ngài Chủ tịch Hà viện, tôi vẫn đánh giá cao hướng đi mang tính xây dựng của ông và những nhà lãnh đạo khác cuối năm ngoái, để chúng ta có thể thông qua ngân sách và cắt giảm thuế cho những người dân lao động nước Mỹ.

Vì thế, tôi hi vọng chúng ta có thể tiếp tục hợp tác trong năm nay, trong các ưu tiên của cả hai đảng như cải cách bộ luật hình sự, và hỗ trợ những người dân đang phải chống chọi với lạm dụng thuốc kê đơn. Và như vậy chúng ta sẽ một lần nữa lại có thể gây bất ngờ cho những ai còn đang hoài nghi.

Nhưng đêm nay, tôi không muốn tập trung vào việc liệt kê những đề xuất cho năm mới. Đừng lo, tôi vẫn có nhiều đề xuất lắm, từ việc hỗ trợ học sinh sinh viên viết code máy tính cho đến việc cá nhân hóa điều trị cho các bệnh nhân.

Và tôi sẽ còn tiếp tục đẩy mạnh thực hiện những việc cần làm. Đó là sửa đổi một hệ thống nhập cư nhiều lỗ hổng. Bảo vệ con em chúng ta khỏi bạo lực súng đạn. Đảm bảo công bằng thu nhập, nghỉ phép có lương, tăng mức lương tối thiểu.

Tất cả những điều đó đều rất quan trọng đối với tầng lớp lao động. Tất cả đều là những việc cần làm, và tôi sẽ không từ bỏ, chừng nào chúng chưa được thực thi.


Ảnh: New York Times

Ảnh: New York Times

Nhưng trong bài phát biểu cuối cùng tại điện Capitol hôm nay, tôi không muốn chỉ nói đến năm tới, mà tôi muốn nhấn mạnh vào những gì sẽ diễn ra trong 5 năm, 10 năm tới, và xa hơn nữa.

Tôi muốn nhấn mạnh vào tương lai của chúng ta.

Chúng ta đang sống trong một thời đại của những thay đổi lớn lao – những thay đổi trong cuộc sống hàng ngày, trong công việc, hay xa hơn là thay đổi với cả hành tinh cũng như vị trí của chúng ta trên thế giới này.

Sự thay đổi ấy hứa hẹn những đột phá tuyệt vời trong y học, nhưng cùng với đó là những rào cản kinh tế kìm hãm sự phát triển của tầng lớp lao động.

Sự thay đổi ấy hứa hẹn trao cho các em gái ở những ngôi làng hẻo lánh nhất cơ hội được đến trường, nhưng cùng với đó cũng mở đường cho âm mưu của những tên khủng bố ở bên kia đại dương.

Sự thay đổi ấy sẽ mở ra những cơ hội mới, hoặc làm trầm trọng hơn vấn đề bất bình đẳng. Và dù chúng ta có muốn vậy hay không, thì sự thay đổi ấy vẫn sẽ diễn tiến với tốc độ chóng mặt.

Nước Mỹ đã trải qua những sự thay đổi lớn như vậy trong quá khứ – với những cuộc chiến tranh, những cuộc khủng hoảng tài chính, những dòng người di cư đổ về, những người lao động đấu tranh vì quyền lợi, và những phong trào kêu gọi mở rộng quyền công dân.

Mỗi lần như vậy, lại xuất hiện những người nói rằng chúng ta nên sợ hãi né tránh tương lai, những người khẳng định chúng ta phải kìm hãm sự thay đổi, và hứa hẹn rằng chỉ bằng việc kiểm soát một nhóm người hay một hệ tư tưởng nào đó đang đe dọa thì nước Mỹ, thì chúng ta có thể đưa nước Mỹ trở về thời hoàng kim trong quá khứ.

Và mỗi lần như vậy, chúng ta đều vượt qua những nỗi sợ. Như Lincoln đã từng nói, chúng ta không tuân theo “những giáo lý bảo thủ của quá khứ”. Thay vào đó, chúng ta mới mẻ hóa trong cả suy nghĩ lẫn hành động.

Chúng ta đã khiến những sự thay đổi ấy trở nên có ích, mở rộng nước Mỹ của những hứa hẹn tới một giới hạn mới, tới ngày một nhiều người hơn. Và vì chúng ta nhận ra cơ hội khi người khác chỉ thấy được rủi ro, nên chúng ta luôn vươn lên mạnh mẽ và phát triển hơn trước.

Những gì đã đúng khi xưa hoàn toàn có thể áp dụng cho cả hiện tại. Những thế mạnh đặc trưng của đất nước chúng ta – sự lạc quan và tác phong làm việc, tinh thần tìm hiểu và đổi mới, sự đa dạng và cam kết tôn trọng luật pháp – những thế mạnh ấy cho chúng ta mọi thứ mình cần cần để đảm bảo một tương lai thịnh vượng và an toàn cho nhiều thế hệ sau này.


Trước giờ đọc Thông điệp Liên bang, Tổng thống Obama đã chia sẻ trên Twitter rằng ông coi Thông điệp lần cuối cùng này cũng giống như lần đầu tiên, bởi ông vẫn còn nhiều điều mong mỏi.

Trước giờ đọc Thông điệp Liên bang, Tổng thống Obama đã chia sẻ trên Twitter rằng ông coi Thông điệp lần cuối cùng này cũng giống như lần đầu tiên, bởi ông vẫn còn nhiều điều mong mỏi.

Thật vậy, chính tinh thần ấy là động lực thúc đẩy những tiến bộ trong 7 năm vừa qua. Tinh thần ấy đã giúp chúng ta phục hồi sau cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất trong nhiều thế hệ.

Tinh thần ấy đã giúp chúng ta cải cách hệ thống bảo hiểm y tế, và tái tạo ngành công nghiệp năng lượng.

Tinh thần ấy đã giúp chúng ta chăm sóc tốt hơn và đem lại nhiều quyền lợi hơn cho các quân nhân Mỹ, và cũng chính tinh thần ấy đã giúp chúng ta trao quyền tự do cho công dân nước Mỹ ở tất cả các bang được lập gia đình với người mà họ yêu thương (ý nói đạo luật hôn nhân đồng tính được Tòa án tối cao Mỹ thông qua hồi tháng 6 năm ngoái – PV).

Nhưng những tiến bộ nói trên không phải cứ thế mà có. Đó là hệ quả của những sự lựa chọn chúng ta cùng nhau đưa ra. Và chúng ta cũng đang đứng trước những lựa chọn như vậy.

Liệu chúng ta sẽ đối mặt với những lựa chọn của thời đại này với nỗi sợ hãi, để rồi cả nước tụt hậu và người Mỹ quay sang đấu đá lẫn nhau?

Hay chúng ta sẽ hướng tới tương lai với sự tự tin vào chính mình, tự tin vào những giá trị mà chúng ta đấu tranh để gìn giữ, và tự tin vào những điều phi thường mà chúng ta có thể làm được cùng nhau?

Vì thế, hãy nói đến tương lai, và 4 câu hỏi lớn mà chúng ta, với tư cách một dân tộc, phải trả lời cùng nhau – bất kể vị Tổng thống kế tiếp có là ai, hay đảng nào sẽ kiểm soát Quốc hội sau kì bầu cử tới đi chăng nữa.

Thứ nhất, làm cách nào để chúng ta trao cơ hội bình đẳng và một sự đảm bảo tài chính cho tất cả mọi người trong bối cảnh kinh tế mới hiện nay?

Thứ hai, làm cách nào để chúng ta có thể tận dụng công nghệ, thay vì để nó gây ảnh hưởng tiêu cực tới chính mình – nhất là trong việc giải quyết những thách thức cấp bách như biến đổi khí hậu?

Thứ ba, làm cách nào để chúng ta đảm bảo an toàn cho nước Mỹ, và lãnh đạo thế giới này mà không trở thành “cảnh sát” của nhân loại?

Và cuối cùng, làm cách nào chúng ta thay đổi cách làm chính trị để thể hiện những gì tốt đẹp nhất của nước Mỹ, thay vì phơi bày ra những gì xấu xí nhất?

Obama2

1. “Nền kinh tế mạnh nhất thế giới”

Tôi xin được bắt đầu với nền kinh tế, bằng một sự thật “nho nhỏ”: Nước Mỹ hiện nay đang có nền kinh tế mạnh nhất, và ổn định nhất trên thế giới.

Lượng công ăn việc làm tạo ra trong hệ thống các công ty tư nhân đang ở mức cao nhất trong lịch sử. Hơn 14 triệu công việc mới; lượng công ăn việc làm tạo ra trong kì 2 năm ở mức cao nhất kể từ thập niên 90; tỉ lệ thất nghiệp giảm một nửa.

Nền công nghiệp ô tô vừa trải qua năm thành công nhất. Công nghiệp chế tạo máy đã tạo ra gần 900.000 công ăn việc làm trong 6 năm qua. Và chúng ta đạt được tất cả những thành tựu nói trên trong khi vẫn cắt giảm được gần 3/4 lượng thâm hụt ngân sách.

Những ai khẳng định kinh tế Mỹ đang suy thoái đều chỉ là ảo tưởng. Thực chất – và lý do tại sao nhiều người Mỹ cảm thấy bất an – là nền kinh tế đang thay đổi một cách rõ rệt trong thời gian qua, những sự thay đổi đã bắt nguồn từ trước Đại Khủng Hoảng và đến nay vẫn chưa hoàn tất.

Ngày nay, công nghệ không chỉ thay thế những công nhân làm việc trong nhà máy, mà ở bất kì nơi đâu, bất kì công việc nào có thể được tự động hóa. Các công ty trong thời đại kinh tế toàn cầu có thể “đóng đô” ở bất cứ đâu họ muốn, và phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt hơn.

Kết quả là những người lao động không có nhiều lý do để xin tăng lương. Các công ty cũng có ít lý do hơn để trung thành với cộng đồng nơi họ hoạt động. Và sự khác biệt giàu nghèo ngày càng rõ rệt.

Tất cả những xu thế trên đã bóp nghẹt tầng lớp lao động, dù rằng họ vẫn có công ăn việc làm. Tuy kinh tế đang phát triển, nhưng các gia đình ở tầng lớp lao động đang gặp nhiều khó khăn để kéo mình ra khỏi diện nghèo. Giới trẻ gặp nhiều khó khăn để khởi nghiệp, người già cũng khó lòng về hưu khi họ muốn.

Và cho dù tất cả những xu thế nói trên không chỉ riêng ở Mỹ mới có, chúng vẫn là một thách thức đối với niềm tin trong mỗi người dân nước Mỹ, rằng bất kì ai hăng say làm việc đều xứng đáng có được cơ hội bình đẳng.

Trong 7 năm qua, mục tiêu của chúng ta là một nền kinh tế phát triển và có lợi hơn cho tất cả mọi người. Chúng ta đã có những bước tiến nhất định trong việc đạt được mục tiêu ấy. Nhưng chúng ta cần nhiều hơn thế.

Và dù chúng ta vẫn có nhiều bất đồng chính trị trong những năm qua, vẫn còn đó những khía cạnh mà tất cả mọi công dân Mỹ có thể đồng tình.

Chúng ta nhất trí rằng cơ hội thật sự cho mỗi người dân Mỹ đồng nghĩa với việc họ phải được giáo dục và đào tạo để kiếm được một công việc trả lương ổn.

Cải cách “Không để bất kì đứa trẻ nào bị tụt hậu” (No Child Left Behind) là một xuất phát điểm quan trọng. Cùng với nhau, chúng ta đã tăng số lượng những trung tâm giáo dục trẻ nhỏ, tăng tỉ lệ tốt nghiệp cấp 3 lên mức cao nhất từ trước đến nay, và tăng số lượng sinh viên tốt nghiệp ở các ngành nghề như kĩ sư.

Trong những năm tới, chúng ta cần tiếp nối những bước tiến ấy, bằng việc trao cơ hội được học mẫu giáo cho tất cả các em nhỏ, bằng việc trang bị kĩ năng toán tin sao cho học sinh sinh viên có thể sẵn sàng ngay trong ngày đầu làm việc, và bằng việc tuyển mộ thêm nhiều thầy cô giáo tuyệt vời hơn nữa cho con em chúng ta.

Và chúng ta phải làm sao để mỗi người dân Mỹ đều có đủ điều kiện học đại học. Vì không một sinh viên học hành chăm chỉ nào đáng phải chịu cảnh nợ nần để có thể được học đại học. Chúng ta đã cắt giảm được lượng tiền trả nợ định kì xuống còn 10% thu nhập của người vay. Nay, chúng ta phải cắt giảm học phí đại học.

Miễn phí hoàn toàn 2 năm cao đẳng cộng đồng (community college) cho mỗi sinh viên là một trong những cách tốt nhất để làm được điều đó, và tôi sẽ tiếp tục đấu tranh để dự luật này được thông qua trong năm nay.

Đương nhiên, một nền giáo dục phát triển không phải là tất cả những gì chúng ta cần trong nền kinh tế hiện nay. Chúng ta còn cần những lợi ích, sự bảo vệ, như một hình thức đảm bảo cơ bản cho tương lai.

Không phải cường điệu khi nói rằng một vài trong số những người Mỹ hiếm hoi được làm cùng một nghề, cùng một nơi, có bảo hiểm y tế và gói lương hưu đầy đủ, trong 30 năm, đang ngồi trong khán phòng hôm nay.

Còn với những người khác, đặc biệt là những người trong độ tuổi 40-50, tiết kiệm để về hưu hay phục hồi sau khi mất việc là một thách thức đang trở nên khó khăn hơn rất nhiều.

Người Mỹ cần hiểu rằng vào một lúc nào đấy trong sự nghiệp của mình, họ có thể sẽ phải đổi ngành, đổi nghề. Nhưng thật không phải khi họ mất đi những gì mình đã cố gắng rất nhiều năm để gây dựng nên.

Đó là lý do tại sao Bảo hiểm Xã hội và Medicare đang trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Chúng ta phải cải thiện hai hệ thống này, thay vì làm yếu chúng. Và với bộ phận người Mỹ sắp về hưu, những quyền lợi cơ bản cần được linh hoạt như mọi thứ khác ở thời đại này.

Đó cũng chính là tinh thần của Đạo luật Affordable Care Act (hay còn được biết đến với cái tên Obamacare – PV). Nó giúp bồi lấp khoảng trống bảo hiểm phụ thuộc công ty chủ quản mà người lao động mất đi sau khi mất việc, hay trở lại đi học, hay khởi nghiệp, sao cho khi đó họ vẫn được bảo hiểm.

Gần 18 triệu người Mỹ đã có được quyền lợi này tính đến thời điểm hiện nay. Lạm phát y tế đã giảm. Và các công ty đã tạo thêm được công ăn việc làm đều đặn hàng tháng kể từ khi đạo luật được kí kết.

Tôi cũng đoán được rằng còn lâu chúng ta mới có thể chung quan điểm về vấn đề bảo hiểm y tế. Nhưng chắc chắn phải có cách nào đó để cả hai đảng cải thiện an ninh kinh tế.

Giả sử một người Mỹ làm việc chăm chỉ nhưng mất việc – chúng ta không chỉ cần đảm bảo rằng anh ta được hưởng bảo hiểm thất nghiệp, và còn phải đảm bảo anh ấy được học nghề để một công ty khác sẵn sàng tuyển mộ.

Nếu công việc mới có lương bổng không cao như trước thì phải có một hệ thống bảo hiểm thu nhập sẵn sàng để hỗ trợ anh ấy chi trả các chi phí hàng tháng.

Và chúng ta cần đảm bảo rằng kể cả khi liên tục phải nhảy việc, anh ấy vẫn có thể giữ lại một chút gì đó để về hưu với một khoản tiết kiệm đủ sống. Đó là cách chúng ta có thể khiến nền kinh tế mới này có ích hơn cho mọi người.

Tôi cũng biết rằng Ngài Chủ tịch Hạ viện Ryan từng nói về ưu tiên giảm nghèo. Tinh hoa của nước Mỹ nằm ở chỗ chúng ta luôn sẵn lòng dang tay giúp đỡ bất cứ ai có tinh thần sẵn sàng làm việc, và tôi luôn sẵn lòng thảo luận nghiêm túc về những chiến lược tất cả chúng ta có thể nhất trí để làm được điều đó, như mở rộng cắt giảm thuế đối với những người lao động thu nhập thấp và không có con cái.

Obama3

Nhưng còn nhiều mảng khác mà trong suốt 7 năm qua, sự đồng thuận là một cái gì đó quá khó khăn – cụ thể là vai trò của chính phủ trong việc đảm bảo hệ thống không bị lợi dụng để phục vụ lợi ích của những tập đoàn giàu có. Và cũng chính trong vấn đề này, người Mỹ có quyền được lựa chọn.

Tôi tin rằng một hệ thống doanh nghiệp tư nhân phát triển chính là xương sống của nền kinh tế chúng ta. Tôi nghĩ có những luật lệ đã quá lỗi thời cần phải thay đổi, có những sự quan liêu thừa thãi cần phải cắt bỏ.

Nhưng sau nhiều năm ghi nhận doanh thu kỉ lục của các tập đoàn tư nhân, tầng lớp lao động không thể có thêm cơ hội hay tăng thêm thu nhập cho riêng mình nếu cứ để những ngân hàng lớn, những tập đoàn dầu khí quyền lực, hay những quỹ đầu tư khổng lồ tiếp tục đặt ra luật lệ riêng khiến người khác phải chịu khổ; hay cứ để yên cho những đợt công kích nhắm vào hoạt động thương lượng tập thể của người lao động tiếp diễn.

Tem phiếu không phải tác nhân gây ra khủng hoảng tài chính, mà là do sự vô trách nhiệm của Phố Wall.

Những người nhập cư không phải lý do tại sao mức lương không tăng; mà là do những quyết định của hội đồng quản trị, những người thường chỉ biết ưu tiên doanh thu theo quý mà không suy tính lợi nhuận đường dài.

Và những kẻ trốn thuế bằng cách lập tài khoản ở nước ngoài chắc chắn không nằm trong những hộ gia đình trung lưu đang nghe bài phát biểu của tôi hôm nay.

Trong nền kinh tế mới này, người lao động, người khởi nghiệp, và những hộ kinh doanh nhỏ lẻ cần một tiếng nói đại diện cho họ. Luật lệ cần được tạo ra để có ích cho họ.

Và năm nay, tôi dự kiến ưu tiên đề cao rất nhiều những doanh nghiệp đã nhận ra rằng, đối xử công bằng với người làm thuê sẽ tốt cho cổ đông của họ, khách hàng của họ, và cộng đồng xung quanh họ, sao cho những đường lối tiến bộ này có thể được truyền bá khắp nước Mỹ.

Thật vậy, rất nhiều công dân làm tư nhân cũng chính là những bộ óc sáng tạo nhất nước Mỹ. Điều này đưa tôi đến câu hỏi lớn thứ hai mà chúng ta, với tư cách một dân tộc, cần cùng nhau tìm ra câu trả lời: Làm cách nào chúng ta đốt cháy lại ngọn lửa của tinh thần sáng tạo để đáp ứng những thách thức lớn nhất hiện nay?

“Tinh thần khám phá nằm trong DNA”

60 năm trước, khi người Nga đánh bại chúng ta trên mặt trận công nghiệp vũ trụ, chúng ta không phủ nhận việc vệ tinh Sputnik của họ đã lên được vũ trụ.

Chúng ta không tranh cãi về mặt khoa học, hay giảm ngân sách nghiên cứu và phát triển công nghiệp vũ trụ. Thay vào đó, chúng ta xây dựng một chương trình nghiên cứu không gian gần như chỉ sau một đêm, và 12 năm sau, người Mỹ đã bước chân lên mặt trăng.

Tinh thần khám phá ấy đã nằm trong DNA của chúng ta. Chúng ta là Thomas Edison, là anh em nhà Wright, là George Washington Carver. Chúng ta là Grace Hopper, là Katherine Johnson, là Sally Ride.

Chúng ta là tất cả những người nhập cư và khởi nghiệp từ Boston hay Austin đến Thung lũng Silicon, tất cả vì mục đích khiến thế giới trở nên tốt đẹp hơn. Và trong 7 năm qua, chúng ta đã nuôi dưỡng được tinh thần ấy.

Chúng ta đã bảo vệ được hệ thống mạng Internet mở, và bước những bước bạo dạn trong việc giúp ngày càng nhiều sinh viên cùng những người Mỹ có thu nhập thấp được sử dụng Internet.

Chúng ta đã khởi xướng những mạng lưới sản xuất thế hệ mới, những công cụ online, giúp những người có chí được trang bị mọi thứ mình cần để khởi nghiệp chỉ trong một ngày.

Nhưng chúng ta có thể làm được nhiều hơn thế. Năm ngoái, Phó Tổng thống Biden nói rằng với quyết tâm cao, nước Mỹ có thể tìm ra cách chữa trị ung thư.

Tháng trước, ông Biden đã làm việc với Quốc hội để trao cho những nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu Sức khỏe Quốc gia một đợt trang bị tài nguyên mạnh mẽ nhất trong hơn một thập kỉ qua.

Đêm nay, tôi muốn tuyên bố khởi xướng một chiến dịch mang tầm cỡ quốc gia nhằm đạt được mục tiêu đó.

Và bởi ông đã hi sinh rất nhiều cho chúng ta, ở rất nhiều khía cạnh trong 40 năm qua, tôi xin được trao cho Joe (Biden) quyền quản lý Nhiệm vụ Kiểm soát (Mission Control).

Vì tất cả những người thân đã rời xa chúng ta, vì tất cả những gia đình chúng ta vẫn có thể cứu giúp, hãy cùng nhau biến nước Mỹ trở thành quốc gia đầu tiên chữa trị được ung thư.

Obama4

Nghiên cứu y học là một việc làm mấu chốt. Chúng ta cần quyết tâm cao độ, giống như khi phát triển các nguồn tài nguyên năng lượng sạch.

Nếu ai đó vẫn muốn phản bác tính khoa học của vấn đề biến đổi khí hậu thì cứ việc. Bạn sẽ đơn độc thôi, vì bạn sẽ phải tranh cãi với quân đội, phần lớn những doanh nhân hàng đầu, đại đa số người dân Mỹ, và gần như tất cả cộng đồng người làm khoa học, cũng như 200 quốc gia trên khắp thế giới, tất cả đều có chung quan điểm rằng đây là một vấn đề cần phải được giải quyết.

Nhưng kể cả khi đây không phải vấn đề; kể cả khi 2014 không phải là năm nóng nhất trong lịch sử – để rồi 2015 phá vỡ kỉ lục cũ của 2014 – thì tại sao chúng ta lại muốn bỏ qua cơ hội cho các doanh nghiệp Mỹ được sản xuất và phân phối nguồn năng lượng của tương lai?

7 năm trước, chúng ta đã thực hiện vụ đầu tư vào năng lượng sạch lớn nhất trong lịch sử. Kết quả như sau. Trên các đồng ruộng trải dài từ Iowa tới Texas, năng lượng gió đang có giá rẻ hơn các nguồn năng lượng bẩn truyền thống.

Trên những mái nhà xuyên suốt từ Arizona sang New York, năng lượng mặt trời đang tiết kiệm cho người Mỹ hàng chục triệu USD chi phí năng lượng mỗi năm, và tạo nhiều công ăn việc làm hơn, với thu nhập cao hơn mức trung bình so với ngành công nghiệp khai thác than.

Chúng ta đang đạt những bước tiến trong việc trao quyền tự do người Mỹ được chế tạo và lưu giữ năng lượng cho riêng mình – điều mà những nhà môi trường học cũng như cả các nghị sĩ bảo thủ đều ủng hộ.

Cùng lúc đó, chúng ta cũng đã cắt giảm gần 60% lượng dầu mỏ nhập khẩu, cắt giảm lượng ô nhiễm carbon nhiều hơn bất cứ quốc gia nào khác trên Trái đất.

À, giá xăng dưới 2 USD/gallon cũng không tệ. (1 gallon = 3,78 lít – PV)

Giờ chúng ta cần đẩy nhanh tiến độ “tẩy chay” năng lượng bẩn. Thay vì tiếp tục trợ cấp cho những thứ đã thuộc về quá khứ, chúng ta cần đầu tư vào tương lai – nhất là tại các cộng đồng vẫn phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch.

Đó là lý do tại sao tôi sẽ thúc đẩy việc thay đổi cách quản lý nguồn năng lượng dầu khí và than đá, nhằm thể hiện rõ nét hơn cái giá mà chúng gây ra cho người dân Mỹ cũng như hành tinh của chúng ta.

Có như vậy, chúng ta mới tạo công ăn việc làm được cho những cộng đồng nói trên, cũng như tạo công ăn việc làm cho hàng chục nghìn người Mỹ trong việc xây dựng một hệ thống giao thông của thế kỉ 21.

Đương nhiên những điều này sẽ không thể đạt được trong một sớm một chiều, và đương nhiên vẫn còn rất nhiều cá nhân tổ chức vì lợi ích riêng mà muốn giữ nguyên hiện trạng.

Nhưng với những việc làm chúng ta tạo ra, với những khoản tiền chúng ta tiết kiệm được, và với hành tinh chúng ta gìn giữ – đó mới là viễn cảnh tương lai mà con cháu chúng ta xứng đáng được hưởng.

Obama5

Biến đổi khí hậu chỉ là một trong nhiều những vấn đề mà an ninh quốc gia Mỹ có liên hệ mật thiết với phần còn lại của thế giới.

Đó là lý do tại sao câu hỏi thứ ba mà chúng ta cần cùng nhau tìm lời giải đáp là làm cách nào đảm bảo sự an toàn và vững mạnh của nước Mỹ mà không tự cô lập bản thân hay cố gắng xây dựng lại nhà nước ở bất cứ nơi đâu có vấn đề.

“Nước Mỹ là quốc gia hùng mạnh nhất trên Trái đất. Chấm hết.”

Tôi đã nói với các bạn trước đó rằng, tất cả những lời bàn tán về việc kinh tế Mỹ đang suy thoái chỉ mang màu sắc chính trị mà thôi. Tương tự như vậy là những thứ các bạn nghe được về việc những kẻ thù của chúng ta đang mạnh lên, còn Mỹ lại đang yếu đi.

Nước Mỹ là quốc gia hùng mạnh nhất trên Trái đất. Chấm hết. Không có gì phải bàn cãi. Chi tiêu quân sự của chúng ta cao hơn tổng chi của 8 nước đứng sau.

Quân đội Mỹ là lực lượng chiến đấu tinh nhuệ nhất trong lịch sử thế giới. Không một nước nào dám tấn công chúng ta, hay các đồng minh của chúng ta, vì họ hiểu rằng đó là con đường dẫn tới thất bại.

Các con số thăm dò dư luận cho thấy vị thế của nước Mỹ trên trường quốc tế hiện nay cao hơn so với khi tôi được bầu vào ghế Tổng thống, và với tất cả những vấn đề quốc tế quan trọng, người dân trên thế giới không tìm đến sự dẫn dắt của Bắc Kinh hay Moscow, mà họ tìm đến chúng ta.


Donald Trump chê Thông điệp Liên bang của Obama là một trong những bài phát biểu tẻ nhạt, lan man và lỏng lẻo nhất mà tôi từng nghe trong suốt một thời gian dài

Donald Trump chê Thông điệp Liên bang của Obama là “một trong những bài phát biểu tẻ nhạt, lan man và lỏng lẻo nhất mà tôi từng nghe trong suốt một thời gian dài”

Là một người bắt đầu mỗi ngày mới với một bản tổng kết tình báo, tôi hiểu đây là thời điểm đầy rẫy hiểm nguy. Nhưng đó không phải vì sức mạnh nước Mỹ đang giảm sút, hay vì một siêu cường khác nổi lên.

Trên thế giới ngày nay, mối đe dọa không đến nhiều từ những cường quốc lạm quyền, mà là từ những nhà nước thất bại.

Trung Đông đang trải qua một đợt chuyển giao kéo dài cả một thế hệ, khơi nguồn bởi giao tranh đã có từ hàng thiên niên kỉ trước. Những cơn bão thổi từ một nền kinh tế Trung Quốc đang trong giai đoạn chuyển giao. Và kể cả khi nền kinh tế còn khó khăn, Nga vẫn đổ nhiều tài nguyên vào việc can thiệp tại Ukraine và Syria – những quốc gia mà họ nhận thấy đang dần rời xa quỹ đạo Nga.

Và trật tự thế giới dựng nên sau Thế chiến II đang gặp nhiều khó khăn trong việc theo kịp với thực tế của thời đại mới hiện nay.

Trách nhiệm xây dựng lại trật tự thuộc về chúng ta. Điều đó đồng nghĩa với việc chúng ta phải đặt ra những ưu tiên.

Ưu tiên thứ nhất là bảo vệ người Mỹ, và truy quét các mạng lưới khủng bố. Cả al-Qaeda và nay là IS đều mang mối hiểm họa trực tiếp đối với người Mỹ, bởi trong thời đại hiện nay, chỉ một nhóm khủng bố không quan tâm gì đến mạng sống con người, kể cả của chính bản thân chúng thôi cũng đủ để gây nhiều thiệt hại.

Chúng sử dụng Internet để đầu độc tâm hồn những người Mỹ; chúng phá đồng minh của chúng ta.

Nhưng trong lúc chúng ta tập trung tiêu diệt IS, những lời khẳng định quá đáng rằng đây là Thế chiến III lại có lợi cho những tên khủng bố này.

Những phần tử cực đoan cầm súng ngồi sau xe bán tải và những đầu óc bệnh hoạn bí mật lên kế hoạch trong các chung cư hay garage, là những mối đe dọa to lớn đối với người dân, và cần phải bị ngăn chặn.

Nhưng tất cả những điều này không đe dọa đến tồn vong của nước Mỹ.

Đó là câu chuyện mà IS muốn tất cả phải tin, đó là những lời tuyên truyền chúng sử dụng để tuyển quân.

Chúng ta không cần phải chứng minh quyết tâm chống khủng bố bằng cách khiến chúng mạnh hơn, và cũng không cần phải đẩy những đồng minh quan trọng của mình sang một bên bằng việc nhắc lại những lời dối trá rằng những gì IS đang làm là hiện thân của một trong những tôn giáo lớn nhất thế giới.

Chúng ta đơn giản chỉ cần gọi chúng theo đúng bản chất – những kẻ giết người bệnh hoạn mà chúng ta phải tìm diệt.

Đó chính là những gì chúng ta đang làm. Trong hơn một năm qua, Mỹ đã dẫn đầu một liên quân 60 quốc gia với mục tiêu cắt đứt nguồn tài chính, phá vỡ các âm mưu, chấm dứt dòng phần tử cực đoan đổ về Trung Đông, và dập tắt hệ tư tưởng bệnh hoạn của IS.


Ngoại trưởng Mỹ John Kerry ca ngợi: Không thể đồng tình hơn với Tổng thống: Về những vấn đề gây lo ngại trên toàn cầu, chúng ta sẽ vận động cả thế giới chung tay với mình.

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry ca ngợi: “Không thể đồng tình hơn với Tổng thống: Về những vấn đề gây lo ngại trên toàn cầu, chúng ta sẽ vận động cả thế giới chung tay với mình”.

Với gần 10.000 đợt không kích, chúng ta đang tiêu diệt tầng lớp lãnh đạo, nguồn dầu khí, các trại huấn luyện, và vũ khí của chúng.

Chúng ta đang huấn luyện, trang bị vũ khí, và hậu thuẫn các lực lượng tích cực chiến đấu chiếm lại lãnh thổ từ tay IS tại Iraq và Syria.

Nếu Quốc hội thực sự nghiêm túc muốn giành thắng lợi trong trận chiến này, và muốn gửi một thông điệp tới quân đội Mỹ cũng như toàn thế giới, các vị hãy sớm thông qua việc sử dụng lực lượng quân đội chống lại IS. Hãy đem ra bỏ phiếu đi.

Nhưng người Mỹ hãy yên tâm rằng, dù Quốc hội có hành động hay không, thì IS cũng sẽ phải nếm trải bài học đã từng dành cho những tên khủng bố trước chúng.

Nếu các bạn hoài nghi quyết tâm của nước Mỹ – hay của chính tôi – trong việc đảm bảo công lý được thực thi, hãy hỏi Osama bin Laden. Hãy hỏi lãnh đạo al-Qaeda tại Yemen, kẻ đã bị tiêu diệt năm ngoái. Hãy hỏi kẻ gây ra vụ tấn công tại Bengazi và giờ đang ngồi trong tù.

Khi các ngươi nhắm vào nước Mỹ, nước Mỹ sẽ tìm bằng được các ngươi. Điều này sẽ cần thời gian, nhưng thù thì chúng ta sẽ không bao giờ quên, và mạng lưới truy quét của chúng ta không có giới hạn.

Chính sách đối ngoại của chúng ta cần tập trung vào mối đe dọa từ IS và al-Qaeda, nhưng không thể chỉ dừng lại ở đó.

Vì kể cả khi không còn IS, thì sự bất ổn cũng sẽ tiếp diễn trong hàng thập kỉ ở nhiều nơi khác trên thế giới – tại Trung Đông, tại Afghanistan và Pakistan, tại Trung Mỹ, châu Phi, và châu Á.

Một vài nơi trong số này đã trở thành nơi trú ẩn an toàn cho các mạng lưới khủng bố; một số khác lại phải chịu cảnh giao tranh sắc tộc, nạn đói, và tạo ra những làn sóng nhập cư kế tiếp.

Thế giới sẽ lại tìm đến chúng ta để hỗ trợ giải quyết những vấn đề này, và câu trả lời của chúng ta không thể chỉ là những lời nói cứng, hay những lời kêu gọi ném bom rải thảm dân lành. Nghe trên TV thì có vẻ hay, nhưng sẽ chả có ích gì trên trường quốc tế.

Chúng ta cũng không thể cứ cố kiểm soát và “đập đi xây lại” bất kì quốc gia nào gặp khủng hoảng. Điều đó không thể hiện sự lãnh đạo, mà đó chỉ là công thức dẫn đến sự sa lầy, khiến người Mỹ phải đổ máu, mất đi những tài nguyên mà rốt cục sẽ khiến chúng ta suy yếu.

Đáng ra giờ đây chúng ta đã phải học thuộc lòng bài học ở Việt Nam, hay ở Iraq rồi.

May mắn là chúng ta có một cách tiếp cận thông minh hơn, một chiến lược kiên nhẫn và kỉ luật, tận dụng mọi khía cạnh trong sức mạnh quốc gia của nước Mỹ.

Nước Mỹ luôn hành động, hành động đơn phương nếu cần thiết, để bảo vệ người dân và đồng minh của chúng ta; nhưng trong các vấn đề mang tính toàn cầu, chúng ta sẽ huy động cả thế giới cùng hợp tác, để mỗi nước hoàn thành phần trách nhiệm của riêng mình.

Đó là cách chúng ta tiếp cận các cuộc giao tranh như tại Syria hiện nay, nơi chúng ta đang bắt tay với các lực lượng địa phương cũng như lãnh đạo cộng đồng quốc tế trong việc giúp đỡ xã hội tại đây hướng tới một nền hòa bình lâu dài.

Đó là lý do tại sao chúng ta xây dựng một liên quân toàn cầu, với những lệnh trừng phạt và các biện pháp ngoại giao dựa theo nguyên tắc, để ngăn chặn Iran trang bị vũ khí hạt nhân. Lúc này đây, Iran đã tạm ngưng chương trình hạt nhân, chuyển giao lượng uranium dự trữ, và thế giới đã tránh được một cuộc chiến khác.

Đó là cách chúng ta ngăn chặn Ebola lây lan ở Tây Phi. Quân đội, các bác sĩ, và các nhân viên phát triển đã tạo ra một nền tảng để các nước khác có thể cùng chúng ta dập tắt đại dịch này.

Đó là cách chúng ta tạo nên hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) để mở cửa thị trường, bảo vệ quyền lợi người lao động, bảo vệ môi trường, và nâng tầm lãnh đạo của Mỹ tại châu Á.

TPP đã cắt 18.000 loại hình thuế quan đối với các sản phẩm do Mỹ sản xuất, và hỗ trợ tạo thêm nhiều công ăn việc làm.

Với TPP, Trung Quốc không còn là quốc gia đặt ra luật lệ tại châu Á-Thái Bình Dương, mà là chúng ta. Quốc hội muốn chúng ta thể hiện sức mạnh nước Mỹ trong thế kỉ này ư? Vậy thì hãy thông qua TPP đi, và trao cho chúng ta cơ hội để thể hiện.

50 năm cô lập Cuba đã không thể đề cao nền dân chủ, và khiến chúng ta phải chịu một bước lùi ở Mỹ Latin.

Đó là lý do tại sao chúng ta khôi phục quan hệ ngoại giao, mở cửa du lịch và giao thương, cũng như sẵn sàng cải thiện đời sống của người dân Cuba.

Quốc hội muốn củng cố vị thế lãnh đạo và niềm tin của các nước Tây bán cầu đối với Mỹ? Vậy thì hãy nhận ra rằng Chiến tranh Lạnh đã qua rồi. Dỡ bỏ cấm vận đi.


Trả lời phóng viên USA Today, ứng viên Tổng thống của đảng Dân chủ Bernie Sanders nhận xét bài phát biểu của ông Obama xuất sắc. Còn trên Twitter của mình, ông Sanders viết: Bài phát biểu ngày hôm nay rất quan trọng. Tổng thống đã nhắc chúng ta nhớ lại rằng, chúng ta không sợ thay đổi, mà nên sử dụng nó để cải thiện cuộc sống của người dân Mỹ.

Trả lời phóng viên USA Today, ứng viên Tổng thống của đảng Dân chủ Bernie Sanders nhận xét bài phát biểu của ông Obama “xuất sắc”. Còn trên Twitter của mình, ông Sanders viết: “Bài phát biểu ngày hôm nay rất quan trọng. Tổng thống đã nhắc chúng ta nhớ lại rằng, chúng ta không sợ thay đổi, mà nên sử dụng nó để cải thiện cuộc sống của người dân Mỹ”.

Vị thế lãnh đạo của nước Mỹ trong thế kỉ 21 không phải một sự lựa chọn giữa một là bỏ mặc phần còn lại của thế giới – trừ việc tiêu diệt khủng bố – với hai là “đập đi xây lại” bất kì xã hội nào gặp vấn đề.

Sự lãnh đạo phải là kết hợp của việc áp dụng hợp lý sức mạnh quân sự, và kêu gọi thế giới ủng hộ những mục tiêu đúng đắn.

Nó đồng nghĩa với việc coi sự trợ giúp từ bên ngoài như một phần của an ninh quốc gia, thay vì coi đó như thể từ thiện.

Khi chúng ta dẫn đầu trong việc kêu gọi gần 200 nước đi tới kí kết hiệp ước lịch sử nhằm chống lại biến đổi khí hậu – điều đó không chỉ giúp cho các quốc gia hiện đang bị ảnh hưởng, mà còn bảo vệ tương lai con cháu chính chúng ta.

Khi chúng ta hỗ trợ Ukraine bảo vệ nền dân chủ của họ, hay giúp đỡ Colombia giải quyết cuộc nội chiến kéo dài hàng thập kỉ, điều đó củng cố một trật tự quốc tế mà chúng ta còn phải phụ thuộc rất nhiều.

Khi chúng ta giúp đỡ các nước châu Phi giải quyết vấn đề lương thực cũng như chăm lo cho người bệnh, điều đó sẽ ngăn cản việc một đại dịch có thể chạm tới nước Mỹ.

Tại châu Phi lúc này, chúng ta đang trong công cuộc chấm dứt nạn HIV/AIDS, và có đủ tiềm năng để làm điều tương tự với bệnh sốt rét. Tôi sẽ hối thúc Quốc hội cung cấp vốn cho chiến dịch này.

Đó mới là sức mạnh. Đó mới là lãnh đạo. Và cái cách lãnh đạo ấy phụ thuộc vào những hành động làm gương của chúng ta.

Đó là lý do tại sao tôi sẽ tiếp tục thúc đẩy việc đóng cửa nhà tù Guantanamo: Vừa tốn kém, vừa không cần thiết, và chỉ tạo thêm cái cớ để kẻ thù của chúng ta chiêu mộ thêm quân.

Đó là lý do tại sao chúng ta cần loại bỏ hoàn toàn thể loại chính trị nhắm vào chủng tộc hay tôn giáo của người khác để công kích. Đây không phải vấn đề ý thức chính trị (political correctness), mà chúng ta phải hiểu được những gì tạo nên sự hùng mạnh của nước Mỹ.

Thế giới tôn trọng chúng ta không phải vì kho vũ khí chúng ta sở hữu, mà là vì sự tôn trọng chúng ta dành cho mọi sắc tộc, cũng như sự cởi mở chấp nhận mọi tôn giáo.

Đức Cha – Giáo hoàng Francis, đã từng đứng tại đây và nói với tất cả chúng ta rằng “bắt chước sự thù ghét và bạo tàn của những kẻ độc tài, những kẻ sát nhân, là cách tốt nhất để thế chân bọn chúng”.

Khi các chính trị gia chỉ trích người Hồi giáo, khi một thánh đường Hồi giáo bị đập phá, khi một đứa trẻ bị bắt nạt, tất cả đều không khiến chúng ta an toàn hơn.

Đây không thể được coi là nói thẳng. Mà đây là nói sai hoàn toàn. Điều đó làm hỏng hình ảnh của chúng ta trong mắt thế giới, khiến chúng ta gặp nhiều khó khăn hơn trong việc đạt được những mục đích của mình, và phản lại những giá trị dân tộc của chúng ta.

Obama6

“We the People” – Hiến pháp của chúng ta mở đầu với 3 từ đơn giản ấy, một cụm từ mà chúng ta đã nhận ra rằng nó mang ý nghĩa toàn thể người dân, không chỉ một bộ phận, một cụm từ có ý nhấn mạnh rằng chúng ta khi trỗi dậy phải trỗi dậy cùng nhau, và khi tàn cũng phải tàn cùng nhau.

Điều đó đưa tôi đến với điều thứ tư, và có lẽ là điều quan trọng nhất tôi muốn nói tới trong đêm nay.

Thay đổi cách làm chính trị

Tương lai chúng ta muốn – một tương lai với cơ hội và sự đảm bảo cho tất cả các gia đình nước Mỹ; một tương lai với sự gia tăng mức sống và một hành tinh bền vững, bình yên cho con em chúng ta – tất cả đều nằm trong tầm với.

Nhưng tương lai ấy chỉ có thể trở thành hiện thực nếu chúng ta hợp tác cùng nhau. Tương lai ấy chỉ có thể trở thành hiện thực nếu chúng ta có những cuộc tranh luận hợp lý, mang tính xây dựng.

Tương lai ấy chỉ có thể trở thành hiện thực nếu chúng ta thay đổi cách làm chính trị của mình.

Cải thiện hệ thống chính trị không có nghĩa chúng ta phải nhất trí trong mọi quan điểm. Mỹ là nước lớn, với nhiều khu vực, nhiều cách suy nghĩ, nhiều lợi ích riêng. Đây cũng là một thế mạnh của chúng ta.

Những người sáng lập nước Mỹ (Founding Fathers) đã phân bố quyền lực giữa các bang và các nhánh của chính phủ, vì họ biết trước chúng ta sẽ có tranh cãi, cũng giống như họ đã tranh cãi về kích cỡ và hình thức của chính phủ, về tài chính và quan hệ quốc tế, về định nghĩa của sự tự do và tầm quan trọng sống còn của an ninh nước Mỹ.

Nhưng một nền dân chủ đòi hỏi những kết nối cơ bản về niềm tin giữa người dân. Dân chủ sẽ không thể phát triển nếu chúng ta cứ nghĩ rằng bất kì ai bất đồng với chúng ta đều làm như vậy với ác ý, rằng bất kì địch thủ chính trị nào của chúng ta cũng là những kẻ không yêu nước.

Dân chủ sẽ đình trệ nếu thiếu đi tâm lý sẵn sàng thỏa hiệp; hay kể cả khi những sự thật cơ bản cũng bị đem ra tranh cãi, và khi chúng ta chỉ lắng nghe ý kiến của những người có chung quan điểm.

Xã hội sẽ tàn khi chỉ những giọng điệu cực đoan nhất thu hút được sự chú ý. Trên tất cả, nền dân chủ sẽ mất đi bản sắc của nó khi người dân cảm thấy tiếng nói của họ không còn có ý nghĩa gì nữa, khi hệ thống đã bị lợi dụng để phục vụ lợi ích riêng của những nhóm người giàu có và quyền lực.

Rất nhiều người Mỹ đang có cảm nhận như vậy vào lúc này. Đó là một trong những điều hiếm hoi mà tôi hối tiếc trong nhiệm kì Tổng thống của mình – sự hoài nghi và đấu đá giữa hai đảng không những không được cải thiện mà còn trở nên trầm trọng hơn.

Chắc chắn một Tổng thống với tài năng cỡ Lincoln hay Roosevelt có thể làm tốt hơn trong vai trò cầu nối chia cắt giữa hai đảng, nhưng tôi cam kết sẽ tiếp tục cố gắng cải thiện, chừng nào tôi còn trên cương vị Tổng thống.

Nhưng, thưa các công dân nước Mỹ, đây không thể chỉ là nhiệm vụ của riêng tôi – hay của bất kì Tổng thống nào khác.

Có rất nhiều những người có mặt tại đây hôm nay mong muốn hợp tác giữa hai đảng được đẩy mạnh, mong muốn những cuộc tranh luận ở tầm cao hơn tại Washington, nhưng lại bị cuốn vào vòng xoáy của những đòi hỏi để có thể giữ ghế. Tôi biết chứ, vì chính các vị đã nói với tôi như vậy.

Và nếu chúng ta muốn một hệ thống chính trị tốt hơn, thay đổi một nghị sĩ hay thậm chí một Tổng thống là chưa đủ, chúng ta phải thay đổi hệ thống sao cho nó phản ánh mặt tốt của mỗi người chúng ta.

GIÁO SƯ-TIẾN SĨ BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG, ĐẠI HỌC TỔNG HỢP MESSIAH, MỸ
EDWARD ARKE
Ở năm cuối nhiệm kì và đương nhiên không thể tái tranh cử, Tổng thống Mỹ sẽ tập trung vào việc xây dựng và để lại di sản, những dấu ấn của mình khi đương nhiệm. Trong bài Thông điệp Liên bang cuối cùng này, tôi nghĩ ông Obama sẽ tập trung vào những gì còn sót lại trong các dự luật mà ông muốn quốc hội thông qua, để có thể rời Nhà Trắng với những dấu ấn mà ông muốn được đời sau nhắc tới.

Chúng ta phải chấm dứt việc chia ra những khu bầu cử địa phương để tránh việc các chính trị gia có thể khoanh vùng chọn người bỏ phiếu cho mình.

Chúng ta phải giảm thiểu sự phụ thuộc vào tiền bạc trong chính trị, để tránh việc một vài nhóm người với những lợi ích riêng có thể dùng tiền mua bầu cử.

Và nếu cách tiếp cận hiện nay của chúng ta đối với các khoản tiền liên quan đến chiến dịch tranh cử không được tòa án chấp thuận, chúng ta cần ngồi lại với nhau để tìm ra một giải pháp thực thụ.

Chúng ta phải đơn giản hóa bầu cử, thay vì phức tạp hóa, và điều chỉnh sao cho phù hợp với thời thế hiện nay. Trong năm nay, tôi dự kiến sẽ đi khắp nước Mỹ để thúc đẩy cải cách phục vụ mục đích nói trên.

Nhưng bản thân tôi không thể làm được tất cả những điều này. Thay đổi trong thể chế chính trị của chúng ta – không chỉ trong việc ai sẽ trúng cử hay hình thức bầu cử ra sao – sẽ chỉ xảy ra khi người Mỹ muốn điều đó xảy ra. Điều này phụ thuộc vào các bạn. Một chính phủ của dân, do dân và vì dân là như vậy đấy.

Những gì tôi đang muốn thực hiện sẽ rất khó. Cách dễ hơn là cứ hoài nghi, là cứ chấp nhận sự thật rằng thay đổi là không thể, rằng không có tương lai cho chính trị, rằng tiếng nói và hành động của chúng ta sẽ chẳng có ý nghĩa gì.

Nhưng chúng ta bỏ cuộc trong hiện tại, có nghĩa là chúng ta cũng từ bỏ luôn mong muốn cải thiện tương lai. Những kẻ có tiền và có quyền sẽ tiếp tục đứng đằng sau các quyết định có thể khiến nước Mỹ đi đến chiến tranh, gây ra một cuộc khủng hoảng kinh tế, hay đánh mất đi quyền bình đẳng và quyền bầu cử mà hàng thế hệ người Mỹ đã hi sinh xương máu để giành lấy.

Khi nỗi bực dọc ấy lớn dần, sẽ có những tiếng nói dụ dỗ chúng ta trở lại thời chia rẽ bộ tộc, để đổ hết tội lỗi cho những người đồng hương không cùng màu da với chúng ta, không cầu nguyện như cách chúng ta cầu nguyện, không bỏ phiếu cho những người chúng ta ủng hộ, hay không cùng nguồn gốc với chúng ta.

Chúng ta không được phép đi theo con đường ấy. Vì nó sẽ không dẫn chúng ta đến với một nền kinh tế chúng ta muốn, nó sẽ không dẫn chúng ta đến sự an toàn chúng ta muốn, và trên tất cả, nó phản lại tất cả những giá trị đã khiến Mỹ trở thành đất nước mà tất cả thế giới phải ghen tị.


Những ứng viên Tổng thống Mỹ được dân mạng nhắc tới nhiều nhất trong thời gian ông Obama đọc Thông điệp Liên bang

Những ứng viên Tổng thống Mỹ được dân mạng nhắc tới nhiều nhất trong thời gian ông Obama đọc Thông điệp Liên bang

Vậy nên, thưa toàn thể công dân nước Mỹ, dù đức tin của bạn là gì, dù bạn theo đảng này hay đảng khác, hay không theo đảng nào, thì tương lai của chúng ta phụ thuộc vào việc bạn có sẵn sàng thực hiện bổn phận của một công dân hay không.

Hãy bỏ phiếu. Hãy thể hiện quan điểm. Hãy đứng lên vì những người khác, nhất là những người yếu đuối, những số phận mong manh. Hãy hiểu rằng mỗi chúng ta có thể tồn tại nơi đây là nhờ một ai đó, ở một nơi nào đó, đã từng đứng lên vì chúng ta.

Hãy luôn năng động trong xã hội để thể hiện sự tốt đẹp, những phẩm chất đạo đức, và sự lạc quan mà mỗi ngày tôi vẫn thấy hiện hữu trong tâm hồn những người dân nước Mỹ.

Không dễ để làm được điều đó trong nền dân chủ của chúng ta hiện nay. Nhưng tôi xin hứa với các bạn rằng ngày này năm sau, khi tôi không còn giữ chức Tổng thống, tôi sẽ sát cánh bên các bạn với tư cách một công dân Mỹ – một người đã lấy cảm hứng từ những tiếng nói của sự bình đẳng, của tầm nhìn, của lòng cản đảm, của khiếu hài hước, và của lòng vị tha, những tiếng nói đã giúp nước Mỹ có được như ngày hôm nay.

Những tiếng nói ấy đã giúp chúng ta nhìn nhận bản thân trước hết không phải một người da đen hay da trắng, người châu Á hay Latin, người đồng tính hay dị tính, người bản xứ hay nhập cư, cử tri Dân chủ hay Cộng hòa, mà là một người Mỹ.

Những tiếng nói mà Martin Luther King tin rằng sẽ là tiếng nói của chiến thắng vang lên sau cùng, những tiếng nói của sự thật, của tình yêu vô điều kiện.

Những tiếng nói ấy vẫn ở đâu đó ngoài kia, nhưng không nhận được nhiều sự chú ý. Chính những tiếng nói ấy cũng không muốn được chú ý, vì họ đang bận thực hiện những sứ mệnh mà đất nước này cần.

Tôi thấy họ ở khắp mọi nơi trên đất nước vĩ đại của chúng ta. Tôi thấy các bạn chứ. Tôi biết các bạn vẫn ở đó. Các bạn chính là lý do tại sao tôi có sự tự tin lớn đến vậy vào tương lai của chúng ta. Vì tôi thấy bổn phận công dân vẫn được các bạn thực thi một cách thầm lặng nhưng mạnh mẽ mỗi ngày.

Tôi thấy được điều đó ở người công nhân làm việc thêm giờ tại công xưởng để giúp công ty không phá sản, và ở người sếp chấp nhận tăng lương cho người công nhân ấy để giữ anh lại làm việc.

Tôi thấy được điều đó ở cô bé Dreamer (từ chỉ người Mỹ có xuất thân là người nhập cư/di cư – PV) thức khuya hoàn thiện đề tài khoa học của mình, và ở người giáo viên đến sớm chỉ để dạy cô bé Dreamer tận tình vì anh biết rằng, một ngày nào đó cô bé ấy có thể phát minh ra thuốc chữa bệnh.

Tôi thấy được điều đó ở một người Mỹ ra tù sau khi đã mãn hạn, và mơ về việc tìm lại chính mình, và trong người chủ cửa hàng đã tạo điều kiện cho anh ấy có cơ hội thứ hai.

Tôi thấy được điều đó ở người biểu tình, với quyết tâm chứng minh tầm quan trọng của công lý, và ở người cảnh sát đi bộ tuần tra, đối xử với tất cả mọi người bằng sự tôn trọng, dũng cảm và thầm lặng làm tròn nhiệm vụ đảm bảo an toàn cho mỗi chúng ta.

Tôi thấy được điều đó ở người lính sẵn sàng làm mọi thứ để cứu lấy những người đồng đội, ở người y tá luôn ở bên chăm sóc tận tình cho đến khi người lính ấy có thể tham gia một cuộc chạy marathon, và ở những người xếp hàng cổ vũ người lính ấy hoàn thành cuộc đua.

Tôi thấy được điều đó ở cậu con trai đã tìm được sự dũng cảm để bộc bạch giới tính thật của mình, và ở người cha mà tình yêu ông dành cho con mình vượt lên tất cả những gì ông đã được dạy trước kia.

Tôi thấy được điều đó ở bà cụ sẵn sàng xếp hàng thật lâu để bỏ phiếu; ở công dân tham gia bầu cử lần đầu; ở những người tình nguyện tại các trạm bỏ phiếu với suy nghĩ rằng bất kì lá phiếu nào cũng có giá trị, bởi mỗi lá phiếu đều thể hiện rằng cái quyền bầu cử thiêng liêng ấy có giá trị đến nhường nào.

Đó là nước Mỹ mà tôi biết. Đó là nước Mỹ mà chúng ta yêu quý. Những đôi mắt mở rộng. Những trái tim nhân hậu. Tâm thế lạc quan rằng sự thật và tình yêu vô điều kiện sẽ giành chiến thắng. Đó là những gì khiến tôi luôn hi vọng vào tương lai của chúng ta.

Vì các bạn. Tôi luôn tin vào các bạn. Đó là lý do tại sao tôi đứng đây hôm nay, tự tin tuyên bố rằng, nước Mỹ vẫn vững mạnh. (The State of the Union is strong – câu nói “cửa miệng” của các Tổng thống Mỹ trong Thông điệp Liên bang).

Cảm ơn tất cả các bạn, Chúa phù hộ các bạn, và Chúa phù hộ nước Mỹ.

Nguồn: http://soha.vn 

Bản tiếng Anh
Barack Obama
(trang chính thức)
Barack Obama (trên trang Face Book)
Yesterday at 8:25am · It’s here—tune in at 9 p.m. ET for President Obama’s last State of the Union: http://ofa.bo/e5Pj
Barack Obama trên Twitter
Barack Obama trên YouTube (bài liên quan trước đó)

President Obama Addresses the Nation on the ISIL Threat

        Chúc mừng Năm mới 2016 vui khỏe hạnh phúc

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây  cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Nguyễn Du hiền tài lỗi lạc

Nguyen Du
TÌNH YÊU CUỘC SỐNG.
365 chuyện kể mỗi ngày. Nguyễn Du hiền tài lỗi lạc. Bài này tiếp nối  Nguyễn Du 250 năm nhìn lại; Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa. Nội dung giới thiệu về: Niên biểu Nguyễn Du 1986-1992. Nguyễn Du Hồ Xuân Hương luận anh hùng. Nguyễn Du khí phách và tầm nhìn.

Ghé mắt trông sang thấy bảng treo/ Kìa đền Thái thú đứng cheo leo/ Ví đây đổi phận làm trai được/ Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu” (Hồ Xuân Hương) “Kiều rằng lượng cả bao dong/Tấn Dương được thấy mây rồng có phen/ Xót thương cỏ nội hoa hèn/ Tấm thân bèo bọt dám phiền mau sau” (Thúy Kiều). “Nghe lời vừa ý gật đầu/ Từ rằng tri kỷ trước sau mấy người/ Khen cho con mắt tinh đời /Anh hùng đoán giữa trần ai mới già/ Một lời đã biết đến ta/ Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau“ (Từ Hải).

Niên biểu Nguyễn Du 1986-1992

Năm Bính Ngọ (1786) Nguyễn Du 21 tuổi. Tây Sơn đã chiếm được trọn cả nước Nam. Trước đó, năm 1782, Bắc Hà có biến, phe người con lớn của chúa Trịnh Sâm vừa chết là Trịnh Khải làm binh biến lật đổ người con nhỏ mới được lập là Trịnh Cán. Một tướng Bắc Hà là Nguyễn Hữu Chỉnh (thủ hạ cũ của Hoàng Ngũ Phúc và Quận Huy Hoàng Đình Bảo) không hợp tác với Trịnh Khải nên bỏ vào nam hàng Tây Sơn và được vua Thái Đức tin dùng. Năm 1786, khi tình hình phía nam đã tạm yên, Hữu Chỉnh khuyên vua Thái Đức đánh Phú Xuân để khôi phục lại đất đai của chúa Nguyễn trước đây. Vua Thái Đức đồng ý, liền cử Nguyễn Huệ làm chỉ huy cùng các tướng Nguyễn Hữu Chỉnh và phò mã Vũ Văn Nhậm (con rể vua Thái Đức) bắc tiến. Quân Trịnh ở Phú Xuân bị quân Tây Sơn dùng kế lừa khiến mất cảnh giác và nghi ngờ lẫn nhau. Tháng 5 năm 1786, Nguyễn Huệ nhanh chóng đánh chiếm thành Phú Xuân. Nghe theo kế của Nguyễn Hữu Chỉnh, (người trả thù Trịnh Khải để báo thù cho chủ cũ là Quận Huy Hoàng Đình Bảo nên dâng kế bắc tiến tập kích bất ngờ Thăng Long), lấy việc tôn phù nhà Lê làm danh nghĩa. Nguyễn Huệ đã quyết định mang quân ra đánh Thăng Long mà không hỏi ý vua anh. Nguyễn Huệ đánh bại quân Trịnh, Trịnh Khải tự sát. Nguyễn Huệ đem quân vào thành. Các tướng sĩ Lê Trịnh đều tan chạy. Khi vào điện Kính Thiên, Nguyễn Huệ gặp Nguyễn Du và Nguyễn Đăng Tiến. Tướng trấn thủ Thái Nguyên Quản Vũ Hầu Nguyễn Đăng Tiến (Hà Mỗ trong Gia Phả họ Nguyễn Tiên Điền) có trình việc cáo quan muốn về quê cũ Quảng Tây với Nguyễn Du đi cùng. Nguyễn Huệ vì muốn lấy lòng những người tôn phò nhà Lê  và ông có tâm ý riêng nên có mấy lời phủ dụ và thả cho đi. Vua Lê Hiển Tông đau yếu, bệnh tình ngày mỗi nặng. Nguyễn Huệ ép vua gượng thiết triều và đem sổ ghi hộ tịch dân binh vào dâng. Vua Lê Hiển Tông phong cho Nguyễn Huệ tước Nguyên soái Uy Quốc Công và gả con gái là công chúa Lê Thị Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ. Sau khi vua Lê Hiển Tông băng hà, Nguyễn Huệ lập cháu trưởng của vua là Lê Duy Kỳ lên nối ngôi, đặt niên hiệu là Chiêu Thống.

Vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc vốn không có ý định đánh ra Bắc Hà nên trước đây khi tiếp được thư Nguyễn Huệ nói sắp đánh ra Bắc vội cho người ra Thuận Hóa ngăn lại. Nhưng khi sứ thần tới nơi thì Nguyễn Huệ đã cử binh đi rồi. Sau lại tiếp được thư nói rằng Tây Sơn đã lấy được Thăng Long còn phải ở lại giúp nhà Lê. Nguyễn Nhạc sợ em ở ngoài lâu ngày sinh biến, không kiềm chế được Huệ nữa, vội vã đem 500 quân ra Thuận Hóa, rồi lấy thêm 2000 quân nữa, đi gấp ngày đêm ra Thăng Long. Vua Chiêu Thống đem bách quan ra đón ở Nam Giao nhưng Nguyễn Nhạc đi thẳng và cho người đến nói xin khất ngày sau tiếp kiến. Vua Thái Đức sau khi lựa lời vỗ về em, đã tự mình cầm quân, thay đổi hết nhân sự do em sắp đặt rồi mới gặp gỡ vua Lê Chiêu Thống vừa lên ngôi[8].Mấy hôm sau Nguyễn Nhạc mời Chiêu Thống sang phủ đường làm lễ tương kiến. Nguyễn Nhạc ngồi giữa, vua Lê Chiêu Thống ngồi bên tả, Nguyễn Huệ ngồi bên hữu, các quan văn võ đứng hầu hai bên. Trong cuộc hội kiến, Lê Chiêu Thống xin cắt đất Nghệ An cho Tây Sơn. Nguyễn Nhạc nói: “Vì họ Trịnh hiếp chế, cho nên chúng tôi ra giúp vua; nếu bằng đất nước họ Trịnh thì một tấc cũng không để lại, nhưng là của nhà Lê thì một tấc cũng không dám lấy. Xin nhà vua gắng sức làm việc, giữ yên bờ cõi, để đời đời giao hiếu với nhau, ấy là cái phúc của hai nước vậy“. Hôm sau, anh em Tây Sơn mật truyền cho các tướng thủy bộ, kho tàng có gì lấy hết, rồi đến nửa đêm 17 tháng 8, kéo quân về Nam. Nguyễn Hữu Chỉnh hôm sau mới biết, giật mình sợ hãi, vội theo thuyền buôn đuổi gấp vào Nghệ An, kịp theo vua Tây Sơn. Nguyễn Nhạc không nỡ chối bỏ, nên cho ở lại với Nguyễn Văn Duệ giữ Nghệ An, trong lúc nhà Tây Sơn cử Võ Văn Dũng đóng ở Hà Tĩnh và Vũ Văn Nhậm đóng tại Đồng Hới để tạo thế liên kết phòng thủ.

Ở mặt Nam năm 1786, Nguyễn Ánh đã liên kết được với  hải thuyền và lính đánh thuê người Bồ Đào Nha. Ông nhận thấy lực lượng còn yếu và chưa thể tranh hùng cùng quân Tây Sơn về bộ binh, kỵ binh, tượng binh, nên chú trọng hơn hết việc xây dựng thủy binh thiện chiến liên kết với hải quân người nước ngoài. Trước đó, mùa xuân năm Ất Tỵ (1785) Nguyễn Ánh đã cho hoàng tử Cảnh theo Bá Đa Lộc đến cầu viện Pháp nhưng nước Pháp có nội biến nên không giúp được. Phạm Văn Nhơn và phái bộ sứ thần của Nguyễn Ánh đã dừng tại Công ty Ấn Độ thuộc Pháp tại Pondichery ở Ấn Độ nơi công ty này và Hội thừa sai Hải ngoại Paris được thành lập năm 1664. Họ bàn kế hoạch định nhờ hải quân Anh giúp đỡ nhưng Ba Đa Lộc cho rằng người Anh gian xảo nên cầu viện Bồ Đào Nha. Năm 1786, tàu thuyền Bồ Đào Nha đã đưa hoàng tử Cảnh về thủ đô Pháp.

Lại nói chuyện họ Nguyễn Tiên Điền và Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ. Năm 1786, khi Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc thì họ Nguyễn Tiên Điền bị táng gia bại sản  “Hồng Lam vô gia, huynh đệ tán” cực kỳ bi thảm và thi phi,  như đã nói ở phần Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa. Lý do vì các cựu thần nhà Lê cho rằng họ Nguyễn Tiên Điền mượn tiếng tôn phò chúa Trịnh để mưu đồ tiếm quyền và tạo tai họa rước quân Tây Sơn về, nên họ đã xử lý tàn độc thẳng tay, không thương tiếc. Nguyễn Huệ đánh bại họ Trịnh đã giành lại thực quyền cho vua Lê,  và muốn mượn tay người Bắc để giết Nguyễn Hữu Chỉnh, nên lặng lẽ rút về Nam mà không báo cho Chỉnh biết. Nguyễn Hữu Chỉnh khi chạy theo vào Nam đã được Nguyễn Nhạc không nỡ bỏ mà cho lưu lại ở Nghệ An với Nguyễn Văn Duệ.  Nguyễn Hữu Chỉnh liền tập hợp tráng đinh xứ Nghệ thành lập các đội nghĩa dũng quân, ngầm tranh chiếm Nghệ An, lập lại thế nước cũ “Đằng Ngoài” “Đằng Trong” như trước đây. Tại Thăng Long, các bề tôi cũ của nhà Lê sau khi Nguyễn Huệ rút đi, lại hùa nhau lập Trịnh Bồng nối nghiệp. Vua Lê Chiêu Thống bất đắc dĩ phải phong cho Trịnh Bồng làm Án Đô Vương và lập lại phủ chúa Trịnh như cũ. Trịnh Bồng cùng bè đảng lại toan đường giành lại thế lực, hiếp chế nhà vua. Vua Lê Chiêu Thống phải xuống mật chiếu vời Nguyễn Chỉnh ra Bắc.

Người đời sau đánh giá họ Nguyễn Tiên Điền trong sự biến Năm Bính Ngọ (1786) rất khác nhau  “Thằng bán tơ kia giở giói ra/ Làm cho bận đến cụ Viên già” (Nguyễn Khuyến). Vua Gia Long lúc lên ngôi năm 1802 tuy rất để ý kiềm chế họ Nguyễn Tiên Điền nhưng vẫn trọng dụng nhà Nguyễn Tiên Điền. Vua Gia Long lấy làm thiếp người cháu gái ruột của Nguyễn Du, lại phong Nguyễn Du chức Cai bạ, sau đó là Chánh sứ, sau đó là Hàn Lâm Đại học sĩ . Vua Minh Mệnh cũng vậy nhưng thủ đoạn cứng rắn hơn cả Nguyễn Ánh trong trị quốc. Danh thần Nguyễn Công Trứ luận về sự biến với bài thơ Vịnh Thúy Kiều “Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm” là một câu chuyện dài. Nguyễn Công Trứ luận về Thúy Kiều nhưng thực chất là luận về Nguyễn Du: “Bán mình trong bấy nhiêu năm , Dễ đem chữ hiếu mà lầm được ai.” Nguyễn Công Trứ thân mật hay chống đối Nguyễn Du, đó là điều hậu thế cần lý giải cho đúng? Nguyễn Công Trứ tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, hiệu Hy Văn, là nhà quân sự, chính trị, kinh tế và một nhà thơ lỗi lạc thời Minh Mệnh, lịch sử Việt Nam cận đại.  Nguyễn Công Trứ là con quan Đức Ngạn hầu Nguyễn Công Tấn có nhiều mối quan hệ với gia tộc họ Nguyễn Tiền Điền. Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ sẽ được luận bàn trong một bài viết riêng.

Năm Đinh Mùi (1787) Nguyễn Du 22 tuổi. Nguyễn Nhạc từ Thăng Long trở về, phong cho Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương trấn thủ Phú Xuân, còn mình thì dẫn tùy tùng về Quy Nhơn, tự xưng làm Trung Ương Hoàng Đế, phong cho Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương ở đất Gia Định, phong Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương ở đất Thuận Hóa, lấy Hải Vân làm giới hạn. Nguyễn Nhạc hỏi những báu vật vàng bạc đoạt được ở phủ chúa Trịnh. Nguyễn Huệ từ chối không nộp. Nguyễn Huệ muốn kiêm quản cả đất Quảng Nam nhưng Nguyễn Nhạc không cho. Cùng thêm một số chuyện hiềm khích cơ mật khác. Nguyễn Huệ bèn phát hịch kể tội Nhạc , rồi đem quân vào vây thành Quy Nhơn. Nguyễn Nhạc đóng cửa thành cố thủ. Đặng Văn Trấn, tướng của Nguyễn Nhạc để tham đốc là Trần Tú ở lại giữ thành Gia Định còn mình tự đem quân về cứu viện nhưng khi đến Phú Yên thì bị quân của Nguyễn Huệ bắt. Nguyễn Huệ vây Quy Nhơn ngặt đến nỗi Nguyễn Nhạc phải thân lên thành mà kêu khóc, gọi Nguyễn Huệ mà bảo rằng: ” Nỡ lòng nào lại nồi da nấu thịt thế này?” Nguyễn Huệ mới động lòng rút quân về Thuận Hóa. Hai anh em tuy hòa giải nhưng thực lòng vẫn oán giận nhau.

Nguyễn Ánh sau trận thất bại năm Giáp Thìn (1784)  sang lánh nạn ở Xiêm (Thái Lan) nóng lòng mong chờ viện binh nhưng Nguyễn Huệ đã khéo sai sứ sang thông hiếu với Thái Lan. Nguyễn Ánh thấy ở nước người  lâu ngày không tiện nên bí mật về nước theo kế của Tống Phước Đạm. Trước hết Nguyễn Ánh sai Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Liêm về Hà Tiên dò xét tình hình, khâu nối lực lượng., Phạm Văn Nhơn về Hòn Tre sửa soạn tàu bè, cai co Ngoạn, cai cơ Trung đi mua thóc dự trữ sẵn lương thực, rồi nhân đêm tối, không từ biệt vua Xiêm mà ra về vào ngày Bính Dần tháng Bảy. Khi Nguyễn Ánh về đến Hòn Tre mới biết chuyện cai cơ Trung giết chủ thuyền buôn Thái Lan để cướp của cải. Ông đã lệnh chặt đầu cai cơ Trung gửi đến vua Thái để tạ lỗi. Nguyễn Ánh cũng thu phục bọn cướp biển Hà Hỉ Văn đảng Bạch Liên Giáo nay làm cướp biển Hà Tiên. Ông cũng thu phục được danh tướng Nguyễn Va7n Trương trấn thủ Long Xuyên.  Tống Phước Đạm lợi dụng sự bất hòa của nhà Tây Sơn lập kế li gián Đông Định Vương Nguyễn Lữ là trấn tướng Gia Định và Phạm Văn Tham là phó tướng của Nguyễn Lữ.  Tống Phước Đạm bắt được vợ lẽ của hộ đốc Lý tướng Tây Sơn và đã làm mật thư giả của Nguyễn Nhạc gửi Nguyễn Lữ, trong thư nói Phạm Văn Tham là phe đảng của Nguyễn Huệ và khiến Nguyễn Lữ giết đi. Tống Phước Đạm giao thư cho vợ lẽ của hộ đốc Lý mang về dụ hàng Phạm Văn Tham.  Tham xem thư cả sợ bèn giương cờ trắng (hiệu kỳ của Nguyễn Ánh) kéo về dinh lũy của Nguyễn Lữ. Đông Định Vương tưởng Tham đã mang quân về hàng Nguyễn Ánh rồi, sợ Tây Sơn quân mỏng không  thể địch nổi nên bỏ chạy về Quy Nhơn. Từ đó, Phạm Văn Tham một mình trấn giữ Gia Định. Quân Tây Sơn và quân Nguyễn Ánh giao chiến một số trận lớn nhỏ. Thế lực Nguyễn Vương ngày một lớn mạnh. Thái úy Nguyễn văn Hưng từ Quy Nhơn mang ba mươi chiến thuyền vào tiếp ứng. Nguyễn Ánh cố thủ.  Ít lâu sau, Nguyễn Văn Hưng chuyển thóc gạo đầy các thuyền rồi rút đi. Nguyễn Ánh chia bình đóng những nơi hiểm yếu chẹn đường quân Tây Sơn.

Giữa lúc này Nguyễn Hữu Chỉnh đem binh từ Nghệ An tiến gấp về Thăng Long để bảo vệ vua. Nguyễn Hữu Chỉnh đuổi Trịnh Bồng, tôn phò vua Lê Chiêu Thống. Lại sai người ngầm mang nhiều vàng bạc đưa cho Nguyễn Văn Duệ để giết Võ Văn Dũng và lấy sông Gianh làm ranh giới như cũ. Vũ Văn Nhậm dò biết mưu ấy bèn cấp báo cho Nguyễn Huệ. Huệ liền sai người ra Nghệ An bắt Duệ nhưng Duệ thấy động đã đem quân thuộc hạ theo đường rừng trốn về Quy Nhơn. Nguyễn Huệ sai Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân theo quyền tiết chế Vũ Văn Nhậm đem quân ra Bắc hỏi tội Nguyễn Hữu Chỉnh. Chỉnh cho thuộc tướng chống giữ nhưng đều bị đánh tan. Vua Lê Chiêu Thống sai Lê Quýnh cùng hơn 30 người tôn thất đem bà Hoàng Thái hậu và Hoàng phi, Hoàng tử chạy lên Cao Bắng. Chỉnh thì cướp đường rước vua Lê Chiêu Thống chạy lên Kinh Bắc về đóng ở núi Mục Sơn đất Yên Thế.  Nhậm sai bộ tướng Nguyễn Văn Hòa truy sát và đuổi kịp Nguyễn Hữu Chỉnh, bắt sống đóng gông giải về Thăng Long.  Nhậm kể tội rồi sai chặt chân tay, phanh thây Chỉnh. Nhậm tìm vua Lê Chiêu Thống không được bèn tôn Sùng Nhượng Công Lê Duy Cẩn lên làm Giám Quốc để thu phục lòng người. Thầy đề lại Giám Quốc mỗi ngay phải sang chầu chực ở dinh Vũ Văn Nhậm. Nhậm tỏ ý kiêu ngạo. Ngô Văn Sở mật trình tấu sự tình về Nguyễn Huệ. Bắc Bình Vương lập tức truyền lệnh kéo quân kỵ gấp đường ra Thăng Long, nửa đêm đến nơi bắt Vũ Văn Nhậm giết đi, đổi đặt quan quân, đặt quan lục bộ và các quan trấn thủ, để Lê Duy Cẩn làm Giám Quốc, chủ trương việc tế lễ để giữ tông miếu tiền triều, dùng Ngô Thì Nhậm làm Lại bộ tả thị lang, cùng bọn Ngô  Văn Sở ở lại giữ đất Bắc Hà, còn Nguyễn Huệ thì chọn ngày về nam. Mẹ của vua Lê Chiêu Thống chạy lên Cao Bằng cùng với Đốc trấn Nguyễn Huy Túc chạy sang đất nhà Thanh xin với Tổng đốc Lưỡng Quảng xin cứu viện. Tôn Sĩ Nghị dâng biểu lên vua Càn Long xin điều quân Lưỡng Quảng, Vân Nam, Quý Châu chia hai đường sang cứu viện cho vua Lê. Lúc này vua Chiêu Thống đã chạy lánh vào Bảo Lộc, Trấn Ninh.

Nguyễn Du năm ấy đi lại giữa Thăng Long, Quảng Tây, Kinh Bắc, Hải Dương, Nghệ An nhưng đang là lúc “ngọa hổ tàng long” nên Nguyễn Du hành tung bí mật, rất ít lộ diện. Những sử liệu dưới đây cho thấy các địa điểm ẩn hiện của ông:

Trong  “Lê Quý Kỷ Sự” của Nguyễn Thu có nói đến cuộc khởi nghĩa tại Tư Nông của cựu Trấn Thủ Thái Nguyên Nguyễn Đăng Tiến, tước Quản Vũ Hầu, bị tướng Tây Sơn bắt giải về cho Vũ Văn Nhậm. Nhậm trọng sự khí khái nên dụ hàng, sau đó cũng tha bổng và cho phép muốn đi đâu thì đi.  Họ đi sang Vân Nam. Nguyễn Quýnh quay trở về Hồng Lĩnh khởi nghĩa bị bắt và bị giết năm 1791 tròn 30 tuổi, dinh thự và làng Tiên Điền bị đốt sạch. Đến Vân Nam, Nguyễn Du bị bệnh ba tháng mùa xuân. Hết bệnh, họ đi Liễu Châu và chia tay, Nguyễn Đại Lang về thăm quê nhà vùng Quế Lâm, cao sơn lưu thủy. Nguyễn Du đi giang hồ ba năm ở Trung Quốc trong áo mũ nhà sư mang danh Chí Hiên, từ Quảng Tây theo thuyền đi dọc sông và Hồ Động Đình đến Hán Khẩu, rồi theo sông Hán rồi lên Trường An viết bài Dương Quý Phi, Bùi Tấn Công mộ, Phân Kinh thạch đài, rồi lại theo kinh Đại Vận Hà đến Hàng Châu .

Tại lời đề “tiểu dẫn” của “Thăng long cầm giả ca”, chính  Nguyễn Du đã nói rõ rằng những năm trước và sau cái Nguyễn Huệ ra Bắc lần 2 đến lúc Nguyễn Huệ chết, ông chủ yếu ở Thăng Long và “Lưu Hương ký” của Hồ Xuân Hương cũng trùng khớp và là lời xác nhận về “ba năm vẹn” đó.

Trong “Thanh Hiên thi tập” nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Chánh đã phát hiện thấy “có những bài tả cảnh tuyết, núi non trùng điệp, lá vàng, trưởng giả ăn mặc còn theo nhà Hán (không theo nhà Thanh để tóc bính đuôi sam, áo quần Mãn Châu), dân chúng theo lịch nhà Tần, xử dụng nhạc cụ “tù và” ? … Nguyễn Du có những câu thơ kỳ lạ: Tôi đọc kinh Kim Cương nghìn lượt?. Muôn dậm mũ vàng chiều nắng xế? Giang Bắc, Giang Nam cái túi không? Nguyễn Du làm gì mà đọc kinh Kim Cương trong ba năm, đội mũ vàng nhà sư đi muôn dậm (khoảng 5000 km), làm gì không tiền mà đi hết các sông phía bắc đến sông phía nam Dương Tử Giang ? Nguyễn Du ở đâu mà cách Trường An ngàn dậm về phía Nam ?Theo Nguyễn Hành, cháu Nguyễn Du, có viết ông có một cuộc đời giang hồ như cuộc đời làm quan : Giang hồ long miếu hai điều đủ, Thi họa cầm thư bốn nghệ tinh. Theo gia phả từ năm 1786 đến 1796 Nguyễn Du về quê vợ tại Quỳnh Hải, Thái Bình hợp cùng Đoàn Nguyễn Tuấn khởi nghĩa chống Tây Sơn. Nhưng điều này không đúng vì từ năm 1788 Đoàn Nguyễn Tuấn ra làm quan Tây Sơn và đi sứ trong đoàn 158 người năm 1790. Đoàn Nguyễn Tuấn có hai bài thơ viết tặng một văn nhân họ Nguyễn, gặp tại Hoàng Châu, Trung Quốc vào mùa thu bàn luận về văn chương sôi nổi chuyện gì ?, Đoàn Nguyễn Tuấn phải lên Nhiệt Hà nơi vua Càn Long đang nghỉ mát ? Văn nhân họ Nguyễn đi xe song mã về Nam và hẹn gặp lại tại nước nhà vào mùa xuân. Trên đường đi cớ gì mà Đoàn lại viết một bài thơ Vô Đề về hồng nhan đa truân khi gặp một ca nhi hát cho sứ đoàn tại bến sông Hán?.”

Nguyễn Du dẫn vợ con về quê bà vợ cả ở Thái Bình sống qua ngày. Đó cũng là thời gian ông sáng tác tập Thanh Hiên tiền hậu tập, Nguyễn Hưng Quốc đã nhận định như vậy trong bài  “Tết đọc lại Nguyễn Du”. … “tổng số 65 bài của tập thơ, có 17 bài nhắc đến hình ảnh bạch phát hay bạch đầu: “Bạch đầu đa hận tuế thời thiên” (Đầu bạc thường bực vì ngày tháng trôi mau); hay “Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên” (Tráng sĩ đầu bạc bùi ngùi ngẩng lên trời) hay “Bạch phát hùng tâm không đốt ta” (Tóc bạc rồi, dù có hùng tâm, cũng chỉ biết ngồi suông than thở). Không biết ông bệnh gì, nhưng lúc nào cũng than bệnh: “Nhất nhất xuân hàn cựu bệnh đa” (Một nhà xuân lạnh, bệnh cũ lại nhiều); “Tam xuân tích bệnh bần vô dược” (Ba tháng xuân ốm liên miên, nghèo không có thuốc); “Cùng niên ngọa bệnh Tuế giang tân” (Suốt năm đau ốm nằm ở bến Tuế giang); “Đa bệnh đa sầu khí bất thư” (Lắm bệnh, hay buồn, tâm thần không được thư thái); “Thập niên túc tật vô nhân vấn” (Bệnh cũ mười năm, không ai thăm hỏi); “Giang hồ bệnh đáo kinh thời cửu” (Bệnh đến trong bước giang hồ đã lâu ngày). Đã bệnh lại còn nghèo. Phải ở nhờ nhà người khác: “Tiêu tiêu bạch phát ký nhân gia” (Đầu bạc bơ phờ ở nhờ nhà người). Hết nhờ người này sang nhờ người khác: “Lữ thực giang tân hựu hải tân” (Hết ăn nhờ ở miền sông lại đến miền biển). Lúc nào trong túi cũng rỗng không: “Giang nam giang bắc nhất nang không” (Một chiếc túi rỗng không, đi hết phía nam sông lại sang phía bắc sông). Thiếu mặc: “Tảo hàn dĩ giác vô y khổ” (Mới rét mà đã thấy khổ vì không áo). Có khi đói: “Táo đầu chung nhật vô yên hỏa” (Suốt ngày bếp không đỏ lửa). Ngay cả khi Nguyễn Du đã ra làm quan dưới triều Gia Long rồi, có năm vợ con vẫn đói: “Thập khẩu hài nhi thái sắc đồng” (Nhà mười miệng trẻ đói xanh như rau); “Thập khẩu đề cơ Hoành Lĩnh bắc” (Nhà mười miệng ăn đang kêu đói ở phía bắc Hoành sơn). Mười đứa trẻ ở đây chính là con của Nguyễn Du. (Gia phả ghi Nguyễn Du có 3 vợ: bà vợ đầu sinh một con trai tên Nguyễn Tứ; bà vợ thứ hai cũng sinh một con trai tên Nguyễn Ngũ; bà vợ thứ ba sinh mười con trai và sáu con gái; tổng cộng, như vậy, ông có 18 người con. Tuy nhiên, căn cứ vào tên người con đầu, Nguyễn Tứ, chúng ta có thể đoán là ông có ba người con khác, anh hay chị của Nguyễn Tứ, có lẽ đã chết lúc còn nhỏ hoặc ngay trong bào thai.) Đói đến độ có lúc phải xin ăn: “Cơ hàn bất giác thụ nhân liên” (Đâu ngờ phải đói rét để cho người thương). Nhưng buồn nhất có lẽ là cảm giác bất lực và bế tắc…”

Năm Mậu Thân (1788) Nguyễn Du 23 tuổi. Tống Phước Đạm dâng kế cho Nguyễn Ánh: “Tây Sơn tuy lấy được Bắc Hà nhưng vua Lê Chiêu Thống và triều đình nhà Lê còn trốn tránh trong vùng rừng núi, nhất định sẽ cầu viện nhà Thanh. Nhân lúc Nguyễn Huệ đang bận đối phó ở phía Bắc chưa rỗi để mắt đến phía Nam. Nguyễn Nhạc và  Nguyễn Lữ ở phía Nam khó xoay trở. Chúa thượng nhân lúc này về chiếm đất Gia Định sẽ có thời cơ lớn”. Nguyễn Ánh nghe lời, đem đại quân về An Giang nhưng chưa kịp dựng đồn trại thì đã bị quân Tây Sơn tấn công. Quân hai bên giao chiến kịch liệt, quân của Thái bảo Phạm Văn Tham mới chịu lui. Thề lực Nguyễn Ánh ngày một nổi lên và có nhiều tướng giỏi. Tôn Thất Huy đóng ở Giồng Triệu. Lê Văn Quân đóng ở Giồng Trôm. Mạc Tử Sinh trấn thủ Hà Tiên. Phạm Văn Nhơn trấn thủ Long Xuyên. Trương Phước  Giáo, Nguyễn Đình Đắc, Tôn Thất Hội, Võ Văn Lượng, Nguyễn Văn Hiếu, Mạc Văn Tô, Trần Văn Tín, Đoàn Văn Khoa , … đều là những nghĩa dũng. Đặc biệt quân sư Tống Phước Đạm mưu kế sâu sắc, liệu việc như thần. Chu Văn Tiếp, Đỗ Thành Nhơn, Võ Tánh là Gia Định tam hùng. Nguyễn Ánh trao cho Võ Tánh giữ chức khâm sai Tổng nhung, chưởng cơ dinh Tiên phong, lại gả trưởng công chúa Nguyễn Thị Ngọc Du cho Võ Tánh. Từ ngày Nguyễn Ánh lên nối ngôi vua Nguyễn tháng 2 năm 1780, sau đó giết Đỗ Thanh Nhơn, thâu tóm quyền lực, cho đến năm 1788 chưa bao giờ thế lực quân Nguyễn mạnh đến như vậy. Nguyễn Ánh thu phục Gia Định lần thứ Tư nhằm ngày Đinh Dậu tháng 8 năm Mậu Thân (9.1788). Tướng Tây Sơn Phạm Văn Tham lui về giữ những điểm trọng yếu ở Ba Thắc và Biên Hòa, đồng thời cấp báo về Quy Nhơn để xin viện binh. Nguyễn Nhạc chần chừ không dám phát binh vì sợ quân Nam thừa cơ đánh úp Quy Nhơn trong khi Nguyễn Huệ đang bận ở mặt Bắc không thể kịp ứng cứu. Do Gia Định quân Tây Sơn không có cứu viện nên lực lượng Nguyễn Vương đã đánh rộng ra các địa bàn phía Nam và làm chủ vững chắc vùng Nam Bộ ngày nay.

Vua Lê Chiêu Thông bị tướng Tây Sơn Ngô Văn Sở đánh tan ở sông Ngô Đồng, chạy vào Thành Hoa rồi ra Kinh Bắc, Vua Chiêu Thống sai Trần Danh Án và Lê Duy Đản đi sứ sang cầu viện binh nhà Thanh, nhưng khi đi đến gần biên giới thì mới hay tin là quân của Tôn Sĩ Nghị đang kéo qua, liền vội quay về báo vua Lê Chiêu Thống để bí mật lên cửa ải đón viện binh.

Tôn Sĩ Nghị tiến thẳng vào Thăng Long. Ngô Văn Sở theo kế của Ngô Thời Nhiệm lui binh vào Tam Điệp và cấp báo cho Nguyễn Huệ. Tôn Sĩ Nghị chọn ngày 21 tháng 11 tuyên phong cho Lê Chiêu Thống làm An Nam Quốc Vương. Các bề tôi văn võ nhà Lê xin Nghị cho quân tiến đánh ngay quân Nguyễn Huệ nhưng Nghị không nghe, truyền cho các cánh quân hạ trại nghỉ ngơi, định ngày mồng 6 Tết mới ra quân.

Nguyễn Huệ ở Bình Sơn nhận được tin cấp báo đã lên ngôi Hoàng Đế ngày 25 tháng 11, đổi niên hiệu là Quang Trung, ngay hôm ấy đưa quân lên đường ra Nghệ An tiến gấp ra Bắc. Nguyễn Huệ vấn kế La Sơn Phu Tử. Nguyễn Thiếp tán đồng việc bất ngờ đánh gấp. Nguyễn Huệ tuyển thêm quân Thanh Nghệ làm đạo Trung quân cùng bốn đạo Tiền, Hậu, Tả, Hữu  của cựu binh Thuận Quảng gấp đường tiến ra Bắc. Trong lúc đám quân Thanh mãi mê ăn Tết không phòng bị, quân Tây Sơn bất ngờ tấn công. Đồn Hà Hồi nhanh chóng bị tiêu diệt  trước giao thừa không kịp truyền báo cho Trungqua6n ở Thăng Long.

Năm Kỷ Dậu (1789) Nguyễn Du 24 tuổi. Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh.
(còn nữa…)

Nguyễn Du Hồ Xuân Hương luận anh hùng

Nguyễn Du khí phách và tầm nhìn

 

Hoàng Kim

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây  cập nhật mỗi ngày

 

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa

NguyenDu
365 chuyện kể mỗi ngày. 3 tháng 1 năm 1776 nhằm ngày 23 tháng 11  năm Ất Dậu là ngày sinh của Nguyễn Du. Ba trăm năm nữa chốc mòng. Biết ai thiên hạ khóc cùng Tố Như? Bất tri tam bách dư niên hậu. Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”. Nguyễn Du là danh nhân văn hóa thế giới, nhà thơ lớn, nhưng tầm vóc của Người không chỉ vậy. Nguyễn Du là danh sĩ tinh hoa, hiền tài lỗi lạc, nhà chính trị, ngoại giao, văn hóa, giáo dục kiệt xuất Việt Nam không riêng triều Nguyễn mà còn của mọi thời đại.

Nguyễn Du 250 năm nhìn lại, đã giới thiệu Nguyễn Du quê hương và dòng họ, tóm tắt gia thế Nguyễn Du để hiểu câu Kiều: “Triều đình riêng một góc trời/ Gồm hai văn võ rạch đôi sơn hà.” Họ Nguyễn Tiên Điền có thế lực mạnh đến mức nhà Lê, họ Trịnh, nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn đều tìm cách liên kết, lôi kéo, mua chuộc, khống chế hoặc ra tay tàn độc để trấn phản. Nguyễn Du cuộc đời và thời thế, niên biểu từ lúc ông sinh thành cho đến lúc Nguyễn Du mười sáu tuổi, làm Chánh Thủ hiệu quân Hùng Hậu ở Thái Nguyên, tạo đất căn bản, dấy nghiệp ở Bắc Hà, lập thế chân vạc, tranh hùng với Nguyễn Huệ nhà Tây Sơn ở Thuận Hóa và Nguyễn Ánh ở đất Gia Định.

Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa thể hiện trên ba điểm căn bàn: 1) Nguyễn Du phong trần mài một lưỡi gươm, văn võ song toàn, dám và biết đương đầu với các thế lực mạnh nhất thời đó.  2) Nguyễn Du đội trời đạp đất ở đời, tầm nhìn sáng suốt, ý chí kiên định, lúc thế cùng vẫn tìm cách vượt qua trở ngại để đi tới ; 3) Nguyễn Du thiện căn ở tại lòng ta, là bậc chính nhân, biết mệnh trời và cân nhắc thận trọng, xuất xử hợp lý, biết yêu thương con người, tầm vóc Nguyễn Du cao hơn những quân chủ đương thời.   Khóc Nguyễn Du là sự khóc “tri bỉ, tri kỷ”. Người biết Từ Hải là nàng Kiều. Người biết Nguyễn Du là Hồ Xuân Hương. “Khen cho con mắt tinh đời/ Anh hùng đoán giữa trần ai mới già/ Một lời đã biết đến ta/ Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau“.

Nguyễn Du phong trần mài một lưỡi gươm

Lần theo chính sử chúng ta tái hiện được Nguyễn Du của năm năm đầu trong 15 năm lưu lạc (1781-1796):

Năm Tân Sửu (1781) Nguyễn Du mười sáu tuổi, Nguyễn Du làm Chánh Thủ hiệu quân Hùng Hậu ở Thái Nguyên. Ý định họ Nguyễn Tiên Điền và Nguyễn Du là tạo đất căn bản và dấy nghiệp ở Bắc Hà, lập thế chân vạc, tranh hùng với Nguyễn Huệ nhà Tây Sơn ở Thuận Hóa và Nguyễn Ánh ở đất Gia Định. Tướng trấn thủ Thái Nguyên Quản Vũ Hầu Nguyễn Đăng Tiến (Hà Mỗ trong Gia Phả họ Nguyễn Tiên Điền) là cha nuôi của Nguyễn Du và tâm phúc Nguyễn Nhiễm. Tướng trấn thủ Sơn Tây Nguyễn Điền là anh cùng cha khác mẹ của Nguyễn Du, Tướng trấn nhậm Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ đều là học trò Nguyễn Nhiễm và đó cũng là đất tổ nghiệp của nhà Nguyễn Tiên Điền. Nguyễn Du định dựng cờ phù Lê, xin chiếu vua Càn Long, liên thủ với vùng Nam Trung Quốc và Nghệ Tĩnh, giao kết kẻ sĩ, xây dựng lực lượng, trầm tĩnh theo chuyển biến thời cuộc để chớp thời cơ hành động.

Chọc trời khuấy nước mặc dầu
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai

Cũng năm ấy, Nguyễn Ánh sau sự biến Đông Sơn, phải vất vả đối phó với nội tình tan rã ở Gia Định. Tháng 10 năm đó, vua nước Xiêm La (Thái Lan) là Trịnh Quốc Anh (Taksin) sai hai anh em tướng Chất Tri (Chakkri) sang đánh Chân Lạp. Nguyễn Vương sai Nguyễn Hữu Thụy và Hồ Văn Lân sang cứu, trong khi hai quân đang chống nhau thì ở Vọng Các (Băng Cốc) vua Xiêm bắt giam vợ con của hai anh em Chất Tri. Hai anh em tướng Chất Tri (Chakkri) bèn giao kết với Nguyễn Hữu Thụy rồi đem quân về giết Trình Quốc Anh (Taksin) và tự lập làm vua Xiêm La, xưng là Phật Vương (Rama1). Họ Chakkri làm vua cho đến ngày nay và các vua đều xưng là Rama. Vua Rama I chọn Bangkok (hay “Thành phố của các thiên thần”) làm kinh đô.

Năm Nhâm Dần (1782). Nguyễn Du mười bảy tuổi. Năm ấy, Trịnh Sâm mất, Kiêu binh phế Trịnh Cán, lập Trịnh Khải (Trịnh Tông) lên ngôi chúa. Hai anh của Nguyễn Du là Nguyễn Khản được làm Thượng thư bộ Lại, tước Toản Quận công, Nguyễn Điều làm Trấn thủ Sơn Tây.

Trước đó, Trịnh Sâm kiêu hãnh khi quân Trịnh lấy được Thuận Hóa, đã có ý cướp ngôi nhà Lê, bèn sai quan thị lang Vũ Trần Thiệu đi cùng quan nội giám mang biểu sang tấu trình vua Thanh rằng con cháu nhà Lê không có ai đáng làm vua nữa. Nhưng, Vũ Trần Thiệu khi sang hồ Đồng Đình đã đem đốt tờ biểu rồi uống thuốc độc mà chết nên việc cầu phong bỏ không nói đến nữa. Trịnh Sâm say đắm Đặng Thị Huệ, trước khi chết để di chiếu phế con trưởng là Trịnh Khải lập con thứ là Trịnh Cán làm thế tử và giao Huy Quận Công Hoàng Đình Bảo (Tố Lý) làm phụ chính. Trịnh Cán ít tuổi, lắm bệnh không mấy người phục, nên xảy ra biến loạn. Tháng 9 năm 1782 Trịnh Sâm mất, Trịnh Khải mưu với quân tam phủ kéo đến vây phủ giết Hoàng Đình Bảo, bỏ Trịnh Cán và Đặng Thị Huệ, lập Trịnh Khải lên làm chúa, tức Đoan Nam Vương (Nguyễn Khản là thầy dạy của Trịnh Khải).

Tháng 10 năm 1782, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ đem hơn 100 chiến thuyền vào cửa Cần Giờ đánh nhau với quân Nguyễn Ánh ở Ngã Bảy. Thủy binh Tây Sơn tinh nhuệ và thiện chiến áp sát và dùng hỏa hổ tấn công. Quân Nguyễn Ánh mặc dù có người Pháp và người Bồ Đào Nha điều khiển tàu châu Âu bảo vệ vòng ngoài vẫn thua to. Cai cơ Mạn Hòe (Manuel) người Pháp chết tại trận. Nguyễn Ánh phải bỏ thành Sài Gòn chạy về Ba Giồng. Quận công Tống Phước Thiêm bị quân Đông Sơn giết chết. Nguyễn Ánh dẫn tàn quân lánh ra đảo Phú Quốc.

Nguyễn Nhạc bình xong đất Gia Định, rút quân về Quy Nhơn, để hàng tướng Đông Sơn là Đỗ Nhàn Trập giữ Sài Gòn. Khi quân Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ về Quy Nhơn rồi, Chu Văn Tiếp đem quân từ Phú Yên về hợp với quân các đạo, đánh đuổi quân Tây Sơn đi, lấy lại thành Sài Gòn rồi đón Nguyễn Ánh về, sửa sang mọi việc để chống giữ với Tây Sơn.

Năm Quý Mão (1783). Nguyễn Du mười tám tuổi. Nguyễn Du thi Hương ở trường Sơn Nam, đậu Tam trường . Nguyễn Du vẫn giữ chức Chánh thủ hiệu quân Hùng hậu Thái Nguyên, nơi Quản Vũ Hầu Nguyễn Đăng Tiến là cha nuôi làm quan trấn thủ. Đây là vùng đất hiểm yếu có nhiều người Trung Quốc sang khai mỏ bạc. Nguyễn Đăng Tiến vốn là tay giặc già phản Thanh phục Minh người Việt Đông Trung Quốc, vừa là tân khách, thầy dạy võ cho Nguyễn Du và các anh em, vừa là tâm phúc của Nguyễn Nhiễm.

Nguyễn Du lấy vợ chính thất họ Đoàn (hoặc đính hôn?) là con gái thứ sáu của Đoàn Nguyễn Thục (người Quỳnh Côi, Hải An xưa thuộc Sơn Nam, nay thuộc Thái Bình). Nhờ lương duyên này mà Nguyễn Du có thêm thế lực của cha vợ là quan Hoàng giáp Phó Đô ngự sử Quỳnh Châu bá và anh vợ là tiến sĩ Đoàn Nguyễn Tuấn, sau này làm quan thị lang triều Tây Sơn.

Cũng năm ấy, Nguyễn Khản đầu năm thăng chức Thiếu Bảo, cuối năm thăng chức Tham tụng, Thượng Thư Bộ Lại kiêm trấn thủ Thái Nguyên, Hưng Hóa. Anh cùng mẹ của Nguyễn Du là Nguyễn Nễ (sinh 1761) đỗ đầu thi Hương ở điện Phụng Thiên, được bổ thị nội văn chức, khâm thị nhật giảng, sung Nội Hàn Viện cung phụng sứ, phó tri thị nội thư tả lại phiên, Thiên Thư Khu mật viện Đức Phái hầu, cai quản đội quân Phấn Nhất của phủ Chúa. Vừa lúc Thuận Châu khởi binh, phụng sai hiệp tán quân cơ của đạo Sơn Tây.

Năm 1783, vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc sai Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ đem binh vào đánh phía Nam. Trong chiến dịch này Nguyễn Huệ đã khéo lợi dụng lúc thủy triều lên và mượn sức gió thổi từ biển vào đất liền để dùng hỏa công và hỏa hổ tiến công, trên bờ thì dùng voi chiến do thủy binh chở vào, lần đầu xuất hiện ở đất Gia Định trên một địa thế hẹp. Nguyễn Vương thua to. Nguyễn Ánh rước mẹ và cung quyến chạy ra đảo Phú Quốc. Tháng 6 năm ấy, Nguyễn Huệ ra đánh Phú Quốc, Nguyễn Vương chạy về Côn Lôn. Quân Tây Sơn lại đem thuyền đến vây Côn Lôn , nhưng gặp bão đánh đắm cả thuyền nên Nguyễn Ánh mới trốn thoát được, chạy về đảo Cổ Cốt rồi lại trở về Phú Quốc.

Lại nói đất kinh kỳ Thăng Long, nguyên từ khi họ Trịnh giúp nhà Lê trung hưng về sau, chia quân làm hai thứ binh là ưu binh và nhất binh. Ưu binh thì kén quân Thanh Nghệ làm quân túc vệ đóng ở kinh thành canh giữ những nơi trọng yếu cung vua phủ chúa, được cấp công điền và có chức sắc. Nhất binh là lính tứ trấn ở Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Dương, Sơn Tây chỉ để đủ giữ các trấn và hầu hạ các quan còn thì cho về làm ruộng, khi cần dùng thì mới gọi. Những lính ưu binh từ các đời trước dù có kẻ ngang ngược công thần nhưng nhà chúa cũng chỉ trị tội tên cầm đầu mà vẫn giữ chế độ ưu binh, nên về sau ưu binh đã quen thói gặp điều trái ý là nổi lên làm loạn. Nay Trịnh Khải nhờ quân tam phủ Thanh Nghệ mà đoạt được ngôi chúa Đoan Nam Vương, trừ được vây cánh của Trịnh Cán nên ban ân quan tước cho kẻ đứng đầu kiêu binh là Nguyễn Bằng và trọng thưởng cho kiêu binh. Đó chính là mầm loạn khó kiềm chế.

Năm Giáp Thìn (1784). Nguyễn Du mười chín tuổi. Tháng 2 , nhân vụ 7 kiêu binh bị nhà chúa giết vì bữa tiệc vua Lê đãi kiêu binh có công phò Hoàng Tự Tôn Lê Duy Kỳ từ trong tù ra, kiêu binh đã nổi dậy đưa hoàng tôn Lê Duy Kỳ lên làm thái tử. Tư dinh của Nguyễn Khản ở phường Bích Câu, Thăng Long bị phá. Nguyễn Khản trốn lên với em là Nguyễn Điều đang làm trấn thủ Sơn Tây và Nguyễn Nể làm Hiệp tán Nhung vụ. Họ toan hợp quân các trấn về đánh kiêu binh, nhưng khi sự lộ ra quân kiêu binh vào canh chặt phủ chúa, Trịnh Khải không ra được nên mưu bất thành. Kiêu binh chia nhau giữ các cửa ô. Quân các trấn sợ chúa bị hại nên đành kéo về. Kiêu binh áp lực bãi chức Nguyễn Khản và giáng chức Nguyễn Điều, hai người về Hà Tỉnh.

Lại nói Hoàng tôn Lê Duy Kỳ (tức vua Lê Mẫn Đế, Lê Chiêu Thống sau này) là con trưởng của Lê Duy Vĩ, cháu đích tôn của vua Lê Hiển Tông . Ba anh em hoàng tự tôn được kiêu binh giải cứu sau 15 năm lao tù. có mối hận sâu sắc với chúa Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm (1767-1782). Hoàng Lê Nhất thống chí của Ngô Thời Chí kể rằng: Nguyên Trịnh Doanh có con gái lớn là quận chúa Tiên Dung , quận chúa là con vợ cả, được Trịnh Doanh yêu lắm. Thế tử Trịnh Sâm là con vợ thứ. Vợ cả Doanh muốn con được làm hoàng hậu nên xin với Doanh để gả cho thế tử Lê Duy Vĩ. Vì quá yêu con, vợ Doanh thường phân biệt lễ vua tôi quá rõ rệt, những bữa mời thái tử ăn cơm, Sâm không được vợ cả Trịnh Doanh cho cùng ngồi với thái tử. Trịnh Sâm nói với Lê Duy Vĩ: “Trong hai ta phải có kẻ mất người còn. Vua ấy không thể cùng thời với chúa này”. Thái tử Lê Duy Vĩ vẫn có ý đề phòng, thường giao kết với hào kiệt và dân sĩ trong thiên hạ, mong ngày giành lại thực quyền. Do Trịnh Doanh mất sớm. Trịnh Sâm được lên thay quyền. Việc đầu tiên của Sâm là sai một viên quan thị vu cho thái tử thông gian với cung nhân của Trịnh Doanh (Lập lại mưu cũ của Trịnh Giang giết vua trước đây: vu cho Lê Đế Duy Phương tư thông với vợ Trịnh Cương, buộc phế bỏ, giáng xuống làm Hôn Đức quân, rồi bị giết chết). Nay thái tử Lê Duy Vĩ cũng bị kết tội trạng giống hệt vậy. Thái tử và ba con bị tống giam vào ngục. Sau đó, thái tử lại bị vu tội định bỏ trốn để tạo phản nên bức uống thuốc độc chết năm 1771. Ba anh em hoàng tự tôn bị giam vào ngục 15 năm sau mới được kiêu binh giải cứu. Nhà chúa giết bảy kiêu binh giải cứu hoàng tự tôn Lê Duy Kỳ khi vua Lê đang thiết họ ăn uống đã châm ngòi cho loạn Kiêu binh phá nát Tư dinh của Nguyễn Khản ở phường Bích Câu và áp lực bãi chức Nguyễn Khản, bởi ông là thầy Trịnh Khải, lại làm quan Tham tụng, thượng thư bộ Lại.

Lại nói Nguyễn Ánh ở Phú Quốc hết sạch lương thực phải hái rau và tìm củ chuối mà ăn, thế lực cùng kiệt, bèn cho người tìm người quen cũ là cố đạo Bá Đa Lộc lúc đó đang ở Thái Lan để hỏi kế. Bá Đa Lộc khuyên là nên cầu nước Pháp nhưng phải cho thế tử Cảnh cùng đi để làm tin. Nguyễn Ánh theo lời ấy, bèn giao Hoàng tử Cảnh theo Bá Đa Lộc mang quốc thư sang Pháp. Tờ thư ấy có 14 khoản đại ý xin nước Pháp giúp cho 1500 quân và tàu bè, súng ống, thuốc đạn, đủ cả mọi thứ. Nguyễn Vương xin nhường cho nước Pháp cửa Hội An, đảo Côn Lôn và để riêng cho nước Pháp được đặc quyền vào buôn bán ở nước Nam. Nguyễn Ánh lại tiếp được mật biểu của Châu Văn Tiếp (lúc trước bị thua ở Sài Gòn đã theo đường núi chạy sang Thái Lan xin cầu viện) nên mới đến hội với tướng Thái Lan tại Hà Tiên và sau đó sang Bangkok. Vua Xiêm Chakri (Rama1) tiếp đãi Nguyễn Ánh rất hậu và sai hai tướng Chiêu Tăng, Chiêu Sương cùng các tướng Lục Côn, Sa Uyên và Chiêu Thùy Biện là một cựu thần Chân Lạp thân Xiêm, đem hai vạn quân (tài liệu khác nói là ba vạn, có tài liệu nói là năm vạn kể cả quân bộ của Chân Lạp và hương binh mới mộ của Nguyễn Ánh ) với 300 chiến thuyền sang giúp. Nguyễn Ánh phong Châu Văn Tiếp là Bình Tây đại đô đốc được toàn quyền điều khiển việc quân. Ngày 9 tháng 6 xuất quân, trước chiếm Kiên Giang sau theo hai đường thủy bộ tiến sang lấy được Rạch Giá, Ba Thắc, Trà Ôn, Sa Đéc. Khi đánh đến Mân Thít, Châu Văn Tiếp bị thương nặng và mất. Nguyễn Ánh cử Lê Văn Quân thay chức thống lĩnh đại quân, Nguyễn Văn Thành đem 8.000 quân theo quân Xiêm đi đánh trận. Các tướng Mạc Tử Sinh (con Mạc Thiên Tứ), Nguyễn Thừa Diễn đi trấn thủ và mộ binh ở các vùng vừa chiếm được. Quân Xiêm tiến đến đâu cũng làm nhiều điều hung ác, dân rất oán giận. Tướng Tây Sơn là Trương Văn Đa sai người cấp báo về Quy Nhơn. Vua Tây Sơn sai Nguyễn Huệ đem binh vào chống giữ.

Năm Ất Tỵ (1785). Nguyễn Du hai mươi tuổi. Nguyễn Huệ vào đến Gia Định, nhữ quân Xiêm vào trận địa mai phục ở rạch Gầm, Xoài Mút ở phía trên Mỹ Tho. Nguyễn Huệ bố trí pháo binh ở hai bên bờ và các cù lao trên sông, phục sẵn chiến thuyền ở các con lạch và cù lao Thới Sơn, sau đó phái một số thuyền tới khiêu khích quân Xiêm dụ vào nơi đã giăng bẫy, đánh một trận vào ngày 19 tháng 1 năm 1785, giết quân Xiêm chỉ còn vài nghìn, theo đường bộ chạy được về nước. Nguyễn Huệ phá được quân Xiêm và đem binh truy đuổi Nguyễn Ánh. Chúa Nguyễn hết cả lương thực chỉ còn khoảng 200 quân tướng và 5 chiếc thuyền chạy dạt sang đảo Cổ Cốt, rồi sang Xiêm. Nguyễn Ánh nói với vua Xiêm: Quý quốc vương nghĩ tình lân bang giao hảo cho quân sang giúp nhưng vì tướng tá kiêu ngạo, quân lính tham bạo nên mới đến nổi thất bại như thế. Vua Xiêm Chakri I gọi Chiêu Tăng, Chiêu Sương là “ngu hèn, kiêu căng, hung hãn đến nỗi bại trận làm bại binh, nhục quốc”. Người Xiêm từ sau cuộc bại trận năm 1785, miệng tuy nói khoác mà lòng thì sợ Tây Sơn như cọp. Nguyễn Ánh sau đó xin vua Xiêm cho ra ở Đồng Khoai, ngoại thành Vọng Các (Bangkok ngày nay) khẩn hoang, làm ruộng, đốn củi… để nuôi nhau và bí mật cho người về do thám ở Long Xuyên.

Nguyễn Huệ, sau khi đánh dẹp xong, liền đem đại quân về Quy Nhơn, cử Đô đốc Đặng Văn Trấn ở lại giữ Gia Định. Dương Công Trừng đánh úp quân Tây Sơn ở Long Xuyên bị Thái bảo Tham dẫn quân từ Gia Định xuống đánh, bắt sống và giết chết. Quân Miến Điện sang đánh Xiêm, vua Xiêm đích thâm cầm quân đi đánh. Nguyễn Ánh tự mình cầm quân đi trợ chiến, bắt sống được hơn 500 tù binh cùng nhiều khí giới. Ít lâu sau Xiêm bị quân Chà Và sang xâm chiếm, Nguyễn Ánh sai Lê Văn Quân trợ chiến cùng em vua Xiêm đi đánh trận. Quân Chà Và bị thua phải rút về. Nguyễn Ánh đóng chiến thuyền và dò la tình hình nhà Tây Sơn để mưu tính trở về.

Năm Bính Ngọ (1786). Nguyễn Du hai mươi mốt tuổi. Loạn kiêu binh ở kinh đô Thăng Long lên cao trào. Quân kiêu binh kéo nhau hàng trăm, hàng ngàn đi cướp phá các làng. Hễ có đứa nào đi lẻ loi thì dân làng lại bắt giết đi nên quân và dân xem nhau như cừu địch. Các văn thần võ tướng đều bó tay. Tham tụng Bùi Huy Bích phải dỗ dành mãi mới tạm yên. Các vụ mất mùa liên tiếp xẩy ra, giá gạo tăng vọt và kiêu binh cướp phá làm hàng nghìn người chết đói. Các trấn Quảng Yên, Kinh Bắc, Thái Nguyên lâm vào cảnh tàn phá, nạn đói và nổi dậy lan rộng.

Tây Sơn chăm chú theo dõi sự suy đồi của họ Trịnh. Ý đồ Tây Sơn đối với phía Bắc đã được Nguyễn Hữu Chỉnh đổ thêm dầu. Nguyễn Hữu Chỉnh là môn hạ của Quận Huy Hoàng Đình Bảo, lập kế rước Tây Sơn về dẹp kiêu binh để báo thù cho chủ.

Nguyễn Hữu Chỉnh là người huyện Chân Phúc, phủ Đức Quang, Trấn Nghệ An nay là xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc, Nghệ An, đỗ hương cống năm 16 tuổi, tục gọi là cống Chỉnh. Ông hào hoa, cơ trí, nhiều can đảm lại có tài biện bác, trước theo Hoàng Ngũ Phúc đi đánh giặc bể, giặc sợ gọi là chim dữ. Sách “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” chép: “Hữu Chỉnh, lúc trẻ tuổi đỗ hương tiến, là người hào phóng không bó buộc vào khuôn phép. Du lịch kinh sư, Hữu Chỉnh vào yết kiến Hoàng Ngũ Phúc. Ngũ Phúc khen là có tài khác thường, dùng làm gia khách. Khi Ngũ Phúc vào xâm lấn trong Nam, cho Hữu Chỉnh đi theo quân thứ, giữ công việc thư kí, rồi sai đến Tây Sơn khuyên Văn Nhạc (tức Nguyễn Nhạc) quy thuận với triều đình, được Văn Nhạc kính trọng”.

Sau khi quận Việp mất, Nguyễn Hữu Chỉnh tiếp tục làm thủ hạ cho cháu quận Việp là quận Huy Hoàng Đình Bảo, người được giao làm phụ chính cho Điện Đô vương Trịnh Cán, con nhỏ của Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm lên ngôi lúc mới 5 tuổi. Khi quận Huy bị kiêu binh giết, Nguyễn Hữu Chỉnh bàn với trấn thủ Nghệ An là Võ Tá Giao việc tự lập nhưng Giao sợ không dám theo nên Chỉnh bỏ vào với vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc và được vua Thái Đức Nguyễn Nhạc rất tín nhiệm. Tây Sơn nhiều phen dòm ngó Phú Xuân nhưng còn nghe ngóng chưa dám quyết . Gặp khi Phạm Ngô Cầu sai Nguyễn Phu Như vào do thám Tây Sơn, không ngờ Nguyễn Hữu Chỉnh quen biết Phu Như nên dò biết rõ tình hình Thuận Hóa và hiến kế cho vua Thái Đức.

Nguyễn Nhạc nắm được tình hình Thuận Hóa trấn thủ Phạm Ngô Cầu là người nhu nhược, vô mưu, tham lam, ham làm giàu, mê tín, đa nghi và Bắc Hà biến động nên chớp thời cơ sai em là Nguyễn Huệ làm tiết chế, rể là Vũ Văn Nhậm làm tả quân đô đốc, Nguyễn Hữu Chỉnh làm hữu quân đô đốc đem quân thủy bộ ra đánh Thuận Hóa.Nguyễn Lữ đưa quân tiếp ứng ở mặt sau. Nguyễn Huệ phái một cánh quân thủy tới thẳng sông Gianh để chiếm các công sự phòng thủ và ngăn chặn mọi tiếp viện từ phía Bắc, hai cánh quân thủy bộ cùng lúc tiến đánh Phú Xuân. Phạm Ngô Cầu trúng kế mê hoặc lập đàn chay cầu siêu, lại bị kế li gián của Nguyễn Hữu Chỉnh nên nhanh chóng thất bại. Biết Phạm Ngô Cầu tính đa nghi, Nguyễn Hữu Chỉnh viết thư chiêu hàng gửi phó tướng Hoàng Đình Thể lại giả vờ cho người đưa nhầm cho Phạm Ngô Cầu. Khi quân Tây Sơn đánh thành, Hoàng Đình Thể đem quân bản bộ ra đối trận bắn hết thuốc đạn, Phạm Ngô Cầu đóng chặt cửa thành không ra cứu viện nên Hoàng Đình Thể và hai con cùng tỳ tướng Vũ Tá Kiên đều bị chết. Phạm Ngô Cầu kéo cờ trắng ra hàng bị giải về Quy Nhơn định tội phải chém. Toàn bộ vùng Thuận Hóa rơi vào tay Tây Sơn chỉ trong mấy ngày.

Nguyễn Huệ hội tướng bàn định việc trấn giữ Thuận Hóa. Nguyễn Hữu Chỉnh nói: Tướng quân phụng mệnh ra đánh một trận mà bình được Thuận Hóa, binh uy chấn động Bắc Hà. Phép dùng binh, có đủ thời, thế và cơ thì đánh đâu cũng được. Bắc Hà bây giờ tướng lười, quân kiêu, triều đình không kỹ cương, nay nhân uy thanh nếu đánh là thắng, xin đừng bỏ lỡ. Nguyễn Huệ nói: Bắc Hà có nhiều nhân tài không nên coi thường. Hữu Chỉnh đáp lại: Nhân tài Bắc Hà chỉ có một mình Chỉnh, nay Chỉnh đã bỏ đi thì nước không còn ai, xin ông chớ ngại. Nguyễn Huệ cười nói: Người khác thì ta không ngại mà chỉ ngại ông đó thôi. Chỉnh biến sắc nói: Tôi tài hèn, nói vậy là để tỏ cho ông biết, Bắc Hà không còn nhân tài mà thôi. Nguyễn Huệ lấy lời nói ngọt để yên lòng Chỉnh và bảo rằng: Nhà Lê làm vua đã mấy trăm năm nay, bây giờ cướp lấy, chưa chắc lòng người đã theo mình. Hữu Chỉnh nói: Nay Bắc Hà có vua lại có có chúa, ấy là một sự cổ kim đại biến. Họ Trịnh tiếng là phù Lê, thực là hiếp chế, cả nước không ai phục. Vả xưa nay không ai làm gì để giúp nhà Lê là vì sợ cái thế mạnh đó mà thôi, nay ông phù Lê diệt Trịnh thì thiên hạ ai chẳng theo ông. Nguyễn Huệ nói: Ông nói phải lắm nhưng ta chỉ phụng mệnh đi đánh Thuận Hóa mà thôi, chứ không phụng mệnh đi đánh Bắc Hà, sợ rồi mang tội trái lệnh thì làm thế nào? Hữu Chỉnh nói: Trái lệnh là tội nhỏ, việc ông làm là công to. Tướng ở ngoài có điều không theo mệnh vua, ông lại không biết hay sao?.

Nguyễn Huệ để anh là Nguyễn Lữ ở lại giữ thành Phú Xuân, cử Nguyễn Hữu Chỉnh đem thủy binh đi tiên phong vào cửa Đại An đánh lấy kho lương ở bên sông Vị Hoàng. Nguyễn Huệ tự đem binh đi theo sau, ước với Hữu Chỉnh đến sông Vị Hoàng đốt lửa lên làm hiệu. Đại quân Tây Sơn đánh như gió cuốn ra bắc.

Trịnh Tự Quyền đem quân vào tăng cường cho Nghệ An dềnh dàng chưa tới nơi thì Vị Hoàng đã mất. Trấn thủ Sơn Nam Bùi Thế Dận đưa quân bộ về ứng cứu, đô đốc thủy quân Đinh Tích Nhưỡng dàn chiến thuyền giữ cửa sông Luộc. Nguyễn Huệ lợi dụng gió đông nam thổi mạnh, đêm đến nước sông lên to sai lấy hình nộm đặt lên thuyền rồi đánh trống kéo cờ thả cho thuyền trôi đi. Đinh Tích Nhưỡng dàn thuyền chống giữ và dùng súng để bắn, đến lúc biết bị lừa thì hết cả thuốc đạn không chống nổi quân Tây Sơn phải bỏ thuyền mà chạy. Quân của Bùi Thế Dận và Trịnh Tự Quyền cũng tan cả, Nguyễn Huệ hạ được thành Sơn Nam, một mặt truyền hịch đi các lộ nói danh nghĩa phù Lê diệt Trịnh, một mặt thần tốc đánh thốc vào thành Thăng Long. Quân Trịnh rệu rã thua trận, tan vỡ chạy.

Bấy giờ ở Thăng Long, kiêu binh không sai khiến được, Trịnh Khải gọi Hoàng Phùng Cơ ở Sơn Tây về cứu viện. Quân Tây Sơn tiến lên đánh tan quân thủy của Đinh Tích Nhưỡng và quân bộ của Hoàng Phùng Cơ. Đoan Nam Vương Trịnh Khải đích thân mặc áo nhung y, cầm cờ lên voi thúc quân chặn đánh Nguyễn Huệ ở bến Long Tân nhưng thế quân Tây Sơn quá mạnh nên phải chạy về Sơn Tây rồi bị người dân là Nguyễn Tranh lừa bắt được, áp giải đi nộp cho quân Tây Sơn. Dọc đường, Trịnh Khải lấy gươm cắt cổ mà chết.

Nguyễn Huệ sai lấy vương lễ mà chôn cất chúa Trịnh rồi vào thành Thăng Long yết kiến vua Lê. Họ Trịnh giúp nhà Lê trung hưng lập ra nghiệp chúa truyền từ Trịnh Tùng đến Trịnh Khải được 216 năm (1570-1786) thì chấm dứt. Sau khi Nguyễn Huệ yết kiến vua Lê Hiển Tông, Nguyễn Hữu Chỉnh lại sắp đặt Nguyễn Huệ lấy công chúa Lê Ngọc Hân, con gái thứ của vua Lê. Tại kinh kỳ, phe cánh họ Trịnh còn đông, Bấy giờ mọi người mới hiểu rõ Hữu Chỉnh rước Tây Sơn ra để trả thù cho chủ (chứ không phải Nguyễn Khản).

Tây Sơn ra Bắc, Nguyễn Khản từ Hà Tỉnh theo ghe mành ra Bắc giúp chúa Trịnh chủ trương đóng quân theo lối vẩy sộp kiểu phòng ngự chiều sâu nhiều tầng (theo Lê Quý Kỷ sự), nhưng kiêu binh vu cáo ông rước giặc Tây Sơn về. Nguyễn Khản phải bỏ chạy, ông mất trong hoàn cảnh đó ở Thăng Long, thi hài ông được đưa về an táng tại Hà Tĩnh. Khi kinh thành thất thủ, nhà Trịnh mất, Nguyễn Điều buồn uất ức thành bệnh mất ngày 31-7-1786. Mộ được an táng xã Đại Đồng, huyện Nam Đàn, Nghệ An, sau được cải táng về xã Sơn An, huyện Hương Sơn. Các con và gia đình ông lập chi Nguyễn Tiên Điền tại đây. Chi họ này ở đó hiện có trên 400 người.

Nguyễn Du ở đâu trong năm này? Trong cơn lốc của các sự biến, quân tướng Lê Trịnh nháo nhác tháo thân, khiếp sợ trước binh uy của danh tướng Nguyễn Huệ. Thế nhưng viên võ tướng Nguyễn Du trẻ tuổi, cao lớn, với thanh bảo kiếm của Việp Quân Công Hoàng Ngũ Phúc trao tặng trước đây, đã trầm tĩnh, ung dung bước vào điện Kính Thiên đối mặt với người anh hùng Nguyễn Huệ oai chấn Bắc Hà. Sử liệu đã xác nhận rằng Nguyễn Huệ không giết vị tướng quân tôn phò nhà Lê, vì nếu Nguyễn Huệ ra tay tàn độc lúc này sẽ tự mình xóa đi danh nghĩa “phò Lê diệt Trịnh” mà ông nêu ra trước đó. Mặt khác, đứng bên Nguyễn Du là Quản Vũ Hầu Hà Mỗ Nguyễn Đăng Tiến vốn là một danh tướng sức khỏe tuyệt luân và võ nghệ vô địch luôn kế cận Nguyễn Du như bóng với hình. Nguyễn Huệ với tầm nhìn chiến lược sắc sảo, đồng ý với Nguyễn Đăng Tiến và Nguyễn Du để ông về “quê cũ” của Nguyễn Đăng Tiến ở Quảng Tây. Người đời sau Nguyễn Thế Quang đã kể chuyện Nguyễn Du gặp Nguyễn Huệ tại điện Kính Thiên, và Hoàng Kim đã sơ lược Quảng Tây nay và xưa để luận bàn hình thái lịch sử Trung Việt.

Niên biểu Nguyễn Du từ năm 1786-1820 sẽ được tiếp nối trong một khảo luận khác. Những sử liệu trên đây và tiếp sau đó đã cho thấy: Nguyễn Du là một võ tướng hiển hách, một Từ Hải trong Truyện Kiều, thể hiện rất rõ nét trong năm năm đầu của Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc. Ông là một Đặng Dung bôn ba khi ở Lưỡng Quảng, khi ở vùng “hải tần” đồng bằng ven biển Bắc Bộ, khi là một tổng đốc trọng thần cai bạ Quảng Bình, địa bàn xung yếu mặt bắc của kinh thành Phú Xuân:

Phong trần, mài một lưỡi gươm
Những loài giá áo, túi cơm sá gì
Nghênh ngang một cõi biên thùy
Thiếu gì cô quả, thiếu gì bá vương
Dưới cờ ai dám tranh cường
Năm năm hùng cứ một phương hải tần.

Nguyễn Du đội trời đạp đất ở đời,

Nguyễn Du làm Chánh sứ của vua Gia Long, đối mặt với vua Càn Long, một trong mười vị vua xuất chúng nhất của Trung Hoa từ xưa đến nay. Nguyễn Du đã dám mắng Minh Thành Tổ Chu Đệ ông vua giỏi và tàn bạo nổi tiếng của nhà Minh trong sử Trung Hoa. Nguyễn Du thấu hiểu và tôn vinh Liễu Hạ Huệ ẩn khuất trong dân gian Trung Quốc, ông biết rõ điển tích và đánh giá chuẩn xác những danh nhân văn hóa Trung Hoa mọi thời trước và cùng thời Nguyễn Du với kiến giải vững chắc và văn chương trác tuyệt làm cho các văn thần võ tướng Trung Hoa phải kính nể. Bắc Hành tạp lục là kiệt tác sử thơ có lý có tình, chặt chẽ và sắc sảo đến mức khiến vua Càn Long phải nể phục, triệt binh không dòm ngó, can thiệp vào đất phương Nam.

Nguyễn Du thiện căn ở tại lòng ta,

Tố Như là bậc danh sĩ chí thiện, khiêm nhường tận tụy,  không hề chút sơ hở trong chốn quan trường.  Nguyễn Du hiếu thấu kinh Kim Cương, sâu sắc Kinh Dịch, Phong Thủy và Nhân tướng học, uyên thâm mọi mặt về lịch sử, địa lý, văn hóa, xã hội và ngôn ngữ, cẩn trọng và khiêm nhường hiếm thấy. Ông thấu hiểu và vận dụng sâu sắc trao lại được ngọc cho đời toàn bộ di sản của ông trong một hoàn cảnh hết sức đặc biệt. Vua Gia Long, vua Minh Mệnh trọng dụng và vinh danh Nguyễn Du mà không thể tìm được bất cứ một cớ nhỏ nào để loại trừ.

Nguyễn Du thời thế luận anh hùng sẽ được trình bày ở bài kế tiếp.

Nguyễn Du là Từ Hải trong Truyện Kiu.

Nguyễn Du là danh sĩ tinh hoa còn mãi với thời gian.

(còn tiếp)

HoangKim999
Hoàng Kim

Video yêu thích
Hãy đi về phía mặt trời
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Nguyễn Du 250 năm nhìn lại

NguyenDu
Nguyễn Du sinh ngày 3 tháng 1 năm 1766 nhằm ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu, đến nay vừa tròn 250 năm. Nguyễn Du là danh nhân văn hóa thế giới, nhà thơ lớn, danh sĩ tinh hoa, hiền tài lỗi lạc, nhà chính trị, ngoại giao, văn hóa, giáo dục kiệt xuất không chỉ của nhà Nguyễn mà còn là kỳ tài muôn thuở của mọi thời đại Việt Nam. Nguyễn Du đã vượt lên vinh nhục bản thân giữa thời nhiễu loạn, vàng lầm trong cát để trao ngọc cho đời. Con người Nguyễn Du, Hồng Sơn Liệp Hộ, ra tướng văn, vào tướng võ, chọc trời khuấy nước, Từ Hải khen Kiều khéo biết người. Thánh nhân Tố Như, Nam Hải Điếu Đồ, đêm mặt trăng, ngày mặt trời, nhả ngọc phun châu, Tam Hợp đạo cô tài đoán dịch. Truyện Kiều kiệt tác vô song. Bắc Hành sử thơ tuyệt đỉnh. Bài viết này là nén tâm hương chiêu tuyết cho Người. (Hoàng Kim).

Nguyễn Du, quê hương và dòng họ

Nguyễn Du tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, biệt hiệu Hồng Sơn Liệp Hộ, lại có hiệu Nam Hải Điếu Đồ (kẻ đi câu ở biển Nam). Ông sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu (ngày 3 tháng 1 năm 1766) tại phường Bích Câu ở Thăng Long (Hà Nội), mất ngày 10 tháng tám năm Canh Thìn (ngày 16 tháng 9 năm 1820) tại kinh đô Huế, hưởng thọ 55 tuổi. Nguyễn Du họ Nguyễn Tiên Điền quê hương Nghệ Tĩnh nhưng sống nhiều nơi “Hồng Lam vô gia, huynh đệ tán”, mẹ họ Trần đất Kinh Bắc, tổ tiên Sơn Nam, khởi nghiệp Thái Nguyên, nhiều năm lưu lạc giang hồ ở châu thổ sông Hồng, vùng núi phía Bắc, Nam Trung Quốc,và Nghệ Tĩnh, nhiều năm làm quan ở Quảng Bình và kinh đô Huế. Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa, tính tình khoan hòa điềm tĩnh, đi nhiều, học rộng, là nhà thơ nổi tiếng thời Lê mạt, Nguyễn sơ ở Việt Nam.

Cha của Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm (1708 – 1775), sinh ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh, tên tự Hy Di, hiệu Nghi Hiên, có biệt hiệu là Hồng Ngự cư sĩ, đậu Nhị giáp tiến sĩ , làm quan đến chức Đại tư đồ (Tể tướng) kiêm Trung thư giám, Tổng tài Quốc sử giám, tước Thượng thư bộ Hộ, Xuân Quận công triều Lê. Mẹ là bà Trần Thị Tần, sinh ngày 24 tháng 8 năm 1740, mất ngày 27 tháng 8 năm 1778, con gái một người thuộc hạ Nguyễn Nhiễm làm chức Câu kê lo việc kế toán, quản gia cho cụ Nguyễn Nghiễm. Quê mẹ ở làng Hoa Thiều, xã Minh Đạo, huyện Tiên Du (Đông Ngàn), xứ Kinh Bắc, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh. Bà Trần Thị Tần là vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm, bà kém chồng 32 tuổi, sinh được năm con, bốn trai và một gái. Nguyễn Nghiễm có tám vợ và 21 người con. Vợ chánh thất là bà Đặng Thị Dương, sinh mẫu của Nguyễn Khản; bà hai là Đặng Thị Thuyết, sinh mẫu của Nguyễn Điều, bà là em ruột của bà chánh thất Đặng Thị Dương; bà ba là Trần Thị Tần sinh mẫu của Nguyễn Trụ, Nguyễn Nể, Nguyễn Thị Diên, Nguyễn Du, Nguyễn Ức; bà tư là Nguyễn Thị Xuân, quê ở Bắc Ninh, sinh mẫu của Nguyễn Trứ, Nguyễn Nghi; bà năm là Hồ Thị Ngạn, sinh mẫu của Nguyễn Nhưng; … Đền thờ Nguyễn Nghiễm ở thôn Bảo Kê, xã Tiên Điền. Đền có 3 tấm biển lớn, một khắc 4 chữ “Phúc lý vĩnh tuy” (Phúc ấm lâu dài) do tự tay chúa Trịnh viết. Một tấm khắc 4 chữ: “Dịch tế thư hương” (dòng thư hương đời nối đời) do Đức Bảo sứ thần nhà Thanh đề tặng. Một biển khắc 4 chữ “Quang tiền du hậu” (Rạng rỡ thế hệ trước, phúc ấm ở đời sau) do Tô Kính người Viễn Đông đề tặng. Đền còn có đôi câu đối: Lưỡng triều danh Tể Tướng. Nhất thế đại nho sư (Nho sư cả nước vang danh hiệu. Tể tướng hai triều rạng tiếng tăm). Danh sĩ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, người được Nguyễn Huệ tôn làm thầy, là học trò của Nguyễn Nhiễm, đã viết bài tán Phú Đức nói về thầy học của mình. Nguyễn Nhiễm khi còn sống đặt ruộng cúng và xây sẵn đền thờ ở mặt sông. Sau khi ông mất, triều đình phong “Thượng Đẳng Tôn Thần”, Huân Du Đô Hiến Đại Vương, hàng năm Quốc gia làm tế lễ. Lại giao cho 4 xã chăm sóc hương khói. Ngày sinh, ngày giỗ của ông có cả xã Uy Viễn cùng tế lễ.

Tổ tiên của Nguyễn Du gốc ở làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay thuộc Hà Nội), sau di cư vào Hà Tĩnh, có truyền thống khoa bảng nổi danh ở làng Tiên Điền thời Lê mạt. Trước ông, sáu bảy thế hệ, viễn tổ đã từng đỗ đạt làm quan. Vị tổ họ Nguyễn Tiên Điền là Nam Dương Công, tên thật là Nguyễn Nhiệm, con trai Nguyễn Miễn và là cháu Nguyễn Quyện, gọi Nguyễn Quyện bằng bác ruột. (Nguyễn Miễn là con của Trạng nguyên Nguyễn Thiến, hậu duệ người em của Nguyễn Phi Khanh). Nguyễn Trãi và Nguyễn Du cùng thuộc một dòng họ và chung một ông tổ.

Ông nội của Nguyễn Du là Nguyễn Quỳnh. Ông có 5 vợ và 9 con (6 trai, 3 gái). Trong số 6 người con trai thì có 3 người con đậu đại khoa và làm quan to là Nguyễn Huệ , Nguyễn Nghiễm và Nguyễn Trọng. Ông Nguyễn Quỳnh là người hay đọc sách, tinh thông lý số, giỏi kinh dịch, … Ông chuyên tâm dạy con cái học hành, có soạn ba bộ sách bàn về Kinh Dịch với những việc chiêm nghiệm được trong đời. Ông có trồng ba cây cổ thụ, một cây Muỗm (Xoài), một cây Bồ Lỗ (Cây Nóng), một cây Rói, để sau này con cái thành đạt về thăm cha có chỗ buộc ngựa. Những cây cổ thụ đó, nay vẫn còn, trừ cây Rói bị bão đổ năm 1976. Nguyễn Quỳnh giỏi y thuật từ khi còn trẻ nghe nói có gặp một người Trung Quốc là Ngô Cảnh Phượng (dòng dõi Ngô Cảnh Loan- một nhà địa lý nổi tiếng đời Tống)am hiểu địa lý, gặp nạn, ông đưa về nuôi. Ngô Cảnh Phượng cảm phục ân đức đã truyền cho bí quyết về phong thủy. Họ Nguyễn Tiên Điền thịnh đức, nếp nhà di huấn nối đời làm thuốc và dạy học, nếu có làm quan biết giữ tiết tháo, đức độ, thanh thận cần.

Vợ chính thất của Nguyễn Du họ Đoàn là con thứ sáu của Đoàn Công, Hoàng giáp Phó Đô ngự sử Quỳnh Châu bá người Quỳnh Côi, Hải An (xưa thuộc Sơn Nam, nay thuộc Thái Bình). Theo gia phả của họ Nguyễn Tiên Điền thì ông bà sinh con trai tên Nguyễn Tứ tự là Hạo Như có văn học, Nguyễn Ngũ giỏi võ, Nguyễn Thuyến giỏi văn nhưng không tham gia chính sự. Năm Quý Dậu (1813), bà theo ông đi sứ phương Bắc, về nước được vài năm bị bệnh mất. Bà sinh được một gái gả cho Tú tài Ngô Cảnh Trân, người ở Trảo Nha, Thạch Hà.

Một trong những người yêu thương nhất của Nguyễn Du là Hồ Phi Mai (Hồ Xuân Hương) bà chúa thơ nôm, quê ở Quỳnh Đôi, có quan hệ mật thiết với họ Hồ nhà Tây Sơn, tác giả của Lưu Hương ký. Hồ Xuân Hương cũng là tác giả của những tác phẩm thơ nổi tiếng: Khóc ông phủ Vĩnh Tường, Khóc Tổng Cóc, Làm lẽ, Tự tình, Mời trầu, Đề đền Sầm Nghi Đống, Đèo Ba Dội, Cái quạt, Chùa Quán Sứ, Hang Thánh Hóa, Sư hổ mang, Sư bị ong châm, Quan thị, Mắng học trò dốt … bài nào cũng thực thông minh, hóm hỉnh, vừa sâu sắc vừa cận nhân tình. Chồng Hồ Xuân Hương là Trần Phúc Hiển bị kết án năm 1816 và bị xử tử năm 1818. Trần Ngọc Quán, thi tướng Tao Đàn Cổ Nguyệt Đường, Hiệp trấn Sơn Nam Thượng cũng bị giết năm này.

Gia tộc Nguyễn Du có nhiều người giỏi và giữ những vị trí trọng yếu của thời cuộc: cha là Nguyễn Nhiễm làm Tể tướng hai triều Lê; anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản làm Tể tướng, Tham tụng, Thượng thư bộ Lại kiêm trấn thủ Thái Nguyên, Hưng Hóa triều Lê; cha nuôi là quan trấn thủ Thái Nguyên Quản Vũ Hầu Nguyễn Đăng Tiến, tướng tâm phúc của Nguyễn Nhiễm; cha vợ là Hoàng giáp Phó Đô ngự sử Quỳnh Châu bá Đoàn Nguyễn Thục; anh cùng mẹ là Nguyễn Nễ đứng đầu ngoại giao của cả ba triều Lê, Tây Sơn, Nguyễn (Nguyễn Nễ từng trãi Cai đội quân Nhất Phấn giữ phủ chúa Trịnh, Hiệp tán quân vụ nhà Lê, Tả Phụng nghi bộ Binh, Hiệp tán quân vụ trấn Quy Nhơn, Chánh sứ, Tả đồng nghị trung thư sảnh trấn Nghệ An nhà Tây Sơn, phụ tá Tổng trấn Bắc thành nhà Nguyễn); anh ruột là Nguyễn Điều làm trấn thủ Sơn Tây của triều Lê; anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn làm Thị Lang bộ Lại nhà Tây Sơn; anh rể là tiến sĩ Vũ Trinh làm Hữu Tham tri bộ Hình, thầy dạy Nguyễn Văn Thuyên, con của Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành.

Nguyễn Du rất được quý trọng của nhiều danh sĩ đương thời. Văn chương của ông đặc biệt lưu truyền sâu rộng trong lòng dân. Ông giao thiệp rộng với nhiều tướng văn võ của triều Lê như Hoàng Ngũ Phúc, Nguyễn Hữu Chỉnh, với danh thần nhà Tây Sơn như La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, Ngô Thì Nhậm, Trần Văn Kỷ, Phan Huy Ích, Ngô Văn Sở, Thận Quận công, với danh thần nhà Nguyễn như Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh, Phạm Văn Hưng, Nguyễn Công Trứ, Trương Đăng Quế, Nguyễn Văn Giai…

Nguyễn Du mất ở Kinh Đô Huế ngày 10 tháng tám năm Canh Thìn (ngày 16 tháng 9 năm 1820), an táng tại cánh đồng Bào Đá, xã An Ninh, huyện Phong Điền. Năm Giáp Thân (1824), hài cốt của cụ được cải táng đưa về quê nhà ở Đồng Ngang thuộc giáp cũ của bản xã (có bút phê) ở thôn Thuận Mỹ, làng Tiên Điền, Hà Tĩnh. Những năm sau đó dời đến táng cạnh đền thờ Nguyễn Trọng và lại cải táng đến xứ Đồng Cùng, giữa một vùng cát rộng. Tới nay, mộ cụ Nguyễn Du qua nhiều trùng tu, ngày một tôn nghiêm hơn.

Tóm tắt gia thế Nguyễn Du như trên để hiểu câu Kiều: “Triều đình riêng một góc trời/ Gồm hai văn võ rạch đôi sơn hà.” Họ Nguyễn Tiên Điền có thế lực mạnh đến mức nhà Lê, họ Trịnh, nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn đều tìm cách liên kết, lôi kéo, mua chuộc, khống chế hoặc ra tay tàn độc để trấn phản.

Nguyễn Du không phải mười năm gió bụi mà thực sự mười lăm năm lưu lạc khớp đúng truyện Kiều và cũng khớp đúng mười lăm năm “bảy nổi ba chìm với nước non” của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.

Nguyễn Du cuộc đời và thời thế

Tôi bàng hoàng thức dậy lúc nửa đêm, vội vã chép lại giấc mơ lạ Nguyễn Du nửa đêm đọc lại lúc 12g40 ngày 4 tháng 7 năm 2012, với lời của cụ già nhắn gửi: “- Ta là Linh Nhạc Phật Ý, ở gần đây và có nhân duyên với con nên ta giúp con làm sáng tỏ chuyện này. Con hãy ghi nhớ kỹ những lời ta dặn, để tìm tòi kiến giải đủ 12 câu hỏi thập nhị nhân duyên”. Từ ngày 3 tháng 1 năm 2015 đến ngày 3 tháng 1 năm 2016, tôi dốc sức nghe theo lời khuyên của cụ già báo mộng, đã tra cứu các thư tịch cổ triều Nguyễn để lập Niên biểu Nguyễn Du và lần theo dấu vết những lời khuyên trong giấc mơ lạ trên.

Hoài Thanh đã khái quát “Thời đại Nguyễn Du và thân thế Nguyễn Du” trong sách “200 năm nghiên cứu bàn luận truyện Kiều” của soạn giả Lê Xuân Lít, trang 15-21: “Nguyễn Du sinh năm 1765. Kể từ khi Lê Lợi đánh quân Minh dựng nước đến bấy giờ đã có hơn ba trăm năm. Sau ba trăm năm ấy chế độ phong kiến nước ta đã suy vi đến cực độ. Nguy ngoại xâm hầu như không có. Chính quyền phong kiến tập trung mất lý do để tồn tại. Những cuộc biến liên tiếp xảy ra. Mạc đoạt quyền Lê, Lê Mạc phân tranh, Nguyễn cát cứ Thuận Hóa, Trịnh đoạt quyền Lê, Trịnh Nguyễn phân tranh. Vô số cuộc khởi nghĩa nổ ra mà đỉnh cao là phong trào Tây Sơn.” Nguyễn Du là người trong cuộc của thời đại nhiễu nhương đó. Tìm hiểu niên biểu Nguyễn Du cuộc đời và thời thế sẽ giúp soi thấu những uẩn khúc và biến cố lịch sử đã bị che khuất bởi thời gian.

Niên biểu Nguyễn Du, tuổi thơ (1765-1780)

Năm Ất Dậu (1765). Nguyễn Du sinh ngày 23 tháng 11 Ất Dậu (nhằm ngày 3 tháng 1 năm 1766) lúc Nguyễn Nghiễm 58 tuổi, bà Trần Thị Tần 26 tuổi. Nguyễn Du được gọi là cậu Chiêu Bảy. Năm ấy cũng là năm Vũ Vương mất, Trương Phúc Loan chuyên quyền. Trước đó, từ ông Nguyễn Hoàng trở đi, họ Nguyễn làm chúa trong Nam, phía bắc chống nhau với họ Trịnh, phía nam đánh lấy đất Chiêm Thành và đất Chân Lạp, truyền đến đời Vũ Vương thì định triều nghi, lập cung điện ở đất Phú Xuân, phong cho Nguyễn Phúc Hiệu người con thứ 9 làm thế tử. Bây giờ thế tử đã mất rồi, con thế tử là Nguyễn Phúc Dương hãy còn nhỏ mà con trưởng của Vũ Vương cũng mất rồi. Vũ Vương lập di chiếu cho người con thứ hai là hoàng tử Cốn lên nối ngôi nhưng quyền thần Trương Phúc Loan đổi di chiếu lập người con thứ 16 của Vũ Vương, mới có 12 tuổi tên là Nguyễn Phúc Thuần lên làm chúa, gọi là Định Vương. Nguyễn Phúc Ánh là con của hoàng tử Cốn. Nguyễn Phúc Ánh sinh ngày Kỷ Dậu tháng Giêng năm Nhâm Ngọ (1762) lớn hơn Nguyễn Du ba tuổi. Trương Phúc Loan là người tham lam, làm nhiều điều tàn ác nên trong nước ai ai cũng oán giận, bởi thế phía nam nhà Tây Sơn dấy binh ở Quy Nhơn, phía bắc quân Trịnh vào lấy Phú Xuân, làm cho cơ nghiệp họ Nguyễn xiêu đổ.

Năm Đinh Hợi (1767). Nguyễn Du hai tuổi, Nguyễn Nghiễm được thăng Thái tử Thái bảo, hàm tòng nhất phẩm, tước Xuân Quận công. Lúc này Trịnh Doanh mất, con là Trịnh Sâm lên làm chúa. Lê Duy Mật đem quân về đánh Hương Sơn và Thanh Chương rồi rút về Trấn Ninh. Trịnh Sâm cho người đưa thư sang vỗ về không được, mới quyết ý dùng binh để dứt mối loạn. Cũng năm ấy (1767) nước Miến Điện sang đánh Xiêm La (Thái Lan ngày nay) bắt vua nước ấy và các con vua mang về Miến Điện. Hai người con khác của vua Xiêm La một người chạy sang Chân Lạp, một người chạy sang Hà Tiên. Trịnh Quốc Anh (Taksin) một tướng Thái gốc Hoa người Triều Châu tỉnh Quảng Đông khởi binh chống quân Miến Điện giành lại độc lập, tự lập làm vua Xiêm La và dời đô về Thonburi, bên bờ sông Chao Phraya, đối diện với Bangkok. (Nguyên nước Xiêm La vốn là một vương quốc Phật giáo tên là Xích Thổ (Sukhothai) ở miền Bắc Thái Lan, dần thay thế vai trò của Đế chế Khmer (Chân Lạp) đang tàn lụi vào thế kỷ 13 – thế kỷ 15. Năm 1283 người Thái có chữ viết. Sau đó người Thái mở rộng lãnh thổ xuống phía nam, và năm 1350 chuyển kinh đô xuống Ayuthaya, phía bắc Bangkok 70 km. Năm 1431, quân Xiêm cướp phá Angkor của Chân Lạp. Nhiều bảo vật và trang phục của văn hóa Hindu đã được họ đem về Ayutthaya, lễ nghi và cách ăn mặc của người Khmer được dung nhập vào thượng tầng văn hóa Xiêm. Trong khoảng 400 năm, từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 18, giữa người Thái và người Miến Điện láng giềng luôn xảy ra các cuộc chiến tranh và kinh đô Ayuthaya bị huỷ diệt ở thế kỷ 18. Người Hoa sau biến cố Minh Thanh cũng ngày một nhiều ở Xiêm La).

Năm Kỷ Sửu (1769). Nguyễn Du bốn tuổi, được phong ấm Hoằng Tín đại trung thành môn vệ úy xuất thân thu Nhạc công. Ông dung mạo khôi ngô, Việp Quận công (Hoàng Ngũ Phúc) trông thấy lấy làm lạ ban cho bảo kiếm. Năm đó, Trịnh Sâm sai Bùi Thế Đạt, Nguyễn Phan, Hoàng Đình Thể đem ba đạo quân của Nghệ An, Thanh Hóa, Hưng Hóa tiến đánh Trấn Ninh. Lê Duy Mật thua mà chết.

Năm Tân Mão (1771). Nguyễn Du sáu tuổi. Tây Sơn dấy binh. Nguyễn Nhạc lập đồn trại ở đất Tây Sơn, chiêu nạp quân sĩ, người về theo rất đông. Nguyễn Nhạc nguyên tổ bốn đời là họ Hồ cùng một tổ với Hồ Quý Ly, người gốc ở huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, gặp lúc chúa Trịnh chúa Nguyễn đánh nhau, bị bắt đem vào ở ấp Tây Sơn thuộc phủ Hoài Nhân, đất Quy Nhơn. Đến đời của Nguyễn Phi Phúc dời nhà sang ấp Kiên Thành, sinh được Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ (Hồ Thơm). Lúc khởi binh nhà Tây Sơn lấy họ mẹ là Nguyễn để khởi sự cho dễ thu phục nhân tâm vì đất miền Nam vốn đất chúa Nguyễn. Năm 1771, Nguyễn Huệ mười tám tuổi, đã sớm tỏ ra là một bậc anh tài quân sự, định kế và cầm quân cùng anh. Cũng năm ấy, vua Xiêm La là Trịnh Quốc Anh (Taksin) khởi binh đánh vua Chân Lạp là Nặc Tôn nhưng không thắng bèn quay sang đem binh thuyền sang vây đánh con vua cũ là Chiêu Thúy ở Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ là con Mạc Cửu và bà phi họ Nguyễn, tướng giữ thành Hà Tiên của nhà Nguyễn giữ không nổi phải bỏ thành chạy. Vua Xiêm La Trịnh Quốc Anh sai tướng giữ Hà Tiên và tiến đánh Chân Lạp. Quốc vương Chân Lạp là Nặc Tôn phải bỏ thành chạy. Vua Xiêm La chiếm Nam Vang (Phnom Penh ngày nay).

Năm Nhâm Thìn (1772). Nguyễn Du bảy tuổi. Tháng sáu năm 1772, chúa Nguyễn sai quan Tổng suất là Nguyễn Cửu Đàm đem quân đánh Xiêm La. Quân của Nguyễn Cửu Đàm tiến đến Nam Vang, quân Xiêm La bỏ chạy về Hà Tiên. Nặc Non cũng chạy về Cầu Bột. Nặc Tôn lại về làm vua Chân Lạp. Vua Xiêm La Trịnh Quốc Anh đưa thư sang gọi Mạc Thiên Tứ về để giảng hòa. Mạc Thiên Tứ không chịu. Vua Xiêm La Trịnh Quốc Anh bèn cử tướng giữ Hà Tiên, rồi bắt con gái Mạc Thiên Tứ và Chiêu Thúy đem về nước. Năm sau, Mạc Thiên Tứ thấy việc không xong bèn giảng hòa. Vua Xiêm La trả lại con gái cho Mạc Thiên Tứ và giết Chiêu Thúy. Mạc Thiên Tứ trở về giữ đất Hà Tiên. Nước Chân Lạp vốn là nền văn minh Khmer đã phát triển rực rỡ từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 13, và lụi tàn vào thế kỷ 13-thế kỷ 15. Trước đó thời Tùy Đường có nước Phù Nam bao gồm Campuchia, nam Việt Nam, nam Thái Lan ngày nay. Từ thế kỷ 5 một tộc người Môn-Khmer hình thành một thuộc quốc Chân Lạp (Chenla) ở khu vực Bắc Campuchia và Nam Lào . Đến thế kỷ 7, Chân Lạp chiếm toàn bộ lãnh thổ Phù Nam. Một phần của Phù Nam ở phía tây Chân Lạp là nước Xích Thổ (Sukhothai). Nước này sau chia làm hai vào khoảng thế kỷ XI, XII thời Tống Kim và nhập làm một thời Minh, khi cầu phong Minh Thái Tổ gọi là nước Xiêm La. Thời các chúa Nguyễn mở đất Chiêm Thành thì Xiêm La cũng luôn tìm cách lấn chiếm Chân Lạp.

Năm Quý Tỵ (1773). Nguyễn Du tám tuổi. Nhà Tây Sơn xây dựng lực lượng và củng cố căn cứ ở vùng An Khê, khôn khéo khai thác sự chia rẽ triều đình chúa Nguyễn bằng tuyên bố lật đổ Trương Phúc Loan, khôi phục ông hoàng hợp pháp, lấy lòng người bằng cách cướp của người giàu chia người nghèo. Tây Sơn thu phục được công chúa Chăm, hương chức Nguyễn Thung, Huyền Khê, hai nhà buôn người Hoa là Lý Tài và Tập Đình cũng gia nhập. Nguyễn Nhạc dùng mưu kế tự nhốt mình vào củi, lừa chiếm được thành Quy Nhơn, đánh bại quân tiếp viện Phú Xuân, cuối năm ấy Tây Sơn đã toàn thắng, chiếm từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận.

Năm Giáp Ngọ (1774). Nguyễn Du chín tuổi. Nguyễn Nhiễm sung chức tả tướng, cùng Hoàng Ngũ Phúc đi đánh chúa Nguyễn ở Đàng Trong với danh nghĩa đuổi quyền thần Trương Phúc Loan và đánh dẹp quân nổi loạn. Quân Trịnh vượt sông Gianh chiếm Đồng Hới mà không cần giao tranh. Quân Nguyễn hầu như không có kháng cự nào vì binh lực tập trung chống nhà Tây Sơn đang thừa thắng chiếm Quảng Ngãi và đánh lui quân cứu viện năm dinh phía nam, chúa Trịnh Sâm lại thừa cơ dẫn đại quân vào Nghệ An trợ chiến tăng thanh thế, lòng người oán ghét Trương Thúc Loan nên làm nội ứng giúp quân Trịnh, Quảng Nam lại có nạn đói trầm trọng. Triều đình chúa Nguyễn nộp Trương Phúc Loan nhưng quân Trịnh vẫn tiến quân và chiếm kinh đô Phú Xuân đầu năm 1775.

Năm Ất Mùi (1775). Nguyễn Du mười tuổi: Anh trai cùng mẹ của Nguyễn Du là Nguyễn Trụ (sinh 1757) qua đời. Năm ấy, chúa Nguyễn chạy vào Quảng Nam lập cháu là Nguyễn Phúc Dương làm Đông Cung để lo việc chống trả. Quân Tây Sơn ở Quy Nhơn kéo ra đánh chiếm Quảng Nam. Chúa Nguyễn Định Vương liệu không chống cự nổi nên cùng cháu là Nguyễn Ánh chạy vào Gia Định, chỉ để Đông Cung ở lại Quảng Nam chống giữ. Nguyễn Nhạc biết Đông Cung yếu thế và muốn mượn tiếng nên sai người rước Đông Cung về Hội An. Họ Trịnh vượt đèo Hải Vân, đẩy lui quân Tây Sơn do Tập Đình làm tiên phong, Lý Tài làm tướng trung quân. Nguyễn Nhạc xét tội Tập Đình thua trận định giết. Tập Đình vội trốn về Quảng Đông và bị giết. Nguyễn Nhạc đưa Đông Cung về Quy Nhơn. Tống Phước Hiệp ở phía nam nhân lúc Nguyễn Nhạc thua trận đã tiến quân chiếm lại Phú Yên. Tống Phước Hiệp cho Bạch Doãn Triều và cai đội Thạc đến đòi Nguyễn Nhạc trả Đông Cung cho nhà Nguyễn. Nguyễn Nhạc theo kế Nguyễn Huệ giả vờ ưng thuận, một mặt mượn lệnh Đông Cung phủ dụ Tống Phước Hiệp và Chu Văn Tiếp đem tướng sĩ năm dinh về theo phò Đông Cung, mặt khác lại cho người mang vàng bạc châu báu đến dâng Hoàng Ngũ Phúc xin nộp ba phủ Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Phú Yên để xin cho Nguyễn Nhạc được làm tướng tiên phong đánh Gia Định. Hoàng Ngũ Phúc viết khải văn dâng lên chúa Trịnh Sâm phong tướng hiệu cho Nguyễn Nhạc. Trịnh Sâm sai Nguyễn Hữu Chỉnh mang sắc chỉ, cờ, ấn kiếm của vua Lê đến ban cho Nguyễn Nhạc. Tống Phước Hiệp do mắc lừa không đề phòng nên bị Nguyễn Huệ đánh bại. Lý Tài được nhà Tây Sơn cử làm tướng trấn thủ Phú Yên. Hoàng Ngũ Phúc nghe tin thắng của Nguyễn Huệ đã lập tức tung quân đánh chiếm Quảng Ngãi và trình lên chúa Trịnh Sâm sắc phong cho Nguyễn Huệ làm tướng tiên phong. Tuy vậy, quân Trịnh bị hao tổn nặng bởi trận dịch khủng khiếp nên phải quay lại Phú Xuân. Hoàng Ngũ Phúc ốm chết ngay trên dọc đường khi chưa tới Phú Xuân. Nguyễn Nhạc lợi dụng sự rút quân Trịnh để chiếm lại Quảng Nam. Nhà Tây Sơn tạm yên mặt bắc đã tập trung tấn công nhằm dứt điểm hiểm họa từ nhà Nguyễn đang trốn tránh ở phía Nam.

Năm Bính Thân (1776). Nguyễn Du mười một tuổi, cha là Nguyễn Nhiễm đánh trận về bị lâm bệnh qua đời. Năm đó, Nguyễn Nhạc sai em là Nguyễn Lữ đem thủy quân vào đánh Gia Định, lấy được thành Sài Gòn. Chúa Nguyễn phải chạy về Trấn Biên (Biên Hòa). Nguyễn Huệ cho đắp sửa thành Quy Nhơn rồi đặt long án, tôn Nguyễn Nhạc làm Tây Sơn Vương. Nguyễn Lữ được phong Thiếu phó, Nguyễn Huệ làm Phục chính. Nguyễn Nhạc đón Đông Cung ở Yên Thái về, dựng nhà bên sông Bông Giang, gả con gái là Thọ Hương cho Đông Cung, lấy huyện Bình Sơn làm của hồi môn, mưu lập Đông Cung làm vương để mê hoặc dân chúng. Đông Cung không chịu nghe theo nên Nguyễn Nhạc an trí Đông Cung ở chùa Di Đà xứ Thập Tháp. Đông Cung cùng Tống Phước Đạm lén trốn xuống thuyền, dọc đường được thuyền của Tôn Thất Xuân đón cùng chạy về Gia Định. Chu Văn Tiếp (Doãn Ngạch) dấy binh ở huyện Đồng Xuân (Phú Yên). Nguyễn Nhạc sai người đến gặp Chu Văn Tiếp hẹn cùng tôn lập Đông Cung. Khi Chu Văn Tiếp ra đến Quy Nhơn biết rõ chuyện trên bèn liên kết với Tống Phước Hiệp truyền hịch vạch tội nhà Tây Sơn. Người khách Lý Tài tướng Tây Sơn trấn thủ Phú Yên cũng theo mật ước với Tôn Thất Chí bỏ Nguyễn Nhạc về hàng Tống Phước Hiệp giúp chúa Nguyễn. Định Vương thế cô ở Đồng Nam gọi Tống Phước Hiệp đưa quân về hợp viện. Đỗ Thành Nhơn, Nguyễn Huỳnh Đức tụ nghĩa ở Ba Giồng (Định Tường). Nhơn theo lệnh Định Vương thảo hịch chiêu mộ nghĩa binh và lợi dụng địa thế hiểm yếu đánh thắng quân Nguyễn Lữ mấy trận. Nguyễn Lữ lấy thóc kho chở hơn hai trăm thuyền chạy về Quy Nhơn. Đỗ Thành Nhơn chiếm Gia Định đón Định Vương về Bến Nghé. Tống Phước Hiệp mang Lý Tài về hội quân ở Gia Định. Tống Phước Hiệp ốm chết ở Long Hồ. Định Vương muốn thu dụng Lý Tài nhưng Đỗ Thành Nhơn can không nên dùng mà nên giết đi vì Lý Tài hung hãn, phản trắc, khó chế ngự. Lý Tài từ đó kết oán với Đỗ Thành Nhơn. Lý Tài sợ Đỗ Thành Nhơn làm hại mình nên đưa quân về đóng ở núi Chiêu Thái.

Năm Đinh Dậu (1777). Nguyễn Du mười hai tuổi. Năm đó, Lý Tài nghe Đông Cung trốn vào Gia Định, lại đem binh rước về Sài Gòn lên làm Tân Chính Vương, tôn Định Vương lên làm Thái Thượng Vương để cùng lo sự khôi phục. Tân Chính Vương thăng Tôn Thất Chí làm Thiếu phó, Tôn Thất Xuân làm Chưởng cơ, Lý Tài làm Bảo giá Đại tướng quân. Lý Tài tâu với Tân Chính vương xin sai Chưởng cơ Tống Phước Hòa cùng Tống Phước Thiên đem quân đến đóng giữ Long Hồ, nói là để phòng quân Tây Sơn nhưng thực ra là sợ Đỗ Thành Nhơn đem quân đánh úp. Nguyễn Phúc Ánh biết ý bèn mật báo Định Vương cho mình mang quân đi Ba Giồng chiêu dụ quân Đông Sơn. Lý Tài bức Định Vương về Thủ Dầu Một. Tân Chính Vương trở về Sài Gòn cử Tống Phước Đạm làm giám quân, Trần Văn Hòa làm tham mưu dẫn những người ở Quy Nhơn mới đến trở lại Quảng Ngãi đểu sự chiêu tập nghĩa binh nhưng dọc đường bị phục binh của quân Tây Sơn chặn bắt. Trần Văn Hòa bị giết. Tôn Thất Đạm phải quay lại. Lúc ấy, Nguyễn Nhạc sai người ra xin với chúa Trịnh cho trấn thủ đất Quảng Nam. Trịnh Sâm bây giờ cũng chán sử dụng binh, bèn nhân dịp phong cho Nguyễn Nhạc làm Quảng Nam trấn thủ, Cung quận công. Nguyễn Nhạc được phong rồi, không phải phòng giữ mặt bắc nữa , bèn sai Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ đem thủy bộ quân vào đánh Gia Định. Lý Tài chống cự không nổi phải bỏ chạy. Tân Chính Vương chạy về Định Tường rồi lại chạy về Vĩnh Long. Thái Thượng Vương chạy về Long Xuyên. Nhưng chẳng bao lâu Nguyễn Huệ đem quân đuổi bắt được cả Thái Thượng Vương và Tân Chính Vương, đem giết đi. Nguyễn Phúc Ánh trốn thoát được. Mạc Thiên Tứ và Tôn Thất Xuân lánh ra đảo Phú Quốc và sau đó sang Xiêm La cầu viện. Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ lấy xong đất Gia Định để Tổng Đốc Chu ở lại trấn thủ, rồi đem quân về Quy Nhơn.

Năm Mậu Tuất (1778). Nguyễn Du mười ba tuổi, bà Trần Thị Tần, mẹ Nguyễn Du qua đời. Nguyễn Du mồ côi cả cha lẫn mẹ nên ông phải ở với người anh khác mẹ là Nguyễn Khản (hơn ông 31 tuổi). Cũng trong năm này, anh thứ hai của Nguyễn Du là Nguyễn Điều (sinh năm 1745) được bổ làm Trấn thủ Hưng Hóa. Năm ấy, Nguyễn Nhạc tự xưng đế hiệu, đặt niên hiệu là Thái Đức, phong cho Nguyễn Lữ làm Tiết chế, Nguyễn Huệ làm Long Nhương tướng quân.

Năm Kỷ Hợi (1779). Nguyễn Du mười bốn tuổi. Năm ấy, ở Long Xuyên, Nguyễn Phúc Ánh tụ tập những thuộc hạ cũ nhân lúc Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ đều về Quy Nhơn, khởi binh tiến đánh Sa Đéc, cùng Đỗ Thanh Nhơn và các tướng đánh đuổi Tổng đốc Chu lấy lại thành Sài Gòn. Bấy giờ Nguyễn Ánh mới có 17 tuổi. Các tướng tôn làm Đại nguyên súy, Nhiếp quốc chính. [Theo Hoàng Việt Hưng Long Chí thì vào tháng Giêng năm Mậu Tuất 1778]. Ít lâu sau vua Tây Sơn lại sai Tổng đốc Chu, Tư khấu Uy đem quân thủy vào đánh Trấn Biên và Phiên Trấn. Nguyễn Nhạc lại sai hổ giá Phạm Ngạn đem quân từ Quy Nhơn tới. Trần Phượng không chống nổi. Đỗ Thành Nhơn đem quan Đông Sơn ra cự chiến chém được Tư khấu Uy . Nguyễn Ánh sai Lê Văn Quân đem binh đánh chiếm thành Bình Thuận và thành Diên Khánh. Tướng Tây Sơn là Phạm Ngạn phải lui về Quy Nhơn. Nguyễn Ánh sai Tổng nhung Nguyễn Văn Hoàng, Lễ bộ Nguyễn Nghi đem quân bộ ra đóng giữ Bình Thuận để hợp binh với Chu Văn Tiếp. Nguyễn Ánh cũng sai người thông sứ với Xiêm La (Thái Lan), sai Đỗ Thành Nhơn, Hồ Văn Lân đem binh đánh Chân Lạp (Campuchia ngày nay), lập con Nặc Tôn là Nặc In lên làm vua, để Hồ Văn Lân ở lại bảo hộ. Ở Gia Định, Nguyễn Ánh đặt quan cai trị, định lệ thu thuế để nuôi binh lính, làm chiến thuyền, luyện tập binh mã để phòng bị chiến tranh. Bấy giờ có người ở trấn Sơn Nam là Trần Xuân Trạch, Nguyễn Kim Phẩm cùng thủ hạ đem quân vượt biển vào Gia Định được Nguyễn Ánh trọng dụng làm tả hữu Chưởng cơ.

Năm Canh Tý (1780). Nguyễn Du mười lăm tuổi, Nguyễn Khản là anh cả của Nguyễn Du đang làm Trấn thủ Sơn Tây bị khép tội mưu loạn trong Vụ án năm Canh Tý, bị bãi chức và bị giam ở nhà Châu Quận công. Nguyễn Du về Tiên Điền học với chú Nguyễn Trọng và đi lại thân thiết với Đoàn Nguyễn Tuấn là một người thân cũng là học trò của Nguyễn Nghiễm ở Sơn Nam Hạ. Năm ấy, Nguyễn Ánh xưng vương, phong Đỗ Thành Nhơn làm Ngoại hữu Phụ Chính Thượng tướng công. Nhưng sau vì Đỗ Thành Nhơn cậy công lộng quyền, oai vượt lấn chủ nên Nguyễn Ánh theo mưu Tống Phước Thiêm đã phục vệ sĩ giết đi. Cũng vì việc ấy nên Đông Sơn khi trước hết lòng giúp Nguyễn Vương sau đều bỏ cả, và lại phản lại, thành ra lôi thôi phải đánh dẹp mãi.

Niên biểu Nguyễn Du, 15 năm lưu lạc (1781-1796)

Năm Tân Sửu (1781) Nguyễn Du mười sáu tuổi. Nguyễn Du làm Chánh Thủ hiệu quân Hùng Hậu ở Thái Nguyên. Ý định Nguyễn Du tạo đất căn bản, dấy nghiệp ở Bắc Hà, lập thế chân vạc, tranh hùng với Nguyễn Huệ nhà Tây Sơn ở Thuận Hóa và Nguyễn Ánh ở đất Gia Định. Tướng trấn thủ Thái Nguyên là Quản Vũ Hầu Nguyễn Đăng Tiến (Hà Mỗ trong Gia Phả họ Nguyễn Tiên Điền) là cha nuôi Nguyễn Du và tâm phúc Nguyễn Nhiễm. Tướng trấn thủ Sơn Tây là Nguyễn Điền là anh cùng cha khác mẹ của Nguyễn Du, Tướng trấn nhậm Sơn Nam Thượng Sơn Nam Hạ đều là học trò Nguyễn Nhiễm và đó cũng là đất tổ nghiệp của nhà Nguyễn Tiên Điền. Nguyễn Du định dựng cờ phù Lê, xin chiếu vua Càn Long, liên thủ với vùng Nam Trung Quốc và Nghệ Tĩnh, giao kết kẻ sĩ, xây dựng lực lượng, trầm tĩnh theo chuyển biến thời cuộc để chớp thời cơ hành động.

Chọc trời khuấy nước mặc dầu
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai

(còn tiếp)

Hãy đi về phía mặt trời
Lên đường đi em
Bình minh đã rạng
Hãy đi về phía mặt trời ! (xem tiếp)

HoangKim999
Hoàng Kim

Video yêu thích
Chào ngày mới. Hãy đi về phía mặt trời
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook