Hoàng Minh Đức văn thơ


HOÀNG MINH ĐỨC VĂN THƠ
Hoàng Kim


Sách Văn Nghệ Quảng Minh
Thầy Thanh “Thời lửa đạn”
Hoàng Minh Đức văn thơ
Làng Minh Lệ quê tôi

Sách ‘Văn Nghệ Quảng Minh

Bộ sách “Văn Nghệ Quảng Minh” đến nay (năm 2021) đã là tập 16. Thầy giáo nhà văn chiến sĩ Hoàng Minh Đức là chủ biên cùng với nhiều anh chị em tâm huyết ở quê hương Làng Minh Lệ quê tôi đã khơi nguồn giếng Vường này. Sách này cùng với làng tôi “Thời lửa đạn” lưu dấu ấn tượng mạnh mẽ quê hương Làng Minh Lệ quê tôi Quảng Bình đất và người trong lòng những người con xa xứ chúng tôi. Tôi thích sách lưu thông tin chân thiện mỹ về cội nguồn quê hương tổ tiên mình. Cụ Lê Quý Đôn tinh hoa https://hoangkimlong.wordpress.com/category/le-quy-don-tinh-hoa/ danh nhân đời Lê thường ưa thích “Dẫu có bạc vàng trăm vạn lượng. Không bằng kinh sử một vài pho”. Cụ thường ưa hơn hết là sách lắng đọng lịch sử văn hóa. Bác Hồ sinh thời Minh triết Hồ Chí Minh https://hoangkimlong.wordpress.com/category/minh-triet-ho-chi-minh/, cũng thường nhấn mạnh loại sách SỰ THẬT NGƯỜI TỐT VIỆC TỐT, viết chân thực, chính xác, trung thực, chí thiện, chắt lọc tinh hoa trí tuệ về đất và người của mỗi vùng miền. Học điều hay lẽ phải dễ hơn, mau hơn và đạt ấn tượng sâu sắc hơn. Chăm lo hiền tài, người tốt việc tốt, đào tạo, rèn luyện con người là gốc của Học làm Người. Thầy giáo nhà văn chiến sĩ Hoàng Minh Đức văn thơ đều hay, nhưng mảng văn trường đời ‘trường học dạy và học thân thiện’ của Thầy dường như là ưu hơn mảng văn hiện thực phê phán. Hoàng Kim thích hơn văn chương ấy Quảng Bình đất và người. Dưới đây là năm trích đoạn Đình Minh Lệ quê tôi; Vĩ thành Thời lửa đạn; Hoàng Minh Sơn gương sáng; Hoàng Thị Thiệu xóm tôi; Thanh trà Thủy Biều Huế, đọc lại và suy ngẫm; xem tiếp http://hoangkimlong.wordpress.com/category/sach-van-nghe-quang-minh/

Thầy Thanh “Thời lửa đạn”

Sách “Thời lửa đạn” là tập hồi ký của thầy Hoàng Hữu Thanh năm 2013 do Nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành dày 205 trang. Thầy Hoàng Hữu Thanh sinh ngày 18 tháng 9 năm 1929 quê quán tại làng Minh Lệ xã Quảng Minh Trú quán số nhà 12, đường Đặng Dung, tiểu khu 10, phường Đồng Sơn, thành phố Đồng Hới , tỉnh Quảng Bình. Cụ mất năm 2018. Cụ Hoàng Hữu Thanh nguyên là đại đội trưởng đội thiếu niên du kích Minh Lệ huyền thoại, người trinh sát gan dạ, người chỉ huy tài năng năm xưa của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Cụ cũng là thầy giáo ưu tú của Trường Sư phạm 10+3 Quảng Bình thời lửa đạn chống Pháp và chống Mỹ. Cụ đã được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng Ba; Huân chương chống Mĩ cứu nước hạng Nhất; Hai huân chương chiến công hạng Ba; Huy chương vì sự nghiệp giáo dục Việt Nam.

Tác phẩm “Thời lửa đạn” là tự truyện đầy ắp thông tin chân thực và sống động về làng Minh Lệ trong khoảng từ năm 1940 đến năm 1975. Đây cũng là những phác thảo rất quý của Làng Minh Lệ quê tôi về gia phả, dòng họ, địa chí, văn hóa quê hương đất và người. Tác phẩm dường như là tập khởi đầu cho Văn Nghệ Quảng Minh để bảo tồn và phát triển di sản văn nghệ văn hóa Quảng Minh. Thầy giáo già Hoàng Hữu Thanh, vị trưởng bối đáng kính làng Minh Lệ đã làm được nghĩa cử to lớn vinh danh quê hương nghèo khó, ân tình, anh hùng, địa linh nhân kiệt và vinh danh những thế hệ cầm súng bảo vệ xóm làng. Cụ đã kịp lưu lại một mảnh ký ức lớn, rất quý, truyền thần về làng Minh Lệ đất và người.

Trang văn của thầy Hoàng Hữu Thanh chắc chắn sẽ có nhiều người và nhiều thế hệ đọc lại. Nhà thơ nhà báo Phan Văn Khuyến nhận xét:” Nhờ năng khiếu bẩm sinh và được học tập, rèn luyện trong ngành sư phạm nhiều năm nên lời văn của thầy Hoàng Hữu Thanh thật trong sáng, giản dị, diễn đạt chính xác các sự kiện cần nói, bố cục súc tích gọn gàng. Tuy là ghi chép theo lối hồi kí nhưng nhờ thực tế nên trong tập hồi kí này có nhiều trang viết rất hay, …Làng Minh Lệ quê tôi “Thời lửa đạn” thân thiết trong lòng tôi. “Tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần “Thời lửa đạn” do có cha mẹ và gia đình mình hiển hiện chân thực trong đó. Tôi đã rất xúc động vì nhớ lại tuổi thơ gian khó của người học trò nghèo cha mẹ mất sớm năm xưa trong Bài ca Trường Quảng Trạch “Thương em nhỏ gieo neo mẹ mất. Lại cha già giặc giết hôm qua. Tình thầy, tình bạn, tình cha. Ấy là ân nghĩa thiết tha mặn nồng”.

Nguyễn Khải trong “Tôi viết vậy thì tôi tồn tại” đã nói: “Viết văn không chỉ do nhu cầu kiếm sống, viết văn cũng không chỉ do những bức xúc khôn khuây của cá nhân, mà viết còn là mong muốn được trao trở về với cái vô hạn” Xin lưu lại Vĩ thanh “Thời lửa đạn” dưới đây của bậc trưởng bối khơi nguồn dòng chảy Văn Nghệ Quảng Minh

Vĩ thanh “Thời lửa đạn”

Chúng tôi sinh ra và lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan. Suốt tám mươi năm bị thực dân Pháp đô hộ, thế hệ cha anh đã bị áp bức một cổ hai tròng. Từ ngày có ánh sáng của Đảng, của cách mạng, thế hệ chúng tôi không cam chịu phận làm tôi tớ cho giặc, không cam phận làm một người dân nô lệ. Chúng tôi đi theo Đảng và Bác Hồ giành lại gấm vóc non sông. Tuổi trẻ của chúng tôi gắn liền với binh đao trận mạc. Chúng tôi vui sướng đón chào cách mạng mùa thu rồi chín năm trường kì kháng chiến. Từ những thiếu niên du kích chúng tôi đã trưởng thành, lớn lên cùng đất nước. Đất nước có chiến tranh. Chúng tôi lại theo bước cha anh xung phong đi giết giặc. Hòa bình lập lại, mỗi người một việc cùng xây dựng quê hương. Có những người thông minh, học giỏi như anh Hoàng Thúc Tấn (con cụ Bộ Trình) làm đến chức Thứ trưởng, Phó chủ nhiệm Văn phòng chính phủ rồi làm Phó đại diện thường trực của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Hội đồng Tương trợ Kinh tế (Khối SEV). Các anh em anh đều là những người nổi tiếng của làng. Các anh như Trương Huế, Hoàng Hữu Ban, người thì dạy trường đại học Bách khoa, người làm đến Vụ trưởng. Có những người nổi tiếng như liệt sĩ Nguyễn Hoàng Lưu con cụ Cửu Ngô. Anh đã làm được thước ngắm pháo binh, được giới quân sự thế giới đánh giá cao. Chính nhờ cống hiến xuất sắc của anh Nguyễn Hoàng Lưu cho quân đội, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã mời cụ Cửu Ngô ra sống tại Hà Nội cùng các con, cháu cụ. Bạn học cùng lớp với tôi ngày xưa ở trường Tiểu học Thọ Linh đa số tham gia cách mạng và phần lớn họ đã chết. Cũng có những người bám trụ quê hương cầm cày cầm cuốc nay về già lại mang đủ mọi thứ bệnh tật mà qua đời. Có những người cuộc sống còn khổ cực lắm. Dù không làm được ông nọ bà kia, dù không được người đời để ý đến. Nhưng có một điều mà chúng tôi rất tự hào là dù cuộc sống bị đọa đày, nghèo khổ đến mấy, trong chúng tôi không có ai chịu sống hèn, không ai chịu quỳ gối đi làm tay sai cho giặc.

* * *

Rời quân đội tôi đi theo sự nghiệp trồng người. Đất nước lại có chiến tranh. Mĩ – Diệm bội ước hiệp nghị Giơnevơ, âm mưu chia cắt đất nước ta lâu dài. Sông Bến Hải như một nhát cắt đau thương giữa thân mình đất Mẹ Việt Nam. Dải đất miền Trung lại trở thành bãi chiến trường giữa hai trận tuyến. Giặc Mĩ leo thang đánh phá miền Bắc, Quảng Bình trở thành tuyến lửa. Làng tôi trở thành làng mặt trận, thành tọa độ lửa, trọng điểm đánh phá của máy bay địch. Xóm Bắc, xóm Nam lửa cháy ngút trời, hình như tuần nào cũng có người chết. Thế mà người dân Minh Lệ làng tôi vẫn đảm bảo: “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Thanh niên Minh Lệ lớn lên nối tiếp nhau lên đường ra mặt trận.

Trong công cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, tôi theo trường sư phạm Quảng Bình đi hết miền đất này đến miền đất khác. Từ Bố Trạch, Tuyên Hóa, Quảng Trạch rồi vào Quảng Ninh, Lệ Thủy, Đồng Hới. Nay ngẫm lại cuộc đời đã hơn tám mươi xuân. Cuộc đời con người sống là cho chết cũng là cho. Trong cuốn tiểu thuyết “Thép đã tôi thế đấy” của nhà văn Nga Nhicalai Axtơ rốp xki, nhân vật Pa – ven Ca-rơ-sa-ghin đã nói: “Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng phải sống hoài sống phí. Cho khỏi hổ thẹn về dĩ vãng ti tiện và hèn đốn của mình. Để khi nhắm mắt xuôi tay đôi môi ta có thể nở một nụ cười mãn nguyện”.

Tôi đã sống như cha ông mình đã sống, không cúi luồn nịnh bợ, cũng không xỏ xiên tàn ác với người khác. Nối tiếp truyền thống của gia đình, năm đứa con tôi đứa nào cũng ngoan, đứa nào cũng biết thương người. Đứa con đầu của tôi (Hoàng Minh Đức) nuôi hai cháu mồ côi. Đứa con trai của Đức là cháu Hoàng Thanh Hà, hồi đang đi học Hà đã bao lần cứu người bị nạn. Tôi dạy cho các con tôi cái tâm, cái đức để làm người. Tôi nghiệm ra một điều – mình giúp người này thì có người khác giúp lại mình. Giúp người không phải để chờ người trả ơn. Người không trả thì có ông trời trả. Mình sống sao cho cái phúc cái đức để lại cho con cái, cháu chắt mình sau này. Cả năm đứa con tôi sống bằng năng lực lao động của chúng. Ba đứa con ở quê nhà theo nghề dạy học của cha. Hai đứa con trai dạy ở huyện nhà. Đứa con gái thứ tư (Hoàng Thị Lệ) dạy ở trường Chuyên Quảng Bình trong Đồng Hới. Cháu năm nào cũng có học sinh giỏi đạt giải Quốc gia, năm nào cũng có bằng khen của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình. Hai đứa con (thứ ba và thứ năm) vào Nam sống trong thành phố Phan Thiết tỉnh Bình Thuận. Vợ của hai cháu đều làm bác sĩ ở bệnh viện thành phố.

Suốt cuộc đời tôi đi công tác xa nhà. Vợ chồng gặp nhau như ông ngâu bà ngâu. Nhưng mỗi khi về làng tôi lại cùng bà con, xã viên trong đội cày bừa, đập đất, cào vồng khoai, làm cỏ lúa. Tôi về làng hái củi, chặt giang, “ăn” lá nón. Thời làm ăn hợp tác, mỗi ngày công chỉ được vài ba lạng thóc nên trường sư phạm chuyển đến nơi nào tôi cũng tranh thủ cuốc đất tăng gia. Tôi nuôi con lợn con gà trồng khoai trồng sắn chở về nuôi vợ con, phải “Tự cứu mình trước khi trời cứu”.

Có thể nói suốt cuộc đời tôi lao động cho đến lúc già không bao giờ ngơi nghỉ. Về hưu, tôi trồng vườn và chăn nuôi trong thành phố Đồng Hới. Vợ tôi đi nuôi cháu cho các con công tác. Sau hơn năm chục năm xa cách, hai vợ chồng chúng tôi chung sống với nhau không được bao lâu thì lại thay nhau vào bệnh viện. Cuộc đời con người ai rồi cũng có lúc trở về với cỏ. Mỗi con người đều có một số phận, bươn tẩu làm chi cho cực thân. Trời cho ai thì người ấy nhận. Cuối cùng rồi ai cũng nằm sâu dưới ba thước đất. Thân cát bụi lại trở về với cát bụi.

Trước lúc kết thúc cuốn hồi kí này tôi cũng cần phải viết thêm về những con người thế hệ trước tôi, những người nhập ngũ tham gia chiến tranh, một thời đạn bom, một thời máu lửa. Có những người lính già đáng được ghi trong sử sách của làng như các anh Trần Duệ, Trần Hà, Hoàng Xanh, Hoàng Điếu, Hoàng Đăng Duể, Hoàng Tó, Hoàng Phỉa, Hoàng Cam, Hoàng Hữu Đồng, Hoàng Han, Hoàng Hữu Thiền, Trần Quang Nọng, Hoàng Đăng San, Hoàng Chưa (nay mang tên con thường gọi là ông Dộ). …vv. Các anh ra đi chiến đấu từ thuở mái tóc còn xanh, nay về già phơ phơ đầu bạc. Có những người đã nằm lại nơi cánh rừng xa nay thịt xương đã tan vào đất Mẹ.

Trong cuộc chiến tranh chống Mĩ cứu nước, các anh Nguyễn Hoàng Lưu, Hoàng Phỉa, Trần Đình Dẻng, Trần Chuể, Trần Ruệ, Trần Quang Chữ, Trần Cừ và bao người khác đã ngã xuống ở chiến trường miền Nam và hai nước bạn Lào, Cămpuchia. Đặc biệt liệt sĩ Trần Đình Dẻng ngã xuống khi đất nước đã im tiếng súng trên hai miền Nam Bắc. Anh là sĩ quan tình báo của Cục 2, anh hi sinh năm 1987 khi đang làm nghĩa vụ quốc tế cao cả ở Cămpuchia.

Trong hai cuộc chiến tranh, nghĩa trang làng ta đã có 186 liệt sĩ nhưng bia mộ ghi sai sót khá nhiều. Anh Hoàng Văn Dạo hy sinh trong trận ca nô địch đỗ bộ lên chợ Mới tháng 4 năm 1947, nhưng bia mộ ghi “hy sinh tháng 12 năm 1947” là sai. Lúc ấy địch chưa đóng đồn Minh Lệ. Em Trần Quang Chữ thì bia mộ khắc là Trần Quốc Chữ. Liệt sĩ Trương Suấc bị thương năm 1949, vết thương tái phát, hy sinh năm 1957 thì ghi là hy sinh năm 1952. Cháu Trương Minh Luật con trai anh tuổi Ngọ (sinh đầu năm 1955)…

* * *

Tôi cũng muốn viết thêm vài nét về dòng họ các anh Hoàng Hữu Xứng, Hoàng Hữu Đản, Hoàng Hữu Sam, những người con họ Hoàng gốc Mạc. Trong làng tôi bà con vẫn nhắc nhiều về dòng họ này. Các anh là những nhà giáo lão thành. Sau cách mạng, anh Hoàng Hữu Xứng làm phó chủ tịch huyện Quảng Trạch, sau nhiều năm dạy học trong tỉnh anh đã ra dạy ngoại ngữ tại trường đại học sư phạm Hà Nội. Con cháu anh đều là những người thông minh, học giỏi và thành đạt. Anh Hoàng Hữu Sam dạy các trường cấp 2, cấp 3 và trường Cao đẳng sư phạm Huế. Đặc biệt anh Hoàng Hữu Đản là nhà Văn, nhà dịch thuật nổi tiếng thế giới. Anh biết nhiều ngoại ngữ, và là một dịch giả uy tín trong mảng văn chương cổ điển Pháp, Hy Lạp, La Mã. Anh dịch các tác phẩm kinh điển của Hy Lạp ra tiếng Việt. Phiên bản Mobile Anh dịch Iliad – Odysée, tác phẩm của Aristophane, Virgil và nhiều tác phẩm sân khấu hài kịch nổi tiếng của La Mã. Anh còn dịch văn học Việt sang Pháp như tập thơ song ngữ “Ánh trăng” – tuyển thơ Việt Nam của nhiều tác giả, “Quà muộn” – tập truyện ngắn của nhà văn Nguyên Hương, “Thi Vân Yên Tử” của Hoàng Quang Thuận, thơ của Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử…Anh còn dịch “Nỗi buồn chiến tranh” của nhà văn Bảo Ninh sang tiếng Anh. Anh là một nhà thơ, nhà viết kịch nổi tiếng. Tác phẩm “Bí mật vườn Lệ Chi” đã được sân khấu Idécaf dựng và đạt giải thưởng của Hội sân khấu năm 2000. Ngoài ra anh còn làm thơ, viết chuyên luận về sân khấu và có nhiều bài bút kí xuất sắc.21

Các em, các cháu Hoàng Nghìa (Hoàng Minh Tiến), Hoàng Quý Thân, Nguyễn Thừa, Trần Nghi, Trần Bình, Trần Ngọc Vương, Trương Minh Dục là những Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ cả nước đều biết đến. Cháu Hoàng Minh Tuy một hiệu phó trường Chuyên của tỉnh Quảng Bình người đã được chính phủ phong tặng huân chương lao động.

Bên cạnh hai nhà họ Hoàng gốc Mạc nổi tiếng, con cháu học hành thành đạt nhất nhì làng, còn có những gia đình cuộc sống khó khăn, bần hàn nhưng vẫn nuôi con cái trưởng thành. Thế hệ sau, con cháu chúng ta cũng có những người làm rạng danh cho làng như các con của anh Hoàng Chưa (thường gọi theo tên con đầu- ông Dộ) là Hoàng Trung Trực, Hoàng Kim, những con người thông minh nổi tiếng, kiên cường trong đánh giặc và có bản lĩnh trong nghiên cứu khoa học. Hoàng Trung Trực và Hoàng Kim là hai người lính đã từng lăn lộn trên các chiến trường miền Nam và nước bạn Căm pu chia. Hòa bình, Hoàng Trung Trực tiếp tục ở lại xây dựng quân đội, Hoàng Kim trở lại giảng đường học tiếp rồi dạy trường Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh. Kim là một chuyên gia nông học, một tiến sĩ Khoa học nông nghiệp có tiếng tại Việt Nam. Cháu có nhiều đầu sách tiếng Việt và hai đầu sách chuyên khảo tiếng Anh, là tác giả của 78 bài báo khoa học, trong đó có 41 bài tiếng Anh. Hoàng Kim là tác giả và đồng tác giả của nhiều công trình nghiên cứu khoa học về giống cây trồng tốt. Kim đã tạo ra được giống sắn KM140, đạt giải nhất Hội thi sáng tạo kĩ thuật toàn quốc VÌOTEC lần thứ 10 năm 2010.

Làng Minh Lệ ký ức chiến tranh
Hoàng Minh Sơn (nguồn Báo Quảng Bình)

(Đất và Người Quảng Bình) – Tôi chào đời trong một đêm trăng thượng tuần của mùa gặt lúa mành, lúa ré. Đó là năm Kỷ Mão (1939) – năm đầu tiên của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai. Mẹ tôi xoa lên mái tóc ngắn củn cởn của tôi: “Số bọ mạ khổ cả đời, hy vọng con sẽ sướng. Năm nào dưới trăng bọ cũng phải đạp lúa suốt đêm”.

Anh Hoàng Ngọc Khởi những năm đầu đánh Pháp là đội viên thiếu niên du kích làng Minh Lệ. Anh lớn hơn tôi năm tuổi. Hai nhà cách nhau chỉ một nạp cây dưới. Những cây dưới mùa hè vô vàn những quả chín mọng. Quả dưới màu vàng như hạt ngô, có vị ngòn ngọt bọn trẻ tha hồ hái ăn. Ăn chán lại dùng quả dưới làm đạn, bày trò đánh du kích. 

Anh Khởi đã vào tuổi thiếu niên, đi đứng nói năng có vẻ người lớn. Năm “toàn quốc kháng chiến” anh nói thầm vào tai tôi: “Nhà anh đã có anh Cam và anh Tích vào bộ đội Vệ quốc đoàn rồi, du kích là chị Doánh và chị Doảnh. Bố anh ốm đau, còn mẹ anh cũng vào hội mẹ chiến sỹ với các mẹ trong làng”. Anh nói thêm: “Điều này em phải giữ bí mật, sống để dạ, chết mang theo. Anh đã được anh Choát và anh Cẩn cho vào đội du kích thiếu niên của làng Minh Lệ”. Nghe anh nói những chuyện lạ lùng ấy tôi thích lắm. Hóa ra, anh Khởi chơi trò ù mọi, bịt mắt bắt dê, đánh khăng, đánh đáo lại là đội viên du kích dám cầm dao cầm rựa xông vào đám lính khố xanh khố đỏ.

Có một lần bọn địch đóng ở đồn Minh Lệ nã moóc-chê xuống xóm Bắc, nhà tôi lửa cháy rần rật, dân làng không sao chữa được vì gió Lào to quá. Cả nhà phải xin cậu Giá cái chuồng bò mà ở. Vừa tiếc cái nhà gỗ năm gian, vừa tức cái thằng lính “bảo vệ”, tôi muốn theo anh vào đội du kích. Anh xoa đầu tôi: “Em chưa đủ tuổi, có việc gì đó anh cần em giúp là tốt rồi. Giúp anh cũng là giúp du kích đó nghe”. Từ đó, anh nói gì tôi cũng nghe, anh bảo gì tôi cũng làm. Từ việc chăn bò dưới đồng Dứa, đến tát bắt cá Giếng Ao, nơm cá đìa ông Chề…, tôi luôn theo anh. Có một lần đang tìm nấm cỏ may thì súng liên thanh từ đồn giặc bắn xuống, đạn địch bay vèo vèo. Thì ra, thằng giặc trên đồi cao thấy khói chúng tôi nướng nấm cỏ may liền bắn xuống.

Làng Minh Lệ những năm giặc đóng đồn có những chuyện lạ lắm. Có ngày một tốp lính bảo vệ từ trên đồn xuống chợ Mới mua hàng gặp tổ du kích mai phục, súng nổ chát chúa một hồi rồi tắt. Lại có đêm chúng nã moóc-chê xuống đồng chỉ vì thấy ánh đuốc của một người đi soi ếch. Du kích xóm Bắc Minh Lệ, Thọ Linh rào làng chiến đấu, bọn địch ở chợ Mới, động Lòi cũng rào đồn chiến đấu. Đêm đêm, du kích đến quấy phá quanh đồn, ném lựu đạn, bắn bức kích pháo vào, phát loa địch vận từ cồn Ông Sáo, bên đền Cao Các Mạc Sơn làm tan rã ý chí của địch.

Có thể nói cả vùng đất Minh Trạch là vùng tranh chấp vừa chiến tranh, vừa hòa bình. Ban ngày, chúng đi từng bầy theo đội hình trung đội có tiền hô hậu ủng nhưng ban đêm không dám mò vào làng. Thỉnh thoảng, chúng lén xuống rình mò bắn người rồi rút chạy. Dân làng vẫn sản xuất cày cấy làm ra hạt lúa, củ khoai đóng góp cho kháng chiến. Người chết năm bữa nửa tháng khóc than rồi cũng qua, tất cả căm thù đều dồn lên đầu súng, dồn lên nhát cuốc, luống cày, tập trung cho cuộc tổng phản công sắp tới. Và thực tế chiến cuộc Đông Xuân năm 1953-1954 đã thể hiện điều đó. Tất cả nam nữ thiếu niên trong làng đã trưởng thành, những nam thanh nữ tú đều đi dân công chuyển lương thực ra mặt trận để làm nên một Điện Biên chấn động địa cầu.

Tôi cũng mạo muội nhắc lại một lần nữa, những năm chiến tranh chống thực dân Pháp làng Minh Lệ đã có một đội thiếu niên du kích do bác Hoàng Thúc Cẩn và tiếp theo là bác Hoàng Hữu Thanh (bác Choát) chỉ huy chẳng kém gì đội du kích thiếu niên Đình Bảng. Năm 1947, khi giặc Pháp đánh Quảng Bình, đội du kích thiếu niên huy động toàn bộ thiếu niên lứa tuổi từ 14 đến 16 trong làng tham gia. Đội du kích thiếu niên tham gia đánh giặc ở đồn bảo vệ (Minh Lệ) và giải phóng đồn hương vệ (Hòa Ninh). Sau này, các đội viên lớn tuổi nhập ngũ chỉ còn lại một trung đội không đến 30 đội viên.

Kháng chiến chống Pháp 9 năm rồi đến 10 năm chống Mỹ ở miền Bắc đã để lại trong lòng tôi những dấu ấn sâu nặng của một làng quê gian nan mà anh dũng. Tôi chưa là một thành viên của đội du kích thiếu niên làng Minh Lệ nhưng ngọn lửa mà bác Hoàng Hữu Thanh và Hoàng Ngọc Khởi đã thắp lên trong lòng tôi như một bông hoa đỏ gắn lên ngực trái của cuộc đời để sau đó tôi nhập ngũ trở thành anh Bộ đội Cụ Hồ.-

Trong những kỷ niệm của cuộc đời có lẽ tôi không bao giờ quên ký ức của một thời non trẻ, năm 1949. Năm đó, tôi vừa tròn 11 tuổi, còn anh Khởi  đã là 16 tuổi. Tôi nhớ như in buổi đầu tiên đi giao nhiệm vụ cùng anh Khởi thì gặp địch. Đêm đó, làng tôi có đám giỗ của nhiều nhà vì bị chìm đò. Hai anh em nắm tay nhau cùng đi. Đến ngã tư nhà ông Vợng thì thấy mấy bà mẹ xách đèn dầu đi tới. Không ai chào ai, người nào đi đường nấy. Đến cửa ông Doạnh thì chúng tôi gặp ngay một tốp lính “bảo vệ”.

Năm bảy tên chĩa súng vào chúng tôi. Một thằng rít trong cổ họng giọng khét lẹt: “Chúng mày đi đâu? Thiếu niên du kích phải không?” Không đợi anh Khởi trả lời, hắn dùng báng súng đánh vào lưng làm anh ngã sấp xuống gốc tre. Một thằng đội mũ lưỡi trai cúi sát mặt tôi. Giọng hắn the thé: “Mày là Việt Minh con phải không?”. Bốp bốp… Hắn tát tôi mấy cái làm tôi ngã đè lên lưng anh Khởi. Mấy phút sau, chúng tôi ngồi dậy, hai anh em dìu nhau luồn qua vườn ông Khảnh, tiếp đến vườn rau ông Têu rồi đến góc sân cụ Chề.

Một cảnh tượng làm tôi hết sức ngạc nhiên. Trên bàn thờ khói nhang nghi ngút, phía dưới là mấy chục người im lặng không ai chào hỏi, gian nhà vắng lặng đến rợn người. Anh Khởi vẫy tay xin gặp anh Choát (Hoàng Hữu Thanh). Anh Khởi báo có lính “bảo vệ” tới, một số rút xuống hầm bí mật còn mọi người theo nạp tre thoát ra ngoài. Sau này, tôi mới biết đó là hội nghị phối hợp giữa Tiểu đoàn 418 với du kích Minh Lệ để đánh đồn hương vệ Hòa Ninh (có ông Kiểm Tếnh người làng làm nội ứng ra mở cửa đồn). Chính đêm đó, anh Luyếnh đã bị bọn giặc bắn chết.

Năm tháng qua đi, dù cho vật đổi sao dời, bao sự việc có thể đi vào quên lãng, nhiều người có thể không còn nhớ có một đội du kích thiếu niên làng Minh Lệ, nhưng với chúng tôi, những nhân chứng vẫn còn sống không bao giờ được quên. Làng Minh Lệ đã từng có một đội du kích thiếu niên đứng cạnh cha anh ta đánh giặc giữ làng, giữ nước.

Hoàng Minh Đức văn thơ

Thầy giáo nhà văn chiến sĩ Hoàng Minh Đức bút danh Thanh Hà sinh ngày 1 tháng 9 năm 1956 tại Quảng Minh Quảng Trạch (thị xã Ba Đồn ngày nay) Quảng Bình . Hội viện Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Bình. Hội viên Hội Di sản Văn hóa Việt Nam. Tốt nghiệp Đại học sư phạm toán; Cử nhân khoa học; Trưởng xe Trường HSQ xe tăng 1, Binh chủng Tăng thiết giáp. Thầy giáo nhà văn, có nhiều bài đăng trên báo tạp chí Trung ương và các địa phương, Tác phẩm đã xuất bản:: Cổ tích thời nay (tập truyện ngắn) Nhà xuất bản Thuận Hóa năm 2009; Phía trước những con đường (tập truyện và ký chọn lọc Giáo dục Việt Nam, in chung) Nhà xuất bản giáo dục 2010; Sống giữa đời người (tập truyện ngắn) Nhà xuất bản Hội nhà văn năm 2012; Chuyện người bỏ phố lên hang – Truyện đêm khuya VOV (2014) Văn nghệ Quảng Minh (Hoàng Minh Đức, Hoàng Đình Giót chủ biên, nhiều tác giả) tập 1-16 (….2020, 2021);

Hoàng Kim ấn tượng hơn hết đối với Hoàng Minh Đức văn thơ là năm trích đoạn Đình Minh Lệ quê tôi; Vĩ thành Thời lửa đạn; Hoàng Minh Sơn gương sáng (có một chủ tịch hội cựu thanh niên xung phong như thế); Hoàng Thị Thiệu xóm tôi; Chuyện người bỏ phố lên hang. Tôi yêu thích lời dẫn chuyện của VOV “Với những cựu chiến binh, quá khứ không chỉ là chuyện đã qua. Nó là phần đời quan trọng của hiện tại. Không chỉ chiến tích, cả những đau thương mất mát, theo thời gian, đều trở thành ký ức vô giá để họ mến yêu hơn cuộc sống hiện tại”….Và theo tôi (HK) đó cũng là tình cảm của người viết lắng đọng trầm tích cuộc đời của những người đã đi qua chiến tranh, đi qua nghèo khó, mất mát hi sinh để trao truyền lại những giá trị nhân văn lắng đọng, di sản Ngọc cho đời Việt Nam đất và người tài sản kho báu quốc gia.

Giáo sư nhà giáo nhân dân Trần Văn Minh, cựu hiệu trưởng trường Đại học Nông Lâm Huế nói “Anh thích bài “Thanh trà thủy Biều Huế” nay và xưa của Kim. Đất và Người mỗi vùng mỗi miền đều lưu dấu những bài học lịch sử văn hóa vô giá. Chúng ta cần bảo tồn và phát triển”. Tôi thì thích thơ hơn, vì thơ cô đọng và rõ tâm thế lòng mình. Tôi lưu trên mạng tập thơ “Thung dung” hoangkimlong.wordpress.com/category/thung-dung theo gợi ý của bạn để thỉnh thoảng vui đọc

Cảm ơn thầy Hoàng Minh Đức và quý thầy bạn, sự đồng hành vui vẻ. Chào ngày mới an lành.

Hoàng Kim

Tài liệu dẫn:

Đình Minh Lệ, ảnh Hoàng Minh Đức

ĐÌNH MINH LỆ
Hoàng Minh Đức

Đình Minh Lệ được xây dựng năm 1464 dưới triều vua Lê Thánh Tông, hoàng đế thứ 5 của nhà Lê sơ, là nơi thờ tự bốn vị Đức Thần Tổ Trương, Hoàng, Trần, Nguyễn. Thuở sơ khai, đình Minh Lệ là ngôi đình chung của cả năm thôn “Nhất xã ngũ thôn”: Minh Lệ (Quảng Minh), thôn Đoài (Diên Trường – Quảng Sơn), Vĩnh Ninh (Hoà Ninh – Quảng Hoà), Vĩnh Phước, Vĩnh Lộc (Quảng Lộc), trích dẫn theo bài “Qua một ngôi đình suy nghĩ về người xưa” của nhà giáo Hoàng Hữu Sam đăng trên Tạp chí Nhật Lệ năm 2001 và sách “Thời lửa đạn” theo hồi ký của nhà giáo Nguyễn Hữu Thanh, xem tiếp Làng Minh Lệ quê tôi https://hoangkimlong.wordpress.com/category/lang-minh-le-que-toi/

CÓ MỘT CHỦ TỊCH HỘI CỰU THANH NIÊN XUNG PHONG NHƯ THẾ
Hoàng Minh Đức

Năm 1964, ông Hoàng Minh Sơn lên đường nhập ngũ thì bà Hoàng Thị Dị lúc đó chỉ mới là một cô bé đang học cấp 2. Những năm đầu ông được bố trí công tác tại phòng chính trị Tỉnh đội Quảng Bình. Năm 1968, ông đi viết bài biểu dương tinh thần lao động của dân công Quảng Bình trên công trường Rào Nan. Ông đã gặp bà Dị và hai người yêu nhau. Họ hẹn hết chiến tranh sẽ tổ chức đám cưới. Nhưng cũng năm đó Đoàn 104, thanh niên xung phong Quảng Bình thành lập chi viện cho chiến trường. Bà xung phong vào Đoàn 104. xem tiếp Những trang đời lắng đọng https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nhung-trang-doi-lang-dong/

THANH TRA THỦY BIỀU HUẾ
Hoàng Kim


Thăm vùng thanh trà Thủy Biều nôi trái cây nữ hoàng đặc sản cố đô Huế. Giáo sư tiến sĩ Trần Văn Minh hướng dẫn chúng tôi ghé thăm vợ chồng thầy giáo nông dân Thân Trọng Lập, Nguyễn Thị Phượng một gia đình trồng thanh trà ngon nức tiếng của vùng bưởi huyền thoại. Thầy Minh là nhà giáo nhân dân, nguyên Hiệu trưởng Đại học Nông Lâm Huế, người thầy nghề nông của bao thế hệ sinh viên miền Trung cũng là bạn nhà nông thân thiết của bà con nơi đây. Chúng tôi là bạn thân thuở nhỏ. Tôi ra Huế họp, thầy Minh nói “Mình tranh thủ thăm ngay vừa dịp” xem tiếp Thanh trà Thủy Biều Huế https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thanh-tra-thuy-bieu-hue/

Năm nay, lễ hội Thanh Trà Huế lần thứ năm được tổ chức từ ngày 9 đến ngày 11 tháng 9 tại phường Thủy Biều để tôn vinh loại trái cây ngon đặc sản cố đô Huế. Bưởi Thanh Trà Huế được lưu truyền trong văn hóa dân gian sâu đậm nhất từ thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1675-1725), vị Chúa Nguyễn đời thứ 6 đã  ăn hết trái bưởi Thanh Trà ngay giữa làng Lương Quán và tấm tắc khen ngon. Thanh trà Thủy Biều sau đó trở thành đặc sản.

Chuyện kể rằng, chúa Nguyễn Phúc Chu là một vị chúa giỏi nhà Nguyễn có nhiều công đức với dân và đất phương Nam. Chúa trong một lần du thuyền trên sông Hương chợt nhìn thấy có một vùng cây trái bưởi thanh trà xanh mướt ven sông, xum xuê, hữu tình, chúa truyền ghé thăm nơi đó là làng Nguyệt Biều, Lương Quán. Dân làng hái bưởi Thanh Trà dâng chúa thưởng thức, chúa ăn tấm tắc khen ngon và lệnh cho dân làng mở rộng trồng thêm. Từ đó, cứ vào giữa tháng 7 âm lịch hàng năm, trái bưởi Thanh Trà chín rộ, dân làng Lương Quán lại chọn ra những quả ngon nhất mang vào kinh thành tiến vua chúa để được ban thưởng. Đình làng Nguyệt Biều, đình làng Lương Quán thuộc phường Thủy Biều ngày nay làm nơi lưu dấu công đức những bậc thành hoàng bản thổ của vùng đất thanh trà mà hậu thế ghi ơn. Bưởi Thanh Trà Thủy Biều nổi danh từ đó …

Ngày nay Bưởi Thanh Trà Thủy Biều thuộc top 50 đặc sản trái cây nổi tiếng nhất Việt Nam, là một trong năm đặc sản Thừa Thiên Huế xác lập kỷ lục châu Á, trang thông tin điện tử phường Thủy Biều thành phố Huế giới thiệu. Lễ hội thanh trà Huế không có “cửa” cho thanh trà kém chất lượng. Chú trọng chất lượng là tiêu chí của Ban Tổ Chức lễ hội thanh trà Thủy Biều, trang thông tin Thừa Thiên Huế Online (http://tintuc.hues.vn) nhấn mạnh.

Giáo sư Trần Văn Minh với một số thành viên Ban Tổ chức lễ hội Thanh Trà Huế và chúng tôi chụp ảnh lưu niệm tại trường tiểu học Thủy Biều, tâm điểm của các gian hàng lễ hội. Tại lễ hội năm nay, bên cạnh các hoạt động trưng bày, giới thiệu mua bán thanh trà và các mặt hàng truyền thống tại địa phương, Ban tổ chức đã đưa thêm các hoạt động cung tiến thanh trà tại hai đình làng Nguyệt Biều và Lương Quán; triển lãm tranh, ảnh nghệ thuật liên quan đến thanh trà và các hoạt động lao động sản xuất tại địa phương; xây dựng dịch vụ lựa chọn thanh trà tại vườn bằng “con đường thanh trà”; tổ chức Hội thi “Trái ngon thanh trà Huế”; Hội thi bữa cơm gia đình với nguồn thực phẩm tại địa phương; Hội thi ẩm thực được chế biến từ quả thanh trà… Anh Trần Quang Phước cho hay diện tích trồng bưởi Thanh Trà tại hai làng Lương Quán và Nguyệt Biều ở phường Thủy Biều  khoảng trên  140 ha với 750 hộ gia đình.

Cụ Nguyễn Thị Phượng chỉ dẫn cho chúng tôi cách lựa trái thanh trà ngon trên vườn. Cụ cho hay gia đình thầy Minh nhiều năm nay đã là bạn thân thiết của gia đình cụ. Những cây bưởi đầu dòng quý được những lão nông tri điền các hộ nông dân trồng thanh trà giỏi, các nhà khoa học và khuyến nông, các nhà quản lý và hệ thống tổ chức con đường di sản địa phương cùng đồng hành khơi dậy tiềm năng con người, cây và đất. Con đường di sản là con đường gắn bó khoa học với nông dân, du lịch sinh thái, ẩm thực Việt với mạch thiêng lịch sử văn hóa giáo dục Việt.

Căn nhà nhỏ tĩnh lặng, bình dị của một cặp vợ chồng già tại vùng bưởi thanh trà Thủy Biều cố đô Huế ẩn chứa một minh triết và lời khuyên thầm lặng. Gian giữa cửa chính, nơi hướng về bàn thờ tưởng nhớ tổ tiên ngời ngời một bức đại tự xưa “Phong Vân đắc lộ”. Gian bên, bạn nhìn thấy trên tường nhà “Lễ phát thưởng khuyến học của ông bà Thân Trọng Lập” đối với con cháu .

bannhanong

Ông bà Thân Trọng Lập Nguyễn Thị Phương chụp ảnh lưu niệm với giáo sư Trần Văn Minh, vợ chồng thầy giáo Quang đại học Nông Lâm Huế là ấn tượng về truyền thống hiếu học của người Việt. “Nên thợ nên thầy nhờ có học. No ăn no mặc bởi hay làm”. Chúng ta ngộ ra được truyền thống hiếu học của vùng đất kinh kỳ xưa. Cụ Lập thu thập các giấy khen thành tích học tập của con cháu chắt để khuyến khích sự học, tuyên dương tại những dịp giỗ chạp hiếu hỉ gia đình, ngợi khen những cháu ngoan giỏi học và hành được những việc tốt lành.

Ngắm bức tranh cổ, tôi bâng khuâng nghĩ về con đường di sản Thanh trà Huế. Tôi nhớ về câu chuyện năm 1613, chúa Nguyễn Hoàng, vị chân chúa, người khai sáng gia tộc họ Nguyễn ở Đằng Trong, mà hậu duệ là vương triều nhà Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam.  Chúa Tiên Nguyễn Hoàng lúc lâm bệnh nặng, đã gọi người con thứ 6 là Thụy quận công Nguyễn Phúc Nguyên từ Quảng Nam về kế vị và căn dặn: “Đất Thuận Quảng này phía bắc có núi Hoành Sơn, sông Linh Giang, phía Nam có núi Hải Vân và Bi Sơn, thật là đất của người anh hùng dụng võ. Vậy con phải biết thương yêu dân, luyện tập binh sĩ để xây dựng cơ nghiệp muôn đời“. Thương yêu dân, giáo hóa dân, tạo nên nết tốt bản sắc văn hóa lịch sử của một vùng đất. Giáo dục gia đình xã hội thấm thía trong từng nếp nhà. Đó là con đường di sản.

Kinh thành Huế thu nhỏ tại bún bò Ngọc Dung, Thủ Đức  là một cách yêu quê hương và lan tỏa tình yêu này đến người khác của một người bạn Huế khác tại thành phố Hồ Chí Minh. Lê Hùng Lân gạo ngon Hoa Tiên bạn tôi đã chia sẻ câu chuyện này. Việt Nam tổ quốc tôi, có sự tương đồng trong cách thể hiện lòng biết ơn của mình đối với quê hương yêu dấu của những người con xa xứ hoặc gắn bó với quê hương thăm thẳm nhớ ơn cội nguồn. Con đường xanh Việt Nam, con đường xanh của chúng ta là con đường di sản kết nối sức mạnh Việt, khai mở tiềm năng mạnh mẽ của những sản phẩm chất lượng cao Việt Nam vươn ra thế giới.

Thanh trà Huế tại nôi di sản Thủy Biều là bài học thời sự nóng hổi về nông dân ngày nay và nông sản Việt, là câu trả lời về sự tỉnh thức tâm linh và tầm nhìn của những người biết ơn và nặng lòng với quê hương đất nước, biết trở về tìm kiếm kho báu chính mình phúc hậu an nhiên. Người dân vùng thanh trà Thủy Biều Huế biết cách bảo tồn và quảng bá loài quả quý địa phương, một nông sản Việt có giá trị đích thực, biết thức dậy tiềm năng của một vùng đất lành, một nghề lành, kết nối nông nghiệp du lịch sinh thái ẩm thực lịch sử văn hóa, gắn hiện tại với quá khứ và tương lai Việt.

Thanh trà Thủy Biều cố đô Huế là sản phẩm đầy đặn tự hào Việt Nam.

Hoàng Kim

Ghi chú: Tôi (HK) nói với anh Trần Quang Phước (thứ hai bên phải): Ngày này năm xưa, anh nhớ chứ? Ảnh này thật đẹp !



NGÀY MỚI LỜI YÊU THƯƠNG
Hoàng Kim


Khoác thêm tấm áo trời se lạnh
Tâm bình vui bước tới an nhiên
Phúc hậu mỗi ngày thêm việc thiện
Yêu thương xa cách hóa gần thêm.

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ngay-moi-loi-yeu-thuong/ và 418 bài thơ Thung dung https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thung-dung

DẠY VÀ HỌC https://hoangkimvn.wordpress.com
ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích

Kỉ yếu Nong Lam University https://youtu.be/fIWlbwvM6oU

https://youtu.be/dXApBvgUNBQ

http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365 Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn, Kim on Facebook, Kim on Twitter


Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s