Câu chuyện ảnh tháng Tư


Tốt gỗ chẳng cần sơn
Ông Bên gạo Cỏ May

CÂU CHUYỆN ẢNH THÁNG TƯ
Hoàng Kim


Bảo tồn và phát triển Câu chuyện ảnh tháng Tư, Đền Trần chùa Thắng Nghiêm; Hoa Đất thương lời hiền; Lời Thầy luôn theo em, Hương Huế; Ma Văn Kháng trong tôi;Tốt gỗ chẳng cần sơn Ông Bên gạo Cỏ May

ANH ÚT BÊN MỘT NHÂN CÁCH LỚN,”NGƯỜI THẦY KHÔNG BỤC GIẢNG”
Lê Minh Hoan, Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp viết về Ông Phạm Văn Bên, một doanh nhân giàu lòng nhân ái, vừa qua đời ngày này năm 2016, PHT Trần Đình Lý giới thiệu bài viết trên FB

Dẫu biết “sinh – lão – bệnh – tử” là quy luật muôn đời không thay đổi được, nhưng nghe tin vẫn bàng hoàng: anh Phạm Văn Bên không còn nữa! Dù rằng lòng vẫn muốn ngày đó sẽ còn kéo dài, thậm chí vẫn trông chờ vào một phép nhiệm màu nào đó, nhưng sự nghiệt ngã của bệnh tật đã làm chúng ta mất đi một con người đáng được quý trọng, đáng được tôn vinh! Đối với tôi, một người bạn, một người anh, một người thân, một nhân cách lớn thầm lặng đã ra đi để lại vô vàn sự tiếc nuối cho người thân, bạn bè, cộng sự, lãnh đạo địa phương và cá nhân mình!

Như một cơ duyên, khi tôi ra trường trở về quê công tác là lúc Anh cũng từ Thanh Bình về Cao Lãnh để bắt đầu một sự nghiệp mới. Thấm thoát mà đã trải qua hơn 30 năm rồi. Trong ngần ấy thời gian, chúng tôi có dịp gần gũi, đồng hành với những chuyến đi suốt dọc chiều dài đất nước, trên những chặng hành trình tìm kiếm, mở mang thị trường ra nước ngoài với biết bao sẻ chia về chuyện người, chuyện đời, chuyện xứ người ta, chuyện xứ mình. Cũng từ những câu chuyện hàn huyên, những buổi đối thoại, những bức thư điện tử qua lại đã làm cho tôi càng ngày càng cảm nhận được sâu thẳm trong Anh ẩn chứa tính nhân văn, tình người, tình quê, cảm nhận về một con người sống đầy nghĩa tình, chân chất, thầm lặng, không khoa trương.

Đi lên từ một người nghèo khó, từ một vùng quê nghèo khó nên Anh luôn đau đáu về quê hương xứ sở, thấu cảm được nổi nhọc nhằn của những người nông dân một nắng – hai sương. Khi tỉnh nhà bắt đầu triển khai Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp, Anh là người bắt nhịp rất nhanh và luôn ủng hộ quyết sách này. Anh tâm sự: Cỏ May sẽ đồng hành với lãnh đạo Tỉnh trong liên kết với nông dân, tạo ra thương hiệu cho hạt gạo Đồng Tháp nhằm tạo giá trị gia tăng cao hơn mới giúp được cho bà con mình nâng cao thu nhập, cuộc sống khấm khá hơn. Và từ đó, thương hiệu gạo Việt NOSAVINA “Made in Dong Thap” ra đời, với những “Lài Đông Xuân”, “Sen Hè Thu”, “Cúc Thu Đông”… Anh tâm sự hết sức chân thành: “Một con én không thể làm nên mùa Xuân, một mình Cỏ May không thể giúp nhiều cho tái cơ cấu nông nghiệp, lãnh đạo Tỉnh phải làm sao cổ vũ cả cộng đồng doanh nghiệp cùng ra trận thì mới mong đạt kết quả như kỳ vọng!”. Tôi nhớ mãi và càng trân trọng, càng thấm thía ý tưởng tâm huyết của Anh như thế!

Trong một buổi tối đi công tác Ban-tia Miên-chay (Campuchia), Anh hỏi vì sao Tỉnh rủ Anh cùng tham gia chuyến đi này? Tôi trần tình, muốn mần ăn lớn thì phải biết ta biết người chứ, rủ Anh cùng đi để biết đâu Anh sẽ phát hiện ra được cơ hội gì đó về mở rộng sản xuất, đầu tư thêm nhà máy mới. Anh ngẫm nghĩ hồi lâu rồi tâm sự, tôi muốn nghỉ ngơi rồi, cơ nghiệp tôi gầy dựng từ một người sản xuất xà bông thời bao cấp đến một doanh nghiệp chế biến gạo như vầy là tôi đã không thể ngờ tới rồi, “Ông đừng có xúi dại!”. Tôi bắt mạch câu chuyện và đẩy đưa, đúng là Anh có thể nghỉ ngơi, có thể dừng lại, sản nghiệp của Anh đã đầy đủ rồi, nhưng Anh phải nghĩ đến các thế hệ mai sau, nghĩ đến bà con mình, quê hương mình nữa chứ! Và, cũng từ buổi tối hôm đó, sau này Anh hay nói đùa, cũng tại “lời xúi dại” đó mà Cỏ May tiếp tục mở rộng, đầu tư mới. Và lại có thêm nhiều Cỏ May mới: Cỏ May Lai Vung, Cỏ May Essential ra đời. Và, biết bao người có công ăn việc làm từ một quyết định dũng cảm, nặng tình để tiếp tục dấn thân từ một người có vóc hình nhỏ bé nhưng luôn tràn đầy tinh thần mạnh mẽ như Anh.

Cả cuộc đời làm doanh nhân của mình, tôi đoán rằng Anh không có thời gian nhiều để học bài bản các khoá kinh tế, tiếp cận các lý thuyết quản trị, kinh doanh này nọ. Anh chỉ làm và làm tốt bằng sự tinh tế, nhạy bén của mình, bằng sự thấu cảm của mình. Nhìn Anh ngồi xếp bằng hỏi han từng người công nhân, rồi chăm chút cho đời sống cho mọi người bằng những quyển sổ tiết kiệm, quỹ học bổng, hỗ trợ xây cất nhà cửa… mới thấy Anh đối nhân – xử thế như thế nào. Anh đối đãi với cộng sự, với những người giúp việc, lao công, bốc xếp của mình như những người thân, những ân nhân đã giúp Anh vượt bao sóng gió thương trường.

Anh đã thực hiện đúng câu của ông bà mình dạy: “Của cho không bằng cách cho”. Những năm cuối đời, mặc dù sức khỏe đã cạn dần, nhưng Anh lại dành nguồn vốn 37 tỷ đồng để xây dựng Ký túc xá trên phần đất của Trường Đại Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời hằng năm còn cấp khoảng 15 tỷ đồng lo chi phí cho sinh viên ở trong ký túc xá này nữa. Mấy ai trong đời làm được những chuyện như vậy? Chắc là có, nhưng chắc là hiếm lắm! Thực hiện được ước mơ cháy bỏng cả cuộc đời mình bằng tấm lòng thiện nguyện, trong sáng, chắc Anh đã trải qua nhiều đêm trăn trở, dằn vặt giữa cái riêng và cái chung, giữa gia đình và xã hội, giữa hiện tại và tương lai. Anh hằng mong mỏi mai này có một thế hệ người “vừa có tài mà phải có tâm”. Anh chính là một “Người Thầy không bục giảng”, một người thấm đẫm “đạo làm người, đạo làm doanh nhân”, một người không phải là người trí thức nhưng hiểu sức mạnh của tri thức là động lực phát triển cho mỗi con người và cho xã hội.

Khi được đề cử đi dự Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc vừa rồi, biết sức khoẻ của mình đã yếu, đi xa nhiều rủi ro nên Anh lần lữa không muốn đi. Tôi đánh bạo khích lệ Anh đi vì cảm nhận rằng chắc đây là lần cuối được đồng hành cùng Anh, vì trong tôi, Anh là một con người yêu nước thực thụ, mặc dù cả cuộc đời mình Anh không bao giờ nghĩ hay tuyên ngôn như vậy. Anh yêu nước theo kiểu riêng Anh, thầm lặng nhưng đong đầy nghĩa cử cao đẹp với xã hội, góp từng viên gạch nhỏ cho sự phát triển của đất Sen hồng!

Vĩnh biệt Anh, mãi vang vọng trong tôi câu hát: “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng”. Anh ra đi, nhưng Anh vẫn mãi còn đó, vẫn mãi lưu trong ký ức của tôi về một con người luôn “khiêm tốn và không ngừng hoàn thiện nhân cách của mình” như lời Anh nhắn nhủ lại cho gia đình, cho cháu con, cho mọi người!

Lê Minh Hoan – Bí thư Tỉnh uỷ Đồng Tháp

EM DẠY NIỀM VUI MỚI
Cây đời luôn tỏa hương
Trẻ tươi cười rạng rỡ
Ngốc PhươngNam ngày thường
Câu chuyện ảnh Tháng Tư
HẢI DZUNG ĐI TÂY THẬT TUYỆT VỜI
Phong lưu hai ngón trỏ lên trời
Ngày mới mừng anh xuân hạnh phúc
Thanh Minh lộc muộn nắng lên hơi

Câu chuyện ảnh tháng Tư
THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI

Chúc mừng GS Trần Duy Quý và đồng sự với hai giống lúa mới BQ QJ4 và QP5 đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quyết định công nhận giống tạm thời cuối năm 2016 và tháng 4 năm 2017. Hai giống lúa mới này hiện đang được sản xuất mở rộng và phát triển. “Quý lúa lan ly” trên bảy mươi xuân vẫn vui khỏe đi tới. Trần Duy Quý 8 tháng 4, 2017 Giống BQ lúa chất lượng năng suất khá cao trùng bình 65_75 tạ/ha cơm dẻo cấy được hai vụ chống chịu sâu bệnh khá thích ứng khá rộng từ huế trở ra

Trần Duy Quý 8 tháng 4, 2017 Giống QJ4 là loại JAponica có chất lượng gạo cao thơm nhẹ dẻo năng suất cao chịu rét khỏe chống sâu bệnh khá có thể phát triển thành gạo hàng hóa
Giống còn có tên VAaS 16

Trần Duy Quý 8 tháng 4, 2017 Giống BQ cấy theo công nghệ hiệu ứng hàng biên tại vĩnh phúc

Trần Duy Quý 8 tháng 4, 2017 Giống lúa DT19 tại Hậu Giang vụ xuân 2017

LÚA SIÊU XANH PHÚ YÊN

Hai giống lúa siêu xanh GSR65 và GSR90 được tuyển chọn và phát triển ở tỉnh Phú Yên, Hai giống này được đánh giá và tuyển chọn trong bộ 12 giống lúa triển vọng thực hiện vụ đầu tiên trên vùng hạn Đồng Xuân, vùng mặn Tuy An và vùng thâm canh ở trại giống Hòa An và Hòa Đồng. Ảnh tại ruộng trồng trước đây (2014) và hiện nay (2020). Cám ơn cụ Bình Khơi đã gợi lại nơi ruộng trồng. Ảnh thật đẹp ! Trúc Mai đọc lại bài trên báo Phú Yên Online Thứ Tư, 14/09/2016 14:00 CH”Triển vọng 2 giống “siêu lúa xanhhttp://baophuyen.com.vn/82/162257/trien-vong-2-giong–sieu-lua-xanh.html

Bình Khơi 8 tháng 4, 2020

GSR PY1
GSR PY3
GSR PY4
GSR PY5
GSR PY7
GSR PY8

Vu xuân năm 2014  anh Nguyễn Trọng Tùng, phó Giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT cùng anh Phúc, anh Thắng, Hoàng Long, Trúc Mai, anh Mạnh, anh Minh, anh Tồn, cô Thỏa và tôi bắt đầu triển khai việc đánh giá và tuyển chọn 12 giống lúa triển vọng thực hiện vụ đầu tiên trên vùng hạn Đồng Xuân, vùng mặn Tuy An và vùng thâm canh ở trại giống lúa Hòa An và Hòa Đồng. Lúa Siêu Xanh Phú Yên thật tốt, hứa hẹn tuyển chọn được giống mới triển vọng.

Lúa siêu xanh Phú Yên 08.04.2014 https://hoangkimlong.wordpress.com/2014/04/08/lua-sieu-xanh-phu-yen/

Triển vọng 2 giống “siêu lúa xanh”
Báo Phú Yên Online Thứ Tư, 14/09/2016 14:00 CH

Mô hình khảo nghiệm giống “siêu lúa xanh” trồng tại xã Hòa Mỹ Tây (huyện Tây Hòa) – Ảnh: LÊ TRÂM

Vụ hè thu 2016, Sở NN-PTNT khảo nghiệm 4 giống lúa GSR 65, GSR 90, GSR 38 và Nam Ưu 1245. Đây là bộ giống “siêu lúa xanh” (Green Super Rice-GSR) được du nhập từ Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI), trồng tại huyện Tây Hòa và PhúHòa. Cuối vụ năng suất lúa đạt từ 75-80 tạ/ha, chất lượng gạo tốt

Năng suất cao

Vụ hè thu năm nay, trên cánh đồng Cây Trảy, Hòn Đình Dưới thuộc xã Hòa Mỹ Tây (huyện Tây Hòa) gieo sạ 4 giống “siêu lúa xanh” là GSR 65, GSR 90, GSR 38 và Nam ưu 1245, trên diện tích 15ha. Trong quá trình sinh trưởng, lúa phát triển tốt, giai đoạn chắc xanh lúa phơi gié dài cả gang tay người lớn. Bà Phùng Thị Yên, thành viên tổ sản xuất giống của HTX Nông nghiệp Kinh doanh dịch vụ Hòa Mỹ Tây, cho hay: Cả cánh đồng Hòa Mỹ Tây rộng gần 100ha, nhưng khó có đám nào có năng suất cao bằng đám được trồng bởi giống GSR 65. Lúa chín sát cậy (gốc gié lúa), hạt sáng bóng mẩy, năng suất đạt trên 85 tạ/ha. Còn ruộng kề bên, không gieo sạ giống “siêu lúa xanh” thì lúa lép trong cậy, năng suất không quá 60 tạ/ha.

Đám ruộng rộng 2 sào trồng giống lúa GSR 90 nằm cạnh đường nội đồng Cây Trảy, năng suất cũng gần 85 tạ/ha. Ông Cao Văn An, nông dân ở xã Hòa Mỹ Tây tham gia mô hình, trầm trồ: “Cánh đồng này thời gian qua được trồng nhiều giống lúa khác nhau, nhưng chưa có giống nào đạt năng suất cao như giống này. Lúa GSR 90 chỉ sạ 4kg/sào, đến thời kỳ mạ đẻ nhiều nhánh, khi trổ đóng hạt dày, phơi gié hạt sáng trưng”.

Ông Nguyễn Trình, Trưởng Trạm Khuyến nông – Khuyến ngư huyện Tây Hòa, nhận định: Vụ hè thu năm nay, thời tiết diễn biến phức tạp, ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng, phát triển của cây lúa. Sâu bệnh hại có chiều hướng gia tăng, gây hại mạnh nhất là bệnh khô vằn, thối thân thối bẹ, rầy nâu… Thế nhưng, với giống “siêu lúa xanh”, cây có sức sinh trưởng phát triển tốt, chống chịu với sâu bệnh hại, hạn chế tối đa sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, cho năng suất cao.

Các giống GSR 65, GSR 90, GSR 38 và Nam Ưu 1245 cũng được trồng khảo nghiệm tại Trại giống Nông nghiệp Hòa An (huyện Phú Hòa). Theo bà Phạm Thị Thỏa, Trưởng Trại giống Nông nghiệp Hòa An, trong thời gian trồng khảo nghiệm giống lúa thuộc bộ giống “siêu lúa xanh”, cuối vụ chúng tôi nhận thấy giống có năng suất cao nhất là giống GSR 65 đạt 96,3tạ/ha, cao hơn giống đối chứng ML48 là 27,4 tạ/ha (năng suất giống lúa ML48 chỉ đạt 68,8tạ/ha). Tiếp đến là các giống GSR 90, năng suất 88,57 tạ/ha; giống GSR 38 năng suất đạt 88,2 tạ/ha và Nam Ưu 1245 đạt năng suất 83,1 tạ/ha.

Tuyển chọn 2 giống “siêu lúa xanh”

Trước đó, từ năm 2015, Sở NN-PTNT tiến hành khảo nghiệm 10 giống lúa “siêu lúa xanh” gồm GSR 90, GSR 84, Nam Ưu 1245, GSR 38, GSR 54, GSR 89, Nam Ưu 1241, GSR 65, GSR 36, GSR 63. Trải qua 3 vụ trồng khảo nghiệm tại 2 điểm là Trại giống Nông nghiệp Hòa An và cánh đồng huyện Tây Hòa được theo dõi theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Đến nay, sở tuyển chọn 2 giống ưu tú phù hợp là GSR 65 và GSR 90. TS Nguyễn Trọng Tùng, Giám đốc Sở NN-PTNT, chủ nhiệm đề tài tuyển chọn giống lúa gạo năng suất cao, phẩm chất tốt từ nguồn gen lúa siêu xanh, cho hay: Giống GSR 65 và GSR 90 có các đặc tính sinh trưởng, phát triển khỏe, kháng sâu bệnh tốt, thời gian sinh trưởng ngắn ngày. Năng suất cao, đạt trung bình từ 75-80 tạ/ha, thâm canh có thể đạt trên 85-90 tạ/ha, gạo có chất lượng tốt. Thời gian đến, sở tiếp tục nghiên cứu quy trình canh tác phù hợp để phát huy tối đa tiềm năng năng suất của giống lúa. Đồng thời phối hợp với các địa phương sớm chuyển giao nhân rộng 2 giống lúa mới GSR 65 và GSR 90 đưa vào sản xuất đại trà nhằm góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu.

Theo TS Hoàng Kim, giảng viên Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, người dày công nghiên cứu bộ giống “siêu lúa xanh”, một số giống của bộ giống lúa “siêu lúa xanh” hiện có phẩm chất gạo cao nhất trên thị trường thế giới. Vì vậy trong quá trình khảo nghiệm, theo dõi các chỉ tiêu nông học, năng suất và phẩm chất hạt gạo đã tuyển chọn ra bộ giống lúa chủ lực tiến tới xây dựng cánh đồng lúa chất lượng cao. Đây là một trong những giải pháp xây dựng cánh đồng mẫu lúa chất lượng, tạo xu hướng sản xuất lúa hàng hóa. Qua đó chuyển giao, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, quy trình sản xuất mới cho nông dân mang lại nguồn thu nhập cao. 

MẠNH HOÀI NAM

CÂU CHUYÊN ẢNH THÁNG TƯ
Hoàng Kim

Câu chuyện ảnh tháng Tư
NƠI MỘT TRỜI THƯƠNG NHỚ
Hoàng Kim

Nhớ ai vừng đông vừa rạng
Ước dòng tin nhắn đầu tiên
Hương đất thơm mùa ruộng cấy
Phương Nam vời vợi bạn hiền.

Ở đâu lung linh Kiếp Bạc
Sao Khuê mờ tỏ Côn Sơn
Ở đâu một trời thương nhớ
Cho ta khoảng lặng tâm hồn.

Ở đâu bàng hoàng Phố Thị
Ngẫn ngơ nghĩ ngợi suốt chiều
Con nhảy xe đò về ruộng
Mưa dầm bóng Mẹ liêu xiêu.

Con ra nước ngoài học chữ
Lời nào Thầy dạy đầu tiên
Biết ơn nhọc nhằn Cha Mẹ
Lấm lem con chữ ưu phiền.

Phố Thị ngày càng đông đúc
Đồng Xuân xa lại càng thưa
Vui với việc hiền ở phố
Bâng khuâng thương nhớ chiêm mùa…

Xem tiếp hình ảnh và cảm nhận
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/noi-mot-troi-thuong-nho/

LAN RỪNG VÀ LỘC XUÂN
Lan rừng và lộc xuân với các bạn Đức Linh
Hoàng Kim

LanDucLinh3
LanDucLinh4
LanDucLinh5
LanDucLinh6
LanDucLinh8
LanDucLinh9
LanDucLinh10
LanDucLinh11
LanDucLinh12
LanDucLinh13
LanDucLinh14
LanDucLinh15
LanDucLinh16
LanDucLinh17
LanDucLinh18
LanDucLinh19
LanDucLinh20
LanDucLinh21
LanDucLinh22
LanDucLinh23
LanDucLinh24
LanDucLinh25
LanDucLinh26
LanDucLinh27
Mai1
Mai2
Ong1
Ong2
BanBinhThuan2
Ân Đinh Dương cùng với Cậu Ba11 người khác đang ở GL Luxury.24 tháng 3, 2013 lúc 23:19

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim

soi vào bạn quý là tìm lại bài học chính mình . Ngày 14 tháng 4 là ngày khởi đầu của kỷ nguyên Phật Giáo và giữa trung tuần tháng Tư trong tiết Thanh Minh. Hôm nay là ngày vui Mai Thành Phụng Nguyễn Thị Kim Hoàng bạn quý; ngày nhớ không quên của bạn quý Nguyễn Trọng Tùng. Tôi tìm về bài “Có một ngày như thế” và “Lời Thầy dặn” để tìm lại ít ảnh chọn và một số tư liệu ký ức không quên. Ngày Hạnh Phúc đọc lại kinh Dịch và lời khuyên của Trạng Trình: “Căn bản của học Dịch là phải biết tùy thời, hướng thiện và lạc quan. Tùy thời thì an nhàn. Tùy thời mà vẫn giữ được trung chính.”

Ngọc phương Nam: Bạn ước gặt gì hôm nay?
Học mỗi ngày, Bài học sâu sắc của cuộc sống

ÂN TÌNH
Hoàng Kim

Thương nước biết ơn bao người ngọc
Vì dân qua bến nhẹ tênh lòng
Nhớ bao tài đức đời phiêu dạt
Ân tình lưu mãi những dòng sông .

QUẢNG BÌNH ĐẤT MẸ ƠN NGƯỜI
Hoàng Kim

Quảng Bình đất Mẹ ơn Người
Tổ tiên cát bụi nhiều đời thành quê
Đinh ninh như một lời thề
Trọn đời trung hiếu để về dâng hương

Lòng son trung chính biết ơn
Quê hương chung đúc khí thiêng Quảng Bình
Về quê kính nhớ Tổ tiên
Mừng vui giữa chốn bạn hiền người thân

Đất trời ngày mới thanh tân
Thung dung thăm hỏi ân cần níu chân.
Đường xuân như một dòng sông
Việt Nam thống nhất thác ghềnh đến nơi.

Hồn chính khí bốc lên ánh sáng
Sáng choang ngọc đá giữa hoang tàn’.
Tâm nhân văn lắng đọng tinh hoa
Hoa Đất Hoa Người trong cõi Bụt

SỚM XUÂN ĐI TẢO MỘ
Hoàng Kim

Sớm xuân đi tảo mộ
Hoa vàng đua sắc hương
Chùm khế hoa tím ngát
Thung dung vui đời thường.

VIẾNG MỘ CHA MẸ
thơ Hoàng Trung Trực

Dưới lớp đất này là mẹ là cha
Là khởi phát đời con từ bé bỏng
Là lời mẹ ru dịu dàng cánh võng
Là binh đao cha một thuở đau đời

Hành trang cho con đi bốn phương trời
Là nghĩa khí của cha, là nhân từ của mẹ
Vẫn bầu sữa tinh thần không ngừng không nghỉ
Để hành trang cho con đi tiếp cuộc đời

Cuộc đời con bươn chãi bốn phương trời
Nay về lại nơi cội nguồn sinh trưởng
Dâng nén hương mà lòng hồi tưởng
Thuở thiếu thời dưới lồng cánh mẹ cha

“Ước hẹn anh em một lời nguyền
Thù nhà đâu sá kể truân chiên
Bao giờ đền được ơn trung hiếu
Suối vàng nhắm mắt mới nằm yên”.

Hoàng Trung Trực đời lính ghi lại kỷ niệm một thời của người lính chấp nhận sự hi sinh thân mình cho độc lập tự do và thống nhất của Tổ Quốc. Trang thơ gắn với sự thân thiết của nhiều đồng đội đã ngã xuống, sự đau đời mảnh đạn trong người và sự mẫu mực thầm lặng, ung dung đời thường của người con trung hiếu sau chiến tranh. Bài thơ “Viếng mộ cha me” đã thay lời muốn nói cho nhiều người lính trở về sau chiến tranh,

Câu chuyện ảnh tháng Tư
CÁT ĐÁ ĐẤT MIỀN TRUNG
Hoàng Kim
(GS Quyen Mai Van và TS Hoàng Kim ở Phú Yến xứ sở Hoa vàng trên cỏ xanh, ảnh Trúc Mai
9 tháng 4, 2017)

Về nơi cát đá em ơi
Mình cùng Tỉnh thức những lời nhân gian

Quê em thăm thẳm Tháp Chàm
Biển xanh cát đá và rừng hoang sơ
Hoa trên cát, núi Phổ Đà
Tháp Bà Chúa Ngọc dẫu xa mà gần.

Ta đi về chốn trong ngần
Để thương cát đá cũng cần có nhau
Dấu xưa mưa gió dãi dầu
Đồng Xuân nắng ấm nhuốm màu thời gian.

Đỉnh mây gặp buổi thanh nhàn
Dịch cân kinh luyện giữa vùng non xanh
Cát vàng, biển biếc, nắng thanh
Bình Minh An Đức Hoàng Thành Trúc Lâm.

Cát đá đất miền Trung https://hoangkimlong.wordpress.com/…/cat-da-dat-mien-trung và Thầy em là nắng tháng Ba https://hoangkimlong.wordpress.com/…/thay-em-la-nang…/ và Câu chuyện ảnh tháng Tư https://hoangkimlong.wordpress.com/…/cau-chuyen-anh…/

ĐẠI LÃNH NHẠN QUAY VỀ
Hoàng Kim

Núi Đá Bia thiên nhãn phương nam
Biển Vũng Rô mắt thần tịnh hải 
Tháp Nhạn người Chăm lưu đất Phú
Mằng Lăng chữ Việt dấu trời Yên
Xuân Đài thành cổ ghềnh Đá Đĩa
Sông Ba sông Cái núi Cù Mông
Vạn kiếp tình yêu ai gửi lại
Ngàn năm Đại Lãnh nhạn quay về.

2

Sông Kỳ Lộ Phú Yên https://hoangkimlong.wordpress.com/…/song-ky-lo-phu-yen/
Đồng xuân lưu dấu hiền https://hoangkimlong.wordpress.com/…/dong-xuan-luu-dau…/
Cao Biền trong sử Việt https://hoangkimlong.wordpress.com/…/cao-bien-trong-su…/
Đại Lãnh nhạn quay về https://hoangkimlong.wordpress.com/…/dai-lanh-nhan…/

SỚM MAI QUA ĐẠI LÃNH
Hoàng Kim

Sớm xuân Đại Lãnh
Bình minh Đại Lãnh
Tàu qua Đại Lãnh
Đá Dựng Đại Lãnh

SỚM MAI QUA ĐẠI LÃNH
Hoàng Kim

Vui được dịp sớm mai qua Đại Lãnh
Ngắm đất trời núi biển lúc hừng đông
Nghe vó ngựa ruổi dài đường vạn dặm
Đá Bia ơi.thăm thẳm đất Tiên Rồng

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là thay-ban-trong-doi-toi.jpg

Câu chuyện ảnh tháng Tư
THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim


Cảm ơn anh Hoàng Đại Nhân thơ hay chất phác chân tình xúc động, ảnh đẹp, xin được chia sẻ. Văn hóa là những gì lắng đọng khi người ta đã quên đi tất cả. Tôi nhớ về anh Hoàng Đại Nhân với ba kỷ niệm ấn tượng: Thứ nhất anh nhắn tôi và ít người thân kịp đến thăm thầy Dương Thanh Liêm trước ngày thầy đi vào cõi vĩnh hầng; Thứ hai, anh thật là người con trung hiếu với Tổ Quốc và Gia đình. Bố anh ngất trên luống cày khi anh hi sinh và trở lại; Thứ ba anh chơi với bạn chân thành và vui tính, chịu nghe lời khuyên tốt để nay thức dậy những trang thơ có ích cho mình và vui khỏe bạn hữu. Tôi khuyên anh níu thơ vì anh thực sự có khiếu. Anh thuở đi học vun vào cho Kim và Thủy nhưng đùa “Chân đi nhè nhẹ như voi giẫm/ Giọng nói thanh thanh tựa hổ gầm” Đến nay vẫn cười hoài khi nhắc lại, còn bạn Dung Kim thì bị đùa::”Bà Dung mà lấy ông Quyền / sinh ra con cái đen tuyền đầu đuôi” Nghịch đùa vậy nhưng anh em bạn học thật thân nhau, Thầy bạn trong đời tôi. Xin trích dẫn thơ anh trong bài Thầy Dương Thanh Liêm. cũng xin lưu lại chút ghi chép ở Câu chuyện ảnh tháng Tư

Thăm thầy giáo bệnh’ bài thơ xúc động của anh Hoàng Đại Nhân đã nói hộ cho biết bao tấm lòng sinh viên Đại học Nông Lâm chúng tôi và những người chăn nuôi Việt Nam biết ơn Thầy.

THĂM THẦY GIÁO BỆNH
Hoàng Đại Nhân

Kính tặng Nhà giáo nhân dân, PGS. TS. Dương Thanh Liêm,
nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh.

Trọn đời gắn với giảng đường
Một đời thanh bạch chẳng vương bụi trần
Bàn chân đi khắp xa gần
Vẫn nguyên cốt cách tảo tần hồn quê

Một đời yêu đến say mê
Những trang giáo án truyền nghề lớp sau
Một đời thận trọng từng câu
Một lời giảng cũng nặng sâu nghĩa tình

Một đời làm việc hết mình
Nâng niu tất cả, riêng mình thì quên
Nỗi buồn, chôn dấu niềm riêng
Niềm vui chia sẻ nhân thêm nghĩa tình

Một đời tình nghĩa phân minh
Thầy trò chia sẻ nghĩa tình cha con.
Tám mươi tuổi, sức hao mòn
Mà trang giáo án vẫn còn trên tay

Cao xanh sao nỡ đặt bày
Gây nên trọng bệnh để thầy đớn đau
Cầu mong cơn bệnh qua mau
Hết mưa lại sáng một bầu trời xanh

Mong thầy bình phục an lành
Cây đại thụ của rừng xanh đại ngàn.

Tôi đồng cảm với anh Hoàng Đại Nhân và thật sự cảm phục thầy Dương Thanh Liêm.

Đức độ hi sinh, thanh liêm chính trực, tận tụy dạy người là ba bài học lớn của thầy Liêm

Hoàng Kim

TÂM SỰ CỦA NGƯỜI CỰU CHIẾN BINH
Thơ Hoàng Đại Nhân

Người lính già
ngồi trầm lặng nghĩ suy
Nhớ đồng đội thời hiểm nguy trận mạc
Từng bươn chải
qua những kỳ đói khát
Nay giản đơn trong cuộc sống đời thường

Người lính già
không nặng nỗi vấn vương
Chuyện xung quanh cứ nhẹ nhàng thanh thản
Chỉ sâu nặng với nghĩa tình bè bạn
Bạc trắng đầu,
bạn cũ chẳng quên ai

Người lính già,
tình son sắt không phai
Rất trân trọng những máu xương đồng đội
Suốt cuộc trường chinh hành quân không mỏi
Mà có bao giờ nghĩ tới tấm Bằng khen

Người lính chân tình
không hề sống bon chen
Trong bom đạn, chẳng yếu hèn, sợ khó
Khi ngã xuống,
nhiều người không bia mộ
Tấm Huân chương đâu ai nhận về mình.

Mà hôm nay trong kiếp sống nhân sinh
Có những kẻ quên mình từng là lính
Giỏi đục khoét,
luôn ranh ma toan tính
Sống nhởn nhơ trên xương máu đồng bào

Chúng ngụy trang bằng lớp phấn bảnh bao
Khéo sơn phết, tưởng nào đâu… sạch lắm
Những cựu binh từng qua trăm trận đánh
Sẽ cùng nhân dân dẹp hết rác rưởi này.

Hạnh phúc vô cùng trong cuộc sống hôm nay
Những Cựu chiến binh luôn xiết tay, gắn bó
Truyền thống anh hùng Trường Sơn một thuở
Càng thấy yêu hơn những đồng đội thân thương.

5/4/2020

xem tiếp Câu chuyện ảnh tháng Tư

Video nhạc tuyển
Bài ca thời gian

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter


Đất Việt Nguyễn Đình Bông


ĐẤT VIỆT NGUYỄN ĐÌNH BÔNG
Hoàng Kim


Quản lý Đất Việt Nam
Thực tiễn và Nhận thức
Sách một đời lắng đọng
Việt Nam con đường xanh

Chúc mừng Ngày Hạnh Phúc TS Nguyễn Đình Bông, Hoa Đất thương lời hiền, sách hay xin chép về. Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-8-thang-4/

Bài viết có liên quan

NÔNG NGHIỆP VIỆT TRĂM NĂM
Hoàng Kim

“Trăm năm trong cõi người ta” cụ Nguyễn Du khởi đầu kiệt tác Truyện Kiều hồn Việt, đất Việt, người Việt bằng câu này. Nông nghiệp Việt trăm năm bảo tồn và phát triển là bài học lớn Nông nghiệp Việt thích nghi để tồn tại kết nối và hội nhập nhưng không quên bản sắc mình là ai và ở đâu trong thế giới phát triển. Chúc mừng Ngày Nhà Giáo Việt Nam. “Bao năm Trường Viện là nhà. Lúa ngô khoai sắn đều là thịt xương. Một đời người một rừng cây. Thầy ươm giống tốt để mai thành rừng”. Nông nghiệp Việt là chủ đề lớn tâm đắc . Bài này giới thiệu một ít thông tin khởi đầu nhân ngày 20 tháng 11. Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam hướng tới kỷ niệm 100 năm ngày thành lập (1925-2025); Bài viết chọn lọc ngày 20 tháng 11: Nông nghiệp Việt IAS 100 năm. Trường tôi nôi yêu thương; Kỷ yếu khoa Nông học kỷ niệm 65 năm thành lập Khoa; Về Trường để nhớ thương; Một niềm tin thắp lửa; Thầy bạn là lộc xuân; Thầy bạn trong đời tôi; Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-20-thang-11/;

Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam (IAS) từ cuối năm 2015 đến đầu năm 2025 đang chuyển đổi mạnh mẽ trong xu thế hội nhập và phát triển. Viện cấu trúc hài hòa các Bộ môn Bảo vệ Thực vật; Công nghệ Sinh học; Chọn tạo giống cây trồng; Nông học; Cây Công Nghiệp để vừa xử lý tốt các vấn đền đề vùng miền vừa đáp ứng tốt những đề tài trọng điểm quốc gia theo chuỗi giá trị hàng hóa chuyên cây, chuyên con và tổng hợp quốc gia mà Viện có thế mạnh như Điều, Sắn, Cây Lương thực Rau Hoa Quả, Nông nghiệp hữu cơ, Nông nghiệp đô thị, Đào tạo và huấn luyện nguồn lực, xây dựng phòng hợp tác nghiên cứu chung và trao đổi chuyên gia quốc tế trong chỉnh thể Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam.

Nông nghiệp Việt 100 năm (1925-2025) bảo tồn và phát triển chúng ta sẽ lắng đọng các bài học lý luận và thực tiễn đúc kết chuỗi hệ thống lịch sử địa lý sinh thái kinh tê xã hội tầm nhìn dài hạn 100 năm Bài học lớn của IAS Kỷ yếu khoa học giai đoạn 1975-2015, lắng đọng bài học mới nhất của 65 năm Kỷ yếu Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh (19/11/ 1955 – 19/11/ 2020) và bài học lớn 75 năm ngành Quản lý đất đai Việt Nam (3.10 1945- 3 10 2020). Đó là những thực tiễn và lý luận Việt được đúc kết quý giá. Khi tham khảo tổng quan bảo tồn và phát triển 500 năm nông nghiệp Brazil Đất và Thức ăn (Land and Food 500 years of Agriculture in Brazil).một tài liệu quý và chùm ảnh tư liệu chọn lọc của Brazil cho thấy. Brazil có Embrapa www.embrapa.br. là tập đoàn nghiên cứu và phát triển nông nghiệp lâu năm và khá hoàn hảo để đảm bảo các giải pháp khoa học và biến đổi phát triển bền vững. Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam hiện nay là nợi có đúc kết kinh nghiệm dầy dặn của Nông nghiệp Việt IAS 100 nam (1925-2025) lại tích hợp nhiều kinh nghiệm quý của các nước, các chuyên gia FAO và UNDP, Embrapa,…Nông nghiệp Việt 100 năm (1925-2025) bảo tồn và phát triển nhằm đúc kết và suy ngẫm bài học lý luận và thực tiễn hiệu quả cho sự phát triển

Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam đã đúc kết tốt 90 năm nông nghiệp miền Nam lịch sử phát triển (1925-2015) và đang trên đường tới ‘100 năm nông nghiệp Việt Nam’ (1925-2025). Công tác chuẩn bị cho ngày tổng kết và lễ hội quan trọng này này vào năm 2025 đang được chuẩn bị từ hiện nay.

90 năm Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam, sự nhìn lại bản tóm tắt nông nghiệp 90 năm (1925-2015) thật khá thú vị: Tác giả Bùi Chí Bửu, Trần Thị Kim Nương, Nguyễn Hồng Vi, Nguyễn Đỗ Hoàng Việt, Nguyễn Hiếu Hạnh, Đinh Thị Lam, Trần Triệu Quân, Võ Minh Thư, Đỗ Thị Nhạn, Lê Thị Ngọc, Trần Duy Việt Cường, Nguyễn Đức Hoàng Lan, Trần Thị Kim Cúc, Nguyễn Thị Kim Thoa, Đinh Thị Hương, Trần Văn Tưởng, Phan Trung Hiếu, Hồ Thị Minh Hợp, Đào Huy Đức* (*Chủ biên chịu trách nhiệm tổng hợp).

Khoa học nông nghiệp là một tổng thể của kiến thức thực nghiệm, lý thuyết và thực tế về nông nghiệp, nông dân, nông thôn do các nhà nghiên cứu phát triển với các phương pháp khoa học, trong đó đặc biệt là sự quan sát, giải thích, và dự báo những hiện tượng của nông nghiệp. Việt Nam là đất nước “dĩ nông vi bản”, do đó nông nghiệp của chúng ta gắn liền với lịch sử phát triển của đất nước. Viện đã không ngừng phát triển trong chặng đường lịch sử 90 năm. Viện đã cùng đồng hành với nông dân Việt Nam, người mà lịch sử Việt Nam phải tri ân sâu đậm. Chính họ là lực lựơng đông đảo đã làm cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân thành công; đồng thời đã đóng góp xuất sắc trong thời kỳ đổi mới, xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, với nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, tạo nên những đột phá liên tục làm tiền đề cho công nghiệp và dịch vụ phát triển như ngày nay. Sự kiện 02 triệu người chết đói năm 1945 luôn nhắc người Việt Nam rằng, không có độc lập dân tộc, không có khoa học công nghệ, sẽ không có ổn định lương thực cho dù ruộng đất phì nhiêu của Đồng bằng Sông Cửu Long có tiềm năng vô cùng to lớn.

Lịch sử của Viện cũng là lịch sử của quan hệ hợp tác mật thiết với các tổ chức nông dân, với lãnh đạo địa phương, với các Viện nghiên cứu trực thuộc VAAS và các Trường, Viện khác, với các tổ chức quốc tế. Khoa học nông nghiệp không thể đứng riêng một mình. Khoa học nông nghiệp phải xem xét cẩn thận các yếu tố kinh tế, môi trường, chính trị; trong đó có thị trường, năng lượng sinh học, thương mại hóa toàn cầu. Đặc biệt, nông nghiệp phải nhấn mạnh đến chất lượng nông sản và an toàn lương thực, thực phẩm, khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới.

Lịch sử đang đặt ra cho Viện những thách thức mới trong điều kiện Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng, hàng rào thuế quan được dỡ bỏ, thay vào đó là rào cản kỹ thuật đối với nông sản trên thương trường quốc tế. Thách thức do bùng nổ dân số, thiếu đất nông nghiệp, thiếu tài nguyên nước ngọt, biến đổi khí hậu với diễn biến thời tiết cực đoan, thu nhập nông dân còn thấp là những nhiệm vụ vô cùng khó khăn, nhưng rất vinh quang của Viện, đang mong đợi sự năng động và thông minh của thế hệ trẻ.”

Lịch sử của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam được chia là hai phân kỳ : Từ ngày thành lập Viện 1925 đến năm 1975, và từ năm 1975 đến năm 2018.

Từ năm 1925 đến năm 1975 những nhân vật lịch sử tiêu biểu của Viện trong thời kỳ này là GS.TS. Auguste Chavalier (1873-1956) Người thành lập Viện Khảo cứu Khoa học Đông Dương, năm 1918;  Yves Henry (1875-1966) Người thành lập Viện Khảo cứu Nông Lâm Đông Dương, năm 1925;  GS. Tôn Thất Trình, GS. Thái Công Tụng, GS. Lương Định Của, … là những người có ảnh hưởng nhiều đến Viện trong giai đoạn này

Từ năm 1975 đến năm 2018 Viện trãi qua 5 đời Viện trưởng GS Trần Thế Thông, GS Phạm Văn Biên, GS Bùi Chí Bửu, TS Ngô Quang Vinh và TS Trần Thanh Hùng.  Tôi lưu lại một số bức ảnh tư liệu kỷ niệm một thời của tôi với những sự kiện chính không quên.

Viện IAS từ năm 1975 đến năm 2015 là một Viện nông nghiệp lớn đa ngành, duy nhất trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam. Đó là tầm nhìn phù hợp điều kiện thực tế thời đó. Viện có một đội ngũ cán bộ khoa học nông nghiệp hùng hậu, có trình độ chuyên môn cao, thế hệ đầu tiên của giai đoạn hai mươi lăm năm đầu tiên sau ngày Việt Nam thống nhất (1975 – 2000)  gồm các chuyên gia như:  Giáo sư Trần Thế Thông, Giáo sư Vũ Công Hậu, Giáo sư Lê Văn Căn, Giáo sư Mai Văn Quyền, Giáo sư Trương Công Tín, Giáo sư Dương Hồng Hiên, Giáo sư Phạm Văn Biên, … là những đầu đàn trong khoa học nông nghiệp.

Viện có sự cộng tác của nhiều chuyên gia lỗi lạc quốc tế đã đến làm việc ở Viện như: GSTS. Norman Bourlaug (CIMMYT), GS.TS. Kazuo Kawano, TS. Reinhardt Howeler, GS.TS. Hernan Ceballos, TS. Rod Lefroy, (CIAT),  GS.TS. Peter Vanderzaag, TS. Enrique Chujoy, TS. Il Gin Mok, TS. Zhang Dapheng (CIP), GS.TS. Wiliam Dar, TS. Gowda (ICRISAT), GSTS.  V. R. Carangal (IRRI), TS. Magdalena Buresova , GSTS. Pavel Popisil (Tiệp), VIR, AVRDC,  …

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là ias-nlu-ngay-nha-giao.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là ias-ngay-nha-giao-viet-nam.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là nlu-65-nam.jpg

Thật đáng tự hào về một khối trí tuệ lớn những cánh chim đầu đàn nêu trên của các Viện Trường. Chúng ta còn nợ những chuyên khảo sâu các đúc kết trầm tích lịch sử, văn hóa, sinh học  của vùng đất này để đáp ứng tốt hơn cho các vấn đề nông dân, nông nghiệp, nông thôn, đời sống và  an sinh xã hộiđể vận dụng soi tỏ “Niên biểu lịch sử Việt Nam“, ”Nông nghiệp Việt trăm năm bảo tồn và phát triển (1925-2025)” nhằm tìm thấy trong góc khuất lịch sử dòng chủ lưu tiến hóa của nông nghiệp, giáo dục, văn hóa Việt Nam.

Chúc mừng Ngày Nhà Giáo Việt Nam.Chúc mừng và cảm ơn những tình cảm quý mến thân thiết của thầy bạn để giúp luôn chúng ta luôn ấm áp yêu thương và cố gắng . Thật xúc động nói lên những lời từ đáy lòng. “Bao năm Trường Viện là nhà. Lúa ngô khoai sắn đều là thịt xương. Một đời người một rừng cây. Thầy ươm giống tốt để mai thành rừng”. Thật tự hào Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam hướng tới Nông nghiệp Việt 100 năm bảo tồn và phát triển (1925-2025); với hình ảnh chúc mừng ngày Nhà Giáo Việt Nam; Bài viết chọn lọc ngày 20 tháng 11: Nông nghiệp Việt trăm năm bảo tồn và phát triển; Trường tôi nôi yêu thương; Kỷ yếu khoa Nông học kỷ niệm 65 năm thành lập Khoa; Về Trường để nhớ thương; Một niềm tin thắp lửa; Thầy bạn là lộc xuân; Thầy bạn trong đời tôi; Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-20-thang-11/;.

Họp mặt tất niên ngày 15 tháng 1 năm 2020 ảnh Minh Hương 17 tháng 1 · cùng với Nguyễn Thanh Thủy, Thanhminh Nguyen, Tran Nu Thanh, Cuộc Đời, Nguyen Quy Hung, Tin TruongHoàng Kim

Kết nối và phát triển, tách nhập tái cấu trúc là những chuyển động không ngưng nghỉ của Nông nghiệp Việt trăm năm qua. Thăm nhà cũ của Darwin, Tôi may mắn được dạo chơi Down House ngôi nhà cũ của nhà tự nhiên học người Anh Charles Darwin và gia đình ông để có giây phút lặng ngắm khu vườn riêng di sản nhỏ bé của ông. Chính tại nơi này Darwin đã làm việc về thuyết tiến hóa bởi chọn lọc tự nhiên và nhiều thí nghiệm khác. “Nguồn gốc các loài” của Charles Darwin xuất bản lần đầu tiên ngày 24 tháng 11 năm 1859 là ấn phẩm khoa học tiêu biểu và là tác phẩm nòng cốt của ngành sinh học tiến hóa, chứng minh rằng mọi loài đều tiến hóa theo thời gian từ những tổ tiên chung qua quá trình chọn lọc tự nhiên. Hiện nay học thuyết tiến hóa của Darwin vừa được tôn vinh vừa bị phê phán dữ dội. Vượt qua mọi khen chê của nhân loại và thời đại biến đổi, triết lý của Charles Darwin thật sâu sắc.“Thích nghi để tồn tại” “Mọi loài đều tiến hóa theo thời gian từ những tổ tiên chung qua quá trình chọn lọc tự nhiên“, bài học tình yêu cuộc sống đắt giá của tự nhiên, mỗi người, cộng đồng dân tộc và nhân loại.


Đôi mắt Darwin soi thấu nguồn gốc các loài. “Kẻ sống sót không phải là kẻ mạnh nhất hay thông minh nhất, mà là kẻ thích nghi tốt nhất” Charles Darwin đã nói vậy: “It is not the strongest of the species that survives, nor the most intelligent that survives. It is the one that is most adaptable to change” Bảo tồn và phát triển bền vững, thích nghi để tồn tại là câu chuyện lớn của mỗi người và nhân loại, là lời nhắc của quá khứ hiện tại và tương lai cho nhân loại và chính cộng đồng người dân Việt Nam để không bao giờ được phép quên lãng. Thích nghi để tồn tại mới là người thắng sau cùng. Cân bằng hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường, tiến bộ và công bằng an sinh xã hội, giữ vững độc lập thống nhất chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia là những vấn đề trọng yếu trong chính sách kinh tế xã hội tự nhiên và an sinh.Thăm ngôi nhà cũ của Darwin là tìm đến tư duy mạch lạc của một trí tuệ lớn Tôi thật may mắn và biết ơn Viện Trường có một thời gian cùng làm việc với nhiều thầy bạn để học hỏi và chiêm nghiệm cuộc sống Chung sức là một câu chuyện riêng chung nhiều thông tin nhớ mãi một thời.

CHUNG SỨC
Võ Tòng Xuân, Hoàng Kim
Nhớ giáo sư Phạm Văn Biên

Chung sức bao năm một chặng đường
Cuộc đời nhìn lại phúc lưu hương
Ngô khoai chẳng phụ dày công Viện
Lúa sắn chuyên tâm mến nghĩa Trường
Dạy học tinh hoa giàu trí tuệ
Chuyển giao chuyên nghiệp khiếu văn chương
Người chọn vãng sanh vui một cõi
Ai theo cực lạc đức muôn phương

Liên vận bài
TIỄN ĐƯA
Tố Hữu
(Tặng bạn thơ Th.)

Đưa tiễn anh đi mấy dặm đường
Nặng tình đồng chí lại đồng hương!
Đã hay đâu cũng say tiền tuyến
Mà vẫn bâng khuâng mộng chiến trường!
Dẫu một cây chông trừ giặc Mỹ
Hơn nghìn trang giấy luận văn chương
Đi đi, non nước chờ anh đó!
Tiền tuyến cần thêm? Có hậu phương…

Cảm ơn PGS TS Huỳnh Thanh Hùng Trưởng Ban Biên tập 65 NĂM KỶ YẾU TRƯỜNG Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, một tổng kết giá trị được yêu thích đúc kết đầu tiên . với thông tin kỷ yếu tôi sẽ cố gắng sớm cập nhật ở Trường tôi nôi yêu thương.

Cảm ơn GS.TS Bùi Cách Tuyến, nguyên Hiệu trưởng NLU (1998-2007) với bài viết Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh HỒI TƯỞNG VỀ GIAI ĐOẠN CẤT CÁNH (1998-2007) và TS Nguyễn Đình Bông, nguyên phó Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Quản lý Đất đại (ngày nay là Bộ Tài nguyên Môi trường) với bài viết QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI VIỆT NAM, chọn chép lại ngày này để tiện theo dõi

Kính lắng nghe sự chỉ giáo của quý Thầy bạn.

TS. Hoàng Kim
Cựu giảng viên chính Cây Lương thực, Khoa Nông học (2006-2014)
Nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Thực Nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc (1994-2004), Trưởng Ban Quản lý Các Dự Án (2004-2006) Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HCM:
HỒI TƯỞNG VỀ GIAI ĐOẠN CẤT CÁNH (1998 – 2007)
GS.TS. Bùi Cách Tuyến
Nguyên Hiệu trưởng


Năm tôi vào trường (1973), Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp (thuộc Viện đại học Bách Khoa Thủ Đức, hiện nay là Trường đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh sau nhiều lần đổi tên) tuyển 200 sinh viên (100 Canh Nông, 50 Thủy Lâm, 50 Chăn nuôi Thú Y), trong đó có 10% dành riêng cho đồng bào sắc tộc và 10% dành riêng cho các trường Trung học Nông Lâm Súc tại các tỉnh. Thi vào không chỉ là học sinh phổ thông mà còn có những người đã học xong năm thứ nhất Đại học Khoa học Sài Gòn (đậu các chứng chỉ Toán Đại cương (MG); Toán, Lý, Hóa (MPC); Lý, Hoá, Vạn vật (SPCN). Đến năm 1974 trường mở thêm ngành Thủy sản do cố GS. Ngô Bá Thành làm trưởng ngành, lấy học viên từ các ngành khác chuyển qua. Chuyên ngành Công thôn và chuyên ngành Chế biến lấy sinh viên chủ yếu từ ngành Canh nông.

Cho đến năm học 1998 – 1999, Trường đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh chỉ đào tạo 10 ngành trong 6 Khoa: (1) khoa Nông học (Nông học, Quản lý Đất đai); (2) khoa Lâm (Lâm nghiệp và Chế biến Lâm sản); (3) khoa Chăn nuôi Thú y (Chăn nuôi và Thú y); (4) khoa Cơ khí Công nghệ (Cơ khí Nông nghiệp, Bảo quản Chế biến Nông sản Thực phẩm); (5) khoa Kinh tế Nông nghiệp (Kinh tế Nông nghiệp); và (6) khoa Thủy sản (Thủy sản).

Từ năm 2001, số ngành tuyển sinh tăng dần: năm học 2001-2002: (18 ngành); 2002-2003 (21 ngành); 2003 – 2004 (23 ngành); 2004 -2005 (29 ngành); 2005 – 2006 (36 ngành); 2006 – 2007 (42 ngành); 2007 – 2008 (43 ngành). Số người đến thi/số người đăng ký thi dự thi tăng dần theo từng năm. Cao nhất là năm 2007 có 57.536 người đến thi trên tổng số 74.686 người đăng ký, tổng số chỉ tiêu được giao là 3.600 sinh viên.

Là một trường nông nghiệp đóng trên địa bàn thành phố lớn nên nhu cầu phát triển lên đa ngành là rất cần thiết. Việc mở rộng quy mô đào tạo đã có nhiều đại học trên thế giới thực hiện thành công. Trong khu vực Châu Á có các đại học như Kasesart (Thái Lan), UPM (Malaysia), IPB (Indonesia)… đều khởi đầu từ trường nông nghiệp sau chuyển lên đa ngành và mở thêm nhiều phân hiệu. Ban Giám hiệu thời kỳ 1998 – 2007 đã thống nhất kế hoạch đưa trường lên đa ngành và mở thêm các phân hiệu ở Gia Lai và Ninh Thuận. Tỉnh Lâm Đồng, Bình Thuận và Phú Yên cũng muốn có phân hiệu nhưng vì nhiều lý do khác nhau nên chỉ hình thành 2 phân hiệu tại Gia Lai và Ninh Thuận. Phân hiệu Gia Lai nhờ sự ủng hộ mạnh mẽ của lãnh đạo tỉnh nên có quyết định thành lập trước theo QĐ số 2539/QĐ-BGD ĐT ngày 22/5/2006 và Phân hiệu Ninh Thuận thành lập sau theo QĐ số 699/TTg ngày 18/5/2010 (trong nhiệm kỳ Thầy Trịnh Trường Giang 2007-2012). Để có thể tiếp tục mở rộng ngành đào tạo, Ban Giám hiệu đã chủ trương đổi tên trường (theo tên địa phương hoặc danh nhân. Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân đã đồng ý với chủ trương này).

Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, nhà trường luôn quan tâm đến việc nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập nhằm cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu xây dựng và phát triển đất nước. Việc chuyển đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ (HCTC) cũng để nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo; vì vậy, trường đã chủ động chuẩn bị các điều kiện cần thiết để chuyển đổi. Với quy mô đào tạo lớn, lãnh đạo Nhà trường ý thức được rằng việc thay đổi quy trình đào tạo từ niên chế sang HCTC có ảnh hưởng đến toàn bộ công tác giảng dạy, quản lý của nhà trường. Do đó, Nhà trường đã thận trọng và từng bước thực hiện việc chuyển đổi đào tạo theo HCTC. Với quá trình bàn thảo, xây dựng định hướng, xây dựng đề án, xây dựng quy trình quản lý, soạn thảo những quy định có liên quan, cài đặt các chương trình máy tính phục vụ cho việc vận hành, chuẩn bị cơ sở vật chất, triển khai tập huấn đội giảng viên, ngũ cố vấn học tập… chương trình đào tạo theo phương thức tích lũy tín chỉ đã được áp dụng đầu tiên cho khóa tuyển sinh đại học chính qui năm 2008.

Công tác đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ công chức, viên chức ở các địa phương (đào tạo tại chức, nay là vừa làm vừa học) trong khu vực cũng đã được triển khai thành công. Cụ thể trong 5 năm từ 2003 đến 2007 đã tuyển sinh đào tạo cho 9.412 sinh viên các ngành Nông học, Lâm nghiệp, Quản lý đất đai, Thú Y, Chăn nuôi, Thủy sản, Kinh tế nông nghiệp… cho các địa phương từ Bình Định đến Cà Mau.

Đến năm 2006, Trường đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh có 12 Khoa (tăng thêm 6 Khoa), 5 Bộ môn độc lập trực thuộc Ban Giám Hiệu: 1) bộ môn Mác-Lênin; 2) bộ môn Công nghệ Sinh học (để hình thành khoa Công nghệ Sinh học hoặc khoa Khoa học Sự sống về sau); bộ môn Sư phạm Kỹ thuật (để hình thành khoa Sư phạm về sau); 3) bộ môn Công nghệ Hóa học (để hình thành khoa Hóa học sau này); bộ môn Cảnh quan và Kỹ thuật Hoa viên (để hình thành khoa đào tạo chuyên về Thiết kế Cảnh quan, Quản lý Lâm viên [national park], Quản lý Hoa viên và Du lịch Sinh thái sau này). Viện Nghiên cứu Công nghệ Sinh học và Môi trường được thành lập để làm hạt nhân cho một đại học định hướng nghiên cứu về sau theo Quyết định thành lập số 797/ĐHNL-TCCB ngày 6/6/2006 của Hiệu trưởng Trường đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh trên cơ sở sáp nhập Trung Tâm Phân tích Thí nghiệm Hóa Sinh với Trung Tâm Công nghệ Sinh học và Trung Tâm Công nghệ và Quản lý Môi trường và Tài nguyên.

Trường đã lập Dự án Quy hoạch tổng thể (theo Kế hoạch Chiến lược) cho việc xây dựng trường dài hạn và được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt, trong đó có Dự án riêng cho Viện Nghiên cứu Công nghệ Sinh học và Môi trường (bao gồm 5 nhà lớn theo hình lá của một cây rừng phổ biến ở Đông Nam bộ là Dầu Con rái (𝐷𝑖𝑝𝑡𝑒𝑟𝑜𝑐𝑎𝑟𝑝𝑢𝑠 𝑎𝑙𝑎𝑡𝑢𝑠). Đến nay chỉ có hai nhà được xây dựng.

Để đào tạo nhiều ngành cần phải có phòng thí nghiệm và giảng viên tương ứng. Trường đã xây dựng & trình các dự án và nhờ sự ủng hộ của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ để hình thành các phòng thí nghiệm chuyên đề. Các Phòng Thí nghiệm trong Dự án Tăng cường năng lực do Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt và Bộ Khoa học và Công nghệ cấp kinh phí: (1) Dự án Phòng Thí nghiệm Rau quả (đặt ở khoa Công nghệ Thực phẩm); (2) Dự án Phòng Thí nghiệm Công nghệ Ô tô (đặt ở khoa Cơ khí Công nghệ); (3) Dự án Dự án Phòng Thí nghiệm Giấy và Bột giấy (đặt ở khoa Lâm nghiệp); (4) Dự án Phòng Thí nghiệm Phôi (đặt ở Viện Nghiên cứu Công nghệ Sinh học và Môi trường). Trường đã xin một khu thực nghiệm rộng nhiều trăm ha cho các khoa Lâm nghiệp, Nông học và một số đơn vị khác tại tỉnh Bình Phước (về sau trả lại địa phương vì dân lấn chiếm quá nhiều).

Song song với việc hình thành các Phòng thí nghiệm là việc thành lập các Khoa, Viện, Trung Tâm mới và các Bộ môn độc lập (dự kiến là tiền thân của các Khoa sau này). Các ngành mới mở cần có sự ủng hộ từ bên ngoài để phát triển, do đó tôi đã liên lạc GS.TS. Bạch Hưng Khang (lúc đó là Viện trưởng Viện Công nghệ Thông tin thuộc Trung Tâm Khoa học và Công nghệ Quốc gia [TTKH&CNQG], nay là Viện Hàn Lâm Khoa học Việt Nam) xin một tiến sỹ về làm trưởng khoa Công nghệ Thông tin mới thành lập. Trong khi chờ đợi, GS.TS. Hồ Sỹ Thoảng, lúc đó là Viện trưởng Viện Hóa, giới thiệu tiến sỹ Nguyễn Công Vũ đang làm việc ở Đại học Khoa học Tự nhiên TP. Hồ Chí Minh về làm Trưởng Khoa. Tôi cũng đã liên lạc GS.TS. Phan Thị Tươi, lúc đó là Hiệu trưởng Đại học Bách Khoa TP. Hồ Chí Minh để có sự hỗ trợ cho ngành Công nghệ Thông tin. Cô Tươi rất ủng hộ chủ trương này và cho rằng công nghệ thông tin rất cần thiết để phục vụ phát triển nông nghiệp (như thực tế hiện nay đã minh chứng). Đối với ngành Công nghệ Sinh học, tôi đã liên lạc với Viện Công nghệ Sinh học [TTKH&CNQG] để có sự ủng hộ về chủ trương và chuyên môn. Thời đó GS.TS. Nông Văn Hải (Viện trưởng) và GS.TS. Quyền Đình Thi (Phó Viện trưởng) và nhiều cán bộ khác của Viện đã vào huấn luyện cho cán bộ nghiên cứu của Viện Công nghệ Sinh học và Công nghệ Môi trường. Mặt khác tôi cũng gởi cán bộ nghiên cứu sang học kỹ thuật phòng thí nghiệm ở bộ môn Công nghệ sinh học của Đại học Khoa học Tự nhiên TP. Hồ Chí Minh. Đối với ngành Cơ khí công nghệ, tôi và Ban Chủ nhiệm khoa Cơ khí Công nghệ chủ trương kết nối với (1) Hãng xe Mercedes (thời đó Cô Nguyễn Thị Hồng Ngọc, cựu sinh viên khóa 1 khoa Cơ khí Công nghệ, Trường đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, là Phó Tổng Giám Đốc hãng xe Mercedes) và (2) Công ty SAMCO (có Thầy Cường, nguyên giảng viên khoa Cơ khí Công nghệ và Anh Hồng Anh, cựu sinh viên khóa 4 khoa Cơ khí Công nghệ, Trường đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh) giúp sinh viên ngành Công nghệ Ô tô đến thực tập.

Đối với ngành Công nghệ Giấy và Bột giấy qua sự giới thiệu của Cô Đào Thị Gọn (bộ môn Quản lý Đất đai) tôi đã mời Anh Vũ Tiến Hy (nguyên Giảng viên Đại học Bách Khoa Hà Nội, nguyên Phó Giám đốc Nhà máy giấy Việt Trì, nguyên Giám Đốc Nhà máy giấy COGIDO, Đồng Nai) về làm cố vấn phát triển chương trình đào tạo và xây dựng Phòng thí nghiệm.

Để nhanh chóng có giảng viên cho các ngành mới, trường đã tuyển các bạn trẻ vừa tốt nghiệp từ một số đại học phù hợp vào Trường đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh và đưa đi đào tạo nước ngoài các ngành Công nghệ Thông tin, Công nghệ Giấy và Bột giấy, Công nghệ Thực phẩm…. (chủ yếu học ở Viện Công nghệ Châu Á [Asian Institute of Technology], từ đó học viên ngành giấy còn được đi học thêm ở Phần Lan). Mặt khác trường đã mời các nhà nghiên cứu trình độ cao từ nhiều nguồn về trường tham gia đào tạo và nghiên cứu. Dựa vào quan hệ quốc tế (thời kỳ này Thầy Lưu Trọng Hiếu là Trưởng phòng Hợp tác Quốc tế), nhà trường đã cử nhiều Thầy Cô đi học ở nhiều nước.

Thời gian từ 2007 đến nay đã 13 năm, nhiều vấn đề liên quan đến giáo dục đại học đã thay đổi. Trong tình hình mới mang tính cạnh tranh cao, hy vọng toàn thể nhân lực Trường đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục đoàn kết để giúp Nhà trường phát triển, duy trì và ngày càng nâng cao sự tín nhiệm của xã hội đối với trường.

Nhân dịp kỷ niệm 65 năm ngày thành lập của Trường, tôi xin phép thay mặt tập thể Ban Giám hiệu thời kỳ 1998 – 2007 thân chúc toàn thể cán bộ công nhân viên, cựu sinh viên, sinh viên vui, khoẻ và thành công mọi việc. Chúc Trường đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh phát triển mạnh mẽ, ngày càng đáp ứng tốt hơn sự tin yêu của xã hội.

QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI VIỆT NAM
Nguyễn Đình Bông
giới thiệu thông tin
Hoàng Kim bảo tồn thông tin tư liệu học tập

Nhân dip kỷ niệm 71 năm ngay truyền thống Ngành Quản lý Đất đai (3.10.1945 -3.10 2016), Tổng Cục Quản Lý Đất Đai ngày 3 tháng 10 năm 2016 đã tổ chức tại Hà Nội Hội thảo góp ý kiến vào dự thảo 2, Sach Quản lý Đất đai Việt Nam nhìn lại để phát triển. Ông Lê Thanh Khuyến Tổng Cục Trưởng đã nhấn mạnh ý nghĩa lịch sử ngày truyền thống vẻ vang của Ngành và những việc quan trọng cấp bách của Ngành Quản lý Đất đai trong thời gian trước mắt. Thay mặt Ban Biên tập Ông Tôn Gia Huyên nguyên Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Quản lý Ruông đất và Tổng cục Địa chính đã giới thiệu tóm tắt nội dung cuốn sách và ông Đào Trung Chính Phó Tổng Cục trưởng đã chủ trì thảo luận góp ý kiến vào dự thảo 2 cuốn sách này. Ông Nguyễn Đình Bông ( Bong Nguyen Dinh) là cán bộ lão thành ở Bộ Tài nguyên và Môi trường giới thiệu một số hình ảnh và thông tin tóm tắt của Hội thảo và trich Video bài phát biểu của Ông Tôn Gia Huyên với Trần Duy Hùng4 người khác.3 tháng 10, 2016 Hoàng Kim thuộc chuyên ngành Khoa học Cây trồng, không thuộc chuyên ngành Khoa học Đất và Quản lý Đất đai nhưng tôi yêu thích tìm hiểu mối quan hệ Đất Nước Cây trồng Con người Kinh tế Xã hội nên xin phép tập hợp tư liệu để dễ tra cứu nhằm hiểu rõ hơn 100 năm nông nghiệp Việt Nam.·

3 Quản lý đất đai thời kỳ Pháp thuộc (1858-1945)

i) Áp dụng các chính sách bảo hộ sở hữu của địa chủ phong kiến, thực dân, duy trì chế độ công điền và chế độ sở hữu nhỏ ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ,

ii) Thiết lập hệ thống tổ chức quản lý đất đai 3 cấp trung ương, (Sở Địa chính) tỉnh (ty Địa chính), xã: Chưởng bạ (Bắc kỳ) Hương bộ (Nam Kỳ);

iii) Hoạt động quản lý đất đai trong đó, đo đạc địa chính được triển khai sớm với việc đo giải thửa, lập sổ địa chính, sổ điền bạ, sổ khai báo chuyển dịch đất đai và cập nhật biến động đất đai để phục vụ thu thuế. Áp dụng hệ thống đăng ký Torrens (Úc) nhằm xác lập được vị trí pháp lý của từng thửa đất và trở thành cơ sở để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người sở hữu nó và giao dịch thuận lợi trong thị trường có kiểm soát.

(xem Bảng tóm tắt và hình ảnh Tư liệu ST)
1. Dinh toan quyền Đông Duong – Sai Gon
2. Phủ toàn quyền Đông Dương – Ha Noi
3 Sở Tài chính Đông Dương ( gồm Nha công sản, trực thu , địa chính)
4, Bản đồ Hà Nội 1873
5. Sở Địa dư Đông Dương
6 Bản đồ Sài gòn 1923

4. Quản lý đất đai ở Việt Nam, giai đoạn 1955-1975

Ngày 7.5.1954 Chiến thắng Điện Biên Phủ, chấm dứt chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam; 20.7.1954 Hiệp định Gioneve về Đông Dương được ký kết. Việt Nam tạm chia làm 2 miền lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới; do Mỹ và chính quyền Sài Gòn không thi hành, từng bước mở rộng chiến tranh ở miền nam, và ném bom phá hoại miền Bắc; Việt Nam lại phải trải qua cuộc kháng chiến lần thứ 2 (1954-1975). Trong điều kiện chiến tranh, chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa giai đoạn này là phục vụ 2 nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, quản lý đất đai hướng trọng tâm vào phực vụ khôi phục kinh tế, cải tạo các thành phần kinh tế theo chủ nghĩa xã hội, xây dựng Hợp tác xã (quy mô thôn) và phát triển sản xuất nông nghiệp; Chiến thắng lịch sử trong chiến dịch Hồ Chí Minh, ngày 30.4.1975 đã kết thúc kháng chiến chống Mỹ, miền Nam được giải phóng, đất nước hòa bình, thống nhất, độc lập, tự do.

Trong giai đoạn này, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp quy về quản lý đất đai như Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa 1959; Điều lệ hợp tác xã Nông nghiệp (1969), Điều lệ Cải cách ruộng đất ngoại thành 1955; Nghị quyết của HĐCP về việc tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp kết hợp với hoàn thành cải cách dân chủ ở miền núi (1969); Nghị định số 70-CP ngày 9-12-1960 quy định nhiệm vụ tổ chức ngành Quản lý ruộng đất.; Nghị định số 71-CP ngày 9-12-1960 ấn định công tác quản lý ruộng đất; Nghị quyết số 125-CP của Hội đồng chính phủ ngày 28-6-1971 về việc tăng cường công tác quản lý ruộng đất, Pháp lênh về bảo vệ rừng 1972 . Hệ thống quản lý đất đai được hình thành ở 4 cấp (hình 1)

Ở vùng Giải phóng miền Nam Việt Nam Chính phủ Lâm thời Cách mạng Cộng hòa miền nam Việt Nam đã ban hành Chính sách ruộng đất (Nghị định 01/75 ngày 5.3.1975), Tại vùng tạm chiếm miền nam Việt Nam, chính quyền Sài Gòn đã tiến hành “Cải cách điền địa”, ” (1955-1956) và “Luật người cày có ruộng” (1970) phục vụ chính sách “bình định nông thôn

Một số hình ảnh tư liệu về giai đoạn lịch sử này. Chi tiết tại https://www.facebook.com/profile.php?id=100010660532514&tn=%2CdC-R-R&eid=ARA2lnseDlhAmePFsniuw77UHrqiHPM89itFU5fOrc-pQU94O-OHQ_AEXgzvtYust7Q-0zJobCFuBuEq&hc_ref=ARSAqPhYIGXnV0Zg1Y28jgq3_hyX3JWRiLwHmh2mGcl_uV2NtxjztqAYzSsM6RJkNZI&fref=nf
1. Chiến thắng Điện Biên Phủ 7.5.1954
2. Song Bến Hải, Cầu Hiền Lương Vĩ tuyến 17
3. Khôi phục tuyến đường sát Hà Nội Lao Cai 1955
4. Mít tinh mừng thàng công cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh Hà Nôi 1960
5. Sân kho HTX Mỹ Trì Thượng Hà Nội 1960
6. Hà nội thời chiến 1965
7. Hà Nội Điện Biên Phủ trên không 12.1972
8. Sài Gòn, Dinh Độc Lập 30.4.1975

5 Quản lý Đất đai Việt Nam 1976-1985

Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc l.ập- tự do, Tổng tuyển cử ngày 25.4.1976 đã bầu ra Quốc Hội chung của cả nước, Quốc hội đã quyết định đổi tên nước là CHXHCN Việt Nam . Đại hội Đảng lần thứ IV (1976) đã xác định đường lối xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn cách mạng mới ở nước ta là: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.”

Chính sách đất giai đoạn này tập trung vào các nội dung chủ yếu: i) Hoàn thiện hợp tác xã quy mô toàn xã, tổ chức nông nghiệp sản xuất lớn ; ii) Đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp ở các tỉnh phía Nam; iii) Cải tiến quản lý hợp tác xã nông nghiệp, trong đó có cải tiến chế độ sử dụng đất đai.

Hiến pháp 1980 đã được Quốc hội khoá VI, kỳ họp thứ 7, thông qua ngày 18 /12/12 1980,. quy định:: “Đất đai… thuộc sở hữu toàn dân.” (Điều 19); “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung, nhằm bảo đảm đất đai được sử dụng hợp lý và tiết kiệm.” (Điều 20). Theo NghỊ quyết số 548 NQ-QH ngay 24.5.1979 của UBTVQH, Hội đồng chính phủ đã ban hành Nghị Định số 44-CP ngày 9.11.1979 về thành lập Tổng cục Quản lý Ruộng đất trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng. Hệ thống tổ chức Ngành QLRĐ theo NĐ 44-CP (Hình 6)

Trong những năm 80, toàn ngành từ trung ương đến cơ sở đã thấu suốt nhiệm vụ, nhanh chóng tổ chức thực hiện toàn diện các mặt công tác theo Điều 19,20 của Hiến Pháp năm 1980 và Quyết định số 201-CP ngày 1-7-1980 của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước và Chỉ thị số 299/TTg ngày 10-11-1980 của Thủ tướng Chính phủ về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước.

Một trong những thành tựu nổi bật của Ngành trong giai đoạn (1976-1985) là công tác điều tra cơ bản phục vụ phân vùng quy hoạch sản xuất nông nghiệp (Đo đạc lập bản đồ, xây dựng bản đồ thổ nhưỡng và phân hang đất , đăng ký thống kê đất đai ), tham gia xây dựng Bản đồ Thổ nhưỡng Việt Nam tỷ lệ 1/1000.000 .[1976] (Giải thưởng Hồ Chí Minh)

Một số hình ảnh tiêu biểu của Quản lý Đất đai Việt Nam 1975-1985 Chi tiết tại https://www.facebook.com/profile.php?id=100010660532514&tn=%2CdC-R-R&eid=ARA2lnseDlhAmePFsniuw77UHrqiHPM89itFU5fOrc-pQU94O-OHQ_AEXgzvtYust7Q-0zJobCFuBuEq&hc_ref=ARSAqPhYIGXnV0Zg1Y28jgq3_hyX3JWRiLwHmh2mGcl_uV2NtxjztqAYzSsM6RJkNZI&fref=nf

1. Giải thưởng Hồ Chí Minh
2. Các nhà Khoa hoc Đất (2006 ) nhiều người trong số đó đã có mặt từ ngày đầu thành lập Vụ QLRĐ ( tiền thân của TCQLRĐ)
3, Lãnh đạo TCQLRĐ thời kỳ (1979-1985)
4. Lãnh đạo TCQKRĐ tiếp chuyên gia Liên Xô
5. Kỷ niệm 25 năm thành lập Ngành
6 So đồ hệ thống tổ chức Ngành QLRĐ (1979-1985)

6. Quản lý đất đai Việt Nam, Tổng cục quản lý ruộng đất (1979-1993)

Theo NghỊ quyết số 548 NQ-QH ngay 24.5.1979 của UBTVQH, Hội đồng chính phủ đã ban hành Nghị Định số 44-CP ngày 9.11.1979 về thành lập Tổng cục Quản lý Ruộng đất trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng.

Tổng cục ra đời trong thời kỳ trước đổi mới (1986), trong lúc nền kinh tế nước ta còn chậm phát triển , cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn, lạc hậu. Cơ quan trung ương dóng trụ sở tại phường Phương mai, Quận Đống đa, Hà Nội , nguyên là trụ sở của Vụ Quản lý đất đai thuộc Bộ Nông nghiệp , tòa nhà chính là một biệt thự xây dựng từ thời pháp thuộc, sau cơi nới là nơi làm việc cho lãnh đạo Tổng cục và các vụ quản lý Nhà nước, Một tòa nhà 2 tầng được xây mới cho các đơn vị sự nghiệp (Trung tâm nghiên cứu tài nguyên đất, Công ti vật tư , và xí nghiệp in tổng cục ). Biên chế tổng cục khoảng hơn 100 người do Ông Tôn Gia Huyên làm Tổng cục trưởng và Ông Vũ Ngọc Tuyên làm Tổng cục phó, năm 1992 thêm PTCT Chu Văn Thỉnh . Ở các Địa phương thành lập Chi cục Quản lý Ruộng đất, sau là Ban Quản lý Ruộng đất (tách ra từ phòng quản lý ruộng đất thuộc Sở Nông nghiệp các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương).

Giai đoạn này thực hiện Quyết định số 201-CP ngày 1-7-1980 của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước và Chỉ thị số 299/TTg ngày 10-11-1980 của Thủ tướng Chính phủ về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước. Tuy nhiên cơ sở vật chất kỹ thuật còn lạc hậu (Đo đạc bản đồ giải thửa bằng thước toàn đạc [tầm ngắm 20m], bản đồ đo vẽ, nhân sao thủ công (in Ozalit), Phân hạng đất lúa nước trên cơ sở kết hợp các yếu tố chất lượng đất [địa hình tương đối, độ dầy tầng canh tác, chế độ tưới tiêu, pH Kcl, Đạm, Lân dễ tiêu) và năng suất lúa
Những thành tựu nổi bật của Quản lý đất đai Việt Nam trong giai đoạn này

Xây dựng cơ sở pháp lý quản lý đất đai theo Hiến pháp 1980, Quyết định số 201-CP ngày 1-7-1980 của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước và Luật Đất đai 1987, Luật này được xây dựng công phu (vơi 70 lần dự thảo trước khi trình Quốc Hội thông qua ) và là sắc luật đầu tiện được Quốc Hội ban hành trong thời kỳ Đổi mới, đánh dâu sự trưởng thành của Quản lý Nhà nước về đất đai ở Việt Nam theo pháp luật

Hoàn thành công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước theo Chỉ thị số 299/TTg ngày 10-11-1980 của Thủ tướng Chính phủ . trong đó đến năm 1986 hoàn thành phân hạng đất lúa nước cấp huyện, tại 223 huyện với 2.800.000 ha đất lúa

Hợp tác quốc tế: 3.1993 tại Hà Nội Chính phủ Việt Nam và Chính phủ West Australia đã ký hiệp định hợp tác Nghiên cứu khả thi hệ thống quản lý đất đai Việt Nam . Theo đó 30 chuyên gia West Australia đã sang Việt Nam và 30 cán bộ Việt Nam đã đến Perth Thủ đô West Australia nghiên cứu, chuyển giao kỹ thuật và xây dựng báo cáo khả thi xây dựng hệ thống quản lý đất đai hiện đại ở Việt Nam.

Một số hình ảnh hoạt động của TCQLĐĐ (1979- 1993) Chi tiết tại https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=1094009007631107&id=100010660532514

7. Quản lý đất đai Việt Nam, Tổng cục Địa chính (1994-2002)

Tổng cục Địa chính được thành lập theo Nghị Định số 12 -CP ngày ngày 22 tháng 2 năm 1994 và Nghị định số 34 ngày ngày 23 tháng 4 năm 1994 của Chính phủ trên cơ sở hợp nhất và tổ chức lại Tổng cục Quản lý ruộng đất và Cục Đo đạc Bản đồ Nhà nước. Khi mới thành lập (1994) lãnh đạo tổng cục có 4 người: TCT Tôn Gia Huyên, các phó Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Sử, Chu Văn Thỉnh và Đặng Hùng Võ (1a,b,c) , Ông Bùi Xuân Sơn , UVTW Đảng được Trung ương điều động về làm TCT thay Ông Tôn Gia Huyên (nghỉ hưu 1966) [2]; sau đó TTCP đã bổ nhiệm PTC Nguyễn Đình Bồng (1998) và Triệu Văn Bé (1999) [3]. Bộ máy ngành Địa chính được thiết lập ở 4 cấp: Cơ quan Trung ương – TCĐC , Sở Địa chính được thành lập tại các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương, Phòng Địa chính được thành lập ở các huyện, thị thuộc tỉnh và cấp xã có Cán bộ Địa chính xã [12]

Tổng cục Địa chính ra đời trong thời kỳ Đổi mới, chính sách pháp luật đất đai được đổi mới phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; Đội ngũ cán bộ kỹ thuật và cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường , nhằm nâng cao năng lực hiệu quả quản lý đất đai đáp ứng yêu cầu chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam thời kỳ 1991-2010.

Thành tựu

Pháp chế: Thể chế hóa Hiến pháp 1992, Luật Đất đai 1993, Luật sửa đổi bổ sung một số Điều Luật Đất đai (1998, 2001). tiếp tục khẳng định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch, pháp luật, Nhà nước giao đất cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng dưới các hình thức: giao đất không thu tiền, giao đất có thu tiền và cho thuê đất, Nhà nước còn cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài và Người Việt nam định cư ở nước ngoài thuê đất . Người sử dụng đất có các quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thùa kế, thế chấp quyền sử dụng đất

Đo đạc, lập bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính: Bản đồ địa chính chính quy đã đo vẽ 6.639.117 ha; Bản đồ theo Chỉ thị 299/TTg 4.104.901 ha; Hệ thống hồ sơ địa chính đã được thiết lập ở 9000 xã, phường, thị trấn.

Đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) : Đến cuối năm 2002 đã có 92,7% số hộ gia đình và tổ chức được cấp GCNQSDĐ với 97,8% tổng diện tích đất nông nghiệp. 515.000 hộ gia đình, cá nhân và 7.358 tổ chức đã được cấp 628.900 GCNQSDĐ với 3.546.500 ha đạt 35% tổng diện tích đất lâm nghiệp; 35% tổng số hộ và khoảng 25% diện tích đất ở tại đô thị đã được câp 946.500 GCNQSDĐ với 14.600 ha

Quy hoạch sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai 1993 đã đi vào nề nếp. Quốc hội khoá IX , kỳ họp thứ 11 đã phê duyệt Kế hoạch sử dụng đất đai cả nước 5 năm giai đoạn 1996 – 2000, Quy hoạch sử dụng đất trở thành trở thành công cụ pháp lý quan trọng để thực hiện giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất (4a,b,c)

Về khoa học và hợp tác quốc tế: trong giai đoạn 1994-2002 :Tổng cục Địa chính đã triển khai19 chương trình dự án trong lĩnh vực đất đai với các nước, tổ chức quốc tế: UNDP, WB, ADB, trong đó có Chương trình hợp tác Việt Nam Thụy Điển về đổi mới hệ thống Địa Chính – CPLAR (1997-2000) “ với mục tiêu nâng cao năng lực của ngành Địa chính Việt Nam trong quản lý và sử dụng đất. Ngành Địa chính Việt Nam đã có bước tiến lớn theo hướng quản lý đất đai chính quy, hiện đại (5-11)

Một số hình ảnh hoạt động của TCQLĐĐ (1994- 2002) Chi tiết tại https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=1098308217201186&id=100010660532514

8. Bộ Tài nguyên và Môi trường Tổng cục Quản lý đất đai (từ 2002 đến nay )

Bộ Tài nguyên và Môi trường được thành lập theo Nghị quyết số 02/2002/QH11 và Nghị Định số 91/2002/NĐ-CP ngày ngày 11 tháng 11 2002 của Chính phủ trên cơ sở hợp nhất Tổng cục Địa chính , tổng cục Khí tượng Thủy văn và các các tổ chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước về về tài nguyên nước (thuộc Bộ NNPTNT), tài nguyên khoáng sản (thuộc Bộ Công nghiệp) và Môi trường (thuộc Bộ KHCNMT) . Ông Mai Ái Trực UVTWĐ được bổ nhiệm làm Bộ trưởng đầu tiên của Bộ này Tổng cục Quản lý đất đai được thành lập theo Nghị Định số 25/2008/NĐ-CP của Chính phủ và Quyết định số 134/2008/QĐ-TTg ngày 2 tháng 10 năm 2008 và Quyết định số 21/2014/QĐ-TTg ngày 13 tháng 3 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Tổng cục Quản lý đất đai trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường. Tổ chức Bộ máy của Ngành quản lý đất đai (2); Lãnh đạo Tổng cục QLDĐ trưc thuộc Bộ TNMT qua các thời kỳ cùng 2 PTCT trẻ mới được bổ nhiệm : Chu An Trường và Đoàn Thanh Mỹ (2020) [3] Đội ngũ can bộ gòm 30.000 người (Trrung ương 756, cấp tỉnh 6000, cấp huyện 12.000, công chức, viên chức; cấp xã 11.250 cán bộ Địa chính xã ).

Thành tựu

Pháp chế: Thể chế hóa Hiến pháp 1992, 2013, Luật Đất đai 2003, Luật Đất đai 2013 . tiếp tục khẳng định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo pháp luật, Nhà nước giao đất cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng dưới các hình thức: giao đất không thu tiền, giao đất có thu tiền và cho thuê đất, Nhà nước còn cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài và Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuê đất. Người sử dụng đất có các quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thùa kế, thế chấp , góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Chính sách pháp luật đất đai tiếp tực đổi mới, hoàn thiện phù hợp với thể chế kinh tế thị trường trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới đã phát huy nguồn lực đất đai đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước. Quản lý đất đai ở Việt Nam đã phát triển đồng bộ cả về 4 công cụ: pháp lý, quy hoạch, kinh tế, hành chính với phương châm công khai, minh bạch. thông thoáng và tuân thủ pháp luật

Công tác điều tra cơ bản về đất đai: trong giai đoạn từ 2008-2018 đã được đẩy mạnh với các dự án điều tra đánh giá tài nguyên đất, môi trường đất, thoái hóa đất ở các vùng tự nhiên và các vùng trọng điểm kinh tế trên địa bàn cả nước. Việc kiểm kê đất đai (5 năm), thống kê đất đai (hàng năm) và kiểm kê chất lượng đất đai định kỳ đã đi vào nề nếp đáp ứng yêu cầu quản lý sử dụng bền vững tài nguyên đất đai, ứng phó với biến đổi khí hậu

Quy hoạch sử dụng đất: Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 – 2015) cấp quốc gia được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết số 17/2011/QH13 ngày 22 tháng 11 năm 2011 và được điều chỉnh tại Nghị quyết số 134/2016/QH13 ngày 09 tháng 04 năm 2016 của Quốc hội khóa XIII. Trên cơ sở đó, Chính phủ đã tổ chức xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đồng thời phê duyệt điều chỉnh cho 58/63 tỉnh thành phố, trực thuộc Trung ương.

Đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) : Đến 31/12/2016 cả nước đã đo đạc lập bản đồ địa chính 25. triệu ha cho các loại tỷ lệ từ 1/200 đến 1/10.00,. đạt trên 76% tổng diện tích tự nhiên và đã cơ bản hoàn thành mục tiêu cấp giấy chứng nhận (GCN) theo Nghị quyết số 30/2012/QH13 ngày 21 tháng 6 năm 2012 của Quốc hội, tỷ lệ cấp GCN đạt trên 95,2% tổng diện tích các loại đất cần cấp (42 triệu GCN, với 23.triệu ha.),

Về khoa học và hợp tác quốc tế: trong giai đoạn từ 2002 đến nay, Bộ tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Quản lý Đất đai đã triển khai nhiều chương trình dự án trong lĩnh vực đất đai với các nước, tổ chức quốc tế: UNDP, WB, ADB, trong đó có Chương trình hợp tác Việt Nam Thụy Điển về tăng cường năng lực quản lý đất đai và môi trường (SEMLA- 2004-2009), Dự án hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống quản lý đất đai ở Việt Nam VLAP- giai đoạn 1 (2010-2015)

Một số hình ảnh hoạt động của TCQLĐĐ (2002-2020) Chi tiết tại https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=1102988610066480&id=100010660532514

9. Đào tạo can bộ Quản lý đất đai

Thời kỳ 1955-1979: Khi ngành Quản lý đất đai là đơn vị cấp vụ thuộc Bộ Tài Chính, sau là Bộ Nông nghiệp: hệ thống quản lý ruộng đất ở nước ta chưa hoàn chỉnh: Trung ương là cấp Vụ, Tỉnh là cấp Phòng thuộc sở Nông nghiệp, Huyện là bộ phận trong phòng Nông nghiệp; xã có Cán bộ địa chính (trước đó gọi là Chưởng Bạ). Ví dụ tỉnh Yên Bái khi đó , cả tỉnh có 1 kỹ sư Thổ nhưỡng, cán bộ phòng và bộ phận cấp huyện là cán bộ Trung cấp (Trường Bỉm Sơn, Thanh Hóa) .

Thời kỳ 1979-1994: Tổng cục quản lý ruộng đất. Khi đó lãnh đạo và chuyên viên Vụ bản đồ là các Kỹ sư tốt nghiệp ở Liên Xô, Bungari. Ở cấp tỉnh và huyện là các cán bộ tốt nghiệp từ Đại học Nông nghiệp I Hà Nội và trung cấp Bỉm Sơn Thanh Hóa (miền Bắc ); Nông lâm thủ Đức Thành phố Hồ Chí Minh, Nông nghiệp Cần Thơ; Trung cấp Long Thành Đồng Nai (Miền Nam), cấp xã cán bộ địa chính: trung cấp (Bỉm Sơn, Long Thành)

Thời kỳ 1994-2002: Tổng cục Địa chính được thành lập. Lúc này lãnh đạo Tổng cục phần lớn có học vị Tiến Sỹ , một số được đào tạo trong nước, một số đào tạo ở Nga, Ba Lan, Bungari , Ở cấp tỉnh, cấp huyện cán bộ có trình độ Cử nhân, Kỹ sư, Thạc sỹ, được đào tạo ở các trường trong nước. Thời kỳ nầy nhiều trường mở Khoa Địa chính hoặc Quản lý đất đai: (Đào tạo Đại học, Sau đại hoc) Nông nghiệp Hà Nội, Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Nông nghiệp Cần Thơ; Khoa học tự nhiên, Kinh tế quốc dân , Mỏ Địa chất
Thời kỳ 2002 đến nay: Từ khi Bộ Tài nguyên và Môi trường được thành lập, nhiều trường mở Khoa Quản lý đất đai, hoặc Tài nguyên Môi trường (Đào tạo Đại học, Sau đại hoc) Nông nghiệp Hà Nội, Khoa học tự nhiên, Kinh tế quốc dân, Nông Lâm Thái Nguyên , Nông Lâm Bắc Giang, Lâm nghiệp, Nông Lâm Huế, Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Nông nghiệp Cần Thơ; sau đó là Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh …Một số trường Đại học Kiến trúc Hà Nội và Đại học Kiến trúc TP Hồ Chí Minh cũng đưa môn học Quản lý Đất đai và bất động sản vào Khoa Quản lý đô thị. Thời kỳ này các trường đã thống nhất xây dựng chương trình, kế hoạch đào tào cán bộ chuyên ngành quản lý đất đai. Số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý đất đai đã có bước phát triển lớn: Ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện trình độ Thạc sỹ phổ cập, một số có trình độ Tiến sỹ, ở cấp xã phường trình độ Cử nhân, Kỹ sư , một số có trình độ Thạc sỹ. Công tác đào tạo cán bộ không ngừng phát triển đã đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Quản lý Đất đaitrong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH.

Có thể thấy rõ điều này từ kết quả đào tạo cán bộ của Khoa Quản lý Đất đai Học viện Nông nghiệp Việt Nam (1976-2016) như sau: Đào tạo Đại học (1982-1991- Khóa 22-31): Quản lý Đất đai: 269,Thổ nhưỡng – Nông hóa : 199; (1992-2001-Khóa 32-41) Quản lý Đất đai: 866, Thổ nhưỡng – Nông hóa: 156; ( 2002-2011- Khóa 42-51): Quản lý Đất đai 1463, Thổ nhưỡng – Nông hóa 256; (2012-2016 – Khóa 52-57) Quản lý đất đai : 2448, Khoa học đất: 464. Đào tạo Thạc sỹ (1976-2016) Quản lý Đất đai: 2.132 ; Khoa học Đất: 250. Đào tạo Tiến sỹ (1976-2016) Quản lý Đất đai: 35 , Khoa học Đất: 36
GSTS NGND Lê Duy Thước người đặt nền móng thành lập Khoa quản lý ruộng đất , đại học Nông nghiệp I (1976). Ban chủ nhiệm khoa quản lý ruộng đất khóa đầu (1976-1988): GSTS NGUT Cao Liêm (Trưởng khoa); PGSTS NGUT Nguyễn Thanh Tùng, GVC; TS NGUT Nguyễn Đường, PGSTS NGUT Phan Xuân Vận (Phó trưởng khoa) (ảnh 1,2). Nhiều Nhà Khoa học Đất đã có những đóng góp lớn cho sự nghiệp đào tạo cán bộ Quản lý Đất đai, đặc biệt các bậc tiền bối có mặt từ khi thành lập Đại học Nông Lâm (1956-1958): Thầy Phạm Gia Tu (tham tá canh nông thời Pháp), Nguyễn Văn Chiển, Cao Liêm (Địa chất); Lê Văn Căn (Nông hóa); Trần Khải (Vi sinh vật đất). Thời kỳ Học viện Nông Lâm (1959-1963) là các thầy: Vũ Ngọc Tuyên, Ngô Nhật Tiến Nguyễn Văn Thọ (từ Viện Khảo cứu trồng trọt về ), các thầy Trần Khải và Nguyễn Mười từ Trung Quốc về, Thầy Đỗ Ánh, Nguyễn Vi từ Liên Xô về cùng các thầy Võ Minh Kha, Nguyễn Thanh Trung (Khóa 1) , Hà Huy Khuê (Khóa 4) . Thời kỳ Đại học Nông nghiệp (1963-1967) có thêm các thầy: Đặng Đình Mỹ, Trương Công Tín, Nguyễn Đường, Vũ Hữu Yêm, Phan Thị Lãng, Nguyễn Phương Diệp…(ảnh 3,4) [Nguồn: Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Khoa Quản lý Đất đai, Kỷ yếu 40 năm xây dựng và phát triển]

Một sô hình ảnh về đào tạo cán bộ Quản lý Đất đai của các trường (5-18) Chi tiết tại https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=1108398939525447&id=100010660532514

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
Mùa xuân đầu tiên (Văn Cao) -Thanh Thúy
Ban Mai; Chỉ tình yêu ở lại
Ngày hạnh phúc của em
Giúp bà con cải thiện mùa vụ
Kỷ yếu Khoa Nông Học 65 năm thành lập Khoa
Kỷ yếu 65 năm Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 65 năm Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Andersen truyện cổ Đan Mạch


ANDERSEN TRUYỆN CỔ ĐAN MẠCH
Hoàng Kim


Hans Christian Andersen, sinh ngày 2 tháng 4 năm 1805 mất ngày 4 tháng 8 năm 1875 là nhà văn Đan Mạch viết truyện thiếu nhi nổi tiếng bậc nhất hành tinh; Tác phẩm của H.C. Andersen được dịch ra 90 thứ tiếng, xuất bản gần 500 lần với hơn 70 triệu bản. Đó là những cuốn sách bán chạy nhất thế giới. “Bằng sức mạnh của ngôn từ hiếm có, trí tưởng tượng nhiệm màu mà trong sáng, cốt truyện hấp dẫn, lối kể chuyện có duyên, pha lẫn giữa bút pháp hiện thực và huyền ảo, tác phẩm của Anđécxen đã đạt đến sự hoàn hảo của một nghệ sĩ “độc nhất vô nhị, trước và sau ông chưa hề có”.

Andersen sinh ra và lớn lên ở Odense là thành phố lớn thứ ba của Đan Mạch. Nước Đan Mạch ngày nay là một nước quân chủ lập hiến với thể chế đại nghị ở Bắc Âu. Nước Đan Mạch có diện tích 42.931 km² bằng 13% diện tích của Việt Nam. Dân số Đan Mạch năm 2017 ước khoảng 5.748.769 người. Ngôn ngữ chính thức là tiếng Đan Mạch. Tôn giáo là: Giáo hội Đan Mạch (Kháng Cách 67.4%, Chính thống giáo 2.0%) Công giáo Roma 1.3%, Các nhánh Kitô giáo khác 7.5%). Đan Mạch có GDP bình quân đầu người cao hơn 5-10 lần so với Việt Nam. Đan Mạch là nước đạt nhiều giải Nobel, giải văn chương, giải kiến trúc, giải ẩm thực, giải thể thao danh tiếng quốc tế. Trong đó, Hans Christian Andersen (1805 – 1875) là một trong số những danh nhân văn chương được xem là vua truyện cổ tích của trẻ em khắp toàn thế giới. Ông trở thành một trong những giấy thông hành tuyệt vời nhất của đất nước Đan Mạch làm bạn với toàn cầu. Ông đã là người kể truyện cổ tích Đan Mạch quen thuộc của Việt Nam. .

Odense – Thành phố của Hans Christian Andersen

Thành phố Odense có tên gọi phái sinh từ Odin, tên một vị thần trong thần thoại Bắc Âu. Odense là thành phố chính của đảo Fyn là hòn đảo lớn thứ ba của Đan Mạch sau đảo Zealand và Đảo Nørrejysk, Thành phố Odense hiện tại có trên 160.000 dân trong khi toàn đảo Fyn có dân số khoảng 445.000 người. Nhà văn nổi tiếng thế giới Hans Christian Andersen sinh tại Odense ngày 2.4.1805. Một ngôi nhà ở cổ thành đã được dùng làm nhà bảo tàng với bộ sưu tập lớn các tác phẩm cùng các vật dụng của Andersen . Cả ngôi nhà mà ông ta sinh sống thuở thiếu thời cũng trở thành nhà bảo tàng.

Andersen năm 1816, sau khi cha của ông qua đời, ông đã phải tự đi kiếm sống, đã làm thợ học dệt vải và thợ may, sau đó thì vào làm công nhân trong nhà máy thuốc lá. Năm 14 tuổi, Andersen chuyển tới Copenhagen là thủ đô cũng là thành phố lớn nhất Đan Mạch Ông tìm việc làm diễn viên trong các nhà hát. Sau đó, chuyển hẳn sang viết văn.

Odense thành phố quê hương ông sinh thành và lớn lên lúc tuổi thơ, với Copenhagen thủ đô Đan Mạch là nơi bảo tồn và phát triển di sản của ông.

Andersen mất trong ngôi nhà mang tên “Rolighed” (Sự Yên Tĩnh) gần Copenhagen của vợ chồng người bạn thân Moritz Melchior, chủ một ngân hàng. Ngay trước khi qua đời, ông đã nhờ một nhà soạn nhạc viết bài hành khúc đưa tang cho đám tang của mình, và nói: “Phần lớn những người đi sau quan tài của tôi sẽ là các em thiếu nhi, vì vậy hãy dùng nhịp điệu với những bước nhỏ”. Andersen được mai táng trong Nghĩa trang Assistens ở quận “Nørrebro” của Copenhagen. Vào thời điểm từ trần, Andersen đã nổi tiếng ở Đan Mạch và khắp thế giới. Ngay trước khi ông qua đời, đã tiến hành các bước đầu trong việc dựng một bức tượng lớn để vinh danh ông do nhà điêu khắc August Saabye thực hiện. Bức tượng này ngày nay được đặt trong “Vườn của Nhà Vua” (Kongens Have) ở Copenhagen. (Wikipedia Tiếng Việt, mục từ Hans Christian Andersen)

Andersen cuộc đời tác phẩm

Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đã giới thiệu Andersen H.C. như sau http://bachkhoatoanthu.vass.gov.vn/noidung/tudien/Lists/GiaiNghia/View_Detail.aspx?ItemID=26836

Hans Christian Andersen; 1805 – 75), nhà văn Đan Mạch. Sinh trong một gia đình nghèo, cha là thợ giày. Ham thích văn thơ từ nhỏ nhưng được học rất ít. Năm 1819, bỏ quê hương tới Côpenhaghen, ước mơ trở thành nhà thơ. Năm 1822, nhờ Côlin (J. Collin) (giám đốc một nhà hát) giúp đỡ, Anđecxen được đi học thêm, đỗ tú tài rồi vào đại học (1828). Với tập thơ “Đứa trẻ hấp hối” (1827) và nhất là tập thơ văn xuôi “Cuộc hành trình đi bộ từ kênh Hônmen đến mỏm phía đông của Amagiê” (1829), tên tuổi Anđecxen bắt đầu được biết đến. Từ 1830, đi du lịch Đức, Thuỵ Sĩ, Pháp, Italia…, cho in thêm một số tập thơ và cuốn tiểu thuyết đầu tiên “Người ứng tác” (1835) được dư luận đánh giá là kiệt tác. Năm 1835, tại Italia, bắt đầu sáng tác một số truyện kể lấy nhan đề “Chuyện kể cho trẻ em”. Từ đó, hầu như mỗi năm Anđecxen cho ra một tập truyện. Tổng số 168 truyện. Rất nhiều truyện trở thành quen thuộc với bạn đọc đủ mọi lứa tuổi khắp năm châu, như “Nàng công chúa và hạt đậu”, “Nàng tiên cá”, “Bộ quần áo mới của hoàng đế”, “Bầy thiên nga”, “Cô bé bán diêm”, vv. Truyện của Anđecxen nhẹ nhàng, tươi mát, toát lên lòng yêu thương con người, nhất là những người nghèo khổ và niềm tin vào sự thắng lợi cuối cùng của cái thiện, cái mĩ trên thế gian. Anđecxen còn viết tiểu thuyết: “Hai bà nam tước” (1848), “Pie may mắn” (1870)…; một số tác phẩm du kí (“Tây Ban Nha”, 1853; “Thăm Bồ Đào Nha”, 1866) và tự truyện “Chuyện đời tôi” (1855).

Andersen lời vàng văn chương

Andersen có lối văn chương giản dị, trong sáng và hấp dẫn, dưới đây là một số trích đoạn trong một số tác phẩm

Nàng tiên cá

Chúng ta có thể sống tới ba trăm năm, nhưng khi lìa đời chúng ta sẽ biến thành bọt sóng và không có mồ mả để được chôn cất giữa những người thân yêu. Linh hồn chúng ta không tồn tại được lâu nên ta không thể hoá thành kiếp khác được, cũng ví như cây rong bể đã cắt rồi là hết xanh tươi. Loài người, trái lại, có một linh hồn bất tử, ngay cả khi thân thể đã nằm im trong nấm mồ, linh hồn họ lúc ấy bay lên không trung. Cũng như chúng ta bơi trên mặt nước để nhìn thấy đất liền, linh hồn họ bay lên những miền mà chúng ta không thể thấy được.

  • Nàng tiên cá.

Đôi mắt trống rỗng của thần Chết chằm chằm nhìn Hoàng đế. Yên lặng hãi hùng. Ngay lúc đó, bên song cửa nổi lên tiếng hát tuyệt vời. Chim hoạ mi bé nhỏ đã từ rừng xanh về đậu trên cành cây ngoài vườn. Chim được tin hoàng đế ốm nặng nên đã về đây, mang đến cho nhà vua một tia hy vọng với tiếng hót của nó. Tiếng hót càng vang lên, bóng ma tan dần, máu lại chảy đều trong mạch ốm yếu của nhà vua. Thần Chết cũng phải vểnh tai nghe và bảo hoạ mi rằng: “Cứ hót đi. Hoạ mi bé nhỏ. Cứ hót đi!”.

Ta không thể cho cô ấy một quyền lực nào lớn hơn cái quyền lực mà cô ấy đã có sẵn. Nai không thấy cô ta đã làm được những gì ư? Nai không thấy rằng nhiều người và nhiều súc vật đã phải làm theo ý cô ta sao? Nai không thấy cô ta đã đi rất nhiều nơi, mà chỉ đi bộ thôi ư? Chúng ta chẳng cần phải giúp cô ta cái sức mạnh mà cô ta đã có sẵn trong trái tim, trong tấm lòng trung hậu và trong trắng của cô ta. Nếu cô ta không tự mình đến nơi ở của bà Chúa Tuyết để lấy những mảnh gương quỷ trong mắt và trái tim của Kay ra thì chẳng có ai làm được việc ấy.

  • Nữ chúa tuyết, truyện thứ sáu: Bà lão xứ Lapôni và bà lão xứ Phần Lan.

Chú cảm thấy chì bắt đầu chảy, nhưng không vì thế mà chú buông tay súng. Bỗng nhiên, một cơn gió thổi tung cánh cửa và cuốn theo nàng vũ nữ, đưa nàng bay trong không gian như một tiên nữ và rơi vào lò sưởi ngay cạnh chú lính chì. Nàng bắt lửa và tiêu tan, chàng tiếp tục chảy đế giọt chì cuối cùng. Hôm sau, chị giúp việc tỏng nhà tìm thấy di hài của chú trong đám tro tàn, kết lại thành một trái tim xinh xắn.

Ta đến đây cốt để nói cho công chúa biết là ta rất khinh công chúa. Công chúa không muốn yêu một hoàng tử thật thà phúc hậu, công chúa không hiểu giá trị của bông hồng lẫn chim họa mi, nhưng vì một vật nhỏ mọn mà công chúa hôn một tên chăn lợn! Cho đáng kiếp!

Shakespeare là người mà Andersen truyện cổ Đan Mạch thần tượng và noi gương tốt. Vì sao Andersen nhà nghèo, khởi nghiệp vất vả, trong một đất nước Đan Mạch chỉ có dân số bằng HCMC và đất đai chỉ bằng 13% diện tích nước Việt Nam, ngôn ngữ nói bằng tiếng Đan Mạch, mà tác phẩm và cuộc đời ông lan tỏa truyền cảm hứng và được dịch ra trên 90 thứ tiếng, khắp toàn thế giới ? Bởi vì ông đã luôn kể Chuyện viết cho trẻ em cũng là Chuyện cổ tích người lớn, tiếng nói yêu thương trân trọng con người. Xin được chép lại tích hợp trong bài viết https://hoangkimlong.wordpress.com/2021/04/02/tro-ve-noi-diem-hen/

Andersen chuyện cổ tích người lớn

Nhà văn Nga Konstantin Georgiyevich Paustovsky nhận định: ” Trong mỗi truyện cổ tích cho trẻ con của Anđécxen còn có một truyện cổ tích khác mà người lớn mới có thể hiểu hết ý nghĩa của nó”.. Andersen từ một con người nghèo khổ của đất nước Đan Mạch ( có diện tích bằng 13% diện tích của Việt Nam, và dân số ít hơn dân số thành phố Hồ Chí Minh Việt Nam), đã góp phần đưa đất nước Đan Mạch tự hào đến với thế giới rộng lớn. Di sản của ông để lại thật đáng ngưỡng mộ. Ông được sánh ngang với những bậc danh nhân văn hóa của nhân loại. Tác phẩm của ông được dịch ra 90 thứ tiếng, xuất bản gần 500 lần với hơn 70 triệu bản. Đó là những cuốn sách bán chạy nhất hành tinh. Giải Hans Christian Andersen do “Ban Quốc tế về Sách cho giới trẻ” thiết lập, được trao 2 năm một lần cho tác giả và họa sĩ minh họa của các tác phẩm văn học thiếu nhi xuất sắc. Giải Văn học Hans Christian Andersen, một giải thưởng dành cho các nhà văn quốc tế,được thành lập từ năm 2010, Những truyện của Andersen đã đặt nền tảng cho các truyện thiếu nhi kinh điển khác (ở Việt Nam có Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của giáo sư Nguyễn Đổng Chi và những truyện ngắn hay của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp hẵn có ảnh hưởng và giao thoa với Truyện cổ Andersen. Ngày 2 tháng 4 hàng năm, ngày sinh của Andersen, là Ngày Sách Thiếu nhi Quốc tế; Ngày 2 tháng 4 năm 2005 là ngày kỷ niệm 200 năm ngày sinh của Andersen – được Đan Mạch gọi là “Năm Andersen” và được nhiều nước trên thế giới tưởng niệm. Ở Đan Mạch, một show “Một lần trong cuộc đời” (Once in a lifetime) được tổ chức tại Sân vận động Parken của Copenhagen để tưởng niệm nhà văn Andersen và các tác phẩm của ông Kỹ thuật chế tạo vật bất động trở thành sống động sau này đã được sử dụng.rộng rãi. Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ và nhiều nơi trên thế giới đã có những cách riêng để bảo tồn phát triển và lan tỏa di sản Andersen.

Đọc Truyện cổ Andersen càng thấm thía sâu sắc hơn DI NGÔN CẢNH BÁO TINH HOA rất quan trọng và sâu sắc nhất của Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp gửi lại cho đời. :. “Nhà văn là người biết sống trung dung, phong lưu, tri túc, “cầm kỳ thi họa đủ mùi ca ngâm”. Không dễ gì tổ chức được một cuộc đời như thế. Rất khó, khó nhất không phải chỉ là tiền bạc, cũng khó nhất không phải chỉ là tri thức, mà khó nhất lại là đạo đức! Các cụ ngày xưa nói “có đức mặc sức mà ăn” là vô cùng sâu sắc, vô cùng tế nhị. Ngày xưa có đạo hơn, con người sống giản dị nên ít bệnh. Bây giờ đuổi theo vật chất, vô đạo. Tôi là một trong những ca điển hình. Mình phải trả giá. Ngày xưa sống thanh đạm, gần đạo hơn, nét mặt vô tâm thư giãn chứ không cố ý thư giãn.

Andersen đọc trực tuyến
https://openlibrary.org/authors/OL25931A/Hans_Christian_Andersen

Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích

Nhạc Trịnh Công Sơn
Giúp bà con cải thiện mùa vụ
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter