Nguyên Ngọc về Tây Nguyên


Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là nguyen-ngoc-nhung-trang-van-am-anh.jpg

NGUYÊN NGỌC VỀ TÂY NGUYÊN
Hoàng Kim

Nguyên Ngọc về Tây Nguyên
Với :’Đất nước đứng lên”
‘Tản mạn nhớ và quên’
‘Bạn bè tôi ở đó’

‘Rừng Xà Nu’, ‘Đất Quảng’
‘Đường chúng ta đi’ hoài
‘Lắng nghe cuộc sống’ gọi
Cụ làm ngọc cho đời.

‘Đồng Bằng’ ngày nắng hạ
Chuyển mùa ngắm mưa rơi
Cuối dòng sông là biển
Cây đời mãi xanh tươi

Nguyên Ngọc có nhiều tác phẩm viết về đất nước Việt Nam và Tây Nguyên phổ biến hơn cả tại các trích dẫn trong bài thơ “Nguyên Ngọc về Tây Nguyên” ở trên là nhưng ấn tượng nhất và sâu sắc nhất trong tôi là Phát triển bền vững ở Tây Nguyên; Nước mội, rừng xanh và sự sống và gần đây nhất là Đồng Bằng. Cụ Nguyên Ngọc đã qua tuổi 88 nhưng sao sức viết vẫn hấp dẫn và đầy đặn đến vậy. Văn là Người. Cụ là nhà văn chiến sĩ dấn thân suốt đời không mệt mỏi, có những trang văn thắp lửa, dữ dội và minh triết dường như chính lời khen của cụ đối với Nguyễn Khải rằng “Nguyễn Khải nhà văn tài năng nhất của thế hệ chúng tôi” (dẫn trong Ngọc cho đời).. Cụ là người thật đáng tôn kính bất luận khen hay chê, .

*

ĐỒNG BẰNG (2)
Nguyên Ngọc

Trường Sơn có những ngọn núi vòi vọi. Có hôm leo lên một đỉnh thật cao, chúng tôi đứng lặng nhìn về hướng Đông và thấy đồng bằng. Một dải đồng bằng mờ ảo, như trong mơ. Những đụn cát dài tít tắp, trắng mờ. Rồi biển, không cùng, xanh như thực như hư… Đồng bằng đấy!

Và chúng tôi khóc.

Mỗi một chút dấu hiệu nhỏ của đồng bằng cũng khiến chúng tôi háo hức, quý hơn vàng. Ngày ấy trên cả vùng căn cứ rừng núi Tây Quảng Nam – Quảng Ngãi chúng tôi, có một người phụ nữ đồng bằng duy nhất, chị trốn chính quyền miền Nam ở địa phương, lên được tới căn cứ, làm người “phục vụ”, nấu ăn ở cơ quan tỉnh Quảng Nam. Cho phép tôi không nói tên thật của chị. Ngày ấy hình như đâu đã quãng xấp xỉ 30. Không đẹp, nhưng gọn ghẽ, nở nang. Theo chỗ tôi được biết, ít ra cũng có đến hàng trăm người yêu chị. Người kín đáo, kẻ vồ vập, cũng không ít anh chàng sỗ sàng. Thú thật chính tôi, tôi cũng có ghé qua chỗ chị mấy lần, để được thèm khát nhìn ngắm một dáng con gái đồng bằng, thèm khát nghe một giọng nói đàn bà đồng bằng. Chị sinh hai cháu, đều không biết bố là ai. Tất cả chúng tôi đều nâng niu hai cháu, dành cho hai cháu tất cả những gì chúng tôi có thể có được, và đều giữ nguyên lòng quý trọng đối với chị. Sau này chị… tự vẫn, hình như vì một chuyện tình duyên oái ăm nào đấy và vì cái lối phê bình kiểm điểm thô bạo của một viên cán bộ phụ trách. – Tao sẽ bắn chết thằng ấy! – Một người lính nói với tôi khi nghe cái tin đau đớn ấy.

Xa hơn về phía Nam, trên khu căn cứ tỉnh Gia Lai bấy giờ cũng có một người phụ nữ đồng bằng duy nhất như vậy, tên là Yên. Chị nổi tiếng cho đến nỗi về sau trên các bản đồ quân sự của cơ quan tham mưu ta, cả trên một tấm bản đồ quân sự của Mỹ tôi có lần bắt được, đều có ghi rõ địa danh “Dốc bà Yên”, đúng cái tọa độ nơi có cái lán tăng gia sản xuất của chị một thời…

Nỗi khát khao đồng bằng của chúng tôi ngày đó da diết là vậy.

…Tôi làm rẫy ven sông Nước Là, một nguồn nhỏ của sông Thu Bồn, được mấy tháng, thì Khu 5 bắt đầu “mở” đồng bằng. Chúng tôi vứt tất cả, lao xuống ngay.

Cái xóm đồng bằng đầu tiên ở Khu 5 được giải phóng là xóm Tứ Mỹ, thuộc xã Kỳ Sanh, huyện Tam Kỳ. Thực ra chỉ là một rẻo thung lũng bé tí tẹo, mươi nóc nhà, bán sơn địa, sơn nhiều hơn địa, một chút xíu đồng bằng đầu tiên len vào chân núi Trường Sơn. Nhưng đã có ruộng lúa nước, có cày trâu, có người Kinh, có dân, một nhúm đúng 28 người. Thế là đồng bằng rồi. Quý hơn tất cả mọi thứ trên đời. Chúng tôi say sưa gọi nào “bài học Tứ Mỹ”, “kinh nghiệm Tứ Mỹ”, “tổng kết Tứ Mỹ”, nào “ngọn cờ Tứ Mỹ”… Tận ngoài Trị Thiên cũng cử đoàn cán bộ vào học.

Phan Tứ vào trước tôi mấy tháng nhạy bén bám ngay Tứ Mỹ, anh làm một cái chòi nhỏ trụ ngay trên sườn dốc giữa cái thôn nửa núi ấy, bà con gọi anh là Ông Bốn Gương, anh cận thị nặng đeo kính dày cộp (ngày ấy các “nhà văn” miền Nam tập kết ra Bắc phải được đích danh một đơn vị nào đó từ chiến trường điện ra xin mới được cho đi Nam. Phan Tứ được tỉnh ủy Quảng Nam xin và về thẳng Quảng Nam). Tôi vừa phát xong phần rẫy của mình để làm nhiệm vụ “tồn tại”, cũng liền lao xuống Tứ Mỹ, cùng anh Nguyễn Văn Bổng. Anh Bổng được Trung ương cục gọi vào Nam Bộ, trên đường đi anh xin phép ghé lại thăm Khu 5 một chút. Khi hai chúng tôi đến chỗ Phan Tứ thì từ Tứ Mỹ ta đã nống thêm ra được một thôn rưỡi thật sự là đồng bằng, thôn 7 và một nửa thôn 8 của xã Kỳ Sanh. Tuy nhiên giữa thôn 7 vẫn còn một cái đồn, gọi là cao điểm 65, bị du kích vây chặt. Chúng tôi có thể đi lại trên cánh đồng ban ngày nhưng phải cải trang, ăn mặc nông dân, đội nón lá, vác thêm cây cuốc. Phan Tứ thì quen gánh một đôi bầu, tức một loại thúng ở vùng Quảng Nam, đan băng tre cật, trát dầu rái và có nắp đậy, thường là của dân đi buôn xa. Hôm đón anh Nguyễn Văn Bổng và tôi xuống, Phan Tứ gánh về đôi bầu ấy, chúng tôi lục ra: một túi đậu xanh, mấy bát đường đen quấn rơm, và hai cái chai, một chai dầu lửa một chai rượu. Tối, Phan Tứ đãi chúng tôi một bữa chè đậu xanh, ngon tuyệt. Và đương nhiên phải có rượu. Đèn đuốc lèm nhèm, Tứ lại cận thị nặng, anh rót cho anh Bổng một chén dầu lửa, anh Bổng lỡ nuốt luôn một ngụm. Tôi bảo không sao đâu, anh nhớ không, ở quê mình người ta vẫn uống dầu lửa chữa đau bụng mà!…

Hai chúng tôi ở Tứ Mỹ, Kỳ Sanh được mươi hôm, ngày có thể vào làng sống với dân, nhưng đêm phòng bọn cao điểm 65 có thể bất ngờ tập kích, chúng tôi thường cùng đám du kích vài chục cô cậu đều trẻ măng kéo lên treo võng ngủ trong một khu rừng mít phía Tây thôn 7. Nào đâu có ngủ được, con trai con gái treo võng nằm lẫn lộn, rì rầm nói chuyện suốt đêm. Anh Bổng bảo: Chà, cách mạng miền Nam lãng mạn gớm he! Tôi nhớ trong đám nữ du kích có một cô có lẽ nhỏ tuổi nhất, năm ấy chắc chừng 15, 16, khá xinh, gọn ghẽ săn chắc, cái săn chắc của con gái quê xứ Quảng vùng bán sơn địa, lại đang tuổi dậy thì, tôi chỉ biết tên là Cô Út…

Sau Tứ Mỹ – Kỳ Sanh, anh Bổng trở lên “đường dây”, tức đường giao liên Bắc-Nam, đi thẳng vào Nam Bộ. Tôi chuyển ra vùng Phước Tiên, Phước Lãnh là hai xã thuộc huyện Tiên Phước mới được mở ra thêm, rồi cùng tiểu đoàn 70 của Quảng Nam tham gia chiến dịch vượt sông Tiên đánh xuống giải phóng ba xã Phước Sơn, Phước Cẩm, Phước Hà, thường được gọi tắt là vùng Sơn-Cẩm-Hà, vốn là một căn cứ nổi tiếng từ thời Cần Vương. Sau đó, tôi đi ra vùng Bắc Quảng Nam, chỉ có dịp trở lại Tứ Mỹ một lần, rất thoáng qua. Phan Tứ thì trụ riết ở Tứ Mỹ, Kỳ Sanh. Anh “lót ổ” ở đấy, mãi sau này mới biết theo nhiều nghĩa. Chính ở đấy anh viết tập truyện ngắn Về làng và tiểu thuyết Gia đình má Bảy.

Tứ quê gốc Quảng Nam nhưng lại sinh và học tiểu học ở Quy Nhơn, vì cụ Lê Ấm bố anh, con rể cụ Phan Châu Trinh, dạy toán ở Collège Quy Nhơn; nghe nói khi học Collège Quy Nhơn Chế Lan Viên vốn kém toán nên rất sợ thầy Lê Ấm, tuy vậy khi viết Điêu tàn năm 17 tuổi anh học trò sớm tài hoa ấy vẫn rụt rè mang lên tặng ông thầy toán nghiêm khắc của mình môt bản!… Sau Cách mạng tháng Tám Phan Tứ mới về Quảng, cùng tôi đi học trường trung học kháng chiến ở Cẩrm Khê, rồi cùng vào trường Lê Khiết ở Quảng Ngãi thi diplôme. Năm ấy học trò Quảng Nam đi thi diplôme ở Lê Khiết chỉ có ba anh đỗ, Phan Tứ đỗ đầu, tôi thứ ba, Nguyễn Lương Ý đỗ thấp hơn. Nguyễn Lương Ý là một “nhân vật” của Quảng Nam, nghe nói sau đó anh cùng em ruột Nguyễn Lương Y vào hoạt động ở Sài Gòn và đều bị chính quyền Ngô Đình Diệm sát hại. Thật ra còn một nhân vật Quảng Nam thứ ba nữa, cũng là bạn thân của tôi và Phan Tứ: Khương Thế Xương, con trai đầu của cụ Khương Hữu Dụng, quê Hội An. Hai chúng tôi cùng học với nhau từ lớp Đồng ấu – tức lớp một bây giờ – cho đến nửa năm thứ hai trung học. Khi chiến tranh bùng nổ, gia đình cụ Dụng tản cư, cất một cái quán cà phê trên đỉnh Đèo Le, rất thơ mộng, lại thêm mấy cô con gái đang lớn nên quán càng nổi tiếng; sau cụ chuyển vào Sông Vệ, Quảng Ngãi, một thị trấn tản cư khá đông đúc, nơi có trường Lê Khiết. Chúng tôi lại gặp nhau, ba chàng trai xứ Quảng. Tôi vẫn là anh chàng lơ mơ, học giỏi cả toán (với thầy Hoàng Tụy) cả văn, nhưng hầu như chưa biết quan tâm gì chính trị, lại đang bắt đầu một mối tình vừa sâu sắc và đẹp nhất đời vừa rồi chẳng đến đâu cả. Tứ và Xương “giác ngộ” xã hội và chính trị sớm hơn tôi, nhưng là “giác ngộ” mỗi anh một khác. Ở Xương mọi sự đều tự nhiên hơn, anh thông minh, tài hoa, đồng thời sớm chín chắn. Gia đình cụ Dụng là một gia đình rất gia giáo và gia trưởng. Trong nhà Xương là anh cả, đàn em đông đúc răm rắp. Nhưng Xương chín chắn mà nhẹ nhàng, hồn nhiên. Một hôm Xương đưa cho tôi bài thơ dài, một bản trường ca bằng tiếng Pháp La fosse commune (Hố chôn chung) của một nhà thơ cộng sản Nam Tư tôi không còn nhớ tên, viết về tội ác của phát-xít Đức trên đất Nam Tư hồi thế chiến II, không biết ai đưa cho Xương, có thể là anh Việt Phương bấy giờ đã là thư ký riêng của ông Phạm Văn Đồng được Trung ương phái vào phụ trách toàn miền Nam. Đấy là tác phẩm cộng sản đầu tiên tôi được đọc. Bài thơ thật hay, tôi thậm chí thuộc lòng từng đoạn dài, nhưng hình như về mặt chính trị nó chưa tác động vào tôi nhiều, tôi thích thơ hay là chính. Xương cũng đỗ diplôme năm ấy nhưng thứ hạng không cao, tôi có cảm giác anh chẳng cần. Nhớ đêm trước hôm thi, Xương rủ tôi về nhà, hai anh em lụi cụi đi rang cà phê, rồi xay, rồi pha, rồi khề khà nhấm nháp, quyết thức cả đêm nay để ôn bài. Nhưng khi pha xong, uống xong, thì đều mệt quá, lăn ra ngủ thẳng một giấc đến sáng bạch. Thời đó còn thi đủ các môn, học gì thi nấy, cả viết và vấn đáp; đến lúc vấn đáp môn traduction dịch từ tiếng Pháp ra tiếng Việt, gặp từ lime tôi biết rõ đó là cái dụng cụ bằng sắt nhám dùng để mài các thứ cho nhẵn ra nhưng cứ láng máng không tài nào nhớ trong tiếng Việt gọi dụng cụ đó là cái giũa, tôi bèn lấy ngón tay mài mài vào mép bàn làm hiệu, bị thầy Chuyết cho điểm thấp nên chỉ đỗ được thứ ba, nhường thứ hai cho chị Trầm, con gái ông Nguyễn Vỹ hiệu trưởng. Khương Thế Xương đỗ thấp vì khi vấn đáp môn Vệ sinh (vâng, có cả thi môn Vệ sinh, Hygiène), thầy hỏi về bệnh ghẻ, anh có học hành gì đâu, đáp bị ghẻ thì tắm lá xoan, đúng quá đi chớ, nhưng bị thầy cho 2 điểm…

Ôi một thời học trò của chúng tôi, dầu bấy giờ đã chiến tranh!

Thật tình tôi thích Xương hơn Tứ. Xương trưởng thành sớm mà vẫn trong trẻo, và theo tôi điều này mới là quan trọng: anh chín chắn, sớm sâu sắc, mà vẫn “mềm”, cả trong cách sống và tư duy. Tứ thì sớm quy củ, bài bản, và “cứng” quá, người như thế rất dễ vướng giáo điều…

Sau diplôme chúng tôi học ban tú tài, bấy giờ gọi là chuyên khoa, nhưng khu 5 chỉ có chuyên khoa toán lý hóa. Được nửa năm thứ nhất, một số xin ra học trường Huỳnh Thúc Kháng ở Khu 4 (ba tháng leo núi Trường Sơn), ngoài ấy có nhiều chuyên khoa hơn. Trong số bạn cùng lớp ra đi năm ấy tôi nhớ có Phan Tứ, Khương Thế Xương, Mai Kỹ… Nhưng cũng chỉ được mấy năm. Đến 1950 bỗng có lệnh “Tích cực chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công”. Một cái lệnh như thế giữa chiến tranh thì cũng bằng một cuộc tổng động viên. Trai tráng cả nước rùng rùng nhập ngũ. Học trò Khu 4 Khu 5 chúng tôi đều bỏ trường, hát vang Xếp bút nghiên, xung phong vào bộ đội…

…Giữa năm 1952, trung ương gửi cho Khu 5 một đại đội sĩ quan vừa tốt nghiệp phân hiệu lục quân Trần Quốc Tuấn Khu 4. Chúng tôi lại gặp nhau, Khương Thế Xương, Phan Tứ lại trở về. Phan Tứ đi Lào, từ đó mà về sau anh có hai tiểu thuyết Bên kia biên giới và Trước giờ nổ súng. Khương Thế Xương làm trung đội trưởng ở trung đoàn chủ lực 803. Xương chỉ đánh có hai trận. Trận thứ nhất đã được đánh giá là một cán bộ quân sự đầy triển vọng. Trận thứ hai, đánh đồn Tú Thủy ở mạn An Khê, trên đường từ Bình Định lên Tây Nguyên, nổi tiếng kiên cố và ở một vị trí hiểm yếu. Năm 1947 trung đoàn trưởng người Tày Vi Dân đã đánh một trận huyết chiến kỳ lạ ở đó. Vi Dân chủ trương “hạ nhất cấp”, trung đoàn trưởng xuống làm tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn trưởng làm đại đội trưởng, cứ thế, một trận đánh không có chiến sĩ binh nhì. Nhưng bị lộ. Hy sinh gần hết, nghe nói chỉ còn một người sống sót. Đánh đồn là đánh địch trong công sự vững chắc, và một khâu quan trọng nhất là “mở cửa đột phá”. Trong điều kiện binh khí kỹ thuật của ta thời ấy, chỉ có thể “mở cửa” bằng bộc phá. Xương làm trung đội trưởng bộc phá, một vị trí thường nắm chắc đến tám chín mươi phần trăm hy sinh. Lần này tiêu diệt được đồn, nhưng Xương mãi mãi nằm lại Tú Thủy. Cho đến nay tôi vẫn nghĩ, với Khương Thế Xương chúng ta không chỉ mất một cán bộ quân sự có thể rất xuất sắc, còn mất một nhà văn chắc không chỉ ở tầm chúng tôi. Tôi biết ngay hồi cùng đi học ở Quảng Ngãi, Xương đã có làm thơ, đã là thơ nói chí hướng, mà vẫn mềm mại hồn nhiên. Hiếm lắm ở đời những tâm hồn rắn rỏi và vẫn nhẹ nhàng mát rợi. Tôi thường nghĩ và so sánh Xương với Phan Tứ.

Thoạt nhìn có vẻ con đường đi của Khương Thế Xương và Phan Tứ là khá gần nhau, nhưng kỳ thực đấy là hai tính cách khác hẳn, thậm chí đối lập. Tôi vẫn tin cái học thuyết rất “phản động” mà lại rất sâu sắc của anh Vũ Cao, sai với ông Mác nhưng đúng y với cuộc đời: Con người là không cải tạo được, trời sinh, trước sao sau vậy.

Phan Tứ đi học, lớn lên, làm việc, viết bao giờ cũng hết sức tỉ mỉ, cẩn thận, cần cù, bao giờ cũng nghiêm trang trong mọi việc, mọi giao tiếp, tuyệt đối không bay bướm lang thang lêu lổng như tôi, gần như không biết đùa suốt đời. Đến một mẩu thư nhỏ gửi cho bạn, cho vợ – nếu là báo cáo lên cấp trên thì càng đương nhiên rồi –, bao giờ cũng sao thành hai bản, một gửi đi, một lưu lại làm bằng, đố sau này anh nào cãi được. Cẩn thận đến mức trước mỗi chuyến đi hơi xa một chút, đi máy bay thì càng phải cẩn thận hơn, đều gửi lại một phong bì trong có lời dặn dò tỉ mỉ – gần như là… di chúc vậy – nếu chẳng may anh có gặp tai nạn thì việc này việc nọ giải quyết ra sao, vật này vật khác giao cho ai, chia cho ai. Anh tính toán cặn kẽ trước mọi thứ, cuộc sống là một kế hoạch hoàn chỉnh “lập trình” chính xác cho vào máy ngay từ đầu, cứ thế mà diễn ra. Tứ có một cái túi dết tùy thân, ở rừng cũng như sau này về thành phố vẫn còn nguyên – một cái kho vạn năng, gặp bất cứ tình huống nào đều có ngay dụng cụ ứng phó: các loại thuốc cấp cứu, bông băng, cây kim, chỉ đen, chỉ trắng, chỉ màu, tua-nơ-vít và lắc-lê, cây dùi đóng vở, các loại bút xanh đỏ, các thứ dây từ treo võng cho đến trói tù binh, dao cạo râu và dao nhỏ mà mổ được lợn, v.v. và cái be rượu. Ở Matxcơva, đâu quãng gần ga tàu điện ngầm Universitet thì phải, có cái cửa hàng bách hóa tên là “1001 mặt hàng”, chắc chắn còn thua xa cái túi dết thần thông của Tứ.

Đố ai làm được cho Tứ bất ngờ. Có lần tôi hỏi đùa:

– Sống mà không thỉnh thoảng bị bất ngờ thì buồn quá, ông ạ. Thế trong đời ông bị cú tình yêu “sét đánh” bất ngờ nào không?

Tứ không trả lời. Cũng không cười.

Anh viết văn cũng vậy. Ghi chép vô cùng khách quan, siêng năng, tỉ mỉ. Chuyện gì, việc nào, người nào, vặt vãnh đến đâu cũng ghi. Sổ tay ghi chép hàng đống, đánh số cẩn thận 1, 2, 3, 4… cho đến vô tận. Anh quan niệm, đúng như ông Balzac: nhà văn là người thư ký của thời đại. Thư ký thì việc gì cũng phải ghi đầy đủ, nguyên xi. Lại thêm, gọi là để giữ bí mật, anh thường ghi chép bằng tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Lào… cứ như Mỹ và chính quyền Sài Gòn mù tịt các thứ tiếng thông thái ấy… Nguyễn Khải, vốn hay ác mồm, bảo đọc, cứ như sổ tay bà nội trợ đi chợ mua rau…

Thôi thì mỗi người có cách sống và làm việc, viết của mình, nên tôn trọng.

Phan Tứ và tôi có một trận cãi nhau dữ, đâu quãng giữa năm 1963 hay đầu 64, trong một hội nghị bàn về việc giải phóng đồng bằng họp ở Kỳ Quế huyện Tam Kỳ (cái làng ấy nay đã bị đánh chìm xuống đáy hồ nước Phú Ninh, công trình thủy lợi lớn nhất tỉnh Quảng Nam). Số là để tiếp tục mở rộng đồng bằng có hai phe, chủ trương hoàn toàn ngược nhau: Hoặc dùng lực lượng vũ trang tương đối lớn, có tiểu đoàn, trung đoàn, từ trên núi đánh xuống, phá vỡ từng mảng của địch không lớn lắm, chừng vài ba xã, mở ra đến đâu “be bờ đắp đập” giữ chắc đến đó, củng cố bên trong cho thật vững, rồi hẵng lần lượt mở tiếp từng mảng khác. Mở ra ở Phước Lãnh, Phước Ngọc, rồi mảng Phước Sơn, Phước Cẩm, Phước Hà chính là theo cách đó. Phái thứ hai cho rằng làm thế là rị mọ, bảo thủ, “đến tết Công-gô” cũng chưa giải quyết xong được đồng bằng. Họ chủ trương dùng một số mũi nhỏ thật nhọn, tinh nhuệ, cỡ tiểu đội, len lỏi bất ngờ thọc sâu vào lòng địch, đến sát vùng ven biển, khuấy động, hút chủ lực địch về hướng ấy, trong khi ở phía Tây trên quốc lộ số 1, dùng lực lượng mạnh, đánh, mở ra từng mảng lớn. Trận đánh thọc sâu của “Bảy dũng sĩ Điện Ngọc” nổi tiếng một thời là vậy …

Cãi nhau gay gắt, đập bàn đập ghế, đỏ mặt tía tai, truy chụp gán ghép cho nhau đủ thứ quan điểm lập trường, sao thời nào cũng giống nhau quá thế nhỉ, phe thứ nhất chửi phe thứ hai là phiêu lưu mạo hiểm, tả khuynh, thậm chí có tính cách “tờ-rốt-kít”, phe thứ hai mắng phe thứ nhất là hữu khuynh, giáo điều, bảo thủ trì trệ, quân sự đơn thuần…

Phan Tứ thuộc nòng cốt của phe thứ nhất. Còn tôi, vẫn quen thói, tôi thuộc phe “phiêu lưu mạo hiểm”.

Cãi chán không ngã ngũ, cuối cùng thỏa hiệp: áp dụng kết hợp cả hai phương thức một lúc…

Nhưng rồi cuộc sống đã có câu trả lời riêng của nó: hóa ra phe “phiêu lưu mạo hiểm” đúng hơn. Đánh từ vùng sâu ngược lên, quả địch bị bất ngờ vỡ tan từng mảng lớn, quần chúng ào ào đứng dậy, đồng bằng mở toang ra. Ngày ấy Phan Đình Côn, anh chàng nhà thơ vô cùng luộm thuộm và mất sớm của chúng tôi mang được ở đâu về cho tạp chí Văn nghệ quân khu bài thơ thống thiết của một anh lính vô danh:

“… Ngày mai bờ biển sẽ về taMuối Sa Huỳnh bạc ánh sao saTa nằm trong muối, lăn trong muốiXát khắp toàn thân thật mặn mà!…”Chúng tôi thèm đồng bằng đến thế đấy. ..

Bọn trẻ ranh rất hiếu thắng chúng tôi tha hồ chế giễu cánh “bảo thủ”…

Không chỉ bọn trẻ ranh, đứng về phe chúng tôi còn có một nhân vật quan trọng và từng trải: anh Nguyễn Phú Soại, phó bí thư tỉnh Quảng Ngãi, vốn ở lại trong Nam từ sau 1954. Cùng phe nên thân nhau ngay. Cho tôi dừng lại một chút về câu chuyện của anh Soại. Hóa ra trước 1945, anh Soại từng học một trường trung học tư tên là trường Việt Anh ở Huế, và là học trò của anh Thanh Tịnh. Biết tôi vốn từ chỗ anh Thanh Tịnh vào, anh bảo tối hai anh em treo võng sát nhau, anh rì rầm kể chuyện. Chuyện rất lạ. Sau thời dạy Việt Anh, anh Thanh Tịnh ra Hà Nội, thuộc nhóm những cây bút trẻ chịu ảnh hưởng của Tự lực văn đoàn. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ cuối năm 1946, anh bị kẹt lại ở miền Bắc, nên tham gia kháng chiến ở Việt Bắc, để lại ở quê hương Huế người vợ và cô con gái tên là Mỹ Lý. Có cả một thế hệ từng đọc say mê tập truyện ngắn Quê mẹ đẹp như thơ của Thanh Tịnh, và “biết”, nhớ, da diết như nỗi nhớ của chính mình, về cái ga xép bé tí và cô đơn được Thanh Tịnh tả tuyệt hay trên con đường xe lửa thăm thẳm Bắc Nam đoạn qua xứ Huế, tên là ga Mỹ Lý.

Thì ra Mỹ Lý là tên con gái của anh Thanh Tịnh. Những năm tháng ở Hà Nội tôi biết anh vẫn dành một phần lương bộ đội còm cõi hằng tháng, âm thầm mua những tấm lụa Hà Đông, gói rất kỹ đợi ngày thống nhất mang về cho con gái Mỹ Lý…

Còn ở trong Nam? Nên nhớ cuộc chiến tranh của chúng ta là cuộc chiến dằng dặc 30 năm, trong đó riêng đánh Pháp đã mất 9 năm. Khoảng cuối 9 năm mỏi mòn ấy chị vợ anh Thanh Tịnh đã đi bước nữa, lấy một người thời đó còn là viên chức của Pháp. Đến triều Ngô Đình Diệm, anh ta được điều về làm tỉnh trưởng tỉnh Quảng Ngãi, nơi anh Nguyễn Phú Soại đang là phó bí thư tỉnh ủy bí mật. Bằng những con đường rất quanh co, phức tạp, cả mạo hiểm nữa, anh Soại bắt được liên lạc với chị, và chị đã trở thành cơ sở của anh. Anh Soại bảo qua chị anh còn có thể tác động ít nhiều đến chồng chị lúc bấy giờ đang là tỉnh trưởng. Mối liên lạc đó kéo dài cho đến lúc anh ấy đổi đi. Mà lại là đổi vào Bến Tre. Hồi đó Quảng Ngãi ở miền Trung và Bến Tre ở miền Tây Nam Bộ khét tiếng là hai tỉnh cộng sản đầu sỏ và “dữ” nhất, tỉnh trưởng của chính quyền Sài Gòn ở đấy hẳn phải loại chống cộng số một… Tôi hỏi anh Soại tôi có nên báo chuyện này cho anh Thanh Tịnh không, anh bảo theo anh là nên, chị ấy là người rất tốt, đã giúp được cho công việc của anh khá nhiều; ngay cả anh tỉnh trưởng chồng chị cũng là người khá, tất nhiên cần hiểu hoàn cảnh của anh ấy, không nên đòi hỏi ở anh ấy nhiều hơn…

Anh Nguyễn Phú Soại về sau lại chuyển sang ngành ngoại giao, anh làm đại sứ của Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam tại Hà Nội mấy năm (Việt cộng đóng kịch vốn cực giỏi). Rồi anh đi làm đại sứ ở Hungari. Tôi có lần sang Hung, giữa thủ đô Budapest hoa lệ (Budapest vẫn được gọi là petit Paris, Paris nhỏ ở Trung Âu), hai anh em ngồi bên sông Danube, hai người lính già lần này không cùng nhau “kể mãi chuyện Nguyên Phong” nữa, mà tâm sự chuyện đời, biết bao éo le lạ lùng đến khó tin…

Sau năm 1975, anh tỉnh trưởng Quảng Ngãi và Bến Tre đi Mỹ, nhưng chị ấy thì vẫn ở lại, chị có ra Hà Nội và gặp anh Thanh Tịnh, nhà tôi ở cạnh nhà anh Thanh Tịnh tại phố lính Lý Nam Đế, khu tập thể số 8, tôi có sang chào chị, người đàn bà Huế ấy dù đã tàn phai trải bao truân chuyên vẫn còn phảng phất vẻ đẹp thanh nhã riêng có của cô gái cố đô. Nhưng anh Thanh Tịnh vẫn rất đau: Mỹ Lý thương nhớ của anh đã đi Mỹ chỉ mấy ngày trước khi quân ta vào Huế. Cô bị dọa Việt Cộng vào sẽ dùng kìm rút hết móng tay vì cô có đi làm cho sở Mỹ. Anh không được gặp lại con gái lần nào cho đến khi qua đời. Những xấp lụa Hà Đông cúp cum gìn giữ bao nhiêu năm chờ đợi, không biết anh có giao cho chị không…Cuối 1964 Phan Tứ bị gai cột sống, đầu 1965 anh phải ra Bắc, trước khi đi còn mở cái túi càn khôn của anh, trao lại cho tôi một gói băng cá nhân và lọ péniciline bột, ngày ấy quý lắm, dặn kỹ bị thương cứ rắc ngay vào, cấp cứu sau.

Phan Tứ không tham gia thời chiến tranh cục bộ và tiếp đó thời kỳ vô cùng đen tối gọi là “Việt Nam hóa chiến tranh” ở miền Nam. Năm 1973, sau hiệp định Paris anh mới trở vào và có mặt trong đại thắng 75. Sau khi đã tương đối ổn định ở Sài Gòn, chúng tôi chủ trương đi khắp một tua miền Tây Nam Bộ cho biết và cũng là lợi dụng lúc này xăng dầu còn dễ xin, tha hồ chất đầy thùng phuy lên xe mà chạy khắp. Hôm ở đất mũi Cà Mau Phan Tứ cứ cởi trần trùng trục mà vùi mình ngập ngụa trong bùn lệt sệt nhão nhoẹt ở cái nơi tận cùng đất nước ấy, bảo cho hả dạ…

Sau miền Tây, chúng tôi được ông Trần Bạch Đằng triệu tập đến để phổ biến chủ trương thành lập một hội nhà văn riêng của miền Nam. Tôi và Nguyễn Chí Trung không đồng ý, đất nước vừa thống nhất rồi sao lại đi lập hai hội riêng, đều của nhà nước. Trần Bạch Đằng bảo đây là chỉ thị của Trung ương cục. Chúng tôi nói, theo chỗ chúng tôi biết, về mặt Đảng, B1 trực thuộc chỉ đạo của Trung ương ở Hà Nội chứ không thuộc Trung ương cục miền Nam, nếu có chỉ thị của Trung ương cục, xin các anh cứ làm. Chúng tôi không tham gia, và sẽ trở về Khu 5. Bấy giờ ở Nam Kỳ Trần Bạch Đằng được gọi là “Vua không ngai”, hét ra lửa. Anh em ở R vừa về thấy chúng tôi dám cãi và ông ấy thua, đều kinh ngạc. Riêng tôi để ý trong vụ này, Phan Tứ cũng gọi là trong ban lãnh đạo văn nghệ Khu 5 lại giữ thế trung lập, ầm ừ sao cũng được, khác với thái độ thông thường của anh. Không hiểu vì sao?

Tôi còn có mấy lần ngạc nhiên về Phan Tứ bạn tôi. Hôm mới vào Đà Nẵng cuối tháng 3-1975 một bữa hai anh em đi đâu đó trên hè phố ven sông Hàn, có một cậu thanh niên thành phố để cái xe máy hơi có chút ngáng đường người đi bộ, Tứ dừng lại sừng sộ gay gắt và rất trịch thượng, cậu thanh niên có lẩm bẩm cãi lại gì đó, Tứ lập tức vỗ bộp vào bao súng ngắn bên hông, thậm chí tôi nghĩ anh đã sẵn sàng rút súng ra… Cậu thanh niên vội vã xin lỗi và dẹp xe. Khi chúng tôi đã đi qua, tôi quay nhìn lại, thấy cậu nhìn theo chúng tôi, rất lạ, không phải một cách sơ sệt, mà là một cách khinh bỉ. Chuyện nhỏ mà không quên, bởi không thể ngờ.

Năm 1990 ở Đà Nẵng nổ ra một vụ án văn học ầm ĩ một thời. Nhà xuất bản Đà Nẵng in tiểu thuyết Miền hoang tưởng của một tác giả tên là Đào Nguyễn. Kỳ thực tên đầu tiên là Hoang tưởng trắng của Nguyễn Xuân Khánh, qua bao nhiêu nhà xuất bản đều không lọt, cho đến khi gặp một nhà với những người hiểu giá trị của tác phẩm, tác giả và dám chịu chơi. Sách vừa in ra lập tức bị cả một chiến dịch tấn công dữ dội, hệt thời Nhân Văn Giai Phẩm. Khởi xướng và đứng đầu là Thuận Hữu, ký bút danh Mai Lĩnh, bấy giờ là phóng viên thường trú báo Nhân Dân ở Đà Nẵng dưới quyền ông Đặng Minh Phương, anh ruột Hà Đăng; cùng người thứ hai là Phan Tứ lúc này đã là nhà văn nổi tiếng. Tiếng tăm của ông nhà văn lớn khiến mọi người ùa theo, một đám đông u mê và hỗn loạn… Kết quả người tổ chức bản thảo là biên tập viên Trần Kỳ Trung nhận kỷ luật cảnh cáo, giám đốc Nguyễn Văn Giai bị cho nghỉ hưu và cách chức. Giai về ở một ngôi nhà nhỏ trên đường Nguyễn Du, thỉnh thoảng tôi ghé qua thăm, hỏi bây giờ cậu làm gì, Giai trả lời: “Bây giờ tôi làm …thinh!”. Tôi không được biết ở những nơi khác một câu trả lời như vậy có nghĩa thế nào, chứ ở xứ quê Quảng quê tôi, nó là: Tao không thèm chấp tất cả, tao khinh bỉ và không thèm chơi nữa với tất cả chúng mày, một lũ ngu dốt xấu xa! Nguyễn Văn Giai, tôi quý anh, rất Quảng Nam!Tuy nhiên chuyện đời còn chưa chịu, chưa thể chấm dứt ở đó. Dẫu sao rồi cũng phải có sự thật và công bằng chứ. Đúng mười lăm năm sau, 2015, Nhà xuất bản Hội Nhà văn do Trung Trung Đỉnh làm giám đốc đã cho tái bản sách, in trang trọng và đẹp, với nguyên tên cúng cơm của tác phẩm và tác giả: Hoang tưởng trắng của Nguyễn Xuân Khánh. Xuân Khánh đã rất yếu, đi đâu phải có con cháu dìu từng bước, nhưng anh vẫn viết khỏe, sức viết bền bỉ đến kỳ lạ, anh còn một loạt tiểu thuyết đều độc đáo và đặc sắc: Trư cuồng (tức Chuyện ngõ nghèo), Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa… Tây có câu châm ngôn Les manuscrits ne se brûlent pas, bản thảo là thứ không thể cháy. Thời nay cũng vậy, những người làm nghề gọi là quản lý xuất bản nên biết và nhớ câu này…

Đại hội nhà văn lần thứ ba họp năm 1983 là một đại hội rất kỳ quặc, ít nhất là về một mặt này: nếu tôi nhớ không nhầm thì hồi đó hội viên của Hội đâu chỉ trên dưới 300, vậy mà đại hội lại bầu ra một ban chấp hành đến trên 40 người. Tôi được bầu, Phan Tứ cũng được bầu. Và vì là đại hội họp sau vụ Đề dẫn tai tiếng của tôi, chắc là để trừ tiệt cho kỳ hết ảnh hưởng độc hại còn kéo dài của nó, người ta đã tổ chức một phiên hop dành riêng chủ yếu tập trung tiếp tục đấu tranh phê phán nó. Thú thật tôi không mấy quan tâm và cũng chẳng còn nhớ gì những lời lên án ghê gớm bấy giờ. Tôi cũng không hề trả lời. Tôi bắt chước ông bạn xứ Quảng Nguyễn Văn Giai của tôi. Duy tôi có để ý trong hội nghị này Phan Tứ nói rất ít, anh chỉ có đôi ý kiến không lấy gì làm gay gắt. Suốt mấy ngày họp thấy anh chỉ chăm chú ghi, không thiếu ý kiến và chi tiết nào. Trở về Đà Nẵng, anh tập họp đông đủ không chỉ các loại nhà văn (bởi vì ở ta có các loại nhà văn như thế thật, có loại nhà văn trung ương do Hội Nhà văn trung ương quản lý, lại có loại chỉ được coi là nhà văn cấp tỉnh hay thành phố do hội ở tỉnh, thành phố quản lý), anh còn mời đông đủ hội viên các hội văn học nghệ thuật và những người có liên quan ít nhiều, trịnh trọng mở cuốn sổ bình sinh của anh ra và đọc lại không sót lời nào của bốn mươi mấy vị chấp hành ở hội nghị Hà Nội. Đúng hệt các vị đại biểu đi họp Quốc hội về báo cáo cử tri. Cũng cần nói cho công bằng: anh đọc đủ cả, ý kiến đánh tôi, nhiều hơn và hung hăng hơn, và cả ý kiến bênh vực tôi, ít và rụt rè hơn…

Vâng, tôi có một anh bạn nhà văn Phan Tứ như thế.

Nhưng tôi nhầm, và điều đó là rất đáng ân hận. Còn có một Phan Tứ khác, đời hơn và đáng để ta, để tôi yêu và thương. Anh em ở trại sáng tác Đà Nẵng bảo tôi anh Phan Tứ trông hằng ngày rất mô phạm vậy, hay mắng mỏ anh em nhậu nhẹt, nhưng chính anh lại là một tay nghiện rượu lâu năm. Trưa nào anh cũng lén anh em ra một cái quán nhỏ kín rất sâu trong một hẻm vắng và nốc trọn một xị. Trời, tôi không nghiện rượu nhưng tôi biết những cái quán như vậy và các thứ rượu bán ở đó, toàn rượu tạp, pha chế bừa bãi, trộn đủ thứ linh tinh, uống mà là uống lâu dài, năm này qua năm khác, đều đặn không thiếu ngày nào, ngày nào cũng tuôn một xị thì là liên tục tự nạp thuốc độc vào người, tự phá nát hết nội tạng. Nguyễn Quang Sáng cũng là tay bợm rượu, nhưng anh không biết một chữ ngoại ngữ nào, anh tuyên bố rượu nào anh đọc được tên trên nhãn, anh quyết không nếm một giọt. Tôi cũng có biết một anh nhà thơ nổi tiếng và uyên bác ở Viện Văn học, xưa một lòng chân thành mê mẩn Trung Quốc của ông Mao Trạch Đông, bao nhiêu năm tận tụy truyền bá Diên An và cả Sách đỏ…, đến sau Cách mạng văn hóa Tàu, anh sững ra, và là người rất lý tưởng, anh tuyệt vọng, sụp đổ hẳn, mất hết lẽ sống, đâm ra nát rượu, trước còn uống chọn lọc, sau hết tiền ruợu tạp đến đâu cũng uống, uống suốt ngày, lúc nào cũng ngà ngà say, càng say càng nói lý luận, uyên bác lẫn lung tung, chị vợ sợ anh uống tạp nguy hiểm đi mua rượu chính cống có bảo đảm đàng hoàng về cho anh, thế là anh bèn uống gấp đôi, cả rượu đàng hoàng cả rượu tạp. Người ta bảo anh tự tử bằng rượu, vì nỗi hận ông Mao ở tận bên Tàu đã tàn phá tài năng và cuộc đời anh. Một cái chết vì lý tưởng và vì rượu. Phan Tứ uống lén rượu tạp ở quán tạp giấu kín bao nhiêu năm, không phải vì không có tiền, mà vì cái luật khắc nghiệt ở đời khiến, anh đã nhỡ mang tiếng cực kỳ nghiêm túc, gương mẫu, mô phạm trước mắt thiên hạ. Cái thiên hạ ấy rất đáng sợ, nó buộc con người phải sống giả sao cho đúng với hình ảnh có tính biểu tượng mà anh vẫn hằng mong muốn hậu thế sẽ hình dung, sẽ “biết”, hiểu và viết về anh. Các nhà làm văn học sử nên biết mình đang làm một cái nghề có thể rất ác.

Nhưng còn một điều có thể quan trọng hơn: Phan Tứ có gì để tuyệt vọng, hay còn có bí ẩn sâu xa, thiêng liêng mà éo le oái ăm nào để chỉ có thể gửi vào rượu, lại là rượu tạp vì là rượu lén.

Cuối đời Tứ bị u tụy. Tôi có chạy đến tận chỗ ông Tố Hữu mà tôi vốn chẳng ưa gì để mong nhờ tìm thầy thuốc giỏi cho anh. Nhưng rồi cũng chẳng ăn thua.

Tứ mất năm 1995.

Giữa đám tang có một sự cố. Bỗng xuất hiện một cậu thanh niên tự nói là từ Nam Tam Kỳ ra, mặc áo xô, chít khăn trắng, xin vào lạy trước bàn thờ và linh cữu cha. Tôi ở Hà Nội không vào được để tiễn đưa Phan Tứ lần cuối. Nhưng khi nghe tin tôi nghĩ ngay là chắc là tôi biết rõ cậu thanh niên lặn lội từ Nam Tam Kỳ ra lạy cha ấy. Cậu ấy phải đích thị quê quán ở cái thôn Tứ Mỹ bán sơn địa, một rẻo đồng bằng len vào chân núi bé tí tẹo của xã Kỳ Sanh huyện Nam Tam Kỳ chúng ta giật lại được từ tay đối phương trong cuộc đồng khởi đầu tiên của Khu 5 mấy chục năm trước. Và cũng hầu như chắc chắn cả anh Nguyễn Văn Bổng và tôi đều biết rõ mẹ cậu, chính là cô du kích nhỏ nhất đội, xinh xắn, săn chắc vừa là của con gái vùng bán sơn địa vừa là của con gái quê đang mơn mởn dậy thì. Cô du kích đáng yêu nhất trong đám du kích trẻ măng rì rầm mãi những đêm không ngủ, thỉnh thoảng lại cười ré lên không ai có thể biết vì chuyện gì rồi lại suỵt nhau im lặng, rừng mít cách cao điểm 65 của địch chỉ non cây số đường chim bay. Trong khi tôi đi ra phía chiến trường Bắc Quảng Nam vùng quanh căn cứ lớn của Mỹ ở Đà Nẵng, thì Phan Tứ kiên trì “lót ổ” ở Tứ Mỹ – Kỳ Sanh, chắc một phần để theo sát diễn biến thường rất phức tạp của một vùng được giải phóng sớm – những vùng như vậy thường rất ác liệt vì hai bên đều quyết giành đi giật lại chà xát đến nát bươm ra; phần nữa, còn quan trọng hơn không biết chừng, vì anh đã đem lòng thương, rồi yêu, rồi say đắm cô du kích bé nhỏ kia, có thể ngay từ đầu, ngày tôi và anh Nguyễn Văn Bổng vừa xuống đấy. Mãi sau này tôi mới biết tên thật của cô là Út Phận.

Không thể không yêu, những ngày ấy. Chiến tranh, bom đạn, máu lửa, cái chết thường trực và bao giờ cũng bất ngờ, trăm ngàn dạng vẻ, nhẹ nhàng thản nhiên đến nhói tim có, be bét tang thương đến không dám không nỡ nhìn có, những ngày thất bại cay đắng mất dân mất đất đến chừng sạch tay, những ngày cố gượng dậy và rướn tới mừng tủi đếm từng người dân giành lại được, rồi lại để mất, lại gìành lại… Chiến tranh, lạ vậy, có thể khiến cho con người mất sạch tính người, cũng lại chính nó có thể khiến cho con người người hơn bao giờ hết. Chiến tranh, kỳ vậy, rất lắm khi là môi trường của tình yêu. Và đã yêu nhau trong khói lửa ấy thì người ta trao cho nhau hết, không giữ lại chút gì. Bởi vì, ở bên cạnh kia, sát rạt đến cháy bỏng hay lạnh ngắt, là cái chết. Phan Tứ đã để lại một giọt máu của mình ở Tứ Mỹ, Kỳ Sanh, cho Út Phận của anh. Và lần này anh viết được cuốn tiểu thuyết hay nhất của đời mình, Mẫn và Tôi. Mẫn chính là Út Phận.

Hồi làm báo Văn Nghệ, tôi có đề nghị anh Lê Ngọc Trà, vốn đã biết tên nhau nhưng chưa hề gặp mặt, viết cho về mấy vấn đề lý luận văn học theo tôi là rất quan trọng trong tình hình ở ta lúc bấy giờ. Sau bài thứ nhất Văn nghệ và Chính trị, nhân có dịp sang Liên Xô, tôi tìm gặp anh, đề nghị anh viết tiếp cho về một mối quan hệ khác vẫn còn bị hiểu khá lôi thôi ở ta: quan hệ giữa Văn nghệ và Hiện thực. Bữa ấy là một đêm rất rét, hai anh em đi trên lề đường Moskova cứ phải bíu chặt lấy nhau để khỏi ngã dập mặt xuống băng trơn và rắn hơn cả đá. Anh Trà bảo: Anh nghĩ thứ tự chuỗi vấn đề như vậy là rất đúng, nhưng tôi muốn hỏi đại thể anh quan niệm sao về mối quan hệ thứ hai này, có khi còn khó hơn cả mối quan hệ thứ nhất mà báo Văn Nghệ đã cố gắng làm rõ. Chúng tôi dừng lại giữa đêm Nga gió buốt căm căm, và tôi nói: Theo tôi hiện thực không phải là chức năng, mà chỉ là thuộc tính của văn nghệ. Một nhà văn đã cầm bút thì dẫu muốn dẫu không, theo cách này hay cách khác, ở mức độ này hay mức độ khác, anh ta đương nhiên phản ánh hiện thực của xã hội anh sống. Nhưng đấy không phải là chức năng, là mục đích của việc anh cầm bút. Nếu chỉ để phản ánh hiện thực thì còn khối cách hay hơn, hiệu quả hơn để mà bỏ công, cứ gì phải ngồi vào bàn và cầm lên cây bút trước trang giấy đầy thách thức thậm chi sinh tử cho đến nỗi ông Nguyễn Tuân phải gọi là “pháp trường trắng”. Anh ta cầm bút, nhất thiết phải cầm bút, sống chết cũng phải cầm bút, là vì một điều gì đó khác, kỳ lạ, bí ẩn, chất chứa trong anh mà chính anh cũng không, cũng chưa biết rõ, bởi vì nó chưa hề có trên đời này, mơ hồ và thúc giục, chính anh, chỉ có anh mới có thể khám phá ra nó… cho đến khi nó hiện ra như một sự thật chưa từng có, sống động, mới mẻ, tinh khôi bằng các con chữ nối tiếp trên trang giấy trước đó hoàn toàn vô dụng và vô duyên, vô nghĩa. Cho nên, mỗi tác phẩm của nhà văn theo cách nào đó là một di chúc anh để lại cho đời… Còn điều này nữa: nhà văn chẳng viết cho ai cả, không cho công chúng nào hết, anh ta chỉ viết cho chính mình, vì nhu cầu cấp bách của chính mình. Và công chúng, người đọc được biết thêm, được giàu thêm một hiện thực nữa, độc nhất, duy nhất, đơn nhất, không còn có hai, hiện thực được tao ra và soi sáng bằng toàn bộ cuộc đời của một nhà văn. Không có những nhà văn, chỉ có từng nhà văn.

Phan Tứ rất giỏi ngoại ngữ, nhưng gần anh, tôi ngạc nhiên về sự hiểu biết nghèo nàn của anh đối với văn học hiện đại thế giới, anh hầu như không hề biết đến Milan Kundera, Philip Roth, không biết hay chẳng mấy quan tâm Kafka… Trong thế hệ những người cầm bút lớn lên trong cuộc chiến tranh thứ nhất chống Pháp, rồi định hình trong cuộc thứ hai chống Mỹ, hình như Phan Tứ là người duy nhất sau cuộc thứ nhất đã chịu cần cù cắp sách đi học và học xong đại học bài bản đàng hoàng, mà là học Khoa Văn hẳn hoi. Còn hầu hết lũ chúng tôi, kể từ Nguyễn Khải, Nguyễn Thi, Nguyễn Minh Châu, Phùng Quán, Chu Văn, Nguyễn Xuân Khánh, đến cả Phạm Toàn, Dương Tường… và tất nhiên cả tôi đều là một bọn thất học, anh nhiều nhất cũng mon men đến gần tú tài tức chưa tốt nghiệp đước cái trung học phổ thông. Tứ lại vốn nghiêm túc và học gạo như tôi từng biết từ nhỏ, nên anh thấm nhuần rất sâu, rất đậm, đế mà đinh ninh như là chân lý duy nhất và tuyệt đối toàn bộ lý luận văn học Mác-Lê qua sách vở của các ông ốp ép được dạy ở đại học; từ văn học nghệ thuật ắt phải có ba chức năng, thứ nhất quan trọng hàng đầu phải là chức năng nhận thức hay phản ánh cũng tức là hiện thực, quan trọng thứ hai là chức năng giáo dục tức đạo đức cách mạng, thứ ba hàng bét mới đến chức năng thẩm mỹ, nhỡ quên bỏ qua cũng không sao. Và nhân vật trong tiểu thuyết thì nhất thiết phải là tính cách điển hình trong trường hợp điển hình, v.v. và v.v. May thay Tứ được cứu khỏi mớ rau muống lăng nhăng ba láp có nguy cơ đeo bám suốt đời ấy không gỡ nỗi ấy, không phải nhờ một nhà bác học thần thông nào, mà bởi một cô du kích bé nhất đội, Út Phận nhỏ nhoi ngày ấy chắc còn chưa biết chữ, bằng tình yêu thơ dại, liều lĩnh, say mê và can trường cắn răng im lặng suốt mấy mươi năm chung thủy của cô.

Vậy đó, cuộc sống, tình yêu, và văn học.

Nguồn: http://vanviet.info/van/dong-bang-ky-2/

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là nguyen-ngoc-nhung-trang-van-am-anh-3-1.jpg

NGUYÊN NGỌC LẮNG NGHE CUỘC SỐNG

“††Vấn đề Tây Nguyên về nhiều phương diện là một vấn đề lớn lại có những đặc trưng riêng trong sự phát triển chung của cả nước. Vấn đề này vốn đã không hề đơn giản, nay đã càng trở nên hết sức phức tạp, khó khăn, có thể còn khó khăn lâu dài, với những diễn biến cũng có thể còn chưa lường được hết và còn bất ngờ. Song vấn đề cũng có thể trở nên đơn giản hơn, vẫn có thể có lối ra, nếu ta dám thật sự nhìn lại tình hình một cách khách quan, nhận ra sai lầm lớn lẽ ra hoàn toàn có thể không mắc phải nếu biết tôn trọng thực tế và biết lắng nghe, từ đó nghiêm túc xác định lại quan điểm đúng, để có cách nhìn và cách hành xử thích hợp, đặc biệt biết thật sự tôn trọng các dân tộc bản địa Tây Nguyên, một bộ phận tuy có đến chậm hơn nhưng từng gắn bó rất sâu sắc, có đóng góp hết sức to lớn trong tiến trình lịch sử gian nan mấy thế kỷ qua của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Ở Tây Nguyên nếu không thật sự đặt quyền lợi của các dân tộc bản địa lên trên hết, là mục tiêu hàng đầu của mọi kế hoạch phát triển, thì chắc chắn không việc gị có thể thành công, sẽ thất bại tất yếu, thậm chí có thể đi đến thảm họa”. “††††††††††† Nhà Tây Nguyên học xuất sắc Jacques Dournes có một câu bất hủ khi nói về Tây Nguyên, ông viết: “Nếu phải hiểu để mà có thể yêu, thì lại phải yêu để mà có thể hiểu”. Đối với Tây Nguyên, cần một sự hiểu biết và một tình yêu đầy sự tôn trọng thật sự, một sự tôn kính chân thành và đấy ưu tư đối với một vùng đất và một vùng văn hoá vào loại độc đáo nhất còn lại trên đất nước ta và trên thế giới ngày nay.“.”Cần có một tình yêu đầy tôn trọng như vậy, để ra sức tìm hiểu sâu sắc vùng đất và người hết sức quan trọng và vô cùng đặc sắc này, từ đó mà có chủ trương và hành động đúng, mới mong có thể thoát ra khỏi bế tắc hiện tại, đưa Tây Nguyên vững chắc vào tiến trình phát triển chung của đất nước, vì Tây Nguyên, và vì cả nước“.

Hóa ra có một “bí mật” to lớn: ngọn nguồn của nước mội tuyệt diệu tưới tắm cả vùng cát dằng dặc ven biển miền Trung chính là nơi đó, Tây Nguyên, rừng đại ngàn, rừng nguyên sinh, rừng nhiệt đới Tây Nguyên. Chính rừng Tây Nguyên, từ trên Trường Sơn rất xa xôi kia, đêm ngày, hàng triệu triệu năm nay, như một người mẹ vĩ đại, bao dung và tần tảo, hứng lấy tất cả các nguồn nước của đất trời, cất lấy, “để dành”, tằn tiện, tuyệt đối không phí mất một giọt nào, để từng ngày từng ngày chắt chiu mà bất tận cung cấp cho đứa con đồng bằng của mình, cho sự sống có thể sinh sôi, nảy nở, trường tồn trên dải đất cát trông chừng rất khắc nghiệt kia. Cho các vương quốc, các triều đại, các nhà nước, các chế độ ra đời, phát triển, nối tiếp. Và sống còn… Nước mội chính là những dòng nước nhỏ, liên tục, không bao giờ dứt, đi âm thầm và vô hình trong lòng đất, từ những đỉnh Trường Sơn xa xôi kia, đến tận những cồn cát tưởng chẳng thể có chút sự sống này. Vậy đó, Tây Nguyên, ý nghĩa của Tây Nguyên và rừng Tây Nguyên, dù chỉ mới là qua một khía cạnh rất nhỏ của nó, nước

Cần ngay bây giờ chấm dứt mọi khai phá ở Tây Nguyên. Cần nghĩ đến một con đường sống khác, một kiểu sống khác, một kiểu phát triển khác. Trên cả nước. Trước hết trên mái nhà sinh tử Tây Nguyên. Bắt đầu lại một công cuộc cứu lấy Tây Nguyên. Bắt đầu một sự nghiệp to lớn trồng lại rừng Tây Nguyên, trong một trăm năm, quyết liệt, kiên định, thông minh, với những kế hoạch cụ thể, cho 50 năm, 20 năm, 10 năm, 5 năm, toàn Tây Nguyên, từng tỉnh, từng huyện, từng xã, từng làng. Khôi phục lại màu xanh cho Tây Nguyên. Bắt đầu ngay từ hôm nay, mùa xuân, mùa của màu xanh, của sự tỉnh táo, khôn ngoan. Cho đến một ngày, có thể một trăm năm nữa, con cháu chúng ta sẽ có thể bụm vào lòng bàn tay một ngụm nước mội trong veo mát lạnh rỉ ra từ đất cát và ngửa cổ uống ngon lành. Và biết rằng cha ông chúng từng rất dại dột, nhưng rồi cũng đã từng biết khôn ngoan, để cho sự sống từng sắp bị triệt diệt, lại được cứu, lại sinh sôi, phát triển, trường tồn“.

NGUYÊN NGỌC ĐỌC LẠI VÀ SUY NGẪM

Nguyên Ngọc cuộc đời và tác phẩm có thật nhiều điều đáng đọc lại và suy ngẫm: Đó là khối lượng đồ sộ tác phẩm Nguyên Ngọc với các bài viết của bạn hữu, người đương thời nói và viết về ông, rất nhiều khen, nhưng cũng có người chê. Tôi ấn tượng nhất và thường đọc lại hơn cả là hai bài trên Phát triển bền vững ở Tây Nguyên; Nước mội rừng xanh và sự sống và có trích dẫn dưới đây để thỉnh thoảng tự chính mình đọc lại. Kể cả những bài mới đây nhất và cũng thuộc loại nhậy cảm nhất là “Con người nào thì làm ra văn hóa ấy …” (bài viết trên VHNA).

Những phản biện của Cụ Nguyên Ngọc như quan gián nghị đại phu cương trực xưa, thuốc đắng khó uống, chối tai khó nghe, nhưng thật uyên thâm, mạch lạc và sâu sắc. Chúng ta không phải điều nào cũng đồng tình với Cụ nhưng xã hội và minh quân cần những lời khó nghe ấy, đó là chính kiến và chỉ dấu trí tuệ. “Con người nào làm ra văn hóa ấy…” cụ Nguyên Ngọc đã cảnh báo sớm những khác biệt và biến thái trong định hướng đầu tư phụ thuộc vào con người và tầm văn hóa. Vụ Sơn Trà và điểm nóng Đà Nẳng bùng phát mới đây (2017) và đã xử lý năm 2020 thì trước đó năm 2006, ông đã cảnh báo “Phát triển bền vững là phát triển một cách có văn hóa” Các làng ven đô đang bị các khu công nghiệp (và biệt thự biển) mọc lên với tốc độ ngày càng nhanh nuốt chững hết đất, và cùng với đất là văn hóa lâu đời của các xứ đất ấy. họ đổ ra thành phố với một cục tiền đền bù chưa bao giờ cầm được to tướng đến vậy nhưng không còn đất, và đương nhiên cả cái văn hóa nghìn đời của đất ấy. Họ đổ ra thành phố, bơ vơ, vô nghề nghiệp, và điều này có thể nguy hơn nữa: bổng trở thành ‘vô văn hóa’ luôn. Văn hóa không phải theo nghĩa dăm ba chữ học hành, mà theo nghĩa những gì hàng nghìn năm con người đã tạo nên được cho tâm hồn mình do vật lộn và gắn bó sinh tử với đất mẹ quê hương. (Nguyên Ngọc lắng nghe cuộc sống NXB Văn Nghệ trang 163-175)

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là nguyen-ngoc-ve-tay-nguyen.jpg

Cụ Nguyên Ngọc về Tây Nguyên ngày nay lúc cụ đã luống tuổi. Cụ ăn lẫu phố Núi và lưu ảnh kỷ niệm với nhà văn Tây Nguyên Văn Công Hùng, vơi đôi mắt nhìn thẳng trực diện tinh tường. Cụ bút lực trên 88 tuổi vẫn chưa suy giảm và vẫn trên đường xa. .

NGUYÊN NGỌC ĐÔI LỜI CẢM NHẬN

Tôi biết ơn nhà văn Nguyên Ngọc đã nói hộ lòng mình. Tôi noi gương nhà văn lão thành để viết Nguyễn Khải ngọc cho đời, Đến với Tây Nguyên mới.

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là den-voi-tay-nguyen-moi.jpg

Kỷ niệm với thầy bạn quý ở Tây Nguyên. Hiểu là một cách cảm ơn chân thành nhất. Lắng nghe cuộc sống để thấu hiểu

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là nguyen-ngoc-nhung-trang-van-am-anh-5-1.jpg

Đến với Tây Nguyên mới láng nghe cuộc sống, cùng những thầy bạn ưu tú dấn thân cho nghề nông và lưu lại những trang đời lắng đọng. Phát triển bền vững ở Tây Nguyên; Nước mội rừng xanh và sự sống; Nguyễn Khải nhà văn tài năng nhất thế hệ chúng tôi đọc tai đây

†Tài liệu trích dẫn :

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là phattrienbenvungotaynguyen.jpg

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở TÂY NGUYÊN
Nguyên Ngọc

“bài viết nổi tiếng này chúng ta cần đọc đi đọc lại nhiều lần. Đến với Tây Nguyên là đến với con người, núi rừng cao nguyên, một vùng đất thiêng, một nền văn hóa sử thi to lớn”. Có những lớp sinh viên như thế. Chăm chú lắng nghe, chăm chú học để làm, chăm chú thấu hiểu để biết dũng cảm đối mặt với những sai lầm của quá khứ, để chung sức bảo tồn và phát triển bền vững những di sản (HK)

MỘT SỐ NÉT TỔNG QUAN

A Khái niệm Tây Nguyên

Theo địa lý hành chính hiện nay, Tây Nguyên gồm có năm tỉnh, kể từ bắc vào nam : Kontum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng. Tuy nhiên cần chú ý các tỉnh ven biển miền Trung và một số tỉnh miền Đông Nam Bộ đều có một vùng rừng núi khá rộng, cũng là nơi sinh sống của các dân tộc thiểu số. Chẳng hạn tỉnh Quảng Nam, là tỉnh duyên hải, lại có đến 56 % diện tích là vùng núi và vùng dân tộc, tại đấy có dân tộc Cơ-tu là một dân tộc quan trọng ở khu vực nam Trường Sơn. Miền tây tỉnh Quảng Ngãi cũng có vùng núi và là vùng dân tộc tương tự, thì có dân tộc Hre cũng là một dân tộc quan trọng. Dân tộc Rakglei thì sống chủ yếu ở miền tây các tỉnh Khánh Hoà, Ninh Thuận và Bình Thuận. Một số tỉnh miền Đông Nam Bộ cũng có vùng núi và là vùng dân tộc khá rộng. Vùng Cát Tiên, nơi có di tích nổi tiếng của dân tộc Mạ, nằm phần lớn trên địa bàn tỉnh Bình Phước. Sóc Bombo mà chúng ta đều biết qua bài hát quen thuộc cũng thuộc Bình Phước… Như vậy khái niệm Tây Nguyên xét về các về mặt dân tộc, văn hoá, xã hội, có thể cả lịch sử và địa lý, thật ra rộng hơn vùng được quy định theo địa lý hành chính. Có người đã dùng khái niệm Nam Trường Sơn để chỉ vùng này, có thể đúng hơn.

B Đặc điểm địa lý

Trong tác phẩm Rú Mọi (Les jungles Mois – NXB Tri Thức dịch với tên là Rừng người Thượng), cho đến nay vẫn được coi là công trình khảo sát cơ bản nhất về Tây Nguyên, tác giả Henri Maitre cho rằng Tây Nguyên không phải là một dãy núi – như vẫn được gọi trước nay (Trường Sơn, Chaîne annamitique) – mà là một bình nguyên nằm trên cao. Trong một kỷ địa chất xa xôi nào đó, vùng đất này do chấn động của vỏ trái đất đã được nâng cao lên đột ngột so với chung quanh, tạo thành một cao nguyên lớn.

Về địa hình, Tây Nguyên có hai đặc điểm đáng chú ý :

Cao vút ở hai đầu, cực bắc là cụm núi Atouat, với đỉnh Ngok Linh 2598 mét, cao nhất toàn Tây Nguyên và toàn miền Nam ; cực nam là dãy Chư Yang Sin, 2402 mét (là đỉnh cao nguyên Lang Biang). Giữa hai cụm núi ấy là một bình nguyên mênh mông, bằng phẳng, chỉ có những nếp lượn sóng liên tục. Đứng tại thành phố Buôn Ma Thuột chẳng hạn nhìn quanh, thấy cụm núi quan trọng nhất của tỉnh Đắc Lắc là núi Đ’leya, cũng xa tương tự như từ Hà Nội nhìn lên Ba Vì hay Tam Đảo…

Đặc điểm địa hình thứ hai rất quan trọng của Tây Nguyên là dốc đứng trên sườn phía đông, đổ xuống các tỉnh duyên hải nam Trung Bộ, tạo thành một bức trường thành sừng sững. Chính điều này khiến người Việt ở các tỉnh ven biển nam Trung Bộ nhìn ngược lên hướng tây đã nhầm Tây Nguyên là một dãy núi dài. Từ đồng bằng duyên hải nam Trung Bộ đi lên Tây Nguyên chỉ có một số đường độc đạo, ngày trước là các đường 19 từ Quy Nhơn, qua đèo An Khê và đèo Mang Giang lên Pleiku, rồi có thể đi tiếp qua Stung Treng của Cămpuchia; đường 26, từ Nha Trang – Ninh Hòa qua đèo Phượng Hoàng lên Buôn Ma Thuột; đường 28 từ Phan Rang qua đèo Ngoạn Mục lên Đà Lạt. Gần đây đã sửa chữa, nâng cấp và mở thêm một số đường khác, như các đường 14 từ Đà Nẵng và Quảng Nam lên Kontum, đường 24 từ Quảng Ngãi lên Kontum, đường 25 từ Tuy Hòa, Phú Yên lên Pleiku, v.v… Đáng chú ý, chẳng hạn nếu theo đường 19 Quy Nhơn – Pleiku thì sau khi lên khỏi đèo An Khê rất cao, ta lại tiếp tục đi bằng chứ không hề xuống dốc, sau đó cách khoảng vài chục km sẽ gặp đèo Mang Giang cũng rất cao và hiểm trở, vượt qua rồi lại tiếp tục đi bằng, đến Pleiku, sau đó sẽ xuôi dần thoai thoải về hướng tây đến bờ sông Mékông. Tức trong khi sườn phía đông dốc đứng, thì sườn phía tây của Tây Nguyên khá bằng phẳng, thoải thoải đổ về Mékông. Đặc điểm địa hình này sẽ rất quan trọng trong quan hệ của Tây Nguyên với các “lân bang” trong lịch sử lâu dài: quan hệ về phía tây, với Cămpuchia và với Lào, thuận tiện hơn là với Champa (và sau đó với Đại Việt) ở phía đông. Các bộ lạc ở Tây Nguyên quan hệ với “lân bang” trên vùng duyên hải phía đông chủ yếu do nhu cầu tìm muối mà Tây Nguyên hoàn toàn không có. Ở Tây Nguyên có hai địa danh đáng chú ý: Trong tiếng Ê Đê, buôn có nghĩa là làng (Buôn Hồ, Buôn Sam, Buôn Ma Thuột…), nhưng lại có Bản Đôn ở Đắc Lắc, phía tây Buôn Ma Thuột, sâu về phía nam Tây Nguyên, gần biên giới Cămphuchia. Bản là tiếng Lào, có nghĩa là làng. Bản Đôn chính là một trạm buôn của người Lào cắm sâu vào đây từ rất xưa, đến nay kiến trúc nhà cửa trong làng vẫn còn nhiều dấu vết Lào, người dân vẫn hiểu thông thạo tiếng Lào. Đây cũng chính là vùng dân tộc Mơ Nông, rất giỏi nghề săn bắt và thuần dưỡng voi. Rất có thể chính người Lào đã truyền nghề này cho người Mơ Nông… Trong cụm núi Ngok Linh lại làng Mường Hon. Mường chắc chắn là tiếng Lào, cũng có nghĩa là làng. Đây có thể là một làng người Lào vào định cư đã lâu đời trong cụm núi lớn này, cũng có thể là vết tích của những người Lào chạy dạt vào đây do hệ quả của các cuộc chiến tranh bộ lạc ngày xưa… Rõ ràng quan hệ của người Lào với các dân tộc Tây Nguyên từ xa xưa đã khá sâu.

Tây Nguyên vốn là một vùng đất núi lửa, hiện nay còn rất nhiều dấu vết núi lửa. Biển Hồ khá rộng ở phía bắc thị xã Pleiku chính là một miệng núi lửa cổ. Núi Hàm Rồng ở nam thị xã Pleiku còn rất rõ dấu vết miệng núi lửa. Ở Đắc Lắc có huyện Chư Mơgar, có nghĩa là “Núi Ngược”, vì miệng núi lửa cổ lõm xuống trên đỉnh khiến ngọn núi này trông như có đỉnh lộn ngược… Chính nham thạch núi lửa đã khiến Tây Nguyên trở thành một vùng đất bazan lớn nhất nước, chiếm đến 60% kho đất bazan của cả nước. Đất bazan đặc biệt thích hợp với một số cây công nghiệp như cà phê, cao su…

Tây Nguyên cũng là vùng có hệ động vật và thực vật phong phú nhất nước.

Về khí hậu, Tây Nguyên có hai mùa rõ rệt, mùa khô từ tháng 11 đến giữa tháng 5, và mùa mưa từ cuối tháng 5 đến tháng 10. Đất bazan là loại đất không giữ nước, nước mưa trượt đi trên bề mặt, về mùa khô Tây Nguyên gần như hoàn toàn không có nước.

C – Sơ lược lịch sử

1- Tiền sử :

Năm 1948, nhà dân tộc học người Pháp Goerges Condominas tìm được bộ đàn đá tiền sử ở làng Nđut Liêng Krak thuộc huyện Krông Nô tỉnh Đắc Lắc. Đây là bộ đàn đá đầu tiên tìm được trên thế giới. Về sau nhiều bộ đàn đá khác còn được tìm thấy ở nhiều nơi thuộc Tây Nguyên và ven Tây Nguyên. Đáng chú ý hệ thang âm của các đàn đá này trùng hợp với thang âm các bộ chiêng của các dân tộc Tây Nguyên hiện nay (thang ngũ âm, nhưng khác với thang ngũ âm Trung Hoa, mà lại gần thang âm tìm thấy ở một số nhạc cụ trên các đảo nam Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương). Tức có thể có một mối quan hệ nào đó còn chưa giải thích được giữa chủ nhân các bộ đàn đá tiền sử ấy (được xác định niên đại là cách đây 3000 năm) với các dân tộc đang sinh sống ở Tây Nguyên hiện nay, và cũng có thể có một dòng chảy của con người từ những vùng xa xôi từ phía nam đến Tây Nguyên trong những thời kỳ rất xa xưa.

Cách đây vài chục năm, trong khi chuẩn bị làm Thủy điện Ya Ly (trên vùng giáp giới hai tỉnh Kontum và Gia Lai), đã tiến hành khai quật di chỉ Lung Leng, nơi sẽ là lòng hồ. Đã phát hiện được tại đây dấu vết hết sức quan trọng của một nền văn hoá cổ, từ thời Đồ đá cũ, Đồ đá mới sang đến Đồ đồng… Từ sau đó, công tác khảo cổ ở Tây Nguyên được chú ý hơn, đã liên tục phát hiện nhiều khu di tích quan trọng khác, ở hầu khắp Tây Nguyên. Đã tìm được cả trống đồng ở nhiều nơi. Công tác khảo cổ ở Tây Nguyên nói chung chỉ mới bắt đầu, chưa đủ cơ sở cho những kết luận thật đáng tin cậy. Song bước đầu đã có thể thấy một số điểm đáng chú ý: các di vật đồ đá và đồ đồng tìm thấy ở Tây Nguyên rất gần với Đông Sơn, trong khi đồ gốm lại gần với văn hoá Sa Huỳnh. Như vậy ít ra có thể thấy nền văn hoá tiền sử ở Tây Nguyên từng có giao lưu rộng rãi với cả hai nền văn hoá lớn này ở phía bắc và phía nam…

Công cuộc khảo cổ ở Tây Nguyên chắc chắn còn hứa hẹn nhiều khám phá mới quan trọng.

2- Tây Nguyên trước thời Nam tiến của người Việt. Quan hệ của các dân tộc Tây Nguyên với Cămpuchia, Lào, Champa (và sau đó với Đại Việt).

Trước khi có cuộc Nam tiến của người Việt, vương quốc Champa xem Tây Nguyên nửa như một nước chư hầu nửa như vùng đất phía tây của mình. Trong thực tế triều đình Champa không hề kiểm soát được Tây Nguyên. Suốt một thời kỳ lịch sử rất lâu dài, Tây Nguyên là vùng sinh sống của các bộ lạc độc lập và tự trị. Trong đó đông nhất, mạnh nhất, chặt chẽ nhất là người Gia Rai, sống ở vùng trung Tây Nguyên. Trong người Gia Rai có các nhân vật rất đặc biệt gọi là P’tao Pui, P’tao Ia và P’tao Nhinh, mà người Việt dịch là “Vua Lửa”, “Vua Nước”, “Vua Gió”, người Pháp cũng dịch là “Roi du Feu”, “Roi de l’Eau”, “Roi du Vent”. Cách dịch “Vua”, “Roi” là không chính xác. Thật ra đây là một kiểu thủ lĩnh tinh thần và tâm linh rất độc đáo trong xã hội Gia Rai, một kiểu “thầy cúng” có uy tín lớn, đóng vai trò là người giữ mối quan hệ giữa Thần linh và con người, giữa thế giới “bên trên” và xã hội trần thế, không có bất cứ quyền hành thế tục và quyền lợi ưu tiên nào, nhưng lại là một thứ trung tâm cố kết và “điều hành” toàn bộ xã hội này một cách hết sức chặt chẽ và hiệu lực, kể cả trong quan hệ đối ngoại với các “lân bang”. Trong tác phẩm nghiên cứu rất công phu và đặc sắc “P’tao, một lý thuyết về quyền lực ở người Gia Rai Đông Dương” (P’tao, une théorie du pouvoir chez les indochinois Jarai), nhà Tây Nguyên học hàng đầu Jacques Dournes đã có sự phân tích và giải thích rất sâu sắc về các nhân vật này và một kiểu quyền lực cũng hết sức độc đáo ở xã hội Gia Rai nói riêng và xã hội Tây Nguyên nói chung, còn tồn tại cho đến rất gần đây, thậm chí còn ảnh hưởng tiềm tàng đến tận ngày nay.

Các P’tao là người Gia Rai, sống ở vùng Gia Rai, nhưng tầm ảnh hưởng lan rất rộng, sâu trên nhiều vùng dân tộc khác, thậm chí sang cả Cămpuchia. Trong nhiều thời kỳ, triều đình Cămpuchia từng coi các P’tao ở Tây Nguyên như một kiểu “vua thần”, định kỳ có dâng cống vật. Người Cămpuchia gọi các P’tao là Sadet (gần với từ Samdeth). Về sau, các “Vua Nước” và “Vua Gió” giảm dần ảnh hưởng rồi mất hẳn, chỉ còn “Vua Lửa”… Chúng tôi nghĩ việc nghiên cứu hình thái tổ chức xã hội với các P’tao của người Gia Rai có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tìm hiểu sâu sắc Tây Nguyên, con người, văn hoá, tổ chức xã hội cổ truyền… ở vùng đất đặc biệt này. Thậm chí cũng còn có thể cho phép chúng ta hình dung chừng nào về các xã hội cổ từng tồn tại trên vùng đất nay là bán đảo Đông Dương.

Tây Nguyên quan hệ với các “lân bang” chính là qua các P’tao. Quan hệ nhiều nhất là với Cămpuchia. Trong nhiều thời kỳ dài đã thường xuyên có các đoàn “sứ giả” đi lại hằng năm giữa các P’tao và triều đình Cămpuchia, trao đổi cống vật giữa hai bên. Trong quan hệ này đáng chú ý là về phía Cămpuchia đối với các P’tao Tây Nguyên là có tính chất “dâng lên”, còn từ phía các P’tao với các vua Cămpuchia là “ban xuống”. Do địa hình và cả chủng tộc, người Lào đã có quan hệ lâu đời và sâu với các dân tộc ở Tây Nguyên. Quan hệ của Tây Nguyên với Champa lại có những nét riêng khác: Trong thực tế, triều đình Champa đối xử với Tây Nguyên như với một “lân bang” phía tây của mình, cũng có quan hệ trao đổi cống vật định kỳ (với các P’tao) nhưng không chặt chẽ bằng phía Cămpuchia. Mặt khác, người Gia Rai, dân tộc lớn nhất và quan trọng nhất ở Tây Nguyên với người Chàm đều cùng thuộc một ngữ hệ Malayo-Polynésien nên rất gần gũi nhau, thậm chí có tác giả còn cho rằng người Gia Rai chính là người Chàm dạt lên Tây Nguyên trong những điều kiện và những thời gian lịch sử nào đó. Hiện còn có một số dấu vết các tháp Chàm ở vùng Gia Rai…

Trong quá trình Nam tiến, người Việt đã mất trên ba trăm năm mới giải quyết xong vùng đồng bằng ven biển Champa, sau đó đi tiếp về nam, đứng chân được trên vùng đất Thủy Chân Lạp vừa xong thì cũng là lúc người Pháp tràn vào. Do vậy triều đình Việt chưa có thời gian quan tâm nhiều đến vùng đất cao phía tây và các bộ lạc sống trên đó. Triều đình Huế cũng có phái một số quan chức lên tìm hiểu và bắt quan hệ với các bộ lạc Tây Nguyên, tất nhiên với ý đồ chinh phục. Tuy nhiên công cuộc này cũng còn rất sơ sài, các phái viên triều đình có gặp Vua Nước, Vua Lửa, mà họ gọi là Thủy Xá, Hỏa Xá, đặt quan hệ “triều cống” định kỳ của các vị này với triều đình và “ban tước” của triều đình cho các vị này, và vì hiểu rằng đây quả thực là các “Vua” nên họ yên trí như vậy là đã nắm được toàn bộ Tây Nguyên. Có hiện tượng đáng chú ý: triều Nguyễn đã từng thiết lập một hệ thống “đồn sơn phòng” suốt dọc các tỉnh trung Trung bộ trên ranh giới giữa vùng người Việt và vùng sinh sống của các dân tộc thiểu số ở phía tây, riêng ở Quảng Ngãi còn lập cả một bờ lũy dài hơn trăm km ngăn cách giữa hai vùng, chứng tỏ triều đình coi phía bên kia là một “nước” khác, có thể là một thứ “man” chư hầu…

3 – Người Pháp với Tây Nguyên.

Quá trình xâm nhập của người Pháp vào Tây Nguyên khá lâu dài và sâu.

Đầu tiên là các nhà truyền giáo. Do chính sách “sát tả”, bài trừ Cơ đốc giáo của các vua đầu triều Nguyễn, các nhà truyền giáo Cơ đốc đã tìm đường lánh lên vùng rừng núi Tây Nguyên có thể an toàn hơn. Họ đã đi bằng nhiều đường khác nhau, sau nhiều lần thất bại cuối cùng đã lên được đến vùng người Ba Na ở Kontum và thiết lập được xứ đạo đầu tiên trên cao nguyên tại đây. Tại Đại chủng viện ở thị xã Komtum hiện nay có một bảo tàng (được gọi là “Phòng truyền thống”) minh họa khá sinh động và chính xác con đường truyền đạo Cơ-đốc lên Tây Nguyên. Nhiều nhà truyền giáo cũng là những nhà dân tộc học tận tụy và uyên bác. Chính họ đã để lại những công trình nghiên cứu đa dạng và sâu sắc về Tây Nguyên.

Đồng thời và tiếp sau các nhà truyền giáo là các “phái bộ” (mission) khảo sát, vừa là những người tiên phong đi chuẩn bị và dọn đường cho việc chinh phục, đồng thời cũng là những nhà khoa học được đào tạo rất cơ bản, ít nhất ở hai trường Dân tộc học và Trường Pháp quốc hải ngoại (École française d’Outre-mer), một số người là sĩ quan quân đội. Nhiều phái bộ như vậy đã đi hầu khắp Tây Nguyên, không bỏ sót một vùng nào, nghiên cứu hoặc một cách tổng thể về vùng đất và người này, hoặc về từng phương diện, từng tộc người, từng vùng riêng biệt. Một trong những phái bộ đó, do Henri Maitre dẫn đầu, đã để lại một tác phẩm đồ sộ đến nay vẫn là công trình khảo sát cơ bản, toàn diện và tỉ mỉ nhất về Tây Nguyên, chưa ai vượt qua được. Công trình này có tên là Les jungles Mois (Rú Mọi), gồm hai phần, phần đầu là Nhật ký hành trình của phái bộ xuyên suốt Tây Nguyên, phần hai trên cơ sở tổng kết toàn bộ các khảo sát, dựng nên bức tranh toàn diện về Tây Nguyên. Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội đã tổ chức dịch phần hai công trình này, dưới cái tên Rừng người Thượng, đang được in ở nhà xuất bản Tri Thức.

Tiếp sau các phái bộ khảo sát là các nhà cai trị, cũng được đào tạo rất cơ bản về nhân chủng học, dân tộc học trước khi sang Việt Nam. Rất nhiều người trong số này, như Sabatier, công sứ Pháp đầu tiên ở Đắc Lắc, là nhà khoa học uyên bác. Ông là người đầu tiên sưu tầm và dịch ra tiếng Pháp trường ca Đam San, cũng đã sưu tầm và hệ thống hoá toàn bộ luật tục Ê Đê. Ông từng cai trị tỉnh Đắc Lắc bằng một kiểu “Tòa án Luật tục”, kết hợp khôn khéo luật tục của người Ê Đê với luật chung cho toàn Đông Dương. Bên cạnh những viên quan cai trị này, còn có những nhà chuyên môn giỏi và tâm huyết trong nhiều lĩnh vực, như Antomarchi, một nhà ngôn ngữ học lão luyện, người đã đặt ra vần chữ cái La tinh đầu tiên cho tiếng Ê Đê. Thậm chí còn có những bác sĩ như Jouin, vừa là một thầy thuốc nổi tiếng, vừa là một nhà dân tộc học sâu sắc…

Sau cùng đến lượt các nhà khoa học chuyên nghiệp, như G. Condominas, A. de Hautecloque-Howe, Boulbet, Maurice…, thường đi sâu và ở lại lâu dài trong các vùng thực địa, để lại những công trình quan trọng hoặc về từng dân tộc hoặc về từng vấn đề dân tộc học lớn ở Tây Nguyên. Có người như Jacques Dournes, là một linh mục đến Tây Nguyên, ở lại suốt hai mươi lăm năm, cuối cùng bỏ đạo, sống theo phong tục Tây Nguyên, là một nhà Tây Nguyên học lớn…

Công cuộc chinh phục Tây Nguyên của người Pháp diễn ra song song với cuộc xâm chiếm Việt Nam và toàn Đông Dương. Ở Tây Nguyên họ cũng gặp phải sự kháng cự của các bộ lạc bản địa. Trước đây, giữa các bộ lạc ở đây vẫn thường diễn ra chiến tranh, chủ yếu để cướp tù binh bán sang các nước chung quanh làm nô lệ. Vốn là những dân tộc quen sống tự do, phóng khoáng, có ý thức tự trọng và tinh thần thượng võ cao, không chịu bất cứ sự áp bức, áp đặt nào, họ đã đứng lên chống lại những người mới đến mang tới một ách thống trị xa lạ. Tuy nhiên những cuộc kháng cự thường rời rạc, một vài phong trào liên kết được một số vùng tương đối rộng không tồn tại được lâu. Song cũng có những vùng cuộc đấu tranh diễn ra khá dai dẳng, thậm chí có nơi suốt gần trăm năm đô hộ người Pháp vẫn không hoàn toàn thiết lập được bộ máy cai trị.

Khi đã chiếm được toàn bộ Đông Dương, người Pháp đã chia bán đảo này ra thành năm xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Ai Lao và Cao miên. Vậy nên phân Tây Nguyên về đâu? Họ có cái mà Jacques Dournes, trong tác phẩm P’tao… của ông, gọi là “logique du découpage” (lô gích của sự phân cắt), tất nhiên là lô gích phân cắt sao cho thuận tiện hơn cả đối với sự cai trị của chính quyền thực dân. Thấy trong các “lân bang” trước nay, người Lào đã xâm nhập vào Tây Nguyên sâu hơn cả, về mặt chủng tộc cũng tương đối gần gũi, nên họ cắt Tây Nguyên về Lào. Một thời gian sau, nhận thấy thủ đô Lào đặt ở Viêng Chăn quá xa, khó với tới Tây Nguyên, đến năm 1904 Toàn quyền Đông Dương đã ký nghị định giao Tây Nguyên về cho triều đình Huế. Như vậy về mặt pháp lý (của chính quyền thực dân), từ năm 1904 Tây Nguyên mới chính thức thuộc về Trung Kỳ, và từ đó thuộc về Việt Nam.

Chủ trương của người Pháp đối với Tây Nguyên trước sau không hoàn toàn thống nhất. Viên công sứ Pháp đầu tiên cai trị Tây Nguyên là Sabatier (lúc bấy giờ toàn bộ Tây Nguyên được coi là một tỉnh gọi là tỉnh Kontum, thủ phủ đặt ở Buôn Ma Thuột) chủ trương “bảo tồn” nguyên vẹn Tây Nguyên, ngăn không cho người Việt, người Hoa, và cả người Pháp lên sinh sống và khai thác Tây Nguyên. Ông muốn giữ không chỉ đất đai, mà cả con người, văn hoá, xã hội Tây Nguyên mà ông khá am hiểu trong trạng thái đúng như khi nó được “tìm thấy”, không để cho vùng đất, người, văn hoá và xã hội cổ truyền tốt đẹp này bị tổn thương vì sự xâm nhập của các thế lực ngoại lai. Ông kiên trì thu phục được các tù trưởng bản địa (Ama Thuột chính là một tù trưởng có ảnh hưởng lớn trong vùng Ê Đê, đã quy thuận, hợp tác với Sabatier, và làng của ông, Buôn Ma Thuột Shortcode[có thể dịch sát nghĩa: Làng của Cha thằng Thuột]

, trở thành thủ phủ của toàn vùng. Sabatier tự biến mình thành một tù trưởng đứng đầu toàn xứ, tổ chức nhiều cuộc ăn thề kết nghĩa trung thành với các tù trưởng lớn trong vùng, thiết lập một bộ máy và một phương thức cai trị dựa trên luật tục của các dân tộc bản địa…

Chính sách “đóng cửa Tây Nguyên” của Sabatier vấp phải sự chống đối của các thế lực thực dân muốn đổ xô vào khai thác vùng đất màu mở này. Cuối cùng, do áp lực gay gắt của họ, Sabatier bị lật đổ, ông đã thất bại trong ý đồ có thể tốt đẹp nhưng ảo tưởng của ông… Từ đó các nhà thực dân Pháp mới bắt đầu khai thác Tây Nguyên, chủ yếu là lập các đồn điền cà phê, cao su, chè do người Pháp làm chủ, sử dụng một số công nhân người Việt được đưa lên đây, và dần dần có thêm ít nhiều công nhân người Tây Nguyên…

Chính trong thời gian cai trị của người Pháp, đã đào tạo được một số trí thức trong các dân tộc bản địa Tây Nguyên, chủ yếu trong hai ngành y tế và giáo dục. Hầu như tất cả các trí thức này về sau đều trở thành cán bộ nòng cốt của cách mạng ở Tây Nguyên…

Chỉ hơn một tháng sau Cách mạng Tháng Tám, quân Pháp đã trở lại đánh chiếm Nam Bộ, tiếp liền sau đó là Tây Nguyên. Đáng chú ý là suốt 9 năm chiến tranh Pháp không chiếm được vùng duyên hải Nam Trung Bộ từ nửa tỉnh Quảng Nam vào đến Phú Yên, nhưng họ lại tập trung sức quyết chiếm Tây Nguyên. Ấy là vì vị trí chiến lược hết sức quan trọng của Tây Nguyên, về mặt quân sự “ai làm chủ được Tây Nguyên thì sẽ làm chủ cả miền nam Đông Dương”. Cuộc kháng chiến 9 năm ở vùng Nam Trung Bộ (lúc bấy giờ gọi là Liên khu 5) chính là cuộc giành giật quyết liệt giữa ta và địch vùng cao nguyên chiến lược này. Chính qua cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung này mà các dân tộc Tây Nguyên đã trở nên gần gũi và gắn bó ngày càng sâu sắc với cách mạng, với cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trở thành một bộ phận khắng khít không thể tách rời của cộng đồng rộng lớn đó. Từ những cơ sở chính trị đầu tiên được kiên trì xây dựng, tiến lên thành những cơ sở du kích vũ trang, các làng chiến đấu kiên cường, đến cuối những năm kháng chiến chống Pháp Tây Nguyên đã có thể trở thành địa bàn thuận lợi cho các đơn vị chủ lực mở những chiến dịch ngày càng lớn, cho đến chiến dịch Đông- Xuân 1953-54, phối hợp với Điện Biên Phủ, giải phóng hoàn toàn tỉnh Kontum và toàn bộ vùng Bắc Tây Nguyên…

Từ sau năm 1954 đến năm 1959-60, Tây Nguyên đã trải qua một giai đoạn rất đặc biệt. Đây là thời kỳ phong trào cách mạng ở miền Nam bị đánh phá hết sức ác liệt, tổn thất nặng nề trong các chiến dịch “chống cọng, tố cọng” của chính quyền Sài Gòn. Những cán bộ cọng sản không còn trụ lại được ở đồng bằng phải lánh lên miền núi để bảo tồn lực lượng. Họ phải lặn mình trong đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, dựa vào dân, được dân bảo vệ, nuôi dưỡng mà tồn tại. Chính trong hoàn cảnh này công tác vận động quần chúng đã được thực hiện tốt hơn cả. Để tồn tại, và là tồn tại để rồi sẽ đến lúc bùng dậy giành lại thế tấn công, những người cọng sản không chỉ dựa vào dân để được che chở mà còn phải ra sức gây dựng và phát triển tốt nhất, sâu nhất mọi mặt đời sống xã hội ở vùng dân tộc, và để làm được điều đó lại phải hiểu biết sâu sắc hơn bao giờ hết những đặc điểm quan trọng nhất của xã hội này, tôn trọng và vận dụng những đặc điểm đó trong công tác vận động quần chúng. Kết quả là trong khi phong trào cách mạng ở đồng bằng phải trải qua một giai đoạn thoái trào nghiêm trọng, thì ở miền núi và vùng đồng bào các dân tộc Tây Nguyên ngược lại không hề có thoái trào, mà là phát triển mạnh mẽ và sâu sắc. Thậm chí ở một số vùng đã thực hiện được những điều kỳ lạ: như ở vùng người Cơ Tu và người Cà Dong thuộc miền núi Quảng Nam, một số cán bộ trụ bám ở lại tại đây đã tự mình mày mò sáng tạo ra chữ viết cho hai dân tộc này và từ năm 1954 đến năm 1959 đã thanh toán xong nạn mù chữ trong đồng bào dân tộc ở đây… Chính trên cơ sở đó mà khi bước vào cuộc chiến tranh chống Mỹ Tây Nguyên đã đạt đến một thời kỳ có thể gọi là cao trào, sự đóng góp của Tây Nguyên vào công cuộc chống Mỹ cứu nước là vô cùng to lớn. Không thể hình dung cuộc chiến đấu vĩ đại này và chiến công giải phóng Sài Gòn nếu không có Tây Nguyên…

Tóm lại, do những điều kiện lịch sử đặc trưng, các dân tộc Tây Nguyên đến với cộng đồng các dân tộc Việt Nam khá muộn, nhưng quá trình gia nhập và gắn bó với cộng đồng này lại rất nhanh và sâu sắc. Cho đến năm 1975, tình hình Tây Nguyên là rất tốt về mọi mặt.

4 – Về các dân tộc Tây Nguyên.

Tây Nguyên có khoảng 20 dân tộc khác nhau. Nói là “khoảng” vì có dân tộc theo bảng phân định dân tộc chính thức của nhà nước hiện nay được coi là một nhánh của một dân tộc chung lớn hơn, nhưng cho đến nay lại không chịu chấp nhận cách phân loại đó mà tự coi mình là một dân tộc riêng. Như người Cà Dong ở miền núi tây Quảng Nam, theo bảng phân loại dân tộc học của nhà nước là một nhánh của dân tộc Xơ Đăng, nhưng hầu hết người Cà Dong nhất định tự coi mình là một dân tộc riêng với tất cả các đặc điểm riêng của một dân tộc độc lập…

Các dân tộc ở Tây Nguyên thuộc hai ngữ hệ khác nhau: Môn-Khơme (hay Nam Á) và Malayo-Polynésien (hay Nam Đảo). Quan sát sự phân bố các dân tộc ở Tây Nguyên theo ngữ hệ có thể thấy một điều đáng chú ý: thuộc ngữ hệ Môn-Khơme có các dân tộc ở Bắc Tây Nguyên từ khoảng giữa tỉnh Gia Lai hiện nay trở ra, như các dân tộc Xơ Đăng, Cơ Tu, Dẻ Triêng, Rơ Mâm, Ba Na, Brâu…, và các dân tộc ở miền Nam Tây Nguyên từ nửa tỉnh Đắc Lắc trở vào như các dân tộc Mơ Nông, Kơ Ho, Mạ, Sre, Stiêng… Chen vào giữa, trên vùng đất từ giữa tỉnh Gia Lai hiện nay cho đến nửa tỉnh Đắc Lắc, là các dân tộc thuộc ngữ hệ Malayo-Polynésien gồm người Gia Rai, người Ê Đê, người Chu Rú, người Rakglei. Người Chàm sống ở vùng duyên hải nam Trung Bộ cũng thuộc ngữ hệ này. Có tác giả đã giải thích hiện tượng này như sau: Từ xa xưa Tây Nguyên vốn là vùng đất của các dân tộc Môn-Khơme. Các dân tộc Malayo-Polynésien đã từ các đảo phía nam đến, trước tiên đổ vào dải đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ hiện nay. Các dân tộc này đã chịu ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ, trong số đó riêng người Chàm đã phát triển thành một vương quốc hùng mạnh, và ép các dân tộc ở cạnh mình ra, buộc họ phải tìm cách tràn lên vùng đất cao phía tây. Do địa hình dốc đứng trên sườn phía đông của cao nguyên này, họ chỉ có thể tràn lên theo một số đường độc đạo nhất định: người Gia Rai đã lên theo đường đèo An Khê (tức đường 19 hiện nay) và đường Bà Lá, Cà Lúi, lên Cheo Reo, Ayun Par (tức đường số 25), chiếm cao nguyên Gia Lai; Người Ê Đê lên theo đường đèo Phượng Hoàng (tức đường 26 hiện nay) chiếm cao nguyên Đắc Lắc; Người Rakglei thì tạt lên mạn tây Khánh Hòa, Bình Thuận, Ninh Thuận, ở đây địa hình dốc đứng cản trở họ có thể lên xa hơn. Như vậy các dân tộc Malayo-Polynésien đã từ đồng bằng nam Trung Bộ tiến về phía tây, chen vào giữa như một chiếc nêm, ép các dân tộc Môn-Khơme ra hai đầu. Đương nhiên điều này diễn ra trong những thời kỳ lịch sử rất xa xưa, có thể khi Biển Đông còn cạn, miền nam bán đảo Đông Dương có thể còn gắn liền với các đảo Nam Á.

Đông, mạnh nhất ở Tây Nguyên là dân tộc Gia Rai, rồi đến người Ê Đê, người Ba Na, người Xơ Đăng… Cũng có những dân tộc rất nhỏ như người Châu ở trong thung lũng Mường Hon của núi Ngok Linh, chỉ có khoảng 80 người…

II- Hai vấn đề lớn trong xã hội Tây Nguyên cổ truyền

A – Làng

Trong xã hội Tây Nguyên cổ truyền, vẫn còn rất đậm nét cho đến tận ngày nay, làng là đơn vị xã hội cơ bản và duy nhất. Không có đơn vị xã hội cao hơn làng. Trong nhiều ngôn ngữ các dân tộc Tây Nguyên không có từ để chỉ đơn vị cao hơn làng. Boon trong tiếng Mơ Nông, Buôn trong tiếng Ê Đê, Plei trong tiếng Gia Rai, Ba Na, Veil trong tiếng Cơ Tu… đều có nghĩa là làng. Ngày trước trong một số dân tộc có từ T’ring dùng để chỉ liên minh giữa một số làng, nhưng đấy chỉ là những liên minh tạm thời để cùng nhau đối phó với một số trở lực nào đó, khi trở lực ấy đã được giải quyết thì những liên minh đó cũng tan rã, không hề có lãnh thổ và tổ chức hành chính tương đương.

Trong xã hội cổ truyền Tây Nguyên cũng không có đơn vị nhỏ hơn làng. Ở đây ý thức về cá nhân chưa phát triển, không có cá nhân độc lập đối với làng. Khi gặp một người Tây Nguyên, hỏi anh ta tên gì, thì phản xạ tự nhiên đầu tiên của anh ta là trả lời : Tôi là người của làng X hay Y nào đấy. Gạn hỏi kỹ hơn nữa : Nhưng anh tên là gì ?, lúc đó anh ta mới trả lời rõ hơn : Tôi là A hay B ở làng X hay Y. Vẫn không thể quên làng. Con người là một bộ phận nhỏ chìm trong cộng đồng làng, hoaf tan trong làng, không thể tách rời khỏi làng. Ở Tây Nguyên, hình phạt nặng nề nhất, nổi đau đớn lớn nhất, điều nhục nhã nhất đối với một người là bị đuổi khỏi làng. Thậm chí trong trường hợp đó con người mất luôn cả tính người, không làng nào khác chấp nhận anh ta nữa, anh ta sẽ trở thành như một con thú, lang thang và chết vùi trong rừng. Nếu ta thường nói người Tây Nguyên có tính cộng đồng rất cao, thì tính cộng đồng đó là tính cộng đồng làng, thậm chí còn sâu đậm và cụ thể hơn cả ý thức về tộc người. Một người Ba Na biết mình là người Ba Na, nhưng ý thức về tộc người Ba Na không sâu đậm bằng ý thức về làng của mình. Ngày trước, trong chiến tranh bộ lạc, không phải chẳng hạn mấy làng Ba Na này liên minh lại đi đánh nhau với mấy làng Gia Rai kia, mà là hai ba làng Ba Na này liên minh với vài ba làng Gia Rai kia đi đánh hai ba làng Gia Rai khác liên minh với vài ba làng Ba Na khác.

Làng được điều hành bằng một tổ chức đặc biệt là Hội đồng già làng, gồm đại diện của các hộ trong làng. Đứng đầu Hội đồng già làng là chủ làng. Già làng là những người hiền minh nhất của làng, những người am hiểu rừng núi, đất đai, phong tục tập quán, giàu kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm sống, giỏi giang trong đối ngoại, và là người có đức độ cao, được dân làng bầu lên, có thể bị truất phế khi có những vi phạm đối với các quy định truyền thống của làng… Những người như vậy thường là những người đã cao tuổi, nhưng cũng có những người còn khá trẻ vẫn được bầu làm già làng nếu được sự tin cậy và kính trọng của toàn làng.

Hội đồng già làng quản lý làng theo một hệ thống luật pháp đặc biệt : luật tục (droit coutumier) của làng, tức những điều được cả cộng đồng công nhận và tuân theo như là luật, song lại tồn tại dưới hình thức là những phong tục. Cũng có người dịch là tập quán pháp, tức những tập quán được cả cộng đồng tuân thủ như luật. Già làng chính là những người am hiểu tường tận luật tục. Trong Hội đồng già làng thường có một người có chức năng phân xử mọi bất đồng hay vi phạm bằng hình thức tòa án luật tục của làng.

Sức sống bền vững của làng ở Tây Nguyên quả thật rất kỳ lạ, trải qua tất cả các biến động của lịch sử. Trong các cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ vừa qua, nhiều lúc làng bị đánh dữ dội, bị xé nát, bị di chuyển đi xa, nhưng rồi cộng đồng làng lại được khôi phục, hồi sinh. Cho đến nay, mặc dầu bị xáo trộn rất dữ trong những chuyển động xã hội suốt mấy mươi năm qua, về cơ bản cộng đồng làng vẫn còn. Một bằng chứng đáng chú ý là trong mấy cuộc bạo động vừa rồi ở Tây Nguyên, làng nào đã đi biểu tình thì bao giờ cũng đi nguyên cả một làng, không bao giờ có hiện tượng đi lẻ tẻ, và đã đi cả làng thì bao giờ cũng là do già làng dẫn đầu.

Trong công tác vận động quần chúng ở Tây Nguyên thời chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, kinh nghiệm thành công quan trọng nhất là phải hiểu biết sâu xa và dựa chắc vào đặc điểm xã hội này, phát huy được vai trò của làng, của già làng trong mọi việc, ở mọi tình huống. Không hiểu và nắm được làng và già làng, thì sẽ không hiểu và nắm được gì cả ở Tây Nguyên, mọi công việc ắt thất bại. Và nếu làng ở đây tan rã thì nguy cơ rối loạn xã hội sẽ rất lớn.

B – Sở hữu Đất và Rừng

Ở Tây Nguyên, rừng núi mênh mông vậy nhưng đều có chủ rành mạch, cụ thể. Không có đất và rừng vô chủ. Người chủ của đất và rừng chính là các làng, từng làng. Rừng núi, tất cả đã được “chia” cho từng làng từ xa xưa, “đã là như vậy từ tổ tiên muôn đời truyền lại”, đã được “Yang (tức Thần linh) giao cho từng làng”, có ranh giới rất rõ rệt. Đất, rừng của làng là thiêng liêng, không ai được xâm phạm, không ai được làm ô uế. Người ta gọi đó là Quyền sở hữu tập thể của cộng đồng làng đối với đất và rừng.

Sở hữu rừng của một làng gồm có những loại rừng sau đây :

– Rừng đã biến thành đất thổ cư ;

– Rừng sản xuất, tức khu rừng dân làng khai thác để làm rẫy ;

– Rừng sinh hoạt, là nơi dân làng tìm lấy những thứ cần thiết cho mọi sinh hoạt của mình : con ong, cái mật, dây mây, rau ăn, con thú để săn bẫy, gỗ để làm nhà…:

– Rừng thiêng (hay rừng ma) là nơi trú ngụ của các Yang (Thần linh), không ai được động đến, thường là rừng đầu nguồn. Đây thực chất là kinh nghiệm giữ rừng đầu nguồn được tích lũy lâu đời của người dân, bọc bên ngoài là một lớp vỏ tín ngưỡng.

Tất cả các loại rừng đó hợp thành không gian sinh tồn (espace vital), hay cũng có người như Condominas gọi là không gian xã hội (espace social) của làng. Một làng cần có đủ các loại rừng kể trên để có thể sinh tồn như một không gian xã hội, làm nên tế bào cơ bản của xã hội Tây Nguyên.

Hội đồng già làng quản lý sở hữu tập thể này của cộng đồng làng bằng một hệ thống luật tục chặt chẽ và sinh động. Chính Hội đồng già làng chia khu rừng sản xuất cho các hộ trong làng để làm rẫy theo đúng những quy định trong luật tục, cũng theo đúng những quy định đó khai thác khu rừng sinh hoạt cho các nhu cầu hằng ngày của mình, giữ gìn khu rừng thiêng, và tôn trọng đúng các tập quán trong làng, tức trong khu rừng đã biến thành đất thổ cư, thành làng. Hằng năm, đất rừng làm rẫy có thể được điều chỉnh lại giữa các hộ nếu có người đông lên hay giảm đi. Về nguyên tắc, các hộ trong làng có thể chuyển đổi đất rừng canh tác cho nhau, nhưng tuyệt đối không được chuyển nhượng ra khỏi làng.

Như vậy, hai đặc điểm quan trọng của xã hội cổ truyền Tây Nguyên, Làng và Sở hữu tập thể của cộng đồng làng đối với đất và rừng gắn chặt với nhau. Chúng ta thấy rõ làng Tây Nguyên là “làng rừng” và là :

– một cộng đồng cư trú ;

– một cộng đồng sở hữu và lợi ích ;

– một cộng đồng tâm linh ;

– một cộng đồng văn hoá.

Quyền sở hữu tập thể của cộng đồng làng đối với đất và rừng chính là nền tảng kinh tế, vật chất của thực thể cộng đồng làng. Toàn bộ đời sống vật chất, kinh tế, văn hoá, tinh thần, tâm linh, đạo đức của làng, của con người Tây Nguyên tồn tại trên nền tảng này. Sẽ rối loạn, đổ vỡ tất cả khi nền tảng này bị tổn thương và mất đi.

III – Tây Nguyên từ sau năm 1975

A – Những chủ trương lớn đối với Tây Nguyên từ sau năm 1975

Từ sau năm 1975, đối với Tây Nguyên chúng ta có hai chủ trương chiến lược:

* Xây dựng Tây Nguyên thành một địa bàn vững chắc về an ninh và quốc phòng, tương xứng với vị trí chiến lược của vùng cao nguyên quan trọng này.

* Xây dựng Tây Nguyên thành một vùng trọng điểm kinh tế của cả nước.

Để thực hiện chủ trương chiến lược đó, đã :

– Tăng cường lực lượng lao động lớn cho Tây Nguyên bằng cách tiến hành một cuộc đại di dân chưa từng có, chủ yếu từ đồng bằng châu thổ sông Hồng và vùng duyên hải Nam Trung Bộ lên Tây Nguyên. Theo kế hoạch ban đầu, dự kiến sẽ đưa lên Tây Nguyên 5 triệu dân. Kế hoạch này cũng đồng thời nhằm giải toar áp lực dân số cho hai vùng đồng bằng nói trên.

– Tổ chức toàn bộ Tây Nguyên thành các đơn vị kinh tế lớn : trong 10 năm đầu là các Binh đoàn làm kinh tế, gồm 3 binh đoàn 331, 332, 333 bao trùm gần toàn bộ Tây Nguyên. Mười năm sau, quân đội giao lại cho dân sự, các binh đoàn làm kinh tế chuyển thành các Liên Hiệp Xí nghiệp Nông, Lâm, Công nghiệp (LHXNNLCN), cũng bao trùm gần hết Tây Nguyên. Sau 10 năm nữa, nhận thấy mô hình quản lý này không hiệu quả, đã giải tán các LHXNNLCN, tổ chức lại thành các nông trường, lâm trường thuộc tỉnh hoặc thuộc trung ương.

Toàn bộ đất và rừng ở Tây Nguyên được quốc hữu hoá, được lấy giao cho các binh đoàn làm kinh tế, các LHXNNLCN, các nông trường, lâm trường, và giao cho dân di cư từ đồng bằng lên. Người bản địa chỉ còn phần đất thổ cư và một ít đất làm rẫy.

B – Một số ngộ nhận hoặc hời hợt trong chủ trương, chính sách đối với Tây Nguyên

* Về quyền sở hữu đất và rừng.

Ngộ nhận lớn nhất, tai hại nhất khi lập chủ trương, chính sách đối với Tây Nguyên là ta hầu như hoàn toàn không biết, không hề quan tâm đến quyền sở hữu truyền thống ở Tây Nguyên đối với đất và rừng. Ta đã ngộ nhận đất, rừng Tây Nguyên là vô chủ, là đất giữa trời, chẳng của ai hết. Ta đã hành động ở Tây Nguyên như trên một vùng đất không có người, lấy đất và rừng từ ngàn đời nay đã “được Yang giao cho làng”, từng làng, đem giao cho các đơn vị làm kinh tế mới được lập lên và cho hàng triệu người nơi khác được đưa đến, một cách hết sức “vô tư”. Đây là điều chưa từng diễn ra trong suốt lịch sử lâu dài ở Tây Nguyên từ xưa đến nay.

* Về phương thức canh tác ở Tây Nguyên : người Tây Nguyên có du canh, du cư ?

Để làm mọi việc ở Tây Nguyên, cũng như ở nhiều vùng miền núi khác, ta đã chủ trương trước hết phải định canh, định cư. Công tác định canh, định cư được coi là biện pháp hàng đầu, quan trọng, quyết định nhất, trước khi tiến hành mọi việc khác. Chủ trương đó dựa trên nhận định người Tây Nguyên vốn du canh, du cư, và du canh, du cư, làm rẫy thì phá rừng… Vậy người Tây Nguyên có du canh, du cư, phá rừng ?

Hãy thử nhìn vào kiến trúc ở Tây Nguyên. Một số dân tộc thuộc ngữ hệ Môn-Khơ Me ở phía Bắc Tây Nguyên có kiến trúc nhà rông rất đặc sắc. Nhà rông làng Kông Rơ Bàng của người Ba Na ở Kontum, được dựng lại đúng y nguyên mẫu, đúng nguyên kích thước tại Bảo tàng Dân tộc học Hà Nội, cao đến vài chục mét, bằng một tòa nhà 5 tầng, cột nhà rông to hai người ôm, mái cao vút sừng sững. Những dân tộc thuộc ngữ hệ Malayo-Polynésien không có nhà rông thì lại có kiến trúc nhà dài đặc sắc không kém. Nhà dài của ông Ama Thuột (tại thành phố Buôn Ma Thuột hiện nay) ngày trước dài đến gần 200 mét, đến nổi khi người chủ nhà muốn tập họp con cháu trong nhà thì phải thổi tù và. Các làng Ê Đê hiện nay vẫn còn những nhà dài đến vài ba chục mét, cây đòn dông trên mái nhà là một cây gỗ nguyên khối, không thể tìm thấy chỗ nối… Những dân tộc có kiến trúc vững chãi, đồ sộ như vậy chắc chắn không thể là những dân tộc sống tạm bợ, lang thang nay đây mai đó. Họ không hề du cư. Người Tây Nguyên chỉ dời làng trong mấy trường hợp : khi có dịch bệnh, chết nhiều người, “đất làng độc, có ma” ; hoặc khi mất nguồn nước uống bao giờ cũng được dẫn từ trên đỉnh núi cao xuống, bảo đảm trong sạch ; và trong trường hợp chiến tranh bộ lạc ngày trước… Còn thì làng là làng định cư ở một vị trí thuận lợi cho phương thức canh tác cũng không hề du canh. Người Tây Nguyên làm rẫy bằng cách đốt một khoảnh rừng và tỉa lúa xuống đấy. Chất mùn do lá rụng lâu năm và chất tro đốt có tác dụng phân bón. Một khoảnh đất canh tác như vậy trong hai hay ba năm thì bạc màu, người ta để hưu canh (ở Tây Nguyên gọi là “rẫy dế”), chuyển sang đốt một khoảnh rừng khác. Kỹ thuật chặt và đốt rừng làm rẫy được quy định rất chặt chẽ trong luật tục, không hề lãng phí và không bao giờ để xảy ra cháy rừng… Mỗi hộ trong làng thường có từ 10 đến 20 rẫy. Khi đã khai thác đến rẫy thứ 10 hay thứ 20, quay lại rẫy đầu tiên thì đã là 40 đến 60 năm, đủ thời gian cho rừng tái sinh. Đấy là phương thức tìm lấy thức ăn từ rừng và nuôi rừng khôn ngoan đã được tích luỹ và thử thách hàng nghìn đời. Cuốn sách nổi tiếng Chúng tôi ăn rừng… của nhà dân tộc học George Condominas chính là nói về cách sinh sống này của người Mơ Nông Gar ở nam Đắc Lắc. Đây là phương thức canh tác “luân khoảnh” – cách gọi đúng hơn “luân canh”, luân canh có thể được hiểu là năm nay trồng loại cây này sang năm chuyển sang trồng loại cây khác. Kinh nghiệm được tổng kết ở nhiều nơi trên thế giới cho thấy nếu mật độ dân số không quá 10 người / km² thì làm rẫy không hề phá rừng. Làng Tây Nguyên định cư ở tâm điểm của vòng luân khoảnh ấy. Trong thực tế những thời gian cần phải làm việc nhiều ở rẫy những người lao động chính thường sống ở chòi rẫy, trong làng chỉ còn người già và trẻ em. Hết mùa rẫy làng lại đông vui, đây cũng là mùa “Ninh Nông” (mùa không làm rẫy), mùa lễ hội tưng bừng của Tây Nguyên.

Không hiểu đúng phương thức sinh sống và canh tác truyền thống của người Tây Nguyên, nhận định một cách cảm tính rằng người Tây Nguyên du canh, du cư, làm rẫy phá rừng… thì tất yếu không thể hiểu làng, cơ cấu, nền tảng vật chất, không gian sinh tồn, vai trò, vị trí của làng, tế bào cơ bản của xã hội Tây Nguyên. Tức cũng không thể hiểu đúng xã hội này, lại vào lúc chúng ta đang muốn tạo ra những thay đổi to lớn nhất xưa nay chưa từng có trên vùng đất và người ở đây. Cuộc vận động định canh định cư, thực chất mang nhiều tính chất ép buộc, cũng đã góp phần phá vỡ các làng Tây Nguyên cổ truyền, làm xáo trộn xã hội.

* Hiểu rừng, cội nguồn của văn hoá và đời sống tâm linh ở Tây Nguyên

Đối với người Tây Nguyên, rừng không chỉ là tài nguyên, thậm chí cũng không chỉ là “môi trường”, “sinh thái” như cách hiểu thông thường của chúng ta về môi trường, sinh thái. Người Tây Nguyên có phong tục “bỏ mả”. Khi một người chết, người ta chôn trong một ngôi mộ tạm, con người ấy còn được coi như chưa đi hẳn khỏi thế giới này. Hàng ngày, người ta vẫn mang cơm nước và các vật dụng ra mộ để “nuôi” như nuôi một người còn sống. Trong thời gian đó, lâu ngắn tuỳ theo điều kiện của từng gia đình, người ta chuẩn bị một ngôi nhà mồ thật đẹp (trên chính ngôi mộ tạm), khi mọi việc đã xong thì làm lễ bỏ mả, một trong những lễ hội lớn và quan trọng nhất ở Tây Nguyên, diễn ra trong mùa Ninh Nông. Cả làng đều tham gia, nhiều làng lân cận cũng kéo đến, người ta làm lễ tiễn đưa người chết mãi mãi đi khỏi thế gian này. Sau lễ lớn đó, ngôi mộ sẽ bị bỏ hẳn, không ai chăm sóc, viếng thăm gì nữa. Con người ấy, theo quan niệm của người Tây Nguyên, vốn là một mẩu nhỏ của rừng vô tận và trường cữu, từ trong thăm thẳm không cùng của rừng mà đi ra, nay lại mãi mãi trở về với cội nguồn của mình là rừng, được trả về cho cội nguồn đó. Con người là một bộ phận nhỏ, và cũng có thể nói là tạm thời của thực thể to lớn và vĩnh cữu là rừng. Rừng mới là tất cả, là trường tồn, con người và cuộc sống trần thế của con người chỉ là một phần rất nhỏ, thoáng qua của thực thể bao trùm kia.

Người Tây Nguyên, tự trong sâu thẳm của họ, có một tình cảm thân thiết ruột thịt và một lòng kính trọng thiêng liêng đối với rừng, họ coi từng cây rừng đúng như một sinh vật sống chẳng hề thua kém con người, cũng có linh hồn ngang bằng con người, cũng đầy cảm xúc, vui mừng, hạnh phúc, đau đớn hệt con người. Khi buộc phải chặt hạ một cây gỗ cho nhu cầu thiết yếu của mình, bao giờ người Tây Nguyên cũng ân cần làm lễ xin lỗi cây, tạ ơn rừng. Người Tây Nguyên sống “theo đạo đức của rừng”, quan niệm con người cần phải hiền minh như rừng.

Như vậy ở Tây Nguyên, rừng là cội nguồn của đời sống tâm linh, tức phần sâu xa nhất trong con người và cộng đồng người, mất rừng thì con người và cộng đồng người mất đi cái nền rộng lớn, bền chặt, sâu thẳm nhất của mình, trở nên bơ vơ, “tha hoá”, mất gốc, mất cội nguồn.

Rừng cũng là cội nguồn của văn hoá, văn hoá Tây Nguyên là văn hoá rừng, toàn bộ đời sống văn hoá ở đây đều là biểu hiện mối quan hệ khắng khít, máu thịt của con người, cộng đồng người với rừng. Khi không còn rừng thì tất yếu văn hoá sẽ chết. Còn lại chỉ là những cái xác của văn hoá, văn hoá dỏm, giả…

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

3 thoughts on “Nguyên Ngọc về Tây Nguyên

  1. Pingback: Chào ngày mới 8 tháng 8 | Tình yêu cuộc sống

  2. Pingback: Chào ngày mới 9 tháng 8 | Tình yêu cuộc sống

  3. Pingback: Chào ngày mới 9 tháng 8 | Tình yêu cuộc sống

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s