Việt Nam vùng lãnh thổ hành chính


Việt Nam các vùng lãnh thổ và hành chính
Viet Nam Territory and Administrative Divisions
地区和行政区划

Việt Nam có 8 vùng lãnh thổ trên đất liền theo hệ sinh thái nông nghiệp

  1. Vùng Tây Bắc: gồm 4 tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình.
  2. Vùng Đông Bắc: gồm 11 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Giang, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ.
  3. Vùng đồng bằng sông Hồng: gồm 11 tỉnh Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nội, Hà Tây, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Vĩnh Phúc.
  4. Vùng Bắc Trung bộ: gồm 6 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế.
  5. Vùng Nam Trung bộ: gồm 6 tỉnh Đà Nẵng,Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà.
  6. Vùng Tây Nguyên: gồm 5 tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông, Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum.
  7. Vùng Đông Nam bộ: gồm 8 tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà rịa – Vũng Tàu, Tây Ninh.
  8. Vùng Tây Nam bộ: gồm 13 tỉnh Long An, Bến Tre, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang, Tiền Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, An Giang, Trà Vinh.

Việt Nam có 9 vùng lãnh thổ trên đất liền theo hệ sinh thái lâm nghiệp

  1. Vùng Tây Bắc: gồm 4 tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình.
  2. Vùng Trung tâm: gồm 6 tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc.
  3. Vùng Đông Bắc: gồm 6 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Giang.
  4. Vùng đồng bằng sông Hồng: gồm 10 tỉnh Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nội, Hà Tây, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Vĩnh Phúc.
  5. Vùng Bắc Trung bộ: gồm 6 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế.
  6. Vùng Nam Trung bộ: gồm 8 tỉnh Đà Nẵng,Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận..
  7. Vùng Tây Nguyên: gồm 5 tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông, Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum.
  8. Vùng Đông Nam bộ: gồm 6 tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh, Bà rịa – Vũng Tàu, Tây Ninh.
  9. Vùng Tây Nam bộ: gồm 13 tỉnh Long An, Bến Tre, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang, Tiền Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, An Giang, Trà Vinh.

Việt Nam có 6 vùng lãnh thổ công nghiệp được quy hoạch từ nay đến năm 2020.

  1. Vùng 1 gồm 14 tỉnh Bắc Kạn, Bắc Giang, Cao Bằng, Điện Biên, Hòa Bình, Hà Giang, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Phú Thọ, Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái tập trung phát triển thủy điện, chế biến nông, lâm sản, khai thác và chế biến khoáng sản, hóa chất, phân bón, luyện kim, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp cơ khí phục vụ nông nghiệp và công nghiệp chế biến.gồm 4 tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình.
  2. Vùng 2 gồm 14 tỉnh, thành Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Tĩnh, Hải Dương, Hải Phòng, Hà Nam, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Nghệ An, Quảng Ninh, Thái Bình, Thanh Hóa, Vĩnh Phúc) được định hướng tập trung phát triển ngành cơ khí, nhiệt điện, điện tử, công nghệ thông tin, hóa chất, luyện kim, khai thác và chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, tiếp tục phát triển nhanh công nghiệp dệt may, da giày phục vụ xuất khẩu, công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản.
  3. Vùng 3 gồm 10 tỉnh, thành Bình Định, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Phú Yên, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế tập trung phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, hải sản, lọc và hóa dầu, cơ khí chế tạo, sản xuất vật liệu xây dựng và dệt may, da giày, ngành điện tử và công nghệ thông tin.
  4. Vùng 4 gồm 4 tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum tập trung phát triển thủy điện, công nghiệp chế biến nông, lâm sản và khai thác, chế biến khoáng sản.
  5. Vùng 5 gồm 8 tỉnh, thành Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Đồng Nai, Lâm Đồng, thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh) tập trung phát triển công nghiệp khai thác và chế biến dầu khí, điện, chế biến nông, lâm, hải sản và đặc biệt là công nghiệp cơ khí, điện tử, công nghiệp phần mềm, hóa chất, hóa dược, phát triển công nghiệp dệt may, da giày chất lượng cao phục vụ xuất khẩu, phát triển công nghiệp trên cơ sở áp dụng công nghệ cao, phát triển các sản phẩm có hàm lượng tri thức cao.
  6. Vùng 6 gồm 13 tỉnh, thành An Giang, Bạc Liêu, Bến Tre, Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Cà Mau, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long tập trung phát triển ngành công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản hướng vào xuất khẩu, các ngành công nghiệp sử dụng khí thiên nhiên, ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp, đặc biệt là công nghiệp sau thu hoạch và bảo quản, công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, cơ khí đóng tàu.

Việt Nam có 7 vùng du lịch được quy hoạch từ nay đến năm 2020 tại “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam phê duyệt ngày 30/12/2011 [3][4].

 

Tiêu chí phân vùng du lịch Việt Nam căn cứ :

“Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” ngày 22/1/2013 xác định rõ Việt Nam có 7 vùng du lịch với 24 trung tâm du lịch như sau:[5][6]

Vùng trung du vùng núi phía bắc bao gồm 14 tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Phú Thọ, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn và Bắc Giang. Vùng này có 5 trọng điểm du lịch là:

  1. Sơn LaĐiện Biên: gắn với Mộc Châu, hồ Sơn La, cửa khẩu quốc tế Tây Trang, di tích lịch sử Điện Biên Phủ và Mường Phăng.
  2. Lào Cai gắn với cửa khẩu quốc tế Lào Cai, khu nghỉ mát Sa Pa, Phan Xi Phăng và vườn quốc gia Hoàng Liên.
  3. Phú Thọ gắn với lễ hội Đền Hùng và hệ thống di tích thời đại Hùng Vương, du lịch hồ Thác Bà.
  4. Thái NguyênLạng Sơn gắn với hồ Núi Cốc, di tích ATK Định Hóa, Tân Trào, khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng, khu nghỉ mát Mẫu Sơn.
  5. Hà Giang gắn với công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, cảnh quan Mèo Vạc, Mã Pí Lèng, Na Hang…

Vùng đồng bằng sông Hồng và Duyên hải Đông Bắc gồm Thủ đô Hà Nội và các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Hải PhòngQuảng Ninh, gồm 3 trọng điểm du lịch là:

  1. Thủ đô Hà Nội gắn với hệ thống di tích lịch sử văn hóa nội thành và các cảnh quan tự nhiên vùng phụ cận.
  2. Quảng NinhHải Phòng gắn với cảnh quan biển đảo Đông Bắc đặc biệt là Hạ Long – Cát Bà, Vân Đồn, Đồ Sơn.
  3. Ninh Bình gắn với Tam Cốc – Bích Động, Hoa Lư, Tràng An, Vân Long, Cúc Phương, Tam Chúc – Ba Sao và quần thể di tích, cảnh quan vùng phụ cận.

Vùng Bắc Trung Bộ gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế. Vùng này có 3 địa bàn trọng điểm du lịch là:

  1. Thanh Hóa và phụ cận gắn với điểm du lịch quốc gia Thành Nhà Hồ, Lam Kinh, Bến En và đô thị du lịch Sầm Sơn.
  2. Nam Nghệ AnBắc Hà Tĩnh gắn với Cửa Lò, Kim Liên, Đồng Lộc, cửa khẩu Cầu Treo, núi Hồng – sông Lam, Xuân Thành…
  3. Quảng BìnhQuảng Trị gắn với Phong Nha – Kẻ Bàng, biển Cửa Tùng – Cửa Việt, đảo Cồn Cỏ, cửa khẩu Lao Bảo và hệ thống di tích chiến tranh chống Mỹ.
  4. Thừa Thiên Huế

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ gồm các tỉnh Quảng Nam, TP. Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận. Vùng này có 3 địa bàn trọng điểm du lịch là:

  1. Đà NẵngQuảng Nam gắn với Sơn Trà, Hải Vân, Hội An, Mỹ Sơn…
  2. Bình ĐịnhPhú YênKhánh Hòa gắn với các bãi biển Phương Mai, Đầm Ô Loan, vịnh Nha Trang, Cam Ranh…
  3. Bình Thuận gắn với biển Mũi Né, đảo Phú Quý…

Vùng Tây Nguyên gồm các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng. Vùng này có 3 trọng điểm du lịch là:

  1. Thành phố Đà Lạt gắn với hồ Tuyền Lâm, Đan Kia – Suối Vàng.
  2. Đắk Lắk gắn với vườn quốc gia Yokđôn và không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
  3. Gia Lai – Kon Tum gắn với cửa khẩu quốc tế Bờ Y, Măng Đen, Yaly.

Vùng Đông Nam Bộ gồm TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh. Vùng này có 3 trọng điểm du lịch:

  1. Thành phố Hồ Chí Minh gắn với khu rừng sác Cần Giờ và hệ thống di tích lịch sử văn hóa nội thành.
  2. Tây Ninh gắn với cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, núi bà Đen, hồ Dầu Tiếng.
  3. Thành phố Vũng Tàu gắn với Long Hải, Phước Hải, Côn Đảo.

Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long gồm các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Tiền Giang, Hậu Giang và TP. Cần Thơ. Vùng này có 4 trọng điểm du lịch:

  1. Tiền GiangBến Tre gắn với du lịch miệt vườn Thới Sơn.
  2. Cần ThơKiên Giang gắn với biển đảo Phú Quốc, Hà Tiên.
  3. Đồng ThápAn Giang gắn với Tứ giác Long Xuyên, vườn quốc gia Tràm Chim.
  4. Cà Mau gắn với U Minh – Năm Căn – mũi Cà Mau.

Các bài viết cùng chủ đề
VIỆT NAM TỔ QUỐC TÔI

Tập bài giảng LHS khoa Ngữ văn ĐHKHXHNV TP.HCM
Đề cương Kinh tế Xã hội Văn hóa Việt Nam
Hoàng Tố Nguyên và ctv. 2018

Việt Nam một thoáng nhìn toàn cảnh
Di sản thế giới tại Việt Nam
Vườn Quốc gia ở Việt Nam
Việt Nam giới thiệu tóm tắt
Việt Nam vùng lãnh thổ hành chính
Việt Nam đất nước và con người
Nông nghiệp Việt Nam và du lịch
Kinh tế Việt Nam một khái quát

Video yêu thích

Giới Thiệu Du Lịch Việt Nam
KimYouTube

Trở về trang chính
Học tiếng Trung Việt I Hoang To Nguyen  foodcrops.vn I Hoang Long Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

 

Bài đọc thêm


VIỆT NAM TỔ QUỐC TÔI. Nghiên cứu dịch thuật Việt Trung. Du lịch Việt Nam. Thác Bản Giốc và sông Bắc Luân là hai địa danh lịch sử văn hóa đặc biệt nổi tiếng Việt Trung. Thác Bản Giốc là thác nước hùng vĩ đẹp nhất Việt Nam tại xã Ðàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Sông Ka Long (tên gọi Việt) hoặc Sông Bắc Luân (tên gọi Trung) là sông chảy ở vùng biên giới giữa thành phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam và thành phố Đông Hưng thuộc địa cấp thị Phòng Thành Cảng, Khu tự trị dân tộc Choang tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Tuy nhiên theo các bản đồ của Việt Nam thì quan niệm về dòng chảy của sông Ka Long và sông Bắc Luân không hoàn toàn trùng khớp với quan niệm về sông Bắc Luân của Trung Quốc. Thác Bản Giốc và sông Bắc Luân là nơi lưu dấu các câu chuyên lịch sử và huyền thoại mà tư liệu này là điểm nhấn để quay lại đọc và suy ngẫm. Theo VOV 27.11. 2015 “Một thác nước tự nhiên, đẹp hùng vĩ bậc nhất thế giới nằm ở giữa ranh giới hai quốc gia, chứa đựng trong đó nhiều tiềm năng tài nguyên về thủy điện, du lịch. Một khu vực cửa sông tàu thuyền hai bên đi lại dễ dàng, giao thương thuận lợi. Tất cả những tiềm năng này đang chờ đợi sự đầu tư, hợp tác cùng khai thác” xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/2017/11/28/thac-ban-gioc-va-song-bac-luan/

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Học tiếng Trung Việt | Hoàng Tố Nguyên  Hoàng Long Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống Food Crops Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter

Advertisements

Việt Nam đất nước và con người


 

VIỆT NAM ĐẤT NƯỚC VÀ CON NGƯỜI

Hoàng Tố Nguyên và Hoàng Kim

Thông tin chọn lọc về Việt Nam đất nước và con người trên bốn yếu tố nguồn lực căn bản: Đất nước (Vị trí địa lý, khí hậu, địa hình, đất đai, sông biển, nguồn tài nguyên, nông nghiệp và du lịch); Con người (tộc người, ngôn ngữ, tôn giáo tín ngưỡng); Kinh tế Xã hội (tên gọi, thể chế chính trị, kinh tế xã hội hiện trạng). Môi trường sống (lịch sử, văn hóa, danh thắng và chất lượng sống).

Đất nước Việt Nam


Địa lý Việt Nam
:
Nước Việt Nam có tên chính thức là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đất nước Việt Nam hình chữ S, nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, ở phía đông bán đảo Đông Dương, Phía bắc Việt Nam giáp Trung Quốc, phía tây giáp Lào và Campuchia, phía đông nam trông ra biển Đông và Thái Bình Dương, phía đông và phía nam giáp biển Đông. Việt Nam có hơn 4.000 hòn đảo, bãi đá ngầm lớn nhỏ, gần và xa bờ, có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được Chính phủ Việt Nam xác định gần gấp ba lần diện tích đất liền (khoảng trên 1 triệu km²). Trên biển Đông có quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa được Việt Nam tuyên bố chủ quyền nhưng đang trong vòng tranh chấp với Đài Loan, Trung Quốc, Malaysia và Philippines, phía tây nam giáp vịnh Thái Lan.

Việt Nam có tổng diện tích đất tự nhiên 331.211,6 km² đứng thứ 65 trên thế giới, dân số Việt Nam có 95.929.429 người (18.2.2018) là nước đông dân thứ 13 trên thế giới, Thủ đô là Hà Nội. Ba thành phố chính nổi tiếng nhất của Việt Nam là Hà Nội, Huế và thành phố Hồ Chí Minh. Bờ biển Việt Nam dài 3 260 km, biên giới đất liền dài 4 510 km. Trên đất liền, từ điểm cực Bắc đến điểm cực Nam (theo đường chim bay) dài 1 650 km, từ điểm cực Đông sang điểm cực Tây nơi rộng nhất 600km (Bắc bộ), 400 km (Nam bộ), nơi hẹp nhất 50km (Quảng Bình). Kinh tuyến Việt Nam từ 102º 08′ đến 109º 28′ đông. Vĩ tuyến Việt Nam từ 8º 02′ – 23º 23′ bắc. Việt Nam là đầu mối giao thông từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương.

Khí hậu Việt Nam là khí hậu của nước nhiệt đới gió mùa. Việt Nam nằm trong vòng đai nhiệt đới của nửa cầu bắc, vì thế nhiệt độ tương đối cao, trung bình năm từ 22 – 27°C; Miền Bắc và Bắc Trung Bộ Việt Nam (tính từ đèo Hải Vân trở ra) mỗi năm có 4 mùa Xuân Hạ Thu Đông rõ rệt, nhưng Nam Trung bộ và Nam Bộ thì mỗi năm chỉ có hai mùa là mùa khô và mùa mưa. Việt Nam cũng là đất nước thường hứng chịu thiên tai, trung bình một năm đều có từ 6 đến 10 cơn bão và áp thấp nhiệt đới.

Địa hình Việt Nam phần đất liền bao gồm 3 phần 4 là đồi núi nhưng chủ yếu là đồi núi thấp, dưới 1000 m chiếm 85%, núi cao trên 2000 m chỉ chiếm 1%, một trong số đỉnh núi cao nhất ở Việt Nam là Phanxipăng thuộc tỉnh Lào Cai, 3143m. Địa hình Việt Nam rất đa dạng theo các vùng tự nhiên. Núi rừng chiếm độ 40%, đồi 40%, và độ che phủ khoảng 75%. Việt Nam có nhiều dãy núi lớn và cao nguyên phía Bắc như các dãy núi Đông Triều, Bắc Sơn, Ngân Sơn, Sông Gâm, Hoàng Liên Sơn, các cao nguyên Sơn La, Mộc Châu tạo nên trường thành chắn Bắc. Việt Nam cũng có các dãy núi xuôi Nam như Ba Vì, Tam Đảo, Trường Sơn, các dãy núi vươn ra sát biển Đông như dãy núi Hoành Sơn, Bạch Mã, Hải Vân, Đại Lãnh với các cao nguyên Kon Tum, Pleiku, Đắk Lắk, Lâm Viên, Mơ Nông, Di Linh ở Tây Nguyên. Việt Nam nhìn tổng thể gồm vùng núi trung du và đồng bằng sông Hồng phía Bắc,  vùng đất hẹp ven biển miền Trung  vùng đất đồng bằng châu thổ Cửu Long.

Đất Việt Nam có đất lâm nghiệp chiếm 29,12% diện tích đất tự nhiên, độ che phủ của rừng Việt Nam hiện nay còn khoảng 14,5 triệu ha rừng dưới 40% diện tích lãnh thổ Việt Nam.  Đất canh tác nông nghiệp chiếm 17,2% tổng diện tích đất Việt Nam. Các nhóm đất cùa Việt Nam khá đa dạng vì thế các loại cây trồng Việt Nam cũng rất đa dạng. Hai vùng đồng bằng lớn của Việt Nam là Đồng bằng sông Cửu Long diện tích 40.548,2 km² chiếm 13% diện tích cả nước, do phù sa của hệ thống sông Mê Kông bồi đắp; Đồng bằng sông Hồng diện tích khoảng 15.000 km², chiếm 4,6% diện tích của cả nước do phù sa nhiều sông, nhưng chủ yếu là sông Hồng và hệ thống sông Thái Bình bồi đắp.

Sông biển Việt Nam. Đất nước Việt Nam có một mạng lưới sông ngòi dày đặc gồm 2.360 con sông dài trên 10 km, chảy theo hai hướng chính là tây bắc- đông nam và vòng cung. Hai sông lớn nhất là sông Mê Công và sông Hồng tạo nên hai vùng đồng bằng rộng lớn và phì nhiêu. Hệ thống các sông suối hàng năm được bổ sung tới 310 tỷ m3 nước. Chế độ nước của sông ngòi chia thành mùa lũ và mùa cạn. Mùa lũ chiếm tới 70-80% lượng nước cả năm và thường gây ra lũ lụt. có mạng lưới sông ngòi dày đặc. Biển Đông bao bọc phía đông, nam và tây nam Việt Nam. Các vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được Chính phủ Việt Nam xác định gần gấp ba lần diện tích đất liền khoảng trên 1 triệu km².

Nguồn tài nguyên Việt Nam là khá phong phú. Về tài nguyên đất, Việt Nam có nhiều loại đất trồng thích hợp với nhiều loại cây trồng, có rừng tự nhiên và nhiều mỏ khoáng sản trên đất liền với phốt phát, than đá, chôrômát, vàng, sắt. Về tài nguyên biển hải sản có cá, tôm, dầu mỏ, khí tự nhiên, hệ thống sông hồ nhiều thuận lợi cho sinh cảnh tươi tốt, tiềm năng thủy điện dồi dào, nhất là miền núi phía bắc và Tây Nguyên. Tài nguyên thiên nhiên thuận lợi và tài nguyên con người hiền hòa, thân thiện, anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang, năng động, sáng tạo, sống có trách nhiệm với mái nhà chung Trái Đất, thích làm bạn với nhân dân thế giới.

Đơn vị hành chính Việt Nam có 63 tỉnh và thành phố, trong đó có 58 tỉnh và 5 thành phố trực thuộc trung ương (*) với thủ đô là Hà Nội. Danh sách 63 đơn vị hành chính Việt Nam cấp tỉnh và tương đương lần lượt (sắp xếp theo bảng chữ cái):

Dưới cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương là cấp quận, huyện, thị xã và thành phố trực thuộc tỉnh. Tính đến năm 2015, Việt Nam có 713 đơn vị cấp quận/ huyện/ thị xã/ thành phố thuộc tỉnh.

Nông nghiệp Việt Nam Du lịch sinh thái ẩm thực Việt là quan trọng và có chuyên đề riêng để đề cập sâu hơn: Nông nghiệp là nền tảng của kinh tế Việt Nam. Bảy vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam; Đặc điểm bảy vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam; Hiện trạng tầm nhìn lao động nông nghiệp Việt Nam;  Du lịch sinh thái ẩm thực Việt.

Con người Việt Nam

Các Dân tộc tại Việt Nam:  Việt Nam là đất nước của 54 dân tộc (và  1 nhóm “người nước ngoài”, nêu trong Danh mục các dân tộc Việt Nam, theo Quyết định số 421, ngày 2/3/1979 của Tổng cục Thống kê). Họ cùng chung sống hòa thuận trên đất Việt Nam chia theo ngôn ngữ thì có 8 nhóm (Việt-Mường;Tày-Thái; Dao-Hmông; Tạng-Miến;  Hán; Môn-Khmer; Mã Lai-Đa đảo:hỗn hợp Nam Á) , trong đó đông nhất là dân tộc Kinh chiếm 86,2 % dân số. Ngôn ngữ chính sử dụng là tiếng Việt theo nhóm Việt-Mường. Người Kinh sinh sống trên khắp toàn thể nước Việt Nam và một số nước khác nhưng đông nhất vẫn là các vùng đồng bằng và thành thị trong nước. Các dân tộc thiểu số đông dân và có số lượng dao động trên dưới một triệu người gồm  Tày, Thái, Mường, Khmer, H’Mông,  Nùng, Hoa, người Dao, Gia Rai, Ê Đê, Chăm, Sán Dìu, Ra Glai,  Đa số các dân tộc này sống ở miền núi và vùng sâu vùng xa ở miền Bắc, Tây Nguyên, miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long. Các dân tộc có dân số ít nhất chỉ có trên 300 người như Brâu, Ơ đu và Rơ Măm. Dân tộc Kinh sống rải rác ở trên khắp lãnh thổ, nhưng tập trung nhiều nhất ở các đồng bằng và châu thổ các con sông. Họ là chủ nhân của nền văn minh lúa nước. Đa số các dân tộc còn lại sinh sống ở miền núi và trung du, trải dài từ Bắc vào Nam; hầu hết trong số họ sống xen kẽ nhau, điển hình là cộng đổng dân tộc thiểu số ở phía Bắc và Bắc Trung Bộ. Các dân tộc thiểu số có trình độ phát triển không đồng đều. Ở Trung du và miền núi phía Bắc, các cư dân ở vùng thấp như Mường, Thái, Tày, Nùng sinh sống chủ yếu bằng canh tác lúa nước và nương rẫy, chăn nuôi gia súc và gia cầm, có một phần hái lượm, săn bắn, có nghề thủ công khá tinh xảo. Các dân tộc thiểu số ở phía Nam sống biệt lập hơn. Các dân tộc thiểu số ởTây Nguyên phần lớn sống theo tổ chức buôn-làng, kiếm sống dựa vào thiên nhiên mang tính tự cung tự cấp.. Người dân tộc Chăm, Hoa và Khmer sống ở vùng duyên hải miền Trung và Nam Bộ có trình độ phát triển cao hơn, tạo thành những cụm dân cư xen kẽ với người Kinh.  Tất cả các nhóm dân tộc đều có nền văn hóa riêng biệt và độc đáo. Tín ngưỡng và tôn giáo của các dân tộc cũng khác biệt.

Nguồn gốc người Việt và các dân tộc tại Việt Nam. Hai giả thuyết:  1) Giả thuyết bản địa cho rằng nguồn gốc chính từ người Việt bản địa, vốn là chủ nhân của các nền văn hóa thời kỳ đồ đá tại Việt Nam từ 7.000 -20.000 năm trước. Giả thuyết thiên di cho rằng nguồn gốc của các dân tộc Việt Nam bắt nguồn từ Tây Tạng hoặc Hoa Nam, di cư đến Việt Nam vào thời kỳ đồ đá muộn. Quá trình hình thành các dân tộc Việt Nam  theo các tài liệu phổ biến trong thế kỷ XX thì có thể chia thành ba giai đoạn:

  1. Vào thời kỳ đồ đá giữa khoảng 20.000-10.000 năm trước), có một bộ phận thuộc Đại chủng Á, sống ở tiểu lục địa Ấn Độ di cư về phía đông, tới vùng ngày nay là Đông Dương thì dừng lại. Tại đây, bộ phận của Đại chủng Á kết hợp với bộ phận của Đại chủng Úc bản địa và kết quả là sự ra đời của chủng Cổ Mã Lai.
  2. Cuối thời kỳ đồ đá mới, đầu thời kỳ đồ đồng khoảng 5.000 năm trước, chủng Cổ Mã Lai tiếp xúc thường xuyên với Đại chủng Á từ phía bắc tràn xuống,  hình thành chủng Nam Á .
  3. Chủng Nam Á tại khu vực bắc Việt Nam và nam Trung Quốc (từ sông Dương Tử trở xuống) mà cổ thư Việt Nam và Trung Hoa gọi là Bách Việt. Ban đầu, họ nói một số thứ tiếng như: Môn-Khmer, Việt-Mường, Tày-Thái, H’Mông-Dao,… Sau này quá trình chia tách này tiếp tục để hình thành nên các dân tộc và các ngôn ngữ như ngày nay. Phía nam Việt Nam, dọc theo dải Trường Sơn, trong khi đó, vẫn là địa bàn cư trú của người Cổ Mã Lai. Theo thời gian họ chuyển biến thành chủng Nam Đảo. Đó là tổ tiên của các dân tộc thuộc nhóm Chăm.


Người Việt, tiếng Việt và ngữ hệ Nam Á được tóm tắt ở hình trên đây (Hoàng Tố Nguyên và ctv. 2018). Người Việt theo truyền thuyết dân tộc Kinh là con cháu của một thần rồng tên là Lạc Long Quân và một vị tiên tên là Âu Cơ. Hai người này lấy nhau và đẻ ra một bọc 100 trứng và nở ra 100 người con. Những người con sinh ra cùng một bọc gọi là “cùng bọc” (hay còn gọi là đồng bào) và “đồng bào” là cách gọi của người Việt để nói rằng tất cả người Việt Nam đều cùng có chung một nguồn gốc. Về nhân chũng học, có hai luồng quan điểm về nguồn gốc của người Việt. Một số học giả tin rằng người Việt đầu tiên dần dần chuyển từ quần đảo Indonesia thông qua bán đảo Mã Lai và Thái Lan cho đến khi họ định cư trên các cạnh của sông Hồng ở Đồng bằng Bắc Bộ bằng cách lần theo con đường của các công cụ đá từ cuối Thế Pleistocen (600,000-12,000 trước Công nguyên), trên Java, Malaysia, Thái Lan và phía bắc Miến Điện. Những công cụ bằng đá được cho là các công cụ con người đầu tiên được sử dụng trong khu vực Đông Nam Á. Các nhà khảo cổ tin rằng vào thời điểm này Hy Mã Lạp Sơn, một dãy núi ở miền bắc Miến Điện và Trung Quốc, tạo ra một rào cản băng giá cô lập người dân Đông Nam Á. Một số khác cho rằng người Việt đầu tiên vốn là một bộ tộc gốc Mông Cổ ở Tây Tạng, di cư xuống phía nam từ thời đồ đá cũ. Nhóm dân tộc này định cư tại vùng Bắc Bộ, thượng nguồn sông Hồng ngày nay và tạo nên nền văn minh Đông Sơn. Nhóm bộ tộc này cũng có sự tương đồng rất lớn về nhân chủng, văn hóa với các tộc người ở phía Nam Trung Quốc, mà sử Trung Quốc còn gọi là cộng đồng Bách Việt. Tiếng Việt là ngôn ngữ của người Việt (người Kinh) và là ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam. Đây là tiếng mẹ đẻ của khoảng 85% dân cư Việt Nam, cùng với hơn bốn triệu người Việt hải ngoại. Tiếng Việt còn là ngôn ngữ thứ hai của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Mặc dù tiếng Việt có một số từ vựng vay mượn từ tiếng Hán và trước đây dùng chữ Nôm, một hệ chữ dựa trên chữ Hán để viết nhưng tiếng Việt được coi là một trong số các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Nam Á có số người nói nhiều nhất (nhiều hơn một số lần so với các ngôn ngữ khác cùng hệ cộng lại) có nguồn gốc với ngôn ngữ Nam Á về mặt từ vựng kết hợp với ngôn ngữ Tày-Thái về mặt thanh điệu. Ngày nay, tiếng Việt dùng bảng chữ cái Latinh, gọi là chữ Quốc ngữ (do Alexandre de Rhodes sáng lập), cùng các dấu thanh để viết.  Tiếng Việt trong quá trình phát triển đã tiếp thu và đồng hoá nhiều từ Hán thành từ Hán-Việt, và tiếp thu một số lượng khá lớn các từ khoa học kỹ thuật của các ngôn ngữ Pháp, Nga, Anh từ đầu thế kỷ 20 đến nay. Ngữ hệ Nam Á là một tổng hợp bao gồm khoảng 168 ngôn ngữ tại miền nam của châu Á, tập trung tại Đông Nam Á và rải rác tại Ấn Độ cùng Bangladesh. Ngôn ngữ có nhiều người dùng nhất trong hệ thống này là tiếng Việt, với trên 80 triệu người, sau đó là tiếng Khmer, với khoảng 16 triệu người. Trong các ngôn ngữ của ngữ hệ Nam Á  thì  tiếng Việt, tiếng Khmer và tiếng Môn là có lịch sử được ghi chép lại lâu dài và tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam.

Tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam. Việt Nam là một nước có nhiều tôn giáo, theo thống kê của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, hiện có gần 45 triệu tín đồ Phật giáo, 5,5 triệu tín đồ Công giáo, 2,4 triệu tín đồ Cao Đài, 1,31 triệu tín đồ Hòa Hảo, 1 triệu tín đồ Tin Lành, và 60.000 tín đồ Hồi giáo. Trên thực tế, đại đa số người dân Việt Nam có tục lệ thờ cúng tổ tiên, nhiều người theo các tín ngưỡng dân gian khác như Đạo Mẫu và thường đến cầu cúng tại các đền chùa Phật giáo, Khổng giáo và Đạo giáo. Ngoài ra, có một số các tôn giáo khác như Hồi giáo, Bà la môn… Các ngôi chùa và khu di tích Phật giáo nổi tiếng ở Việt Nam bao gồm Chùa Hương, Chùa Một Cột, Núi Yên Tử, Núi Tây Thiên, Chùa Thiên Mụ, Chùa Vĩnh Nghiêm, Núi Bà Đen, Núi Sam… Các nhà thờ Công giáo nổi tiếng ở Việt Nam như Nhà thờ chính tòa Hà Nội, Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn, Nhà thờ Phát Diệm, Nhà thờ Phú Nhai, Nhà thờ Bùi Chu, nhà thờ Quần Phương và nhiều nhà thờ khác… Các giáo hội Kháng Cách lớn nhất ở Việt Nam là Hội thánh Tin Lành Việt Nam 1 và cộng đồng Tin Lành trong các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Nói chung, dù là theo đạo gì thì phần lớn người Việt Nam đều có tục lệ thờ cúng tổ tiên, ông Táo bà Táo, Thổ Địa Thần Tài trong nhà.

(còn tiếp…)

Các bài viết cùng chủ đề
VIỆT NAM TỔ QUỐC TÔI

Tập bài giảng LHS khoa Ngữ văn ĐHKHXHNV TP.HCM
Đề cương Kinh tế Xã hội Văn hóa Việt Nam
(*) Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim và ctv. 2018.
Việt Nam học, 学中越文, Học tiếng Trung Việt
https://hoangkimvn.wordpress.com
(Mọi trích dẫn đề nghị ghi rõ nguồn)

Việt Nam một thoáng nhìn toàn cảnh
Di sản thế giới tại Việt Nam
Vườn Quốc gia ở Việt Nam
Thông tin nhanh về Việt Nam
Việt Nam vùng lãnh thổ hành chính
Việt Nam đất nước và con người (1)
Nông nghiệp Việt Nam và du lịch
Kinh tế Việt Nam một khái quát 
Việt Nam đất nước và con người (2)
Việt Nam đất nước và con người (3)
Việt Nam đất nước và con người (4)
Việt Nam đất nước và con người (5)
Việt Nam 5000 năm Tiếng Việt và Nông nghiệp

Video yêu thích

Giới Thiệu Du Lịch Việt Nam
KimYouTube

Trở về trang chính
Học tiếng Trung Việt I Hoang To Nguyen  foodcrops.vn I Hoang Long Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam