Việt Nam đất nước và con người (2)


VIỆT NAM  ĐẤT NƯỚC VÀ CON NGƯỜI (2)
Việt Nam thể chế chính trị và quan hệ quốc tế

Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim (*)

Thông tin chọn lọc về Việt Nam đất nước và con người trên bốn yếu tố nguồn lực căn bản: Đất nước (Vị trí địa lý, khí hậu, địa hình, đất đai, sông biển, nguồn tài nguyên, nông nghiệp và du lịch); Con người (tộc người, ngôn ngữ, tôn giáo tín ngưỡng); Kinh tế Xã hội (tên gọi, thể chế chính trị, kinh tế xã hội hiện trạng). Môi trường sống (lịch sử, văn hóa, danh thắng và chất lượng sống). Bài viết này tiếp theo bài 1  Việt Nam đất nước và con người, đề cập khái quát Quốc hiệu Việt Nam trong lịch sử, Đất nước Việt Nam qua các thời, Thể chế chính trị tại Việt Nam, Việt Nam quan hệ quốc tế

Quốc hiệu Việt Nam trong lịch sử

Quốc hiệu Việt Nam (chữ Hán: 越南) chính thức được dùng lần đầu tiên năm 1802 khi vua Gia Long cho người mang quốc thư và cống vật sang Trung Quốc xin nhà Thanh cho đổi quốc hiệu thành “Nam Việt” 南越 và phong hiệu cho vua Gia Long. Nhà Thanh đảo ngược tên “Nam Việt” 南越 thành “Việt Nam” 越南, ban cho triều Nguyễn lấy làm quốc hiệu. Chữ “việt” 越 đặt ở đầu biểu thị đất Việt Thường, cương vực cũ của nước này ở đất Việt Thường. Chữ “nam” 南 đặt ở cuối thể hiện đất An Nam, cương vực sau này. Đặt quốc hiệu là “Việt Nam” 越南 vẫn có hai chữ “nam việt” 南越 trong tên mà lại không nhầm lẫn với nước Nam Việt, lại thể hiện được chủng tộc và vị trí địa lý của nước này là người Việt ở phương Nam  nằm ở phía nam Bách Việt . Năm Gia Long thứ ba (Tây lịch năm 1804), vua Gia Khánh nhà Thanh cho án sát sứ Quảng Tây Tề Bố Sâm (齊布森) sang tuyên phong Gia Long làm “Việt Nam quốc vương” 越南國王.Quốc danh “Việt Nam” được chính thức sử dụng lần đầu dưới thời vua Gia Long từ năm 1804 đến 1813. Tên gọi này sau đó xuất hiện trong tác phẩm Việt Nam vong quốc sử của Phan Bội Châu năm 1905, và sau đó được sử dụng bởi Việt Nam Quốc dân Đảng. Thời Pháp thuộc, đất nước thường được gọi bằng tên “An Nam” cho tới sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền Việt Minh ở Hà Nội chính thức đặt quốc hiệu là “Việt Nam”.

Đất nước Việt Nam qua các thời 

Văn Lang (chữ Hán: 文郎) là quốc hiệu đầu tiên của Việt Nam. Quốc gia này có kinh đô đặt ở Phong Châu nay thuộc tỉnh Phú Thọ. Lãnh thổ bao gồm khu vực đồng bằng sông Hồng và ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh bây giờ. Quốc gia này tồn tại cho đến năm 258 TCN.

Âu Lạc (甌雒, 甌駱[1], 甌貉) được dựng lên năm 257 TCN, từ việc liên kết các bộ lạc Lạc Việt (Văn Lang) và Âu Việt, dưới uy thế của Thục Phán – An Dương Vương. Âu Lạc có lãnh thổ bao gồm phần đất của Văn Lang trước đây cộng thêm vùng núi Đông Bắc Việt Nam và một phần tây nam Quảng Tây (Trung Quốc). Khoảng cuối thế kỷ thứ III TCN, đầu thế kỷ thứ II TCN (năm 208 TCN hoặc 179 TCN), Triệu Đà (Quận úy Nam Hải-nhà Tần) tung quân đánh chiếm Âu Lạc. Cuộc kháng cự của An Dương Vương thất bại, nhà nước Âu Lạc bị xóa sổ.

Lĩnh Nam là tên nước Việt Nam năm 40, khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống lại sự cai trị của nhà Hán. Hai bà đã chiếm được 65 thành trì của nhà Hán tại các quận Nhật Nam, Cửu Chân, Giao Chỉ, Hợp Phố, Nam Hải,… Hai bà xưng vương, với câu hịch nối lại nghiệp xưa vua Hùng, lập tên nước là Lĩnh Nam, đóng đô tại Mê Linh, ngày nay thuộc huyện Mê Linh, Hà Nội. Trưng Trắc được bầu làm vua  của Lĩnh Nam. Trưng Nhị được bầu làm vương của Giao Chỉ. Sáu quận của Lĩnh Nam là Nhật Nam, Cửu Chân, Giao chỉ, Tượng Quận, Nam Hải và Quế Lâm mỗi quận có một vương gia. Năm 43 khởi nghĩa Hai Bà Trưng bị đàn áp. Việt Nam bắt đầu thời kỳ Bắc thuộc lần II.

Vạn Xuân (萬春) là quốc hiệu của Việt Nam trong thời kỳ độc lập của Lý Nam Đế nhà Tiền Lý từ năm 544 đến năm 602 thì bị nhà Tùy tiêu diệt.

Đại Cồ Việt (大瞿越) là quốc hiệu của Việt Nam từ thời nhà Đinh đến đầu thời nhà Lý, do Đinh Tiên Hoàng thiết đặt từ năm 968 cho đến năm 1054, đời vua Lý Thánh Tông thì đổi sang quốc hiệu khác.

Đại Việt (大越) là quốc hiệu của Việt Nam từ thời nhà Lý từ khi Lý Thánh Tông lên ngôi  năm 1054 kéo dài đến năm 1804, trải qua các vương triều Lý, Trần, Lê, Mạc và Tây Sơn, khoảng 724 năm (dù bị gián đoạn 7 năm thời nhà Hồ và 20 năm thời thuộc Minh).

Đại Ngu (大虞) là quốc hiệu của Việt Nam thời nhà Hồ năm 1400 khi Hồ Quý Ly lên nắm quyền. Quốc hiệu Đại Ngu của Việt Nam đổi lại thành Đại Việt sau khi Lê Thái Tổ nhà Hậu Lê đuổi được quân Minh, và giành lại độc lập cho Việt Nam. Quốc hiệu Đại Ngu này, theo truyền thuyết, họ Hồ là con cháu vua Ngu Thuấn (là một trong Ngũ Đế nổi tiếng ở Trung Hoa thời thượng cổ); sau này con Ngu Yên là Vĩ Mãn được Chu Vũ Vương của nhà Chu phong cho ở đất Trần gọi là Hồ Công, sau dùng chữ Hồ làm tên họ. Hồ Quý Ly nhận mình là dòng dõi họ Hồ, con cháu Ngu Thuấn, nên đặt quốc hiệu là Đại Ngu. Chữ Ngu (虞) ở đây có nghĩa là “sự yên vui, hòa bình”, chứ không phải là từ “ngu” trong từ “ngu si” (愚癡).

Việt Nam (越南) là quốc hiệu được chính thức xuất hiện vào thời nhà Nguyễn. Vua Gia Long đã đề nghị nhà Thanh công nhận quốc hiệu Nam Việt, với lý lẽ rằng “Nam” có ý nghĩa “An Nam” còn “Việt” có ý nghĩa “Việt Thường”. Tuy nhiên tên Nam Việt trùng với quốc hiệu của quốc gia cổ Nam Việt thời nhà Triệu, gồm cả Quảng Đông và Quảng Tây của Trung Hoa lúc bấy giờ. Nhà Thanh yêu cầu nhà Nguyễn đổi ngược lại thành Việt Nam để tránh nhầm lẫn, và chính thức tuyên phong tên này năm 1804.

Việt Nam tuy vậy đã có thể xuất hiện sớm hơn từ cuối thế kỷ XIV. Tại tên bộ sách Việt Nam thế chí của Hồ Tông Thốc là Hàn lâm viện học sĩ biên soạn (nay không còn) và sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi (1380-1442) viết đầu thế kỷ XV  đã  nhiều lần nhắc đến hai chữ “Việt Nam”. Câu “Việt Nam khởi tổ xây nền” cũng đã có ngay trang mở đầu tập sách Trình tiên sinh quốc ngữ  của trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585). Hai chữ “Việt Nam” cũng có trên một số tấm bia khắc từ thế kỷ XVI-XVII như bia chùa Bảo Lâm (1558) ở Hải Dương, bia chùa Cam Lộ (1590) ở Hà Nội, bia chùa Phúc Thánh (1664) ở Bắc Ninh… Đặc biệt bia Thủy Môn Đình (1670) ở biên giới Lạng Sơn có câu đầu: “Việt Nam hầu thiệt, trấn Bắc ải quan” (đây là cửa ngő yết hầu của nước Việt Nam và là tiền đồn trấn giữ phương Bắc). Về ý nghĩa, phần lớn các giả thuyết đều cho rằng từ “Việt Nam” kiến tạo bởi hai yếu tố: chủng tộc và địa lý (người Việt ở phương Nam).

Đại Nam (大南) là quốc hiệu Việt Nam khi vua Minh Mạng chính thức đơn phương công bố quốc hiệu mới Đại Nam vào ngày 15 tháng 2 năm 1839. Mặc dù từ năm 1820, vua Minh Mạng lên ngôi đã xin nhà Thanh cho phép đổi Việt Nam thành Đại Nam nhưng không được nhà Thanh chính thức chấp thuận cho đến năm 1839 nới đơn phương công bố quốc hiệu Đại Nam  khi nhà Thanh đã suy yếu. Quốc hiệu Đại Nam tồn tại cho đến năm 1945.

Đế quốc Việt Nam là quốc hiệu Việt Nam do hoàng đế Bảo Đại tuyên bố xóa bỏ các hiệp ước với Pháp và thành lập chính phủ vào ngày 17 tháng 4 năm 1945, đứng đầu là nhà học giả Trần Trọng Kim, với quốc hiệu Đế quốc Việt Nam, sau khi Nhật đảo chính Pháp vào ngày 9 tháng 3 năm 1945 trong khi Đế quốc Nhật Bản trên thực tế vẫn cai trị Việt Nam. Sau khi Nhật đầu hàng quân Đồng Minh, Nam Kỳ mới được trao trả ngày 14 tháng 8 năm 1945, nhưng 10 ngày sau đó Hoàng đế Bảo Đại thoái vị. Hoàng đế Bảo Đại tuyên bố trao lại chủ quyền Việt Nam cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là tên gọi của cả nước Việt Nam 1945 đến 1954 và miền Bắc Việt Nam từ 1954 đến 1976. Nhà nước này được thành lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 (ngày Quốc khánh của Việt Nam ngày nay). Năm 1946, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức Tổng tuyển cử trên phạm vi cả nước để chính thức thành lập Quốc hội và Chính phủ khóa I. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải đối đầu với thực dân Pháp và Quốc gia Việt Nam được lập ra dưới cái ô của Pháp năm 1949. Trong thời kỳ 1954- 1975, chính thể này phải đối đầu với Việt Nam Cộng hòa được thành lập tại miền Nam Việt Nam. Năm 1976, chính thể này cùng với chính thể Cộng hòa miền Nam Việt Nam tổ chức Tổng tuyển cử để thống nhất thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là quốc hiệu của Việt Nam sau khi cuộc Tổng tuyển cử năm 1976 do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam tổ chức để thống nhất đất nước về mặt chính trị, ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội khóa VI quyêt định thống nhất Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Cộng hòa miền Nam Việt Nam với tên gọi Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hiệu này được sử dụng từ đó cho đến nay.

Thể chế chính trị tại Việt Nam

Việt Nam cho tới năm 2018 là một nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa. Hệ thống chính trị hiện tại đang thực hiện theo cơ chế chỉ có duy nhất một đảng chính trị là Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, với tôn chỉ là: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ thông qua cơ quan quyền lực là Quốc hội Việt Nam. Trên thực tế cho đến nay (2010) các đại biểu là đảng viên trong Quốc hội có tỉ lệ trên 90%, những người đứng đầu Chính phủ, các Bộ và Quốc hội cũng như các cơ quan tư pháp đều là đảng viên kỳ cựu và được Ban Chấp hành Trung ương hoặc Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đề cử.

Hội trường Ba Đình

Nhà Quốc hội (thay thế cho Hội trường Ba Đình)

Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất lãnh đạo trên chính trường Việt Nam theo quy định trong điều 4 của Hiến pháp 1992, vẫn cam kết với các nguyên tắc của Lênin “tập trung dân chủ”, mà không cho phép thành lập một hệ thống đa đảng.[49] Người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam là Tổng bí thư là một trong những người có quyền lực cao nhất Việt Nam, vì đảng duy nhất hợp lệ, cùng với Chủ tịch quốc hội, Thủ tướng chính phủ nắm quyền lập pháp, hành pháp. Tổng bí thư từ đại hội XI (2011) là ông Nguyễn Phú Trọng.

Quốc hội, theo hiến pháp là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Nhiệm vụ của Quốc hội là giám sát, quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, những nguyên tắc chủ yếu của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân. Trên 90% đại biểu quốc hội là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam nên quốc hội không có độc lập từ đảng, tuân thủ gần tuyệt đối các quy định của Đảng (tại các nước khác nhóm đại biểu chiếm đa số trong quốc hội cũng thường từ một đảng hay liên minh quyết định đường lối chính sách), tuy nhiên sau thời Đổi mới, vai trò của Quốc hội đẩy lên cao hơn. Nhiệm kỳ Quốc hội là 5 năm. Chủ tịch Quốc hội được Quốc hội bầu do đề cử của Ban Chấp hành Trung ương. Chủ tịch Quốc hội hiện nay (2016) là bà Nguyễn Thị Kim Ngân.

Chủ tịch nước, theo hiến pháp là người đứng đầu Nhà nước, nguyên thủ quốc gia nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội bầu do Chủ tịch Quốc hội giới thiệu từ đề cử của Ban Chấp hành Trung ương. Chủ tịch nước có 12 quyền hạn theo Hiến pháp trong đó quan trọng nhất là: công bố hiến pháp, luật, pháp lệnh. Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ chức Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh Quốc gia. Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chánh án Tòa án tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao. Chủ tịch nước thay mặt Nhà nước về đối nội và đối ngoại, là chức vụ cao nhất của Nhà nước Việt Nam, thường không giữ kiêm chức Tổng bí thư Đảng (có trường hợp giữ kiêm). Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước là 5 năm. Không có quy định giới hạn số nhiệm kỳ được làm Chủ tịch nước. Chủ tịch nước hiện nay (2016) là ông Trần Đại Quang.

Chính phủ, theo hiến pháp là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Chính phủ chịu sự giám sát và thực hiện chế độ báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước. Nhiệm kỳ Chính phủ là 5 năm. Chính phủ gồm có Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ. Đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng Chính phủ do Chủ tịch nước giới thiệu từ đề cử của Ban Chấp hành Trung ương để Quốc hội bầu. Không có quy định giới hạn số nhiệm kỳ được làm Thủ tướng Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ hiện nay (2016) là ông Nguyễn Xuân Phúc.

Các Phó Thủ tướng do Thủ tướng đề nghị Quốc hội phê chuẩn, là người giúp việc cho Thủ tướng và được Thủ tướng ủy nhiệm khi Thủ tướng vắng mặt. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ do Thủ tướng đề nghị Quốc hội phê chuẩn, đảm nhiệm chức năng quản lý Nhà nước đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác được giao. Việc tổ chức nhân sự cấp cao này đều thông qua Bộ Chính trị và các viên chức này đều do Bộ Chính trị quản lý. Các Thứ trưởng và chức vụ tương đương do Thủ tướng bổ nhiệm, nhưng Ban Bí thư thông qua và quản lý.

Chính phủ Việt Nam có 18 bộ và 4 cơ quan ngang bộ. Ngoài ra chính phủ còn quản lý 5 cơ quan hành chính và 3 cơ quan truyền thông trực thuộc là Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam

Tòa án Nhân dân Tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của Việt Nam. Chánh án Tối cao là người đứng đầu Tòa án Nhân dân Tối cao. Chánh án Tối cao hiện nay (từ 2016) là ông Nguyễn Hòa Bình.

Việt Nam quan hệ quốc tế

Đảng Cộng sản và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chủ trương thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm “Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”.

Việt Nam chính thức bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc vào năm 1992 và với Hoa Kỳ vào năm 1995, gia nhập khối ASEAN năm 1995. Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 180 quốc gia (gồm 43 nước châu Á, 47 nước châu Âu, 11 nước châu Đại Dương, 29 nước châu Mỹ, 50 nước châu Phi) thuộc tất cả các châu lục (Châu Á – Thái Bình Dương: 33, châu Âu: 46, châu Mỹ: 28, châu Phi: 47, Trung Đông: 16), bao gồm tất cả các nước và trung tâm chính trị lớn của thế giới. Việt Nam cũng là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và có quan hệ với hơn 650 tổ chức phi chính phủ. Đồng thời, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với 165 nước và vùng lãnh thổ. Trong tổ chức Liên Hiệp Quốc, Việt Nam đóng vai trò là ủy viên ECOSOC, ủy viên Hội đồng chấp hành UNDP, UNFPA và UPU.

Vai trò đối ngoại của Việt Nam trong đời sống chính trị quốc tế đã được thể hiện thông qua việc tổ chức thành công nhiều hội nghị quốc tế tại thủ đô Hà Nội:

Năm 1997, tổ chức hội nghị Thượng đỉnh Cộng đồng Pháp ngữ.

Năm 1998, tổ chức hội nghị cấp cao ASEAN.

Năm 2003, tổ chức hội thảo quốc tế về hợp tác và phát triển Việt Nam và châu Phi.

Năm 2004, tổ chức Hội nghị cấp cao ASEM vào tháng 10.

Năm 2006, tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh APEC vào tháng 11.

Năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Năm 2007 tổ chức đăng cai Olympic toán Quốc tế.

Năm 2007, Việt Nam chính thức được bầu làm thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2008–2009.

Năm 2010, Việt Nam đảm nhận vai trò Chủ tịch ASEAN và trong năm đó đã tổ chức nhiều cuộc họp lớn của khu vực.

Năm 2015, Việt Nam chính thức được bầu làm thành viên của Hội đồng Kinh tế – Xã hội Liên Hiệp Quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016–2018.

Năm 2016, tổ chức Olympic Sinh học Quốc tế.

Năm 2017, tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh APEC vào tháng 11.

Các bài viết cùng chủ đề
VIỆT NAM TỔ QUỐC TÔI

Tập bài giảng LHS khoa Ngữ văn ĐHKHXHNV TP.HCM
Đề cương Kinh tế Xã hội Văn hóa Việt Nam
(*) Hoàng Tố Nguyên và ctv. 2018

Việt Nam một thoáng nhìn toàn cảnh
Di sản thế giới tại Việt Nam
Vườn Quốc gia ở Việt Nam
Thông tin nhanh về Việt Nam
Việt Nam vùng lãnh thổ hành chính
Việt Nam đất nước và con ngườ1 (1)
Nông nghiệp Việt Nam và du lịch
Kinh tế Việt Nam một khái quát 
Việt Nam đất nước và con người (2)


Video yêu thích


Giới Thiệu Du Lịch Việt Nam
KimYouTube

Trở về trang chính
Học tiếng Trung Việt I Hoang To Nguyen  foodcrops.vn I Hoang Long Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

 

NÚI CAO BIỂN RỘNG
Bài đọc thêm

1-1-riothanhphogiuanuivabienRIO THÀNH PHỐ GIỮA NÚI VÀ BIỂN.  Hoàng Kim. Ngày khởi đầu Tết dương lịch, năm 1502, địa danh Rio de Janeiro, thành phố giữa núi và biển tại BrasilDi sản thế giới UNESCO, một trong bảy kỳ quan thế giới mới, được phát hiện bởi đoàn thám hiểm của Bồ Đào Nha. …

Tôi may mắn đã tới  Rio de Janeiro thành phố giữa núi và biển, một danh thắng của bảy kỳ quan thế giới mới nổi tiếng xinh đẹp tại Brazil; Nơi đó có EMBRAPA một trung tâm khoa học nông nghiêp tuyệt vời, và tôi được tặng cuốn sách quý “Đất đai và thức ăn 500 năm nông nghiệp Brazil’ (Land and Food 500 years of Agriculture in Brazil), giúp các chỉ dấu quan trọng để đi tới.

Ở Rio, tôi được đọc kiệt tác “O Alquimista” của Paulo Coelho, cuốn sách bán chạy chỉ sau kinh Thánh, mang thông điệp nhân văn “Hãy sống trọn vẹn ước mơ của mình!” tiếng nói yêu thương con người và khai mở tâm linh vũ trụ. Đời người thật hạnh phúc và may mắn khi gặp được kiệt tác của tâm hồn để lòng ta sâu lắng và tỉnh lặng hơn.

“Hãy đi về phía mặt trời” là bài thơ tôi viết tặng em ngày mới:

HÃY ĐI VỀ PHÍA MẶT TRỜI

Lên đường đi em.
Bình minh đã rạng.
Hãy đi về phía mặt trời !
Ta hãy chăm như con ong làm mật.
Cuộc đời này là hương hoa.
Ngày mới yêu thương vẫy gọi,
Ngọc cho đời vui khỏe cho ta.

Rio thành phố giữa núi và biển

Trong tháng 5 và tháng 6 năm 2003, tôi được khảo sát một số nước trọng điểm sắn ở châu Phi và châu Mỹ, trong đó có Brazil và Colombia. Dịp này, tôi được làm việc với nhiều người bạn tốt tại EMBRAPA (Empresa Brasileira de Pesquisa Agropecuária) – CNPMF, Brazil và được chiêm ngưỡng Rio de Janeiro thành phố núi và biển, Di sản thế giới UNESCO, một trong bảy kỳ quan thế giới mới nổi tiếng xinh đẹp và quyến rũ.

Kim o Colombia

Hội thảo sắn CIAT ở Colombia “Phát triển của một giao thức cho các thế hệ sắn đơn bội kép và sử dụng chúng trong chọn giống” (The Development of a Protocol for the Generation of Cassava Doubled-Haploids and their Use in Breeding) đã giúp tôi dịp may này.

Rio de Janeiro thành phố đẹp giữa núi và biển được khám phá lần đầu tiên ngày  1 tháng 1 năm 1502 do một đoàn thám hiểm của Bồ Đào Nha trở thành những người châu Âu tìm đến vùng đất mới Rio, nay là thành phố Rio de Janeiro tại Brasil, Di sản thế giới được công nhận bởi UNESCO, một trong bảy kỳ quan thế giới mới.

Baykyquanthegioimoi
Tượng Chúa Cứu Thế tại Rio de Janeiro của Brasil đã cùng với Vạn Lý Trường Thành, Đấu trường La Mã, Chichén Itzá , Machu Picchu,  Petra, Taj Mahal, làm thành  bảy kiệt tác kiến trúc nghệ thuật mới của văn minh nhân loại do mạng lưới toàn cầu bình chọn, bên cạnh Bảy kỳ quan thế giới cổ đại .

Rio de Janeiro là thành phố ở phía nam của Brasil với diện tích 1260 km² và dân số 5.613.000 người nhưng toàn vùng đô thị Rio de Janeiro có dân số lên đến 11.620.000 người.  Rio đã từng là thủ đô của Brasil giai đoạn 1763-1960 và thuộc Đế quốc Bồ Đào Nha từ 1808-1821.Thành phố này từng là thủ đô của Brazil cho đến năm 1960, khi Brasilia được chọn làm thủ đô.

Thành phố này từng là thủ đô của Brazil cho đến năm 1960, khi Brasilia được chọn làm thủ đô. Thành phố kỳ diệu này nổi tiếng với phong cảnh tự nhiên, nhạc samba và các lễ hội carnival, các loại hình âm nhạc khác và các  bãi biển. Sân bay quốc tế Galeão – Antônio Carlos Jobim kết nối Rio de Janeiro với nhiều chuyến bay và các thành phố khắp trên thế giới và các tuyến điểm của Brasil.

Thành phố Rio de Janeiro có  nhiệt độ ôn hòa. Nhiệt độ trung bình hàng năm của biển dao động từ 22 °C trong giai đoạn tháng 7-10 đến 26 °C trong tháng 2 và tháng 3.[12].. Do vị trí địa lý gần biển, gió thay đổi hướng thường xuyên, nên thành phố  thường hứng các đợt lạnh từ Nam Cực vào mùa thu và mùa đông. Hầu hết mùa hè thường có mưa rào gây lũ và lở đất. Các vùng núi có lượng mưa lớn hơn vì núi chắn luồng gió ẩm thổi đến từ Đại Tây Dương.

Rio thuộc vùng khí hậu savan nhiệt đới rất gần với ranh giới khí hậu nhiệt đới gió mùa và thường đặc trưng bởi mùa mưa kéo dài từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau. nhiệt độ mùa hè trên 27 °C rất giống điều kiện mùa hè Nam Bộ, Việt Nam.

TuonghuaCuuTheoRioThành phố Rio de Janeiro  được mệnh danh là thành phố giữa núi và biển với đỉnh núi Corcovado (với bức tượng chúa Kitô nổi tiếng), những thắng cảnh trên các ngọn đồi xung quanh vịnh Guanabara, những bãi biển tuyệt đẹp cát trắng trải dài, thảm thực vật của Vườn quốc gia Tijuca và Vườn bách thảo, .. tất cả tạo ra một sự hài hòa giữa một đô thị đông dân cư, góp phần cho phong cảnh văn hóa sống ngoài trời của thành phố.

Với những giá trị văn hóa, các công trình kiến trúc hài hòa với núi và biển, UNESCO đã công nhận Rio de Janeiro là di sản thế giới vào năm 2012 với quần thế kiến trúc bao gồm: Tượng chúa cứu thế, Vườn quốc gia Tijuca, vịnh Guanabara, Rừng Tijuca và núi Corcovado, với các công trình ở các ngọn đồi dọc bờ biển quanh vịnh, Vườn bách thảo, công viên văn hóa của thành phố.

TuongChuaJesuBrazil

Tượng chúa Giê-su cứu thế tại Rio de Janeiro, Brasil cao 30 mét, không kể bệ cao 8 mét, và sải tay của tượng là 28 mét. Tượng nặng 635 tấn, và nằm trên đỉnh của núi Corcovado cao 700 mét thuộc công viên quốc gia rừng Tijuca trông về phía thành phố. Tượng được làm từ bê tông cốt thép và đá biến chất steatit, và được xây dựng từ năm 1922 đến năm 1931. Tượng là một phù hiệu của Cơ Đốc giáo Brasil, trở thành một hình tượng văn hóa của cả thành phố Rio de Janeiro và quốc gia Brasil.

Thực tế những ngày tôi được sống ở đây giữa bầu không khí của những người bạn khoa học thật dễ chịu và các chuyến rong ruổi  khảo sát sắn trên nước bạn, thật là trên cả tuyệt vời nên tôi thấy đất nước Brazil thật thân thiết và mến khách. EMBRAPA trung tâm khoa học nông nghiêp là một bài học thực tiễn sâu sắc đối với tôi.

Tôi chỉ mới phác thảo câu chuyện “500 năm nông nghiệp Brazil” chưa kết nối được câu chuyện “500 năm nông nghiệp Việt Nam” kể từ năm 1500 chặng đường đầu tiên của hành trình xuôi phương Nam của dân tộc Việt cũng là lúc khai mở vùng đất mới Brazil.

Câu chuyện “500 năm nông nghiệp Việt Nam” với tôi là một khát khao xanh vươn tới.

 


Science that transforms your life

Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

CNM365. Chào ngày mới 1 tháng 1. Ngày khởi đầu Tết dương lịch Năm 1502, địa danh Rio de Janeiro, thành phố giữa núi và biển tại BrasilDi sản thế giới UNESCO, một trong bảy kỳ quan thế giới mới, được phát hiện bởi đoàn thám hiểm của Bồ Đào Nha. Năm 1912, Tôn Trung Sơn, đại tổng thống lâm thời Trung Hoa Dân Quốc tuyên thệ nhậm chức tại Tổng thống phủ ở Nam Kinh, ngày khai quốc tại Đài Loan.  Năm 1901, liên bang Úc được hình thành từ 6 thuộc địa của Anh là  New South Wales, Queensland, Victoria, Nam Úc, TasmaniaTây Úc. Năm 1959, Fidel Castro chiếm La Habana, đánh dấu sự thắng lợi của Cách mạng Cuba, trong khi tổng thống Cuba Fulgencio Batista đào thoát đến Cộng hòa Dominica . Năm 1993, Cộng hòa SécSlovakia tách ra trong hòa bình từ Tiệp Khắc.  Năm 2002, đồng  Euro trở thành tiền tệ hợp pháp tại 12 quốc gia thành viên Liên minh châu Âu. xem tiếp…


2017 Happy New Year ♡ 2017 CHÚC MỪNG NĂM MỚI VUI KHỎE HẠNH PHÚC

Bài viết trước năm 2017

luagialai-danghongthanhoangkim

Cám ơn Đặng Hồng Thân với ảnh đẹp và lời chúc cuối năm. Ngày 15 – 22 /2 /2017 xuân này, thầy trở lại chiến trường xưa Ninh Thuận Gia Lai cùng giảng dạy và nghiên cứu Cây Lương thực với các bạn khóa mới Thân ạ. Hẹn gặp lại!

thayoi
TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

Hoàng Kim

Cuộc đời có những ngày thoải mái
Ngơi cùng ban mai riêng của lòng mình
Nghe giọt thời gian lung linh điểm ngọc
Thung dung, thanh nhànkhát khao xanh.

thungdung
TÌNH YÊU CUỘC SỐNG thơ văn Hoàng Kim

232 bài và CNM365 (gồm 1500 trang tư liệu)

Advertisements

7 thoughts on “Việt Nam đất nước và con người (2)

  1. Pingback: Việt Nam đất nước và con người (3) | Học tiếng Trung Việt

  2. Pingback: Việt Nam đất nước và con người (4) | Học tiếng Trung Việt

  3. Pingback: Việt Nam ngôn ngữ và văn chương | Học tiếng Trung Việt

  4. Pingback: Việt Nam đất nước và con người (5) | Học tiếng Trung Việt

  5. Pingback: Việt Nam đất nước và con người | Học tiếng Trung Việt

  6. Pingback: Việt Nam 5000 năm Tiếng Việt và Nông nghiệp | Học tiếng Trung Việt

  7. Pingback: Tiếng Việt và Nông nghiệp Việt Nam | Học tiếng Trung Việt

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s