Việt Nam đất nước và con người (5)


VIỆT NAM  ĐẤT NƯỚC VÀ CON NGƯỜI (5)
Việt Nam khái quát thông tin ngôn ngữ và văn chương
Ngôn ngữ Việt và văn chương Việt

Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim (*)

Thông tin chọn lọc về Việt Nam đất nước và con người trên bốn yếu tố nguồn lực căn bản: Đất nước (Vị trí địa lý, khí hậu, địa hình, đất đai, sông biển, các nguồn tài nguyên, nông nghiệp và du lịch); Con người (tộc người, dân số, ngôn ngữ, văn chương, phong tục, tín ngưỡng, tôn giáo); Kinh tế Xã hội (quốc hiệu Việt Nam, đất nước Việt Nam qua các thời, thể chế chính trị, kinh tế xã hội hiện trạng). Môi trường sống (lịch sử, văn hóa, tiếng Việt, văn chương, danh thắng, chất lượng cuộc sống). Bài này tiếp theo bài 1  Việt Nam đất nước và con người; bài 2 Việt Nam đất nước và con người (2); bài 3 Việt Nam đất nước và con người (3); Việt Nam đất nước và con người (4) Chuyên đề này (bài 5) nhằm khái quát thông tin ngôn ngữ tiếng Việt  và văn chương Việt.

NGÔN NGỮ VIỆT

Việt Nam có 54 dân tộc, Dân tộc Việt (còn gọi là người Kinh) chiếm gần 86%, 53 dân tộc thiểu số còn lại, chiếm khoảng 14% tổng số dân của cả nước.  Mỗi dân tộc trong cộng đồng Việt có tiếng nói riêng, một số dân tộc còn có chữ viết riêng. Những tiếng nói, chữ viết riêng này đang được chính phủ Việt Nam khuyến khích bảo tồn, ngày càng giàu thêm về số từ vựng, tinh tế và chính xác hơn về sức diễn đạt, truyền cảm. Tiếng Việt của dân tộc Việt (dùng chữ Quốc ngữ do Alexandre de Rhodes sáng lập, với bảng chữ cái Latinh và các dấu thanh để viết) được sử dụng rộng rãi nhất và trở thành tiếng nói, chữ viết phổ thông, ngôn ngữ chính thức trên cả nước Việt Nam. Tiếng Việt có một số từ vựng vay mượn từ tiếng Hán và trước đây dùng chữ Nôm, một hệ chữ dựa trên chữ Hán, để viết nhưng tiếng Việt thuộc ngữ hệ Nam Á là một trong số các ngôn ngữ có số người nói nhiều nhất ở Đông Nam Á.

Chữ Hán ở Việt Nam

Chữ Hán, chữ Trung Quốc là một dạng chữ viết biểu ý của tiếng Trung Quốc có nguồn gốc Hoa Hạ, sau đó du nhập vào các nước lân cận Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam.

Theo Đào Duy Anh, chữ Hán tiếng Hán được du nhập vào Việt Nam khoảng năm 137- 226 khi viên Thái thú Sĩ Nhiếp đã dạy dân Việt thi thư. Việt Nam trong một ngàn năm từ đầu công nguyên đến thế kỷ X chịu sự đô hộ của phong kiến Trung Hoa, nên hầu hết các bài văn khắc trên tấm bia đều bằng chữ Hán.

(*) Có ý kiến cho rằng chữ Hán đã hiện diện ở Việt Nam từ trước Công nguyên, dựa trên suy diễn về dấu khắc được coi là chữ trên một con dao găm, tuy nhiên còn thiếu căn cứ vì lúc đó chữ Hán chưa có minh chứng hình thành, cũng như “các chữ viết của người Việt cổ” trên các trống đồng Đông Sơn có thời kỳ 700 TCN – 100 SCN cũng chưa đủ minh giải là cư dân Việt cổ đã sử dụng chữ. Cổ vật trong lăng mộ của Hán Văn Đế (mất năm 157 TCN) cho thấy chữ viết của Nam Việt thuở ấy đã khá hoàn chỉnh. Nhà sử học Lê Mạnh Thát phát hiện rằng Hán thư cũng dùng phương ngôn người Việt.

Chữ Hán được giảng dạy ở Việt Nam và người Việt đã chấp nhận ngôn ngữ mới đó song song với tiếng Việt là tiếng nói truyền miệng. Người Việt tuy tiếp thu tiếng Hán và chữ Hán nhưng đã Việt hóa nhiều từ của tiếng Hán thành từ Hán-Việt của tiếng Việt. Người Việt độc lập sau chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938, nhưng ngôn ngữ tiếng Hán và chữ Hán vẫn còn ảnh hưởng rất đậm. Chữ Hán giữ địa vị là văn tự chính thức tuy người Việt đã phát triển cách đọc theo hướng riêng, khác với sự phát triển tiếng Hán ở Trung Quốc. Người Việt đã mượn tượng hình của chữ Hán để tạo ra chữ Nôm, trong khi Hán văn cổ vẫn được coi là mẫu mực để noi theo. Chữ Hán vẫn tiếp tục là một phương tiện quan trọng để phát triển vãn hóa dân tộc Việt Nam.

Tóm lại: Chữ Hán là chữ viết chính thức của người Việt trong suốt thời kỳ bắc thuộc. Chữ Hán là chữ Trung Quốc, được người Việt đọc theo âm Việt. Tiếng  Việt, ngày nay có một số lượng lớn từ Hán Việt, ví dụ: Tái hiện, thời khắc, hồ đồ… tuy  nhiều từ Hán Việt  ý nghĩa khác hẳn so với ý nghĩa của chữ Trung Quốc tương ứng.

Chữ Nôm ở Việt Nam

Người Việt sử dụng chữ Nôm khoảng đầu  thể kỷ 8 và phát triển mạnh vào thế kỷ 18. Chữ Nôm là ngôn ngữ mượn tượng hình của chữ Hán để ghi lại âm tiếng Việt, đọc theo âm Việt. Chữ Nôm được dùng nhiều trong văn chương, đặc biệt từ thế kỷ 10 cho đến đầu thể kỳ 20, khá nhiều tài liệu văn học, triết học, sử học, luật pháp, y khoa, tôn giáo được viết bằng chữ Nôm.

Chữ Nôm thuộc loại hình văn tự khối vuông, nghĩa là toàn bộ chữ được cấu tạo trong một ô vuông, được xây dựng trên cơ sở chất liệu là chữ Hán và được đọc theo âm Việt. Chữ Nôm xuất hiện ở Việt Nam khi chữ Hán đã vào Việt Nam và đã được hình thành một cách có hệ thống âm Hán Việt, nên ban đầu chữ Nôm thuần túy ghi âm Việt. Dần dần có những chữ Hán không ghi được âm Hán Việt cho nên các chữ Nôm sáng tạo được ra đời. Khi ý nguyện sáng tạo ra một dạng chữ riêng của người Việt trở nên mạnh mẽ hơn trong thời Lê, những chữ Nôm được tạo ra một cách có ý thức hơn đã giúp cho sự hình thành thêm nhiều chữ Nôm mới đủ để biểu đạt được tâm tư, nguyện vọng, tâm hồn và khí phách dân tộc trong các tác phẩm văn chương như thơ, phú, chiếu, cáo, biểu v.v. Sự sáng tạo đó đã để lại cho đời sau những di sản thơ Nôm vô giá.

Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi kiệt tác thơ Nôm 254 bài là một dấu mốc vĩ đại của ngữ học, thi học Việt được ghi âm bằng chữ Nôm  Những bài thơ ‘Yên Tử’, ‘Ngôn chí’, ‘Quan hải’, ‘Hải khẩu dạ bạc hữu cảm’, ‘Oan thán’ ‘Thuyền ban tối ước về đâu’  trong Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi là một minh chứng

Những kiệt tác thơ Nôm Việt Nam từ những bài thơ Nôm của Nguyễn Thuyên thời Trần Nhân Tông đến Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi thời Lê Thái Tổ; từ Hồng Đức quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông đến Bạch Vân am thi tập của Nguyễn Binh Khiêm; từ Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều) của Nguyễn Du và Lưu Hương Ký của Hồ Xuân Hương thời Hậu Lê, Trịnh Nguyễn phân tranh, nhà Tây Sơn và triều Nguyễn Ánh đến Đại Nam quốc sử diễn ca của Lê Ngô Cát, Phạm Đình Toái thời nhà Nguyễn triều Tự Đức; từ Chinh phụ ngâm khúc (征婦吟曲) là tác phẩm văn vần chữ Hán của Đặng Trần Côn thời Lê Trung hưng triều Lê Hiển Tông  đến dịch thơ song thất lục bát theo chữ Nôm tương truyền của Đoàn Thị Điểm và cột dịch thơ theo chữ Quốc ngữ.

Chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ là sự giao thoa, tích hợp ngôn ngữ văn hóa văn chương, một bước tiến dài của ngữ học, thi học Việt. Một số câu thơ mở đầu của Chinh phụ ngâm trích dẫn để minh chứng:

Nguyên văn chữ Hán

征婦吟

天地風塵
紅顏多舛
悠悠彼蒼兮誰造因
鼓鼙聲動長城月
烽火影照甘泉雲
九重按劍起當席
半夜飛檄傳將軍
清平三百年天下
從此戎衣屬武臣

Phiên âm Hán Việt
Chinh phụ ngâm khúc

Thiên địa phong trần
Hồng nhan đa truân
Du du bỉ thương hề thuỳ tạo nhân?
Cổ bề thanh động Trường Thành nguyệt
Phong hỏa ảnh chiếu Cam Tuyền vân
Cửu trùng án kiếm khởi đương tịch
Bán dạ phi hịch truyền tướng quân
Thanh bình tam bách niên thiên hạ
Tùng thử nhung y thuộc vũ thần

Diễn Nôm (thuận dịch)
Lời than vãn của người phụ nữ có chồng đi đánh trận

Trời đất phong trần
Hồng nhan đa truân
Thăm thẳm xanh kia hề ai tạo nhân?
Trống trận gầm lay trường thành nguyệt
Lửa hiệu rực chiếu Cam Tuyền vân
Chín bệ chống gươm rời chiếu ấm
Nửa đêm truyền hịch triệu tướng quân
Thanh bình ba trăm năm bờ cõi
Nhung phục từ đây khoác võ thần

Diễn Nôm (Chữ Nôm)
征婦吟曲

𣋾𡗶坦浽干𩙋𡏧
客𦟐紅𡗉餒舛邅
撑箕瀋瀋層𨕭
為埃𨢟𥩯朱𢧚餒尼
𪔠長城𢲣𢯦𩃳月
𤌋甘泉𥊚䁾式𩄲
𠃩吝鎌寶𢶢𢬣
姅𣎀傳檄定𣈗出征
渃清平𠀧𤾓𢆥𡳵
襖戎挥官武自尼

Diễn Nôm (chữ Quốc ngữ)
Chinh phụ ngâm
Lời than vãn của người phụ nữ có chồng đi đánh trận

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm tầng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này
Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây
Chín tầng gươm báu trao tay
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh
Nước thanh bình ba trăm năm cũ
Áo nhung trao quan vũ từ đây

Tiếng Việt chữ Quốc ngữ

Tiếng Việt chữ Quốc ngữ là tiếng nói chữ viết phổ thông, ngôn ngữ chính thức trên cả nước Việt Nam ngày nay. Chữ Quốc ngữ bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ 16. Alexandre de Rhodes là người khai sinh chữ Quốc ngữ báu vật muôn đời của dân tộc Việt. Ông là người Do Thái sinh ngày 15 tháng 3 năm 1591 tại Avignon trong một gia đình buôn tơ lụa. Ông là nhà ngôn ngữ học thông thạo nhiều thứ tiếng, là một trong những linh mục dòng Tên đầu tiên đến Việt Nam truyền đạo công giáo từ năm 1626 nên đã “lần ra, nhận biết, phân biệt và ghi lại bằng ký hiệu thích hợp những âm thanh khác nhau, đôi khi rất gần gũi, vì thế dễ đánh lừa, trong tiếng Việt”. Việc chế tác chữ Quốc ngữ Việt Nam là một công việc tập thể của nhiều linh mục Dòng Tên người Châu Âu, trong đó nổi bật vai trò tác giả chính của Alexandre De Rhodes và sự hợp tác tích cực, hiệu quả của nhiều người Việt Nam, trước hết là các thầy giảng Việt Nam (giúp việc cho các linh mục người Âu). Alexandre De Rhodes đã có công lớn trong việc góp phần sửa sang và hoàn chỉnh bộ chữ Quốc Ngữ. Đặc biệt là ông đã dùng bộ chữ ấy để biên soạn và tổ chức in ấn lần đầu tiên cuốn từ điển Việt – Bồ Đào Nha – Latinh vào năm 1651. Tới thế kỷ thứ 19, sau khi quân đội Pháp sang đánh chiếm Việt Nam, chữ Hán dần dần bị thay thể, chữ Nôm cũng bị mai một, chữ viết theo kiểu La tinh được phổ biến rộng rãi và trở thành chữ Quốc ngữ. Chủ tịch Hồ Chí Minh và hội truyền bá chữ Quốc ngữ năm 1945 là những người có công lớn vận động toàn dân học đọc, học viết tiếng nước ta theo vần quốc ngữ và đưa tiếng Việt chữ Việt  thành lợi khí quốc gia.Chữ Quốc ngữ của Alexandre De Rhodes năm 1651 trong cuốn từ điển Việt – Bồ – La là khá hoàn chỉnh nhưng cũng phải chờ đến 121 năm sau, từ điển Việt – Bồ – La (1772), với những cải cách quan trọng của Pigneau de Behaine thì chữ Quốc ngữ mới có diện mạo giống như hệ thống mà chúng ta đang dùng hiện nay (đọc thêm bài chi tiết: Ghi ơn người phát minh chữ Việt https://hoangkimlong.wordpress.com/2016/09/05/ghi-on-nguoi-phat-minh-chu-viet/)

VĂN CHƯƠNG VIỆT

Văn chương Việt gồm Văn học dân gian Việt Nam, Văn học Hán Nôm (thơ văn chữ Hán; thơ văn chữ Nôm) Văn học hiện đại. Văn chương Việt và Văn học đồng nghĩa những Văn chương Việt nhấn mạnh các kiệt tác tinh hoa chọn lọc, bởi văn là sáng, chương là đẹp. Việt Nam có một nền văn học phát triển khá sớm, dù trãi qua biết bao thử thách khắc nghiệt của lịch sử, nhưng nền văn học vẫn giữ được bản sắc riêng. Việt Nam có 54 dân tộc, mỗi dân tộc đều có loại hình văn học riêng của dân tộc mình nhưng loại hình văn học chủ đạo là của dân tộc Kinh là dân tộc có dân số lớn nhất chiếm khoảng 86% dân số Việt Nam .

Văn học dân gian Việt Nam

Tục ngữ, ca dao, truyện cười, truyện ngụ ngôn, truyện cổ tích, truyền thuyết, thần thoại, là những loại hình văn học dân gian Việt Nam, sản phẩm tinh thần của người bình dân, nảy sinh trong quá trình lao động, cuộc sống sinh hoạt thường ngày. Nền tảng văn học dân gian này được chọn lọc tinh hoa tiếng nói và chữ viết để xây nên dòng văn học bác học Việt Nam là linh hồn, sức sống của dân tộc Việt. Việc sưu tầm và bảo tồn các công trình nghệ thuật và văn học dân gian Việt Nam được nhà nước Việt Nam khuyến khích.

Tục ngữ Việt Nam . Tục ngữ Việt Nam là những câu nói hoàn chỉnh, đúc kết kinh nghiệm của nhân dân về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội. Tục ngữ thiên về trí tuệ nên thường được ví von là “trí khôn dân gian”. Trí khôn đó thật phong phú và cũng rất đa dạng được diễn đạt bằng ngôn từ ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ, giàu hình ảnh và có nhịp điệu. Tục ngữ Việt Nam là văn học nói dân gian được người Việt vận dụng trong lời nói giao tiếp hàng ngày của đời sống sinh hoạt cộng đồng xã hội. Tục ngữ Việt Nam do hình thành từ đời sống thực tiễn, lao động sản xuất của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác; được đúc kết thành tác phẩm văn học dân gian hoặc ngược lại bằng con đường dân gian hóa những ý đẹp lời hay của người Việt hoặc học được từ tinh hoa của các dân tộc khác.

Nước chảy đá mòn.
Đi một ngày đàng, học một sàng khôn.
Có công mài sắt, có ngày nên kim.
Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.
Cha mẹ sinh con, trời sinh tính.

Ca dao Việt Nam. Ca dao (歌謠) là thơ ca dân gian Việt Nam được truyền miệng dưới dạng những câu hát không theo một điệu nhất định, thường phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ, dễ thuộc. Ca dao là một từ Hán Việt, theo từ nguyên, ca là bài hát có chương khúc, giai điệu; dao là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc. Ca dao Việt Nam phản ánh đời sống tinh cảm, quan hệ xã hội và giao tiếp, nếp sống, phong tục, tập quán, tiếng cười trào lộng và tư duy văn hóa của người lao động Việt Nam.

“Một cây làm chẳng lên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”.
“Ai ơi giữ chí cho bền
Dù ai xoay hướng đổi nền mặc ai”.
“Ai ơi bưng bát cơm đầy,
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần”.

Dân ca Việt Nam gồm Dân ca ba miền Bắc Trung Nam, hát chèo, hát tuồng, múa rối nước, ca trù, hát nói, ví dặm, cải lương, kịch dân ca, sân khấu cổ truyền, hò, vè, đồng dao, hát ru, thành ngữ là những loại hình văn học văn hóa dân gian rất gần gũi với người Việt. Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam là linh hồn ngôn ngữ Việt có sức sống mạnh mẽ, hòa quyện kết nối với nhiều loại hình văn hóa và có tầm ảnh hưởng to lớn. Theo Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, TTXVN, hiện tại,  Việt Nam có 12 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận, bao gồm: Nhã nhạc cung đình Huế (2003); Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên (2005); Dân ca quan họ Bắc Ninh (2009), Ca trù (2009); Hội Gióng tại đền Phù Đổng và đền Sóc (2010);  Hát Xoan (2011); Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ (2012); Đờn ca tài tử Nam Bộ (2013); Dân ca Ví Giặm Nghệ Tĩnh (2014); Nghi lễ và trò chơi kéo co (2015); Thực hành tín ngưỡng thờ mẫu Tam Phủ của người Việt (2016); Nghệ thuật bài chòi Trung Bộ (2017).

Ca trù hát nói Việt Nam là di sản văn hóa thế giới phi vật thể. Mời lắng nghe và cảm nhận một trích đoạn Hồng Hồng Tuyết Tuyết ca trù hát nói tinh hoa cổ văn chương Việt. Nghệ sĩ  Quách Thị Hồ thể hiện:

Non xanh xanh

Nước xanh xanh
Sớm tình tình sớm, trưa tình tình trưa
Áy ai tháng đợi năm chờ
Mà người ngày ấy bây giờ là đây…

Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ”  là bài thơ ‘Tỏ ý’ của Hồ Xuân Hương đối với Nguyễn Du . Bài thơ tình xuân thiết tha, lời thơ là lời hát nói có nhạc bên trong theo diệu ức Giang Nam nên câu thơ hay hiếm thấy. Bài thơ “Tỏ ý” này rút trong tập thơ “Lưu Hương Ký” thơ chữ Hán Nôm Hồ Xuân Hương. Con người tác giả và tác phẩm này là nguyên mẫu người và thơ để Nguyễn Du đưa nhân vật, sự kiện và thời thế vào trong kiệt tác Truyện Kiều.

TỎ Ý

Hồ Xuân Hương
tặng  Mai Sơn Phủ (Nguyễn Du)

(Bản dịch của Hoàng Kim)

Hoa rung rinh,
Cây rung rinh,
Giấc mộng cô đơn nhớ hương tình,
Đêm xuân bao cảm khái.

Hươu nơi nao
Nhạn nơi nao
Mình ước trong nhau ban mai nào
Lòng em thương nhớ ai thấu sao!

Sông mênh mông
Nước dạt dào
Lòng hai chúng mình đều ao ước
Nước mắt thầm rơi mặn chát.

Thơ thương thương,
Lòng vương vương,
Ấm lạnh lòng ai thấu tỏ tường,
Bút người tả xiết chăng?

Mây lang thang
Trăng mênh mang
Trăng gió xui ai luống đoạn tràng
Đâu là gác Đằng Vương ?
Mây vương vương
Nước sương sương
Mây nước chung nhau chỉ một đường
Dặm trường cách trở  thương càng thương.

Ngày thênh thênh,
Đêm thênh thênh,
Đêm ngày khắc khoải nhớ thương anh,
Người ơi đừng lỡ hẹn sai tình.

Gió bay bay
Mưa bay bay
Mưa gió giục em viết thơ này
Bút xuân gửi đến người thương nhớ

Anh đồng lòng
Em đồng lòng
Mộng hồn tương luyến liễu hoa âm (*)
Thơ cùng ngâm
Rượu và trăng
Thăm thẳm buồn ly biệt
Vầng trăng chia hai nữa
Cung đàn ly khúc oán tri âm (**),
Thôi đành bặt tiếng hồ cầm
Núi cao biển sâu đằng đẳng
Xin chớ tủi buồn mà than cổ kim.

Chàng hẹn gì
Ta hẹn gì
Hai ta đều muộn, nói năng chi
Trà mà chi
Bút mà chi
Lời và chữ còn đó
Ai là kẻ tình si
Hiểu nhau trong dạ khó khăn gì
Hãy nên trao gửi mối duyên đi
Lòng son ai nỡ phụ.

Nguyên tác:




鹿








































Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ

Hoa phiêu phiêu,
Mộc tiêu tiêu,
Ngã mộng hương tình các tịch liêu,
Khả cảm thị xuân tiêu.

Lộc ao ao,
Nhạn ngao ngao,
Hoan thảo tương kỳ tại nhất triêu,
Bất tận ngã tâm miêu.

Giang bát bát,
Thủy hoạt hoạt,
Ngã tứ quân hoài tương khế khoát,
Lệ ngân chiêm hạ cát.

Thi tiết tiết,
Tâm thiết thiết,
Nồng đạm thốn tình tu lưỡng đạt,
Dã bằng quân bút phát.

Phong ngang ngang,
Nguyệt mang mang,
Phong nguyệt linh không khách đoạn tràng,
Hà xứ thị Đằng Vương?
Vân thương thương,
Thuỷ ương ương,
Vân thuỷ na kham vọng nhất trường,
Nhất trường dao vọng xúc hoài mang.

Nhật kỳ kỳ,
Dạ trì trì,
Nhật dạ thiên hoài lữ tứ bi,
Tứ bi ưng mạc ngộ giai kỳ.

Phong phi phi,
Vũ phi phi,
Phong vũ tần thôi thái bút huy,
Bút huy đô thị phó tình nhi.

Quân hữu tâm,
Ngã hữu tâm,
Mộng hồn tương luyến liễu hoa âm.
Thi đồng ngâm,
Nguyệt đồng châm.
Nhất tự sầu phân ly,
Hà nhân noãn bán khâm.
Mạc đàn ly khúc oán tri âm,
Trực tu khí trí thử dao cầm.
Cao sơn lưu thuỷ vãn tương tầm,
Ưng bất hận ngâm thán cổ câm.

Quân hà kì,
Ngã hà kì,
Lữ đình lai đắc lưỡng thê trì.
Dánh tần phi,
Bút tần huy,
Nhất trường đô bút thiệt,
Hà xứ thị tình nhi?
Hảo tư tâm thượng các tương tri,
Dã ưng giao thác thử duyên đề,
Phương tâm thệ bất phụ giai kỳ.

Bài từ theo điệu Ức Giang Nam.


Kiều – Nguyễn Du

Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ” là thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương tặng Mai Sơn Phủ Nguyễn Du, ngón hồ cầm tuyệt diệu hát nói ca trù Kiều gẩy đàn cho Kim Trọng nghe “Trong như tiếng hạc bay qua. Đục như nước suối vừa sa nửa vời. Tiếng khoan như gió thoảng ngoài. Tiếu mau sầm sập như trời đổ mưa. Ngọn đèn khi tỏ khi mờ. Khiến người ngồi đấy cũng ngơ ngẫn sầu. Khi tựa gối khi cúi đầu. Khi vò chín khúc , khi chau đôi mày” (Truyện Kiều, Nguyễn Du).

là chuyện khen chê có ca vần và việc sáng tác vè là việc đặt chuyện khen chê có ca vần. Thí dụ: ‘Thằng Bờm có cái quạt mo/ Phú ông xin đổi ba bò, chín trâu/ Bờm rằng: Bờm chẳng lấy trâu/ Phú ông xin đổi một xâu cá mè./ Bờm rằng: Bờm chẳng lấy mè / Phú ông xin đổi một bè gỗ lim/  Bờm rằng: Bờm chẳng lấy lim/ Phú ông xin đổi con chim đồi mồi/ Bờm rằng: Bờm chẳng lấy mồi/ Phú ông xin đổi nắm xôi, Bờm cười’

Đồng dao (僮謠) là thơ ca dân gian truyền miệng của trẻ em Việt Nam. Đồng dao bao gồm các bài hát, lời hát trong hát ru trẻ em và các trò chơi  trẻ em. Đồng dao giúp trẻ phát triển trí tuệ toàn diện. Tuyển chọn những bài hát ru con Bắc Bộ

Truyện cười Việt Nam (còn gọi là truyện tiếu lâm) là một lĩnh vực truyện kể dân gian rộng lớn, đa dạng, phức tạp bao gồm những hình thức được gọi bằng những danh từ khác nhau như truyện tiếu lâm, truyện khôi hài, truyện trào phúng, truyện trạng, giai thoại hài hước

Truyện cổ tích Việt Nam là những truyện truyền miệng dân gian kể lại những câu chuyện tường tượng xoay quanh một số nhân vật quen thuộc như nhân vật tài giỏi, nhân vật dũng sĩ, người mồ côi, người em út, người con riêng, người nghèo khổ, người có hình dạng xấu xí, người thông minh, người ngốc nghếch và cả những câu chuyện kể về các con vật nói năng và hoạt động như con người.

Truyện ngụ ngôn Việt Nam là truyện kể có tính chất thế sự, dùng cách ẩn dụ để thuyết minh cho một chủ đề luân lý, triết lý một quan niệm nhân sinh hay một nhận xét về thực tế xã hội.

Truyện thần thoại Việt Nam:  tập họp những truyện kể dân gian về các vị thần, các nhân vật anh hùng, các nhân vật sáng tạo văn hóa, phản ánh quan niệm của người thời cổ về nguồn gốc thế giới và đời sống con người.

Truyện truyền thuyết Việt Nam:  những truyện truyền miệng kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng yếu tố hư ảo, thần kỳ như cổ tích và thần thoại.

Văn học Hán Nôm

Là loại hình văn học viết bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm. Đối với chữ Hán, rất nhiều áng văn thơ bất hủ của những người anh hùng vẫn còn lại đến ngày nay, như bài thơ của Lý Thường Kiệt, được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam:

Nam quốc sơn hà                             Sông núi nước Nam

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,           Sông núi nước Nam vua Nam ở,

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.    Rành rành định phận tại sách trời

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,       Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm,

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư        Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

Ngoài ra còn những tác giả lớn như: Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo, Chu Văn An, Lê Quý Đôn, Nguyễn Binh Khiêm v.v.

Đối với chữ Nôm, tuy thời gian sử dụng tồn tại không lâu, nhưng loại hình văn học viết bằng chữ Nôm cũng phát triển rất mạnh mẽ, trong đó phải kể đến các tác giả lớn như Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu v.v.

Văn học hiện đại

Chữ Quốc ngữ là tiền đề sản sinh nên nền văn học mới, đó là nền văn học hiện đại. Tác phẩm đẩu tiên viết bằng chữ quốc ngữ là tiểu thuyết “Ai làm được” của Hồ Biểu Chánh, xuất bản năm 1912. Sau đó là các tác phẩm văn xuôi, thơ ra đời. Các nhà văn nổi tiếng cùa nền văn học hiện đại phải kể đến như: Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Xuân Diệu, Nam Cao …

Các tác phẩm văn học hiện đại của Việt Nam gắn liền với cuộc sống và cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, coi trọng tình yêu thương con người, yêu thương đồng loại, tinh thần đoàn kết.

Các bài viết cùng chủ đề
VIỆT NAM TỔ QUỐC TÔI

Tập bài giảng LHS khoa Ngữ văn ĐHKHXHNV TP.HCM
Đề cương Kinh tế Xã hội Văn hóa Việt Nam
(*) Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim và ctv. 2018.
Việt Nam học, 学中越文, Học tiếng Trung Việt
https://hoangkimvn.wordpress.com
(Mọi trích dẫn đề nghị ghi rõ nguồn)

Việt Nam một thoáng nhìn toàn cảnh
Di sản thế giới tại Việt Nam
Vườn Quốc gia ở Việt Nam
Thông tin nhanh về Việt Nam
Việt Nam vùng lãnh thổ hành chính
Việt Nam đất nước và con người (1)
Nông nghiệp Việt Nam và du lịch
Kinh tế Việt Nam một khái quát 
Việt Nam đất nước và con người (2)
Việt Nam đất nước và con người (3)
Việt Nam đất nước và con người (4)
Việt Nam đất nước và con người (5)
Việt Nam 5000 năm Tiếng Việt và Nông nghiệp

Video yêu thích


Giới Thiệu Du Lịch Việt Nam
KimYouTube

Trở về trang chính
Học tiếng Trung Việt I Hoang To Nguyen  foodcrops.vn I Hoang Long Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

NÚI CAO BIỂN RỘNG
Bài đọc thêm

NguyenDu

NGUYỄN DU KIỆT TÁC THƠ CHỮ HÁN

Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim (*)

Nguyễn Du kiệt tác thơ chữ Hán dường như đã chạm thấu những vấn đề sâu sắc nhất của nhân loại và tình yêu thương con người. Nếu Truyện Kiều làm say đắm lòng người về nhân cách và tài năng trác tuyệt của một đại thi hào, danh nhân văn hóa thế giới thì Nguyễn Du kiệt tác thơ chữ Hán tỏa sáng tầm vóc và bản lĩnh của một anh hùng quốc sĩ tinh hoa. Ngày mới đọc kỹ lại Kỳ lân mộ, Liễu Hạ Huệ mộ, Đối tửu tại Thi Viện trang thơ Nguyễn Du và duyệt lại ba bài viết Nguyễn Du là bậc  anh hùng, Nguyễn Du viếng mộ Liễu Hạ Huệ, Tâm sự Nguyễn Du qua Đối tửu, thầm thương bậc anh hùng “Ba trăm năm nữa chốc mòng, biết ai hậu thế khóc cùng Tố Như“. Người hiểu và thương yêu kính trọng Con Người.

Thi Viện trang thơ Nguyễn Du

Thi Viện của tiến sĩ Đào Trung-Kiên đã  giới thiệu Nguyễn Du với một tóm tắt ngắn về đời và 275 bài thơ: “Nguyễn Du 阮攸 (13-1-1766 – 16-9-1820), tự Tố Như 素如, hiệu Thanh Hiên 清軒, quê gốc làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, nhưng sinh và trải qua thời niên thiếu ở Thăng Long. Cha là Nguyễn Nghiễm đã làm tới chức tể tướng triều Lê. Mẹ là bà Trần Thị Tần, vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm, người xứ Kinh Bắc (Nguyễn Nghiễm có tám vợ, hai mươi mốt người con). Mười tuổi, Nguyễn Du mồ côi cha, mười ba tuổi mồ côi mẹ. Vì thế tiếng là con quan đại thần nhưng ngay từ thời thơ ấu Nguyễn Du đã phải sống vất vả thiếu thốn. … Thơ chữ Hán Nguyễn Du cho thấy phần sâu kín trong tâm trạng ông” … Danh mục các bài thơ chữ Hán kèm theo. Ba trích dẫn và bình luận về Kỳ lân mộ, Liễu Hạ Huệ mộ, Đối tửu là một góc nhìn về kiệt tác thơ chữ Hán Nguyễn Du.

Nguyễn Du và “Kỳ Lân mộ”

KỲ LÂN MỘ

Nguyễn Du

Phương Chi Yên Đệ người thế nào?
Cướp ngôi của cháu, đồ bất nhân.
Mỗi khi nổi giận giết mười họ,
Cổn to vạc lớn hại trung thần
Năm năm giết người hơn trăm vạn
Xương chất thành núi máu chảy tràn
Nếu bảo thánh nhân Kỳ Lân xuất
Buổi ấy sao không đi về Nam?

Nguyên văn chữ Hán

Hà huống Yên Đệ hà như nhân
Đoạt điệt tự lập phi nhân quân
Bạo nộ nhân sinh di thập tộc
Đại bỗng cự hoạch phanh trung thần
Ngũ niên sở sát bách dư vạn
Bạch cốt thành sơn địa huyết ân
Nhược đạo năng vị Thánh nhân xuất
Đương thế hà bất Nam du tường?

“Kỳ Lân mộ” là kiệt tác thơ Nguyễn Du trong Bắc Hành tạp lục. Tác phẩm được Nguyễn Du chính thức công bố vào năm Quý Dậu (1813) khi ông làm Chánh sứ của đoàn sứ thần  Nguyễn Ánh sang thông hiếu với nhà Thanh năm Gia Long thứ 12 và Gia Khánh thứ 17. “Kỳ Lân mộ” là văn kiện ngoại giao “ý tại ngôn ngoại” thể hiện quan điểm và đường lối chính trị của một triều đại. “Kỳ Lân mộ” lấy từ điển tích đã được ghi trong chính sử:  “Năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1406) có con Kỳ Lân xuất hiện ở Nam Dương. Quan trấn sai mang lên Bắc Kinh dâng Minh Thành Tổ. Nào ngờ đến đây Kỳ Lân chết. Viên quan sai chôn ở đây và lập bia để ghi lại chuyện đó. Mộ bị mưa gió san phẳng còn lại tấm bia này.”

Nguyễn Du thực ra đâu phải đến năm 1813 mới lên Bắc Kinh “Nghêu ngao vui thú yên hà / Mai là bạn cũ, hạc là người thân” mà từ sau năm 1787, khi Nguyễn Du cùng với Nguyễn Đăng Tiến và Nguyễn Quýnh, khởi nghĩa chống Tây Sơn tại Tư Nông thất bại, Vũ Văn Nhậm tha cho đi không giết. Ba người đã lên đường đi Vân Nam. Nguyễn Du đi lại rất nhiều nơi ở Trung Quốc. Nguyễn Du lên Yên Kinh cùng dịp với sứ đoàn Tây Sơn lên cầu phong An Nam quốc vương cho Nguyễn Huệ trước đó, vì Nguyễn Du có anh ruột là Nguyễn Nễ và anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn có vị trí trọng yếu trong đoàn sứ thần này. Bắc Hành tạp lục nhiều bài viết làm trong thời gian mười lăm năm lưu lạc và Truyện Kiều cũng vậy. Chuyến đi sứ của Nguyễn Du năm 1813 chỉ là sự hệ thống hóa, hợp thức hóa tác phẩm mà thôi. Nguyễn Du đã gặp vua Càn Long trước năm 1813. Ông đã thể hiện rõ quan điểm vì sao ông không theo nhà Tây Sơn trong khi phần lớn dòng họ Nguyễn Tiên Điền như hai người anh đã nêu trên và kể cả La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đều thuận theo nhà Tây Sơn còn Nguyễn Du khi không. Lý do vì nhà Tây Sơn đã bộc lộ những mầm họa anh em bất hòa, con bác con chú không dung được nhau như thảm cảnh của Minh Thành Tổ Yên Đệ dẫu nhất thời rất thành công nhưng tương lai khó bền vững. Quyết sách hung bạo không thể được coi là bậc minh chủ phúc hậu sáng suốt. Nguyễn Du được vua Càn Long tặng bức đại tự “Hồng Sơn liệp hộ” trước đó là chính vậy. “Phượng bay cao phi ngô đồng không đỗ. Sĩ ẩn minh phi minh chủ không thờ. Nông phu vui thú cày bừa. Thả câu, đốn củi, thờ  ơ việc đời.” Câu thơ cổ vận dụng cho hoàn cảnh Nguyễn Du thật đúng vô cùng và thế cục sau đó của Việt Nam diễn ra đúng vậy. Tầm nhìn Nguyễn Du thật thông tuệ. “Khen cho con mắt tinh đời. Anh hùng đoán giữa trần ai mới già” (Truyện Kiều).  Bậc danh sĩ  tinh hoa trong quyết định đời người đã thể hiện chính kiến và tầm nhìn thật đáng nể trọng.

Nguyễn Du là bậc anh hùng!

Yên Đệ Minh Thành Tổ là người thế nào? Chúng ta hãy soát lại thư tịch điển cố văn chương để luận cổ suy kim hiểu được chính kiến và những thông điệp ngoại giao sắc sảo của Nguyễn Du chính thức gửi vua Càn Long và vua Gia Khánh.

Theo đúc kết của Wikipedia tiếng Việt,  Yên Đệ Minh Thành Tổ là một nhân vật lịch sử nổi bật của Trung Quốc. Sử gia Trung Quốc cho đến nay vẫn gọi ông là Vĩnh Lạc Đế hay Vĩnh Lạc đại đế. Ông được coi là vị Hoàng đế kiệt xuất nhất của triều đại nhà Minh, và là một trong các Hoàng đế kiệt xuất nhất trong lịch sử của Trung Quốc. Thời kỳ của ông về sau được ca ngợi gọi là Vĩnh Lạc thịnh thế, khiến nhà Minh phát triển đỉnh cao về quyền lực trong lịch sử. Nguyễn Du qua tác phẩm “Kỳ Lân mộ” trong Bắc Hành tạp lục, đã mắng thẳng Yên Đệ Minh Thành Tổ  không phải là minh quân. Kẻ bá đạo có thể giành được ngai vàng, thắng được cuộc chiến, xô lệch lịch sử, cướp được nước người, xóa được di sản, nhưng không thể đoạt được lòng người chân thiện mỹ, bia miệng muôn đời vẫn lưu tiếng xấu.

Yên Đệ Minh Thành Tổ Vĩnh Lạc Đế, có tên thật là Chu Đệ, sinh năm 1360 tại Nam Kinh chết năm 1424 , là con trai thứ tư của Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương và Hiếu Từ Cao hoàng hậu Mã thị. Chu Đệ khi sinh thì cha ông là Chu Nguyên Chương đang dấy binh chống lại nhà Nguyên trên đà sụp đổ. Chu Đệ trở thành hoàng tử nhà Minh khi Chu Nguyên Chương xưng đế năm 1368 với niên hiệu Hồng Vũ. Ông được Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương phong làm Yên Vương nên tục danh gọi là Yên Đệ. Ông cướp ngôi của cháu và tự lập làm vua, là vị hoàng đế thứ 3 của nhà Minh, tại vị từ năm 1402 đến năm 1424, tổng cộng 22 năm. Ông  chỉ dùng một niên hiệu Vĩnh Lạc, nên sử gia gọi ông là Vĩnh Lạc Đế.

Yên Đệ khi làm Yên Vương đóng đô ở Bắc Bình (nay là Bắc Kinh). Sau một loạt chiến dịch thành công chống quân Mông Cổ, ông bắt đầu củng cố quyền lực của mình ở phía bắc và tiêu trừ đại tướng Lam Ngọc cùng với  các đối thủ. Lam Ngọc vốn là một danh tướng chỉ đứng sau Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân là các danh tướng khai quốc của nhà Minh.  Lam Ngọc vốn được ví như Vệ Thanh nhà Hán, Lý Tĩnh nhà Đường do có công đánh dẹp người Mông Cổ, mở rộng bờ cõi nhưng do tài năng kiệt xuất oai lấn Chu Nguyên Chương nên Chu Đệ dùng kế hiểm, vu oan cho Lam Ngọc mưu phản. Chu Nguyên Chương cho lực lượng an ninh nội vụ Cẩm Y Vệ vào cuộc, bắt giữ cả nhà Lam Ngọc rồi tru di chín họ cùng 2 vạn người. Thái tử Chu Tiêu mất đi một người ủng hộ hùng mạnh, còn Chu Đệ thì không còn đối thủ trong quân đội nhà Minh ở phía bắc. Đây cũng là tiền đề để Chu Đệ cướp ngôi sau này, khi triều đình không còn danh tướng nào so được với ông.

Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương sau khi mất, người kế vị là Minh Huệ Đế cháu nội của Chu Nguyên Chương. Minh Huệ Đế là con trai thứ hai của Chu Tiêu Ý Văn thái tử (1355-1382) với bà phi họ Lã . Ông là người hiếu học, tính hiếu thảo. Do cha và anh trai ông là Chu Hùng Anh đã mất trước khi Chu Nguyên Chương qua đời cho nên Chu Nguyên Chương lập ông làm người kế vị vào tháng 9 năm 1382. Đến năm 1396, Chu Nguyên Chương cho lập Đông cung vương phủ. Minh Huệ Đế khi còn là hoàng thái tôn, từng dâng biểu đề nghị Minh Thái Tổ cho sửa 73 điều của Luật Hồng Vũ vì ông cho rằng các điều này quá ư nghiêm khắc. Tháng 5 nhuận năm 1398, Chu Nguyên Chương bị bệnh mất, Minh Huệ Đế lên ngôi, đóng đô ở Nam Kinh. Ông thay đổi chính sách của ông mình, giảm bớt hình phạt nghiêm khắc, tha nhiều tù nhân và áp dụng chính sách triệt phiên nhằm tập trung quyền lực về trung ương. ăm 1398,Minh Huệ Đế lên ngôi, Chu Đệ mang quan quân từ Bắc Bình về Nam Kinh viếng cha, Minh Huệ Đế đã sai người chặn lại ở Hoài An bắt Chu Đệ phải quay về Bắc Bình với lý do ba vị vương tử con ông đã được tân hoàng giữ lại thủ hiếu giùm ông. Chu Đệ khóc ầm lên mà nói rằng: “Cùng là cốt nhục chí thân, sao lại làm nhục ta quá vậy?“. Chu Đệ sau khi về nhà thì giả ốm và không lâu sau thì  “phát điên” để bảo toàn cho ba người con trai của ông và tránh chính sách triệt phiên.

Yên Đệ đã lật đổ cháu trai Minh Huệ Đế trong một cuộc nội chiến đẫm máu, vốn bất lợi cho ông vào thời gian đầu, khi ba con trai của ông (Chu Cao Sí, Chu Cao Hú, Chu Cao Toại) còn ở Nam Kinh. Nhưng đến lúc Minh Huệ Đế thấy Chu Lệ sai sứ qua lại với thái độ mềm mỏng, cho rằng Chu Lệ thần phục nên thôi không giữ các con Chu Lệ nữa, thì tháng 7 âm lịch năm 1399, Yên Đệ khởi binh làm phản. Ban đầu, quân triều đình chiếm ưu thế nhưng do  Chu Nguyên Chương trước đó đã lạm sát công thần nên Minh Huệ Đế không còn tướng giỏi cầm quân. Yên Đệ lại là một danh tướng dày dạn chiến trận, vì vậy cán cân lực lượng sau đó ngả về phía Yên Đệ. Tháng 4 năm 1402, quân triều đình thua trận tại Hoài Bắc, quân của Yên Đệ Chu Lệ thừa thắng vượt qua sông Hoài Hà tiến về Trường Giang. Trong chiến sự, vai trò của Chu Cao Hú – một người con của Yên vương được Huệ Đế thả về – có đóng góp rất lớn.Yên Đệ Chu Lệ giành được ngai vàng vào cuối năm 1402.

Yên Đệ đã bắt đầu triều đại của mình bằng cách hợp pháp hóa việc lên ngôi xóa bỏ lịch sử toàn bộ thời gian trị vì của người cháu và thiêu hủy hay sửa đổi tất cả các tài liệu có liên quan đến tuổi thơ và cuộc nổi loạn của mình. Điều này dẫn đến việc thanh trừng vô số quan viên ở Nam Kinh và ban thẩm quyền đặc biệt ngoài vòng pháp luật cho chính sách bí mật của hoạn quan và nội chính. Ông nối tiếp chính sách tập trung của Chu Nguyên Chương, tăng cường thể chế của đế quốc và thành lập thủ đô mới tại Bắc Kinh. Ông cho cải cách khoa cử và  theo đuổi chính sách đối ngoại bành trướng với nhiều chiến dịch quy mô lớn chống lại quân Mông Cổ, đồng thời tăng cường sự ảnh hưởng và cường thịnh của nhà Minh đối với khu vực Đông ÁĐông Nam Á. Vĩnh Lạc Đế thành lập một hạm đội hùng hậu do Trịnh Hòa điều khiển. Trịnh Hòa (13711433) đã dẫn hạm đội xuống Bắc nước Úc, qua bán đảo Ả Rập và có tài liệu cho rằng Trịnh Hòa qua tận châu Mỹ. Hoàng đế còn cho sửa và mở lại Đại Vận Hà và vào khoảng năm 1407 đến năm 1420, trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng Tử Cấm Thành. Dưới thời ông, các học giả đương thời đã hoàn thành công trình đồ sộ Vĩnh Lạc đại điển.

Yên Đệ xô lệch lịch sử Trung Quốc thời đó bằng cách xóa bỏ hồ sơ thời cai trị của Minh Huệ Đế nhập vào thời kỳ Minh Thái Tổ. Tất cả các đại thần và gia đình họ cùng những kẻ thù  tiềm năng trên hai vạn người đều bị hành hình. Người anh trai cả đã mất của Chu Đệ là Chu Tiêu, vốn được Huệ Đế truy phong làm hoàng đế cũng bị ông giáng xuống làm Ý Văn Thái tử. Một quan viên trung thành của Huệ Đế là Phương Hiếu Nhụ, vốn được coi là bậc đại nho đương thời, không chịu quy hàng Chu Đệ khi Nam Kinh đã bị công phá, còn miệt thị ông là đồ phản tặc. Chu Đệ giận lắm, muốn giết ông nhưng đã bị một người thân tín là hòa thượng Đạo Diễn khuyên can: “Nay giết Nhụ thì tiệt hết cái nòi đọc sách trong thiên hạ, vậy còn ai dám ra sức vì bệ hạ?”. Chu Đệ nghe theo, sai người bắt Phương Hiếu Nhụ viết một đạo chiếu thư giả của Thái Tổ để hợp pháp hóa việc kế vị của mình vì Hiếu Nhụ là người đứng đầu bách quan, bù lại sẽ cho Hiếu Nhụ giữ lại chức quan cùng với tăng thêm bổng lộc, dù rằng chính Hiếu Nhụ là người ra các kế sách triệt phiên, dẫn đến cái chết của người em ruột của Thành Tổ. Phương Hiếu Nhụ nhận lấy giấy bút rồi viết lên bốn chữ to: “Yên tặc soán vị”. Chu Đệ xem xong hận ông lắm nhưng vẫn tiếc, cho đòi ông đến rồi hỏi: “Ngươi không sợ bị tru di chín họ sao?”. Phương Hiếu Nhụ đáp lại: “Tru di mười họ thì đã làm sao?”. Chu Đệ không nhịn nữa, sai người bắt hết thân tộc chín họ của Phương Hiếu Nhụ, lại bảo rằng: “Đã thế thì gom hết môn sinh, bạn bè, hàng xóm của nó lại cho đủ mười họ”, tổng cộng hơn nghìn người đều bị hành quyết. Đây là việc “Tru di thập tộc” nổi tiếng, trước chưa từng có, sau không xuất hiện, làm nổi bật sự tàn bạo của Chu Đệ.

Yên Đệ cướp nước Đại Việt, xóa sạch di sản, thực hiện sự đồng hóa triệt để, với các chính sách hết sức thâm độc và tàn bạo. Với chiêu bài giúp đỡ nước yếu, tăng cường sự ảnh hưởng của nhà Minh đối với khu vực Đông ÁĐông Nam Á, Yên Đệ đã gây chia rẽ Đại Việt với Chiêm Thành tạo cớ gây hấn liên tục từ phương Nam. Với âm mưu nham hiểm “phù Trần diệt Hồ”, năm 1406, Hoàng đế Vĩnh Lạc chính thức đáp lại các thỉnh cầu từ Trần Thiêm Bình – người xưng là dòng dõi nhà Trần đã bị nhà Hồ lật đổ năm 1400. Tuy nhiên khi trở về nước, Trần Thiêm Bình và tướng lĩnh, quân đội nhà Minh đi cùng đã bị quân nhà Hồ đánh bại và bủa vây. Tướng Hoàng Trung phải nhượng bộ xin giao nộp Trần Thiêm Bình cho nhà Hồ bắt giết để được mở đường rút quân về nước. Minh Thành Tổ đã đem hai đạo quân xâm lược Đại Ngu, đánh bại nhà Hồ năm 1407, sau đó thực hiện âm mưu đồng hóa nước Việt một cách lâu dài.

Yên Đệ Minh Thành Tổ đã cho người đốt hết những sách vở, phá hủy những bia đá có khắc văn tự của người Việt, bắt những thợ thủ công có tay nghề cao người Việt thiến đi rồi đưa về Trung Quốc để phục dịch, đàn áp thảm khốc, sưu cao thuế nặng, Nguyễn Trãi đã khẳng định những tội ác mất nhân tính này  trong “Bài cáo bình Ngô”:

“… Vừa rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,
Để trong nước lòng dân oán hận.
Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ,
Bọn gian tà bán nước cầu vinh.
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế,
Gây binh kết oán trải hai mươi năm.
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc,
ngán thay cá mập thuồng luồng.

Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng,
khốn nỗi rừng sâu, nước độc.

Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng,
Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng,
máu mỡ bấy no nê chưa chán ;

Nay xây nhà, mai đắp đất,
chân tay nào phục dịch cho vừa.

Nặng nề những núi phu phen,
Tan tác cả nghề canh cửi.
Độc ác thay,
trúc Nam Sơn không ghi hết tội,

Dơ bẩn thay,
nước Đông Hải không rửa sạch mùi.

Lẽ nào trời đất dung tha,
Ai bảo thần nhân chịu được?

Nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại các bộ máy xâm lược nhà Minh. Minh Thành Tổ đã điều các tướng Mộc Thạnh, Trương Phụ sang dẹp các cuộc khởi nghĩa này do Trần NgỗiTrần Quý Khoáng lãnh đạo.  Sau khi họ Trần thất bại, vào đầu năm 1418 một cuộc nổi dậy lớn do Lê Lợi khởi xướng. Năm 1424 nghĩa quân Lam Sơn đã chiếm lại gần như toàn bộ vương quốc đúng lúc Yên Đệ chết. Năm 1427, Minh Tuyên Tông đã chính thức thừa nhận nền độc lập của Việt Nam với điều kiện Đại Việt chấp nhận làm chư hầu và phải cống nạp người vàng tượng trưng cho Liễu Thăng bị giết ở ải Chi Lăng mỗi lần đi sứ.

Bên lề chính sử chép lại một số trích đoạn trong  tác phẩm “Nguyễn Du”, tiểu thuyết lịch sử của nhà văn, nhà giáo Nguyễn Thế Quang, Chương 1, trang 15 – 25. Nguyễn Du vì sao không chịu ra phò nhà Tây Sơn. Sự thật lịch sử khớp đúng với chính sử, đồng thời cũng thể hiện phù hợp với tính cách và số phận của các nhân vật ở tài liệu tham khảo 2 dưới đây.

 

Nguyễn Du, Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh, ai là anh hùng đây? “Nguyễn Huệ là kẻ anh hùng“, Hồ Chí Minh sau này đã nhận định về Nguyễn Huệ như vậy. Còn Nguyễn Du thì chính ông tự yêu thích với danh phận “Hồng Sơn liệp hộ, Nam Hải điếu đồ” (kẻ đi săn ở núi Hồng, người câu cá ở biển Nam) thung dung an nhiên tự tại. Nguyễn Du tả về Từ Hải ở trong Truyện Kiều đã hạ một câu: “Khen cho con mắt tinh đời/ Anh hùng đoán giữa trần ai mới già“.  Thật sâu sắc thay!

Nguyễn Du viếng mộ Liễu Hạ Huệ

LIỄU HẠ HUỆ MỘ

Sông Tứ dưới cầu Ngô Điếm qua
Danh thơm kẻ sĩ chửa phôi pha
Đạo ngay xử thế ba lần truất
Bậc thánh nên công một đức Hòa
Đối mặt Ni Sơn vinh nước tổ
Thương thân Đạo Chích hổ danh nhà
Bia tàn chữ mất vùi gai góc
Nghe tiếng nghìn năm tôi xuống xe

(Dịch thơ: Đặng Thế Kiệt)

Nguyên văn chữ Hán

柳下惠墓

吳店橋通泗水波
士師名蹟未消磨
事人直道寧三黜
作聖全功在一和
相對尼山長有魯
可憐盜跖已無家
碑殘字沒埋荒草
天古聞風一下車

Liễu Hạ Huệ mộ

Ngô Điếm kiều thông Tứ thủy ba
Sĩ Sư danh tích vị tiêu ma
Sự nhân trực đạo ninh tam truất
Tác thánh toàn công tại nhất hòa
Tương đối Ni Sơn trường hữu Lỗ
Khả liên Đạo Chích dĩ vô gia
Bi tàn tự một mai hoang thảo
Thiên cổ văn phong nhất há xa

Mộ Liễu Hạ Huệ (Dịch nghĩa)

Dưới cầu Ngô Điếm sông Tứ chảy
Tiếng tăm của bậc Sĩ sư vẫn chưa mất
Lấy đạo ngay thẳng thờ người, ba lần chịu mất chức
Nên công bậc thánh ở chữ “Hòa”
Đối mặt Ni Sơn, nước Lỗ còn mãi mãi
Thương cho Đạo Chích kẻ không nhà
Bia tàn chữ mất chôn vùi nơi cỏ hoang
Nghìn năm còn nghe tiếng, tôi xuống xe.

Liễu Hạ Huệ mộ là kiệt tác của Nguyễn Du trong Bắc Hành tạp lục. Tác phẩm được Nguyễn Du chính thức công bố vào năm Quý Dậu (1813) khi ông là Chánh sứ của đoàn sứ thần của Nguyễn Ánh sáng thông hiếu với nhà Thanh năm Gia Long thứ 12 và Gia Khánh thứ 17. Liễu Hạ Huệ mộ  và Kỳ Lân mộ tại Bắc Hành tạp lục được trình lên vua Càn Long, một vị vua thông minh tài trí kiệt xuất của Trung Quốc trong lịch sử. Nguyễn Du, với cương vị là Chánh sứ đã chuyển tải thông điệp ngoại giao là thật rõ ràng và “ý tại ngôn ngoại” thật kiệt xuất.

Liễu Hạ Huệ là người thế nào? Tìm lại thư tịch điển cố văn chương để luận cổ suy kim hiểu được những thông điệp ngoại giao sắc sảo của Nguyễn Du chính thức gửi vua Càn Long và vua Gia Khánh.

Liễu Hạ Huệ (sinh 720 TCN, mất 621 TCN) tức Triển Cầm 展禽, tên Hoạch 獲, tự là Quý 季, người đất Liễu Hạ 柳下, nước Lỗ 魯, thời Xuân Thu 春秋, nổi tiếng là một chính nhân quân tử. Liễu Hạ Huệ làm Sĩ Sư, ba lần bị truất mà không bỏ nước. Có người hỏi, ông trả lời: “Lấy đạo ngay mà thờ người thì đi đâu mà không bị ba lần truất. Nếu lấy đạo cong thì hà tất phải bỏ nước của cha mẹ“. Sau khi chết, được đặt tên thụy là Huệ 惠. Mạnh Tử khen ông là bậc thánh về Hòa (Thánh chi Hòa 聖之和).

Sách Đông Chu liệt quốc của Phùng Mộng Long, hồi thứ ba mươi chín “Triển Hỉ vấn kế cùng Liễu Hạ Huệ” tóm tắt như sau:

Trong lúc này, Tề Hiến Công vẫn có ý nối chí cha, nuôi mộng bá chủ chư hầu. Một hôm hỏi các quan đại phu: Tiên quân ta là Tề Hoàn Công lúc nào cũng lo đánh đông dẹp bắc, gây thế lực cho mình, chư hầu kính nể. Nay đến đời ta, chẳng lẽ cứ nằm im, trong khi các chư hầu mỗi ngày một mạnh? Ta còn nhớ năm trước vua Lỗ định giúp Vô Khuy chống cự với ta, hận ấy chưa trả. Nay Lỗ lại liên kết với Vệ và Sở, thế rất mạnh, nếu không trừ trước ắt sanh hậu họa. Vừa rồi , ta nghe nói nước Lỗ mất mùa, ta muốn thừa cơ đánh Lỗ, ý các ngươi thế nào? Quan thượng khanh Cao Lỗ nói: Nước Lỗ được nhiều nước giúp, ta đánh khó thắng nổi. Tề Hiến Công nói: Nếu ngồi nhà mà luận chưa chắc đã đúng. Cứ đem quân đến đánh thử một trận xem các nước chư hầu có ai giúp Lỗ chăng? Nói xong, cử binh kéo sang miền bắc nước Lỗ.

Quân thám thính về báo, Lỗ Hi Công nói: Nước ta đang lúc mất mùa, quân Tề lại kéo sang, vậy thì nên đánh hay hòa? Quan đại thần Tang Tôn Thần nói: Xin chúa công nhẫn nhục cho người đến giảng hòa với Tề, nếu không xong sẽ tính. Lỗ Hi Công hỏi: Hiện nay ai có thể lãnh trọng trách đó? Tang Tôn Thần nói: Tôi xin tiến cử Triển Hoạch, con quan Tư Không đời trước, làm quan Sĩ Sư, được phong ở đất Liễu Hạ. Người ấy nho nhã, thông minh lắm, chỉ vì chán ghét thói đời nên từ quan về sống cảnh an cư. Nay được người ấy đi chắc vua Tề phải kính trọng. Lỗ Hi Công nói: Tôi vẫn nghe tiếng người ấy, song hiện nay người ấy ở đâu? Tang Tôn Thần nói: Hiện nay nơi Liễu Hạ. Lỗ Hi Công liền cho người đến triệu Triển Hoạch, Triển Hoạch cáo bệnh không đến. Lỗ Hi Công hỏi Triển Hoạch cáo bệnh, bây giờ phải làm sao? Tang Tôn Thần nói: Triễn Hoạch còn có người em là Triển Hỉ dẫu quan chức nhỏ nhưng có tài ứng đối rất hay. Nay sai Triển Hỉ đến nhà Triển Hoạch hỏi xem dùng cách gì để ứng đối với vua Tề.

Lỗ Hi Công theo lời, sai Triển Hỉ đến Liễu Hạ. Triển Hỉ theo lệnh đến nơi vào yết kiến Triển Hoạch, thuật lại ý muốn của Lỗ Hi Công và sứ mệnh của mình. Triển Hoạch nói: Vua Tề sang đánh ta là ý muốn noi công nghiệp của Tề Hoàn Công ngày trước, nhưng không biết muốn làm bá chủ phải tôn phù Thiên tử nhà Chu. Nay ta đem di mệnh của Tiên vương ngày xưa mà trách vua Tề thì thiếu gì cách nói. Triển Hỉ trở về nói với Lỗ Hi Công: Tôi đã hỏi được cách ứng đối với vua Tề rồi.

Lỗ Hi Công liền phát lễ vật sai Triển Hỉ đến thương thuyết với vua Tề (…). Triển Hỉ nói với vua Tề: Chúa công tôi nghe xa giá nhà vua sang địa giới nước tôi nên sai tôi đến đây để tiến dâng lễ vật. Tề Hiến Công hỏi: Người Lỗ nghe ta đem quân sang đánh có sợ chăng? Triển Hỉ đáp: Có những bọn tiểu nhân thì sợ thật nhưng những người quân tử thì không chút gì sợ hãi. Tề Hiến Công nói: Hiện nay nước ngươi không có ai mưu trí như Thi Bá, cũng không có ai vũ dũng bằng Tào Tuệ, ngoài đồng lại bị mất mùa, cây cỏ vàng úa . Thế thì cậy vào đâu mà không sợ hãi? Triển Hỉ nói: Nước tôi không cậy tài cũng không cậy của, chỉ cậy có một điều là di mệnh của Tiên vương mà thôi. Tiên vương nhà Chu ta ngày xưa phong Thái công nơi đất Tề, phong Bá nơi nước Lỗ, khiến hai nước uống huyết ăn thề: “Con cháu sau này đời đời cùng giúp nhà Chu, không làm hại lẫn nhau”. Lời thề ấy còn chép trong sử sách hai nước. Trước kia Tề Hoàn Công lên làm bá chủ cũng vì hội chư hầu nơi đất Kha để giúp Thiên tử, nay hiền hầu bỏ đường lối ấy mà dùng vũ lực uy hiếp các nước chư hầu, trái với lời thề của Tiên vương, làm sao nên được? Tôi dám chắc hiền hầu không bao giờ làm trái đạo. Bởi vậy, nước tôi không sợ hãi. Tề. Hiến Công nghe nói nghĩ thầm, rồi bảo Triển Hỉ: Ngươi về nói lại với Lỗ hầu, ta xin cùng nước Lỗ giảng hòa. Nói xong truyền lui binh về nước.”

Thơ chữ Hán của Nguyễn Du có Bắc hành tạp lục, Nam trung tạp ngâm và Thanh Hiên thi tập. Thi Viện http://www.thivien.net/ đến nay đã thu thập được 226 bài trong đó “Bắc hành tạp lục” có 132 bài, Nam Trung tạp ngâm 16 bài và Thanh Hiên thi tập 78 bài. Lời thơ điêu luyện, theo cách nói của Mai Quốc Liên thì: “Thơ chữ Hán của Nguyễn Du là những áng văn chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vô tận về ý nghĩa. Nó mới lạ và độc đáo trong một nghìn năm thơ chữ Hán của ông cha ta đã đành, mà cũng độc đáo so với thơ chữ Hán của Trung Quốc nữa”.

“Liễu Hạ Huệ mộ” là một tuyệt phẩm của Nguyễn Du trong “Bắc hành tạp lục”. Năm Gia Long thứ mười một 1813, Nguyễn Du được thăng chức Cần Chánh điện đại học sĩ và được cử làm Chánh Sứ đi Trung Quốc từ khoảng giữa năm 1813 đến gần cuối năm 1814. Trên hành trình muôn dặm của một sứ thần, Nguyễn Du đã đến nước Lỗ (tỉnh Sơn Đông ngày nay) nơi có ngọn núi Thái Sơn hùng vĩ, đất thiêng khởi phát của nhà Chu và tộc Hán, nơi quê hương và an nghỉ của Khổng Tử (Trọng Ni) với lời cảm khái của Tư Mã Thiên “ Kinh Thi nói: Núi cao ta trông , đường rộng ta đi, Tuy đích chưa đến nhưng lòng hướng về̀. Tôi đọc sách của họ Khổng, tưởng tượng như thấy người. Đến khi đến Lỗ, xem nhà thờ Trọng Ni, nào xe cộ, nào áo, nào đồ tế lễ, học trò tập về nghi lễ ở nhà Khổng tử theo đúng từng mùa, tôi bồi hồi nán lại, bỏ đi không dứt. Trong thiên hạ các vua chúa và người tài giỏi rất nhiều, khi sống thì vinh hiển, nhưng lúc chết là hết. Khổng Tử là một người áo vải thế mà truyền hơn mười đời, các học giả đều tôn làm thầy, từ thiên tử đến vương hầu ở Trung Quốc hễ nói đến lục nghệ đều lấy Khổng Tử làm tiêu chuẩn. Có thể gọi là bậc chí Thánh vậy!”.

Nguyễn Du tìm đến viếng mộ Liễu Hạ Huệ, người Sĩ Sư ba lần bị biếm chức. Liễu Hạ Huệ có người em trai là kẻ trộm (Đạo Chích) với bia miệng người đời “chó nhà Đạo Chích sủa vua Nghiêu”. Ông cũng có người em trai là Triển Hỷ “chỉ làm một chức quan nhỏ”. Việc Vua Lỗ triệu kiến ông đi làm sứ thần, ông đã cáo ốm không đến nhưng kế sách châu ngọc của ông qua sự vấn kế của Triển Hỷ thì đã tránh cho dân chúng được cái thảm họa chiến tranh. Nguyễn Du đến thăm mộ Liễu Hạ Huệ nơi “bia tàn chữ mất vùi gai góc/ nghe tiếng nghìn năm tôi xuống xe” càng cho thấy nhân cách kẻ sĩ và sự cảm thông của ông đối với Liễu Hạ Huê sâu sắc đến dường nào.

Những người hiền xưa nay thực ra đời nào cũng có, thời thế nhiễu loạn, chẳng qua vàng lầm trong cát đấy thôi. Nguyễn Du là con quan tướng quốc Nguyễn Nhiễm cựu thần nhà Lê và mẹ ông là người phụ nữ tài sắc, vợ lẽ nhà quan, gặp lúc thế nước động loạn, chúa Trịnh, nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn đều có ý riêng. Ông lớn lên trong cảnh lận đận không nhà, có tài mà không thể cậy. Ông là một đại sĩ phu tài năng trác tuyệt nhưng chỉ làm một viên quan thường triều Nguyễn mà vua vừa dùng vừa tìm cách kiềm chế như đối với Nguyễn Công Trứ, Phan Huy Chú. Ông vì giỏi nên được vua Nguyễn cử đi sứ Tàu mà thôi. Thơ Nguyễn Du vì vậy kín đáo và sâu sắc hiếm thấy.

Bài thơ thật cô đọng, tài tình và tuyệt hay! Cầu Ngô Điểm, sông Tứ, núi Ni, ba lần truất, thánh chi hòa “Đối mặt Ni Sơn, nước Lỗ còn mãi, thương cho Đạo Chích kẻ không nhà” Mỗi câu thơ là những cụm từ chìa khóa với tình ý mênh mang. Viếng mộ Liễu Hạ Huệ, viết Truyện Kiều là Nguyễn Du đã gửi gắm tâm sự và sự trăn trở của người sỉ phu trí thức thời loạn như thân phận nàng Kiều và Liễu Hạ Huệ vậy.

*

Nguyễn Du viếng mộ Liễu Hạ Huệ nơi “bia tàn chữ mất vùi gai góc/ nghe tiếng nghìn năm tôi xuống xe” càng cho thấy nhân cách kẻ sĩ và sự cảm thông của ông đối với Liễu Hạ Huê sâu sắc đến dường nào. Người hiền thực ra đời nào cũng có, thời thế nhiễu loạn, chẳng qua vàng lầm trong cát đấy thôi.

Những giá trị nhân văn đích thực của Nguyễn Du rất cần những khoảng lặng để đối diện với chính mình để thấu hiểu. Nhờ việc tra cứu, đọc đi đọc lại nhiều lần bài thơ ‘Liễu Hạ Huệ mộ’ của cụ Nguyễn Du, tôi chợt sững người, nhận thức thêm được những nỗi niềm của cụ Nguyễn lấp lánh sau những con chữ …

Tâm sự Nguyễn Du qua “Đối tửu”

ĐỐI TỬU
(Trước ly rượu)

Nguyễn Du

Bên cửa xếp bằng ngất ngưởng say
Cánh hoa rơi phủ thảm rêu đầy
Sống chưa vơi nửa lưng ly rượu
Chết hỏi rằng ai tưới mộ đây ?
Xuân đã xa dần oanh bỏ tổ
Tháng năm bàng bạc tóc màu mây
Trăm năm chỉ ước say mềm mãi
Thế sự bèo mây… ngẫm đắng cay

(Bản dịch thơ của Hoa Huyền)

Ngồi bên cửa sổ mắt đờ say,
Trên thảm rêu xanh hoa rụng đầy.
Sống đã không vơi bầu rượu được,
Chết rồi ai rưới mộ mình đây?
Sắc xuân dần đổi, chim vàng lánh,
Năm tháng ngầm xui tóc bạc dày.
Ước được trăm năm say khướt mãi,
Việc đời mấy nỗi, nghĩ buồn thay!

(Bản dịch thơ của Nguyễn Thạch Giang)

Nguyên văn chữ Hán








Đối tửu

Phu toạ nhàn song tuý nhãn khai,
Lạc hoa vô số há thương đài.
Sinh tiền bất tận tôn trung tửu,
Tử hậu thuỳ kiêu mộ thượng bôi ?
Xuân sắc tiệm thiên hoàng điểu khứ,
Niên quang ám trục bạch đầu lai.
Bách kỳ đãn đắc chung triêu tuý,
Thế sự phù vân chân khả ai.

Dịch nghĩa

Ngồi xếp bằng tròn trước cửa sổ, rượu vào hơi say mắt lim dim,
Vô số cánh hoa rơi trên thảm rêu xanh.
Lúc sống không uống cạn chén rượu,
Chết rồi, ai rưới trên mồ cho ?
Sắc xuân thay đổi dần, chim hoàng oanh bay đi,
Năm tháng ngầm thôi thúc đầu bạc.
Cuộc đời trăm năm, chỉ mong say suốt ngày.
Thế sự như đám mây nổi, thật đáng buồn.

Đối tửu là tuyệt phẩm thơ của cụ Nguyễn Du do Hoa Huyền giới thiệu bản chữ Hán, dịch nghĩa, dịch thơ, thư pháp và những bài họa vần. Tâm sự Nguyễn Du qua Đối tửu là tâm sự của bậc anh hùng.

Nguyễn Du là bậc anh hùng; Nguyễn Du 250 năm nhìn lại; Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa; Nguyễn Du hiền tài lỗi lạc. Đó là loạt bài viết về nhân cách và trí tuệ Nguyễn Du. Từ xưa chính sử và công luận đã nhìn nhận Nguyễn Du là đại thi hào danh nhân văn hóa thế giới. Đến nay sử liệu của chính sử và dã sử được hệ thống hóa theo niên biểu Nguyễn Du (1766 – 1820) đã soi thấu nhiều góc khuất, làm bừng sáng chân dung kẻ sĩ, vàng lầm trong cát, vượt lên vinh nhục bản thân và dòng họ, để lại ngọc cho đời. Di sản của Nguyễn Du là thực tiễn và trước tác, với trí tuệ nhân văn, tầm nhìn mưu lược, “gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo“. Sự thật lịch sử là: “Nguyễn Du 15 năm lưu lạc” đã hé lộ; “Nguyễn Du Hồ Xuân Hương” mối tình thủy chung đầy đặn, hình tượng Từ Hải và Kiều; So với võ công của Nguyễn Huệ, nhân văn của Nguyễn Du qua thơ “Kỳ Lân mộ” tại “Bắc Hành tạp lục” là kiệt tác văn chương, thấu tình đạt lý, sức mạnh như một đạo quân, đã làm thay đổi chính sách của vua Thanh và danh tướng Phúc Khang An tổng đốc Lưỡng Quảng, thay vì báo thù rửa hận cho Tôn Sĩ Nghị, đã giữ hòa hiếu lâu dài với Việt Nam. Nguyễn Du là bậc anh hùng quốc sĩ, kỳ tài hiếm có của dân tộc Việt. Nguyễn Du đã gác tình nhà không mưu tự lập để đặt chữ hiếu với dân với nước lên trên hết. Nguyễn Du đã toàn tâm toàn ý giúp Nguyễn Ánh trong chuyến đi Chánh sứ lần ấy, với Bắc Hành tạp lục là một sử luận, áng văn ngoại giao xuất sắc nhất từ xưa đến nay, đủ làm cho vua Càn Long nể phục, tự tay viết bức đại tự mến tặng mà không dám dòm ngó đất phương Nam nữa. Văn chương Nguyễn Du kiệt tác là vậy.

Kỳ Lân mộ, Yên Đệ Minh Thành Tổ, Bên lề chính sử, Nguyễn Du viếng mộ Liễu Hạ Huệ, Đối tửu đã giúp soi sáng những góc khuất ấy.

Nguyễn Du đã đám đương đầu với Nguyễn Huệ, hiểu rất rõ Gia Long, Minh Mệnh là những vị vua tài trí và gian hùng, biết trọng dụng nhân tài nhưng kiềm chế và đa nghi. Nguyễn Du đã từng là chánh sứ đứng đầu về ngoại giao với triều Thanh. Người cũng là hàn lâm đại học sĩ đứng đầu về giáo dục, là quan cai bạ đầu tỉnh trọng yếu sát cạnh cố đô. Nguyễn Du hiếu thấu kinh Kim Cương, sâu sắc Kinh Dịch, Phong Thủy và Nhân tướng học, uyên thâm mọi mặt về lịch sử, địa lý, văn hóa, xã hội và ngôn ngữ, nhưng cẩn trọng và khiêm nhường hiếm thấy. Người không chỉ là đại văn hào với Truyện Kiều và những bài thơ văn tiếng Việt mà còn viết tuyệt phẩm Bắc Hành tạp lục với các bài thơ văn chữ Hán sánh với bất cứ tác phẩm ưu tú nào của thời thịnh Đường, đỉnh cao chói lọi của thơ văn Trung Hoa. Người đã mắng Minh Thành tổ, tế Khuất Nguyên, họa thơ Lý Bạch, Thôi Hiệu, dừng chân thăm đền Mạnh Tử, xuống xe nhớ những hiền tài…

Nguyễn Du viếng mộ Liễu Hạ Huệ Trước đối tửu, thầm thương bậc anh hùng. “Ba trăm năm nữa chốc mòng. Biết ai thiên hạ khóc cùng Tố Như”. “Đối tửu” như “Cảm hoài” của Đặng Dung, “Thợ bán than” của Trần Khánh Dư,” “Một mai, một cuốc, một cần câu” của Nguyễn Bỉnh Khiêm, “Đập đá ở Côn Lôn” của Phan Chu Trinh,

Nhận định về thơ chữ Hán Nguyễn Du, tôi rất tán đồng với những ý kiến này của nhà nghiên cứu Nguyễn Quốc Toàn: “Nếu ở Truyện Kiều người ta mới thấy tấm lòng và tài năng của Nguyễn Du thì tới thơ chữ Hán người ta mới thấy được cả tầm vóc và bản lĩnh của ông. Bắc hành tạp lục được ông viết chủ yếu vào đợt đi sứ 1813-1814. Đây là lúc ông sống ở xứ người, có dịp rủ bỏ hết nhiễu nhương trong cuộc sống thường nhật của một “hàng thần lơ láo” để nhìn về đất nước. Ông sống với con người và cảnh vật xứ người một cách hết lòng, không chỉ suy nghỉ về hiện tại mà còn thường xuyên trở lại với quá khứ, không chỉ thương xót hoàn cảnh khốn khó của những người dân thường như ông già hát rong ở Thái Bình, hoặc bốn mẹ con một người hành khất, mà còn đặt mình vào tình thế của nhân vật kì vĩ hội tụ những vấn đề lớn của đời sống, như Khuất Nguyên, Kinh Kha, Tô Tần, Nhạc Phi, Liễu Hạ Huệ… Ông dùng những nhân vật lịch sử Trung Hoa để liên hệ tới hoàn cảnh của mình, tương tự như việc ông dùng cốt truyện mượn từ Thanh Tâm tài nhân để nói xã hội Việt Nam. Những câu thơ hay nhất ở đây dường như đã chạm tới những vấn đề của nhân loại. Học giả Phan Ngọc có nói “Văn Hóa Việt Nam có phần nhẹ chất nhân loại mà nặng chất dân tộc”. Rõ ràng Truyện Kiều và đặc biệt thơ chữ Hán của Nguyễn Du đã góp phần bổ sung cho sự thiếu sót đó.” Trong việc tìm hiểu di sản văn hóa của ông cha thì “Bắc hành tạp lục” của Nguyễn Du là viên ngọc quý. Vượt lên thời gian, những áng thơ đó thể hiện trình độ uyên bác, hiểu biết ngôn ngữ văn hóa Trung Hoa điêu luyện và nhân cách kẻ sĩ cao quý của ông xứng tầm với Đỗ Phủ, Khuất Nguyên, Tô Đông Pha … Tôi thực tâm đắc với ý kiến của học giả Mai Quốc Liên “Thơ chữ Hán của Nguyễn Du là những áng văn chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vô tận về ý nghĩa. Nó mới lạ và độc đáo trong một nghìn năm thơ chữ Hán của ông cha ta đã đành, mà cũng độc đáo so với thơ chữ Hán của Trung Quốc nữa“.

Chúng ta chạm đến phần thơ chữ Hán của danh nhân văn hóa Nguyễn Du là đang chạm đến phần cốt lõi, tinh túy của thơ Người trong di sản văn hóa quý giá của dân tộc. Nhiều học giả Việt Nam thời gian qua tuy đã thu thập, tìm hiểu nhưng vì điều kiện chiến tranh, ngôn ngữ văn hóa, và do hạn chế về thư tịch điển cố văn chương … nên chưa tìm hiểu hết.

“Kỳ Lân mộ”, “Liễu Hạ Huệ mộ” “Đối tửu”… thơ chữ Hán, Kiều của Nguyễn Du là thơ hay danh sĩ còn mãi với thời gian. Thơ chữ Hán Nguyễn Du là những kiệt tác chạm thấu tới những vấn đề sâu sắc nhất của nhân loại và tình yêu thương con người.

Nguyễn Du là anh hùng quốc sĩ tinh hoa, hiểu và thương yêu kính trọng con người.

Hoàng Kim

Tài liệu dẫn
1) Thư mục  Nguyễn Du thơ chữ Hán

Thanh Hiên thi tập – 清軒詩集

Dưới chân núi Hồng (1796-1802)

Làm quan ở Bắc Hà (1802-1804)

Mười năm gió bụi (1786-1795)

Nam trung tạp ngâm – 南中雜吟

Bắc hành tạp lục – 北行雜錄

  1. Long thành cầm giả ca
  2. Thăng Long kỳ 1
  3. Thăng Long kỳ 2
  4. Ngộ gia đệ cựu ca cơ
  5. Quỷ Môn quan
  6. Lạng thành đạo trung
  7. Lưu biệt cựu khế Hoàng
  8. Trấn Nam Quan
  9. Nam Quan đạo trung
  10. Mạc phủ tức sự
  11. Giáp Thành Mã Phục Ba miếu
  12. Minh giang chu phát
  13. Ninh Minh giang chu hành
  14. Đề Đại Than Mã Phục Ba miếu
  15. Hoàng Sào binh mã
  16. Vọng Quan Âm miếu
  17. Tam Giang khẩu đường dạ bạc
  18. Vãn há Ðại Than, tân lạo bao trướng, chư hiểm câu thất
  19. Há than hỷ phú
  20. Thái Bình thành hạ văn xuy địch
  21. Thái Bình mại ca giả
  22. Chu hành tức sự
  23. Sơn Đường dạ bạc
  24. Thương Ngô tức sự
  25. Thương Ngô mộ vũ
  26. Ngũ nguyệt quan cạnh độ
  27. Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 01
  28. Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 02
  29. Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 03
  30. Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 04
  31. Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 05
  32. Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 06
  33. Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 07
  34. Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 08
  35. Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 09
  36. Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 10
  37. Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 11
  38. Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 12
  39. Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 13
  40. Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 14
  41. Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 15
  42. Dương Phi cố lý
  43. Triệu Vũ Đế cố cảnh
  44. Bất tiến hành
  45. Tam Liệt miếu
  46. Quế Lâm Cù Các Bộ
  47. Quế Lâm công quán
  48. Đề Vi, Lư tập hậu
  49. Quá Thiên Bình
  50. Vọng Tương Sơn tự
  51. Vĩnh Châu Liễu Tử Hậu cố trạch
  52. Tương giang dạ bạc
  53. Tương Đàm điếu Tam Lư đại phu kỳ 1
  54. Tương Đàm điếu Tam Lư đại phu kỳ 2
  55. Phản “Chiêu hồn”
  56. Biện Giả
  57. Trường Sa Giả thái phó
  58. Sơ thu cảm hứng kỳ 1
  59. Sơ thu cảm hứng kỳ 2
  60. Sở vọng
  61. Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ kỳ 1
  62. Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ kỳ 2
  63. Tương Âm dạ
  64. Đăng Nhạc Dương lâu
  65. Hoàng Hạc lâu
  66. Hán Dương vãn diểu
  67. Nhiếp Khẩu đạo trung
  68. Lý gia trại tảo phát
  69. Vũ Thắng quan
  70. Tín Dương tức sự
  71. Ngẫu hứng
  72. Độ Hoài hữu cảm Hoài Âm hầu tác
  73. Độ Hoài hữu cảm Văn thừa tướng
  74. Hà Nam đạo trung khốc thử
  75. Cựu Hứa Đô
  76. Âu Dương Văn Trung Công mộ
  77. Bùi Tấn Công mộ
  78. Hoàng hà
  79. Hoàng Hà trở lạo
  80. Tỉ Can mộ
  81. Trở binh hành
  82. Kê thị trung từ
  83. Nhạc Vũ Mục mộ
  84. Tần Cối tượng kỳ 1
  85. Tần Cối tượng kỳ 2
  86. Vương thị tượng kỳ 1
  87. Vương thị tượng kỳ 2
  88. Đồng Tước đài
  89. Thất thập nhị nghi trủng
  90. Lạn Tương Như cố lý
  91. Hàm Đan tức sự
  92. Hàn Tín giảng binh xứ
  93. Liêm Pha bi
  94. Tô Tần đình kỳ 1
  95. Tô Tần đình kỳ 2
  96. Dự Nhượng kiều chuỷ thủ hành
  97. Dự Nhượng kiều
  98. Kinh Kha cố lý
  99. Đế Nghiêu miếu
  100. Lưu Linh mộ
  101. Kỳ lân mộ
  102. Yển Thành Nhạc Vũ Mục ban sư xứ
  103. Đông lộ
  104. Quản Trọng Tam Quy đài
  105. Kê Khang cầm đài
  106. Đông A sơn lộ hành
  107. Sở Bá Vương mộ kỳ 1
  108. Sở Bá Vương mộ kỳ 2
  109. Liễu Hạ Huệ mộ
  110. Từ Châu đạo trung
  111. Nhị Sơ cố lý
  112. Từ Châu đê thượng vọng
  113. An Huy đạo trung
  114. Á Phụ mộ
  115. Chu Lang mộ
  116. Tổ Sơn đạo trung
  117. Quảng Tế ký thắng
  118. Đồ trung ngẫu hứng
  119. Hoàng Châu trúc lâu
  120. Vinh Khải Kỳ thập tuệ xứ
  121. Mạnh Tử từ cổ liễu
  122. Từ Châu dạ
  123. Tiềm Sơn đạo trung
  124. Đào Hoa đàm Lý Thanh Liên cựu tích
  125. Đào Hoa dịch đạo trung kỳ 1
  126. Đào Hoa dịch đạo trung kỳ 2
  127. Lương Chiêu Minh thái tử phân kinh thạch đài
  128. Tây Hà dịch
  129. Sở kiến hành
  130. Hoàng Mai sơn thượng thôn
  131. Hoàng Mai đạo trung
  132. Chu phát

Truyện Kiều

2) Bên lề chính sử …

… “Đêm tháng Sáu (Nhâm Tuất 1802) đất trời Thăng Long thật mát mẻ… tại một căn nhà nhỏ gần hồ Giám, Nguyễn Du không hề chợp mắt. Người bạn cũ (Đặng Trần Thường) ngạc nhiên khi biết Nguyễn còn sống và càng vui hơn khi biết anh được triệu ra làm quan. Lấy cớ đi đường xa mệt, Nguyễn đi nghĩ sớm, nhưng Nguyễn đâu có ngủ. Đêm nay, dân Thăng Long nhiều người bày hương án ra đường đón Gia Long. Mười ba năm trước (năm Kỷ Dậu 1789) cũng chính những người dân này cũng bày hương án đầy đường mừng Nguyễn Huệ. Hai kẻ thù của nhau đều được họ đón tiếp nồng hậu. Phải lòng dân quay trở theo thời cuộc, ai chiến thắng thì tung hô người đấy, hay lòng dân sau buổi đầu rực rỡ của triều đại Quang Trung đã sớm chán ngán vì sự hà khắc của sự thống trị và cảnh anh em “nồi da nấu thịt” mà ra đón mừng Gia Long? Trong thất vọng, họ hi vọng được gặp vua hiền. Và rồi họ có sớm thất vọng không? Chẳng biết được. Chỉ biết lòng Nguyễn chán ngán. Kết thúc mười năm ăn nhờ ở đậu nơi quê vợ (?) năm năm theo phường săn Ngàn Hống (?), không ràng buộc vào danh lợi, không màng bổng lộc, lòng Nguyễn nguội lạnh công danh, thì giờ lại triệu ra đây để làm quan, để khom lưng quỳ gối trước một ngai vàng mới. Tất cả chỉ tại cái thằng xảo quyệt Đặng Trần Thường. Khi Quang Trung Nguyễn Huệ ra Bắc phế bỏ nhà Lê, ta bảo nó cùng ta chiêu mộ lực lượng đánh lại Tây Sơn thì nó không nghe, đi gặp Ngô Thì Nhậm để kiếm chỗ vinh thân. Bị Ngô Thì Nhậm khinh ghét, nó mới cùng ta đi khắp vùng Hải Dương, Thăng Long tìm người nghĩa khí. Thế nhưng nhà Lê chẳng có bề tôi nào có nghĩa, toàn phường sợ chết nằm im, hắn lại lôi kéo ta vào Nam theo Nguyễn Ánh. “Ngoài này không chốn dung thân, làm gì rồi cũng là thằng cùng đinh thôi. Làm đấng nam nhi phải có quyền lực. Có quyền lực là có tất cả. Phải vào Nam thôi”. Ta không tin cái thằng tráo trở ấy. Chán cảnh người trong một nước đâm chém nhau, ta vùi đầu vào trang sách. Khi Nguyễn Huệ đột ngột chết, ta vào Phú Xuân để kéo Nễ huynh ra khỏi con thuyền Tây Sơn đang chìm dần, thì hắn theo Nguyễn Đình Đắc vào cửa biển Cần Giờ dâng mình cho Nguyễn Ánh. Giờ thì hắn đã là Tán lý Quân vụ. Khi hắn dẫn binh ra lấy Nghệ An một cách dễ dàng thì hắn tiến cử ta với Gia Long. ta đã nói với hắn để cho ta ở lại làm một Hồng Sơn liệp hộ xa chốn cửa quyền, hắn nhất thiết không cho”

… Đặng Trần Thường đưa Nguyễn vào gặp Gia Long. Vừa bước vào cửa chưa kịp cúi chào  thì Hoàng thượng đã vui vẻ chỉ vào chiếc ghé nạm xà cừ:
– Khanh ngồi đi. …
– Trẫm nghe Tán lý Đặng Trần Thường nói nhiều về khanh. Xuân Quận công có những người con thật tài năng. Nguyễn Nễ cũng khá lắm, biết tùy thời mà ứng biến. Khanh ẩn mình, chịu nhiều gian truân, giữ niềm trung với tiên triều là rất quý. Nay ta tạm giao khanh về làm tri huyện Phù Dung cho quen việc, sau ta sẽ giao cho khanh những việc lớn hơn. Được chứ? Vì giang sơn và gia tộc, khanh cố làm cho tốt.
Nguyễn thưa:
– Đội ơn Hoàng thượng.
Sau buổi ấy, ngài lấy Nguyễn Duy Hợp làm Thị trung học sĩ lãnh chức Hiệp trấn Kinh Bắc, Lê Duy Đản làm Kim hoa điện trực sĩ lãnh chức Hiệp trấn Lạng Sơn. Lê Huy Trầm, Ngô Xiêm, Nguyễn Đình Tứ làm Thái hòa điện học sĩ, Phan Thích, Vũ Trinh làm Thị trung học sĩ, một số được củ làm tri huyện. Ba mươi hai học trò Bắc Hà được ghi tên chờ bổ dụng.
Đêm đó Nguyễn và Nễ về nhà Vũ Trinh. Bên bàn rượu, Vũ Trinh nâng chén:
– Mười bốn năm rồi, chúng ta mới được đồng ẩm bên nhau. Xin nâng chén chúc đại huynh và hiền đệ mạnh khỏe, hoạn lộ công thành, mừng chúng ta gặp được minh quân, anh hùng cái thế.
Nễ nâng chén. Nguyễn nâng theo.”Vũ Trinh đang rất vui”. Nguyễn nghĩ thế và chợt nhớ Đoàn Nguyễn Tuấn. Mười ba năm trước, trên Phong Nguyệt sào, một đêm trăng cũng như đêm nay, cùng tam nhân bàn chuyện xuất xử . Đàn Nguyễn Tuấn cũng rất vui. Nễ huynh hăng hái ra, con ta không ra. Hôm nay,  tam nhân nhập thế, nhị huynh hăng hái, còn ta”… Vũ Trinh vui quá hỏi Nễ:
-Mấy lâu nay được gần Hoàng thượng, huynh thấy thế nào?
Ta rất mừng, không ngờ Hoàng thượng lại rộng lượng đến thế. Khi ngài chiếm Phú Xuân, nghĩ mình sẽ chết, ta bèn viết bản điều trần nói rõ thịnh suy của các triều đại là ở mệnh trời còn ta chỉ muốn làm việc cho dân yên. Hoàng thượng khen và tin dùng cho ta ở cạnh ngài. Còn La Sơn phu tử, ngài cũng an ủi cho về nghỉ. Giờ đây chúng ta ra phụng sự ngài là phải.
Nhìn sang Nguyễn. Nễ hiểu lòng chú em yêu vân đầy giông bão “Chú ta vẫn luôn có suy nghĩ khác người và luôn sâu sắc hơn mình”, Nễ hỏi:
-Hiền đệ nghĩ sao?
Nguyễn yên lặng một lúc rồi chậm rãi nói:
– Qua những việc may mắn trong cuộc đời của Nguyễn vương, rồi đến việc Hooa2ng đế Quang Trung đột ngột băng hà thì biết mệnh trời đã trao vào tay họ Nguyễn Gia Miêu. Nay non sông một mối nhưng dân tình hơn ba trăm năm binh đao khốn khổ quá rồi, mình ra gánh vác là phải. Còn Hoàng thượng có rộng lượng không thì cũng chưa rõ. Cái điều rõ nhất là ngài không tin chúng ta: Ba người nắm quyền sinh sát ở Bắc thành là ba kẻ có công đánh đổ Tây Sơn giúp ngài giành ngai vàng, còn chúng ta chỉ là những bề tôi cần để giúp việc, để chứng tỏ triều đại mới quý Lê triều, còn có tin sĩ phu ở Thăng Long không thì chưa rõ. Những võ quan công thần được giao quyền sẽ cậy quyền , còn chúng ta tốt, xấu, sống, chết vẫn nằm trong tay họ và chỉ cách nhau một gang tấc mà thôi. Số phận dân chúng nằm trong tay những kẻ võ biền , không hiểu sẽ ra sao?
Vũ Trinh nhìn Nguyễn cười:
– Cậu quá lo xa. Trước mắt Hoàng thượng chưa hiểu chúng ta thì phải thế. Sáng nay, Hoàng thượng gặp bọn anh , ngài rất ân cần , tin tưởng và ban thưởng cho rất hậu nữa. 
Nguyễn nhìn Vũ Trinh: dưới ánh đèn, nét mặt tràn đầy tự tin. Nguyễn định nói: ” Anh rể ơi. Chưa làm được gì mà đã ban phát bỗng lộc thì đó là sự mua chuộc, chưa tin tưởng và cả sự coi thường nữa. Đối với vua chúa sự ban thưởng vàng bạc và ban cho giải lụa hay chén thuốc độc là rất gần nhau”. Thế nhưng, sợ không khí buổi gặp gỡ hiếm hoi này mất vui. Nguyễn nhìn Trinh và Nễ mỉm cười:
– Có thể em nghỉ xa quá, nhưng sao em vẫn không an. Còn Nễ huynh đã hơn ba tháng sống gần Hoàng thượng, huynh nghĩ sao?
Nễ nhìn Nguyễn và Trinh- người em ruột và người em rể, không ngờ chú em mình lại nghĩ sâu xa như vậy. Những điều Nguyễn nói chính là tâm sự nặng nề của Nễ bấy lâu. Hơn ba tháng qua, chứng kiến sự biến đổi nhanh chóng của thế cục. Nễ vừa mừng vừa sợ. Gia Long điều binh nhanh chóng, quyết đoán không khác gì cựu hoàng đế Quang Trung nhưng xử xự thì khôn lường. Nguyễn Huệ làm cho Nễ tin phục còn ngài làm cho Nễ sợ. Nễ thấy những bước đường còn lại của mình thật chông chênh. Và những bước đi của hai  người em của mình, một em rễ một em ruột, không hiểu sẽ ra sao? Nể nói:
– Điều chú Bảy nghỉ là đúng. Chúng ta phải rất cẩn trọng. Hoàng thượng có chí, điều quân rất quyết đoán, tài ba nhưng xử sự thì lạ lắm, không lường được. Bắt được con Nguyễn vương là Nguyễn Quang Cương, Nguyễn Quang Tự, Nguyễn Quang Diện vẫn cấp cho tiền bạc, cứ tưởng là được tha, nào ngờ sau đó đưa Nguyễn Quang Cương về Bình Định, Nguyễn Quang Tự, Nguyễn Quang Diện về Gia Định bố cáo cho dân chúng rồi hành hình. Chém vua Cảnh Thịnh nhưng lại lấy Hoàng hậu Lê Thị Ngọc Bình. Triều thần can thì tuyên bố “Cơ nghiệp của nó ta còn chiếm được , còn vợ nó ta không lấy được sao?”. Rồi đến việc đào mộ, bổ săng Nguyễn Vương phơi thây, xé xác lăng trì ba mươi mốt con trai con gái của Ngài, thì thật quá lắm!
Vũ Trinh nói:
– Sát phu đoạt phụ là chuyện không nên, nhưng việc trả thù xưa nay quân vương nào chả thế. Vả lại, Nguyễn Huệ cũng đã sai đô đốc Nguyễn Văn Ngũ phá lăng hoàng khảo Nguyễn Phúc Noãn, vứt hài cốt xuống vực.
Nguyễn trầm ngâm:
– “Ái nữ chi tâm, nhân giai hữu chi”, người đẹp thì ai chẳng thích, gặp trang quốc sắc thiên hương, trượng phu xiêu lòng xưa nay đâu hiếm. Còn điều đó có ảnh hưởng đến quốc sự hay không thì phải đợi xem. Có thể ông ta mê sắc dục , mà cũng có thể ông ta muốn an ủi lôi kéo con cháu nhà Lê. Nếu đúng vậy thì ông ta là kẻ ghê gớm, sẵn sàng bất chấp chê khen can ngăn của cận thần chỉ cốt đạt mục đích lớn của mình.
Vũ Trinh ngạc nhiên nhìn Nguyễn: “mười lăm năm dâu bể, qua bao nỗi đắng cay đã làm cho cậu em vợ thay đổi biết bao. Không còn vẻ ngang tàng tài tử mà trở nên già dặn, thận trọng hơn và cả nhút nhát nữa. Thế nhưng đằng sau mái đầu bạc ấy, phải nhìn nhận cậu ta có những ý nghĩ sắc sảo” Hai người im lặng chờ đợi Nguyễn nó hết ý ủa mình. Nguyễn tiếp:
– Còn chuyện trả thù anh em Tây Sơn đúng là chuyện thường tình, nhưng trả thù đến thế thì quá độc ác. Qua việc này thì thấy ngài cũng như bao kẻ khác mà thôi (Nguyễn định dùng chữ “tầm thường” như bao kẻ khác nhưng kịp rút lại).” …



TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Một số bài viết cùng chủ đề

Các bài viết cùng chủ đề
VIỆT NAM TỔ QUỐC TÔI

Tập bài giảng LHS khoa Ngữ văn ĐHKHXHNV TP.HCM
Đề cương Kinh tế Xã hội Văn hóa Việt Nam
(*) Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim và ctv. 2018.
Việt Nam học, 学中越文, Học tiếng Trung Việt
https://hoangkimvn.wordpress.com
(Mọi trích dẫn đề nghị ghi rõ nguồn)

Việt Nam một thoáng nhìn toàn cảnh
Di sản thế giới tại Việt Nam
Vườn Quốc gia ở Việt Nam
Thông tin nhanh về Việt Nam
Việt Nam vùng lãnh thổ hành chính
Việt Nam đất nước và con người (1)
Nông nghiệp Việt Nam và du lịch
Kinh tế Việt Nam một khái quát 
Việt Nam đất nước và con người (2)
Việt Nam đất nước và con người (3)
Việt Nam đất nước và con người (4)
Việt Nam đất nước và con người (5)
Việt Nam 5000 năm Tiếng Việt và Nông nghiệp


Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính

Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Advertisements

Tiếng Việt và Nông nghiệp Việt Nam



TIẾNG VIỆT VÀ NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM.

Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim (*)

Về Nghĩa Lĩnh Đền Hùng. Đền thiêng trên Nghĩa Lĩnh. Giếng ngọc dưới trời Nam. Chén cơm truyền con cháu. “Vạn cổ thử giang san” (thơ Hoàng Kim với video tuyển chọn về đền Hùng và chùm ảnh thăm nơi hội tụ khí thiêng sông núi, chốn tổ của người Việt). Người Việt, tiếng Việt và ngữ hệ Nam Á; Ngôn ngữ Việt và văn chương Việt; Nông nghiệp Việt Nam và du lịch. Đó là các nguồn tài nguyên nhân văn sâu đậm nhất của người Việt trường tồn cùng năm tháng.Tiếng Việt và Nông nghiệp’ là ban mai, suối nguồn tươi trẻ,  sức sống thanh xuân kiên cường của dân tộc Việt.

Người Việt, tiếng Việt và ngữ hệ Nam Á

được tóm tắt ở hình trên đây (Hoàng Tố Nguyên và ctv. 2018). Người Việt theo truyền thuyết dân tộc Kinh là con cháu của một thần rồng tên là Lạc Long Quân và một vị tiên tên là Âu Cơ. Hai người này lấy nhau và đẻ ra một bọc 100 trứng và nở ra 100 người con. Những người con sinh ra cùng một bọc gọi là “cùng bọc” (hay còn gọi là đồng bào) và “đồng bào” là cách gọi của người Việt để nói rằng tất cả người Việt Nam đều cùng có chung một nguồn gốc. Về nhân chũng học, có hai luồng quan điểm về nguồn gốc của người Việt. Một số học giả tin rằng người Việt đầu tiên dần dần chuyển từ quần đảo Indonesia thông qua bán đảo Mã Lai và Thái Lan cho đến khi họ định cư trên các cạnh của sông Hồng ở Đồng bằng Bắc Bộ bằng cách lần theo con đường của các công cụ đá từ cuối Thế Pleistocen (600,000-12,000 trước Công nguyên), trên Java, Malaysia, Thái Lan và phía bắc Miến Điện. Những công cụ bằng đá được cho là các công cụ con người đầu tiên được sử dụng trong khu vực Đông Nam Á. Các nhà khảo cổ tin rằng vào thời điểm này Hy Mã Lạp Sơn, một dãy núi ở miền bắc Miến Điện và Trung Quốc, tạo ra một rào cản băng giá cô lập người dân Đông Nam Á. Một số khác cho rằng người Việt đầu tiên vốn là một bộ tộc gốc Mông Cổ ở Tây Tạng, di cư xuống phía nam từ thời đồ đá cũ. Nhóm dân tộc này định cư tại vùng Bắc Bộ, thượng nguồn sông Hồng ngày nay và tạo nên nền văn minh Đông Sơn. Nhóm bộ tộc này cũng có sự tương đồng rất lớn về nhân chủng, văn hóa với các tộc người ở phía Nam Trung Quốc, mà sử Trung Quốc còn gọi là cộng đồng Bách Việt. Tiếng Việt là ngôn ngữ của người Việt (người Kinh) và là ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam. Đây là tiếng mẹ đẻ của khoảng 85% dân cư Việt Nam, cùng với hơn bốn triệu người Việt hải ngoại. Tiếng Việt còn là ngôn ngữ thứ hai của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Mặc dù tiếng Việt có một số từ vựng vay mượn từ tiếng Hán và trước đây dùng chữ Nôm, một hệ chữ dựa trên chữ Hán để viết nhưng tiếng Việt được coi là một trong số các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Nam Á có số người nói nhiều nhất (nhiều hơn một số lần so với các ngôn ngữ khác cùng hệ cộng lại) có nguồn gốc với ngôn ngữ Nam Á về mặt từ vựng kết hợp với ngôn ngữ Tày-Thái về mặt thanh điệu. Ngày nay, tiếng Việt dùng bảng chữ cái Latinh, gọi là chữ Quốc ngữ (do Alexandre de Rhodes sáng lập), cùng các dấu thanh để viết.  Tiếng Việt trong quá trình phát triển đã tiếp thu và đồng hoá nhiều từ Hán thành từ Hán-Việt, và tiếp thu một số lượng khá lớn các từ khoa học kỹ thuật của các ngôn ngữ Pháp, Nga, Anh từ đầu thế kỷ 20 đến nay. Ngữ hệ Nam Á là một tổng hợp bao gồm khoảng 168 ngôn ngữ tại miền nam của châu Á, tập trung tại Đông Nam Á và rải rác tại Ấn Độ cùng Bangladesh. Ngôn ngữ có nhiều người dùng nhất trong hệ thống này là tiếng Việt, với trên 80 triệu người, sau đó là tiếng Khmer, với khoảng 16 triệu người. Trong các ngôn ngữ của ngữ hệ Nam Á  thì  tiếng Việt, tiếng Khmer và tiếng Môn là có lịch sử được ghi chép lại lâu dài và tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam.

Ngôn ngữ Việt và Văn chương Việt

Việt Nam đất nước và con người (4) đã khái quát thông tin Ngôn ngữ Việt và Văn chương Việt cho thấy: Việt Nam có 54 dân tộc, Dân tộc Việt (còn gọi là người Kinh) chiếm gần 86%, 53 dân tộc thiểu số còn lại, chiếm khoảng 14% tổng số dân của cả nước.  Mỗi dân tộc trong cộng đồng Việt có tiếng nói riêng, một số dân tộc còn có chữ viết riêng. Những tiếng nói, chữ viết riêng này đang được chính phủ Việt Nam khuyến khích bảo tồn, ngày càng giàu thêm về số từ vựng, tinh tế và chính xác hơn về sức diễn đạt, truyền cảm. Tiếng Việt của cộng đồng người Việt (dùng chữ Quốc ngữ do Alexandre de Rhodes sáng lập, với bảng chữ cái Latinh và các dấu thanh để viết) được sử dụng rộng rãi nhất và trở thành tiếng nói, chữ viết phổ thông, ngôn ngữ chính thức trên cả nước Việt Nam. Tiếng Việt có một số từ vựng vay mượn từ tiếng Hán và trước đây dùng chữ Nôm, một hệ chữ dựa trên chữ Hán, để viết nhưng tiếng Việt thuộc ngữ hệ Nam Á là một trong số các ngôn ngữ có số người nói nhiều nhất ở Đông Nam Á và chữ Quốc ngữ do Alexandre de Rhodes sáng lập là phổ thông, ngôn ngữ chính thức. Ngôn ngữ Tiếng Việt là linh hồn của cộng đồng Người Việt. Đất nước Việt và văn chương Việt có nhiều nhà lập quốc vĩ đại và danh sĩ tinh hoa của Đất nước Việt Nam qua các thời đã trao truyền lại non sông gấm vóc và những bài học di sản quý báu. Những kiệt tác văn chương Việt Nam như ‘Hịch tướng sĩ’ văn chữ Hán của Trần Quốc Tuấn (‘Dụ chư tì tướng hịch văn’, bản dịch Việt Trung khuyết danh), thơ Thiền của Trần Nhân Tông, ‘Bình Ngô’ văn chữ Hán của Nguyễn Trãi, ‘Quốc âm thi tập’ thơ chữ Nôm của Nguyễn Trãi; Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi; ‘Thuật hoài’ của Đặng Dung;  ‘Kỳ Lân mộ’, ‘Liễu Hạ Huệ mộ; ‘Đối tửu’ trong Bắc Hành tạp lục, thơ chữ Hán của Nguyễn Du, ‘Truyện Kiều’ thơ Nôm của Nguyễn Du; ‘Vịnh Hạ Long’ thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương; ‘Tỏ Ý’ thơ chữ  Hán của Hồ Xuân Hương tặng Nguyễn Du; ‘Nguyên tiêu’ thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh …  Văn chương Việt  có nhiều kiệt tác chạm thấu tới những vấn đề sâu sắc nhất của nhân loại và tình yêu thương con người, hiểu và thương yêu kính trọng con người.

Nông nghiệp Việt Nam và Du lịch

Lịch sử Việt Nam gắn liền với Nông nghiệp Việt Nam và Du lịch sinh thái. Sự kết gắn nông nghiệp du lịch với sử Việt có từ ngàn đời nay như hai trang của một tờ giấy không thể tách rời. Người Việt trọng nông, trọng tình nghĩa hòa hiếu thân thiện. Việt Nam là điểm đến du lịch không phải là điểm đến của các cuộc chiến tranh. Nông nghiệp Việt Nam và du lịch sinh thái kết nối giao lưu ngôn ngữ, văn hóa, kinh tế, ẩm thực là nền tảng để kết hòa hiếu và làm giá đỡ cho mọi nền kinh tế của tất cả các triều đại  đất nước Việt Nam qua các thời từ xưa tới nay. Nông nghiệp Việt Nam đồng hành sử Việt.

Nông nghiệp Việt thời tiền sử. Lịch sử Nông nghiệp Việt Nam nếu tính từ khi có người tiền sử Việt cổ sinh sống tại đất nước này thì đã có hàng vạn năm trước công nguyên đến mốc hình thành nước Văn Lang vào khoảng năm 2879 TCN của thời đại các vua Hùng thì đến nay đã có gần 5000 năm. Đặc trưng Nông nghiệp Việt thời tiền sử là sự hình thành các bộ tộc người Việt cổ, sau đó đi tìm nguồn thức ăn qua săn bắn, hái lượm, chăn nuôi và trồng trọt, hình thành nền nông nghiệp Việt. Tại Việt Nam các nhà khảo cổ đã tìm thấy các di tích chứng minh loài người đã từng sống ở đất nước này từ nền văn hóa Ngườm (23.000 năm TCN), văn hóa Tràng An ( 23.000 năm TCN – 1.000 năm TCN) văn hóa Sơn Vi (20.000 – 12.000 TCN) văn hóa Soi Nhụ (18.000 – 7.000 TCN) thuộc hậu kỳ thời đại Đồ đá cũ. Trong thời đại Đồ đá mới, nền văn hóa Hòa Bình (12.000 – 10.000 TCN), văn hóa Bắc Sơn (10.000 – 8.000 TCN) văn hóa Quỳnh Văn (8.000 – 6.000 TCN), Văn hóa Cái Bèo (7.000 – 5.000 TCN), văn hóa Đa Bút (6.000 – 5.000 TCN); Thời đại đồ đồng đá, văn hóa Hạ Long (3.000 – 1.500 TCN); văn hóa Phùng Nguyên (2.000 – 1.500 TCN cách đây chừng 4.000 năm đến 3.500 năm ở xã Kinh Kệ huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ thuộc sơ kỳ thời đại đồ đồng, cuối thời đại đồ đá mới) Văn hóa Tiền Sa Huỳnh (2.000 – 1.000 TCN); Trung kỳ thời đại đồ đồng, văn hóa Đồng Đậu (1.500 – 1.000 TCN) cách đây khoảng 3000 năm, di chỉ tại khu di tích Đồng Đậu ở thị trấn Yên Lạc, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, người tiền sử tại vùng này đã phát triển chăn nuôi, nông nghiệp, đặc biệt là kỹ thuật trồng lúa nước. Hậu kỳ thời đại đồ đồng, văn hóa Gò Mun (1.000 – 600 TCN); Thời kỳ đồ sắt: văn hóa Đông Sơn (700 TCN – 100), văn hóa Sa Huỳnh (1.000 TCN – 200), văn hóa Đồng Nai (1.000 TCN – 0) và văn hóa Óc Eo Văn hóa Óc Eo (1 – 630) . Nông nghiệp Việt Nam thời ấy đã có sự phát triển của kỹ thuật trồng lúa nước đi đôi với nghề đúc đồng trong khu vực sông Mã và đồng bằng sông Hồng đã dẫn đến sự phát triển của nền văn hóa Đông Sơn, nổi bật với các trống đồng. Các dụng cụ lao động, vũ khí và trống đồng được khai quật của văn hóa Đông Sơn minh chứng cho việc kỹ thuật đúc đồ đồng bắt nguồn từ đây, nhiều mỏ đồng nhỏ xưa đã được khai quật ở miền Bắc Việt Nam. Ở đây các nhà khảo cổ đã tìm thấy quan tài và lọ chôn hình thuyền, nhà sàn, và bằng chứng về phong tục ăn trầu và nhuộm răng đen. Những người Việt tiền sử trên vùng đồng bằng sông Hồng đã trồng lúa, trồng trọt và đắp đê chống nước lụt đã tạo nên nền văn minh lúa nước và văn hóa làng xã.
Đất nước Việt Nam thời kỳ này lần lượt là Văn Lang (2879 TCN– 258 TCN) Âu Lạc (257 TCN- 179 TCN)  Văn Lang (chữ Hán: 文郎) là quốc hiệu đầu tiên của Việt Nam. Quốc gia này có kinh đô đặt ở Phong Châu nay thuộc tỉnh Phú Thọ. Lãnh thổ bao gồm khu vực đồng bằng sông Hồng và ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh bây giờ. Quốc gia này tồn tại cho đến năm 258 TCN. Âu Lạc (甌雒, 甌駱, 甌貉) được dựng lên năm 257 TCN, từ việc liên kết các bộ lạc Lạc Việt (Văn Lang) và Âu Việt, dưới uy thế của Thục Phán – An Dương Vương. Âu Lạc có lãnh thổ bao gồm phần đất của Văn Lang trước đây cộng thêm vùng núi Đông Bắc Việt Nam và một phần tây nam Quảng Tây (Trung Quốc). Khoảng cuối thế kỷ thứ III TCN, đầu thế kỷ thứ II TCN . Năm 207 TCN, Triệu Đà, quận úy Nam Hải nhà Tần,  tung quân đánh chiếm Âu Lạc. Cuộc kháng cự của An Dương Vương thất bại, nhà nước Âu Lạc bị xóa sổ. Triệu Đà là tướng nhà Tần nhân loạn Hán Sở tranh hùng đã hùng cứ ở phía Nam sông Trường Giang, đánh chiếm Âu Lạc, hình thành nên nước Nam Việt bao gồm cả vùng Quảng Đông Quảng Tây và Bắc Việt Nam ngày nay. Triệu Đà chống cự thắng lợi quân đội nhà Hán thời Lã Hậu, nhưng sau đó ông đã quy thuận Hán Văn Đế vào khoảng năm 111 trước công nguyên. Âu Lạc bị chuyển sang tay nhà Hán và bị chia để cai trị. Sử Việt không ghi Nam Việt vào quốc hiệu Đất nước Việt Nam qua các thời vì ba yếu tố chủng tộc, địa lý và sự thật lịch sử)

Nông nghiệp Việt Nam thời 1000 năm Bắc thuộc từ năm 111 trước công nguyên đến năm 938 sau công nguyên khi vua Ngô Quyền đã đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng và giành được độc lập cho dân tộc Việt. Đặc trưng lịch sự và nông nghiệp của thời kỳ này là ‘một ngàn năm bắc thuộc’. Thời kỳ này người Việt chủ yếu là canh tác trồng trọt, chăn nuôi ở khắp vùng đồng bằng sông Hồng,/vùng núi và trung du phía Bắc, đánh bắt cá ven sông biển và khai thác lâm sản vùng núi trung du. Quốc hiệu Việt Nam có hai lần được thiết lập. Lĩnh Nam là tên nước Việt Nam năm 40, khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống lại sự cai trị của nhà Hán. Hai bà đã chiếm được 65 thành trì của nhà Hán tại các quận Nhật Nam, Cửu Chân, Giao Chỉ, Hợp Phố, Nam Hải,… Hai bà xưng vương, với câu hịch nối lại nghiệp xưa vua Hùng, lập tên nước là Lĩnh Nam, đóng đô tại Mê Linh, ngày nay thuộc huyện Mê Linh, Hà Nội. Trưng Trắc được bầu làm vua  của Lĩnh Nam. Trưng Nhị được bầu làm vương của Giao Chỉ. Sáu quận của Lĩnh Nam là Nhật Nam, Cửu Chân, Giao chỉ, Tượng Quận, Nam Hải và Quế Lâm mỗi quận có một vương gia. Năm 43 khởi nghĩa Hai Bà Trưng bị đàn áp. Việt Nam bắt đầu thời kỳ Bắc thuộc lần II. Vạn Xuân (萬春) là quốc hiệu của Việt Nam trong thời kỳ độc lập của Lý Nam Đế nhà Tiền Lý từ năm 544 đến năm 602 thì bị nhà Tùy tiêu diệt. Sử gia Đào Duy Anh tổng kết lịch sử Việt Nam giai đoạn này: “Khắp vùng đồng bằng sông Hồng,/vùng núi và trung du phía Bắc,/ không mẩu đất nào không lưu dấu tổ tiên /để giành quyền sống với vạn vật”. (xem thêm tại Dạo chơi non nước Việt  https://cnm365.wordpress.com/2016/03/03/dao-choi-non-nuoc-viet-2/)

Nông nghiệp Việt Nam thời tự chủ, Pháp thuộc và độc lập.  Chế độ phong kiến Việt Nam sau khi giành được độc lập đã phát triển mạnh mẽ với công cuộc Nam Tiến mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam. Bản đồ Việt Nam từ năm 1069 đến năm 1757 thể hiện rõ điều đó. Quốc hiệu Việt Nam thời kỳ này gồm: Đại Cồ Việt (大瞿越) là quốc hiệu của Việt Nam từ thời nhà Đinh đến đầu thời nhà Lý, do Đinh Tiên Hoàng thiết đặt từ năm 968 cho đến năm 1054, đời vua Lý Thánh Tông thì đổi sang quốc hiệu khác. Đại Việt (大越) là quốc hiệu của Việt Nam từ thời nhà Lý từ khi Lý Thánh Tông lên ngôi  năm 1054 kéo dài đến năm 1804, trải qua các vương triều Lý, Trần, Lê, Mạc và Tây Sơn, khoảng 724 năm (dù bị gián đoạn 7 năm thời nhà Hồ và 20 năm thời thuộc Minh). Đại Ngu (大虞) là quốc hiệu của Việt Nam thời nhà Hồ năm 1400 khi Hồ Quý Ly lên nắm quyền. Quốc hiệu Đại Ngu của Việt Nam đổi lại thành Đại Việt sau khi Lê Thái Tổ nhà Hậu Lê đuổi được quân Minh, và giành lại độc lập cho Việt Nam. Quốc hiệu Đại Ngu này, theo truyền thuyết, họ Hồ là con cháu vua Ngu Thuấn (là một trong Ngũ Đế nổi tiếng ở Trung Hoa thời thượng cổ); sau này con Ngu Yên là Vĩ Mãn được Chu Vũ Vương của nhà Chu phong cho ở đất Trần gọi là Hồ Công, sau dùng chữ Hồ làm tên họ. Hồ Quý Ly nhận mình là dòng dõi họ Hồ, con cháu Ngu Thuấn, nên đặt quốc hiệu là Đại Ngu. Chữ Ngu (虞) ở đây có nghĩa là “sự yên vui, hòa bình”, chứ không phải là từ “ngu” trong từ “ngu si” (愚癡). Việt Nam (越南) là quốc hiệu được chính thức xuất hiện vào thời nhà Nguyễn. Vua Gia Long đã đề nghị nhà Thanh công nhận quốc hiệu Nam Việt, với lý lẽ rằng “Nam” có ý nghĩa “An Nam” còn “Việt” có ý nghĩa “Việt Thường”. Tuy nhiên tên Nam Việt trùng với quốc hiệu của quốc gia cổ Nam Việt thời nhà Triệu, gồm cả Quảng Đông và Quảng Tây của Trung Hoa lúc bấy giờ. Nhà Thanh yêu cầu nhà Nguyễn đổi ngược lại thành Việt Nam để tránh nhầm lẫn, và chính thức tuyên phong tên này năm 1804. Việt Nam tuy vậy đã có thể xuất hiện sớm hơn từ cuối thế kỷ XIV. Tại tên bộ sách Việt Nam thế chí của Hồ Tông Thốc là Hàn lâm viện học sĩ biên soạn (nay không còn) và sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi (1380-1442) viết đầu thế kỷ XV  đã  nhiều lần nhắc đến hai chữ “Việt Nam”. Câu “Việt Nam khởi tổ xây nền” cũng đã có ngay trang mở đầu tập sách Trình tiên sinh quốc ngữ  của trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585). Hai chữ “Việt Nam” cũng có trên một số tấm bia khắc từ thế kỷ XVI-XVII như bia chùa Bảo Lâm (1558) ở Hải Dương, bia chùa Cam Lộ (1590) ở Hà Nội, bia chùa Phúc Thánh (1664) ở Bắc Ninh… Đặc biệt bia Thủy Môn Đình (1670) ở biên giới Lạng Sơn có câu đầu: “Việt Nam hầu thiệt, trấn Bắc ải quan” (đây là cửa ngő yết hầu của nước Việt Nam và là tiền đồn trấn giữ phương Bắc). Về ý nghĩa, phần lớn các giả thuyết đều cho rằng từ “Việt Nam” kiến tạo bởi hai yếu tố: chủng tộc và địa lý (người Việt ở phương Nam). Đại Nam (大南) là quốc hiệu Việt Nam khi vua Minh Mạng chính thức đơn phương công bố quốc hiệu mới Đại Nam vào ngày 15 tháng 2 năm 1839. Mặc dù từ năm 1820, vua Minh Mạng lên ngôi đã xin nhà Thanh cho phép đổi Việt Nam thành Đại Nam nhưng không được nhà Thanh chính thức chấp thuận cho đến năm 1839 nới đơn phương công bố quốc hiệu Đại Nam  khi nhà Thanh đã suy yếu. Quốc hiệu Đại Nam tồn tại cho đến năm 1945. Đế quốc Việt Nam là quốc hiệu Việt Nam do hoàng đế Bảo Đại tuyên bố xóa bỏ các hiệp ước với Pháp và thành lập chính phủ vào ngày 17 tháng 4 năm 1945, đứng đầu là nhà học giả Trần Trọng Kim, với quốc hiệu Đế quốc Việt Nam, sau khi Nhật đảo chính Pháp vào ngày 9 tháng 3 năm 1945 trong khi Đế quốc Nhật Bản trên thực tế vẫn cai trị Việt Nam. Sau khi Nhật đầu hàng quân Đồng Minh, Nam Kỳ mới được trao trả ngày 14 tháng 8 năm 1945, nhưng 10 ngày sau đó Hoàng đế Bảo Đại thoái vị. Hoàng đế Bảo Đại tuyên bố trao lại chủ quyền Việt Nam cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là tên gọi của cả nước Việt Nam 1945 đến 1954 và miền Bắc Việt Nam từ 1954 đến 1976. Nhà nước này được thành lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 (ngày Quốc khánh của Việt Nam ngày nay). Năm 1946, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức Tổng tuyển cử trên phạm vi cả nước để chính thức thành lập Quốc hội và Chính phủ khóa I. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải đối đầu với thực dân Pháp và Quốc gia Việt Nam được lập ra dưới cái ô của Pháp năm 1949. Trong thời kỳ 1954- 1975, chính thể này phải đối đầu với Việt Nam Cộng hòa được thành lập tại miền Nam Việt Nam. Năm 1976, chính thể này cùng với chính thể Cộng hòa miền Nam Việt Nam tổ chức Tổng tuyển cử để thống nhất thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.  Lịch sử Nông nghiệp Việt Nam thời kỳ này phụ thuộc ba phân kỳ chính của sử Việt: Thời kỳ Nam Tiến (1069-1757); thời kỳ 80 năm Pháp thuộc (1867-1945); Thời kỳ chiến tranh Đông Dương chiến tranh Việt Nam (1945-1975).

Nam Tiến (1069-1757) trong thời kỳ tự chủ kéo dài gần 700 năm, nâng diện tích lãnh thổ Việt từ ban đầu độc lập đến khi hoàn thành lên 3 lần, từ thế kỷ 11 đến giữa thế kỷ 18. Hai mốc chính là năm 1069 từ lúc chiến tranh Việt-Chiêm  do vua Lý Thánh Tông của Đại Việt phát động đánh vương quốc Chiêm Thành ở phương Nam với lý do người Chiêm từ chối thần phục nhà Lý và năm 1757 khi Nặc Ông Nguyên mất, chú họ là Nặc Nhuận dâng hai phủ Trà Vinh và Ba Thắc (Sóc Trăng) xin chúa Nguyễn Phúc Khoát phong cho làm vua Chân Lạp. Sau đó Nặc Nhuận bị người con rể là Nặc Hinh giết và cướp ngôi. Chúa Nguyễn sai tướng đánh thắng Nặc Hinhvà lập con Nặc Nhuận vốn đang nương nhờ Mạc Thiên Tứ (là con của Mạc Cửu, công thần triều Nguyễn) ở Hà Tiên trong lúc hoạn nạn làm vua Chân Lạp. Nặc Tôn dâng đất Tầm Phong Long (vùng đất nằm giữa Sông Tiền và Sông Hậu tương ứng với Châu Đốc, Sa Đéc) để tạ ơn chúa Nguyễn. Nặc Tôn lại dâng 5 phủ để tạ ơn riêng Mạc Thiên Tứ và chúa Nguyễn lại cho thuộc về trấn Hà Tiên cai quản. Hành trình Nam Tiến đến đây coi như hoàn thành.

Thời kỳ Pháp thuộc 80 năm (1867-1945) được tính từ năm 1867 khi Nam Kỳ Lục tỉnh bị nhà Nguyễn cắt nhượng cho Pháp, trở thành lãnh thổ đầu tiên Pháp chiếm được trong quá trình Pháp xâm lược Đại Nam, Chiến tranh Pháp Đại Nam đỉnh điểm là các hòa ước Nhâm Tuất 1862, Giáp Tuất 1864, Quý Mùi 1883 và Giáp Thân 1884. Hậu quả là Đại Nam bị ra làm ba xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ dưới ba chế độ cai trị khác nhau.  Nam Kỳ là xứ thuộc địa Pháp, Bắc Kỳ và Trung Kỳ là xứ Pháp bảo hộ,  Campuchia và  Lào cũng chịu sự cai trị của Pháp, và nhượng địa Quảng Châu tiếp theo bị gom vào Liên bang Đông Dương.

Thời kỳ chiến tranh Việt Nam giành độc lập và thống nhất (1945-1975). Chiến tranh Đông Dương và chiến tranh Việt Nam là hai cuộc chiến dài nhất, khốc liệt nhất trong lịch sử nhân loại. Chiến tranh Việt Nam (1955–1975) là giai đoạn thứ hai và là giai đoạn khốc liệt nhất của Chiến tranh trên chiến trường Đông Dương (19451979). Số lượng bom mà Mỹ đã  ném xuống Việt Nam là 7,85 triệu tấn nhiều nhất trong lịch sử thế giới, gấp gần 3 lần tổng số bom mà tất cả các nước đã sử dụng trong Chiến tranh thế giới thứ hai và tương đương sức công phá của 250 quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống Hiroshima. Tính bình quân mỗi người Việt Nam thời đó phải chịu đựng trên dưới 250 kg bom của Mỹ.  Khởi đầu Chiến tranh Đông Dương là năm 1945, khi Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, Pháp đem quân trở lại tấn công Việt Nam để tái lập chế độ thuộc địa ở đây, nhưng người Việt Nam phản kháng quyết liệt và Pháp đã bị thất bại sau 9 năm chiến tranh. Pháp buộc phải công nhận nền độc lập của Việt Nam và Lào , Căm pu chia, chính thức chấm dứt thời kỳ Pháp thuộc, đồng thời kéo theo sự sụp đổ của cả hệ thống thuộc địa của Pháp và các nước thực dân khác trên khắp thế giới vào thập niên 1950 – 1960. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của dân tộc ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ Quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước’

Sử gia Đào Duy Anh nhận diện đặc điểm cơ bản và tổng kết lịch sử Việt Nam giai đoạn này là “Suốt dọc các vùng/ từ duyên hải Bắc Trung Bộ,/ đến duyên hải Nam Trung Bộ,/Tây Nguyên,/ Đông Nam Bộ,/ Đồng Bằng Sông Cửu Long, /là sự nghiệp gian nan tiến thủ của tổ tiên/ để mở rộng hy vọng tương lai dân tộc”. (xem thêm tại Dạo chơi non nước Việt  https://cnm365.wordpress.com/2016/03/03/dao-choi-non-nuoc-viet-2/)

Nông nghiệp Việt Nam thời độc lập thống nhất (1975 – nay)

Tiếng Việt với Nông nghiệp Việt Nam và du lịch sinh thái là bài học lịch sử đặc biệt sâu đậm của Tổ Quốc Việt Nam. Đó là các nguồn tài nguyên nhân văn sâu đậm nhất của người Việt trường tồn cùng năm tháng.Tiếng Việt và Nông nghiệp’ là ban mai, suối nguồn tươi trẻ,  sức sống thanh xuân kiên cường của dân tộc Việt.

 

Các bài viết cùng chủ đề
VIỆT NAM TỔ QUỐC TÔI

Tập bài giảng LHS khoa Ngữ văn ĐHKHXHNV TP.HCM
Đề cương Kinh tế Xã hội Văn hóa Việt Nam
(*) Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim và ctv. 2018.
Việt Nam học, 学中越文, Học tiếng Trung Việt
https://hoangkimvn.wordpress.com
(Mọi trích dẫn đề nghị ghi rõ nguồn)

Việt Nam một thoáng nhìn toàn cảnh
Di sản thế giới tại Việt Nam
Vườn Quốc gia ở Việt Nam
Thông tin nhanh về Việt Nam
Việt Nam vùng lãnh thổ hành chính
Việt Nam đất nước và con người (1)
Nông nghiệp Việt Nam và du lịch
Kinh tế Việt Nam một khái quát 
Việt Nam đất nước và con người (2)
Việt Nam đất nước và con người (3)
Việt Nam đất nước và con người (4)
Việt Nam đất nước và con người (5)
Việt Nam 5000 năm Tiếng Việt và Nông nghiệp

Video yêu thích

Giới Thiệu Du Lịch Việt Nam
KimYouTube

Trở về trang chính
Học tiếng Trung Việt I Hoang To Nguyen  foodcrops.vn I Hoang Long Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

NhatoiHoangKim 992632016

NHÀ TÔI

Hoàng Kim

Trăng rằm, Hoa của Đất
Gốc mai vàng trước ngõ

Nhà tôi có chim về làm tổ
Ta hẹn em uống rượu ngắm trăng

Thơ cho con, Ngọc cho đời
Đêm trắng và bình minh
Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời
Minh triết sống thung dung phúc hậu

Linh Giang dòng sông quê hương
Đất mẹ vùng di sản
Đến chốn thung dung
Nhớ miền Đông, Phan Thiết có nhà tôi

Dạo chơi non nước Việt
Sóng yêu thương vỗ mãi đến vô cùng
Sông Thương, ta về trời đất Hồng Lam
Chút Huế cho em, Ngày mới, Ngày xuân đọc Trạng Trình

Giấc mơ hạnh phúc
Đầy đặn yêu thương
Ong và Hoa, Ngọc phương Nam
Tình yêu cuộc sống

NHÀ TÔI  thơ văn Hoàng Kim

ac59d-ramxuan

TRĂNG RẰM

Hoàng Kim

Trăng sáng lung linh trăng sáng quá
Đất trời lồng lộng một màu trăng
Dẫu đêm khuya vắng người quên ngắm
Trăng vẫn là trăng, trăng vẫn rằm

HoacuaDat99
HOA CỦA ĐẤT

Hoàng Kim

Bao năm Trường Viện là nhà
Sắn khoai ngô lúa đều là thịt xương
Một đời người một rừng cây
Thầy ươm giống tốt để mai thành rừng…

GiadinhNN

ƠN THẦY

Kính tặng thầy Mai Văn Quyền
và những người Thầy nghề nông

Cha ngày xưa nuôi con đi học
Một nắng hai sương trên những luống cày
Trán tư lự, cha thường suy nghĩ
Phải dạy con mình như thế nào đây?

Cha mất sớm, bom thù rung mặt đất
Cái chết giằng cha ra khỏi tay con
Mắt cha lắng bao niềm ao ước
Vẫn lo cho con đến phút cuối cùng.

Giặc giết cha, cha chưa kịp thấy
Tương lai con đi, sự nghiệp con làm
Cha có biết, luống cày cha bỏ dỡ
Cha ngã xuống rồi trao lại tay con.

Trên luống cày này, đường cày con vững
Bởi có dáng thầy thay bóng cha xưa
Hiểu mảnh đất máu đào cha nhuộm đỏ
Thôi thúc tim con học tập phút giờ …

Hoàng Kim học để làm ở Ấn Độ
Hoàng Kim
Rút trong tập THƠ CHO CON

Goc mai vang truoc ngo
GỐC MAI VÀNG TRƯỚC NGÕ

“Anh trồng gốc mai này cho em!” Anh cả của tôi trước khi mất đã trồng tặng cho tôi một gốc mai trước ngõ vào hôm sinh nhật con tôi. Cháu sinh đêm trước Noel còn anh thì mất lúc gần nửa đêm trăng rằm tháng giêng, trùng sinh nhật của tôi. Anh trò chuyện với anh Cao Xuân Tài bạn tôi trong khi tôi cùng vài anh em đào huyệt và xây kim tỉnh cho anh. Nhìn anh bình thản chơi với các cháu, tôi nao lòng rưng rưng. Chưa bao giờ và chưa khi nào tôi thấm thía những bài thơ về hoa mai cuối mùa đông tàn bằng lúc đó. Anh đi rằm xuân1994 do căn bệnh ung thư hiểm nghèo khi các con anh còn thơ dại.

Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết

Bài kệ “Cáo tật thị chúng” (Cáo bệnh với đệ tử) của thiền sư Mãn Giác (1052 – 1096) trong Thiền Uyển Tập Anh và lời bình của anh về nhân cách người hiền, cốt cách hoa mai đã đi thẳng vào lòng tôi:

Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai.
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười
Trước mặt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai.

(Bản dịch của Ngô Tất Tố)
Khi Lâm Cúc và anh Đình Quang trao đổi về chủ đề hoa mai, mạch ngầm tâm thức trong tôi đã được khơi dậy như suối nguồn tuôn chảy.

Đêm qua sân trước một cành mai

Thiền sư Mãn Giác viết bài kệ “Cáo tật thị chúng” khi Người 45 tuổi, sau đó Người đã an nhiên kiết già thị tịch. Bài thơ kiệt tác vỏn vẹn chỉ có sáu câu, ba mươi tư chữ, bền vững trãi nghìn năm. Đối diện với cái chết, thiền sư ung dung, tự tại, thấu suốt lẽ sinh tử: Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết / Đêm qua sân trước một cành mai.

Lời thơ thanh thoát, giản dị một cách lạ lùng! Thực tế cuộc sống đã được hiểu đầy đủ và rõ ràng. Bản tính cuộc sống là hạnh phúc và đau khổ, vui vẻ và phiền muộn, sự thiếu hoàn thiện và luôn vô thường. Xuân đi trăm hoa rụng/ xuân đến trăm hoa cười/ trước mặt việc đi mãi/ trên đầu già đến rồi. Đó là qui luật muôn đời, hoa có tàn có nở, người có diệt có sinh. Hạnh phúc cuộc sống là phong thái luôn vui vẻ và sung sướng, thanh thản và thung dung, không lo âu, không phiền muộn. Sống với một tinh thần dịu hiền và một trái tim nhẹ nhõm.

Tình yêu cuộc sống thể hiện trong ý xuân và trật tự các câu thơ.“Xuân đi trăm hoa rụng/ xuân đến trăm hoa cười” ẩn chứa triết lý sâu sắc hơn là “Xuân đến trăm hoa cười, xuân đi trăm hoa rụng/”. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585) trong bài thơ nôm “Chín mươi” có câu: “Chín mươi thì kể xuân đà muộn/ Xuân ấy qua thì xuân khác còn”. Tăng Quốc Phiên chống quân Thái Bình Thiên Quốc “càng đánh càng thua” nhưng trong bản tấu chương gửi vua thì ông đã quyết ý đổi lại là “càng thua càng đánh”. Việc “đánh thua” thì vẫn vậy nhưng ý tứ của câu sau mạnh hơn hẵn câu trước.

Hoa mai là biểu tượng của mùa xuân, của sự may mắn, vui tươi và trường thọ. Cành mai ẩn tàng thông điệp của mùa xuân. Hoa mai vừa có cốt cách, vừa đẹp thanh nhã, vừa có hương thơm và nở sớm nhất trong các loại hoa xuân. Vì vậy, hoa mai đã được chọn để biểu hiện cho cốt cách thanh cao của người hiền. Hoa mai, hoa đào, hoa lê, hoa mận có nhiều loài với vùng phân bố rộng lớn ở nhiều nước châu Á nhưng chỉ riêng mai vàng là đặc sản của Việt Nam, trong khi mai trắng và hoa đào là phổ biến tại Trung Quốc, Nhật Bản, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc và các nước Trung Á.

Mai vàng hoa xuân của Tết Việt

Mai vàng là đặc sản Việt Nam. Hoa mai, hoa đào, bánh chưng là hình ảnh Tết cổ truyền của dân tộc Việt. Hoa mai là một trong bốn loài hoa kiểng quý nhất (mai, lan, cúc, trúc) của Việt Nam đặc trưng cho bốn mùa. Hoa mai gắn liền với văn hóa, đời sống, tâm linh, triết lý sống, nghệ thuật ứng xử, thơ văn, nhạc họa. Hiếm có loài hoa nào được quan tâm sâu sắc như vậy

“Nghìn dặm tìm anh chẳng gặp anh. Đường về vó ngựa dẫm mây xanh. Qua đèo chợt gặp mai đầu suối . Đóa đóa vàng tươi xuân thắm cành” (Hồ Chí Minh 1890-1969); “Đêm qua sân trước một nhành mai” (Mãn Giác 1052-1096) “Lâm râm mưa bụi gội cành mai” (Trần Quang Khải 1241-1294); Ngự sử mai hai hàng chầu chắp/ Trượng phu tùng mấy rặng phò quanh” (Huyền Quang 1254-1334); Quét trúc bước qua lòng suối/ Thưởng mai về đạp bóng trăng” (Nguyễn Trãi 1380-1442); “Cốt cách mai rừng nguyên chẳng tục”( Nguyễn Trung Ngạn 1289-1370); “Mai cốt cách, tuyết tinh thần” (Nguyễn Du 1765-1820) “Nhờ chúa xuân ưu ái/ Xếp đứng đầu trăm hoa/ Chỉ vì lòng khiêm tốn/ Nên hẵng nở tà tà” (Phan Bội Châu 1867-1940); “Mộng mai đình” (Trịnh Hoài Đức 1725-1825) ; “Non mai rồi gửi xương mai nhé/ Ước mộng hồn ta hóa đóa mai” (Đào Tấn 1845-1907); “Một đời chỉ biết cúi đầu vái trước hoa mai” (Cao Bá Quát 1809-1855) “Hững hờ mai thoảng gió đưa hương” (Hàn Mặc Tử 1912-1940) “Tìm em tôi tìm/ Mình hạc xương mai”(Trịnh Công Sơn 1939-2001),…

Gốc mai vàng trước ngõ. Rằm xuân lại nhớ anh. Cành mai rung rinh quả. Xuân sang lộc biếc cành. … Vườn nhà buổi sáng xuân nay. Nước xao tăm cá, mai đầy nắng xuân. Mẹ gà quấn quýt đàn con. Đất lành chim đậu, lộc xuân ân tình.
SX05

MaiViet

NHÀ TÔI CÓ CHIM VỀ LÀM TỔ

Hoàng Kim

Thích quá đi.
Nhà tôi có chim về làm tổ
Cây bồ đề cuối vườn
Cò đêm về trắng xóa

Gốc me cho con
Xanh non màu lá
Ong đi rồi về
Sóc từng đàn nhởn nhơ.

Cây sơ ri ba mẹ trồng
Lúc con tuổi còn thơ
Nay như hai mâm xôi
Tròn đầy trước ngõ.

Cây mai Bác trồng
Bốn mùa hoa thương nhớ
Trúc xanh từ non thiêng Yên Tử
Trúc vàng ân nghĩa Đào Công

Em ơi!
Hôm nay trên cây lộc vừng
Chim phượng về làm tồ
Mẹ dạy con tập bay
Sao mà đẹp thế !

Đá vàng trao hậu thế
Người hiền noi tiếng thơm …

Bồ đề nhà tôi

DemNguyenTieu

TA HẸN EM UỐNG RƯỢU NGẮM TRĂNG

Hoàng Kim

Ta hẹn em uống rượu ngắm trăng
Mấy khi đời có một người tri kỷ?
Nâng chén nhé!
Trăng vàng như giọt lệ
Buồn ư em?
Trăng vằng vặc trên đầu!

Ta nhớ anh ta mưa nắng dãi dầu
Khi biệt thế gian chọn trăng làm bạn
“Trăng tán trời mưa, trăng quầng trời hạn”
Dâu bể cuộc đời đâu chỉ trăm năm?

Mười lăm trăng qủa thật tròn
Anh hùng thời vận hãy còn gian nan
Đêm trăng nhát cuốc xới vàng
Trăng dòm, ta hẹn, trăng càng dòm thêm
Đất vàng, vàng ánh trăng đêm
Đêm khuya, ta với nàng quên nhọc nhằn.

Ta mời em uống rượu ngắm trăng
Mấy khi đời có một người tri kỷ?
Nâng chén nhé!
Trăng vàng như giọt lệ
Vui ư em?
Trăng lồng lộng trên đầu!

Ta nhớ bạn ta vào tận vùng sâu
Để kiếm tìm ta, người thanh xứ núi
Cởi bỏ cân đai xênh xang áo mũ
Rượu đế, thưởng trăng, chân đất, đũa tre.

Hoa mận chờ trăng nhạt bóng đêm
Trăng lên vời vợi vẫn êm đềm
Trăng qua vườn mận, trăng thêm sáng
Mận đón trăng về, hoa trắng thêm.

Ta cùng em uống rượu ngắm trăng
Ta có một tình yêu lặng lẽ
Hãy uống đi em!
Mặc đời dâu bể.
Trăng khuyết lại tròn
Mấy kẻ tri âm?

Trăng sáng lung linh, trăng sáng quá!
Đất trời lồng lộng một màu trăng
Dẫu đêm khuya vắng người quên ngắm
Trăng vẫn là trăng, trăng vẫn rằm.

THƠ CHO CON

Hoàng Kim

tặng các con

Nguyen Long
Ước muốn cuộc đời cha
Có con đi nối con đường sự nghiệp
Con đứng trên vai cha
Vươn tới những chân trời mơ ước.

Nguyen Loc 1a

Nguyen Loc 9

Nguyen Long 1
Con!
Thân thương một tiếng gọi
Hạnh phúc bật nên lời
Lòng Cha bồi hồi
Sung sướng gọi:
Con!

Cha đi công tác xa
Mong đợi Con, từng ngày chờ thư Mẹ
Thư đến!
Con ra đời!
Cha run lên vì mừng
Thao thức suốt đêm
Không ngủ

Bạn bè vây quanh Cha
Trân trọng niềm vui thiêng liêng
Nâng cốc chúc Cha
Hạnh phúc!

Tiếng Con ngọt ngào môi Cha
Dào dạt lòng Cha vỗ mãi
Có Con
Nối cuộc đời Cha
Gấp đôi
Có Con
Đan giữa cuộc đời
Hạnh phúc

Con là sợi dây máu thịt
Yêu thương gắn Mẹ và Cha
Có Con
Cha thấy cuộc đời ý nghĩa hơn
Cuộc sống – Tình yêu – Sự nghiệp
Hai Con là hai con mắt
Cửa sổ tâm hồn Cha
Dẫu đời Cha nhiều chông gai
Trái chín cuộc đời vẫn ngọt
Con là giấc mơ trong trẻo
Là ban mai tươi vui
Là viên ngọc trao đời
Là hương hoa hạnh phúc

Ước vọng cuộc đời Cha
Có Con đi nối con đường sự nghiệp
Con đứng trên vai Cha
Vươn tới những chân trời mơ ước

Hai Con
Hai viên ngọc
Chị con và Con
Mẹ con dịu hiền hơn
Mẹ con đảm đang hơn
Cha bớt vụng về mỗi việc làm nho nhỏ
Con trở thành ngọn lửa
Sưởi ấm lòng Mẹ Cha
Khi mỗi ngày khó khăn
Trong trẻo tiếng Con
Mẹ Cha hết mệt
Con là niềm vui lớn nhất
“Con hơn Cha nhà có phúc”
Cha mong dồn cho Con.

Lớn lên
Con sẽ hỏi Cha
Sao Cha đặt tên Con là Hoàng Long?
Con ơi!
Tên Con là khúc hát yêu thương
Của lòng Cha Mẹ
Cha Mẹ thương nhau
Vì qúy trọng những điều ân nghĩa
Sự nghiệp và tình yêu
Những ngày gian khổ
Cùng nghiên cứu củ sắn, củ khoai
Con là giống khoai Hoàng Long
Tỏa rộng nhiều vùng đất nước
Dẫu không là trái thơm qủa ngọt
Nhưng là niềm vui người nghèo
Để Cha nhớ về quê hương
Khoai sắn bốn mùa vất vã
Để Cha nhớ những ngày gian khổ
Năm năm
Cơm ngày một bữa
Khoai sắn không phụ lòng
Để Cha nhớ về
Lon khoai nghĩa tình
Nắm khoai bè bạn
Gom góp giúp Cha ăn học
Khi vào đời
Cha gặp Mẹ con
Cho nên:
Cha muốn Con
Trước khi làm những điều lớn lao
Hãy biết làm củ khoai, củ sắn
Hãy hướng tới những người lao động
Nhớ quê nghèo cắt rốn, chôn rau

Lớn lên
Con sẽ hỏi cha
Sao Cha đặt tên con Hoàng Long?
Long là rồng
Con là đậu rồng
Là công trình thứ hai Mẹ Cha nghiên cứu
Mẹ con chọn hạt
Cha gieo nên con
Vất vả gian nan
Hứa hẹn một mùa gặt hái
Con là tháng ngày mong đợi
Là niềm vui đóng góp cho đời
Từ hạt đậu củ khoai
Cha Mẹ trao Con sự nghiệp
Cha nhớ câu đối trăm năm
Về một gia đình hạnh phúc
“Sáng khoai, trưa khoai, tối khoai
ngày khoai ba bữa
Cha đỗ, mẹ đỗ, con đỗ
đều đỗ cả nhà”
Chị con và Con
Là mong ước
Của Mẹ và Cha

Lớn lên
Con sẽ hỏi Cha
Sao Cha đặt tên con Hoàng Long?
Long là rồng
Nghĩa mẹ tạo nền
Công cha xây móng
Trước mắt con là sông dài, biển rộng
Ước mong con bay lên
Con hãy đi đến cùng
Mục đích của con
Làm được những điều cao cả
Hãy cố gắng không ngừng
Kiên gan
Bền chí
Ước mơ và hiện thực
Hôm nay và mai sau
Nghị lực là thước đo cuộc đời
Hai chữ đầu tiên Con học làm người
Phải học hai điều NHÂN NGHĨA

Cha mong Con lớn lên
Ít nếm trãi khó khăn, vất vả
Nhưng đừng bao giờ quên
Những ngày đói khổ
Thời thơ ấu của Cha
Mồng Ba tháng Giêng ngày mất của Bà
Hai mươi tháng Mười ngày ông Mỹ giết
Ngày mà cửa nhà tan nát
Đói nghèo Bác dắt dìu Cha
Tuổi thơ thì bắt ốc, mò cua
Lớn một chút trồng khoai, dạy học
Qua danh lợi hiểu vinh, hiểu nhục
Trãi đói nghèo biết nghĩa, biết ân
Phan Thiết là nơi Mẹ đã sinh Con
Ông Bà ngoại nuôi cho Con khôn lớn
Tuổi thơ của Con lớn trong yên ấm
Tao nôi êm ả, thanh bình
Ru cho Con “uống nước nhớ nguồn”
Khi con lớn đừng quên điều HIẾU THẢO

Cha say viết về Con
Kể về Con
Thơ cho Con
Cô bác vây quanh Cha
Gật gù
Thông cảm

Thơ chắp mối
Từng vần,
Từng mảng
Câu thơ chưa chỉnh lời
Nhưng tứ thơ
Dồn dập
Bối hồi
Hạnh phúc lớn
Trong lòng Cha
Ngân mãi

Praha, 17.2.1986

ToNguyen

NGỌC CHO ĐỜI

Hoàng Kim

Ngocchodoi
CNM365. Ngọc cho đời. Hoàng Kim. Lên đường đi em. Ban mai vừa rạng. Hãy đi về phía mặt trời. Ta hãy chăm như con ong làm mật. Cuộc đời này là hương hoa. Ngày mới yêu thương vẫy gọi. Ngọc cho đời vui khỏe cho ta.
OngvaHoa



Hãy đi về phía mặt trời
, bóng tối sẽ khuất sau lưng bạn (Tinh hoa văn hóa cổ)

NGUYỄN KHẢI, NGỌC CHO ĐỜI

Hoàng Kim

DẠY VÀ HỌC. Tôi vẫn thường quay lại với Nguyễn Khải, với các tác phẩm văn chương ưng ý mà ông đã trao lại cho đời và những lời thương nhớ Nguyễn Khải của các bạn văn, người đọc viết về ông. Những tích lũy tư liệu về ông tại trang DẠY VÀ HỌC ở Xóm Lá và trang hoangkimvietnam ở Google.sites, thỉnh thoảng tôi lại đưa ra đọc lại, ghi chú thêm vào những tìm tòi mới với ước mong tuyển chọn điều yêu thích cho mình và cống hiến với bạn đọc một góc nhìn về Nguyễn Khải, ngọc cho đời 

Đi về phía mặt trời. Nguyễn Khải lời anh gửi lại: “Trên cuộc đời không có bước đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải vượt qua được những ranh giới ấy”. “Tôi viết vậy thì tôi tồn tại! Viết văn không chỉ do nhu cầu kiếm sống, viết văn cũng không chỉ do những bức xúc khôn khuây của cá nhân, mà viết còn là mong muốn được trao trở về với cái vô hạn“.

Nhà văn Nguyễn Khải đã vĩnh biệt thế gian ngày 15.1.2008 nhưng trang văn và cuộc đời của ông vẫn tồn tại . Nguyễn Khải tên thật là Nguyễn Mạnh Khải, sinh ngày 3 tháng 12 năm 1930 tại Hà Nội. Quê nội của ông ở thành phố Nam Định nhưng tuổi nhỏ sống ở nhiều nơi, đang học trung học thì gặp Cách mạng tháng Tám. Nguyễn Khải trong kháng chiến chống Pháp, gia nhập tự vệ chiến đấu ở thị xã Hưng Yên, sau đó vào bộ đội, làm y tá rồi làm báo. Bắt đầu viết văn từ những năm 1950, được chú ý từ tiểu thuyết Xung đột (phần I năm 1959, phần II năm 1962). Sau năm 1975 Nguyễn Khải chuyển vào sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh. Ông rời quân đội năm 1988 với quân hàm đại tá để về làm việc tại Hội Nhà văn Việt Nam. Nguyễn Khải từng là Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam các khóa 2, 3 và là Phó Tổng Thư ký khóa 3. Ông là Đại biểu Quốc hội khóa VII.

Nguyễn Khải là nhà văn tư tưởng của thời đại với nghệ thuật văn chương thông tấn bậc Thầy. Nguyên Ngọc viết “Nguyễn Khải có viết một câu hết sức ưu ái đối với tôi, anh bảo tôi “là nhà tư tưởng của thế hệ chúng tôi”. Anh thương tôi quá mà nói vậy. Anh mới chính là nhà tư tưởng ấy, bởi nhà văn mà là nhà tư tưởng thì phải thể hiện các tư tưởng ấy ra trong tác phẩm của mình. Và anh mới là người làm được xuất sắc điều đó.” Trần Đăng Khoa nhận định:“Tôi đặt ông vào đúng vị trí mà ông có. Ở trường phái văn chương thông tấn này, một mình ông một vị trí độc tôn, không ai sánh được và cũng không có ai học được”. Tác phẩm của Nguyễn Khải gồm nhiều thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết, ký sự, kịch với nhiều mảng chủ đề khá phong phú nhưng nổi bật nhất, lắng đọng nhất có lẽ vẫn là những vấn đề xã hội, tư tưởng, chính trị và con người. Đó là hình ảnh nông thôn trong quá trình xây dựng cuộc sống mới, bộ đội trong những năm chiến tranh chống Mỹ, “những đối mặt sinh tử của Đảng và Nhà nước Việt Nam với những quyết định hết sức hệ trọng có quan hệ tới sự tồn vong của dân tộc, của quốc gia mà Nguyễn Khải lo lắng và muốn cùng chia sẻ”. Năm 1982, Nguyễn Khải nhận Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam với tiểu thuyết Gặp gỡ cuối năm. Năm 2000, nhà văn được phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt II về Văn học nghệ thuật.

Những tác phẩm chính của Nguyễn Khải chắc chắn vẫn tiếp tục thức tỉnh nhiều thế hệ: Tôi viết vậy thì tôi tồn tại; Xung đột (1959-1962); Mùa lạc (tập truyện ngắn, 1960 được trích dạy trong sách giáo khoa phổ thông môn Văn học nhiều năm qua); Gặp gỡ cuối năm; Hãy đi xa hơn nữa (1963); Chủ tịch huyện; Ra đảo (1966); Họ sống và chiến đấu (ký sự, 1966); Chiến sĩ (1973); Tầm nhìn xa; Ngày Tết về thăm quê; Cha và Con và…(1979); Hai ông già; Sống ở đời (tập truyện ngắn, 1990); Đứa con nuôi; . Gặp gỡ cuối năm (tiểu thuyết 1982, giải thưởng Hội Nhà Văn Việt Nam) Thời gian của người (1985); Điều tra về một cái chết; Vòng sóng đến vô cùng; Cõi nhân gian bé tí (1989);Một người Hà Nộị (truyện ngắn 1990 được trích dạy trong sách giáo khoa Ngữ văn bộ mới lớp 12); Một thời gió bụi (truyện ngắn, 1993); Ông đại tá và vị sư già (truyện ngắn, 1993), Nếp nhà (ký); Hà Nội trong mắt tôi (tập truyện ngắn, 1995); Chút phấn cho đời (kịch); Truyện ngắn Nguyễn Khải (1996); Thượng đế thì cười (tiểu thuyết 2003) và … Đi tìm cái tôi đã mất (tùy bút 2006)

NGUYỄN KHẢI LỜI ANH GỬI LẠI

“Trên cuộc đời không có bước đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải vượt qua được những ranh giới ấy”

“Tôi viết vậy thì tôi tồn tại! Viết văn không chỉ do nhu cầu kiếm sống, viết văn cũng không chỉ do những bức xúc khôn khuây của cá nhân, mà viết còn là mong muốn được trao trở về với cái vô hạn”

“Trong gần bảy chục năm sống, tôi không phàn nàn bất cứ đoạn đời nào, những năm tháng nào. Có cái trước thì mới có cái sau, có cái này mới có cái kia. Tôi quan niệm khiếm khuyết là điềm lành, không có gì phải lo nhiều; hoàn toàn là điềm dữ, không chuẩn bị trước thì tai họa có ngày. Mươi năm trở lại đây tôi đã có ý thức điều chỉnh lại cách sống của mình, cố gắng sống thật tử tế, thật đàng hoàng. Bớt đi được một nửa những cái chưa tử tế cũng là tốt rồi. Tôi tự đánh giá là một cây bút nhẫn nại trong cái nghề của mình, chứ không phải là một cây bút tài hoa, có tài bẩm sinh. Nếu không có cuộc Cách mạng Tháng Tám và hai cuộc kháng chiến thì tôi chỉ là một kẻ vô danh, chứ không thể làm được gì nên chuyện. Cho nên chế độ chính trị hiện nay dẫu có bao nhiêu thiếu sót, có bao nhiêu chuyện đáng buồn, đáng giận, tôi vẫn gắn bó máu thịt với hôm nay. Những cái làm được là kỳ tích của dân tộc, chuộc lại những lỗi lầm trong quá khứ, (Đi tìm cái tôi đã mất ) đưa nước Việt Nam, người Việt Nam sang thế kỷ 21″.

ĐỌC LẠI THƯƠNG NHỚ NGUYỄN KHẢI

Thương nhớ Nguyễn Khải, nhà văn Nguyên Ngọc định luận: “Trước hết, tôi muốn nói điều này: đấy là Nguyễn Khải, nhà văn tài năng nhất của thế hệ chúng tôi, thế hệ những người cầm bút vậy mà hóa ra vắt qua cả mấy thời kỳ lịch sử quan trọng: một chút thời Pháp thuộc, đầy đủ Cách mạng Tháng Tám, đẫm mình trong hai cuộc chiến tranh lớn, và cả hòa bình nữa. Một đận hòa bình cũng chẳng ít khó nhọc – cả hai cuộc, hòa bình một nửa nước miền Bắc từ sau năm 1954 và hòa bình cả nước sau 1975, hòa bình nào cũng xao động bao nhiêu sóng gió. Rồi lịch sử văn học sẽ có thời gian ngẫm lại mà xem, tất cả những chuyển động bão táp, phức tạp, trăn trở đó của số phận đất nước và nhân dân, ta sẽ được đọc lại hẳn nhiều nhất, sâu nhất trong Nguyễn Khải. Đấy là một trong những nhà văn hàng đầu, quan trọng nhất của văn học ta suốt một thời kỳ cực kỳ sôi động.” Nguyên Ngọc cũng dành những lời văn đặc biệt cảm mến: “Nguyễn Khải có một số phận rất Việt Nam. Anh có một tuổi thơ buồn, éo le và cả tủi nhục nữa – cũng như cái “tuổi thơ” của nhân dân mình vậy, rất có thể đắm chìm mãi mãi nếu tự trong anh – lại cũng như tự trong nhân dân mình vậy – không có một sức tự vươn lên kỳ lạ, im lặng, nhẫn nhục, mà kiên trì, kiên định, dũng cảm một cách thực sự là dũng cảm bởi không hề ồn ào, để thành người, một con người đàng hoàng trong cuộc đời, thành đạt trong sự nghiệp và ở đỉnh cao… Cũng từ chính chìm nổi của cuộc đời mình mà Nguyễn Khải hiểu và có quan niệm rất sâu, rất nghiêm về nghề và nghiệp cầm bút. Nghề cầm bút, với anh, trước hết và sau cùng nữa, là nghề làm người. Nghiêm trang và khó nhọc như nghề làm người…Nguyễn Khải không mất, nhà văn rất thời sự ấy lại cũng là nhà văn của tương lai”.

Triệu Xuân nhận xét: “Nguyễn Khải là một trong những người tiên phong viết tiểu thuyết về cuộc sống dân sự đầy vật lộn cam go sau chiến tranh. Tôi nghĩ chính anh, nhà văn Nguyễn Khải đã khai sinh dòng tiểu thuyết viết về những chuyện thường ngày, bám sát các sự kiện nóng hổi, đầy chất trí tuệ, chính luận của văn học Việt Nam.”

Tôi đọc lại tư liệu về ông tại trang DẠY VÀ HỌC ở Xóm Lá và trang hoangkimvietnam ở Google.sites để tuyển chọn lại năm bài của người đương thời viết về Nguyễn Khải

Nguyễn Khải, nhà văn tài năng nhất của thế hệ chúng tôi

Nguyên Ngọc (xem tiếp…)

ĐÊM TRẮNG VÀ BÌNH MINH

Hoàng Kim

DẠY VÀ HỌC. Mời bạn thưởng thức món quà xuân “Đêm trắng và bình minh”, câu chuyện về Ghent thành phố khoa học công nghệ; Sắn quà tặng thế giới người nghèo; Đêm trắng và bình minh phương Bắc. Nhà văn Nga Dostoievski viết “Những đêm trắng” với sự sâu sắc lạ lùng mà tôi khi được trãi nghiệm mới thấu hiểu. Ông trò chuyện về du lịch mà thực ra đang nói về nhân tình thế thái, về những đêm trắng và ảo ảnh bình minh phương Bắc. Bạn hãy ngắm nắng ấm và vườn cây trong bức ảnh lúc 7 giờ chiều chụp tiến sĩ Claude Fauquet với tôi. Ông là Chủ tịch Hội thảo Sắn Toàn cầu, Tổng Giám đốc của Viện Nghiên cứu Khoa học lừng danh ở Mỹ, người đã dành cho tôi sự ưu ái mời dự Hội thảo và đọc báo cáo. Bạn cũng hãy xem tiếp phóng sự ảnh chụp lúc gần nửa đêm mà ánh sáng vẫn đẹp lạ thường để đồng cảm cùng tôi về đêm trắng và bình minh. Bắc Âu là vùng đất lành có triết lý nhân sinh lành mạnh, chất lượng cuộc sống khá cao và những mô hình giáo dục tiên tiến nổi tiếng thế giới. Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương. Mục đích sau cùng của dạy và học là thấu suốt bản chất sự vật, có lời giải đúng và làm được việc. Dạy và học thực tiễn trên chính Tổ quốc mình. Tôi tâm đắc với thầy Nguyễn Lân Dũng “Bác Hồ với hạnh phúc của dân”, tâm đắc với nhà văn Trần Đăng Khoa những suy tư chấn hưng giáo dục qua bài viết “Mở cửa nhìn sang nhà hàng xóm” trao đổi về dạy và học ở Bỉ và Ngoảng lại mà ngắm… Bạn cũng sẽ bắt gặp đêm trắng và bình minh trong những trăn trở suy tư của nhà báo Nguyễn Chu Nhạc ở câu chuyện “Hà Lan ký sự” và “Brussels, trái tim EU” trong thiên phóng sự “Châu Âu du ký” mà anh mới kịp viết phần đầu “Trở lại xứ Gà trống Gô-loa” trong năm 2012. Tôi biết tự lượng sức mình và không muốn nợ lâu hơn nên đã dành trọn khoảng lặng ngày cuối năm Rồng và bình minh ngày đầu Xuân mới để viết tản văn này.

(xem tiếp…)

THẦY BẠN LÀ LỘC XUÂN CUỘC ĐỜI

Hoàng Kim

Tôi viết bài này để tỏ lòng biết ơn thầy bạn dưới mái trường Nông Lâm thân thương và làm món quà nhỏ thân tặng cho các em sinh viên nghèo hiếu học nhân ngày Nhà giáo Việt Nam. Thầy, bạn là lộc xuân của đời tôi mà nếu thiếu sự động viên, giúp đỡ này thì tôi không thể có được ngày hôm nay:“Em đã học nhiều gương sáng danh nhân. Hãy biết nhục, biết hèn mà lập chí. Thắp đèn lên đi em, ngọn đèn dầu bền bỉ. Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin” (1).

Về lại mái trường ta đã lớn khôn
          Ai cũng có ước nguyện về trường. Tôi thấu hiểu vì sao thầy Đặng Quan Điện người Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn (tiền thân của Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh hiện nay) năm trước đã đề nghị cho Thầy được ghé thăm Trường trước khi Thầy đi vào chốn vĩnh hằng. Thầy Tôn Thất Trình, người hiệu trưởng thứ hai của Trường nay 80 tuổi đã viết blog The Gift (2) như một quà tặng trao lại cho lớp trẻ và viết hai  bài hột lúa (3), con cá (4) cho ngày Nhà giáo Việt Nam.  Thầy Lưu Trọng Hiếu với tình yêu thương gửi lại (5) đã hiến tặng toàn bộ tiền phúng viếng của Thầy cùng với số tiền gia đình góp thêm để làm quỷ học bổng cho Trường tặng những em sinh viên nghèo hiếu học. Ca sỹ Đàm Vĩnh Hưng tặng học bổng cho sinh viên Đại học Nông Lâm gặp khó khăn học giỏi (6) vì tuổi thơ của anh nhọc nhằn không có cơ hội đến trường, khi thành đạt anh muốn chia sẻ để chắp cánh cho những ước mơ.

Tôi cũng là người học trò nghèo năm xưa với ba lần ra vào trường đại học, cựu sinh viên của năm lớp, nay tỏ lòng biết ơn bằng cách trở lại Trường góp chút công sức đào tạo và vinh danh những người Thầy người Bạn đã cống hiến không mệt mỏi, thầm lặng và yêu thương góp công cho sự nghiệp trồng người. Chừng nào mỗi chúng ta chưa thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa đủ mang lại niềm vui cho bữa ăn người nghèo thì chừng đó chúng ta vẫn còn phải dạy và học. Cái gốc của sự học là học làm người. Bài học quý về tình thầy bạn mong rằng sẽ có ích cho các em sinh viên đang nổ lực khởi nghiệp.

Quê tôi ở miền Trung nghèo khó “Nhà mình gần ngã ba sông/ Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình,/ Linh Giang (7) sông núi hữu tình / Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con/ Chèo thuyền cho khuất bến Son/ Để con khỏi chộ (thấy) nước non thêm buồn/ Câu thơ quặn thắt đời con/ Mẹ cha mất sớm, con còn trẻ thơ ”. Mẹ tôi mất sớm, cha bị bom Mỹ giết hại, tôi và chị gái đã được anh Hoàng Ngọc Dộ nuôi dạy cơm ngày một bữa suốt năm năm trời. Thầy Nguyễn Khoa Tịnh đứng khóc trên bục giảng (8) vận động thầy cô, bạn hữu chia sớt khoai sắn giúp đỡ. Tôi cũng dạy năm lớp vở lòng, ba lớp bổ túc văn hóa để vượt khó vươn lên. Thầy Hiệu trưởng Trần Đình Côn đã viết những lời xúc động trong trường ca tình thầy trò: “Thương em nhỏ gieo neo mẹ mất. Lại cha già giặc giết hôm qua. Tình thầy, tình bạn, tình cha. Ấy là ân nghĩa thiết tha mặn nồng” (9)  Những gương mặt thầy bạn đã trở thành máu thịt trong đời tôi.

Thi đậu vào Trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc năm 1970, tôi học Trồng trọt 4 cùng khóa với các bạn Trần Văn Minh, Đỗ Thị Minh Huệ, Phan Thanh Kiếm, Đỗ Khắc Thịnh, Vũ Mạnh Hải, Phạm Sĩ Tân, Phạm Huy Trung, Lê Xuân Đính, Nguyễn Hữu Bình, Lê Huy Bá … cho đến ngày 02 tháng 9 năm 1971 thì tôi gia nhập quân đội cùng lứa với Nguyễn Văn Thạc. Đợt tuyển quân sinh viên trong ngày độc lập đã nói lên sự quyết liệt sinh tử và ý nghĩa thiêng liêng của ngày cầm súng. Chiến trường đánh lớn. Đơn vị chúng tôi chỉ huấn luyện rất ngắn rồi vào trận ngay với 81 đại đội vượt sông Thạch Hãn. Chiến dịch Quảng Trị năm 1972 sau này đã đi vào huyền thoại: “Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm” (10) Tổ chúng tôi bốn người thì Xuân và Chương hi sinh, chỉ Trung và tôi trở về trường sau ngày đất nước thống nhất.  Những vần thơ viết dưới đây là xúc động sâu xa của tôi khi nghĩ về bạn học đồng đội đã khuất: “Trận chiến hôm qua bạn góp máu hồng. Lớp học hôm nay bạn không trở lại. Trách nhiệm trong mình nhân lên gấp bội. Đồng chí ơi, tôi học cả phần anh” (11)

Tôi về học tiếp năm thứ hai tại Trồng trọt 10 của Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc đến cuối năm 1977 thì chuyển trường vào Đại học Nông nghiệp 4, tiền thân Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Trồng trọt 2 thuở đó là một lớp chung mãi cuối khóa mới tách ra 2A,2B, 2C. Tôi làm Chủ tịch Hội Sinh viên thay cho anh Nguyễn Anh Tuấn khoa thủy sản ra trường về dạy Đại học Cần Thơ. Trồng trọt khóa hai chúng tôi thuở đó được học với các thầy cô: Nguyễn Đăng Long, Tô Phúc Tường, Nguyễn Tâm Đài, Trịnh Xuân Vũ, Lê Văn Thượng, Ngô Kế Sương, Trần Thạnh, Lê Minh Triết, Phạm Kiến Nghiệp, Nguyễn Bá Khương, Nguyễn Tâm Thu, Nguyễn Bích Liễu, Trần Như Nguyện, Trần Nữ Thanh, Vũ Mỹ Liên, Từ Bích Thủy, Huỳnh Thị Lệ Nguyên, Trần Thị Kiếm, Vũ Thị Chỉnh, Ngô Thị Sáu, Huỳnh Trung Phu, Phan Gia Tân, Nguyễn Văn Tài, Nguyễn Văn Kế, … Ngoài ra còn có nhiều thầy cô hướng dẫn thực hành, thực tập, kỹ thuật phòng thí nghiệm, chủ nhiệm lớp như Bùi Cách Tuyến, Nguyễn Văn Kịp, Lê Quang Hưng, Trương Đình Khôi, Nguyễn Ngọc Châu, Nguyễn Gia Quốc, Nguyễn Văn Biền, Lê Huy Bá, Hoàng Quý Châu, Phạm Lệ Hòa, Đinh Ngọc Loan, Chung Anh Tú và cô Thảo làm thư ký văn phòng Khoa. Bác Năm Quỳnh là Bí thư Đảng ủy đầu tiên của Trường sau đó là thầy Kiên và cô Bạch Trà. Thầy Nguyễn Phan là Hiệu trưởng kiêm Trưởng Trại Thực nghiệm. Thầy Dương Thanh Liêm, Nguyễn Ngọc Tuân, Võ Thị Tuyết, Ngô Văn Mận, Bùi Xuân An … ở khoa Chăn nuôi Thú y, thầy Nguyển Yên Khâu, Nguyễn Quang Lộc … ở khoa Cơ khí, cô Nguyễn Thị Sâm ở Phòng Tổ chức, cô Văn Thị Bạch Mai dạy tiếng Anh, thầy Đặng, thầy Tuyển, thầy Châu ở Kinh tế -Mác Lê …Thầy Trần Thạnh, anh Quang, anh Đính, anh Đống ở trại Trường là những người đã gần gũi và giúp đỡ nhiều các lớp nông học.

Thuở đó đời sống thầy cô và sinh viên thật thiếu thốn. Các lớp Trồng trọt khóa 1, khóa 2, khóa 3 chúng tôi thường hoạt động chung như: thực hành sản xuất ở trại lúa Cát Lái, giúp dân phòng trừ rầy nâu, điều tra nông nghiệp, trồng cây dầu che mát sân trường, rèn nghề ở trại thực nghiệm, huấn luyện quốc phòng toàn dân, tập thể dục sáng, hội diễn văn nghệ, thi đấu bóng chuyền, bóng đá tạo nên sự thân tình gắn bó. Những sinh viên các khóa đầu tiên được đào tạo ở Khoa Nông học sau ngày Việt Nam thống nhất hiện đang công tác tại trường có các thầy cô như  Từ Thị Mỹ Thuận, Lê Văn Dũ, Huỳnh Hồng, Cao Xuân Tài, Phan Văn Tự, …
Hình ảnh lớp TT 3 (H1), nữ TT3 (H2) , Nhóm bạn TT2 (H3) và họp mặt lớp TT2A

Tháng 5 năm 1981, nhóm sinh viên của khoa Nông học đã bảo vệ thành công đề tài thu thập và tuyển chọn giống khoai lang Hoàng Long, Chiêm Dâu, Gạo, Bí Đà Lạt được Bộ Nông nghiệp công nhận giống ở Hội nghị Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Toàn Quốc Lần thứ Nhất tổ chức tại Thành phố Hố Chí Minh. Đây là một trong những kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đầu tiên của Trường giới thiệu cho sản xuất. Thầy Cô Khoa Nông học và hai lớp Trồng trọt 2, Trồng trọt 3 cũng đã làm họ trai họ gái tác thành đám cưới cho vợ chồng tôi. Sau này, chúng tôi lấy tên khoai Hoàng Long để đặt cho con và thầm hứa việc tiếp nối sự nghiệp nghiên cứu khoa học và giảng dạy, một nghề nghiệp cao quý và lương thiện. “Biết ơn thầy cô giáo dịu hiền. Bằng khích lệ động viên lòng vượt khó. Trăm gian nan buổi ban đầu bở ngỡ. Có bạn thầy càng bền chí vươn lên. Trước mỗi khó khăn tập thể luôn bên. Chia ngọt xẻ bùi động viên tiếp sức. Thân thiết yêu thương như là ruột thịt. Ta tự nhủ lòng cần cố gắng hơn (11).

Bạn học chúng tôi vẫn thỉnh thoảng họp mặt, có Danh sách các lớp Trồng trọt 2, Trồng trọt 3 số điện thoại và địa chỉ liên lạc. Một số hình ảnh của các lớp ngày ấy và bây giờ.

Những bài học quý từ những người Thầy

Nhiều Thầy Bạn đã hun đúc nên nhân cách, niềm tin, nghị lực và trang bị kiến thức vào đời cho tôi, xin ghi lại một số người Thầy ảnh hưởng lớn đối với tôi và những bài học:

Thầy Mai Văn Quyền sống phúc hậu, tận tâm sát thực tiễn và hướng dẫn khoa học. Công việc làm người hướng dẫn khoa học trong điều kiện Việt Nam phải dành nhiều thời gian, chu đáo và nhiệt tình. Thầy Quyền là chuyên gia về kỹ thuật thâm canh lúa và hệ thống canh tác đã hướng nghiệp vào đời cho tôi. Những dòng thơ tôi viết trên trang cảm ơn của luận án tiến sĩ đã nói lên tình cảm của tôi đối với thầy cô: “Ơn Thầy (12). Cha ngày xưa nuôi con đi học. Một nắng hai sương trên những luống cày. Trán tư lự, cha thường suy nghĩ. Phải dạy con mình như thế nào đây? Cha mất sớm, bom thù rung mặt đất. Cái chết giằng cha ra khỏi tay con. Mắt cha lắng bao niềm ao ước. Vẫn lo cho con đến phút cuối cùng. Giặc giết cha, cha chưa kịp thấy. Tương lai con đi, sự nghiệp con làm. Cha có biết, luống cày cha bỏ dỡ. Cha ngã xuống rồi trao lại tay con. Trên luống cày này, đường cày con vững. Bởi có dáng thầy thay bóng cha xưa. Hiểu mảnh đất máu đào cha nhuộm đỏ. Thôi thúc tim con học tập phút giờ …”. Thầy Quyền hiện đã 76 tuổi, đang đào tạo trên đại học cho Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh và nhiều Viện Trường khác. Tấm gương phúc hậu và tận tụy của Thầy luôn nhắc nhở tôi.

Thầy Norman Borlaug sống nhân đạo, làm nhà khoa học xanh và nêu gương tốt. Thầy là nhà nhân đạo, nhà nông học Mỹ cha đẻ của cuộc cách mạng xanh được tặng giải Nobel và Tổng thống Mỹ trao tặng huân chương cao quý nhất của nước Mỹ, thế giới tôn vinh là nhà bác học số một của nhân loại trong  cuộc chiến chống nghèo đói. Thầy đã suốt đời nghiên cứu giảng dạy về chọn tạo và phát triển cây lương thực, góp phần cải thiện đời sống và nâng cao thu nhập cho hàng trăm triệu nông dân nghèo ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Thầy là người sáng lập Giải thưởng Lương thực Thế giới và tổ chức nhiều hoạt động thiết thực thắp sáng niềm tin yêu cuộc sống. Tôi được Thầy ghé thăm gần trọn buổi chiều tại phòng riêng ở CIMMYT, Mexico ngày 29.8.1988. Thầy đã một mình ghé thăm người trò nhỏ duy nhất của châu Á trong lớp học “Quản lý Trung tâm/ Trạm trại Nông nghiệp”. Khi Thầy đến, tôi đang thắp nến trên giá sách trong phòng đề tưởng nhớ ngày cha mất. Biết cha tôi bị bom Mỹ giết hại tại làng nhỏ ở Quảng Bình của buổi chiều này hai mươi năm trước (1968) lúc tôi còn là học sinh trung học của Trường cấp Ba Bắc Quảng Trạch, Thầy bối rối xin lỗi và thật bất ngờ tôi đã có được một buổi chiều vô giá riêng tư bên Thầy. Lời Thầy dặn thật thấm thía: “ Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao (13). Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm tiếng để đời”.  (14)

Thầy Tôn Thất Trình sống nhân cách, dạy từ xa và chăm viết sách. Giáo sư Tôn Thất Trình sinh ngày 27 tháng 9 năm 1931 ở huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên (Huế), thuộc hoàng tộc nhà Nguyễn Phước, hiện hưu trí tại Irvine, California, Hoa Kỳ đã có nhiều đóng góp thiết thưc, hiệu quả cho nông nghiệp, giáo dục, kinh tế Việt Nam. Thầy làm giám đốc Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn theo bổ nhiệm của GS. Phạm Hoàng Hộ, tổng trưởng giáo dục đương thời chỉ sau bác sỹ Đặng Quan Điện vài tháng. Giáo sư Tôn Thất Trình đã hai lần làm Tổng Trưởng Bộ Canh Nông và Cải Cách Điền Địa năm 1967 và 1973, nguyên chánh chuyên viên,  tổng thư ký Ủy Ban Lúa Gạo Quốc Tế của FAO (Rome). Thành tựu nổi bật của giáo sư trên lĩnh vực nông nghiệp bao gồm việc chỉ đạo phát triển đại trà năm 1967-1973 lúa Thần Nông (IR8…) nguồn gốc IRRI mang lại chuyển biến mới cho nghề lúa Việt Nam; Giáo sư trong những năm làm việc ở FAO đã giúp đỡ Bộ Nông nghiệp Việt Nam phát triển các giống lúa thuần thấp cây, ngắn ngày nguồn gốc IRRI cho các tỉnh phìa Bắc; giúp phát triển  lúa lai, đẩy mạnh các chưong trình cao su tiểu điền, mía, bông vải, đay, đậu phộng , dừa, chuối, nuôi cá bè ở Châu Đốc An Giang, nuôi tôm ở Bạc Liêu, Sóc Trăng, nuôi cá măng ở Bình Định, nuôi tôm càng xanh ở ruộng nước ngọt, trồng phi lao chống cát bay, trồng bạch đàn xen cây họ đậu phủ xanh đất trống đồi trọc, trồng lại thông hai lá, ba lá ở Huế và ở Đà Lạt,  nuôi heo lai ba dòng nhiều nạc,  nuôi dê sữa , bò sữa, trồng rau, hoa, cây cảnh. Trong lĩnh vực giáo dục, giáo sư đã trực tiếp giảng dạy, đào tạo nhiều khóa học viên cao đẳng, đại học, biên soạn nhiều sách.  Giáo sư có nhiều kinh nghiệm và  đóng góp trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại và quan hệ quốc tế với Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Pháp…

Tôi học gián tiếp Thầy qua sách báo và internet. Giáo trình nông học sau ngàyViệt Nam thống nhất thật thiếu thốn. Những sách Sinh lý Thực vật, Nông học Đại cương, Di truyền học, Khoa học Bệnh cây , Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam … do tập thể hoặc chuyên gia đầu ngành phía Bắc biên soạn thời đó hiếm và quý như vàng. Cái khó khác cho thầy trò chúng tôi là thiếu kinh nghiệm thực tiễn của đồng ruộng phương Nam. Những bộ sách của thầy Trình như Cải Thiện Trồng Lúa 1965-66 (hai lần tái bản), Nông Học Đại Cương 1967 (ba lần tái bản), Mía Đường 1972 (hai lần tái bản), Cây Ăn Trái Có Triển Vọng 1995 (ba lần tái bản), Cây Ăn Trái Cho Vùng Cao 2004, … cùng với sách của các thầy Nguyễn Hiến Lê, Trần Văn Giàu, Phạm Hoàng Hộ, Lương Định Của, Lê Văn Căn, Vũ Công Hậu, Vũ Tuyên Hoàng, Đường Hồng Dật, Nguyễn Văn Luật, Võ Tòng Xuân, Mai Văn Quyền, Thái Công Tụng, Chu Phạm Ngọc Sơn, Phạm Thành Hổ … đã bổ khuyết rất nhiều cho sự học hỏi và thực tế đồng ruộng của chúng tôi. Sau này khi đã ra nước ngoài, thầy Trình cũng viết rất nhiều những bài báo khoa học kỹ thuật, khuyến học trên các báo nước ngoài, báoViệt Nam và blog The Gift.

Điều tôi thầm phục Thầy là nhân cách kẻ sĩ vượt lên cái khó của hoàn cảnh để phụng sự đất nước. Lúa Thần Nông áp dụng ở miền Nam sớm hơn miền Bắc gần một thập kỷ. Sự giúp đỡ liên tục và hiệu quả của FAO sau ngày Việt Nam thống nhất có công lớn của thầy Trình và anh Nguyễn Văn Đạt làm chánh chuyên gia của FAO.  Blog The Gift là nơi lưu trữ những “tâm tình” của gíáo sư dành cho Việt Nam, đăng các bài chọn lọc của Thầy từ năm 2005 sau khi về hưu. Đa số các bài viết trên blog của giáo sư về Phát triển Nông nghiệp, Kinh Tế Việt Nam, Khoa học và Đời sống  trong chiều hướng khuyến khích sự hiếu học của lớp trẻ. Nhân cách và tầm nhìn của Thầy đối với tương lai và vận mệnh của đất nước  đã đưa đến những đóng góp hiệu quả của Thầy kết nối giữa quá khứ và hiện tại, tạo niềm tin tương lai, hòa giải và hòa hợp dân tộc.

Thầy, Bạn  là lộc xuân của cuộc đời
            Bill Clinton trong tác phẩm ‘Đời tôi’ (15) đã xác định năm việc chính quan trọng nhất của đời mình là muốn làm người tốt, có gia đình êm ấm, có bạn tốt, thành đạt trong cuộc sống và viết được một cuốn sách để đời. Ông đã giữ trên 30 năm cuốn sách mỏng “Làm thế nào để kiểm soát thời gian và cuộc sống của bạn” và nhớ rõ năm việc chính mà ông ước mơ từ lúc còn trẻ. Thầy quý bạn hiền là lộc xuân của cuộc đời. Tôi biết ơn mái trường thân yêu mà từ đó tôi đã vào đời để có được những cơ hội học và làm những điều hay lẽ phải.

Anh Bùi Chí Bửu tâm sự với tôi: Anh Bổng (Bùi Bá Bổng) và mình đều rất thích bài thơ này của Sơn Nam :

Trong khói sóng mênh mông
Có bóng người vô danh
Từ bên này sông Tiền
Qua bên kia sông Hậu
Tay ôm đàn độc huyền
Điệu thơ Lục Vân Tiên
Với câu chữ
Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả 
Từ Cà Mau Rạch Giá
Dựng chòi đốt lửa giữa rừng thiêng
Muỗi vắt nhiều hơn cỏ
Chướng khí mờ như sương
Thân chưa là lính thú
Sao không về cố hương  ?

Anh Mai Thành Phụng vừa lo xong diễn đàn khuyến nông Sản xuất lúa theo GAP (17) tại Tiền Giang lại lặn lội đi Sóc Trăng ngay để kịp Hội thi và trình diễn máy thu hoạch lúa. Anh Lê Hùng Lân trăn trở cho giống lúa mới Nàng Hoa 9 và thương hiệu gạo Việt xuất khẩu. Anh Trần Văn Đạt  vừa giúp ý kiến “Xây dựng thương hiệu cho lúa gạo Việt Nam” lại hổ trợ ngay bài viết mới (18).

Trường Đại Học Nông Lâm Thủ Đức 2005 Nửa Thế kỷ Xây dựng và Phát triển (19) đến nay 2010 đã tròn 55 năm kỹ niệm ngày thành lập. Dưới mái trường thân yêu này, có biết bao nhà khoa học xanh, nhà giáo nghề nông vô danh đã thầm lặng gắn bó đời mình với nhà nông, sinh viên, ruộng đồng, giảng đường và phòng thí nghiệm. Thật xúc động và tự hào được góp phần giới thiệu một góc nhìn về sự dấn thân và kinh nghiệm của họ..

Hoàng Kim,
cựu sinh viên TT2-NLU
GVC Bộ môn Cây Lương thực, Rau Hoa Quả

  1. http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkim
    https://sites.google.com/site/hoangkimsite/
    https://sites.google.com/site/hoangkimvietnam/

Tài liệu dẫn

1.   Hoàng Kim 2009 Thắp đèn lên đi em! (1970) http://hoangkimlong.blogspot.com/2009/06/thap-en-len-i-em.html
2. Tôn Thất Trình và chủ bút tonnubn@gmail.com . The Gift  http://tonthat-tonnu.blogspot.com/
3. Tôn Thất Trình 2010. Hột nguyên vẹn http://tonthat-tonnu.blogspot.com/2010/08/hot-nguyen-ven.html
4. Tôn Thất Trình 2010. Nuôi cá biển Việt Nam http://tonthat-tonnu.blogspot.com/2010/08/nuoi-ca-bien-viet-nam.html 

5. Hoàng Kim 2009. Trường tôi và lòng yêu thương gửi lại của thầy Lưu Trọng Hiếu  http://dayvahoc.blogspot.com/2009/05/truong-toi-va-long-thuong-yeu-gui-lai.html
6. Đàm Vĩnh Hưng tặng học bổng cho sinh viên http://vtc.vn/151-203976/van-hoa/doi-song-van-nghe/dam-vinh-hung-tang-hoc-bong-cho-sinh-vien.htm
7. Hoàng Kim 2010. Linh Giang  http://hoangkimlong.blogspot.com/2010/04/linh-giang_09.html
8. Hoàng Kim 2008 . Di cảo thơ thầy Nguyễn Khoa Tịnh : Em ơi em can đảm bước chân lên ! http://my.opera.com/hoangkimvietnam/blog/em-oi-em-can-dam-b
9. Trần Đình Côn 1968. Bài ca Trường cấp ba Bắc Quảng Trạch. In trong Kỷ yếu Mái trường bên dòng sông Gianh trang 23.
10. Văn Công Hùng 2007. Người thường niên thả hoa trên dòng Thạch Hãn        http://vietbao.vn/Van-hoa/Nguoi-thuong-nien-tha-hoa-tren-dong-Thach-Han/70098849/181/
11. Hoàng Kim 2007. Nghị lực (1977). In trong Kỷ yếu Trồng trọt C Khóa 2 (1976-1981) Đại học Nông Lâm TP. HCM tr.50-51. http://thovanhoangkim.blogspot.com/2008/09/ngh-lc.html
12. Hoàng Kim. Ơn Thầy (1991) http://hoangkimvietnam.wordpress.com/tri-tue-bac-thay/
13. Doanh Anh 2009. Cha đẻ của cách mạng xanh: Hãy vươn tới những vì sao. Mekong News. http://mekongnet.ru/index.php?mod=News&sid=11248
14. Hoàng Kim 2009. Norman Borlaug di sản niềm tin và nghị lực. http://foodcrops.blogspot.com/2009/09/nho-norman-borlaug.html
15. Bill Clinton 2007. Đời tôi. Nhà xuất bản Công an Nhân dân , TP Hồ Chí Minh. 1375 trang.
16. Institute of Agricultural Sciences for Southern Vietnam (IAS) 2009 Research Highlights . Commemorating 85 years since foundation. 121 Nguyen Binh Khiem St. District1. Ho Chi Minh city, Vietnam. Tel: 84.8.38228371 Fax +84.8. 38297650 Email iasvn@vnn.vn, iasvn@iasvn.org Website http://iasvn.org
17. Mai Thành Phụng, Phạm Văn Tình, Vũ Tiết Sơn 2010. Diễn đàn Khuyến nông @Nông nghiệp lần thứ 5-2010 chuyên đề “Sản xuất lúa theo GAP” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia chủ trì, tổ chức tại Tiền Giang. Nhà xuất bản nông nghiệp TP. Hồ Chí Minh, 468 trang.
18. Trần Văn Đạt 2010. Những tháng ngày với Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn  www.tranvandat.com
19. Trường Đại Học Nông Lâm Thủ Đức. 2005. Nửa Thế kỷ Xây dựng và Phát triển. Kỷ yếu Trường Đại Học Nông Lâm, 250 trang. Địa chỉ: Phường Linh Trung, Quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Điện thoại: (84-8)-38966780- Fax: 84-8-38960713 Email: vp @ hcmuaf.edu.vn  – Website: http://www.hcmuaf.edu.vn

trannhantong

MINH TRIẾT SỐNG THUNG DUNG PHÚC HẬU

Hoàng Kim

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Bản chất cuộc sống là hạnh phúc và đau khổ, vui vẻ và phiền muộn, sự thiếu hoàn thiện và vô thường. Minh triết của đời người hạnh phúc là biết sống thung dung, phúc hậu, thanh thản, an nhiên tự tại, nhận ra kho báu vô giá của chính mình, không lo âu, không phiền muộn, sống với tinh thần dịu hiền và trái tim nhẹ nhõm.

Bài giảng đầu tiên của đức Phật

Tứ Diệu đế – Sự khổ: Nguyên nhân, Kết quả và Giải pháp – là bài giảng đầu tiên của Phật (Thích ca Mầu ni -Siddhartha Gamtama), nhà hiền triết phương đông cổ đại. Người là hoàng tử Ấn Độ, đã có vợ con xinh đẹp nhưng trăn trở trước sự đau khổ, thiếu hoàn thiện và vô thường (Dukkha) của đời người mà Phật đã xuất gia vào năm hai mươi chín tuổi để đi tìm sự giác ngộ. Người đã dấn thân suốt sáu năm trời tự mình đi tìm kiếm những vị hiền triết nổi tiếng khắp mọi nơi trong vùng để học hỏi và thực hành những phương pháp khác nhau nhưng vẫn chưa đạt ngộ.  Cho đến một buổi chiều ngồi dưới gốc bồ đề, thốt nhiên Người giác ngộ chân lý  mầu nhiệm lúc ba mươi lăm tuổi. Sau đó, Người đã  có bài giảng đầu tiên cho năm người bạn tu hành. Mười năm sau, Phật thuyết pháp cho mọi hạng người và đến 80 tuổi thì mất ở Kusinara (Uttar Pradesh ngày nay). Học thuyết Phật giáo hiện có trên 500 triệu người noi theo.

Bài giảng đầu tiên của Phật là thấu hiểu sự khổ (dukkha), nguyên nhân (samudaya), kết quả  (nirodha) và giải pháp (magga). Tôn giáo được đức Phật đề xuất là vụ nổ Big Bang trong nhận thức, san bằng mọi định kiến và  khác hẵn với tất cả các tôn giáo khác trước đó hoặc cùng thời trong lịch sử Ấn Độ cũng như trong lịch sử nhân loại. Phật giáo chủ trương bình đẳng giai cấp, bình đẳng giữa con người có máu cùng đỏ, nước mắt cùng mặn, hết thảy các pháp là vô ngã. Mục đích là vô ngã là sự chấm dứt đau khổ và phiền muộn để đạt sự chứng ngộ bất tử, Niết bàn.

Kinh Phật với triết lý vô ngã: Chân lý là suối nguồn, chứ không phải là con người thần thánh hoặc chân lý tuyệt đối. Vị trí độc đáo của Phật giáo là một học thuyết mang đầy đủ tính cách mạng tư tưởng và cách mạng xã hội (1). Tiến sĩ triết học Walpola Rahula là giáo sư Trường Đại học Tổng hợp Ceylan (Pháp) đã tìm tòi văn bản cổ và giới thiệu tài liệu nghiêm túc, đáng tin cậy này (Lời Phật dạy. Lê Diên biên dịch). (2)

Trúc Lâm Yên Tử, Trần Nhân Tông

Trần Nhân Tông (Trần Khâm 1258- 1308) là vua Phật đời Trân (sau vua cha Trần Thánh Tông và trước vua Trần Anh Tông). Người là tổ sư Trúc Lâm Yên Tử, nhà chiến lược kỳ tài, nhà văn hóa kiệt xuất, nhà thơ lớn và Con Người Hoàn Hảo của dân tộc Việt Nam. Người đã viết: Cư trần lạc đạo, triêt lý nhân sinh rất nổi tiếng “Ở đời vui đạo, mặc tùy duyên/ Hễ đói thì ăn, mệt ngủ liền/ Kho báu trong nhà thôi tìm kiếm/ Vô tâm đối cảnh hỏi chi thiền.”

Trần Nhân Tông với 50 năm cuộc đời đã kịp làm được năm việc lớn không ai sánh kịp trong mọi thời đại của tất cả các dân tộc trên toàn thế giới : 1) Minh quân lỗi lạc, làm vua 15 năm (1278 – 1293) trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến hai lần đánh thắng quân Nguyên Mông là đội quân xâm lược hùng mạnh nhất thế giới của thời đó; 2) Vua Phật Việt Nam, tổ sư thiền phái Trúc Lâm Yên Tử  và Thái Thượng Hoàng 15 năm (1294-1306). 3) Nhà văn hóa và nhà thơ kiệt xuất với thắng tích Trúc Lâm Yên Tử và kiệt tác Trần Nhân Tông còn mãi với thời gian, hoàn thành sư mệnh của bậc chuyển pháp luân, mang sự sống trường tồn vươt qua cái chêt; 4) Người Thầy của chiến lược vĩ đại  yếu chống mạnh, ít địch nhiều bằng thế đánh tất thắng “vua tôi đồng lòng, toàn dân đồng sức”tạo lập sự nghiệp mở nước và thống nhất non sông Việt, mở đất phương Nam bằng vương đạo, thuận thời, thuận người. 5) Con người  hoàn  hảo, đạo đức trí tuệ, kỳ tài trị loạn, đã hưng thịnh nhà Trần và cứu nguy cho nước Việt tại thời khắc đặc biêt hiểm nghèo, chuyển nguy thành an, biến những điều không thể thành có thể. (3).

Giáo sư  sử  học Trần Văn Giàu nhận định:  “… chưa tìm thấy lịch sử nước nào có một người đặc biệt như Trần Nhân Tông ở Việt Nam. Tại nước Tàu lúc bấy giờ Triều đình nhà Tống rất hùng mạnh nhưng quân Nguyên Mông đã tràn xuống đánh thắng thần tốc, đến nỗi vua quan nhà Tống phải chạy ra biển và nhảy xuống biển tự vẫn. Tại Tây Á, Trung Á và một phần châu Âu cũng thua thảm hại, đến nỗi Giáo hoàng La Mã cũng lên tiếng sợ hãi. Trong lúc ấy Việt Nam so với phương Bắc thì quá nhỏ bé và quá nghèo yếu, thế mà Người dám không cho Nguyên Mông mượn đường xâm lược Chiêm Thành. Lại còn đánh bại ba lần Nguyên Mông xâm lược. Sau khi thắng giặc, Người lại lên núi sống. Người dám nghĩ, dám làm những việc không ai dám nghĩ chứ đừng nói đến làm !”  (4)

 

Pht giáo Khoa hc và Vit Nam

Nhà bác học Anhstanh, cha đẻ của Thuyết tương đối, đã nhận định: “Nếu có mt tôn giáo nào đương đu vi các nhu cu ca khoa hc hin đi thì đó là Pht giáo. Pht giáo không cn xét li quan đim ca mình đ cp nht hóa vi nhng khám phá mi ca khoa hc. Pht giáo không cn phi t b quan đim ca mình đ xu hướng theo khoa hc, vì Pht giáo bao hàm c khoa hc cũng như vượt qua khoa hc . Tôn giáo ca tương lai s là mt tôn giáo toàn cu, vượt lên trên mi thn linh, giáo điu và thn hc. Tôn giáo y phi bao quát c phương din t nhiên ln siêu nhiên, đt trên căn bn ca ý thc đo lý, phát xut t kinh nghim tng th gm mi lĩnh vc trên trong cái nht th đy đ ý nghĩa. Pht giáo s đáp ng được các điu kin đó” . “Khoa hc mà thiếu tôn giáo là khp khing. Tôn giáo mà không có khoa hc thì mù quáng . Cả ba câu này đều được trích từ Những câu nói nổi tiếng của Anhstanh (Collected famous quotes from Albert), trích dẫn trong bài Minh triết sống thung dung phúc hậu của Hoàng Kim

Khoa học và thực tiễn giúp ta tìm hiểu những phương pháp thực tế để thể hiện ước mơ, mục đích sống của mình nhằm sống yêu thương, hạnh phúc,vui khỏe và có ích. Đọc rất kỹ lại Ki tô giáoHồi giáo,Do Thái giáo,Phật giáo,  Nho giáoĐạo giáo, … và chiêm nghiệm thực tiễn , tôi thấm thía câu kinh Phật với triết lý vô ngã: Chân lý là sui ngun ch không phi là con người thn thánh hay chân lý tuyt đi. Trúc Lâm Yên Tử Trần Nhân Tông có minh triết: Hãy quay v t thân ch không tìm đâu khác. Luật Hấp Dẫn, Thuyết Tương đối, Thành tựu Khoa học và Thực tiễn giúp ta khai mở nguồn năng lượng vô tận của chính bản thân con người và thiên nhiên. Đó là ba ngọn núi cao vọi của trí tuệ, là túi khôn của nhân loại. Bí mt Tâm linh (The Meta Secret) giúp ta khám phá sâu sắc các quy luật của vũ trụ liên quan đến Luật Hấp Dẫn đầy quyền năng. Những lời tiên tri của các nhà thông thái ẩn chứa trong Kinh Vệ đà, Lời Phật dạy, Kinh Dịch, Kinh Thánh, Kinh Koran …, cũng như xuyên suốt cuộc đời của những con người vĩ đại trên thế giới đã được nghiên cứu, giải mã dưới ánh sáng khoa học; Bí mật Tâm linh là sự khai mở những nguồn năng lượng vô tận của chính bản thân mỗi con người đối với đồng loại, các loài vật và thiên nhiên. Suối nguồn chân lý trong di sản văn hóa, lịch sử, giáo dục, kinh tế, chính trị, quân sự,  ngoại giao của mỗi dân tộc và nhân loại lưu giữ nhiều điều sâu sắc cần đọc lại và suy ngẫm.Qua đèo chợt gặp mai đầu suốiGốc mai vàng trước ngõNhớ cánh mai xưa. …

Việt Nam là chốn tâm thức thăm thẳm của đạo Bụt (Phật giáo) trãi suốt hàng nghìn năm. Lịch sử Phật giáo Việt Nam theo sách  Thiền Uyển tập anh xác nhận là đạo Phật được truyền trực tiếp từ Ấn Độ theo đường biển vào Việt Nam, gồm Giao Chỉ ở phía bắc và Chăm pa ở phía nam, khoảng thế kỉ thứ ba đến thế kỉ thứ hai trước Công nguyên, chứ không phải từ Trung Hoa như một số quan niệm trước đây. Phật giáo đồng hành chung thủy, lâu bền với dân tộc Việt, dẫu trãi nhiều biến cố nhưng được dẫn dắt bởi những nhà dẫn đạo sáng suốt và các đấng minh vương, lương tướng chuộng nhân ái của các thời nên biết thể hiện sự tốt đạo, đẹp đời. Việt Nam là nước biết tiếp thu, chắt lọc tri thức tinh hoa của nhân loại, chuộng sự học, đồng thời biết quay về với tự thân tổng kết thực tiễn, chứ không tìm ở đâu khác. Phật giáo, Khoa học và Việt Nam là ba học hỏi và nhận thức căn bản của tôi.

Bản chất cuộc sống là hạnh phúc và đau khổ, vui vẻ và phiền muộn, sự thiếu hoàn thiện và vô thường. Minh triết của đời người hạnh phúc là biết sống thung dung, phúc hậu, thanh thản, an nhiên tự tại, nhận ra kho báu vô giá của chính mình, không lo âu, không phiền muộn, sống với tinh thần dịu hiền và trái tim nhẹ nhõm.

Ảnh

ĐẤT MẸ VÙNG DI SẢN

Hoàng Kim

Lên chùa Đồng Yên Tử
Đến Kiếp Bạc Côn Sơn
Vào Tràng An Bái Đính
Về Nghĩa Lĩnh, Đền Hùng

Thăm Trường xưa Hà Bắc
Nhớ Linh Giang quê hương
Động Thiên Đường tuyệt đẹp
Biển Nhật Lệ Quảng Bình

Đất Mẹ vùng di sản
Nguồn Son nối Phong Nha
Biển xanh kề núi thẳm
Mừng bạn về Quê choa


ffac3-dinhudongsong
LINH GIANG DÒNG SÔNG QUÊ HƯƠNG
Hoàng Kim

Học thái độ của nước đi như dòng sông

Nhà mình gần ngã ba sông
Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình
Linh Giang sông núi hữu tình
Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con

Chèo thuyền cho khuất bến Son
Để con khỏi chộ nước non thêm buồn

Câu ru quặn thắt đời con
Mẹ cha mất sớm, con còn trẻ thơ

Ra đi từ bấy đến chừ
Lặn trong sương khói bến đò sông quê
Ngày xuân giữ vẹn lời thề
Non sông mở cõi, tụ về trời Nam.

RIVER HOMETOWN
Hoang Kim

Learning the attitude of water that goes like the river

My house is near a confluence
Rao Nan, Cho Moi, Nguon Son, Quang Binh
Linh River charming Mountain River
The place where I was born.

“Rowing far away the SON wharf
Not to see our village that makes me sadder ”
Lullaby makes me heart- rending
My parents died early when I was a baby.

Leaving our village since then
Diving in smog from the wharf of our river
Keeping full oath in Spring days
When the country unify, we’ll live together in the South

English translation
by Ngocphuong Nam


LINH RIVER
Hoang Kim
Learning the attitude of water that goes like the river

By confluence sited is my home
Rao Nam, Cho Moi, Nguon Son, Quang Binh
Linh river of charming
That is place releasing a person

Rowing out of the Son
Let is the upset not involved in my mind
Such a sad lunlaby
Parents is dead left five child barren

Leaving home since then
Smog of wharf is driven my life
When Vietnam unified
The South chosen the homeland to live.

English translation
by Vu Manh Hai

HoaLua

ĐẾN CHỐN THUNG DUNG

Hoàng Kim

Người rất muốn đi về trong tịch lặng
Quẳng lại sau lưng nhân thế muộn phiền
Ta đến chốn thung dung tìm hoa lúa
Rong chơi đường trần sống giữa thiên nhiên.

Tâm thanh thản buồn vui cùng nhân thế
Đời Đạo thịnh suy sương sớm đầu cành
Lòng hiền dịu và trái tim nhẹ nhõm
Kho báu chính mình phúc hậu an nhiên.

Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt
Trăng rằm xuân lồng lộng bóng tri âm
Người tri kỷ cùng ta và năm tháng.
Giác Tâm ta về còn trọn niềm tin.

Hoa co

Ta đến chốn yêu thương vùng tỉnh lặng,
Về với đồng xuân thanh thản cuộc đời
Nơi sỏi đá của vườn thiêng cổ tích
Thiên nhiên an lành bước tới thảnh thơi.

Sống giữa niềm vui giấc mơ hạnh phúc,
Nôi gia đình thật đằm thắm yêu thương.
Con cái quây quần thung dung tự tại,
Minh triết cuộc đời phúc hậu an nhiên.

Xuân Hạ Thu Đông bốn mùa luân chuyển
Say chân quê ngày xuân đọc Trạng Trình
Ngày vui ruộng đồng và đêm viết sách
Ngọc cho đời vẹn một niềm tin.

NHỚ MIỀN ĐÔNG

Hoàng Kim

Giữa ngày vui nhớ miền Đông
Nôn nao lòng lại giục lòng nhớ thương
Chân đi muôn dặm nẽo đường
Phải đâu cứ đất quê hương mới là

Đêm nằm nghe gió thoảng qua
Nồng thơm hương lúa, đậm đà tình quê
Chợt dưng lòng lại gọi về
Vùng quê xa với gió hè miền Đông

Vục đầu uống ngụm nước trong
Nhớ sao Vàm Cỏ ngọt dòng sông xanh
Nhớ từ xóm Giữa xa em
Nhớ lên Bù Đốp, Lộc Ninh, xóm Chùa

Xa em từ bấy đến chừ
Một vầng trăng sáng, xẽ chia đôi miền
Em về Châu Đốc, Long Xuyên
Anh lên Srêpốc với niềm nhớ thương

Nằm đêm lưng chẳng tới giường
Nghe chao cánh võng giữa rừng đêm khuya
Chăm chăm theo nét bản đồ
Cùng anh, cùng bạn tiến vô Sài Gòn

Giữa ngày vui nhớ miền Đông
Nhớ em, nhớ bạn, thuỷ chung vẹn toàn
Phải vì vất vả gian nan
Của bao năm đặm nhớ thương đến rày …

Non sông những tháng năm này
Lọc muôn sắc đỏ cho ngày hội vui
Nhớ em trong dạ bùi ngùi …
Trông trời hoa, nhớ đất trời miền Đông.

PhanThietconhatoi

PHAN THIẾT CÓ NHÀ TÔI

Hoàng Kim

Phan Thiết có nhà tôi
Ra khỏi cửa rừng là nhà cửa biển
Tà Cú ngất cao thong thả tượng Phật nằm
Đồi Trinh nữ nhũ hồng đắm say cảm mến.

Phan Thiết có nhà tôi
Quên hết bụi trần
Lãng đãng tứ cô nương
Ngọt lịm một lời thách đối:
Chứa Chan, Chán Chưa, Chưa Chán.

Phan Thiết có nhà tôi
Vị tướng trỏ tay thề
Mũi Kê Gà mắt thần canh biển
Ai đi xa nhớ nước mắm mặn mòi.

Phan Thiết có nhà tôi
Sau đồi cát kia là dinh Thầy Thím
Lánh chốn ồn ào, tìm nơi tỉnh lặng
Tin nhắn một chiều
Im lặng và Nghe.


DẠO CHƠI NON NƯỚC VIỆT

Anh và em,
chúng mình cùng nhau
dạo chơi non nước Việt !

Anh đưa em vào miền cổ tích
nơi Lạc Long Quân và Âu Cơ
sinh ra đồng bào mình trong bọc trứng,
thăm đền Hùng Phú Thọ
ở Nghĩa Lĩnh, Việt Trì,
về Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội,
thủ đô Việt Nam,
hồn thiêng sông núi tụ về.

Khắp vùng đồng bằng sông Hồng,
vùng núi và trung du phía Bắc,
không mẩu đất nào không lưu dấu tổ tiên
để giành quyền sống với vạn vật.

Suốt dọc các vùng
từ duyên hải Bắc Trung Bộ,
đến duyên hải Nam Trung Bộ,
Tây Nguyên,
Đông Nam Bộ,
Đồng Bằng Sông Cửu Long,
là sự nghiệp gian nan tiến thủ của tổ tiên
để mở rộng hy vọng tương lai dân tộc” (1)

Tổ Quốc bốn nghìn năm
giang sơn gấm vóc
biết bao nơi lòng ta thầm ước
một lần đến thăm.

Anh đưa em lên Phù Vân
giữa bạt ngàn Yên Tử
nơi “vũ trụ mắt soi ngoài biển cả” (2)
đến Hạ Long,
Hương Sơn,
Phong Nha,
Huế,
Hải Vân,
Non nước,
Hội An,
Thiên Ấn,
Hoài Nhơn,
Nha Trang,
Đà Lạt.

Về tổ ấm chúng mình
Ngọc phương Nam.
Tình yêu muôn đời:
Non nước Việt Nam !

xem tiếp…

Hoàng Kim

(1. Đào Duy Anh,
2. Nguyễn Trãi)

cropped-dsc00971.jpg

SÓNG YÊU THƯƠNG VỖ MÃI ĐẾN VÔ CÙNG

Hoàng Kim

Anh yêu biển tự khi nào chẳng rõ
Bởi lớn lên đã có biển quanh rồi
Gió biển thổi nồng nàn hương biển gọi
Để xa rồi thương nhớ chẳng hề nguôi

Nơi quê mẹ mặt trời lên từ biển
Mỗi sớm mai gió biển nhẹ lay màn
Ráng biển đỏ hồng lên như chuỗi ngọc
Nghiêng bóng dừa soi biếc những dòng sông

Qua đất lạ ngóng xa vời Tổ Quốc
Lại dịu hiền gặp biển ở kề bên
Khi mỗi tối điện bừng bờ biển sáng
Bỗng nhớ nhà những lúc mặt trăng lên

Theo ngọn sóng trông mù xa tít tắp
Nơi mặt trời sà xuống biển mênh mông
Ở nơi đó là bến bờ Tổ Quốc
Sóng yêu thương vỗ mãi đến vô cùng …

 

SongThuong

SÔNG THƯƠNG

Hoàng Kim

Ta chưa về lại
sông thương
để thăm bến đợi
hoàng hôn
trời chiều.
Sông Cầu
nước chảy
trong veo
Ngại chi chí thạnh
cách đèo
sông
ngăn.
Ước Trời chở gió
vào Nam
chở mây
ra Bắc
để làm
thành mưa.
Biển trời
cá nước duyên ưa
kể chi bến đợi
sông chờ
hỡi em.

nuiDungQuyet

TA VỀ TRỜI ĐẤT HỒNG LAM

Hoàng Kim

Ta về trời đất Hồng Lam
Bâng khuâng bước dưới trăng vàng lộng soi
Ngực trần chạm tới thảnh thơi
Nghe lưng thấu đến bồi hồi đất quen.
Linh miêu chốn Tổ Rồng Tiên
Quấn quanh trao gửi nổi niềm Thái Sơn
Hỡi ai là kẻ phi thường
Đỉnh chung dâng nén tâm hương nhớ Người.

 

CHÚT HUẾ CHO EM

Hoàng Kim

Ngan ngát dòng Hương thoang thoảng thơm
Đâu rồi chốn cũ bến yêu thương
Sông xanh sáu nhịp cầu mong đợi
Nghiêng một vầng trăng sáng phố phường

Anh ra cầu Huế đêm trăng sáng
Hằng hà sao mọc giữa dòng sông
Tình anh như nước càng ra biển
Càng chứa đầy em ở giữa lòng.

Anh chọn cho em một chút này
Như tình âu yếm một vòng tay
Em ơi nhớ Huế nơi tình nghĩa
Men ngọt chung tình mãi đắm say.

Thohayvebien

NGÀY MỚI

Xuân hiểu, thơ Mạnh Hạo Nhiên. Hoàng Kim thử tìm diễn đạt mới.

NGÀY MỚI

Mạnh Hạo Nhiên

Ban mai chợt tỉnh giấc,
Nghe đầy tiếng chim kêu.
Đêm qua mây mưa thế,
Hoa xuân rụng ít nhiều?

(ảnh Ngày mới và bản dịch thơ Việt của Hoàng Kim)

Mạnh Hạo Nhiên (689 – 740) là nhà thơ người Tương Dương, Tương Châu, nay thuộc tỉnh Hồ Bắc ,Trung Quốc thời nhà Đường, thuộc thế hệ đàn anh của Lí Bạch. Ông là người nhân cách lỗi lạc, yêu thiên nhiên, phúc hậu đức độ, học vấn tài năng trác tuyệt, giỏi thơ văn, nhưng chán ghét cảnh quan trường nên ẩn cư vui với thiên nhiên, sông núi quê hương , đặc biệt là Long Môn, Nam San và Lumen Sơn. Sự nghiệp văn chương của ông sừng sững như núi cao với hai trăm sáu mươi bài thơ, phần lớn là những bài thơ sơn thuỷ tuyệt bút . Thơ năm chữ của Mạnh Hạo Nhiên luật lệ nghiêm cách, phóng khoáng, hùng tráng, rất nổi tiếng. Bài Xuân hiểu và Lâm Động Đình được nhiều người truyền tụng. Lí Bạch rất hâm mộ Mạnh Hạo Nhiên và có thơ tặng ông:

LyBachManhHaoNhien
Tặng Mạnh Hạo Nhiên

Lý Bạch

Ta mến chàng họ Mạnh,
Phong lưu dậy tiếng đồn
Tuổi xanh khinh mũ miện
Đầu bạc ngủ mây cồn
Dưới trăng nghiêng ngửa chén
Bên hoa mê mẩn hồn
Hương bay thầm đón nhận
Không với tới đầu non

Trang thơ Hoàng Nguyên ChươngThi Viện hiện lưu dấu thơ ông.

ManhHaoNhien

春 曉
XUÂN  HIỂU

春   眠   不   覺   曉,
Xuân miên    bất    giác   hiểu.
處   處   聞   啼   鳥。
Xứ      xứ      văn    đề     điểu
夜  來   風   雨   聲,
Dạ     lai   phong   vũ    thinh.
花  落   知   多   少?
Hoa    lạc      tri      đa    thiểu

+  Dịch nghĩa:

SỚM XUÂN
(Đang nằm trong) giấc ngủ mùa xuân, không biết trời đã sáng.
Khắp nơi nơi nghe tiếng chim kêu (rộn rã).
Đêm qua có tiếng gió mưa.
Không biết hoa rụng nhiều hay ít ?.
Hoàng Nguyên Chương dịch

Dịch thơ

Giấc xuân trời sáng không hay,
Chim kêu ríu rít từng bầy khắp nơi.
Đêm qua mưa gió tơi bời
Biết rằng hoa cũng có rơi ít nhiều.

(Bản dịch Trần Trọng Kim)

SỚM XUÂN
Giấc ngủ mùa xuân, không biết sáng.
Khắp nơi rộn rã tiếng chim kêu.
Đêm qua sầm sập trời mưa gió
Không biết hoa bay rụng ít nhiều

(bản dịch Hoàng Nguyên Chương).

BUỔI SÁNG MÙA XUÂN
Giấc xuân, sáng chẳng biết;
Khắp nơi chim ríu rít;
Đêm nghe tiếng gió mưa;
Hoa rụng nhiều hay ít ?

(Bản dịch Tương Như)

SỚM XUÂN
Giấc xuân nào biết hừng đông.
Tỉnh ra chim đã véo von khắp trời,
Đêm qua mưa gió bời bời,
Ngoài kia nào rõ hoa rơi ít nhiều!

(Bản dịch của Ngô Văn Phú)

BUỔI SÁNG MÙA XUÂN
Đêm xuân ngủ sáng chẳng hay,
Bên ngoài chim đã hót đầy nơi nơi.
Đêm nghe mưa gió tơi bời,
Chẳng hay hoa rụng hoa rơi ít nhiều?

(Bản dịch của Hoàng Giáp Tôn)

“Xuân hiểu” (Sớm xuân) của Mạnh Hạo Nhiên nói về giấc ngủ mùa xuân (xuân miên) thung dung, an nhiên, tự tai cho đến khi trời chợt sáng (bất giác hiểu?). “Xuân hiểu” không đơn thuần chỉ là mùa xuân mà còn chỉ ngày mới,  quy luật vĩnh cữu của trời đất, khoảnh khắc huyền diệu của vũ trụ, thời điểm chuyển tiếp từ đêm sang ngày, từ âm sang dương, từ tĩnh sang động, từ tối đến sáng. Đó là thời khắc ban mai tuyệt diệu của tạo hóa, đất trời và con người hòa chung làm một, là thời khắc giao hoà tuyệt vời được thể hiện thanh thoát lạ lùng.

Điều đặc sắc của tác phẩm “Xuân hiểu” là đã dùng chữ xuân và chữ hiểu. Chữ xuân thì dễ thấy để chỉ sự tươi trẻ, khởi đầu, triết lý sống lạc quan. Chữ  hiểu “giác” (覺) có nghĩa là hiểu mà không dùng chữ “tri” (知) có nghĩa là biết để chỉ sự hiểu biết tận cùng chân tính của sự vật. Tác giả đã dùng chữ “hiểu” (曉) để chỉ về ban mai mà không dùng các chữ khác như: đán (旦) , tảo (早) hạo (暭), thịnh (晟), thần (晨), thự (曙), hi (晞) v.v.. Bởi chữ hiểu vừa có nghĩa là hiểu biết , lại vừa có nghĩa chỉ về buổi sớm,  ban mai, ngày mới, cái khoảnh khắc huyền diệu của vũ trụ.

Nhà Phật đã dùng chữ “giác” (覺) này trong “giác ngộ”, “chính giác” để chỉ  những điều thấu hiểu đã đạt ngộ đến đích của thiền tính. Khoa học giúp ta tri thức, sự biết , Phật học là minh sư chỉ ra sự đạt ngộ, giác ngộ này . Nhà bác học Anhstanh, cha đẻ của Thuyết tương đối, nhận định: “Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học” chính là nói trên ý nghĩa đó.

Tôi thích lời bình của Hoàng Nguyên Chương về thơ Mạnh Hạo Nhiên: “Sau cái tĩnh lặng của giấc ngủ là cái động, thức giấc của con người, mặt trời và sự sống. Ta thấy sự sống tưng bừng của vũ trụ “xứ xứ” (khắp nơi) rộn tiếng chim. Chữ “văn” ở đây cho ta xác định được cái tiểu vũ trụ của tác giả và chính tác giả là chủ thể của con người trung tâm đang nhìn ra khắp chốn (xứ xứ) của đại vũ trụ để bắt nguồn giao cảm từ ý nghĩa vạn vật đều có đủ trong ta (vạn vật giai bị ư ngã) hoặc vạn vật với ta là một (vạn vật dữ ngã vi nhất) hay nói khác hơn đó là vạn vật đã đồng nhất với cái ngã. Hình tượng chim (điểu) cũng chỉ là một thực thể bé nhỏ và âm thanh kêu, hót (đề) cũng chỉ là “dữ cộng tương sinh” nhưng lại là đại biểu cho tất cả mọi sinh vật làm biểu tượng cho cả sự sống muôn loài vừa trổi dậy. Như thế mỗi thực thể bé nhỏ ở đây không chỉ là mỗi tiểu vũ trụ mà đã hình thành biểu trưng cho cả một đại vũ trụ.”  …Con người  hiện tại tiếp tục suy tư chiêm nghiệm để tự hỏi: Dạ lai phong vũ thinh (Đêm qua có tiếng gió mưa). Hình ảnh gió mưa chính là nguyên nhân đưa đến hiện trạng của ngày mới. Đóa hoa  là biểu tượng của sự sống, của nguồn sinh mệnh trong cõi đời. Đó là những thực thể bé nhỏ nhưng lại là những tiểu vũ trụ như lời Đỗ Phủ: “Nhất phiến hoa phi giảm khước xuân” (một cánh hoa rơi làm giảm đi vẻ đẹp của xuân) nhưng ý tưởng lại còn đi xa hơn thế nữa. Bởi vì hình thức mỗi cánh hoa còn lại trên cành hay rụng đi là một nỗi băn khoăn về lẽ tồn tại hay không tồn tại. Đó là sự thao thức về đời người và thân phận con người. Câu thơ “Hoa lạc tri đa thiểu” (không biết hoa rụng nhiều hay ít?)  là câu thơ tuyệt bút đã làm bài thơ bừng tỏa. … Đây cũng là phong cách tiêu biểu của Đường thi, phong cách đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật và mỗi chữ mỗi lời là một viên ngọc...” .

Noi theo tứ thơ khoáng đạt “Chim lượn trăm vòng” của Chế Lan Viên:  “Tôi yêu quá! cuộc đời như con đẻ/ Như đêm xuân người vợ trẻ yêu chồng…/ Cánh thơ tôi thoát khỏi phòng nhỏ bé? Lượn trăm vòng trên Tổ quốc mênh mông”: Tôi đọc và tâm đắc thơ “Xuân hiểu” của Mạnh Hạo Nhiên, nay thử tìm lối diễn đạt mới cho tuyệt phẩm này.“Xuân hiểu” là “Ngày mới”; “Ban mai chợt tỉnh giấc / Nghe đầy tiếng chim kêu/ Đêm qua mây mưa thế/ Hoa xuân rụng ít nhiều?”.

Ngày mới là ngày xuân. Mây mưa vừa tục vừa thanh như cuộc đời này. Hoa xuân rụng nhiều hay ít là sự thao thức về “hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi”, đời người và thân phận con người.

NGÀY XUÂN ĐỌC TRẠNG TRÌNH

Hoàng Kim

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585) là nhà giáo, nhà tiên tri, nhà thơ triết lý, nhà văn hoá lớn của thời Lê -Mạc, bậc kỳ tài yêu nước thương dân, xuất xử hợp lý, hợp thời, sáng suốt. Bài tựa về Trạng Trình của tiến sĩ Vũ Khâm Lân có vị trí trọng yếu để tìm hiểu thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tác phẩm được viết năm 1743 cho tập gia phả dòng họ Trạng Trình sau khi cụ Trạng đã mất khoảng 158 năm. Áng văn xuất sắc này là viên ngọc rất quý của người xưa. Hoàng Kim duyên may sưu tầm được sách hay nay tuyển chọn, biên soạn thành chín mục, hổ trợ dạy và học, đăng dần trên blog: Nguyễn Bỉnh Khiêm (1); Nguyễn Bỉnh Khiêm (2); Ngày xuân đọc Trạng Trình (3); Sấm ký Nguyễn Bỉnh Khiêm (4); Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm  (5). Thầy bạn Nguyễn Bỉnh Khiêm (6); Học trò Nguyễn Bỉnh Khiêm (7); Giai thoại về Trạng Trình (8); Cảm nhận về Trạng Trình (9) Nguyễn Bỉnh Khiêm ngày xuân đọc lại; Đọc lại Sấm ký Nguyễn Bỉnh Khiêm; Nguyễn Bỉnh Khiêm trí tuệ bậc Thầy (xem tiếp…)

Giacmohanhphuc
GIẤC MƠ HẠNH PHÚC

Hoàng Kim

nhắm mắt lại đi em
để thấy rõ giấc mơ hạnh phúc
trời thanh thản xanh
đêm nồng nàn thở
ta có nhau trong cuộc đời này
nghe hương tinh khôi đọng mật
quyến rũ em và khát khao anh
mùi ngây ngất đằm sâu nỗi nhớ
một tiếng chuông ngân
thon thả đầu ghềnh.

nhắm mắt lại đi em
hạnh phúc đâu chỉ là đích đến
hạnh phúc là con đường trãi nghiệm
vỗ về, chờ đợi, nhớ thương.

nhắm mắt lại đi em
trong giấc mơ của anh
có em và rừng thiêng cổ tích
có suối nước trong veo như ngọc
có vườn trúc và ngôi nhà tranh
có một đàn trẻ thơ tung tăng
heo gà chó mèo ngựa trâu
nhởn nhơ trên đồng cỏ
tươi xanh.

nhắm mắt lại đi em,
tận hưởng thú an lành.

ĐẦY ĐẶN YÊU THƯƠNG

Hoàng Kim

Baicachimung

Bài ca chim ưng

Anh như chim ưng quay về tổ ấm
Vẫn khát bầu trời ước vọng bay lên
Ơi Bồng Lai cồn cào nỗi nhớ
Anh về bên này lại nhớ bên em.

NgayTinhYeu

Nắm chặt tay anh đi em

Anh ước mong em đến đây
Giữa hoa lá cỏ cây
Của mùa Xuân ngập nắng
Trời hóa xanh trong
Sau cơn mưa chiều bất ngờ rơi nặng
Gió mang hương đồng tha thiết tặng em.

Đừng hỏi anh sao mãi ước mong thêm
Dù mình đã trao những lời hạnh phúc
Biết bao yêu thương, giận hờn, cơ cực
Dẫu trao nhận hoài cũng chẳng đủ cho nhau.

Trong cái nắng chiều,
Những dòng người đang đi vội vã
Sao anh ước mong em đến thế!
Ước được nắm tay em
Mặc dòng người xô đẩy,
Vượt qua phố đông ngã năm, ngả bảy…
Đi đến tận cùng
Hạnh phúc tình yêu.

Là điều anh ước mơ bấy lâu
(Và chắc em cũng vậy).
Đừng cười anh, em nhé !
Ước mơ của anh nhỏ nhoi, bình dị.
Mong cho những lứa đôi như mình
Mãi mãi yêu thương !

Giữ chặt tay anh đi em!
Bằng lòng theo anh
Cho dẫu cuộc đời
Nhiều khi xô ta ngã
Anh nguyện suốt đời làm chỗ dựa của đời em.
Em mãi là ngôi nhà hạnh phúc bình yên!

Giữ chặt tay anh đi em!
Bởi khi mình đã trong nhau
Thì vất vả đọa đầy cũng không chia cắt nổi
Mình đã tri kỷ với nhau rồi
Thì chẳng thể nào
Vuột khỏi đời nhau.

Đầy đặn yêu thương

Em có ước gì đâu
Chỉ ước anh. Và giấc mơ hạnh phúc
Bỏ lại sau lưng những nhọc nhằn cơ cực.
Chỉ căn phòng này ấm áp, và anh.

Em có ước gì đâu.
Một giấc ngủ ngon.
Có anh bên em sớm mai thức dậy.
Anh và em nở nụ cười đón chào ngày mới.
Hôm qua vất vả qua rồi.

Cảm ơn đời mỗi sớm ban mai
Ta lại yêu thương đi vào ngày mới
Nắm chặt tay anh đi em !”
Em thích nghe anh nói
Lên đường đi anh yêu thương
Của em.

Em chẳng trẻ như thuở xưa.
Nhưng vẫn khát yêu thương.
Thích nghe lời thương, nói lời hờn giận.
Mặc kệ anh vùi đầu vào việc làm.
Em ưa chơi cùng con, lướt nét, nhặt rau, nấu ăn, đi chợ
Ngắm nghía chọn hàng dẫu ít khi mua …

Em có ước gì đâu
Anh ơi!
Đầy đặn yêu thương
đó là điều giản dị.
Nhiều người mơ giàu sang,
chức trọng quyền cao vinh hiển!
Em ước thung dung giấc mơ hạnh phúc
Bình an
Đầy đặn yêu thương.

Binh Minh Yen Tu

NGỌC PHƯƠNG NAM

Hoàng Kim

” Quên tên cây
làm thuyền
Tận cùng nỗi cô đơn
– độc mộc!

Khoét hết ruột
Chỉ để một lần ngược thác
bất chấp đời
lênh đênh…” (*)
(*) Thuyền độc mộc, thơ Trịnh Tuyên)

Hứng mật đời
thành thơ
Việc nghìn năm hữu lý
Trạng Trình

Đến Trúc Lâm
Đạt năm việc lớn Hoàng Thành
Đất trời xanh
Yên Tử

Hoàng Kim