Nguyễn Du là bậc anh hùng


NguyenDu

CNM365. TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. 365 chuyện kể mỗi ngày. Nguyễn Du là bậc anh hùng; Nguyễn Du 250 năm nhìn lại; Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa; Nguyễn Du hiền tài lỗi lạc. Đó là loạt bài viết về nhân cách và trí tuệ Nguyễn Du. Từ xưa chính sử và công luận đã nhìn nhận Nguyễn Du là đại thi hào danh nhân văn hóa thế giới. Đến nay sử liệu của chính sử và dã sử được hệ thống hóa theo niên biểu Nguyễn Du (1766 – 1820) đã soi thấu nhiều góc khuất, làm bừng sáng chân dung kẻ sĩ, vàng lầm trong cát, vượt lên vinh nhục bản thân và dòng họ, để lại ngọc cho đời. Di sản của Nguyễn Du là thực tiễn và trước tác, với trí tuệ nhân văn, tầm nhìn mưu lược, “gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo“. Sự thật lịch sử là:  “Nguyễn Du 15 năm lưu lạc” đã hé lộ; “Nguyễn Du Hồ Xuân Hương” mối tình thủy chung đầy đặn, hình tượng Từ Hải và Kiều; So với võ công của Nguyễn Huệ, nhân văn của Nguyễn Du qua thơ “Kỳ Lân mộ” tại “Bắc Hành tạp lục” là kiệt tác văn chương, thấu tình đạt lý, sức mạnh như một đạo quân, đã làm thay đổi chính sách của  vua Thanh và danh tướng Phúc Khang An tổng đốc Lưỡng Quảng, thay vì báo thù rửa hận cho Tôn Sĩ Nghị, đã giữ hòa hiếu lâu dài với Việt Nam. Nguyễn Du là bậc anh hùng quốc sĩ, kỳ tài hiếm có của dân tộc Việt.Nguyễn Du là bậc anh hùng. Và việc Nguyễn Du chống lại Nguyễn Huệ nên đã bị giam lõng ở Nghệ An, có phải lý do đã hé lộ trong bài thơ này? Nguyễn Du đã gác tình nhà không mưu tự lập để đặt chữ hiếu với dân với nước lên trên hết. Nguyễn Du đã toàn tâm toàn ý giúp Nguyễn Ánh trong chuyến đi Chánh sứ lần ấy, với Bắc Hành tạp lục là một sử luận, áng văn ngoại giao xuất sắc nhất từ xưa đến nay, đủ làm cho vua Càn Long nể phục, tự tay viết bức đại tự mến tặng mà không dám dòm ngó đất phương Nam nữa. Nguyễn Du là quốc sĩ, đặt Nhân dân Tổ quốc trên hết. Văn chương Nguyễn Du kiệt tác là vậy.

KỲ LÂN MỘ

Nguyễn Du

Phương Chi Yên Đệ người thế nào?
Cướp ngôi của cháu, đồ bất nhân.
Mỗi khi nổi giận giết mười họ,
Cổn to vạc lớn hại trung thần
Năm năm giết người hơn trăm vạn
Xương chất thành núi máu chảy tràn
Nếu bảo thánh nhân Kỳ Lân xuất
Buổi ấy sao không đi về Nam?

Nguyên văn chữ Hán

Hà huống Yên Đệ hà như nhân
Đoạt điệt tự lập phi nhân quân
Bạo nộ nhân sinh di thập tộc
Đại bỗng cự hoạch phanh trung thần
Ngũ niên sở sát bách dư vạn
Bạch cốt thành sơn địa huyết ân
Nhược đạo năng vị Thánh nhân xuất
Đương thế hà bất Nam du tường?

Bên lề chính sử

… “Đêm tháng Sáu (Nhâm Tuất 1802) đất trời Thăng Long thật mát mẻ… tại một căn nhà nhỏ gần hồ Giám, Nguyễn Du không hề chợp mắt. Người bạn cũ (Đặng Trần Thường) ngạc nhiên khi biết Nguyễn còn sống và càng vui hơn khi biết anh được triệu ra làm quan. Lấy cớ đi đường xa mệt, Nguyễn đi nghĩ sớm, nhưng Nguyễn đâu có ngủ. Đêm nay, dân Thăng Long nhiều người bày hương án ra đường đón Gia Long. Mười ba năm trước (năm Kỷ Dậu 1789) cũng chính những người dân này cũng bày hương án đầy đường mừng Nguyễn Huệ. Hai kẻ thù của nhau đều được họ đón tiếp nồng hậu. Phải lòng dân quay trở theo thời cuộc, ai chiến thắng thì tung hô người đấy, hay lòng dân sau buổi đầu rực rỡ của triều đại Quang Trung đã sớm chán ngán vì sự hà khắc của sự thống trị và cảnh anh em “nồi da nấu thịt” mà ra đón mừng Gia Long? Trong thất vọng, họ hi vọng được gặp vua hiền. Và rồi họ có sớm thất vọng không? Chẳng biết được. Chỉ biết lòng Nguyễn chán ngán. Kết thúc mười năm ăn nhờ ở đậu nơi quê vợ (?) năm năm theo phường săn Ngàn Hống (?), không ràng buộc vào danh lợi, không màng bổng lộc, lòng Nguyễn nguội lạnh công danh, thì giờ lại triệu ra đây để làm quan, để khom lưng quỳ gối trước một ngai vàng mới. Tất cả chỉ tại cái thằng xảo quyệt Đặng Trần Thường. Khi Quang Trung Nguyễn Huệ ra Bắc phế bỏ nhà Lê, ta bảo nó cùng ta chiêu mộ lực lượng đánh lại Tây Sơn thì nó không nghe, đi gặp Ngô Thì Nhậm để kiếm chỗ vinh thân. Bị Ngô Thì Nhậm khinh ghét, nó mới cùng ta đi khắp vùng Hải Dương, Thăng Long tìm người nghĩa khí. Thế nhưng nhà Lê chẳng có bề tôi nào có nghĩa, toàn phường sợ chết nằm im, hắn lại lôi kéo ta vào Nam theo Nguyễn Ánh. “Ngoài này không chốn dung thân, làm gì rồi cũng là thằng cùng đinh thôi. Làm đấng nam nhi phải có quyền lực. Có quyền lực là có tất cả. Phải vào Nam thôi”. Ta không tin cái thằng tráo trở ấy. Chán cảnh người trong một nước đâm chém nhau, ta vùi đầu vào trang sách. Khi Nguyễn Huệ đột ngột chết, ta vào Phú Xuân để kéo Nễ huynh ra khỏi con thuyền Tây Sơn đang chìm dần, thì hắn theo Nguyễn Đình Đắc vào cửa biển Cần Giờ dâng mình cho Nguyễn Ánh. Giờ thì hắn đã là Tán lý Quân vụ. Khi hắn dẫn binh ra lấy Nghệ An một cách dễ dàng thì hắn tiến cử ta với Gia Long. ta đã nói với hắn để cho ta ở lại làm một Hồng Sơn liệp hộ xa chốn cửa quyền, hắn nhất thiết không cho”

… Đặng Trần Thường đưa Nguyễn vào gặp Gia Long. Vừa bước vào cửa chưa kịp cúi chào  thì Hoàng thượng đã vui vẻ chỉ vào chiếc ghé nạm xà cừ:
– Khanh ngồi đi. …
– Trẫm nghe Tán lý Đặng Trần Thường nói nhiều về khanh. Xuân Quận công có những người con thật tài năng. Nguyễn Nễ cũng khá lắm, biết tùy thời mà ứng biến. Khanh ẩn mình, chịu nhiều gian truân, giữ niềm trung với tiên triều là rất quý. Nay ta tạm giao khanh về làm tri huyện Phù Dung cho quen việc, sau ta sẽ giao cho khanh những việc lớn hơn. Được chứ? Vì giang sơn và gia tộc, khanh cố làm cho tốt.
Nguyễn thưa:
– Đội ơn Hoàng thượng.
Sau buổi ấy, ngài lấy Nguyễn Duy Hợp làm Thị trung học sĩ lãnh chức Hiệp trấn Kinh Bắc, Lê Duy Đản làm Kim hoa điện trực sĩ lãnh chức Hiệp trấn Lạng Sơn. Lê Huy Trầm, Ngô Xiêm, Nguyễn Đình Tứ làm Thái hòa điện học sĩ, Phan Thích, Vũ Trinh làm Thị trung học sĩ, một số được củ làm tri huyện. Ba mươi hai học trò Bắc Hà được ghi tên chờ bổ dụng.
Đêm đó Nguyễn và Nễ về nhà Vũ Trinh. Bên bàn rượu, Vũ Trinh nâng chén:
– Mười bốn năm rồi, chúng ta mới được đồng ẩm bên nhau. Xin nâng chén chúc đại huynh và hiền đệ mạnh khỏe, hoạn lộ công thành, mừng chúng ta gặp được minh quân, anh hùng cái thế.
Nễ nâng chén. Nguyễn nâng theo.”Vũ Trinh đang rất vui”. Nguyễn nghĩ thế và chợt nhớ Đoàn Nguyễn Tuấn. Mười ba năm trước, trên Phong Nguyệt sào, một đêm trăng cũng như đêm nay, cùng tam nhân bàn chuyện xuất xử . Đàn Nguyễn Tuấn cũng rất vui. Nễ huynh hăng hái ra, con ta không ra. Hôm nay,  tam nhân nhập thế, nhị huynh hăng hái, còn ta”… Vũ Trinh vui quá hỏi Nễ:
-Mấy lâu nay được gần Hoàng thượng, huynh thấy thế nào?
Ta rất mừng, không ngờ Hoàng thượng lại rộng lượng đến thế. Khi ngài chiếm Phú Xuân, nghĩ mình sẽ chết, ta bèn viết bản điều trần nói rõ thịnh suy của các triều đại là ở mệnh trời còn ta chỉ muốn làm việc cho dân yên. Hoàng thượng khen và tin dùng cho ta ở cạnh ngài. Còn La Sơn phu tử, ngài cũng an ủi cho về nghỉ. Giờ đây chúng ta ra phụng sự ngài là phải.
Nhìn sang Nguyễn. Nễ hiểu lòng chú em yêu vân đầy giông bão “Chú ta vẫn luôn có suy nghĩ khác người và luôn sâu sắc hơn mình”, Nễ hỏi:
-Hiền đệ nghĩ sao?
Nguyễn yên lặng một lúc rồi chậm rãi nói:
– Qua những việc may mắn trong cuộc đời của Nguyễn vương, rồi đến việc Hooa2ng đế Quang Trung đột ngột băng hà thì biết mệnh trời đã trao vào tay họ Nguyễn Gia Miêu. Nay non sông một mối nhưng dân tình hơn ba trăm năm binh đao khốn khổ quá rồi, mình ra gánh vác là phải. Còn Hoàng thượng có rộng lượng không thì cũng chưa rõ. Cái điều rõ nhất là ngài không tin chúng ta: Ba người nắm quyền sinh sát ở Bắc thành là ba kẻ có công đánh đổ Tây Sơn giúp ngài giành ngai vàng, còn chúng ta chỉ là những bề tôi cần để giúp việc, để chứng tỏ triều đại mới quý Lê triều, còn có tin sĩ phu ở Thăng Long không thì chưa rõ. Những võ quan công thầnđược giao quyền sẽ cậy quyền , còn chúng ta tốt, xấu, sống, chết vẫn nằm trong tay họ và chỉ cách nhau một gang tấc mà thôi. Số phận dân chúng nằm trong tay những kẻ võ biền , không hiểu sẽ ra sao?
Vũ Trinh nhìn Nguyễn cười:
– Cậu quá lo xa. Trước mắt Hoàng thượng chưa hiểu chúng ta thì phải thế. Sáng nay, Hoàng thượng gặp bọn anh , ngài rất ân cần , tin tưởng và ban thưởng cho rất hậu nữa. 
Nguyễn nhìn Vũ Trinh: dưới ánh đèn, nét mặt tràn đầy tự tin. Nguyễn định nói: ” Anh rể ơi. Chưa làm được gì mà đã ban phát bỗng lộc thì đó là sự mua chuộc, chưa tin tưởng và cả sự coi thường nữa. Đối với vua chúa sự ban thưởng vàng bạc và ban cho giải lụa hay chén thuốc độc là rất gần nhau”. Thế nhưng, sợ không khí buổi gặp gỡ hiếm hoi này mất vui. Nguyễn nhìn Trinh và Nễ mỉm cười:
– Có thể em nghỉ xa quá, nhưng sao em vẫn không an. Còn Nễ huynh đã hơn ba tháng sống gần Hoàng thượng, huynh nghĩ sao?
Nễ nhìn Nguyễn và Tring- người em ruột và người em rể, không ngờ chú em mình lại nghĩ sâu xa như vậy. Những điều Nguyễn nói chính là tâm sự nặng nề của Nễ bấy lâu. Hơn ba tháng qua, chứng kiến sự biến đổi nhanh chóng của thế cục. Nễ vừa mừng vừa sợ. Gia Long điều binh nhanh chóng, quyết đoán không khác gì cựu hoàng đế Quang Trung nhưng xử xự thì khôn lường. Nguyễn Huệ làm cho Nễ tin phục còn ngài làm cho Nễ sợ. Nễ thấy những bước đường còn lại của mình thật chông chênh. Và những bước đi của hai  người em của mình, một em rễ một em ruột, không hiểu sẽ ra sao? Nể nói:
– Điều chú Bảy nghỉ là đúng. Chúng ta phải rất cẩn trọng. Hoàng thượng có chí, điều quân rất quyết đoán, tài ba nhưng xử sự thì lạ lắm, không lường được. Bắt được con Nguyễn vương là Nguyễn Quang Cương, Nguyễn Quang Tự, Nguyễn Quang Diện vẫn cấp cho tiền bạc, cứ tưởng là được tha, nào ngờ sau đó đưa Nguyễn Quang Cương về Bình Định, Nguyễn Quang Tự, Nguyễn Quang Diện về Gia Định bố cáo cho dân chúng rồi hành hình. Chém vua Cảnh Thịnh nhưng lại lấy Hoàng hậu Lê Thị Ngọc Bình. Triều thần can thì tuyên bố “Cơ nghiệp của nó ta còn chiếm được , còn vợ nó ta không lấy được sao?”. Rồi đến việc đào mộ, bổ săng Nguyễn Vương phơi thây, xé xác lăng trì ba mươi mốt con trai con gái của Ngài, thì thật quá lắm!
Vũ Trinh nói:
– Sát phu đoạt phụ là chuyện không nên, nhưng việc trả thù xưa nay quân vương nào chả thế. Vả lại, Nguyễn Huệ cũng đã sai đô đốc Nguyễn Văn Ngũ phá lăng hoàng khảo Nguyễn Phúc Noãn, vứt hài cốt xuống vực.
Nguyễn trầm ngâm:
– “Ái nữ chi tâm, nhân giai hữu chi”, người đẹp thì ai chẳng thích, gặp trang quốc sắc thiên hương, trượng phu xiêu lòng xưa nay đâu hiếm. Còn điều đó có ảnh hưởng đến quốc sự hay không thì phải đợi xem. Có thể ông ta mê sắc dục , mà cũng có thể ông ta muốn an ủi lôi kéo con cháu nhà Lê. Nếu đúng vậy thì ông ta là kẻ ghê gớm, sẵn sàng bất chấp chê khen can ngăn của cận thần chỉ cốt đạt mục đích lớn của mình.
Vũ Trinh ngạc nhiên nhìn Nguyễn: “mười lăm năm dâu bể, qua bao nỗi đắng cay đã làm cho cậu em vợ thay đổi biết bao. Không còn vẻ ngang tàng tài tử mà trở nên già dặn, thận trọng hơn và cả nhút nhát nữa. Thế nhưng đằng sau mái đầu bạc ấy, phải nhìn nhận cậu ta có những ý nghĩ sắc sảo” Hai người im lặng chờ đợi Nguyễn nó hết ý ủa mình. Nguyễn tiếp:
– Còn chuyện trả thù anh em Tây Sơn đúng là chuyện thường tình, nhưng trả thù đến thế thì quá độc ác. Qua việc này thì thấy ngài cũng như bao kẻ khác mà thôi (Nguyễn định dùng chữ “tầm thường” như bao kẻ khác nhưng kịp rút lại).” …

Trên đây là trích dẫn một số đoạn trong Chương 1, trang 15 – 25,  tác phẩm “Nguyễn Du”, tiểu thuyết lịch sử của nhà văn, nhà giáo Nguyễn Thế Quang. Bên lề chính sử nhưng tra cứu đối chiếu các sự kiện, tư liệu là hoàn toàn khớp đúng với chính sử, đồng thời cũng thể hiện phù hợp với tính cách và số phận của các nhân vật lịch sử.

Yên Đệ

Yên Đệ Minh Thành Tổ là một nhân vật lịch sử nổi bật của Trung Quốc. Sử gia Trung Quốc cho đến nay vẫn gọi ông là Vĩnh Lạc Đế hay Vĩnh Lạc đại đế. Ông được coi là vị Hoàng đế kiệt xuất nhất của triều đại nhà Minh, và là một trong các Hoàng đế kiệt xuất nhất trong lịch sử của Trung Quốc. Thời kỳ của ông về sau được ca ngợi gọi là Vĩnh Lạc thịnh thế, khiến nhà Minh phát triển đỉnh cao về quyền lực trong lịch sử. Nguyễn Du qua tác phẩm “Kỳ Lân mộ” trong Bắc Hành tạp lục, đã mắng thẳng Yên Đệ Minh Thành Tổ  không phải là minh quân. Kẻ bá đạo có thể giành được ngai vàng, thắng được cuộc chiến, xô lệch lịch sử, cướp được nước người, xóa được di sản, nhưng không thể đoạt được lòng người chân thiện mỹ, bia miệng muôn đời vẫn lưu tiếng xấu.

Yên Đệ Minh Thành Tổ Vĩnh Lạc Đế, có tên thật là Chu Đệ, sinh năm 1360 tại Nam Kinh chết năm 1424 , là con trai thứ tư của Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương và Hiếu Từ Cao hoàng hậu Mã thị. Chu Đệ khi sinh thì cha ông là Chu Nguyên Chương đang dấy binh chống lại nhà Nguyên trên đà sụp đổ. Chu Đệ trở thành hoàng tử nhà Minh khi Chu Nguyên Chương xưng đế năm 1368 với niên hiệu Hồng Vũ. Ông được Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương phong làm Yên Vương nên tục danh gọi là Yên Đệ. Ông cướp ngôi của cháu và tự lập làm vua, là vị hoàng đế thứ 3 của nhà Minh, tại vị từ năm 1402 đến năm 1424, tổng cộng 22 năm. Ông  chỉ dùng một niên hiệu Vĩnh Lạc, nên sử gia gọi ông là Vĩnh Lạc Đế.

Yên Đệ khi làm Yên Vương đóng đô ở Bắc Bình (nay là Bắc Kinh). Sau một loạt chiến dịch thành công chống quân Mông Cổ, ông bắt đầu củng cố quyền lực của mình ở phía bắc và tiêu trừ đại tướng Lam Ngọc cùng với  các đối thủ. Lam Ngọc vốn là một danh tướng chỉ đứng sau Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân là các danh tướng khai quốc của nhà Minh.  Lam Ngọc vốn được ví như Vệ Thanh nhà Hán, Lý Tĩnh nhà Đường do có công đánh dẹp người Mông Cổ, mở rộng bờ cõi nhưng do tài năng kiệt xuất oai lấn Chu Nguyên Chương nên Chu Đệ dùng kế hiểm, vu oan cho Lam Ngọc mưu phản. Chu Nguyên Chương cho lực lượng an ninh nội vụ Cẩm Y Vệ vào cuộc, bắt giữ cả nhà Lam Ngọc rồi tru di chín họ cùng 2 vạn người. Thái tử Chu Tiêu mất đi một người ủng hộ hùng mạnh, còn Chu Đệ thì không còn đối thủ trong quân đội nhà Minh ở phía bắc. Đây cũng là tiền đề để Chu Đệ cướp ngôi sau này, khi triều đình không còn danh tướng nào so được với ông.

Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương sau khi mất, người kế vị là Minh Huệ Đế cháu nội của Chu Nguyên Chương. Minh Huệ Đế là con trai thứ hai của Chu Tiêu Ý Văn thái tử (1355-1382) với bà phi họ Lã . Ông là người hiếu học, tính hiếu thảo. Do cha và anh trai ông là Chu Hùng Anh đã mất trước khi Chu Nguyên Chương qua đời cho nên Chu Nguyên Chương lập ông làm người kế vị vào tháng 9 năm 1382. Đến năm 1396, Chu Nguyên Chương cho lập Đông cung vương phủ. Minh Huệ Đế khi còn là hoàng thái tôn, từng dâng biểu đề nghị Minh Thái Tổ cho sửa 73 điều của Luật Hồng Vũ vì ông cho rằng các điều này quá ư nghiêm khắc. Tháng 5 nhuận năm 1398, Chu Nguyên Chương bị bệnh mất, Minh Huệ Đế lên ngôi, đóng đô ở Nam Kinh. Ông thay đổi chính sách của ông mình, giảm bớt hình phạt nghiêm khắc, tha nhiều tù nhân và áp dụng chính sách triệt phiên nhằm tập trung quyền lực về trung ương. ăm 1398, Minh Huệ Đế lên ngôi, Chu Đệ mang quan quân từ Bắc Bình về Nam Kinh viếng cha, Minh Huệ Đế đã sai người chặn lại ở Hoài An bắt Chu Đệ phải quay về Bắc Bình với lý do ba vị vương tử con ông đã được tân hoàng giữ lại thủ hiếu giùm ông. Chu Đệ khóc ầm lên mà nói rằng: “Cùng là cốt nhục chí thân, sao lại làm nhục ta quá vậy?“. Chu Đệ sau khi về nhà thì giả ốm và không lâu sau thì  “phát điên” để bảo toàn cho ba người con trai của ông và tránh chính sách triệt phiên.

Yên Đệ đã lật đổ cháu trai Minh Huệ Đế trong một cuộc nội chiến đẫm máu, vốn bất lợi cho ông vào thời gian đầu, khi ba con trai của ông (Chu Cao Sí, Chu Cao Hú, Chu Cao Toại) còn ở Nam Kinh. Nhưng đến lúc Minh Huệ Đế thấy Chu Lệ sai sứ qua lại với thái độ mềm mỏng, cho rằng Chu Lệ thần phục nên thôi không giữ các con Chu Lệ nữa, thì tháng 7 âm lịch năm 1399, Yên Đệ khởi binh làm phản. Ban đầu, quân triều đình chiếm ưu thế nhưng do  Chu Nguyên Chương trước đó đã lạm sát công thần nên Minh Huệ Đế không còn tướng giỏi cầm quân. Yên Đệ lại là một danh tướng dày dạn chiến trận, vì vậy cán cân lực lượng sau đó ngả về phía Yên Đệ. Tháng 4 năm 1402, quân triều đình thua trận tại Hoài Bắc, quân của Yên Đệ Chu Lệ thừa thắng vượt qua sông Hoài Hà tiến về Trường Giang. Trong chiến sự, vai trò của Chu Cao Hú – một người con của Yên vương được Huệ Đế thả về – có đóng góp rất lớn. Yên Đệ Chu Lệ giành được ngai vàng vào cuối năm 1402.

Yên Đệ đã bắt đầu triều đại của mình bằng cách hợp pháp hóa việc lên ngôi xóa bỏ lịch sử toàn bộ thời gian trị vì của người cháu và thiêu hủy hay sửa đổi tất cả các tài liệu có liên quan đến tuổi thơ và cuộc nổi loạn của mình. Điều này dẫn đến việc thanh trừng vô số quan viên ở Nam Kinh và ban thẩm quyền đặc biệt ngoài vòng pháp luật cho chính sách bí mật của hoạn quan và nội chính. Ông nối tiếp chính sách tập trung của Chu Nguyên Chương, tăng cường thể chế của đế quốc và thành lập thủ đô mới tại Bắc Kinh. Ông cho cải cách khoa cử và  theo đuổi chính sách đối ngoại bành trướng với nhiều chiến dịch quy mô lớn chống lại quân Mông Cổ, đồng thời tăng cường sự ảnh hưởng và cường thịnh của nhà Minh đối với khu vực Đông ÁĐông Nam Á. Vĩnh Lạc Đế thành lập một hạm đội hùng hậu do Trịnh Hòa điều khiển. Trịnh Hòa (13711433) đã dẫn hạm đội xuống Bắc nước Úc, qua bán đảo Ả Rập và có tài liệu cho rằng Trịnh Hòa qua tận châu Mỹ. Hoàng đế còn cho sửa và mở lại Đại Vận Hà và vào khoảng năm 1407 đến năm 1420, trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng Tử Cấm Thành. Dưới thời ông, các học giả đương thời đã hoàn thành công trình đồ sộ Vĩnh Lạc đại điển.

Yên Đệ xô lệch lịch sử bằng cách xóa bỏ hồ sơ thời cai trị của Minh Huệ Đế nhập vào thời kỳ Minh Thái Tổ. Tất cả các đại thần và gia đình họ cùng những kẻ thù  tiềm năng trên hai vạn người đều bị hành hình. Người anh trai cả đã mất của Chu Đệ là Chu Tiêu, vốn được Huệ Đế truy phong làm hoàng đế cũng bị ông giáng xuống làm Ý Văn Thái tử. Một quan viên trung thành của Huệ Đế là Phương Hiếu Nhụ, vốn được coi là bậc đại nho đương thời, không chịu quy hàng Chu Đệ khi Nam Kinh đã bị công phá, còn miệt thị ông là đồ phản tặc. Chu Đệ giận lắm, muốn giết ông nhưng đã bị một người thân tín là hòa thượng Đạo Diễn khuyên can: “Nay giết Nhụ thì tiệt hết cái nòi đọc sách trong thiên hạ, vậy còn ai dám ra sức vì bệ hạ?”. Chu Đệ nghe theo, sai người bắt Phương Hiếu Nhụ viết một đạo chiếu thư giả của Thái Tổ để hợp pháp hóa việc kế vị của mình vì Hiếu Nhụ là người đứng đầu bách quan, bù lại sẽ cho Hiếu Nhụ giữ lại chức quan cùng với tăng thêm bổng lộc, dù rằng chính Hiếu Nhụ là người ra các kế sách triệt phiên, dẫn đến cái chết của người em ruột của Thành Tổ. Phương Hiếu Nhụ nhận lấy giấy bút rồi viết lên bốn chữ to: “Yên tặc soán vị”. Chu Đệ xem xong hận ông lắm nhưng vẫn tiếc, cho đòi ông đến rồi hỏi: “Ngươi không sợ bị tru di chín họ sao?”. Phương Hiếu Nhụ đáp lại: “Tru di mười họ thì đã làm sao?”. Chu Đệ không nhịn nữa, sai người bắt hết thân tộc chín họ của Phương Hiếu Nhụ, lại bảo rằng: “Đã thế thì gom hết môn sinh, bạn bè, hàng xóm của nó lại cho đủ mười họ”, tổng cộng hơn nghìn người đều bị hành quyết. Đây là việc “Tru di thập tộc” nổi tiếng, trước chưa từng có, sau không xuất hiện, làm nổi bật sự tàn bạo của Chu Đệ.

Yên Đệ cướp nước Đại Việt, xóa sạch di sản, thực hiện sự đồng hóa triệt để, với các chính sách hết sức thâm độc và tàn bạo. Với chiêu bài giúp đỡ nước yếu, tăng cường sự ảnh hưởng của nhà Minh đối với khu vực Đông ÁĐông Nam Á, Yên Đệ đã gây chia rẽ Đại Việt với Chiêm Thành tạo cớ gây hấn liên tục từ phương Nam. Với âm mưu nham hiểm “phù Trần diệt Hồ”, năm 1406, Hoàng đế Vĩnh Lạc chính thức đáp lại các thỉnh cầu từ Trần Thiêm Bình – người xưng là dòng dõi nhà Trần đã bị nhà Hồ lật đổ năm 1400. Tuy nhiên khi trở về nước, Trần Thiêm Bình và tướng lĩnh, quân đội nhà Minh đi cùng đã bị quân nhà Hồ đánh bại và bủa vây. Tướng Hoàng Trung phải nhượng bộ xin giao nộp Trần Thiêm Bình cho nhà Hồ bắt giết để được mở đường rút quân về nước. Minh Thành Tổ đã đem hai đạo quân xâm lược Đại Ngu, đánh bại nhà Hồ năm 1407, sau đó thực hiện âm mưu đồng hóa nước Việt một cách lâu dài.

Yên Đệ Minh Thành Tổ đã cho người đốt hết những sách vở, phá hủy những bia đá có khắc văn tự của người Việt, bắt những thợ thủ công có tay nghề cao người Việt thiến đi rồi đưa về Trung Quốc để phục dịch, đàn áp thảm khốc, sưu cao thuế nặng, Nguyễn Trãi đã khẳng định những tội ác mất nhân tính này  trong “Bài cáo bình Ngô”:

Vừa rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,
Để trong nước lòng dân oán hận.
Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ,
Bọn gian tà bán nước cầu vinh.
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế,
Gây binh kết oán trải hai mươi năm.
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu, nước độc.
Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng,
Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán ;
Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa.
Nặng nề những núi phu phen,
Tan tác cả nghề canh cửi.
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.
Lẽ nào trời đất dung tha,
Ai bảo thần nhân chịu được?

Nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại các bộ máy xâm lược nhà Minh. Minh Thành Tổ đã điều các tướng Mộc Thạnh, Trương Phụ sang dẹp các cuộc khởi nghĩa này do Trần NgỗiTrần Quý Khoáng lãnh đạo.  Sau khi họ Trần thất bại, vào đầu năm 1418 một cuộc nổi dậy lớn do Lê Lợi khởi xướng. Năm 1424 nghĩa quân Lam Sơn đã chiếm lại gần như toàn bộ vương quốc đúng lúc Yên Đệ chết. Năm 1427, Minh Tuyên Tông đã chính thức thừa nhận nền độc lập của Việt Nam với điều kiện Đại Việt chấp nhận làm chư hầu và phải cống nạp người vàng tượng trưng cho Liễu Thăng bị giết ở ải Chi Lăng mỗi lần đi sứ.

Kỳ Lân mộ

Kỳ Lân mộ là kiệt tác của Nguyễn Du trong Bắc Hành tạp lục. Tác phẩm được Nguyễn Du chính thức công bố vào năm Quý Dậu (1813) khi ông là Chánh sứ của đoàn sứ thần của Nguyễn Ánh sáng thông hiếu với nhà Thanh năm Gia Long thứ 12 và Gia Khánh thứ 17. “Kỳ Lân mộ” lấy từ điển tích đã được ghi trong chính sử:  “Năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1406) có con Kỳ Lân xuất hiện ở Nam Dương. Quan trấn sai mang lên Bắc Kinh dâng Minh Thành Tổ. Nào ngờ đến đây Kỳ Lân chết. Viên quan sai chôn ở đây và lập bia để ghi lại chuyện đó. Mộ bị mưa gió san phẳng còn lại tấm bia này.”

Nguyễn Du thực ra đâu phải đến năm 1813 mới lên Bắc Kinh “Nghêu ngao vui thú yên hà / Mai là bạn cũ, hạc là người thân” mà từ sau năm 1787, khi Nguyễn Du cùng với Nguyễn Đăng Tiến và Nguyễn Quýnh, khởi nghĩa chống Tây Sơn tại Tư Nông thất bại, Vũ Văn Nhậm tha cho đi không giết. Cả ba lên đường đi Vân Nam. Nguyễn Du đi nhiều nơi ở Trung Quốc. Nguyễn Du tham gia trong các sứ đoàn Tây Sơn, sứ đoàn Nguyễn Ánh trước đó, vì Nguyễn Du có anh ruột là Nguyễn Nễ và anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn có vị trí trọng yếu trong đoàn. Bắc Hành tạp lục nhiều bài viết trong thời gian mười lăm năm lưu lạc, Truyện Kiều cũng vậy. Chuyến đi sứ của Nguyễn Du năm 1813 chỉ là sự hệ thống hóa, hợp thức hóa tác phẩm mà thôi. Nguyễn Du đã gặp vua Càn Long trước năm 1813. Ông đã được tặng bức đại tự Hồng Sơn liệp hộ trước đó.

Nguyễn Du là bậc anh hùng.

Hoàng Kim

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Advertisements

3 thoughts on “Nguyễn Du là bậc anh hùng

  1. Pingback: Vùng trời nhân văn | Khát khao xanh

  2. Pingback: Bên lề chính sử | Tình yêu cuộc sống

  3. Pingback: Vùng trời nhân văn | Tình yêu cuộc sống

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s