Nguyễn Du hiền tài lỗi lạc


Nguyen Du
TÌNH YÊU CUỘC SỐNG.
365 chuyện kể mỗi ngày. Nguyễn Du hiền tài lỗi lạc. Bài này tiếp nối  Nguyễn Du 250 năm nhìn lại; Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa. Nội dung giới thiệu về: Niên biểu Nguyễn Du 1986-1992. Nguyễn Du Hồ Xuân Hương luận anh hùng. Nguyễn Du khí phách và tầm nhìn.

Ghé mắt trông sang thấy bảng treo/ Kìa đền Thái thú đứng cheo leo/ Ví đây đổi phận làm trai được/ Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu” (Hồ Xuân Hương) “Kiều rằng lượng cả bao dong/Tấn Dương được thấy mây rồng có phen/ Xót thương cỏ nội hoa hèn/ Tấm thân bèo bọt dám phiền mau sau” (Thúy Kiều). “Nghe lời vừa ý gật đầu/ Từ rằng tri kỷ trước sau mấy người/ Khen cho con mắt tinh đời /Anh hùng đoán giữa trần ai mới già/ Một lời đã biết đến ta/ Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau“ (Từ Hải).

Niên biểu Nguyễn Du 1986-1992

Năm Bính Ngọ (1786) Nguyễn Du 21 tuổi. Tây Sơn đã chiếm được trọn cả nước Nam. Trước đó, năm 1782, Bắc Hà có biến, phe người con lớn của chúa Trịnh Sâm vừa chết là Trịnh Khải làm binh biến lật đổ người con nhỏ mới được lập là Trịnh Cán. Một tướng Bắc Hà là Nguyễn Hữu Chỉnh (thủ hạ cũ của Hoàng Ngũ Phúc và Quận Huy Hoàng Đình Bảo) không hợp tác với Trịnh Khải nên bỏ vào nam hàng Tây Sơn và được vua Thái Đức tin dùng. Năm 1786, khi tình hình phía nam đã tạm yên, Hữu Chỉnh khuyên vua Thái Đức đánh Phú Xuân để khôi phục lại đất đai của chúa Nguyễn trước đây. Vua Thái Đức đồng ý, liền cử Nguyễn Huệ làm chỉ huy cùng các tướng Nguyễn Hữu Chỉnh và phò mã Vũ Văn Nhậm (con rể vua Thái Đức) bắc tiến. Quân Trịnh ở Phú Xuân bị quân Tây Sơn dùng kế lừa khiến mất cảnh giác và nghi ngờ lẫn nhau. Tháng 5 năm 1786, Nguyễn Huệ nhanh chóng đánh chiếm thành Phú Xuân. Nghe theo kế của Nguyễn Hữu Chỉnh, (người trả thù Trịnh Khải để báo thù cho chủ cũ là Quận Huy Hoàng Đình Bảo nên dâng kế bắc tiến tập kích bất ngờ Thăng Long), lấy việc tôn phù nhà Lê làm danh nghĩa. Nguyễn Huệ đã quyết định mang quân ra đánh Thăng Long mà không hỏi ý vua anh. Nguyễn Huệ đánh bại quân Trịnh, Trịnh Khải tự sát. Nguyễn Huệ đem quân vào thành. Các tướng sĩ Lê Trịnh đều tan chạy. Khi vào điện Kính Thiên, Nguyễn Huệ gặp Nguyễn Du và Nguyễn Đăng Tiến. Tướng trấn thủ Thái Nguyên Quản Vũ Hầu Nguyễn Đăng Tiến (Hà Mỗ trong Gia Phả họ Nguyễn Tiên Điền) có trình việc cáo quan muốn về quê cũ Quảng Tây với Nguyễn Du đi cùng. Nguyễn Huệ vì muốn lấy lòng những người tôn phò nhà Lê  và ông có tâm ý riêng nên có mấy lời phủ dụ và thả cho đi. Vua Lê Hiển Tông đau yếu, bệnh tình ngày mỗi nặng. Nguyễn Huệ ép vua gượng thiết triều và đem sổ ghi hộ tịch dân binh vào dâng. Vua Lê Hiển Tông phong cho Nguyễn Huệ tước Nguyên soái Uy Quốc Công và gả con gái là công chúa Lê Thị Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ. Sau khi vua Lê Hiển Tông băng hà, Nguyễn Huệ lập cháu trưởng của vua là Lê Duy Kỳ lên nối ngôi, đặt niên hiệu là Chiêu Thống.

Vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc vốn không có ý định đánh ra Bắc Hà nên trước đây khi tiếp được thư Nguyễn Huệ nói sắp đánh ra Bắc vội cho người ra Thuận Hóa ngăn lại. Nhưng khi sứ thần tới nơi thì Nguyễn Huệ đã cử binh đi rồi. Sau lại tiếp được thư nói rằng Tây Sơn đã lấy được Thăng Long còn phải ở lại giúp nhà Lê. Nguyễn Nhạc sợ em ở ngoài lâu ngày sinh biến, không kiềm chế được Huệ nữa, vội vã đem 500 quân ra Thuận Hóa, rồi lấy thêm 2000 quân nữa, đi gấp ngày đêm ra Thăng Long. Vua Chiêu Thống đem bách quan ra đón ở Nam Giao nhưng Nguyễn Nhạc đi thẳng và cho người đến nói xin khất ngày sau tiếp kiến. Vua Thái Đức sau khi lựa lời vỗ về em, đã tự mình cầm quân, thay đổi hết nhân sự do em sắp đặt rồi mới gặp gỡ vua Lê Chiêu Thống vừa lên ngôi[8].Mấy hôm sau Nguyễn Nhạc mời Chiêu Thống sang phủ đường làm lễ tương kiến. Nguyễn Nhạc ngồi giữa, vua Lê Chiêu Thống ngồi bên tả, Nguyễn Huệ ngồi bên hữu, các quan văn võ đứng hầu hai bên. Trong cuộc hội kiến, Lê Chiêu Thống xin cắt đất Nghệ An cho Tây Sơn. Nguyễn Nhạc nói: “Vì họ Trịnh hiếp chế, cho nên chúng tôi ra giúp vua; nếu bằng đất nước họ Trịnh thì một tấc cũng không để lại, nhưng là của nhà Lê thì một tấc cũng không dám lấy. Xin nhà vua gắng sức làm việc, giữ yên bờ cõi, để đời đời giao hiếu với nhau, ấy là cái phúc của hai nước vậy“. Hôm sau, anh em Tây Sơn mật truyền cho các tướng thủy bộ, kho tàng có gì lấy hết, rồi đến nửa đêm 17 tháng 8, kéo quân về Nam. Nguyễn Hữu Chỉnh hôm sau mới biết, giật mình sợ hãi, vội theo thuyền buôn đuổi gấp vào Nghệ An, kịp theo vua Tây Sơn. Nguyễn Nhạc không nỡ chối bỏ, nên cho ở lại với Nguyễn Văn Duệ giữ Nghệ An, trong lúc nhà Tây Sơn cử Võ Văn Dũng đóng ở Hà Tĩnh và Vũ Văn Nhậm đóng tại Đồng Hới để tạo thế liên kết phòng thủ.

Ở mặt Nam năm 1786, Nguyễn Ánh đã liên kết được với  hải thuyền và lính đánh thuê người Bồ Đào Nha. Ông nhận thấy lực lượng còn yếu và chưa thể tranh hùng cùng quân Tây Sơn về bộ binh, kỵ binh, tượng binh, nên chú trọng hơn hết việc xây dựng thủy binh thiện chiến liên kết với hải quân người nước ngoài. Trước đó, mùa xuân năm Ất Tỵ (1785) Nguyễn Ánh đã cho hoàng tử Cảnh theo Bá Đa Lộc đến cầu viện Pháp nhưng nước Pháp có nội biến nên không giúp được. Phạm Văn Nhơn và phái bộ sứ thần của Nguyễn Ánh đã dừng tại Công ty Ấn Độ thuộc Pháp tại Pondichery ở Ấn Độ nơi công ty này và Hội thừa sai Hải ngoại Paris được thành lập năm 1664. Họ bàn kế hoạch định nhờ hải quân Anh giúp đỡ nhưng Ba Đa Lộc cho rằng người Anh gian xảo nên cầu viện Bồ Đào Nha. Năm 1786, tàu thuyền Bồ Đào Nha đã đưa hoàng tử Cảnh về thủ đô Pháp.

Lại nói chuyện họ Nguyễn Tiên Điền và Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ. Năm 1786, khi Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc thì họ Nguyễn Tiên Điền bị táng gia bại sản  “Hồng Lam vô gia, huynh đệ tán” cực kỳ bi thảm và thi phi,  như đã nói ở phần Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa. Lý do vì các cựu thần nhà Lê cho rằng họ Nguyễn Tiên Điền mượn tiếng tôn phò chúa Trịnh để mưu đồ tiếm quyền và tạo tai họa rước quân Tây Sơn về, nên họ đã xử lý tàn độc thẳng tay, không thương tiếc. Nguyễn Huệ đánh bại họ Trịnh đã giành lại thực quyền cho vua Lê,  và muốn mượn tay người Bắc để giết Nguyễn Hữu Chỉnh, nên lặng lẽ rút về Nam mà không báo cho Chỉnh biết. Nguyễn Hữu Chỉnh khi chạy theo vào Nam đã được Nguyễn Nhạc không nỡ bỏ mà cho lưu lại ở Nghệ An với Nguyễn Văn Duệ.  Nguyễn Hữu Chỉnh liền tập hợp tráng đinh xứ Nghệ thành lập các đội nghĩa dũng quân, ngầm tranh chiếm Nghệ An, lập lại thế nước cũ “Đằng Ngoài” “Đằng Trong” như trước đây. Tại Thăng Long, các bề tôi cũ của nhà Lê sau khi Nguyễn Huệ rút đi, lại hùa nhau lập Trịnh Bồng nối nghiệp. Vua Lê Chiêu Thống bất đắc dĩ phải phong cho Trịnh Bồng làm Án Đô Vương và lập lại phủ chúa Trịnh như cũ. Trịnh Bồng cùng bè đảng lại toan đường giành lại thế lực, hiếp chế nhà vua. Vua Lê Chiêu Thống phải xuống mật chiếu vời Nguyễn Chỉnh ra Bắc.

Người đời sau đánh giá họ Nguyễn Tiên Điền trong sự biến Năm Bính Ngọ (1786) rất khác nhau  “Thằng bán tơ kia giở giói ra/ Làm cho bận đến cụ Viên già” (Nguyễn Khuyến). Vua Gia Long lúc lên ngôi năm 1802 tuy rất để ý kiềm chế họ Nguyễn Tiên Điền nhưng vẫn trọng dụng nhà Nguyễn Tiên Điền. Vua Gia Long lấy làm thiếp người cháu gái ruột của Nguyễn Du, lại phong Nguyễn Du chức Cai bạ, sau đó là Chánh sứ, sau đó là Hàn Lâm Đại học sĩ . Vua Minh Mệnh cũng vậy nhưng thủ đoạn cứng rắn hơn cả Nguyễn Ánh trong trị quốc. Danh thần Nguyễn Công Trứ luận về sự biến với bài thơ Vịnh Thúy Kiều “Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm” là một câu chuyện dài. Nguyễn Công Trứ luận về Thúy Kiều nhưng thực chất là luận về Nguyễn Du: “Bán mình trong bấy nhiêu năm , Dễ đem chữ hiếu mà lầm được ai.” Nguyễn Công Trứ thân mật hay chống đối Nguyễn Du, đó là điều hậu thế cần lý giải cho đúng? Nguyễn Công Trứ tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, hiệu Hy Văn, là nhà quân sự, chính trị, kinh tế và một nhà thơ lỗi lạc thời Minh Mệnh, lịch sử Việt Nam cận đại.  Nguyễn Công Trứ là con quan Đức Ngạn hầu Nguyễn Công Tấn có nhiều mối quan hệ với gia tộc họ Nguyễn Tiền Điền. Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ sẽ được luận bàn trong một bài viết riêng.

Năm Đinh Mùi (1787) Nguyễn Du 22 tuổi. Nguyễn Nhạc từ Thăng Long trở về, phong cho Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương trấn thủ Phú Xuân, còn mình thì dẫn tùy tùng về Quy Nhơn, tự xưng làm Trung Ương Hoàng Đế, phong cho Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương ở đất Gia Định, phong Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương ở đất Thuận Hóa, lấy Hải Vân làm giới hạn. Nguyễn Nhạc hỏi những báu vật vàng bạc đoạt được ở phủ chúa Trịnh. Nguyễn Huệ từ chối không nộp. Nguyễn Huệ muốn kiêm quản cả đất Quảng Nam nhưng Nguyễn Nhạc không cho. Cùng thêm một số chuyện hiềm khích cơ mật khác. Nguyễn Huệ bèn phát hịch kể tội Nhạc , rồi đem quân vào vây thành Quy Nhơn. Nguyễn Nhạc đóng cửa thành cố thủ. Đặng Văn Trấn, tướng của Nguyễn Nhạc để tham đốc là Trần Tú ở lại giữ thành Gia Định còn mình tự đem quân về cứu viện nhưng khi đến Phú Yên thì bị quân của Nguyễn Huệ bắt. Nguyễn Huệ vây Quy Nhơn ngặt đến nỗi Nguyễn Nhạc phải thân lên thành mà kêu khóc, gọi Nguyễn Huệ mà bảo rằng: ” Nỡ lòng nào lại nồi da nấu thịt thế này?” Nguyễn Huệ mới động lòng rút quân về Thuận Hóa. Hai anh em tuy hòa giải nhưng thực lòng vẫn oán giận nhau.

Nguyễn Ánh sau trận thất bại năm Giáp Thìn (1784)  sang lánh nạn ở Xiêm (Thái Lan) nóng lòng mong chờ viện binh nhưng Nguyễn Huệ đã khéo sai sứ sang thông hiếu với Thái Lan. Nguyễn Ánh thấy ở nước người  lâu ngày không tiện nên bí mật về nước theo kế của Tống Phước Đạm. Trước hết Nguyễn Ánh sai Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Liêm về Hà Tiên dò xét tình hình, khâu nối lực lượng., Phạm Văn Nhơn về Hòn Tre sửa soạn tàu bè, cai co Ngoạn, cai cơ Trung đi mua thóc dự trữ sẵn lương thực, rồi nhân đêm tối, không từ biệt vua Xiêm mà ra về vào ngày Bính Dần tháng Bảy. Khi Nguyễn Ánh về đến Hòn Tre mới biết chuyện cai cơ Trung giết chủ thuyền buôn Thái Lan để cướp của cải. Ông đã lệnh chặt đầu cai cơ Trung gửi đến vua Thái để tạ lỗi. Nguyễn Ánh cũng thu phục bọn cướp biển Hà Hỉ Văn đảng Bạch Liên Giáo nay làm cướp biển Hà Tiên. Ông cũng thu phục được danh tướng Nguyễn Va7n Trương trấn thủ Long Xuyên.  Tống Phước Đạm lợi dụng sự bất hòa của nhà Tây Sơn lập kế li gián Đông Định Vương Nguyễn Lữ là trấn tướng Gia Định và Phạm Văn Tham là phó tướng của Nguyễn Lữ.  Tống Phước Đạm bắt được vợ lẽ của hộ đốc Lý tướng Tây Sơn và đã làm mật thư giả của Nguyễn Nhạc gửi Nguyễn Lữ, trong thư nói Phạm Văn Tham là phe đảng của Nguyễn Huệ và khiến Nguyễn Lữ giết đi. Tống Phước Đạm giao thư cho vợ lẽ của hộ đốc Lý mang về dụ hàng Phạm Văn Tham.  Tham xem thư cả sợ bèn giương cờ trắng (hiệu kỳ của Nguyễn Ánh) kéo về dinh lũy của Nguyễn Lữ. Đông Định Vương tưởng Tham đã mang quân về hàng Nguyễn Ánh rồi, sợ Tây Sơn quân mỏng không  thể địch nổi nên bỏ chạy về Quy Nhơn. Từ đó, Phạm Văn Tham một mình trấn giữ Gia Định. Quân Tây Sơn và quân Nguyễn Ánh giao chiến một số trận lớn nhỏ. Thế lực Nguyễn Vương ngày một lớn mạnh. Thái úy Nguyễn văn Hưng từ Quy Nhơn mang ba mươi chiến thuyền vào tiếp ứng. Nguyễn Ánh cố thủ.  Ít lâu sau, Nguyễn Văn Hưng chuyển thóc gạo đầy các thuyền rồi rút đi. Nguyễn Ánh chia bình đóng những nơi hiểm yếu chẹn đường quân Tây Sơn.

Giữa lúc này Nguyễn Hữu Chỉnh đem binh từ Nghệ An tiến gấp về Thăng Long để bảo vệ vua. Nguyễn Hữu Chỉnh đuổi Trịnh Bồng, tôn phò vua Lê Chiêu Thống. Lại sai người ngầm mang nhiều vàng bạc đưa cho Nguyễn Văn Duệ để giết Võ Văn Dũng và lấy sông Gianh làm ranh giới như cũ. Vũ Văn Nhậm dò biết mưu ấy bèn cấp báo cho Nguyễn Huệ. Huệ liền sai người ra Nghệ An bắt Duệ nhưng Duệ thấy động đã đem quân thuộc hạ theo đường rừng trốn về Quy Nhơn. Nguyễn Huệ sai Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân theo quyền tiết chế Vũ Văn Nhậm đem quân ra Bắc hỏi tội Nguyễn Hữu Chỉnh. Chỉnh cho thuộc tướng chống giữ nhưng đều bị đánh tan. Vua Lê Chiêu Thống sai Lê Quýnh cùng hơn 30 người tôn thất đem bà Hoàng Thái hậu và Hoàng phi, Hoàng tử chạy lên Cao Bắng. Chỉnh thì cướp đường rước vua Lê Chiêu Thống chạy lên Kinh Bắc về đóng ở núi Mục Sơn đất Yên Thế.  Nhậm sai bộ tướng Nguyễn Văn Hòa truy sát và đuổi kịp Nguyễn Hữu Chỉnh, bắt sống đóng gông giải về Thăng Long.  Nhậm kể tội rồi sai chặt chân tay, phanh thây Chỉnh. Nhậm tìm vua Lê Chiêu Thống không được bèn tôn Sùng Nhượng Công Lê Duy Cẩn lên làm Giám Quốc để thu phục lòng người. Thầy đề lại Giám Quốc mỗi ngay phải sang chầu chực ở dinh Vũ Văn Nhậm. Nhậm tỏ ý kiêu ngạo. Ngô Văn Sở mật trình tấu sự tình về Nguyễn Huệ. Bắc Bình Vương lập tức truyền lệnh kéo quân kỵ gấp đường ra Thăng Long, nửa đêm đến nơi bắt Vũ Văn Nhậm giết đi, đổi đặt quan quân, đặt quan lục bộ và các quan trấn thủ, để Lê Duy Cẩn làm Giám Quốc, chủ trương việc tế lễ để giữ tông miếu tiền triều, dùng Ngô Thì Nhậm làm Lại bộ tả thị lang, cùng bọn Ngô  Văn Sở ở lại giữ đất Bắc Hà, còn Nguyễn Huệ thì chọn ngày về nam. Mẹ của vua Lê Chiêu Thống chạy lên Cao Bằng cùng với Đốc trấn Nguyễn Huy Túc chạy sang đất nhà Thanh xin với Tổng đốc Lưỡng Quảng xin cứu viện. Tôn Sĩ Nghị dâng biểu lên vua Càn Long xin điều quân Lưỡng Quảng, Vân Nam, Quý Châu chia hai đường sang cứu viện cho vua Lê. Lúc này vua Chiêu Thống đã chạy lánh vào Bảo Lộc, Trấn Ninh.

Nguyễn Du năm ấy đi lại giữa Thăng Long, Quảng Tây, Kinh Bắc, Hải Dương, Nghệ An nhưng đang là lúc “ngọa hổ tàng long” nên Nguyễn Du hành tung bí mật, rất ít lộ diện. Những sử liệu dưới đây cho thấy các địa điểm ẩn hiện của ông:

Trong  “Lê Quý Kỷ Sự” của Nguyễn Thu có nói đến cuộc khởi nghĩa tại Tư Nông của cựu Trấn Thủ Thái Nguyên Nguyễn Đăng Tiến, tước Quản Vũ Hầu, bị tướng Tây Sơn bắt giải về cho Vũ Văn Nhậm. Nhậm trọng sự khí khái nên dụ hàng, sau đó cũng tha bổng và cho phép muốn đi đâu thì đi.  Họ đi sang Vân Nam. Nguyễn Quýnh quay trở về Hồng Lĩnh khởi nghĩa bị bắt và bị giết năm 1791 tròn 30 tuổi, dinh thự và làng Tiên Điền bị đốt sạch. Đến Vân Nam, Nguyễn Du bị bệnh ba tháng mùa xuân. Hết bệnh, họ đi Liễu Châu và chia tay, Nguyễn Đại Lang về thăm quê nhà vùng Quế Lâm, cao sơn lưu thủy. Nguyễn Du đi giang hồ ba năm ở Trung Quốc trong áo mũ nhà sư mang danh Chí Hiên, từ Quảng Tây theo thuyền đi dọc sông và Hồ Động Đình đến Hán Khẩu, rồi theo sông Hán rồi lên Trường An viết bài Dương Quý Phi, Bùi Tấn Công mộ, Phân Kinh thạch đài, rồi lại theo kinh Đại Vận Hà đến Hàng Châu .

Tại lời đề “tiểu dẫn” của “Thăng long cầm giả ca”, chính  Nguyễn Du đã nói rõ rằng những năm trước và sau cái Nguyễn Huệ ra Bắc lần 2 đến lúc Nguyễn Huệ chết, ông chủ yếu ở Thăng Long và “Lưu Hương ký” của Hồ Xuân Hương cũng trùng khớp và là lời xác nhận về “ba năm vẹn” đó.

Trong “Thanh Hiên thi tập” nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Chánh đã phát hiện thấy “có những bài tả cảnh tuyết, núi non trùng điệp, lá vàng, trưởng giả ăn mặc còn theo nhà Hán (không theo nhà Thanh để tóc bính đuôi sam, áo quần Mãn Châu), dân chúng theo lịch nhà Tần, xử dụng nhạc cụ “tù và” ? … Nguyễn Du có những câu thơ kỳ lạ: Tôi đọc kinh Kim Cương nghìn lượt?. Muôn dậm mũ vàng chiều nắng xế? Giang Bắc, Giang Nam cái túi không? Nguyễn Du làm gì mà đọc kinh Kim Cương trong ba năm, đội mũ vàng nhà sư đi muôn dậm (khoảng 5000 km), làm gì không tiền mà đi hết các sông phía bắc đến sông phía nam Dương Tử Giang ? Nguyễn Du ở đâu mà cách Trường An ngàn dậm về phía Nam ?Theo Nguyễn Hành, cháu Nguyễn Du, có viết ông có một cuộc đời giang hồ như cuộc đời làm quan : Giang hồ long miếu hai điều đủ, Thi họa cầm thư bốn nghệ tinh. Theo gia phả từ năm 1786 đến 1796 Nguyễn Du về quê vợ tại Quỳnh Hải, Thái Bình hợp cùng Đoàn Nguyễn Tuấn khởi nghĩa chống Tây Sơn. Nhưng điều này không đúng vì từ năm 1788 Đoàn Nguyễn Tuấn ra làm quan Tây Sơn và đi sứ trong đoàn 158 người năm 1790. Đoàn Nguyễn Tuấn có hai bài thơ viết tặng một văn nhân họ Nguyễn, gặp tại Hoàng Châu, Trung Quốc vào mùa thu bàn luận về văn chương sôi nổi chuyện gì ?, Đoàn Nguyễn Tuấn phải lên Nhiệt Hà nơi vua Càn Long đang nghỉ mát ? Văn nhân họ Nguyễn đi xe song mã về Nam và hẹn gặp lại tại nước nhà vào mùa xuân. Trên đường đi cớ gì mà Đoàn lại viết một bài thơ Vô Đề về hồng nhan đa truân khi gặp một ca nhi hát cho sứ đoàn tại bến sông Hán?.”

Nguyễn Du dẫn vợ con về quê bà vợ cả ở Thái Bình sống qua ngày. Đó cũng là thời gian ông sáng tác tập Thanh Hiên tiền hậu tập, Nguyễn Hưng Quốc đã nhận định như vậy trong bài  “Tết đọc lại Nguyễn Du”. … “tổng số 65 bài của tập thơ, có 17 bài nhắc đến hình ảnh bạch phát hay bạch đầu: “Bạch đầu đa hận tuế thời thiên” (Đầu bạc thường bực vì ngày tháng trôi mau); hay “Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên” (Tráng sĩ đầu bạc bùi ngùi ngẩng lên trời) hay “Bạch phát hùng tâm không đốt ta” (Tóc bạc rồi, dù có hùng tâm, cũng chỉ biết ngồi suông than thở). Không biết ông bệnh gì, nhưng lúc nào cũng than bệnh: “Nhất nhất xuân hàn cựu bệnh đa” (Một nhà xuân lạnh, bệnh cũ lại nhiều); “Tam xuân tích bệnh bần vô dược” (Ba tháng xuân ốm liên miên, nghèo không có thuốc); “Cùng niên ngọa bệnh Tuế giang tân” (Suốt năm đau ốm nằm ở bến Tuế giang); “Đa bệnh đa sầu khí bất thư” (Lắm bệnh, hay buồn, tâm thần không được thư thái); “Thập niên túc tật vô nhân vấn” (Bệnh cũ mười năm, không ai thăm hỏi); “Giang hồ bệnh đáo kinh thời cửu” (Bệnh đến trong bước giang hồ đã lâu ngày). Đã bệnh lại còn nghèo. Phải ở nhờ nhà người khác: “Tiêu tiêu bạch phát ký nhân gia” (Đầu bạc bơ phờ ở nhờ nhà người). Hết nhờ người này sang nhờ người khác: “Lữ thực giang tân hựu hải tân” (Hết ăn nhờ ở miền sông lại đến miền biển). Lúc nào trong túi cũng rỗng không: “Giang nam giang bắc nhất nang không” (Một chiếc túi rỗng không, đi hết phía nam sông lại sang phía bắc sông). Thiếu mặc: “Tảo hàn dĩ giác vô y khổ” (Mới rét mà đã thấy khổ vì không áo). Có khi đói: “Táo đầu chung nhật vô yên hỏa” (Suốt ngày bếp không đỏ lửa). Ngay cả khi Nguyễn Du đã ra làm quan dưới triều Gia Long rồi, có năm vợ con vẫn đói: “Thập khẩu hài nhi thái sắc đồng” (Nhà mười miệng trẻ đói xanh như rau); “Thập khẩu đề cơ Hoành Lĩnh bắc” (Nhà mười miệng ăn đang kêu đói ở phía bắc Hoành sơn). Mười đứa trẻ ở đây chính là con của Nguyễn Du. (Gia phả ghi Nguyễn Du có 3 vợ: bà vợ đầu sinh một con trai tên Nguyễn Tứ; bà vợ thứ hai cũng sinh một con trai tên Nguyễn Ngũ; bà vợ thứ ba sinh mười con trai và sáu con gái; tổng cộng, như vậy, ông có 18 người con. Tuy nhiên, căn cứ vào tên người con đầu, Nguyễn Tứ, chúng ta có thể đoán là ông có ba người con khác, anh hay chị của Nguyễn Tứ, có lẽ đã chết lúc còn nhỏ hoặc ngay trong bào thai.) Đói đến độ có lúc phải xin ăn: “Cơ hàn bất giác thụ nhân liên” (Đâu ngờ phải đói rét để cho người thương). Nhưng buồn nhất có lẽ là cảm giác bất lực và bế tắc…”

Năm Mậu Thân (1788) Nguyễn Du 23 tuổi. Tống Phước Đạm dâng kế cho Nguyễn Ánh: “Tây Sơn tuy lấy được Bắc Hà nhưng vua Lê Chiêu Thống và triều đình nhà Lê còn trốn tránh trong vùng rừng núi, nhất định sẽ cầu viện nhà Thanh. Nhân lúc Nguyễn Huệ đang bận đối phó ở phía Bắc chưa rỗi để mắt đến phía Nam. Nguyễn Nhạc và  Nguyễn Lữ ở phía Nam khó xoay trở. Chúa thượng nhân lúc này về chiếm đất Gia Định sẽ có thời cơ lớn”. Nguyễn Ánh nghe lời, đem đại quân về An Giang nhưng chưa kịp dựng đồn trại thì đã bị quân Tây Sơn tấn công. Quân hai bên giao chiến kịch liệt, quân của Thái bảo Phạm Văn Tham mới chịu lui. Thề lực Nguyễn Ánh ngày một nổi lên và có nhiều tướng giỏi. Tôn Thất Huy đóng ở Giồng Triệu. Lê Văn Quân đóng ở Giồng Trôm. Mạc Tử Sinh trấn thủ Hà Tiên. Phạm Văn Nhơn trấn thủ Long Xuyên. Trương Phước  Giáo, Nguyễn Đình Đắc, Tôn Thất Hội, Võ Văn Lượng, Nguyễn Văn Hiếu, Mạc Văn Tô, Trần Văn Tín, Đoàn Văn Khoa , … đều là những nghĩa dũng. Đặc biệt quân sư Tống Phước Đạm mưu kế sâu sắc, liệu việc như thần. Chu Văn Tiếp, Đỗ Thành Nhơn, Võ Tánh là Gia Định tam hùng. Nguyễn Ánh trao cho Võ Tánh giữ chức khâm sai Tổng nhung, chưởng cơ dinh Tiên phong, lại gả trưởng công chúa Nguyễn Thị Ngọc Du cho Võ Tánh. Từ ngày Nguyễn Ánh lên nối ngôi vua Nguyễn tháng 2 năm 1780, sau đó giết Đỗ Thanh Nhơn, thâu tóm quyền lực, cho đến năm 1788 chưa bao giờ thế lực quân Nguyễn mạnh đến như vậy. Nguyễn Ánh thu phục Gia Định lần thứ Tư nhằm ngày Đinh Dậu tháng 8 năm Mậu Thân (9.1788). Tướng Tây Sơn Phạm Văn Tham lui về giữ những điểm trọng yếu ở Ba Thắc và Biên Hòa, đồng thời cấp báo về Quy Nhơn để xin viện binh. Nguyễn Nhạc chần chừ không dám phát binh vì sợ quân Nam thừa cơ đánh úp Quy Nhơn trong khi Nguyễn Huệ đang bận ở mặt Bắc không thể kịp ứng cứu. Do Gia Định quân Tây Sơn không có cứu viện nên lực lượng Nguyễn Vương đã đánh rộng ra các địa bàn phía Nam và làm chủ vững chắc vùng Nam Bộ ngày nay.

Vua Lê Chiêu Thông bị tướng Tây Sơn Ngô Văn Sở đánh tan ở sông Ngô Đồng, chạy vào Thành Hoa rồi ra Kinh Bắc, Vua Chiêu Thống sai Trần Danh Án và Lê Duy Đản đi sứ sang cầu viện binh nhà Thanh, nhưng khi đi đến gần biên giới thì mới hay tin là quân của Tôn Sĩ Nghị đang kéo qua, liền vội quay về báo vua Lê Chiêu Thống để bí mật lên cửa ải đón viện binh.

Tôn Sĩ Nghị tiến thẳng vào Thăng Long. Ngô Văn Sở theo kế của Ngô Thời Nhiệm lui binh vào Tam Điệp và cấp báo cho Nguyễn Huệ. Tôn Sĩ Nghị chọn ngày 21 tháng 11 tuyên phong cho Lê Chiêu Thống làm An Nam Quốc Vương. Các bề tôi văn võ nhà Lê xin Nghị cho quân tiến đánh ngay quân Nguyễn Huệ nhưng Nghị không nghe, truyền cho các cánh quân hạ trại nghỉ ngơi, định ngày mồng 6 Tết mới ra quân.

Nguyễn Huệ ở Bình Sơn nhận được tin cấp báo đã lên ngôi Hoàng Đế ngày 25 tháng 11, đổi niên hiệu là Quang Trung, ngay hôm ấy đưa quân lên đường ra Nghệ An tiến gấp ra Bắc. Nguyễn Huệ vấn kế La Sơn Phu Tử. Nguyễn Thiếp tán đồng việc bất ngờ đánh gấp. Nguyễn Huệ tuyển thêm quân Thanh Nghệ làm đạo Trung quân cùng bốn đạo Tiền, Hậu, Tả, Hữu  của cựu binh Thuận Quảng gấp đường tiến ra Bắc. Trong lúc đám quân Thanh mãi mê ăn Tết không phòng bị, quân Tây Sơn bất ngờ tấn công. Đồn Hà Hồi nhanh chóng bị tiêu diệt  trước giao thừa không kịp truyền báo cho Trungqua6n ở Thăng Long.

Năm Kỷ Dậu (1789) Nguyễn Du 24 tuổi. Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh.
(còn nữa…)

Nguyễn Du Hồ Xuân Hương luận anh hùng

Nguyễn Du khí phách và tầm nhìn

 

Hoàng Kim

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây  cập nhật mỗi ngày

 

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Advertisements

9 thoughts on “Nguyễn Du hiền tài lỗi lạc

  1. Pingback: Chào ngày mới 15 tháng 1 | Tình yêu cuộc sống

  2. Pingback: Việt Nam Đại hội 12 tin nổi bật | Khát khao xanh

  3. Pingback: Chào ngày mới 16 tháng 1 | Tình yêu cuộc sống

  4. Pingback: Đầu xuân đọc lại Văn Công Hùng | Khát khao xanh

  5. Pingback: Chào ngày mới 18 tháng 1 | Tình yêu cuộc sống

  6. Pingback: Nguyễn Du là bậc anh hùng | Tình yêu cuộc sống

  7. Pingback: Nguyễn Du kiệt tác thơ chữ Hán | Tình yêu cuộc sống

  8. Pingback: Nguyễn Du kiệt tác thơ chữ Hán | Khát khao xanh

  9. Pingback: Nguyễn Du kiệt tác thơ chữ Hán | Tình yêu cuộc sống

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s